Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng quản lý rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV ngành Giáo dục Mầm non – hệ Cao đẳng, trường Đại học Đồng Nai dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Khái quát về trường Đại học Đồng Nai và khoa Tiểu học – Mầm non
2.1.1. Khái quát về trường Đại học Đồng Nai
2.1.1.1 Lịch sử hình thành trường Đại học Đồng Nai
Trường Đại học Đồng Nai là một trong những cơ sở đào tạo có lịch sử hình thành và phát triển đáng tự hào ở khu vực miền Đông Nam bộ. Trường được thành lập năm 1976, ban đầu có tên gọi là trường Sư phạm cấp 2 Đồng Nai, theo Quyết định của Bộ Giáo dục (nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo) từ việc tách cơ sở 4 của trường Cao đẳng Sư phạm (CĐSP) thành phố Hồ Chí Minh. Đến ngày 28/03/1987, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định nâng cấp trường thành trường Cao đẳng sư phạm Đồng Nai trực thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo. Ngày 15/09/1997, Chủ tịch Ủy ban nhân dân (UBND) tỉnh Đồng Nai quyết định hợp nhất hai trường sư phạm của tỉnh (Trung học Sư phạm và Cao đẳng sư phạm) thành trường Cao đẳng sư phạm Đồng Nai. Đến ngày 20/08/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1572/QĐ-TTg nâng cấp trường Cao đẳng sư phạm Đồng Nai thành trường Đại học Đồng Nai trên cơ sở nâng cấp trường Cao đẳng sư phạm Đồng Nai.
- Trước thời điểm ngày 20/08/2020
Trường Cao đẳng sư phạm Đồng Nai có chức năng, nhiệm vụ chính là đào tạo giáo viên Mầm non, Tiểu học, Trung học cơ sở (THCS); đào tạo Cán bộ quản lý cho các bậc học; liên kết với các trường Đại học Sư phạm được Bộ giao để đào tạo, chuẩn hóa giáo viên có trình độ đại học, góp phần nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, đáp ứng yêu cầu đổi mới nâng cao chất lượng giáo dục. Sau gần 40 năm không ngừng phấn đấu và phát triển, trường Cao đẳng sư phạm Đồng Nai đã đào tạo gần 40.000 giáo viên từ mầm non đến THCS, trường cũng đã liên kết đào tạo hơn 1.000 giáo viên trung học phổ thông, liên kết đào tạo nâng chuẩn cho hơn 5.000 giáo viên ở các cấp học khác cho tỉnh Đồng Nai cũng như các tỉnh lân cận. Cho đến nay, không ít giáo viên, CBGD được đào tạo tại trường đã và đang đảm trách công tác giáo dục trên địa bàn cả nước, góp phần quan trọng trong sự nghiệp CNH – HĐH đất nước nói chung, sự nghiệp giáo dục và đào tạo nói riêng. Ghi nhận những thành tích xuất sắc đó, Chủ tịch Nước đã tặng thưởng Huân chương Lao động hạng Ba (1996), Huân chương Lao động hạng Nhì (2011), Huân chương Lao động hạng Nhất (2021) cho tập thể cán bộ, viên chức, SV nhà trường. Ngoài ra, trường còn liên tục được công nhận danh hiệu Tập thể lao động xuất sắc và nhiều bằng khen, cờ thi đua của Thủ tướng Chính phủ và UBND tỉnh Đồng Nai.
- Từ ngày 20/08/2020 đến nay
Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1572/QĐ-TTg nâng cấp trường Cao đẳng sư phạm Đồng Nai thành trường Đại học Đồng Nai trên cơ sở nâng cấp trường Cao đẳng sư phạm Đồng Nai thì quy mô của trường ngày càng được mở rộng: Cán bộ quản lý cùng đội ngũ giảng viên ngày càng tăng về số lượng cũng như chất lượng. Cơ sở vật chất, trang thiết bị cũng được tăng cường nhiều hơn và hiện đại hơn. Ngoài ra, trường còn liên kết với trường ĐHSP Huế, ĐHSP Vinh và nước bạn Lào, Philippines,… để đào tạo thêm các mã ngành như Giáo dục Mầm non, Tiếng Anh, Quản lý giáo dục…
2.1.1.2 Chức năng và nhiệm vụ Luận văn: Thực trạng quản lý rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV.
Trường Đại học Đồng Nai là trường Đại học công lập đào tạo đa ngành, đa cấp và đa hệ, chủ yếu là đào tạo đội ngũ giáo viên phục vụ cho địa phương và các tỉnh lân cận.
- Đào tạo đội ngũ giáo viên Mầm non, Tiểu học, Trung học cơ sở và Cao đẳng.
- Bồi dưỡng, chuẩn hóa giáo viên, nhằm nâng cao trình độ cho đội ngũ giáo viên sao cho phù hợp với sự phát triển của thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng.
- Tham gia nghiên cứu khoa học phục vụ cho giảng dạy, QL cho cán bộ, giảng viên, SV nhằm nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội trong thời đại mới.
2.1.1.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy
- Bộ máy tổ chức của nhà trường bao gồm: Đảng ủy, BGH, Công đoàn, Đoàn thanh niên, Hội sinh viên.
Các phòng chức năng: Gồm 09 phòng
- Phòng Đào tạo.
- Phòng Tổ chức hành chính.
- Phòng Kế hoạch – Tài chính.
- Phòng Quản trị – Thiết bị.
- Phòng Công tác sinh viên.
- Phòng Khảo thí và Đảm bảo chất lượng.
- Phòng Nghiên cứu khoa học.
- Phòng Sau đại học và Quan hệ quốc tế.
- Phòng Thanh tra pháp chế.
Các Trung tâm: Gồm 03 trung tâm
- Trung tâm Thông tin – thư viện.
- Trung tâm Ngoại ngữ tin học.
- Trung tâm Nghiên cứu thúc đẩy văn hóa Điếc.
Các Khoa: Gồm 6 khoa
- Khoa Sư phạm Khoa học Tự nhiên.
- Khoa Sư phạm Khoa học Xã hội.
- Khoa Tiểu học – Mầm
- Khoa Thể dục – Nhạc họa.
- Khoa Ngoại ngữ.
- Khoa Tổng hợp.
Bộ môn: Gồm 2 bộ môn
- Quản lý giáo dục.
- Lý luận chính trị.
Đội ngũ cán bộ giảng viên Luận văn: Thực trạng quản lý rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV.
Đội ngũ cán bộ giảng viên nhà trường giàu kinh nghiệm và có trình độ chuyên môn cao; tổng số giảng viên là 238 người, trong đó tham gia giảng dạy có: Tiến sĩ: 28 người, Thạc sĩ: 158 người, Đại học: 34 người; đáp ứng tốt nhiệm vụ đào tạo cho gần 12.000 sinh viên.
Cơ cấu ngành đào tạo hệ chính quy tập trung
- Hệ đại học:
Sư phạm Toán học, Sư phạm Vật lý, Sư phạm Hóa học, Sư phạm Sinh học, Sư phạm tiếng Anh, Sư phạm Ngữ văn, Sư phạm Lịch sử, Giáo dục Tiểu học, Giáo dục Mầm non, Ngôn ngữ Anh, Kế toán, Quản trị kinh doanh.
- Hệ Cao đẳng:
Sư phạm Toán học, Sư phạm Vật lý, Sư phạm tiếng Anh, Giáo dục Tiểu học, Giáo dục Mầm non, Sư phạm Mỹ thuật, Tiếng Anh, Quản trị kinh doanh, Kế toán, Tài chính Ngân hàng, Quản lý đất đai, Việt Nam học, Quản lý văn hóa, Công nghệ thông tin, Khoa học môi trường, Khoa học thư viện, Thư ký văn phòng.
- Trung cấp Mầm
- Đào tạo liên thông, cử nhân vừa làm vừa học, trung cấp:
Đại học liên thông từ Cao đẳng: Sư phạm Toán học, Sư phạm Vật lý, Sư phạm Hóa học, Sư phạm Sinh học, Sư phạm tiếng Anh, Sư phạm Ngữ văn, Sư phạm Lịch sử, Giáo dục Tiểu học, Giáo dục Mầm non, Ngôn ngữ Anh, Kế toán, Quản trị kinh doanh.
- Đại học liên thông từ trung cấp các ngành: Giáo dục Mầm non, Kế toán.
- Cao đẳng vừa làm vừa học các ngành: Giáo dục Tiểu học, Giáo dục Mầm non, Kế toán.
- Trung cấp Giáo dục Mầm non chính quy vừa làm vừa học.
2.1.1.4 Cơ sở vật chất
CSVC của nhà trường đáp ứng tương đối đầy đủ yêu cầu nhiệm vụ đào tạo và bồi dưỡng nguồn nhân lực, cụ thể nhà trường hiện có 110 phòng học, 12 phòng vi tính chuyên dụng, 12 phòng lab, khu thí nghiệm, nhà thi đấu đa năng, xưởng trường 5 tầng với nhiều trang thiết bị mới, ký túc xá có sức chứa 1.800 chỗ, trung tâm Thông tin – thư viện 6 tầng được xây dựng hiện đại bậc nhất khu vực phía Nam. Cơ sở 2 của trường có khoảng 9ha, tại phường Tân Phong, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai hiện đã được phê duyệt quy hoạch xây dựng tổng thể.
2.1.2. Khái quát về khoa Tiểu học – Mầm non Luận văn: Thực trạng quản lý rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV.
2.1.2.1 Lịch sử hình thành Khoa Tiểu học – Mầm non
Tiền thân của Khoa Tiểu học – Mầm non là trường trung học sư phạm Đồng Nai. Ngày 15/09/1997 trường trung học sư phạm Đồng Nai sát nhập với trường Cao đẳng sư phạm Đồng Nai. Ngày 20/08/2020 Thủ tướng chính phủ quyết định nâng cấp trường Cao đẳng sư phạm Đồng Nai thành trường Đại học Đồng Nai. Khoa Giáo dục Mầm non vẫn giữ nguyên vị trí của nó trong quá trình hội nhập và phát triển. Đến nay, khoa Giáo dục Mầm non hợp nhất với khoa Tiểu học, và được mang tên là khoa Tiểu học – Mầm non.
2.1.2.2 Chức năng nhiệm vụ
Đào tạo, chuẩn hóa, và bồi dưỡng giáo viên Mầm non từ các hệ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng, đến đại học cho tỉnh Đồng Nai với hàng trăm SV ra trường mỗi năm đáp ứng nhu cầu cho sự phát triển của giáo dục và đào tạo tỉnh Đồng Nai, góp phần phục vụ cho sự nghiệp CNH – HĐH đất nước.
2.1.2.3 Cơ cấu ngành đào tạo hệ chính quy
- Trung cấp Mầm non trình độ 12+2.
- Cao đẳng Mầm non trình độ 12+3.
- Đại học Mầm
2.1.2.4 Cơ cấu tổ chức bộ máy
- Bộ máy tổ chức bao gồm: Ban chủ nhiệm khoa, Chi bộ, Công đoàn, Đoàn thanh niên và Văn phòng khoa.
- Tổng số Cán bộ quản lý, giảng viên, viên chức: 20 người (trong đó có 18 giảng viên, 2 cán bộ viên chức).
- Về trình độ chuyên môn có: 1 người đang làm nghiên cứu sinh, 9 người là Thạc sỹ, 1 người đang làm Cao học, 8 người đại học, 1 người Cao đẳng, 1 người đại học.
2.1.2.5 Cơ sở vật chất Luận văn: Thực trạng quản lý rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV.
Với sự trang bị Cơ sở vật chất tương đối đầy đủ của nhà trường nói chung, Cơ sở vật chất của Khoa Tiểu học – Mầm non nói riêng, đã đáp ứng tạm ổn cho việc dạy và học của Giảng viên và SV theo xu hướng đổi mới phương pháp dạy học phù hợp với nhu cầu phát triển của xã hội. Khoa Tiểu học – Mầm non đã có những phòng học mang tính đặc thù nhưng vẫn đang trong thời gian hoàn thiện cơ sở vật chất, nên trang thiết bị chưa được đầy đủ, còn thiếu và chưa phù hợp cho công tác thực hành theo đặc thù riêng của khoa như phòng nhạc, dinh dưỡng… Các phòng học này có sức chứa tới 100 sinh viên/phòng.
2.2. Tổ chức khảo sát
2.2.1. Khách thể khảo sát
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát, sự nhận thức đối với hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm trên các nhóm đối tượng sau:
- CBQL làm công tác quản lý Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của trường Đại học Đồng Nai: 12
- Giảng viên làm công tác giảng dạy và trực tiếp QL, phụ trách Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV trường Đại học Đồng Nai: 17.
- Giáo viên của cơ sở thực tập:
- Sinh viên năm thứ 2 ngành Giáo dục Mầm non – hệ Cao đẳng:
- Sinh viên năm thứ 3 ngành Giáo dục Mầm non – hệ Cao đẳng: Tổng cộng: 286 người.
2.2.2. Nội dung khảo sát
- Khảo sát qua Cán bộ quản lý, giảng viên, giáo viên:
- Tầm quan trọng của Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm;
- Mức độ cần thiết và mức độ thực hiện các nội dung Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm;
- Kỹ năng nghề nghiệp Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm;
- Nội dung hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm;
- Kế hoạch hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm;
- Xây dựng kế hoạch Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm đối với khối kiến thức kỹ năng chung;
- Xây dựng kế hoạch Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm đối với khối kiến thức kỹ năng chuyên ngành;
- Mức độ thực hiện các tiến trình thực hiện Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm;
- Lực lượng tham gia công tác Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm;
- Việc quản lý cơ sở vật chất, kinh phí trong quá trình Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm;
- Những thuận lợi, khó khăn về Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV;
- Nhận xét rút kinh nghiệm về kế hoạch hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm;
- Nhận xét rút kinh nghiệm trong kiểm tra – đánh giá kết quả hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm;
- Nguyên nhân chủ quan, khách
- Khảo sát SV:
- Tầm quan trọng về Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm;
- Mức độ cần thiết và mức độ thực hiện các nội dung;
- Kỹ năng nghề nghiệp Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm;
- Đánh giá kết quả của bản thân về Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm;
- Lực lượng tham gia công tác Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm;
- Việc quản lý Cơ sở vật chất, kinh phí trong quá trình Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm;
- Những thuận lợi, khó khăn trong quá trình Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm.
2.2.3. Các phương pháp khảo sát Luận văn: Thực trạng quản lý rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV.
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Để đảm bảo tính khách quan và có cơ sở cho việc xây dựng các biện pháp QL sau này, chúng tôi tiến hành khảo sát bằng phiếu trưng cầu ý kiến cho SV năm 2 và 3 ngành Giáo dục Mầm non; cho Cán bộ quản lý, giảng viên tham gia giảng dạy các học phần thuộc chuyên ngành Giáo dục Mầm non và giáo viên của trường thực hành.
Bộ công cụ khảo sát gồm các mẫu phiếu trưng cầu ý kiến:
- Mẫu 1: Dành cho SV năm 2 và 3 ngành Giáo dục Mầm
- Mẫu 2: Dành cho Cán bộ quản lý, giảng viên tham gia giảng dạy các học phần thuộc chuyên ngành Giáo dục Mầm non và giáo viên các cơ sở thực hành.
- Mẫu 3: Khảo nghiệm biện pháp quản lý cho Cán bộ quản lý, giảng viên trường Đại học Đồng Nai.
- Phương pháp xử lý các số liệu thu thập được
Sau khi thu các phiếu trưng cầu ý kiến và có được các số liệu, chúng tôi tiến hành xử lý bằng các phép toán sau:
- Phương pháp tính tần suất (tỷ lệ %).
- Phương pháp tính điểm trung bình cộng, xếp thứ bậc bằng công thức:
- Trong đó: = N: Tổng số khách thể khảo sát
- Công thức tính hệ số tương quan thứ bậc Spearman:
Trong đó:
- + r là hệ số tương quan, có giá trị nhỏ hơn 1. Giá trị r càng gần 1 thì mối tương quan càng chặt.
- + D là hiệu số thứ bậc giữa mức độ cần thiết và mức độ thực hiện của các nội dung rèn luyện nghiệp vụ sư phạm.
- + N là số các nội dung rèn luyện nghiệp vụ sư phạm.
- Ngoài ra còn sử dụng một số phương pháp như: tổng kết kinh nghiệm, phỏng vấn, quan sát.
2.3. Thực trạng hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên ngành Giáo dục Mầm non -hệ Cao đẳng, trường Đại học Đồng Nai Luận văn: Thực trạng quản lý rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV.
Sau một thời gian tiến hành khảo sát trên 4 đối tượng đó là Cán bộ quản lý, giảng viên, giáo viên, và SV chúng tôi đã có được những số liệu và có một số nhận xét về các nội dung khảo sát của việc tổ chức hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV ngành Giáo dục Mầm non – hệ Cao đẳng, trường Đại học Đồng Nai như sau:
2.3.1. Nhận thức của Cán bộ quản lý, giảng viên, giáo viên và SV về công tác Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm
- Bảng 2.1. Mức độ nhận thức của Cán bộ quản lý, giảng viên, giáo viên và SV
Qua kết quả trả lời của các đối tượng ở bảng 2.1 cho thấy phần lớn các ý kiến đều thống nhất cho rằng công tác Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm là việc rất cần thiết và quan trọng không thể thiếu được trong nhà trường đặc biệt là ngành Giáo dục Mầm non với tỷ lệ chiếm 88%. Nhận thức của SV năm thứ 2 và năm thứ 3 cũng tương đương nhau, mặc dù SV năm thứ 2 mới học được 2 năm, đại đa số họ đã có ý thức rất tốt về Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm trong trường sư phạm. (SV năm 2: 86 %, SV năm 3: 85,5%) họ hiểu rằng Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm gắn liền với nghề nghiệp của họ sau này. Mặt khác, sự khác biệt nhận thức cho Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm là rất quan trọng giữa Cán bộ quản lý, giảng viên, giáo viên và SV không chênh lệch nhiều (SV: 79%, Cán bộ quản lý, giảng viên, giáo viên: 93%).
Tuy nhiên, sự chênh lệch này cũng chứng minh nhận thức của người truyền thụ tri thức hay người tổ chức, chỉ đạo, hướng dẫn phải là những người nhận thức tốt và hoàn thiện thì mới thực hiện tốt công tác chuyên môn của mình.
Có Cán bộ quản lý, giảng viên, giáo viên cho rằng công tác RNVSP là ít quan trọng (chiếm 4%), tính vào thời điểm tiến hành khảo sát, cũng là thời điểm có giảng viên mới ra trường về công tác và đang ở giai đoạn tập sự nên chưa hiểu rõ được đặc thù về Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của SV nói chung và của SV ngành Giáo dục Mầm non nói riêng. Vì vậy, chưa nhận thức hoàn thiện về ý nghĩa của việc Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV.
- Bảng 2.2. Mức độ hiểu biết của SV ngành Giáo dục Mầm non về Nghiệp vụ sư phạm
Kết quả khảo sát ở bảng 2.2, cho thấy: Luận văn: Thực trạng quản lý rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV.
Đa số SV chưa nhận thức được Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm là nghề nghiệp chuyên môn không thể thiếu đối với giáo viên Mầm non khi ra trường, cần phải đầu tư thời gian (tỷ lệ chiếm 39,2% – dưới mức trung bình).
Đối với SV năm 3, là đối tượng đã học xong các môn khoa học cơ bản, phương pháp, và đã được đi thực tập sư phạm,… nhưng sự hiểu biết về Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của họ cũng còn chưa định hình rõ ràng và chưa cao. Hầu hết SV này đều cho rằng: những giờ thực hành, rèn kỹ năng, luyện tập,… trong các tiết học, giờ ngoại khóa,… chỉ là giờ thực hành của các môn học mà SV cần biết, chỉ để có thể kiểm tra đạt yêu cầu, và SV có đủ điều kiện thi học phần.
Có SV năm 2 còn không hiểu Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm là gì, có hay không cũng không quan trọng, SV chỉ cần biết: giảng viên yêu cầu gì thì làm nấy…
Qua kết quả khảo sát nhận thức của SV về Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm, có thể nói: Đại đa số SV chưa hiểu được bản chất, tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng cũng như sự cần thiết của hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm đối với SV, vai trò, ý nghĩa của Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm trong việc nâng cao kỹ năng nghề nghiệp trong tương lai.
Kết quả ở bảng 2.3a ở trang 53, cho thấy các nội dung: Cán bộ quản lý, giảng viên, giáo viên đánh giá tương đối khách quan về mức độ cần thiết và mức độ thực hiện của các nội dung này, đây cũng là các nội dung cơ bản có trong chương trình học mà SV phải vận dụng kiến thức đã lĩnh hội để rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp. Nội dung soạn giáo án, tổ chức các môn học được đánh giá cả 2 mức độ cao nhất vì liên quan tới kỹ năng cơ bản chính của người giáo viên trong giảng dạy (thứ bậc 2 – 1). Nhưng cũng có nội dung cho là cần thiết nhất, thực hiện lại chưa cao, như nội dung Thực tập sư phạm tại trường Mầm non (thứ bậc1 – 6). Nội dung này liên quan tới nhiều yếu tố khách quan cũng như chủ quan: kinh phí, cơ sở thực hành, tổ chức,… chưa tốt.
Nội dung rèn kỹ năng viết chữ, viết văn bản hành chính (thứ bậc 9 – 11), thì được đánh giá cả 2 mức tương đương nhau, nhưng được đánh giá là không thiết yếu vì là nội dung này, cơ bản nhưng ít được sử dụng trong chương trình dạy của tuổi mầm non.
Bảng 2.3a. Đánh giá của Cán bộ quản lý, giảng viên, giáo viên về mức độ cần thiết và mức độ thực hiện của các nội dung Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm Luận văn: Thực trạng quản lý rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV.
Nội dung tham gia Hội thi nghiệp vụ sư phạm cấp lớp, cấp khoa đánh giá cả 2 mức độ cũng không cao (thứ bậc 10 – 12), lý do số lượng SV tham gia không đáng kể, quá trình tổ chức chưa tốt, kinh phí hạn hẹp,… chi tiết hơn chúng tôi xin trình bày ở các nội dung khảo sát sau. Nội dung rèn luyện kỹ năng giao tiếp, ứng xử được đánh giá là rất cần thiết, nhưng trong quá trình thực hiện lại đạt kết quả chưa thật tốt – chỉ nằm ở (thứ bậc 3 – 8)…
Đánh giá chung qua kết quả khảo sát ở bảng 2.3a, thấy rằng: Quá trình thực hiện các nội dung rèn kỹ năng trong chương trình còn thấp so với mức độ cần thiết, việc nỗ lực cố gắng về mọi mặt: trình độ, sự nhiệt tình, trách nhiệm, kinh phí, tổ chức,… của Cán bộ quản lý, giảng viên, giáo viên và SV là những điều cần phải xem lại và điều chỉnh.
Bảng 2.3b. Đánh giá của SV về mức độ cần thiết và mức độ thực hiện của các nội dung Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm
- Ghi chú: Nội dung bảng 2.3b theo số thứ tự giống như bảng 2.3a.
Qua kết quả khảo sát từ bảng 2.3b được trình bày ở trang 55, về mức độ cần thiết và mức độ thực hiện của các nội dung Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm, chúng tôi nhận thấy:
Hoạt động hướng dẫn soạn giáo án, tổ chức các môn học là hoạt động chiếm tỷ lệ cao nhất về mức rất cần thiết (76.9%) và mức độ thường xuyên (72%). Soạn giáo án là hoạt động cơ bản và quan trọng nhất trong các hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm, đã được SV nhìn nhận tương đối chính xác. Vì hoạt động này là hoạt động được rèn luyện thường xuyên trong các môn học liên quan tới nghề nghiệp, đó là các môn học phương pháp. Đây cũng là đặc thù của ngành Mầm non là nuôi và dạy trẻ. Để tiết dạy có chất lượng tốt, đương nhiên người giáo viên phải biết các kỹ năng soạn giáo án. SV cho đó là điều không thể thiếu được trong Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm (Không cần thiết: 0%).
Hoạt động xây dựng phương pháp học tập, nghiên cứu cho SV cũng được SV đánh giá cao về mức độ cần thiết (57.9%), Rất cần thiết (42.1%), Thực hiện thường xuyên (58%), đứng thứ 2 trong bảng 3.
Những số liệu trên cho thấy: SV đã ngày càng hiểu được việc thay đổi phương pháp giảng dạy và học trong trường Đại học là điều cần thiết; cần phải chuyển đổi phương pháp dạy học truyền thống (thầy giảng, đọc trò ghi) sang phương pháp dạy học lấy HS làm trung tâm. Để từ đó kích thích sự tự học, tự nghiên cứu trong SV, thầy chỉ là người tổ chức, dẫn dắt, định hướng. Tuy nhiên, một số SV vẫn còn ỷ lại, không chịu thay đổi nếp nghĩ, cách học, thụ động, lười suy nghĩ,… (chưa bao giờ 1,9%), (đôi khi 39,9%), và không thực hiện phương pháp học tập, nghiên cứu tài liệu theo sự hướng dẫn của giảng viên. Ngay cả trong giảng viên của trường cũng còn một số giáo viên chưa thực hiện đổi mới PPDH hoặc có thực hiện cũng còn chưa tốt, chưa đều. Do vậy, việc thay đổi PPDH không phải một sớm, một chiều có thể thực hiện được.
Hoạt động rèn luyện kỹ năng giao tiếp, ứng xử (với trẻ, phụ huynh, đồng nghiệp…) cũng được SV đánh giá cao: mức độ cần thiết (35.7%), rất cần thiết (62.9%), thực hiện thường xuyên (54,4%). Điều này, phản ánh sự nhận thức đúng đắn của SV, cho hoạt động giao tiếp là hoạt động giúp cho họ gần gũi, thấu hiểu đối tượng giáo dục, các kỹ năng chuyên môn được nâng cao, từ đó giúp họ thực hiện tốt nhiệm vụ chuyên môn nghề nghiệp đó là sự nghiệp trồng người của mình và họ đã ý thức được và cố gắng thực hiện thông qua các hoạt động của các môn học, sinh hoạt tập thể, tham quan, ngoại khóa…. Tuy nhiên, cũng còn SV chưa bao giờ (33%), hay đôi khi (61%), thực hiện vì họ chưa nhận thấy rõ tầm quan trọng của việc rèn kỹ năng giao tiếp ngay trong nhà trường sư phạm. Do đó, hoạt động rèn luyện kỹ năng giao tiếp, ứng xử,… cần được quan tâm tới từng SV ngành Giáo dục Mầm non trong tất cả các hoạt động chuyên môn cũng như ngoại khóa của nhà trường.
Hoạt động rèn kỹ năng nói và sửa lỗi phát âm, cũng được SV chú ý. SV nhận thức: cần thiết (46,4%), rất cần thiết (50%), thường xuyên thực hiện (50,5%). Hoạt động này được SV cho là quan trọng. Bởi vì lứa tuổi mầm non là lứa tuổi trẻ em thích bắt chước, nhạy cảm với ngôn ngữ, trẻ đang “học ăn, học nói”. Do đó, giáo viên mầm non phải nắm tốt các kỹ năng nói và phát âm chuẩn để trẻ noi theo. Tuy nhiên, cũng có một số SV cho rằng: là không cần thiết (3.6%). Vì họ nghĩ đó là công việc của giáo viên tiểu học, với lứa tuổi này thì chưa cần nói đúng vì trẻ còn nhỏ. Vì vậy, những SV này rất ít tham gia – (36%), rèn luyện kỹ năng nói và sửa lỗi phát âm. Luận văn: Thực trạng quản lý rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV.
Hoạt động rèn kỹ năng tổ chức, thực hiện các hoạt động chăm sóc trẻ ở các độ tuổi, tham gia Hội thi nghiệp vụ sư phạm cấp lớp, cấp khoa; rèn kỹ năng viết chữ, viết văn bản hành chính tương đối thấp (từ 24.5 % đến 42%).
Nguyên nhân, vì đây là những hoạt động trong trường sư phạm, SV không được rèn luyện thường xuyên, trường lại chưa có trường thực hành, nên, SV chỉ được thực hành về kỹ năng tổ chức, các hoạt động chăm sóc trẻ ở các độ tuổi khi đi Thực tập sư phạm, (TT đợt 1 cho SV năm 2: 04 tuần, đợt 2 cho SV năm 3: 06 tuần). Hoạt động thi nghiệp vụ sư phạm cấp lớp, cấp khoa cũng chỉ có 3 lần/khóa. SV không được tham gia 100%, chỉ có một số SV tham gia đại diện cho lớp. Hoạt động rèn kỹ năng viết chữ, viết văn bản hành chính chỉ được rèn qua bộ môn Văn học với số tiết không nhiều. Do đó, cần phải xây dựng trường thực hành để việc tổ chức, quản lý,… tạo điều kiện cho SV rèn luyện các kỹ năng sư phạm là điều hết sức cần thiết.
2.3.2. Thực trạng trang bị các kỹ năng nghề nghiệp cho SV ngành Giáo dục Mầm non
Kết quả khảo sát về thực trạng trang bị các kỹ năng nghề nghiệp cho SV ngành Giáo dục Mầm non, được trình bày ở bảng 2.4 ở trang 58 cho thấy: 2 nhóm kỹ năng: Nhóm kỹ năng thuộc bộ môn TLGD (1, 2, 3, 4, 5); nhóm kỹ năng thuộc bộ môn chuyên ngành (6, 7, 8, 9, 10), đều được Cán bộ quản lý, giảng viên, giáo viên và SV chấp nhận và đánh giá tốt (TBC = 4.1). Đây là những kỹ năng rất thiết thực cho nghiệp vụ chuyên môn nghề nghiệp mà SV cần phải được rèn luyện trong chương trình đào tạo của trường sư phạm. Ở kỹ năng: Tư thế, tác phong của thầy, cô giáo đều được Cán bộ quản lý, giảng viên, giáo viên và SV đề cao nhất (thứ bậc 1). Vì họ nhận thức được đây là kỹ năng đầu tiên, không thể thiếu đối với ngành sư phạm nói chung và ngành Giáo dục Mầm non nói riêng.
- Bảng 2.4. Đánh giá của Cán bộ quản lý, giảng viên, giáo viên và SV về trang bị các kỹ năng nghề nghiệp cho SV ngành Giáo dục Mầm non Luận văn: Thực trạng quản lý rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV.
Các kỹ năng còn lại, Cán bộ quản lý, giảng viên, giáo viên và SV đánh giá có sự chênh lệch nhưng không nhiều, nhìn chung họ đều nhìn nhận đó là những kỹ năng cần thiết, cần phải được hình thành trong quá trình Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm.
2.3.3. Kết quả hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của SV ngành Giáo dục Mầm non
- Kết quả khảo sát về kết quả hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm được trình bày ở bảng 2.5, (trang 59) cho thấy:
Đây là kết quả chủ quan mà SV tự đánh giá, SV đã được qua trải nghiệm và thành quả của họ đã được chứng minh. Kết quả các nội dung rèn luyện kỹ năng ở mức chênh lệch không đáng kể. Vì SV được rèn luyện kỹ năng trong tất cả các hoạt động của chương trình đào tạo giáo viên mầm non, đặc biệt là các môn chuyên ngành. Trong đó, nội dung Thực tập sư phạm tại trường Mầm non, rèn luyện kỹ năng giao tiếp, ứng xử (với trẻ, phụ huynh, đồng nghiệp,…), thực hành giáo dục – chăm sóc trẻ tại trường Mầm non đạt hiệu quả cao nhất. Đây là những nội dung được SV xác định là chủ yếu, cần thiết cho nghề nghiệp, nên họ cố gắng, nỗ lực để đạt được trong Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm.
- Bảng 2.5. Đánh giá của SV về kết quả hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm
- Bảng 2.6. Cán bộ quản lý, giảng viên, giáo viên đánh giá kết quả Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của SV
Từ kết quả khảo sát ở bảng 2.6 – trình bày ở trang 60, cho thấy: Kết quả đánh giá của Cán bộ quản lý, giảng viên, giáo viên khi đánh giá về kết quả Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của SV như sau:
SV đạt kết quả khá trong hầu hết các nội dung rèn luyện với tỷ lệ khá cao, loại tốt không nhiều; một số nội dung được đánh giá ở mức trung bình như: luyện tập các bài hát, múa (13.6%), rèn luyện kỹ năng giao tiếp, ứng xử (với trẻ, phụ huynh, đồng nghiệp …) (13,6%),… một số nội dung được đánh giá mức yếu như các hoạt động (1, 2, 3, 6, 7, 8, 12), chỉ đạt (2,3%).
So sánh giữa đánh giá của Cán bộ quản lý, giảng viên, giáo viên với đánh giá của SV về kết quả Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm (bảng 2.5, trang 59), chúng tôi thấy có sự chênh lệch tương đối nhiều giữa các mức yếu, trung bình, khá, tốt. Điều này cần phải xem lại, việc tổ chức, đánh giá của Cán bộ quản lý, giảng viên, giáo viên về chất lượng rèn luyện các kỹ năng cho SV; cũng như tính khách quan, (thời gian rèn luyện, sự nhiệt tình, nghiệp vụ chuyên môn giáo viên và SV trong quá trình Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm). Luận văn: Thực trạng quản lý rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV.
TTSP của SV năm thứ 1 (4 tuần) và SV năm thứ 2 (6 tuần) là thời gian nhiều nhất cho SV rèn kỹ năng so với các hoạt động rèn kỹ năng khác. Trong thời gian này, SV được thể hiện trải nghiệm hết mình để rèn những kỹ năng trong thực tế. Kết quả khảo sát được thể hiện qua bảng 2.7 và 2.8.
- Bảng 2.7. Kết quả Thực tập sư phạm đợt 1 của SV
- Bảng 2.8. Kết quả Thực tập sư phạm đợt 2 của SV
Từ kết quả khảo sát được thể hiện ở 2 bảng 2.7 và bảng 2.8 (tr. 61) cho thấy: Hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm ở SV không đều, không cao, không thể hiện được sự tiến bộ rõ nét trong Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV trong cùng 1 khóa, cũng như giữa khóa trước và khóa sau.
Đánh giá kết quả hiện nay tại một số trường Mầm non chưa phản ánh đúng năng lực thực tiễn của mỗi SV. Hầu hết SV được xếp loại giỏi, xuất sắc, rất ít SV được xếp loại khá, mức trung bình khá có khi không có, nếu có thì có thể SV đó bị vi phạm kỷ luật hay bệnh tật, chứ không phải do hạn chế về chuyên môn. Đem so sánh kết quả học tại trường và kết quả Thực tập sư phạm của SV, thì có độ chênh lệch lớn, điều đó nãy sinh mâu thuẫn cần phải giải quyết giữa đào tạo, giáo dục lý thuyết và thực hành, giữa “học đi đôi với hành”. Một vấn đề khác được đặt ra là việc vận dụng những kiến thức, kỹ năng đã được học vào thực tế hoạt động trong thực tiễn của SV.
Việc đánh giá kết quả thực tập cho SV của giáo viên các cơ sở thực hành cũng chưa khách quan. Qua thực tế SV đi Thực tập sư phạm cho thấy: Giáo viên ở các cơ sở thực hành, trực tiếp hướng dẫn SV, về trình độ nghiệp vụ chuyên môn, kinh nghiệm hướng dẫn còn hạn chế; trong đánh giá kết quả Thực tập sư phạm và năng lực của SV chưa được thống nhất (khi nhận xét các kỹ năng như: soạn giáo án, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy, xử lý các tình huống xảy ra trong quá trình chăm sóc, giáo dục trẻ SV, thì giáo viên cho là còn hạn chế nhưng khi đánh giá kết quả Thực tập sư phạm thì lại không tương đồng). Mặt khác, một số giáo viên không công khai phân tích những ưu, nhược điểm của SV trước tập thể mà chỉ công bố kết quả, SV không được tham gia bảo vệ quyền lợi cho mình. Do đó, việc nâng cao chất lượng, cũng như đánh giá kết quả Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV ở các cơ sở thực hành còn là vấn đề cần phải giải quyết.
2.3.4. Thực trạng quản lý hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của sinh viên ngành Giáo dục Mầm non – hệ Cao đẳng, trường Đại học Đồng Nai Luận văn: Thực trạng quản lý rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV.
2.3.4.1 Thực trạng quản lý về các nội dung hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của SV ngành Giáo dục Mầm non Bảng 9. Đánh giá của Cán bộ quản lý, giảng viên, giáo viên về quản lý nội dung hoạt động RLNVSP của SV ngành Giáo dục Mầm non, trường Đại học Đồng Nai.
Kết quả khảo sát ở bảng 2.9 (tr. 63) cho thấy mức độ tổ chức, quản lý của Cán bộ quản lý, giảng viên, giáo viên về các nội dung hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của SV ngành Giáo dục Mầm non trường Đại học Đồng Nai còn ở mức độ chưa cao:
Nội dung tổ chức, chỉ đạo thực hiện đạt ở mức độ (71,1%). Điều này có thể được lý giải: do việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV chưa sát sao, còn mang tính chất giao việc cho người dưới quyền, thiếu kiểm tra chặt chẽ; giáo viên hướng dẫn chưa làm hết trách nhiệm của mình…
Về nội dung xây dựng kế hoạch, chương trình tổ chức, quản lý hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cũng chỉ đạt 68.9%. Khảo sát, đánh giá mức độ trong việc xếp thời khóa biểu cho thấy: đạt mức độ tốt là 62.2%. Còn tồn tại những bất hợp lý như: không ổn định về thời gian, thời lượng rèn luyện kỹ năng. Ví dụ, việc tổ chức các hoạt động rèn luyện kỹ năng trong các bộ môn thường rơi vào cuối các học kỳ hay vào cuối năm học; thời gian rèn luyện kỹ năng là 15 tiết/học kỳ và sẽ chia đều cho các bộ môn học trong học kỳ đó, một học kỳ thường là 3 hoặc 4 môn học. Do vậy, nếu học kỳ đó ít môn học thì số tiết rèn luyện kỹ năng sẽ nhiều và ngược lại, nếu học kỳ đó nhiều môn học thì số tiết rèn luyện kỹ năng sẽ ít đi. Mặt khác, có môn học được triển khai đầu học kỳ, nhưng cuối học kỳ hoặc có thể là cuối năm học mới tổ chức cho SV rèn luyện kỹ năng,… nên kế hoạch bị động, chất lượng, hiệu quả tổ chức hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV bị hạn chế.
Các nội dung: Đầu tư cơ sở vật chất cho hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm. Phối hợp các lực lượng cùng tham gia hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm, kiểm tra – đánh giá kết quả Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm còn ở mức độ trung bình cao (40 – 60%). Nội dung này, chúng tôi sẽ trình bày kỹ ở phần thực trạng về xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị cho hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm.
2.3.4.2 Thực trạng về quản lý, xây dựng kế hoạch hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của SV ngành Giáo dục Mầm non
Bảng 2.10. Đánh giá của Cán bộ quản lý, giảng viên, giáo viên về thực trạng xây dựng kế hoạch hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của sinh viên ngành Giáo dục Mầm non, trường Đại học Đồng Nai.
Ghi chú: Luận văn: Thực trạng quản lý rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV.
- Kế hoạch Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên: Thông qua các môn học: Tâm lý học, Giáo dục học, các PPDH bộ môn.
- Thực tập sư phạm đợt 1 (KTSP): Thực hiện vào năm thứ 2, thời gian là 4 tuần.
Thực tập sư phạm đợt 2: Thực hiện vào năm thứ 3, thời gian là 6 tuần. Kết quả của bảng 10, cho thấy: Mức độ tổ chức, quản lý của Cán bộ quản lý, giảng viên, giáo viên về kế hoạch hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của sinh viên ngành Mầm non, trường Đại học Đồng Nai được đánh giá ở mức độ tốt (TBC = 4,55), các kế hoạch diễn biến theo đúng quy trình theo năm học, được thực hiện theo đúng thời điểm, thời gian đề ra.
- Bảng 2.11. Đánh giá mức độ xây dựng kế hoạch Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm đối với khối kiến thức, kỹ năng chung
Kết quả khảo sát về mức độ xây dựng kế hoạch Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm đối với khối kiến thức, kỹ năng chung được trình bày ở bảng 2.11 cho thấy:
CBQL, giảng viên, giáo viên đánh giá mức độ xây dựng kế hoạch hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm đối với khối kiến thức, kỹ năng chung ở mức độ tương đối tốt. Tuy nhiên, giữa các kỹ năng còn có sự cách biệt nhau quá xa trong quá trình thực hiện.
Như vậy, kế hoạch xây dựng khối kiến thức, kỹ năng chung của khoa TL – GD cho SV không những cần phải duy trì những nội dung đã làm tốt, mà còn phải chú trọng hơn nữa những nội dung chưa thực hiện tốt trong những năm học tới.
- Bảng 2.12. Xây dựng kế hoạch rèn luyện nghiệp vụ – đối với khối kiến thức, kỹ năng chuyên ngành
Kết quả khảo sát được trình bày ở bảng 2.12, cho thấy: Việc xây dựng kế hoạch rèn luyện nghiệp vụ – đối với khối kiến thức, kỹ năng chuyên ngành, đạt được mức độ tốt hơn, do việc xây dựng kế hoạch của giảng viên có kinh nghiệm và trình độ ở khoa Tiểu học – Mầm non đã bám sát, đúng năng lực đối tượng SV và chuyên môn của mình. Tuy nhiên, do số lượng SV theo học ngành Giáo dục Mầm non ngày càng đông, nên số lượng giảng viên khoa Tiểu học – Mầm non không đáp ứng đủ cho việc giảng dạy, buộc trường phải mời thỉnh giảng giảng viên ở các khoa khác (Mỹ thuật, Âm nhạc…) không có nghiệp vụ chuyên môn ngành Giáo dục Mầm non. Do đó, việc xây dựng kế hoạch rèn luyện kỹ năng cho SV ở một số môn học cũng bị hạn chế, không được sát sao và phù hợp với đặc thù của ngành Giáo dục Mầm non, ảnh hưởng không nhỏ tới chất lượng tổ chức hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV. Luận văn: Thực trạng quản lý rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV.
2.3.4.3 Thực trạng tổ chức, quản lý thực hiện quy trình hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV Bảng 2.13. Thực trạng tổ chức, quản lý quy trình hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV
Kết quả khảo sát về thực trạng tổ chức, quản lý quy trình hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV được trình bày ở bảng 2.13 (tr. 67, 68) cho thấy: Mức độ thực hiện các kế hoạch tham quan tại cơ sở TH (TBC = 4.4); tập giảng – chăm sóc trẻ (TBC = 4.42); thi nghiệp vụ sư phạm (TBC = 4.3); thực tập sư phạm (TBC = 4.5), mà Cán bộ quản lý, giảng viên, giáo viên đánh giá, thì các nội dung chương trình, kế hoạch Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm đều thực hiện đúng quy trình, kế hoạch đề ra. Nhưng nếu đi sâu vào bản chất một số nội dung tổ chức của từng kế hoạch, và qua thâm nhập thực tế, phỏng vấn một số đối tượng đã tham gia tổ chức hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV, thấy nổi lên một số điểm cần lưu ý. Cụ thể:
Tham quan tại cơ sở thực hành: Không có trong kế hoạch của năm học, mà do Khoa Tiểu học – Mầm non sắp xếp vào thời điểm nào đó thấy thích hợp trong năm học. Thời gian tham quan kiến tập sư phạm chỉ có 1 buổi/khóa học, vào học kỳ 2 của năm thứ 1 (không đủ cho việc rèn luyện kỹ năng của SV). Để lấp chỗ trống về thời gian, thực hiện nhiệm vụ theo “khoán”, Khoa thường tổ chức cho SV đi tham quan theo kế hoạch kiểu đột xuất. Do đó, tạo ra nhiều bất cập cho trường Mầm non: Thời điểm cho SV tham quan thường bị động cho trường, bởi trường thực hành thường có các phong trào như Hội giảng cấp trường, thành phố hay cấp tỉnh, kiểm tra, thanh tra chuyên môn chéo,… số lượng SV tham quan trong 1 buổi lại quá đông (70 SV-100SV/lớp)…
Thi nghiệp vụ sư phạm: Chỉ được tổ chức 1 năm/lần. Số lượng SV được tham gia không nhiều. Trung bình 1 lớp chỉ có 5 SV tham gia, 1 lớp có từ 65 – 90 SV và được tổ chức vào học kỳ 2 trong năm học. Do vậy, giảng viên phụ trách thường chọn ra những SV tiêu biểu, có năng khiếu tốt về ứng xử, múa hát, viết,… đại diện cho lớp để thi nghiệp vụ sư phạm. Vì thế, những SV còn lại không được tham gia mà chỉ có quan sát và cổ vũ đồng đội của lớp mình. Đây cũng là điều thiệt thòi lớn cho SV, họ không có cơ hội được rèn luyện kỹ năng và thể hiện các kỹ năng đã có.
TTSP: Địa điểm thực tập do Phòng Giáo dục huyện, thành phố quy định và Phòng Giáo dục cũng là một trong những thành viên của ban chỉ đạo thực tập của trường Đại học Đồng Nai. SV được phân về địa điểm mà Phòng Giáo dục đã chọn, đó là những trường có Cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên tốt so với tình hình thực tế của địa phương đó. SV hộ khẩu nơi nào thì về nơi đó, nên dẫn đến tình trạng có trường Mầm non nhiều SV, có trường Mầm non ít SV nên cũng khó khăn trong việc thực tập và ăn ở cho SV.
Kinh phí cho tham quan tại cơ sở thực hành, tập giảng – chăm sóc trẻ, thi nghiệp vụ sư phạm, thực tập sư phạm quá ít ỏi so với yêu cầu nội dung và nhiệm vụ của các đối tượng tham gia hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm.
2.3.4.4 Thực trạng quản lý các lực lượng tham gia hướng dẫn, hỗ trợ trong hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV
- Bảng 2.14. Đánh giá của Cán bộ quản lý, giảng viên, giáo viên về quản lý các lực lượng tham gia hướng dẫn, hỗ trợ hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm Luận văn: Thực trạng quản lý rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV.
- Bảng 2.15. Đánh giá của SV về các lực lượng tham gia hướng dẫn, hỗ trợ hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm
Từ kết quả khảo sát, được trình bày ở bảng 2.14, 2.15 (tr. 69, 70) cho thấy:
Đối với SV, tham gia hướng dẫn, hỗ trợ hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV có nhiều lực lượng trong và ngoài trường, trong đó vai trò hướng dẫn, hỗ trợ lớn nhất, trực tiếp nhất được đánh giá tương đối tốt, chính là đội ngũ giảng viên trực tiếp giảng dạy các dạy các bộ môn: Phương pháp, Tâm lý – Giáo dục, Dinh dưỡng, Đảm bảo an toàn và Vệ sinh phòng bệnh. Đây là đội ngũ giảng viên trực tiếp giảng dạy và cung cấp những kỹ năng liên quan thiết yếu tới nghề nghiệp.
Giảng viên cố vấn học tập, giảng viên dạy các bộ môn Khoa học cơ bản, giáo viên trường mầm non, Đoàn HCM đánh giá tương đối thấp, do thời gian tiếp xúc trong quá trình tổ chức hoạt động rèn kỹ năng cho SV không nhiều, hay chỉ là gián tiếp như phòng Đào tạo, nên sự phối hợp hướng dẫn, hỗ trợ cho hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV chưa cao.
Sự phối hợp giữa các lực lượng với công tác Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV còn chưa chặt chẽ: Giảng viên bộ môn được toàn quyền độc lập xây dựng nội dung rèn luyện kỹ năng mà không cần thông qua tổ bộ môn hay qua người phụ trách bộ môn; thời gian dành cho SV tập luyện quá ít ỏi (trung bình 5 tiết/môn học). Sự phối hợp giữa phòng Đào tạo, các bộ môn Khoa học cơ bản, Tâm lý – Giáo dục, các môn học: Đảm bảo an toàn và Vệ sinh phòng bệnh, Dinh dưỡng,… cố vấn học tập, giáo viên ở các cơ sở thực hành, Đoàn TNCS.HCM,… chưa được thường xuyên, liên tục để đi đến sự thống nhất trong các nội dung rèn kỹ năng của các môn học, cũng như các hoạt động khác. Các lực lượng này chỉ phối hợp tổ chức hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm khi thi nghiệp vụ sư phạm (1 năm/lần) và thực tập sư phạm tại trường Mầm non (SV chuẩn bị ra trường). Trong khi đó, rất nhiều nội dung rèn luyện kỹ năng cho SV được quy định trong chương trình học tập, trong kế hoạch năm học của trường không được thực hiện (Quy định Thực tập sư phạm năm 2024). Do đó, làm cho chất lượng Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm chưa đồng đều và chưa cao. Luận văn: Thực trạng quản lý rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV.
2.3.4.5 Thực trạng về quản lý đầu tư cơ sở vật chất, kinh phí cho hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm Bảng 2.16. Đánh giá của Cán bộ quản lý, giảng viên, giáo viên về việc quản lý cơ sở vật chất, kinh phí
Qua kết quả khảo sát ở bảng 2.16 cho thấy: Tất cả các nội dung đều được Cán bộ quản lý, giảng viên, giáo viên, SV đánh giá dựa theo các quy định về Cơ sở vật chất của trường sư phạm, trường thực hành và nguồn kinh phí được cung cấp theo “Quy chế chi tiêu nội bộ 2025” của trường Đại học Đồng Nai. Kết quả cụ thể cho thấy:
CSVC đầu tư cho thi nghiệp vụ sư phạm, tập giảng – chăm sóc trẻ: Đây là điều kiện cho hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của SV trong năm học tại trường sư phạm. Do đó, Cơ sở vật chất cần có như phòng học, phòng thực hành, các phương tiện giảng dạy,… giúp SV hình thành những kỹ năng mang tính đặc thù của ngành Giáo dục Mầm non để chuẩn bị Thực tập sư phạm, rèn kỹ năng nghề nghiệp cho SV, song chưa đầy đủ, chưa tốt. Ví dụ: Phòng chuyên dùng cho bộ môn nhạc, múa chưa có, SV phải luyện nhạc lý trong phòng học, kế cận các phòng học khác gây ảnh hưởng tới SV đang học cùng thời điểm và bản thân SV cũng bị ức chế trong quá trình học, khi luyện kỹ năng múa thì mỗi lần học thầy và trò phải kê bàn ghế dồn lại để lấy không gian tập, trong khi SV lại quá đông từ 65 – 100 SV/lớp. Phòng cho SV tập giảng cho các môn học chuyên ngành cũng chưa có, SV phải tự đi tìm phòng trống, hành lang hay nơi có bóng mát,… để thực hành nên mất rất nhiều thời Trang thiết bị: catset, micro, âm ly, máy vi tính,… có nhưng chưa đồng bộ, cũ kỹ, chưa chất lượng, hư hỏng nhiều nhưng không được thay thế và sửa chữa kịp thời,… nên nhiều tiết học giảng viên phải dạy chay, hay 4 tiết dạy thì mất 1-2 tiết sửa, điều chỉnh máy vi tính, âm ly, đèn chiếu,… hoặc phải đổi phòng học do không sửa được, ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng rèn kỹ năng cho SV.
CSVC tại trường thực hành nơi SV đến tham quan và Thực tập sư phạm thì được đánh giá tốt hơn so với trường sư phạm (thứ bậc 1).
Kinh phí cho các nội dung phục vụ hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm, phải thực hiện theo quy chế chi tiêu nội bộ của trường, nên số tiền kinh phí cho mỗi nội dung hoạt động quá ít ỏi so với các đối tượng tham gia và so với yêu cầu và tầm quan trọng của việc rèn kỹ năng cho Từ đó, khó kích thích sự cố gắng, tích cực, nhiệt tình,… trong mỗi thành viên tham gia Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm. Ví dụ:
Tập giảng – Chăm sóc trẻ: không có kinh phí hỗ trợ (thứ bậc 3). SV phải tự mua, tự kiếm, tận dụng các nguyên vật liệu phế thải để làm đồ chơi, đồ dùng tập dạy hay tự mua thực phẩm, để thực hành theo yêu cầu môn học về nuôi trẻ theo lứa tuổi (Môn học Đảm bảo an toàn và Vệ sinh phòng bệnh, dinh dưỡng…).
Hội thi nghiệp vụ sư phạm đánh giá thấp nhất (thứ bậc 4): Tiền nước uống 500 đồng/SV, phục vụ cho giảng dạy 300.000 đồng/hội thi,… trong khi đó, SV rèn luyện rất nhiều các kỹ năng trong giảng dạy, múa hát, chữ viết, giao tiếp ứng xử,… và làm đồ dùng giảng dạy với 1 thời gian cả 1 – 2 tháng (Quy chế chi tiêu nội bộ 2022 và 2025 của trường đại học Đồng Nai).
Thực tập sư phạm: Kinh phí cho văn phòng phẩm 5.000 đồng/SV, đồ dùng dạy học 150.000 đồng/đoàn thực tập,… thời gian Thực tập sư phạm là từ 4 – 6 tuần, SV phải soạn giao án và lên tiết dạy 8 tiết, làm công tác chủ nhiệm, lập kế hoạch giảng dạy từng tuần, toàn đợt… Bồi dưỡng cho GV hướng dẫn sinh viên ngành Giáo dục Mầm non 80.000 đồng/SV/đợt thực tập (Quy định thực tập SP năm 2024 – Trường Đại học Đồng Nai). Luận văn: Thực trạng quản lý rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV.
Nhìn chung, về Cơ sở vật chất, kinh phí đầu tư vào hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV ngành Giáo dục Mầm non còn quá thấp so với yêu cầu Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm có chất lượng cao cũng như đào tạo lực lượng lao động có tay nghề cao đáp ứng cho nhu cầu của xã hội. Do đó, cần có Cơ sở vật chất và kinh phí cho phù hợp để nâng cao chất lượng đào tạo nói chung và chất lượng cho việc tổ chức, quản lý hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV ngành Giáo dục Mầm non nói riêng.
2.3.4.6 Thực trạng về mức độ quản lý, đánh giá, nhận xét của các đối tượng tham gia quản lý các hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm
- Bảng 2.17. Mức độ quản lý, đánh giá, nhận xét, của các đối tượng tham gia quản lý các hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm
Qua kết quả bảng 2.17 cho thấy: Việc tổ chức nhận xét, rút kinh nghiệm sau mỗi tiết tập giảng, sau 1 hội thi,… về vấn đề rèn luyện kỹ năng, giúp SV nhận biết được nhược điểm ưu điểm. Từ đó, rút ra các biện pháp Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm một cách hiệu quả. Trong việc nhận xét, rút kinh nghiệm Thực tập sư phạm tại trường Mầm non, tham quan tại cơ sở thực hành được các giáo viên hướng dẫn đánh giá cao (thứ bậc 1 và 2). Đây là những nội dung rèn luyện kỹ năng với mục đích rõ ràng, có kế hoạch, có chương trình nên được sự hỗ trợ đồng bộ của các lực lượng tham gia rèn luyện kỹ năng tương đối tốt, vì có liên quan tới kiểm tra, đánh giá kết quả trực tiếp cho SV.
Nhận xét, rút kinh nghiệm tập giảng – chăm sóc trẻ, được đánh giá thấp hơn (thứ bậc 3). Hầu hết SV tự tập dạy, tập làm qua việc xem tiết dạy, tiết thực hành mẫu (có nhận xét, đánh giá của giảng viên). Số lượng SV quá đông nên giảng viên không thể theo dõi hết. Do đó, việc nhận xét, rút kinh nghiệm chưa sát sao, chi tiết cho các tiết dạy, tiết thực hành mà SV luyện tập.
Nhận xét, rút kinh nghiệm thi nghiệp vụ sư phạm được đánh giá thấp nhất (thứ bậc 4). Công tác tổ chức nhận xét, rút kinh nghiệm chỉ được phổ biến cho các Cán bộ quản lý và giảng viên, còn SV được tham gia hội thi nghiệp vụ sư phạm không có cơ hội để nghe. Vì vậy, SV không nhận thức, không xác định rõ những ưu, khuyết điểm để phát huy hay khắc phục.
- Bảng 2.18. Các mức độ nhận xét, rút kinh nghiệm trong việc kiểm tra, đánh giá của các đối tượng tham gia quản lý các hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm Luận văn: Thực trạng quản lý rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV.
Kết quả khảo sát được trình bày ở bảng 2.18, cho thấy: Nội dung hoạt động kiểm tra, đánh giá tập giảng – chăm sóc trẻ, Thực tập sư phạm tại trường Mầm non (thứ bậc 1):
Giảng viên, giáo viên là người trực tiếp kiểm tra, đánh giá SV và chịu sự kiểm tra gián tiếp của Ban chỉ đạo thực tập, Phòng Đào tạo khi SV đi Thực tập sư phạm. Thông qua kiểm tra, đánh giá của giáo viên trong quá trình Thực tập sư phạm, SV mới có điểm thực tập. Điểm thực tập bao gồm các điểm trong đó có điểm rèn luyện kỹ năng của môn học do giảng viên kiểm tra. Đây là điều kiện cần và đủ để xét tốt nghiệp cho SV. Do đó, giảng viên, giáo viên và SV đều phải nỗ lực thực hiện nhiệm vụ này.
Kiểm tra, đánh giá thi Nghiệp vụ sư phạm (thứ bậc 2) chỉ được thực hiện 1 lần/1 năm học. Việc kiểm tra, đánh giá còn mang tính hình thức. Tổ chức thi nghiệp vụ sư phạm không được thiết thực cho từng SV, số lượng SV lại tham gia quá ít (5 SV/lớp) nên chưa phản ánh đúng thực chất việc Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của SV.
Kiểm tra, đánh giá hoạt động tham quan, học tập tại cơ sở thực hành (thứ bậc 3) do giảng viên môn học trực tiếp thực hiện. Giảng viên bộ môn dựa vào mục đích của ngày tham quan đưa ra yêu cầu cho SV. Nhưng vì thời gian quá ít (1 buổi) SV không thể nắm bắt hết những điều cần biết về các kỹ năng nuôi và dạy trẻ,… nên SV cũng khó thực hiện tốt được nhiệm vụ của mình. Vì thế việc kiểm tra, đánh giá công tác tổ chức tham quan, học tập không được chính xác, khó thực hiện.
2.4. Đánh giá chung
Trường Đại học Đồng Nai qua quá trình hình thành và phát triển đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận; góp phần đào tạo lực lượng lao động có trình độ, chuyên môn cao, đáp ứng nhu cầu phát triển cho tỉnh Đồng Nai nói riêng và xã hội nói chung.
Đào tạo đội ngũ giáo viên ngành Giáo dục Mầm non với phẩm chất và năng lực tốt là một trong những nhiệm vụ quan trọng trong công tác giáo dục -đào tạo của trường Đại học Đồng Nai.
Để đào tạo một lực lượng giáo viên Mầm non ngày càng nâng cao về số lượng, vững vàng về chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng cho nhu cầu của xã hội trong giai đoạn hiện nay, cần phải làm tốt công tác tổ chức, quản lý hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV ngành Giáo dục Mầm non.
Qua khảo sát thực trạng tổ chức, quản lý hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV ngành Giáo dục Mầm non ở trường Đại học Đồng Nai, chúng tôi thấy có những điểm mạnh và hạn chế như sau:
2.4.1. Mặt mạnh Luận văn: Thực trạng quản lý rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV.
- Trong những năm qua, công tác Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV ngành Giáo dục Mầm non được BGH, các phòng ban, Đoàn TNCS.HCM, giảng viên, giáo viên các cơ sở thực hành Mầm non đã chủ động, quan tâm và đề ra kế hoạch, chương trình hàng năm.
- Chất lượng tuyển sinh đầu vào trong các năm học ngày càng
- Đoàn HCM đã tổ chức các phong trào văn hóa, văn nghệ chào mừng các ngày lễ lớn cắm trại 26/3, 8/3/, 20/11,… các buổi giao lưu với các đơn vị ngoài trường,… thông qua đó rèn kỹ năng cho SV về tổ chức, lập kế hoạch, giao tiếp, ứng xử, xử lý tình huống…
- Đa số SV đều nhận thức được tầm quan trọng của việc Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm.
- Các nội dung rèn kỹ năng được thực hiện theo một tiến trình tốt.
- Các điểm cho SV tham quan kiến tập và Thực tập sư phạm thuận lợi cho SV đi lại và có Cơ sở vật chất tương đối đầy đủ. Các trường Mầm non hàng năm nhận SV về thực tập nên đã có nhiều kỹ năng trong hướng dẫn SV thực tập.
- Nhà trường đã có kế hoạch, chương trình rõ ràng về giảng dạy, truyền đạt, rèn luyện các kỹ năng và tổ chức các hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV.
- Tiềm năng Cơ sở vật chất của nhà trường cao nên có khả năng đầu tư trang thiết bị, Cơ sở vật chất cho công tác tổ chức hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV ngành Giáo dục Mầm
- Đội ngũ giảng viên có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy.
2.4.2. Hạn chế
- Một bộ phận không nhỏ SV chưa nhận thức được Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm là nghề nghiệp chuyên môn. Nhiều SV quan niệm Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm chỉ là phần thực hành chuyên môn nên trong quá trình rèn kỹ năng còn mang tính đối phó. Luận văn: Thực trạng quản lý rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV.
- Việc tổ chức hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm chỉ tập chung chủ yếu vào các môn khối kiến thức chuyên ngành, không có sự kết hợp đồng bộ trong việc rèn kỹ năng giữa khối kiến thức chung và khối kiến thức chuyên ngành.
- Sự kết hợp giữa các lực lượng để tổ chức hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV ngành Giáo dục Mầm non chưa cao và chưa đồng bộ.
- Chưa đề cao hoạt động hội thi nghiệp vụ sư phạm, tham quan và kiến tập tại các cơ sở thực hành.
- CSVC hiện tại phục vụ cho hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của SV ngành Giáo dục Mầm non còn thiếu thốn, hư hỏng và lỗi thời.
- Kinh phí hạn hẹp không kích thích được tâm thế của SV và những thành phần tham gia hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV.
- Đội ngũ giảng viên hướng dẫn Thực tập sư phạm thường là giảng viên không đủ giờ chuẩn của các khoa khác, không có chuyên môn về ngành Giáo dục Mầm non nên cũng có nhiều khó khăn cho SV khi giải quyết các vấn đề có liên quan tới chuyên môn.
- Đội ngũ giáo viên các trường Mầm non có SV đến thực tập trình độ không đồng đều, còn thiếu PP sư phạm truyền đạt cho SV hệ cao đẳng nên hướng dẫn kỹ năng cho SV, đánh giá kết quả Thực tập sư phạm còn lúng túng, chưa khách quan.
- Các hoạt động ngoại khóa cho SV còn ít và đơn điệu.
- Thời gian dành cho các hoạt động liên quan đến Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm, như tham quan, kiến tập,… trong các môn học còn ít, số lượng SV tham gia không đáng kể trong hội thi Nghiệp vụ sư phạm.
- Một số giảng viên chưa có kế hoạch Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cụ thể trong từng môn học.
2.4.3. Nguyên nhân
- Qua kết quả khảo sát ở bảng 2.19 (tr. P1 – PL) cho thấy:
CBQL, giảng viên, giáo viên đều nhận thấy các nguyên nhân ảnh hưởng tới công tác Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm trong đó nhiều SV chưa hiểu rõ tầm quan trọng về Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm và từ đó chưa tự ý thức được việc Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm trong quá trình học tại trường, chiếm tỷ lệ cao (41.3% – 50%). Điều đó cho thấy, nếu như các điều kiện khác như: Giảng viên, giáo viên, Cơ sở vật chất,… có tốt chăng nữa, nhưng bản thân SV không tự thân vận động thì kết quả Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của SV vẫn không thể tốt được.
Sinh viên còn hạn chế về khả năng hát múa, đọc, kể, làm đồ dùng, đồ chơi (65,2%). Đây là khả năng về năng khiếu của mỗi SV và cũng là năng khiếu đặc thù của ngành Giáo dục Mầm non mà mỗi SV cần phải có để được vào học. Trong quá trình học, thì SV được rèn luyện kỹ năng sẽ thuận lợi và hoàn thiện hơn để phát huy khả năng sẵn có của mình. Do vậy, việc tuyển sinh đầu vào để đào tạo giáo viên cho ngành Giáo dục Mầm non thì ngoài trình độ, chúng ta cũng phải có tiêu chuẩn rõ ràng, chặt chẽ về năng khiếu để tuyển dụng giáo viên mầm non sao cho đủ chuẩn.
Một số giảng viên chưa đầu tư thích đáng về công sức sự nhiệt tình, trách nhiệm khi rèn luyện các kỹ năng sư phạm cho SV trong các giờ thực hành (39,1%). Cụ thể là chưa có sự theo dõi, nhắc nhở, sửa sai cho SV; hay nhận xét, rút kinh nghiệm kịp thời sau các tiết Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm… Luận văn: Thực trạng quản lý rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV.
Mặt khác, Cơ sở vật chất còn yếu kém và kinh phí còn hạn hẹp, nên khó có thể đẩy mạnh, tăng cường chất lượng tổ chức hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV ngành Giáo dục Mầm non.
Một số giáo viên trường Mầm non cũng chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của việc rèn luyện kỹ năng sư phạm cho SV, bên cạnh đó trình độ, nghiệp vụ chuyên môn và kinh nghiệm còn hạn chế (chiếm 24,4 – 28,9 %) nên cũng ảnh hưởng không ít đến quá trình và kết quả tổ chức, quản lý hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm trong đợt Thực tập sư phạm của SV ngành Giáo dục Mầm non.
Hình thức tổ chức hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm chưa đa dạng phong phú (52,2%); Cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm còn chưa đầy đủ, và đảm bảo chất lượng (45,7 %); chưa có sự phối hợp chặt chẽ, kịp thời giữa các lực lượng (40%).
Do vậy, việc xem xét toàn diện các nguyên nhân chủ quan và khách quan để có những giải pháp khắc phục kịp thời, từ đó củng cố, phát triển, tổ chức, quản lý tốt hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV ngành Giáo dục Mầm non là những việc phải làm ngay đối với trường Đại học Đồng Nai.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2
Qua quá trình khảo sát thực tế, với các số liệu được trình bày cụ thể qua các bảng, chúng tôi đã tổng hợp, phân tích, đánh giá về thực trạng quản lý hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV ngành Giáo dục Mầm non – hệ Cao đẳng. Chúng tôi nhận thấy công tác Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm tại trường Đại học Đồng Nai trong các năm qua đã đạt được những kết quả đáng kể. Song cũng còn một số mặt còn hạn chế cần khắc phục. Đây cũng là cơ sở để chúng tôi tiến hành nghiên cứu và xác lập một số biện pháp giúp cho việc tổ chức, quản lý hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV ngành Giáo dục Mầm non trường Đại học Đồng Nai ngày càng tốt hơn. Luận văn: Thực trạng quản lý rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp quản lý rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

