Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Cơ sở thực tiễn quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng – an ninh tại trung tâm giáo dục quốc phòng – an ninh đại học quốc gia Thành Phố Hồ Chí Minh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Đặc điểm và nhiệm vụ của Trung tâm Giáo dục Quốc phòng – an ninh Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
2.1.1. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Thành phố Hồ Chí Minh là một trong hai trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa lớn của nước ta. Nơi tập trung các trường đại học và cao đẳng hàng đầu ở phía Nam. Do đó việc quản lý giáo dục đại học và đặc biệt là giáo dục quốc phòng – an ninh chính là một trong những nhiệm vụ quan trọng của Thành phố.
Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh được thành lập ngày 27 tháng 01 năm 1995 theo Nghị định 16/CP của Chính phủ trên cơ sở sắp xếp 9 trường Đại học lại thành 8 trường đại học thành viên và chính thức ra mắt vào ngày 6 tháng 02 năm 1996.
Năm 2001, hoạt động giáo dục quốc phòng – an ninh được tổ chức lại theo Quyết định số 15/2001/QĐ-TTg ngày 12 tháng 02 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cũng như Đại học Quốc gia Hà Nội có Quy chế tổ chức và hoạt động riêng. Theo đó, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm đào tạo đại học, sau đại học và nghiên cứu khoa học – công nghệ đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao, đạt trình độ tiên tiến, làm nòng cốt cho hệ thống giáo dục đại học, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng.
Hiện nay, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh gồm 06 trường đại học thành viên, 01 viện nghiên cứu, 01 khoa trực thuộc và một số trung tâm nghiên cứu và dịch vụ: Đại học Bách khoa, Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Khoa học Xã hội – nhân văn, Đại học Quốc tế, Đại học Công nghệ Thông tin, Đại học Kinh tế – Luật, Viện Môi trường – Tài nguyên, Khoa Y, Khu Công nghệ phần mềm, Thư viện Trung tâm, Trung tâm Đào tạo Quốc tế, Trung tâm Quản lý Ký túc xá, Trung tâm Khảo thí và Đánh giá Chất lượng đào tạo, Trung tâm Lý luận chính trị, Trung tâm Giáo dục Quốc phòng – an ninh, Trung tâm Ngoại ngữ, Trung tâm Dịch vụ và xúc tiến đầu tư, Trung tâm Đào tạo và Phát triển nguồn nhân lực. Ngoài ra, Trường Phổ thông Năng khiếu thuộc Đại Học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh chịu trách nhiệm đào tạo sinh viên năng khiếu thuộc các ngành toán, tin học, vật lý, hoá học, sinh học, văn học, tiếng Anh.
Cơ quan hành chính của Đại Học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh đặt tại Phường Linh Trung – Thủ Đức. Hiện Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đang được xây dựng trên diện tích 643,7 ha tại khu quy hoạch Thủ Đức – Dĩ An theo mô hình một đô thị khoa học hiện đại.
Quy mô đào tạo chính quy (bao gồm đại học và sau đại học) của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh là 49.714 sinh vật với 74 ngành đào tạo bậc đại học, 89 ngành đào tạo thạc sĩ và 91 ngành đào tạo tiến sĩ thuộc các lĩnh vực kỹ thuật công nghệ, khoa học tự nhiên, khoa học xã hội – nhân văn và khoa học kinh tế. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng.
Về đội ngũ, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh có tổng cộng 4.302 cán bộ – công chức bao gồm 2.403 cán bộ giảng dạy (1.899 người có trình độ sau đại học với 640 tiến sĩ và 1.259 thạc sĩ, 169 người có chức danh GS, PGS).
Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh không ngừng nghiên cứu cải tiến nội dung chương trình đào tạo, phương pháp giảng dạy, đầu tư xây dựng đội ngũ, phát triển cơ sở vật chất nhằm mục đích nâng cao chất lượng đào tạo đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội và sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, hoàn thành xuất sắc nhiệm được Đảng và Nhà nước giao phó.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2.1.2. Trung tâm Giáo dục Quốc phòng – an ninh Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Ngay từ khi thành lập, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã rất quan tâm đến công tác giáo dục quốc phòng – an ninh cho sinh viên các trường đại học thành viên. Do đó, Trung tâm Giáo dục Quốc phòng – an ninh Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh được thành lập theo Quyết định số 225/QĐ/TCCB/ĐHQG của Giám đốc Đại học Quốc gia ký ngày 21/07/2007. Khi thành lập, lực lượng chủ yếu của Trung tâm gồm 35 đồng chí sĩ quan biệt phái từ các khoa quân sự và các bộ môn quân sự thuộc 6 trường đại học: Đại học Khoa học tự nhiên; Đại học Bách khoa; Đại học Sư phạm; Đại học Kinh tế; Đại học Sư phạm kỹ thuật; Đại học Nông Lâm. Trung tâm chính thức ra mắt hoạt động ngày 25/12/1997.
Từ thực tế giảng dạy và yêu cầu ngày càng cao của nhiệm vụ giáo dục quốc phòng – an ninh cho sinh viên, cơ sở vật chất lúc này không còn phù hợp. Nhằm xây dựng môi trường học tập và rèn luyện tốt nhất cho sinh viên, ngày 22/12/2004, dự án xây dựng Trung tâm Giáo dục Quốc phòng – an ninh đã được khởi công và xây dựng tại xã Đông Hòa huyện Dĩ An tỉnh Bình Dương. Dự án có tổng mức đầu tư là 78,910 tỉ đồng với cơ sở vật chất khang trang được khánh thành ngày 15/01/2010 sau hơn 5 năm xây dựng.
Thực hiện Chỉ thị số 12-CT/TW của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng với công tác giáo dục quốc phòng – an ninh trong tình hình mới và Nghị định số 116/2007/NĐ-CP của Chính phủ về giáo dục quốc phòng – an ninh, Môn học Giáo dục Quốc phòng được chính thức đổi tên thành Môn Giáo dục Quốc phòng – an ninh (kiến thức Giáo dục An ninh lồng ghép trong Giáo dục Quốc phòng). Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng.
Với sự phát triển ngày càng rộng lớn và đáp ứng số lượng đến 4.000 sinh viên/ đợt học. Căn cứ mục 1 công văn số 3829/BGDĐT-GDQP ngày 19/06/2012 của Bộ Giáo dục & Đào tạo về thực hiện dự án đầu tư xây dựng Trung tâm Giáo dục Quốc phòng – An ninh cho sinh viên, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, ban hành quyết định 1.184/QĐ-ĐHQG-TCCB ngày 26-10-2012 đổi tên thành Trung tâm Giáo dục Quốc phòng – an ninh sinh viên Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
Để đảm bảo tốt cho việc học tập và sinh hoạt của sinh viên, được sự quan tâm của Chính phủ và Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh; Dự án đầu tư xây dựng Trung tâm Giáo dục Quốc phòng – an ninh giai đoạn mở rộng đã được phê duyệt với tổng mức đầu tư 121,126 tỷ và dự kiến khởi công xây dựng từ năm 2013 và hoàn thành năm 2015.
Hiện nay Trung tâm có bộ máy được tổ chức chặt chẽ và thống nhất theo quyết định 470/QĐ-ĐHQG-TCCB ngày 29/04/2009 của Giám đốc Đại học Quốc gia TP.HCM gồm: Ban Giám đốc, hai khoa giảng viên (Khoa Quân sự và Khoa Chính trị); 5 phòng chức năng (Phòng Hành chính – Tổng hợp; Phòng Công tác Sinh viên; Phòng Đào tạo; Phòng Hậu cần kỹ thuật; Phòng Kế hoạch – tài chánh) với tổng số 80 cán bộ nhân viên (có 45 sĩ quan biệt phái từ Quân khu VII – Bộ Quốc phòng), các hoạt động của trung tâm đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp và toàn diện của Đảng bộ Trung tâm.
Sinh viên theo huấn luyện tại Trung tâm Giáo dục Quốc phòng – an ninh Đại học Quốc gia rất đa dạng về văn hóa vùng miền, truyền thống gia đình, phong phú về ngành nghề và sinh viên của nhiều trường thành viên và trường liên kết đào tạo (Đại học Bách khoa; Đại học Khoa học tự nhiên; Đại học Khoa học xã hội và nhân văn; Đại học Kinh tế – Luật; Đại học Công nghệ thông tin; Đại học Quốc tế; Khoa Y Đại học Quốc gia; Đại học Nông lâm; Đại học Giao thông vận tải Thành phố Hồ Chí Minh; Đại học Kiến trúc; Đại học Kinh tế; Đại học Luật; Đại học Sư phạm kỹ thuật; Đại học Giao thông vận tải cơ sở II; Đại học Văn hóa; Cao đẳng Tài chính Hải quan; Cao đẳng Viễn đông; Cao đẳng nghề công nghệ cao Đồng An; Học viện Bưu chính Viễn thông; Đại học Bình Dương; Đại học Đồng Tháp; Đại học An Giang; Đại học Tôn Đức Thắng; Đại học Thể dục Thể thao; Đại học Bà Rịa – Vũng Tàu; Đại học Kỹ thuật công nghệ; Đại học Kinh tế Kỹ thuật Bình Dương; Cao đẳng Y tế Bình Dương; Cao đẳng Trang trí Mỹ thuật Đồng Nai; Trung học Sư phạm mầm non; Trung học Kỹ thuật nông nghiệp; Trung tâm huấn luyện bay miền Nam).
2.2. Thực trạng hoạt động giáo dục quốc phòng – an ninh của Trung tâm Giáo dục quốc phòng – an ninh Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả tiến hành khảo sát thực trạng tại Trung tâm Giáo dục Quốc phòng – an ninh Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, đối tượng tác giả kháo sát là: giảng viên, cán bộ quản lý, sinh viên.
2.2.1. Cán bộ quản lý và giảng viên Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng.
Hiện nay Trung tâm có bộ máy quản lý theo Quyết định 470/QĐ- ĐHQG-TCCB ngày 24/09/2009 của Giám đốc Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh gồm: Ban Giám đốc, hai khoa giáo viên, năm phòng chức năng, với tồng số 80 cán bộ công nhân viên; các hoạt động của Trung tâm đặt dưới sự chỉ đạo trực tiếp và toàn diện của Đảng bộ Trung tâm.
Về cấp hàm: Đại tá: 03; Thượng tá: 14; Trung tá: 14; Đại úy: 02; Trung úy: 02; Thiếu úy: 10. Về độ tuổi: độ tuổi trung bình là 45, đây là độ tuổi đẹp nhất cho sự nghiệp giáo dục. Về trình độ: Có 2 đồng chí trình độ thạc sĩ, 66 đồng chí có trình độ đại học (có 6 đồng chí có văn bằng hai). Một trăm phần trăm đồng chí đã qua đào tạo. Về thâm niên giảng dạy: Trung bình thâm niên giảng dạy là 5 năm tuổi nghề – độ tuổi nghề này xem như là còn “trẻ” cho quá trình giảng dạy. Về hoạt động giảng dạy: tất cả đều giảng dạy được lý thuyết và thực hành. Dưới con mắt của nhiều người không biệt phái, sĩ quan chỉ là “đồ dạt”, “hàng thứ phẩm”. Chính vì vậy khi đi biệt phái lòng họ trĩu nặng sự mặc cảm. Người thầy như thế khó có “lửa” để truyền cho học trò. Có một số trường hợp biệt phái tuy đáp ứng được yêu cầu nhiêm vụ nhưng rơi vào những năm cuối “đời binh nghiệp” nên nảy sinh tâm lý “chợ chiều”, không mặn mà, tha thiết với công việc, dẫn đến hoàn thành nhiệm vụ thấp.
Nhiều năm qua không biết thiếu sót ở “khâu” nào mà phụ cấp trách nhiệm của sĩ quan biệt phái không được thực hiện. Điều này trái với Khoản 3 Điều 11 Nghị định 165/NĐ-CP đã gây bức xúc cho nhiều người. Mặt khác trần quân hàm cho sĩ quan biệt phái ở các trung tâm giáo dục quốc phòng – an ninh không quy định rõ, gây khó khăn cho công tác đề bạt. Sau Hội nghị sĩ quan biệt phái toàn quốc, ngày 09 tháng 01 năm 2013 Bộ Giáo dục & Đào tạo mới có thông báo kết luận của Thứ trưởng Bùi Văn Ga nói rõ quy định trần quân hàm cho sĩ quan biệt phái (Thông báo số 31/TB-BGDĐT).
Nghị định 165/2003/NĐ-CP ngày 22/12/2003 của Chính phủ về sĩ quan biệt phái Quân đội nhân dân Việt Nam quy định thời gian biệt phái là 5 năm và trường hợp đặc biệt thời gian kéo dài không quá 5 năm (tất cả không quá 10 năm). Quy định này có mặt trái, là khi giảng viên vừa bắt nhịp nghề nghịêp, vừa đạt “độ chín” thì cũng hết thời gian biệt phái. Như vậy rất khó xây dựng đội ngũ giảng viên là sĩ quan biệt phái có chất lượng cao. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng.
Về phương pháp dạy học: Qua kết quả khảo sát ta thấy phương pháp giảng dạy thuyết trình, vấn đáp là phương pháp giáo viên áp dụng thường xuyên nhất (90%) và đôi khi là 100%. Những phương pháp dạy học tích cực như làm việc cặp, thảo luận nhóm, đóng vai theo tình huống, tập trận chiến thuật địa hình địa vật rất ít khi được giáo viên sử dụng (thường xuyên 20%).
Về phương tiện dạy học: 60% giáo viên đã thường xuyên sử dụng máy chiếu và bài giảng điện tử để cho bài giảng sôi động hơn, hấp dẫn hơn. Nhưng bên cạnh đó, việc sử dụng tranh ảnh, sa bàn, vật thực trong giảng dạy còn hạn chế chỉ khoảng 20% giáo viên là sử dụng thường xuyên. Khi sử dụng phương pháp trực quan chiếu phim tư liệu thì hình ảnh không được rõ nét. Việc sử dụng mô hình vật thật trong giảng dạy của giáo viên cũng hạn chế, mới chỉ có 40% giáo viên là thường xuyên.
2.2.2. Sinh viên
Đa số Sinh viên học tập tại trung tâm có trách nhiệm, ham hiểu biết, có chí tiến thủ, thích cái mới, năng động, yêu nước và đôi khi bồng bột. Giáo dục quốc phòng – an ninh là môn học được nhiều sinh viên coi là môn học 3K (khó, khô, khổ), và một số nữ sinh viên xem là môn vô bổ. Tuy nhiên có đến 86,36% sinh viên thấy được tầm quan trọng của môn học và 100% sinh viên học vì là môn học bắt buộc. Chính vì vậy, thời gian dành cho hoạt động tự học môn giáo dục quốc phòng – an ninh của sinh viên chưa đáp ứng yêu cầu chung hiện nay. Có đến 60% sinh viên không làm đầy đủ bài tập, phần lớn sinh viên không thường xuyên chuẩn bị bài trước, không đặt câu hỏi cho giáo viên, không đến thư viện để tham khảo và không ghi lại bài giảng theo cách học riêng. Người học vẫn mang nguyên phương pháp học ở bậc phổ thông là thụ động và ỉ lại vào giáo viên khi đã lên bậc học cao hơn. Hơn nữa, phần lớn sinh viên các trường lớn và chuyên ngành khó xem thời gian học giáo dục quốc phòng – an ninh là thời gian xả hơi nên học không nghiêm túc.
2.2.3. Cơ sở vật chất, phương tiện dạy học Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng.
Ngày 15 tháng 01 năm 2010 Trung tâm Giáo dục Quốc phòng – an ninh tại xã Đông Hòa huyện Dĩ An tỉnh Bình Dương khánh thành và chính thức đưa vào sử dụng và bàn giao cơ sở cũ ở Linh Trung – Thủ Đức cho trường Đại học Công nghệ thông tin Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Diện tích toàn bộ khu vực là 29,17 ha bao gồm: 15 giảng đường học tập (có 2 giảng đường chuyên dùng); 1 hội trường 500 chỗ ngồi; 2 phòng bắn ảo; 1 trường bắn súng hơi; 1 phòng camera kiểm tra; 1 phòng thanh tra đào tạo chuyên dùng; 16 nhà tập thao trường và bãi tập chiến thuật. Khu nhà ở sinh viên gồm 5 dãy dãy nhả đảm bảo cho 3.500 sinh viên nội trú (nam nữ riêng biệt) có hệ thống dịch vụ phục vụ sinh viên gồm: 2 nhà ăn lớn, 1 phòng y tế; 1 phòng giặt ủi; tạp hóa; điện thoại công cộng; chụp hình dịch vụ nhưng chưa có hệ thống cáp hay wifi phục vụ học tập… Nhà công vụ (nhà nghỉ giảng viên): một nhà gồm 2 tầng. Nhà làm việc: 1 nhà gồm 3 tầng. Sân bóng đá, bóng chuyền, sân tập đội ngũ. Một máy phát điện 100KVA. 5.000 bộ Giáo trình Giáo dục Quốc phòng – an ninh (10.000 quyển) và 5.000 bộ đồng phục cấp cho sinh viên mượn trong các đợt học. Thiết bị phục vụ giảng dạy bằng giáo án điện tử: 13 bộ máy chiếu, 10 bộ máy vi tính (03 máy xách tay, 07 máy gắn sẵn trên giảng đường). 03 sân bóng đá mini cỏ nhân tạo, 07 sân bóng chuyền; 01 câu lạc bộ bắn súng sơn với 3 sa bàn địa hình (chiến trận đồi A1, chiến trận đồng bằng, chiến trận thành phố),…
Để đánh giá đúng thực trạng quản lý hoạt động giảng dạy giáo dục quốc phòng – an ninh tại Trung tâm, tác giả đã làm khảo sát sau:
Đối với Giảng viên và cán bộ quản lý: Phát ra 22 phiếu và thu về 22 phiếu (Xem Bảng 2.1)
2.3. Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng – an ninh tại Trung tâm Giáo dục quốc phòng – an ninh Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
2.3.1. Những ưu điểm trong công tác quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng – an ninh tại Trung tâm Giáo dục quốc phòng – an ninh Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Gần hai mươi năm qua, một chặng đường gian khó nhưng Trung tâm vẫn đạt một số kết quả cụ thể: Số lượng sinh viên học tập luôn tăng từ 15.000 sinh viên (1997) đến 43.000 sinh viên (2012) Công tác quản lý chương trình, kế hoạch giảng dạy môn học được thực hiện nghiêm túc theo các nội dung chương trình đào tạo của Bộ Giáo dục & Đào tạo quy định, có sự sáng tạo, chủ động với nhiều biện pháp quản lý hiệu quả. Công tác quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên: Trung tâm đã xây dựng được đội ngũ cán bộ, giảng viên tận tụy, tâm huyết với nghề, sẵn sàng nhận và thực hiện tốt mọi nhiệm vụ được giao. Thực hiện tốt kế hoạch trong việc cử cán bộ giảng viên đi học, bồi dưỡng về phương pháp dạy học Đại học, nhất là đối với đội ngũ cán bộ giảng viên trẻ. Nhận thức đúng đắn mục đích, yêu cầu và chỉ đạo thực hiện nghiêm túc hoạt động coi thi, kiểm tra đánh giá kết quả dạy học. Vì vậy, đại đa số sinh viên đã nhận thức đúng vị trí, vai trò, mục đích, yêu cầu về nội dung chương trình của môn học. Bên cạnh đó, nhà trường đã thực hiện quản lý và sử dụng, bảo quản, giữ gìn có hiệu quả các loại vũ khí, trang bị, phương tiện đảm bảo cho dạy học, có nhiều sáng kiến (cải tiến súng AK bắn đạn hơi của Đại tá Nguyễn Tấn Hưng), kinh nghiệm trong cải tiến mô hình học cụ, vũ khí trang bị, phương tiện đảm bảo cho hoạt động dạy học có hiệu quả. * Về quản lý chương trình, kế hoạch giảng dạy quốc phòng – an ninh Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng.
Quản lý việc thực hiện chương trình giảng dạy của giáo viên: Chương trình môn học giáo dục quốc phòng – an ninh của Trung tâm đã thể hiện được mục tiêu, nội dung kiến thức và kỹ năng, phương pháp hình thức thi, kiểm tra, cấu trúc tổng thể và thời lượng các học phần, tỷ lệ giữa lý thuyết và thực hành. Tuy nhiên, nội dung chương trình còn chồng chéo (giữa bậc học phổ thông với cao đẳng – đại học), chưa xác định được nội dung phù hợp và hiệu quả cho nhiệm vụ đào tạo của sinh viên trường Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Giáo trình, tài liệu đã chuẩn hóa về nội dung cho nên công tác biên soạn giáo án, bài giảng và tài liệu dạy học cho đội ngũ sinh viên của Trung tâm rất thuận lợi.
Quản lý việc lập kế hoạch công tác giảng dạy của giáo viên: Kế hoạch giảng dạy được căn cứ vào chương trình đào tạo, kế hoạch đào tạo giảng dạy và học tập cho các ngành, chuyên ngành đào tạo trong từng năm học của Trung tâm, được xây dựng khá hiệu quả, tổng thể, đảm bảo cho đội ngũ giảng viên, các bộ môn có thể nắm bắt, xây dựng kế hoạch giảng dạy cho mình để thực hiện nhiệm vụ dạy học theo kế hoạch một cách chủ động.
Về quản lý đội ngũ và hoạt động giảng dạy của đội ngũ giảng viên
Về số lượng giảng viên: luôn trong tình trạng thiếu, cường độ giảng dạy cao. Theo kết quả điều tra cho thấy, 100% số người được hỏi cho rằng số lượng đội ngũ cán bộ, giảng viên hiện nay còn thiếu nhiều so với yêu cầu, nhiệm vụ giáo dục quốc phòng – an ninh cho sinh viên. Để khắc phục tình trạng này, ngày 12/03/2013, Giám đốc Trung tâm Giáo dục Quốc phòng – an ninh Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh quyết định tuyển dụng giảng viên giáo dục quốc phòng – an ninh là 09 chỉ tiêu nhân lực nên phần nào đã khắc phục được tình trạng thiếu giảng viên.
Quản lý chất lượng giảng dạy của đội ngũ giảng viên:
Quản lý việc soạn bài và chuẩn bị lên lớp của giáo viên. Thực tế cho thấy các cán bộ quản lý và giảng viên đã rất coi trọng những quy định cụ thể về việc soạn bài và chuẩn bị lên lớp của giảng viên (69% cho là tốt đối với cán bộ quản lý, 80% đối với giáo viên). Tuy nhiên, việc bồi dưỡng phương pháp soạn bài và chuẩn bị bài lên lớp vẫn chưa được chú trọng (có đến 50% giáo viên cho rằng việc làm này chưa tốt). Công tác kiểm tra việc sử dụng tài liệu tham khảo chưa tốt. Việc soạn bài cũng chưa nêu ví dụ cụ thể tình huống chiến tranh cụ thể. Việc soạn bài theo giáo trình chung không có gì mới và hấp dẫn hơn, chưa thể hiện đẳng cấp giảng viên quân sự chuyên nghiệp. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng.
Quản lý nề nếp lên lớp giảng dạy và việc vận dụng phương pháp, phương tiện dạy học của giáo viên. Nhà trường đã lập kế hoạch quản lý việc thực hiện nề nếp lên lớp, xây dựng quy định cụ thể việc thực hiện giờ lên lớp của giáo viên, tổ chức dạy thay, dạy bù ở mức tốt và rất tốt. Việc nâng cao nhận thức về nhiệm vụ đổi mới phương pháp dạy học, sử dụng phương tiện dạy học đã được các nhà quản lý và giáo viên thực hiện tốt (Trung tâm đã tổ chức các lớp: Lớp Sư phạm bậc 2 có 42 giảng viên tham gia, Lớp Lý luận dạy học có 42 giảng viên tham gia, Lớp Tin học nâng cao có 28 giảng viên và được đánh giá ở mức hơn 90%).
Quản lý việc kiểm tra đánh giá kết quả học tập của sinh viên: Việc thực hiện quy chế thi, ra đề và chấm thi được phần lớn đánh giá là thực hiện tốt và rất tốt. Việc thành lập ngân hàng câu hỏi giúp cho người quản lý lựa chọn đề thi một cách khách quan, giảm thiểu tiêu cực trong thi, kiểm tra. Công tác kiểm tra việc vào điểm của giáo viên cũng thuận lợi hơn khi giáo viên trực tiếp vào điểm trên phần mềm của trường, từ đó Giám đốc và các cấp quản lý có thể kiểm tra định kỳ hàng tháng để biết từng giáo viên có sổ điểm dựa theo yêu cầu của kế hoạch giảng dạy hay không.
Quản lý việc tự trau dồi, tự bồi dưỡng của giáo viên : Việc định hướng tự bồi dưỡng của giảng viên được thực hiện khá tốt.
Về quản lý hoạt động học tập của sinh viên
Để quản lý sinh viên, mỗi sinh viên tham gia khóa huấn luyện được Trung tâm cấp cho một thẻ học viên.
Việc xác định động cơ học tập cho sinh viên có hơn một nửa số điều tra đánh giá ở mức trung bình và chưa tốt. Việc hướng dẫn phương pháp học tập không phù hợp cho sinh viên sẽ dẫn đến chất lượng học giáo dục quốc phòng – an ninh của sinh viên chưa đạt kết quả như mong muốn. Việc xây dựng những quy định cụ thể về nề nếp học tập trên lớp của sinh viên lại được đánh giá cao nhưng nề nếp tự học của sinh viên lại được đánh giá là chưa tốt.
Số lượng sinh viên: 100% sinh viên phải hoàn thành chương trình môn học trước khi tốt nghiệp đại học.
Chất lượng sinh viên: Mọi hoạt động giáo dục quốc phòng – an ninh đều nhằm hướng tới chất lượng học tập và rèn luyện của sinh viên trong quá trình học tập tại Trung tâm, đặc biệt là sự chuyển biến về thái độ, trách nhiệm của sinh viên. Theo kết quả điều tra đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý và trực tiếp giảng dạy các môn học khác trong nhà trường cho thấy, có đến 38,46% số người được hỏi đều cho rằng, ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần tự giác và sự cộng đồng trách nhiệm của sinh viên sau khi học xong giáo dục quốc phòng – an ninh đã có chuyển biến và được nâng lên một bước rõ rệt, đã khắc phục được đáng kể tình trạng nghỉ học tự do, bỏ giờ, đi học muộn… Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng.
Về quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động dạy và học.
Nhà trường và Trung tâm đã thường xuyên, tích cực và chủ động trong việc đảm bảo một cách tốt nhất các điều kiện về trang thiết bị dạy học, điều kiện ăn, ở, sinh hoạt cho cán bô, nhân viên và học sinh. Việc tổ chức bồi dưỡng về kỹ năng sử dụng, bảo quản, giữ gìn thiết bị dạy học cho các đối tượng, chỉ đạo bảo đảm về số lượng, chất lượng các loại vũ khí, trang bị, phương tiện, cơ sở vật chất cho dạy học, đánh giá, tổng kết, rút kinh nghiệm và làm tốt công tác khen thưởng, kỷ luật đối với việc bảo quản, sử dụng, giữ gìn thiết bị được đánh giá ở mức yếu.
Những ưu điểm trên đây xuất phát từ các nguyên nhân: Do Đảng ủy, Ban Giám đốc Trung tâm nhận thức đúng vai trò, chức năng, nhiệm vụ của mình. Đội ngũ cán bộ quản lý được đào tạo và từng là giảng viên, có kinh nghiệm, có tâm huyết. Đội ngũ giảng viên trưởng thành từ chiến trường nên kinh nghiệm thực tế phong phú, luôn quán triệt tốt chức năng, nhiệm vụ. Sinh viên quán triệt tốt mục tiêu, nội dung, chương trình giáo dục quốc phòng – an ninh, nhiệt tình, động cơ học tập dung đắn, có ý chí học tập rèn luyện.
2.3.1. Những hạn chế, bất cập trong công tác quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng – an ninh tại Trung tâm Giáo dục quốc phòng – an ninh Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng.
Về quản lý đội ngũ và hoạt động giảng dạy của đội ngũ giảng viên
Mặc dù Trung tâm nói riêng và Nhà trường nói chung đã có rất nhiều cố gắng chăm lo nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy của đội ngũ giảng viên, nhưng qua điều tra của chúng tôi cho thấy, việc bồi dưỡng năng lực sử dụng phương pháp, phương tiện dạy học hiện đại lại chưa tốt. Đó là vì các giảng viên giáo dục quốc phòng – an ninh chỉ được bồi dưỡng phương pháp dạy học một cách lý thuyết. Còn việc bồi dưỡng phương pháp, kỹ năng sử dụng phương tiện dạy học hiện đại thì chủ yếu là các giảng viên tự học. Trong khi đó, việc kiểm tra thường xuyên việc sử dụng phương pháp, phương tiện dạy học hiện đại cũng chưa được các nhà quản lý quan tâm đúng mức.
Về trình độ: Trình độ học vấn của cán bộ, giảng viên Trung tâm còn nhiều hạn chế (toàn bộ Trung tâm có 80 đồng chí nhưng chỉ có hai đồng chí học sau đại học).
Việc xây dựng chương trình, kế hoạch, tổ chức quản lý hoạt động giáo dục chưa khoa học, chưa sát thực tế, chồng chéo, thiếu đồng bộ…. (tăng thêm động cơ, trách nhiệm, nhận thức, kết quả…). Công tác quản lý chương trình, kế hoạch giảng dạy môn học: Chưa phát huy hết vai trò của đội ngũ cán bộ, giảng viên và trí tuệ tập thể trong quản lý và thực hiện nội dung chương trình dạy học cho các đối tượng.
Công tác quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên: Trình độ của đội của đội ngũ cán bộ giảng viên chưa cao, chưa thực sự năng động, sáng tạo. Chưa có kế hoạch trong việc đánh giá, rà soát, đánh giá và phân loại trình độ phương pháp dạy học cho các cán bộ giảng viên để đề xuất đào tạo và bồi dưỡng về nghiệp vụ sư phạm. Chưa điều chỉnh kịp thời về nội dung câu hỏi thi, đề cương đáp án đánh giá kết quả phù hợp với tính chất yêu cầu của từng đối tượng, nhất là đối với đối tượng liên kết đào tạo giáo dục Quốc phòng – an ninh. Việc nhận xét, trả bài thi, kiểm tra đánh giá kết quả của các đối tượng chưa kịp thời và hiệu quả.
Bên cạnh đó, trong tổ chức hoạt động sư pham, đội ngũ giáo viên vẫn còn bộc lộ một số hạn chế khác như: hoạt động phân tích kết quả học tập định kỳ của sinh viên chưa được đánh giá tốt; công tác chỉ đạo kiểm tra, giám sát việc thực hiện tự bồi dưỡng, công tác kiểm tra hồ sơ tự bồi dưỡng và việc tổ chức giáo viên báo cáo kết quả tự bồi dưỡng lại chỉ được đánh giá ở mức trung bình và chưa tốt.
Về quản lý hoạt động học tập của sinh viên Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng.
Qua phân tích kết quả điều tra, chúng tôi nhận thấy, công tác quản lý, giáo dục và rèn luyện sinh viên vẫn còn bộc lộ nhiều mặt hạn chế cần khắc phục, đặc biệt là nhận thức của sinh viên về môn học. Đa số sinh viên chưa thích nghi nhanh chóng với môi trường học tập mang tính quân sự, kỷ luật của khóa huấn luyện Giáo dục Quốc phòng – an ninh, chưa xác định đúng về ý nghĩa, vai trò vị trí, mục đích yêu cầu của môn học nên có thái độ học tập và rèn luyện không tốt. Theo thống kê kết quả điều tra 107 sinh viên đang học và sinh viên đã hoàn thành chương trình môn học Giáo dục quốc phòng – an ninh về vị trí, vai trò và sự cần thiết của môn học thì có đến 3,74% sinh viên được hỏi chưa nhận thức đúng được vị trí và sự cần thiết của môn học. Theo thống kê, kết quả học tập giáo dục quốc phòng – an ninh của sinh viên học tập tại Trung tâm (94,46%) sinh viên hoàn thành được chương trình môn học và đã được cấp chứng chỉ, trong đó có 34,61% sinh viên đạt kết quả khá, giỏi, 0,16% sinh viên đạt kết quả xuất sắc. Năm học 2011 – 2012, có 37.102 sinh viên đăng ký môn học Giáo dục Quốc phòng – an ninh thì có 35.997 sinh viên đủ điều kiện dự thi trong đó có: 34.446 sinh viên hoàn thành được chương trình môn học (Khá, giỏi: 19.281 sinh viên; Không đạt yêu cầu: 1.551 sinh viên) – nguồn: Phòng Đào tạo, Trung tâm Giáo dục Quốc phòng – an ninh, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Từ kết quả trên ta nhận được: hiệu quả cuối khóa của Trung tâm là 97,02%; hiệu quả tốt nghiệp: 95,70%; hiệu quả đào tạo 92,85%.
Về quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động dạy và học.
Mặc dù đã có sự đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học trong khả năng có thể. Nhưng nghiêm túc nhìn nhận, việc đảm bảo về cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học của Trung tâm vẫn còn nhiều hạn chế, như: thiếu vũ khí nên sinh viên phải học chay; một số trang thiết bị do sử dụng quá lâu và do công tác bảo quản, sửa chữa không kịp thời nên chất lượng sử dụng còn hạn chế. Có thể nói, công tác quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật và các điều kiện phục vụ cho hoạt động dạy học: Quản lý bảo đảm về số lượng các loại vũ khí, trang bị, phương tiện dạy học còn thiếu so với quy mô, nhiệm vụ đào tạo, việc quản lý còn thiếu tính kế hoạch, chưa thực sự chủ động. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng.
Những hạn chế, khuyết điểm trên đây, xuất phát từ những nguyên nhân khách quan và chủ quan, đó là:
Do sự biến động phức tạp của tình hình kinh tế, chính trị, xã hội trong nước, thế giới, đặc biệt là tình hình biển đông Nước ta, tác động mặt trái của kinh tế thị trường, của khủng hoảng kinh tế… ảnh hưởng đến quá trình quản lý hoạt động giáo dục.
Sinh viên đa dạng về đối tượng, khác xa về văn hóa vùng miền, trình độ nhận thức không đồng đều.
Do lịch sử để lại liên quan đến chất lượng đội ngũ giảng viên (Giảng viên kinh qua chiến trường thì yếu sư phạm, giảng viên giỏi sư phạm thì yếu thực tế). Bộ Giáo dục & Đào tạo chưa có một qui chế rõ ràng và hiệu quả trong việc chỉ đạo phân luồng các trường học Giáo dục Quốc phòng – An ninh tại Trung tâm, dẫn đến việc xây dựng và thực hiện kế hoạch chưa có tính chủ động. Mặt khác giữa Bộ Giáo dục & Đào tạo với Bộ Quốc phòng chưa có cơ chế liên thông phối hợp một cách cụ thể đối với việc đào tạo cán bộ và giảng viên. Chế độ chính sách đối với độ ngũ cán bộ giảng viên Giáo dục Quốc phòng – an ninh còn thấp nên chưa thu hút được nhân tài.
Nhận thức của giảng viên, công nhân viên, sinh viên chưa đồng bộ, chưa tích cực. Chưa có sự phối hợp một cách chủ động và hiệu quả trong việc xây nội dung chương trình đào tạo cho các đối tượng giữa Trung tâm và các trường thành viên, trường liên kết. Chưa có cán bộ chuyên trách làm công tác giữ gìn, bảo quản các loại vũ khí trang bị, phương tiện dạy học. Chưa chỉ đạo và thực hiện tốt công tác giáo dục động viên cho sinh viên một cách kịp thời về việc chấp hành các nội qui, qui định, các chế độ học tập và rèn luyện. Việc duy trì các chế độ, qui tắc, nội qui trong học tập, luyện tập của đội ngũ cán bộ giảng viên chưa thường xuyên và chưa đồng đều.
Thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy học cũng như thực trạng hiệu quả quản lý hoạt động dạy học môn Giáo dục Quốc phòng – an ninh ở trường Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh trong những năm qua đã phát huy tốt vai trò của đội ngũ cán bộ, giảng viên trong cả quản lý và thực hiện nội dung dạy học và đã đạt được chất lượng, hiệu quả khá tốt.
Tuy nhiên chất lượng của công tác quản lý vẫn tồn tại nhiều bất cập cần phải tiếp tục đổi mới, nâng cao năng lực quản lý và đề ra các biện pháp quản lý có hiệu quả hơn nhằm tổ chức thực hiện hoạt động dạy học của Trung tâm trong thời gian tới đạt được kết quả cao hơn. Nguyên nhân cơ bản của những hạn chế trong công tác quản lý chỉ đạo và tổ chức thực hiện hoạt động quản lý giáo dục quốc phòng – an ninh ở trường Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh xuất phát từ bộ máy quản lý, việc đề ra các biện pháp quản lý và chỉ đạo tổ chức thực hiện còn có những hạn chế nhất định. Vì vậy để nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng – an ninh ở trường Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cần phải đề ra những biện pháp quản lý hiệu quả, phù hợp với đặc điểm tình hình của hoạt động dạy học và tính chất đặc thù của nhiệm vụ giáo dục quốc phòng – an ninh trong giai đoạn hiện nay. Luận văn: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục quốc phòng
