Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hoá ứng xử cho HS

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hoá ứng xử cho HS hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục văn hoá ứng xử cho học sinh tại các trường tiểu học thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1 Khái quát về thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương

2.1.1 Về kinh tế – xã hội

Thành phố Thủ Dầu Một được thành lập vào ngày 02/05/2012 theo Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ trên cơ sở toàn bộ diện tích tự nhiên, dân số và các đơn vị hành chính trực thuộc của thị xã Thủ Dầu Một và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 1 tháng 7 năm 2012 gồm 14 phường với diện tích 11.890 ha, dân số là 336.705 người, mật độ dân số đạt 2.832 người/km². TP.TDM là trung tâm chính trị, kinh tế, VH của tỉnh Bình Dương, nằm trong chùm đô thị của vùng kinh tế trọng điểm phía nam. Việc công nhận TP.TDM là đô thị loại I, trực thuộc tỉnh đã tạo động lực quan trọng để TP.TDM phát triển theo đúng chương trình định hướng phát triển đô thị quốc gia và tỉnh Bình Dương. Cổng thông tin điện tử Thành phố Thủ Dầu Một, 2022)

Năm 2022 tăng trưởng kinh tế của thành phố bình quân hàng năm đạt 26,85% (vượt 1,35% so với mục tiêu). Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng với tỷ trọng thương mại dịch vụ chiếm 60,89%, công nghiệp chiếm 39,07% và nông nghiệp chỉ còn 0,04%. TP.TDM xứng đáng là thành phố trung tâm, giữ vững vị trí số một tại tỉnh Bình Dương (Hội nghị sơ kết 3 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ TP.TDM, Đại hội đại biểu lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020-2025, 2023)

2.1.2 Về văn hoá – giáo dục

2.1.2.1. Về văn hoá

Thành phố Thủ Dầu Một từng bước thực hiện mục tiêu “Xây dựng nếp sống VH – văn minh đô thị”. TP.TDM có nhiều danh lắm thắng cảnh và di tích lịch sử đang được giữ gìn và phát huy tốt các giá trị truyền thống. Đồng thời TP.TDM tiếp tục XD các tiêu chí “thành phố xanh”, “thành phố công viên” và “các tuyến hẻm văn minh đô thị” (Hội nghị sơ kết 3 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ TP.TDM, Đại hội đại biểu lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020-2025, 2023)

2.1.2.2. Về giáo dục Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hoá ứng xử cho HS.

Thành phố hiện có 108 trường thuộc các cấp học mầm non, TH, trung học cơ sở và có 55 nhóm trẻ, lớp mẫu giáo độc lập tư thục, tổng số học sinh là 68.330 HS/2.140 nhóm lớp. Trong đó, HSTH là 33.278, học sinh lớp 5 hoàn thành chương trình TH đạt tỷ lệ 100% và không có HS bỏ học.

Theo báo cáo tổng kết của Phòng GD&ĐT TP.TDM, năm học 2022-2023 tổng số trường TH là 27 trường, trong đó có 05 trường Tư thục có lớp TH và 22 trường công lập với CSVC các trường tương đối đầy đủ, khang trang, sạch đẹp đáp ứng việc thực hiện chương trình GD phổ thông 2018. Hằng năm, Phòng GD TP.TDM cũng tăng cường GV, bổ sung thiết bị dạy học cũng như nâng cao chất lượng dạy học trong toàn thành phố đáp ứng tốt với số lượng HS ngày càng một tăng cao trên địa bàn và có thể thấy việc HS bỏ học là không có trong thành phố.

Toàn thành phố có 17/22 trường công lập đạt chuẩn Quốc gia chiếm tỷ lệ 77,27%. Trong năm học 2022-2023 đã có 01 trường được công nhận mới, 05 trường được tái công nhận Chuẩn Quốc gia Mức độ 1 và đạt Kiểm định chất lượng giáo dục cấp độ 2. Nhìn chung, CSVC trường, lớp đều khang trang, đủ đáp ứng nhu cầu giảng dạy, học tập của các nhà trường, đảm bảo cơ bản các điều kiện phục vụ việc đổi mới chương trình GD phổ thông 2018 theo hướng phát triển HS toàn diện, coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học, chú trọng giáo dục đạo đức, GD truyền thống VHƯX (Phòng GD&ĐT TP.TDM, 2023).

2.2 Tổ chức nghiên cứu thực trạng

2.2.1 Mục đích khảo sát thực trạng

Mục đích khảo sát thực trạng là nhằm phân tích, đánh giá đúng đắn và khách quan, xác định ưu điểm và hạn chế trong thực hiện hoạt động GD VHƯX cũng như quản lý hoạt động GD VHƯX cho HS tại các trường TH TP.TDM, tỉnh Bình Dương. Đây là cơ sở khoa học giúp người nghiên cứu đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động GD VHƯX tại các trường TH TP.TDM, tỉnh Bình Dương.

2.2.2 Nội dung khảo sát

Khảo sát thực trạng hoạt động GD VHƯX cho HS: Nhận thức của CBQL, GV về ý nghĩa hoạt động giáo dục VHƯX cho HS; về mức độ thực hiện và kết quả thực hiện mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức, đánh giá kết quả GD VHƯX cho HS tại các trường TH TP.TDM, tỉnh Bình Dương.

Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động GD VHƯX cho HS: Nhận thức của CBQL, GV về tầm quan trọng của việc quản lý hoạt động GD VHƯX cho HS; về mức độ thực hiện và kết quả thực hiện trong lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra và đánh giá hoạt động GD VHƯX cho HS; thực trạng mức độ ảnh hưởng của những yếu tố khách quan và chủ quan đến quản lý hoạt động GD VHƯX cho HS tại các trường TH TP.TDM, tỉnh Bình Dương.

2.2.3 Phương pháp nghiên cứu Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hoá ứng xử cho HS.

2.2.3.1. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

  • Chọn mẫu và khách thể điều tra

Mẫu điều tra: Chọn 10/22 trường TH theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên. Sử dụng công thức tính mẫu khảo sát của Slovin:

Thành phố Thủ Dầu Một với tổng số 1.108 CBQL, GV tiểu học (62 CBQL và 1.046 GV) thì cách xác định cỡ mẫu theo công thức của Slovin (1984) trích dẫn bởi Võ Thị Thanh Lộc (2010) với độ tin cậy là 95%, mức sai số là 5%, ta có:

Vậy mẫu để điều tra, khảo sát là 294 phiếu hợp lệ phải nhận được. Do đó tác giả lấy cỡ mẫu là 300 để tránh sai số. Tác giả khảo sát đối tượng là CBQL và GV với số lượng 300 người. Còn đối tượng là CMHS với số lượng là 203 người.

  • Khách thể điều tra:

Thông tin chung của nhóm 1 (CBQL và GV) được thể hiện cụ thể trong bảng 2.1 và bảng 2.2 như sau:

  • Bảng 2.1. Số lượng khách thể CBQL, GV tham gia khảo sát
  • Bảng 2.2. Đặc điểm khách thể khảo sát

Trong số 300 CBQL, GV tham gia khảo sát, có 286 nữ (chiếm tỉ lệ 95,3%) và 14 nam (chiếm tỉ lệ 4,7%). Tỉ lệ này phù hợp với tỉ lệ nữ/nam trong GD TH. Về vị trí công tác, có 05 HT chiếm 1.67%, 10 Phó HT chiếm 3.33%, 89 tổ trưởng chuyên môn chiếm 29.67%, 196 GV chiếm 65.4%). Về trình độ đào tạo, có bằng thạc sĩ chiếm 1.3%, cử nhân đại học chiếm 95.7%, cử nhân cao đẳng chiếm 2.7%, trình độ khác chiếm 0.3%. Về thâm niên công tác, số lượng có thâm niên công tác trên 15 năm chiếm 50%, từ 11 đến 15 năm chiếm 44.6%, từ 5 đến 10 năm chiếm 2.7% và dưới 5 năm chiếm 2.7%. Như vậy, đối tượng khảo sát là CBQL, GV khá đa dạng về độ tuổi, trình độ, vị trí công tác, thâm niên công tác. Như vậy, đối tượng khảo sát đa dạng cho phép đề tài có được thông tin đa chiều, toàn diện.

Thông tin chung của nhóm 2 là 203 CMHS được thể hiện cụ thể trong bảng 2.3 như sau:

  • Bảng 2.3. Đặc điểm cha mẹ học sinh tham gia khảo sát

Bảng 2.3 cho thấy, trong 203 CMHS (nam chiếm 7.4% và nữ chiếm 92.6%). Trong đó, số lượng từ 30 đến 40 tuổi chiếm 71.9%, dưới 30 tuổi chiếm 11.3 % và từ 41 đến 50 tuổi chiếm 16.7%. Công việc hiện tại của đối tượng khảo sát là công nhân chiếm 37.4%, tiếp đến là công chức – viên chức chiếm 28.1%, NV chiếm 26.1% và công việc khác chiếm 8.4%. Như vậy, đối tượng khảo sát là CMHS cũng đa dạng. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hoá ứng xử cho HS.

  • b. Công cụ điều tra

Tác giả đã XD bảng hỏi làm công cụ chính cho việc điều tra, khảo sát thực trạng hoạt động GD VHƯX cho HS và quản lý hoạt động GD VHƯX cho HS tại các trường TH TP.TDM, tỉnh Bình Dương. Bảng hỏi dành cho đối tượng là CBQL, GV gồm 12 câu hỏi dạng đóng với 5 mức độ và 3 câu hỏi mở (Phụ lục 1). Tác giả khảo sát thực trạng hoạt động GD VHƯX cho HS tại các trường TH TP.TDM, tỉnh Bình Dương dành cho đối tượng là CMHS gồm 5 câu hỏi dạng đóng với 5 mức độ (Phụ lục 2). Tác giả gửi đường link khảo sát qua zalo cho CBQL, GV và CMHS.

  • c. Thang đo

Trong phiếu khảo sát, thang đo sử dụng chủ yếu là thang đo định danh để xác định tên gọi và một số đặc điểm của đối tượng khảo sát; thang đo thứ bậc và thang đo khoảng cách để tính các tham số trong thống kê mô tả, các thông tin thu thập được từ phiếu khảo sát thực trạng được quy ước dựa trên giá trị trung bình trong thang đo Likert với 5 mức độ. (Croasmun & Ostrom, 2011). Giá trị trung bình giữa các khoảng = (Max – Min)/N = (5 – 1)/5 = 0.8. Do đó, ý nghĩa các mức lần lượt tương ứng cụ thể trong bảng 2.4 sau đây:

  • Bảng 2.4. Quy ước thang đo

Những quy ước trên được sử dụng để phân tích kết quả khảo sát thực trạng. Sau khi thu thập các phiếu khảo sát, tác giả sử dụng phần mềm SPSS (mã nguồn mở) và phần mềm Microsoft Office Excel để tính các giá trị như sau: tính giá trị trung bình, độ lệch chuẩn, tính % để mô tả kết quả thực trạng, vẽ biểu đồ…

2.2.3.2. Phương pháp phỏng vấn sâu

  1. Người trả lời phỏng vấn: Tác giả phỏng vấn 5 CBQL và 5 GV đang công tác tại các trường TH TP.TDM, tỉnh Bình Dương.
  2. Câu hỏi phỏng vấn: Đối với CBQL và GV có câu hỏi phỏng vấn trình bày ở Phụ lục 4 nhằm thu thập thông tin về hoạt động GD VHƯX cho HS và quản lý hoạt động GD VHƯX cho HS tại các trường TH TP.TDM, tỉnh Bình Dương.
  3. Cách thức phỏng vấn: Phỏng vấn trực tiếp các CBQL, GV theo các câu hỏi đã được chuẩn bị về các vấn đề liên quan đến đề tài và ghi chép cẩn thận, rõ ràng lại các câu trả lời của từng khách thể được phỏng vấn.
  4. Thời gian phỏng vấn: Tháng 05 năm 2023
  5. Xử lý kết quả phỏng vấn: Tác giả mã hóa thông tin cá nhân về các khách thể phỏng vấn như sau: 5 CBQL được mã hóa là QL1 đến QL5, 5 GV được mã hóa là GV1 đến GV5 để bảo mật thông tin của người được phỏng vấn. Các kết quả phỏng vấn được ghi âm và ghi chép lại trong buổi phỏng vấn, chọn lọc những thông tin cần thiết và loại bỏ những thông tin trùng để làm minh chứng định tính cho việc phân tích thực trạng hoạt động GD VHƯX cho HS và quản lý hoạt động GD VHƯX cho HS tại các trường TH TP.TDM, tỉnh Bình Dương. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hoá ứng xử cho HS.

2.2.3.3. Phương pháp nghiên cứu tài liệu, sản phẩm hoạt động

  1. Cách thức thực hiện: Tác giả tiến hành nghiên cứu, phân tích các hồ sơ kế hoạch dạy học, kế hoạch cá nhân, kế hoạch chủ nhiệm, kế hoạch hoạt động nhà trường, báo cáo sơ kết, tổng kết, bản QTƯX… các trường TH TDM, tỉnh Bình Dương.
  2. Thời gian thực hiện: Tháng 04 năm 2023
  3. Xử lý và đánh giá kết quả nghiên cứu: Sau khi nghiên cứu, phân tích các hồ sơ, kế hoạch các trường TH TDM, tỉnh Bình Dương. Tác giả nhận định một cách khái quát, chung nhất những nội dung đã được triển khai, cách thức tổ chức thực hiện hoạt động GD VHƯX và quản lý hoạt động GD VHƯX cho HS tại các trường TH TP.TDM, tỉnh Bình Dương.

2.3 Thực trạng hoạt động giáo dục văn hoá ứng xử cho học sinh tại các trường tiểu học thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương

2.3.1 Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên và cha mẹ học sinh về ý nghĩa của hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh tiểu học

Giáo dục VHƯX cho HSTH là quá trình cung cấp cho HS những tri thức, hiểu biết về các khuôn mẫu ƯX đúng, những chuẩn mực hành vi XH về ƯX. Hoạt động GD này đòi hỏi CBQL, GV trong nhà trường phải có sự nhận thức đúng đắn về ý nghĩa của GD VHƯX cho HS. Kết quả khảo sát ý kiến của CBQL, GV về ý nghĩa của hoạt động GD VHƯX cho HS tại trường TH TP.TDM, tỉnh Bình Dương được ghi nhận trong Bảng 2.5 dưới đây:

  • Bảng 2.5. Ý kiến của CBQL, GV về ý nghĩa của hoạt động GD VHƯX cho HS tại trường TH

Qua kết quả khảo sát Bảng 2.5, chúng ta nhận thấy hầu hết CBQL, GV và CMHS đều đánh giá mức độ “Rất đồng ý” với Điểm trung bình (ĐTB) của CBQL, GV là 4.32 và CMHS là 4.39. Không có phiếu nào ở mức độ “Rất không đồng ý” và “Không đồng ý”, chứng tỏ các đối tượng khảo sát đều nhận thức được ý nghĩa của GD VHƯX cho HS tại trường TH. Độ lệch chuẩn (ĐLC) < 1 (trong khoảng 0,495 đến 0.680) có nghĩa là, các ý kiến của các đối tượng khảo sát khá tương đồng.

Tuy nhiên, bảng 2.5 cũng cho thấy vẫn còn một tỷ lệ đáng kể CBQL, GV và CMHS có ý kiến ở mức độ “Đồng ý một phần”, chứng tỏ một số CBQL, GV và CMHS còn chưa nhận thức đúng và đầy đủ về ý nghĩa của GD VHƯX cho HS tại trường TH. Cụ thể là, 20.7% số CBQL, GV được khảo sát và 12.0% số CMHS được khảo sát chỉ “Đồng ý một phần” với hoạt động GD VHƯX “Giúp HS biết cách tôn trọng bản thân, gia đình và XH, biết cách hợp tác, XD, đoàn kết trong các mối quan hệ xung quanh”. “Giáo dục VHƯX góp phần XD VH nhà trường” có 18.7% số CBQL, GV và CMHS được khảo sát chỉ “Đồng ý một phần”. Qua phỏng vấn một số CBQL, GV có 5/5 CBQL và 5/5 GV cho rằng: Hoạt động GD VHƯX cho HS tại trường TH giúp HS biết cách tôn trọng bản thân, gia đình và XH, biết cách hợp tác, XD, đoàn kết trong các mối quan hệ xung quanh cũng như góp phần XD VH nhà trường.

Tóm lại, từ kết quả khảo sát trên cho thấy đa số CBQL, GV và CMHS có nhận thức đúng đắn về ý nghĩa của hoạt động GD VHƯX cho HS tại trường TH. Tuy nhiên, vẫn còn một số CBQL, GV và CMHS chưa nhận thức đầy đủ về hoạt động này. Như vậy, cần có biện pháp nâng cao nhận thức của CBQL, GV và CMHS về ý nghĩa của hoạt động GD VHƯX cho HS tại trường TH, góp phần hình thành nhân cách HS, giảm thiểu tình trạng bạo lực học đường, XD VH nhà trường nhằm nâng cao chất lượng GD toàn diện trong giai đoạn hiện nay. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hoá ứng xử cho HS.

2.3.2 Thực trạng thực hiện mục tiêu giáo dục văn hoá ứng xử cho học sinh tại các trường tiểu học thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương

Mục tiêu hoạt động GD VHƯX giúp nhà trường định hướng thực hiện hoạt động GD VHƯX cho HS trong nhà trường cũng như góp phần XD môi trường GD lành mạnh, văn minh, ƯX có VH và nâng cao chất lượng GD nhà trường. Kết quả thực hiện mục tiêu GD VHƯX cho HS tại các trường TH TP.TDM, tỉnh Bình Dương được thể hiện trong bảng 2.6. Từ bảng 2.6 cho thấy, mức độ thực hiện và kết quả thực hiện mục tiêu GD VHƯX cho HS tại các trường TH theo đối tượng CBQL, GV được khảo sát như sau:

Mức độ thực hiện: Thực trạng về mức độ thực hiện mục tiêu GD VHƯX cho HS tại các trường TH của CBQL, GV đánh giá khá cao, tương ứng với ĐTB chung là 3.42 ở mức “Thường xuyên”. ĐLC < 1 (trong khoảng 0.453 đến 0.551), có nghĩa là các ý kiến của các đối tượng khảo sát khá tương đồng.

  • Bảng 2.6. Ý kiến của CBQL, GV về thực trạng thực hiện mục tiêu GD VHƯX cho HS tại các trường TH

Mục tiêu “Hình thành môi trường giao tiếp ƯX, thái độ, cử chỉ và ngôn ngữ ƯX một cách chuẩn mực” (ĐTB = 3.57) thực hiện thường xuyên và được đánh giá cao nhất. Nội dung này phù hợp vì trong nhà trường, các em bắt đầu có những mối quan hệ giao tiếp với thầy cô, bạn bè và mọi vật xung quanh. Vì vậy, nhà trường thường xuyên giúp các em hình thành môi trường giao tiếp VH với thái độ, cử chỉ và lời nói ƯX chuẩn mực. Tiếp theo “Hình thành cho các em ý thức, thái độ và hành vi ƯX thích hợp với chuẩn mực xã hội trong mối quan hệ ƯX đối với XH, tự nhiên và bản thân” (ĐTB = 3.48) cũng thực hiện thường xuyên và đánh giá khá cao vì đây cũng là một trong những mục tiêu quan trọng trong GD VHƯX cho HS giúp các em thể hiện được ý thức, thái độ và hành vi phù hợp trong các mối quan hệ ƯX của mình đối với bản thân, tự nhiên và XH. Trong khi đó, mục tiêu “Giúp HS hình thành những suy nghĩ tích cực, biết lắng nghe, học hỏi và có thể tự XD cho bản thân mình một nền tảng nhân cách vững chắc để các em có thể phát huy trong cuộc sống” (ĐTB = 3.22) được đánh giá chưa cao, chỉ ở mức độ thực hiện “Thỉnh thoảng”. Do đó CBQL, GV cần quan tâm hơn trong thực hiện mục tiêu này nhằm hình thành và phát triển các giá trị bản thân của các em trong cuộc sống.

Kết quả thực hiện: kết quả thực hiện mục tiêu GD VHƯX cho HS tại các trường TH được CBQL, GV đánh giá khá cao, với ĐTB chung là 3.44 ở mức “Khá”. ĐLC < 1 (trong khoảng 0.509 đến 0.630), có nghĩa là các ý kiến của các đối tượng khảo sát khá tương đồng. Cụ thể như sau: Mục tiêu “Hình thành môi trường giao tiếp ứng xử, thái độ, cử chỉ và ngôn ngữ ƯX một cách chuẩn mực” (ĐTB = 3.53) và “Hình thành cho các em ý thức, thái độ và hành vi ƯX thích hợp với chuẩn mực XH trong mối quan hệ ƯX đối với ƯX, tự nhiên và bản thân” (ĐTB = 3.43) được đánh giá ở mức độ “Khá”. Tuy nhiên mục tiêu “Giúp HS hình thành những suy nghĩ tích cực, biết lắng nghe, học hỏi và có thể tự XD cho bản thân mình một nền tảng nhân cách vững chắc để các em có thể phát huy trong cuộc sống” (ĐTB = 3.36) có kết quả thực hiện ở mức độ “Trung bình”. Đây là mục tiêu được CBQL, GV đánh giá chỉ thỉnh thoảng thực hiện nên cần lưu ý thường xuyên thực hiện này cho HS tại các trường TH.

Qua phỏng vấn một số CBQL, GV có nhiều ý kiến cho rằng hoạt động GD VHƯX cho HS tại các trường TH là một nhiệm vụ quan trọng, lâu dài. Mức độ thực hiện tuỳ thuộc vào nhận thức của mỗi thầy, cô giáo (QL1, QL3, QL4, GV3, GV5) và kết quả thực hiện chỉ ở mức độ khá. Thực tế cho thấy có một bộ phận đánh kể HS đã và đang có những suy nghĩ và hành động lệch lạc, chưa đúng với những chuẩn mực chung về đạo đức và VHƯX. Để ngăn chặn những việc đó, nhà trường cần thực hiện tốt mục tiêu GD VHƯX cho HS vì bất cứ ở đâu cũng cần có sự giao tiếp, ƯX có VH, là kỹ năng sống quan trọng trong cuộc sống hiện nay.

Ngoài ra, CMHS được khảo sát về mức độ thực hiện và kết quả thực hiện mục tiêu GD VHƯX cho HS tại các trường TH được thể hiện ở Biểu đồ 2.1 (Phụ lục 5 trang 37) cho thấy, mức độ thực hiện mục tiêu GD VHƯX cho HS tại các trường TH TP.TDM, tỉnh Bình Dương với ĐTB chung là 3.52, tương ứng ở mức độ “Thường xuyên”. Trong đó mục tiêu “Hình thành môi trường giao tiếp ƯX, thái độ, cử chỉ và ngôn ngữ ƯX một cách chuẩn mực” được đánh giá cao nhất (ĐTB = 3.65), còn mục tiêu “Giúp HS hình thành những suy nghĩ tích cực, biết lắng nghe, học hỏi và có thể tự XD cho bản thân mình một nền tảng nhân cách vững chắc để các em có thể phát huy trong cuộc sống” được đánh giá thấp nhất trong các mục tiêu (ĐTB = 3.33). Về kết quả thực hiện các mục tiêu GD VHƯX cho HS tại các trường TH TP.TDM, tỉnh Bình Dương, CMHS đánh giá với ĐTB chung = 3.56 ứng với kết quả thực hiện “Khá”.

Như vậy, có thể thấy CBQL, GV và CMHS có sự đánh giá về thực hiện các mục tiêu GD VHƯX cho HS khá tương đồng. Đối với mục tiêu “Giúp HS hình thành những suy nghĩ tích cực, biết lắng nghe, học hỏi và có thể tự XD cho bản thân mình một nền tảng nhân cách vững chắc để các em có thể phát huy trong cuộc sống” vẫn còn hạn chế cả về mức độ thực hiện và kết quả thực hiện. Do đó, CBQL và GV cần có biện pháp, kế hoạch chỉ đạo cụ thể hơn trong thực hiện các mục tiêu GD VHƯX cho HS trong nhà trường góp phần XD nhà trường có môi trường VH tốt.

2.3.3 Thực trạng thực hiện nội dung giáo dục văn hoá ứng xử cho học sinh tại các trường tiểu học thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hoá ứng xử cho HS.

Nội dung GD VHƯX cho HS tại trường TH bao gồm: GD VHƯX trong các mối quan hệ với XH; GD VHƯX trong các mối quan hệ với tự nhiên; GD VHƯX trong mối quan hệ với bản thân. Sau đây là kết quả khảo sát thực trạng:

2.3.3.1 Thực trạng thực hiện văn hoá ứng xử trong các mối quan hệ với xã hội cho học sinh tại các trường tiểu học thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương

Kết quả khảo sát ý kiến của CBQL, GV trong việc thực hiện GD VHƯX trong các mối quan hệ với XH cho HS tại các trường TH TP.TDM, tỉnh Bình Dương được thể hiện ở bảng 2.7 như sau:

  • Bảng 2.7. Ý kiến của CBQL, GV về thực trạng thực hiện GD VHƯX trong các mối quan hệ với XH cho HS tại các trường TH

Bảng 2.7 cho thấy, mức độ thực hiện và kết quả thực hiện GD VHƯX trong các mối quan hệ với XH cho HS tại các trường TH theo CBQL, GV được khảo sát như sau:

Mức độ thực hiện: Mức độ thực hiện nội dung GD VHƯX trong các mối quan hệ với XH cho HS tại các trường TH được CBQL, GV đánh giá với điểm trung bình chung là 3.61 ở mức “Thường xuyên”. ĐLC trong khoảng 0.516 đến 0.634, có nghĩa là các ý kiến của các đối tượng khảo sát khá tương đồng. Tác giả nghiên cứu Kế hoạch bài dạy của GV các trường trong năm học 2022 – 2023, nội dung GD VHƯX trong các mối quan hệ với XH cho HS được thể hiện lồng ghép trong các môn học như Đạo đức, Tiếng Việt, Hoạt động trải nghiệm, Tự nhiên và Xã hội. Tuy nhiên, có ý kiến cho rằng “Các nội dung GD VHƯX trong các mối quan hệ với XH chỉ được lồng ghép vào các môn học chứ chưa có hẳn một bài hay một chuyên đề rõ ràng, cụ thể để GV có nhiều thời gian hơn trong GD nội dung này” (GV2, GV5).

Kết quả thực hiện: Thực trạng về kết quả thực hiện GD VHƯX trong các mối quan hệ với XH cho HS tại các trường TH được đánh giá khá cao, có điểm trung bình chung là 3.78 ứng với mức “Khá”. ĐLC trong khoảng 0.5 đến 0.6, có nghĩa là các ý kiến của các đối tượng khảo sát khá tương đồng. Các nội dung GD VHƯX trong các mối quan hệ với XH cho HS tại các trường TH như: “GD VHƯX đối với quê hương, đất nước”; “GD VHƯX đối với cộng đồng”; “GD VHƯX đối với cha mẹ và người thân trong gia đình” và “GD VHƯX đối với bạn bè” đánh giá thực hiện “Khá”. Đặc biệt, nội dung “GD VHƯX đối với thầy giáo, cô giáo, NV trong trường và khách đến trường” (ĐTB = 4.22) được đánh giá thực hiện “Tốt”. Qua phỏng vấn một số GV, có 3/5 GV cho rằng: Hầu hết các em học bán trú tại trường, do đó thời gian tiếp xúc của các em với thầy cô, NV trong trường rất nhiều. Chính vì vậy, GV dễ dàng GD và luyện tập cho các em thái độ, hành vi ƯX chuẩn mực với thầy cô, NV trong trường và khách đến trường. (GV2, GV3, GV4). Do đó, HS thực hiện rất tốt qua cách chào hỏi lễ phép, nói chuyện có dạ, thưa,… với thầy cô, NV trong trường và khách đến trường.

Kết quả khảo sát CMHS về mức độ thực hiện và kết quả thực hiện GD VHƯX trong các mối quan hệ với XH cho HS tại các trường TH được thể hiện ở Biểu đồ 2.2 (Phụ lục 5 trang 37) cho thấy, đánh giá của CMHS được khảo sát về mức độ thực hiện nội dung GD VHƯX trong các mối quan hệ với XH cho HS tại các trường TH TP.TDM, tỉnh Bình Dương với ĐTB chung = 3.69, tương ứng ở mức độ “Thường xuyên”. Trong đó nội dung “GD VHƯX đối với thầy giáo, cô giáo, NV trong trường và khách đến trường” được đánh giá cao nhất (ĐTB = 3.81), còn nội dung “GD VHƯX đối với cộng đồng” được đánh giá thấp nhất trong các nội dung” (ĐTB = 3.57). Về kết quả thực hiện, CMHS được khảo sát đánh giá với ĐTB chung = 3.90 ứng với mức “Khá”. Các nội dung “GD VHƯX đối với thầy giáo, cô giáo, NV trong trường và khách đến trường” và “GD VHƯX đối với cha mẹ và người thân trong gia đình” được CMHS đánh giá thực hiện “Tốt”. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hoá ứng xử cho HS.

Như vậy, CBQL, GV và CMHS được khảo sát đánh giá tại các trường TH đã thực hiện thường xuyên các nội dung GD VHƯX trong các mối quan hệ với XH cho HS và đạt kết quả ở mức độ khá. Do đó, các trường TH cần duy trì thực hiện thường xuyên và tốt hơn nữa các hoạt động GD VHƯX trong các mối quan hệ với XH.

2.3.3.2. Thực trạng thực hiện văn hoá ứng xử trong các mối quan hệ với tự nhiên cho học sinh tại các trường tiểu học thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương

Kết quả khảo sát CBQL, GV trong việc thực hiện GD VHƯX trong các mối quan hệ với tự nhiên cho HS tại các trường TH TP.TDM, tỉnh Bình Dương được thể hiện ở bảng 2.8. Bảng 2.8 cho thấy, thực trạng về mức độ thực hiện các nội dung được CBQL, GV đánh giá khá cao, với điểm trung bình chung là 3.49 ở mức “Thường xuyên”. ĐLC trong khoảng 0.514 đến 0.568, có nghĩa là các ý kiến của các đối tượng khảo sát khá tương đồng. Trên thực tế, Phòng GD&ĐT TP.TDM đã triển khai nhiều chuyên đề về bảo vệ môi trường, GD kĩ năng sống cho HS. Qua phỏng vấn một số CBQL, GV cho rằng “Trường luôn triển khai đến GV GD VHƯX trong các mối quan hệ với tự nhiên cho HS trong các buổi họp chuyên môn. GV thực hiện thường xuyên giáo dục VHƯX trong các mối quan hệ với tự nhiên cho HS thông qua các môn học” (QL1, QL2, GV1, GV4, GV5).

Bảng 2.8. Ý kiến của CBQL, GV về thực trạng thực hiện giáo dục văn hoá ứng xử trong các mối quan hệ với tự nhiên cho học sinh tại các trường tiểu học

Thực trạng về kết quả thực hiện GD VHƯX trong các mối quan hệ với XH cho HS tại các trường TH được CBQL, GV đánh giá với điểm trung bình chung là 3.62 ở mức “Khá”. ĐLC trong khoảng 0.500 đến 0.627, có nghĩa là các ý kiến của các đối tượng khảo sát đánh giá khá tương đồng. Nội dung GD “Ý thức bảo vệ CSVC của trường lớp xanh – sạch – đẹp” (ĐTB = 4.14) được đánh giá thực hiện cao nhất, ứng với mức độ “Khá”. Nhận định này phù hợp vì trường thường xuyên tuyên truyền, phổ biến đến HS các phong trào “Trường em xanh – sạch – đẹp – an toàn” để GD VHƯX cho HS (QL2, QL3, QL5, GV4, GV5). Còn lại các nội dung giáo dục VHƯX trong các mối quan hệ với tự nhiên cho HS như: “Ý thức bảo vệ môi trường” và “Sử dụng an toàn và tiết kiệm điện, nước, trang thiết bị của nhà trường” chỉ được đánh giá thực hiện mức “Trung bình”. Tác giả cũng nghiên cứu trong Sổ chủ nhiệm của các GV, cho thấy GV có đề cập đến việc GD VHƯX trong các mối quan hệ với tự nhiên cho HS như ý thức bảo vệ môi trường, sử dụng an toàn và tiết kiệm điện, nước, trang thiết bị của nhà trường nhưng kết quả đạt được vẫn chưa cao.

Khảo sát CMHS về mức độ thực hiện và kết quả thực hiện GD VHƯX trong các mối quan hệ với tự nhiên cho HS tại các trường TH được thể hiện ở Biểu đồ 2.3 (Phụ lục 5 trang 38) cho thấy, đánh giá của CMHS được khảo sát về mức độ thực hiện nội dung GD VHƯX trong các mối quan hệ với tự nhiên cho HS tại các trường TH TP.TDM, tỉnh Bình Dương với ĐTB chung = 3.58, ứng ở mức độ “Thường xuyên”. Trong đó nội dung “Ý thức bảo vệ CSVC của trường lớp xanh – sạch – đẹp” được đánh giá cao nhất (ĐTB = 3.61), còn nội dung “Ý thức bảo vệ môi trường” (ĐTB = 3.54) được đánh giá thấp nhất trong các nội dung. Về kết quả thực hiện, CMHS được khảo sát đánh giá với ĐTB chung = 3.69 ứng với kết quả thực hiện “Khá”. Với CMHS thì nhà trường thực hiện các nội dung đều ở mức độ “Khá”. Tuy nhiên, nội dung “Ý thức bảo vệ môi trường” (ĐTB = 3.44) được đánh giá thấp nhất. Như vậy, có thể thấy CBQL, GV và CMHS được khảo sát đánh giá tại các trường TH đã thực hiện khá thường xuyên GD VHƯX trong các mối quan hệ với tự nhiên cho HS và đạt kết quả ở mức độ khá. Tuy nhiên, một số nội dung ở mức trung bình như GD “Ý thức bảo vệ môi trường” và “Sử dụng an toàn và tiết kiệm điện, nước, trang thiết bị của nhà trường”. Do đó, để nâng cao hiệu quả trong công tác GD VHƯX cho HS tại các trường TH cần duy trì thực hiện thường xuyên và nâng cao hơn nữa các hoạt động GD VHƯX trong các mối quan hệ với tự nhiên cho HS nhằm hình thành cho các em ý thức giữ gìn và bảo vệ môi trường, bảo vệ tự nhiên, biết cách sử dụng an toàn và tiết kiệm điện, nước, trang thiết bị của nhà trường cũng như gia đình và những nơi công cộng.

2.3.3.3. Thực trạng thực hiện giáo dục văn hoá ứng xử trong các mối quan hệ với bản thân cho học sinh tại các trường tiểu học thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hoá ứng xử cho HS.

Nội dung GD VHƯX trong các mối quan hệ với bản thân cho HS là GD ý thức và hành vi giữ gìn vệ sinh, rèn luyện thân thể; giữ gìn danh dự và tài sản cá nhân; tự bảo vệ bản thân, không sử dụng các chất gây nghiện, các đồ chơi độc hại cho bản thân. Kết quả khảo sát việc thực hiện GD VHƯX trong các mối quan hệ với bản thân cho HS tại các trường TH TP.TDM, tỉnh Bình Dương thể hiện ở bảng 2.9.

Thực trạng về mức độ thực hiện GD VHƯX trong các mối quan hệ với bản thân cho HS tại các trường TH được CBQL, GV đánh giá khá cao, với điểm trung bình chung là 3.79 ở mức “Thường xuyên”. ĐLC trong khoảng từ 0.546 đến 0.662, có nghĩa là các ý kiến của các đối tượng khảo sát khá tương đồng. Trong đó, nội dung GD “Chăm chỉ học tập, không tự ý bỏ học” (ĐTB = 4.42) được đánh giá cao nhất, tương ứng với mức độ thực hiện “Rất thường xuyên”.

  • Bảng 2.9. Ý kiến của CBQL, GV về thực trạng thực hiện GD VHƯX trong các mối quan hệ với bản thân cho HS tại các trường TH

Qua phỏng vấn một số CBQL, GV cho rằng: GD VHƯX trong các mối quan hệ với bản thân cho HS tại các trường TH được triển khai cho GV trong các buổi họp chuyên môn và nhắc GV thực hiện thường xuyên trong quá trình dạy học, trong các phong trào, các hoạt động ngoại khoá hay các tiết sinh hoạt tập thể. (QL3, QL5, GV1, GV4). Trong năm học 2022 – 2023 tác giả nghiên cứu Kế hoạch bài dạy của một số GV các trường, nội dung GD VHƯX trong các mối quan hệ với bản thân cho HS được thể hiện lồng ghép trong các môn học như Đạo đức, Tiếng Việt, Hoạt động trải nghiệm, Tự nhiên và Xã hội.

Thực trạng về kết quả thực hiện nội dung trong bảng 2.9 được đối tượng CBQL, GV đánh giá khá cao, với điểm trung bình chung là 4.02 ở mức “Khá”. ĐLC trong khoảng 0.511 đến 0.650, có nghĩa là các ý kiến của các đối tượng khảo sát khá tương đồng. Trong đó, các nội dung như: “Ý thức và hành vi giữ gìn vệ sinh, rèn luyện thân thể” và “Sống trung thực, khiêm tốn” đánh giá thực hiện “Khá”. Nội dung “Chăm chỉ học tập, không tự ý bỏ học” (ĐTB = 4.35) được đánh giá thực hiện cao nhất, ứng với mức độ “Tốt”. Kết quả đánh giá nội dung này phù hợp vì thực tế GV thực hiện GD rất thường xuyên. Mặt khác, tác giả nghiên cứu Sổ chủ nhiệm cá nhân của các GV cũng cho thấy, GV thường xuyên điểm danh việc bỏ học, nghỉ học có phép hay không phép của HS và ghi chép việc học tập của HS trong quá trình học tập. Tuy nhiên, trong các nội dung GD VHƯX trong các mối quan hệ với bản thân, nội dung GD “Có trách nhiệm với bản thân; không hủy hoại thân thể, danh dự, nhân phẩm, tài sản của bản thân” (ĐTB = 3.37) chỉ được đánh giá ở mức “Trung bình”. Đây là điều cần hết sức lưu ý. Đa số CBQL, GV cho rằng, đã triển khai và thường xuyên nhắc nhở HS có trách nhiệm với bản thân vào các buổi chào cờ, sinh hoạt lớp, các phong trào thi đua và trong quá trình dạy học. Tuy nhiên GV2 cho biết, mặc dù “GV thường xuyên nhắc nhở các em cần biết giữ gìn tài sản của mình nhưng vẫn còn một bộ phận HS ném, quăng đồ dùng học tập, làm rách sách vở. Một số em còn lấy bút vẽ bậy trong sách vở, lên hộp bút hay tay chân của chính mình. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hoá ứng xử cho HS.

Chúng tôi cũng khảo sát CMHS về mức độ thực hiện và kết quả thực hiện GD VHƯX trong các mối quan hệ với bản thân cho HS. Kết quả khảo sát được thể hiện ở Biểu đồ 2.4 (Phụ lục 5 trang 38) cho chúng ta thấy, mức độ thực hiện nội dung GD VHƯX trong các mối quan hệ với bản thân cho HS tại các trường TH TP.TDM, tỉnh Bình Dương có ĐTB chung = 3.71, ứng với mức độ “Thường xuyên”. Trong đó nội dung “Chăm chỉ học tập, không tự ý bỏ học” được đánh giá cao nhất (ĐTB = 4.20), còn nội dung “Có trách nhiệm với bản thân; không hủy hoại thân thể, danh dự, nhân phẩm, tài sản của bản thân” (ĐTB = 3.48) được đánh giá thấp nhất trong các nội dung. Về kết quả thực hiện CMHS được khảo sát đánh giá với ĐTB chung = 4.06 ứng với mức “Khá”. Cũng như CBQL, GV, nội dung “Có trách nhiệm với bản thân; không hủy hoại thân thể, danh dự, nhân phẩm, tài sản của bản thân” (ĐTB = 3.96) được CMHS đánh giá thấp nhất trong kết quả thực hiện.

Như vậy, có thể thấy CBQL, GV và CMHS khá thống nhất trong đánh giá mức độ thực hiện và kết quả thực hiện các nội dung GD VHƯX trong các mối quan hệ với bản thân cho HS tại các trường TH. Đáng lo ngại là, nội dung “Có trách nhiệm với bản thân; không hủy hoại thân thể, danh dự, nhân phẩm, tài sản của bản thân” chỉ được đánh giá kết quả thực hiện ở mức “Trung bình”. Điều đó cho thấy các trường cần quan tâm thực hiện nội dung GD này hơn nữa. Các trường TH cần thực hiện thường xuyên và nâng cao hơn nữa các hoạt động GD VHƯX trong mối quan hệ với bản thân cho HS nhằm hình thành cho các em ý thức và hành vi chuẩn mực đúng đắn đối với bản thân mình, góp phần giáo dục nhân cách cho HS.

2.3.4 Thực trạng thực hiện phương pháp và hình thức giáo dục văn hoá ứng xử cho học sinh tại các trường tiểu học thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương

Kết quả khảo sát CBQL, GV về việc thực hiện phương pháp và hình thức GD VHƯX cho HS tại các trường TH TDM được thể hiện trong Bảng 2.10 như sau:

Bảng 2.10. Ý kiến của CBQL, GV về thực trạng thực hiện phương pháp và hình thức GD VHƯX cho HS tại các trường TH

Nhìn vào bảng 2.10 cho thấy, mức độ thực hiện và kết quả thực hiện phương pháp và hình thức GD VHƯX cho HS tại các trường tiểu học như sau:

  • Phương pháp GD VHƯX:

Thực trạng về mức độ thực hiện phương pháp GD VHƯX cho HS tại các trường TH được CBQL, GV đánh giá với điểm trung bình chung là 3.93 ở mức “Thường xuyên”. ĐLC trong khoảng 0.556 đến 0.655, có nghĩa là các ý kiến của các đối tượng khảo sát khá tương đồng. Trong đó “Phương pháp nêu gương” (ĐTB = 4.41) được đánh giá cao nhất, tương ứng với mức độ thực hiện “Rất thường xuyên”. Phương pháp này phù hợp với tâm lý HSTH. Ở độ tuổi này, trẻ thường bắt chước làm theo và chịu ảnh hưởng tác động trực qua mọi lời nói, việc làm, thái độ, hành vi của thầy cô, bạn bè và những tấm gương người tốt, việc tốt. Tiếp theo “Phương pháp thực hành trải nghiệm” (ĐTB = 4.11), ứng với mức độ “Thường xuyên”. Phương pháp khác như “Phương pháp thảo luận” (ĐTB = 3.62) và “Phương pháp luyện tập” (ĐTB = 3.57) được đánh giá sử dụng ít hơn hai phương pháp còn lại nhưng vẫn được đánh giá ở mức độ “Thường xuyên”. Do đó, GV cần phối hợp sử dụng các phương pháp để gắn kết giữa GV và HS, HS và HS vì đây là các phương pháp giúp GV có những cách thức tác động hợp lý, hiệu quả trong quá trình thực hiện hoạt động GD VHƯX cho HS. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hoá ứng xử cho HS.

Ý kiến của CBQL, GV về thực trạng kết quả thực hiện có ĐTB chung là 4.09 ở mức “Khá”. ĐLC trong khoảng 0.608 đến 0.660, có nghĩa là các ý kiến của các đối tượng khảo sát khá tương đồng. Trong đó “Phương pháp nêu gương” (ĐTB = 4.38) được đánh giá cao nhất, tương ứng với mức độ thực hiện “Tốt”. Một số CBQL, GV cho rằng: Các em trong độ tuổi này hay bắt chước và làm theo những hành động, cử chỉ, hành vi, thái độ của GV và làm theo những điều tốt đẹp về cách ƯX VH của GV hay các tấm gương tiêu biểu thông qua phương pháp nêu gương. (QL2, GV4, GV5). Các phương pháp còn lại được đánh giá thực hiện khá, tuy nhiên “Phương pháp thực hành trải nghiệm” (ĐTB = 3.86) đánh giá thấp nhất trong các phương pháp. Kết quả khảo sát này được thể hiện rõ khi tác giả luận văn nghiên cứu Kế hoạch bài dạy của các GV trong năm 2022 – 2023 cho thấy, phương pháp thực hành trải nghiệm hầu như GV sử dụng rất ít trong các bài học. Do đó, GV cần thường xuyên sử dụng phương pháp thực hành trải nghiệm một cách hiệu quả để giúp HS tự mình khám phá và lĩnh hội các hành vi chuẩn mực về VHƯX một cách tốt nhất.

  • Hình thức GD VHƯX:

Thực trạng về mức độ thực hiện hình thức GD VHƯX cho HS tại các trường TH được CBQL, GV đánh giá với ĐTB chung là 3.62 ở mức “Thường xuyên”. Trong đó “Thông qua hoạt động trải nghiệm, hoạt động GD ngoài giờ lên lớp” (ĐTB = 3.30) được đánh giá thấp nhất, tương ứng với mức độ thực hiện “Thỉnh thoảng”. Nghiên cứu Kế hoạch năm học 2022 – 2023 của các trường, đa số các trường chưa có một kế hoạch cụ thể nào cho việc GD VHƯX cho HS thông qua hoạt động trải nghiệm, hoạt động GD ngoài giờ lên lớp. Các hình thức còn lại được thực hiện thường xuyên, trong đó hình thức GD “Thông qua các buổi chuyên đề tuyên truyền dưới sân cờ và trong tiết hoạt động tập thể” (ĐTB = 4.19) được đánh giá cao nhất, ở mức độ “Thường xuyên”. Qua phỏng vấn CBQL, GV nhận định rằng: Nhà trường thường xuyên tổ chức các buổi tuyên truyền GD VHƯX cho HS vào các tiết chào cờ mỗi sáng thứ hai hằng tuần. GV cũng thường xuyên tuyên truyền trong tiết sinh hoạt tập thể của lớp. (QL1, QL3, GV1, GV2, GV4)

Thực trạng về kết quả thực hiện được CBQL, GV đánh giá khá cao, với ĐTB chung là 3.78 tương ứng ở mức “Khá” và các ý kiến của các đối tượng khảo sát khá tương đồng. Trong đó hình thức “Thông qua quá trình dạy học, lồng ghép tích hợp vào các môn học” (ĐTB = 4.32) được đánh giá cao nhất, tương ứng với mức độ thực hiện “Tốt”. Qua phỏng vấn QL4, QL5, GV1, GV3 nhận định rằng: Hoạt động GD VHƯX cho HS được lồng ghép tích hợp trong từng môn học được thể hiện trong Kế hoạch bài dạy của GV hoặc liên hệ kiến thức thực tiễn giúp cho HS hiểu được các giá trị của VHƯX và biết tự điều chỉnh các hành vi của mình cho đúng. Các hình thức khác được đánh giá ở mức độ “Khá” gồm “Thông qua các phong trào, hoạt động xã hội do nhà trường tổ chức” (ĐTB = 4.05) và “Thông qua các buổi chuyên đề tuyên truyền dưới sân cờ và trong tiết hoạt động tập thể” (ĐTB = 3.57). Hình thức “Thông qua hoạt động trải nghiệm, hoạt động GD ngoài giờ lên lớp” (ĐTB = 3.19) được đánh giá thấp nhất, ở mức độ “Trung bình”. Tác giả đã nghiên cứu các Báo cáo hoạt động hằng tháng của các trường năm học 2022 – 2023, cho thấy trong hoạt động chuyên môn có đánh giá và đưa ra những mặt hạn chế của GV khi được dự giờ và rút kinh nghiệm trong GD VHƯX của HS. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hoá ứng xử cho HS.

Như vậy, các phương pháp GD VHƯX cho HS tại trường TH đều được GV thực hiện thường xuyên nhưng kết quả đạt được chưa cao. Phương pháp nêu gương được GV sử dụng nhiều nhất và có kết quả cao; song các phương pháp đòi hỏi sự sáng tạo như phương pháp thực hành trải nghiệm kết quả thực hiện chưa cao. Bên cạnh đó, năng lực sử dụng các phương pháp chưa được nhuần nhuyễn và linh hoạt trong các hoạt động GD VHƯX cho HS của GV và còn nhiều hạn chế (QL3, QL4, GV1). Chính vì vậy đòi hỏi CBQL cần tổ chức bồi dưỡng, tập huấn về năng lực sử dụng các phương pháp cho GV để đạt được hiệu quả GD tốt nhất.

Các hình thức GD VHƯX cho HS tại các trường TH được thực hiện thường xuyên, riêng hình thức “Thông qua hoạt động trải nghiệm, hoạt động GD ngoài giờ lên lớp” còn thực hiện ở mức độ thỉnh thoảng và đạt kết quả ở mức độ trung bình. Những khó khăn khi thực hiện GD VHƯX cho HS tại các trường được thể hiện qua phỏng vấn như sau: Nhà trường chỉ đạo thực hiện GD VHƯX cho HS nhưng kết quả mang lại chưa cao. Bên cạnh đó nhiều thầy cô giáo chưa thể hiện hết trách nhiệm của mình, còn cứng nhắc và sử dụng hình thức phạt chưa phù hợp khi xử lý vấn đề, chưa hiểu được tâm lý của HS, chưa có sự gần gũi và chia sẻ với HS (QL1, QL2, QL4).

Kết quả khảo sát ý kiến CMHS về mức độ thực hiện và kết quả thực hiện phương pháp và hình thức GD VHƯX cho HS tại các trường TH được thể hiện ở Biểu đồ 2.5 (Phụ lục 5 trang 39) cho thấy, đánh giá của CMHS được khảo sát về mức độ thực hiện phương pháp và hình thức GD VHƯX cho HS tại các trường TH TP.TDM, tỉnh Bình Dương ở mức độ thực hiện “Thường xuyên”, với ĐTB chung là 3.75. Trong đó “Phương pháp nêu gương được đánh giá cao nhất (ĐTB = 4.10), còn “Phương pháp luyện tập” (ĐTB = 3.49) được đánh giá thấp nhất. Đối với hình thức giáo dục, hình thức “Thông qua các buổi chuyên đề tuyên truyền dưới sân cờ và trong tiết hoạt động tập thể” được đánh giá cao nhất (ĐTB = 3.98), còn “Thông qua hoạt động trải nghiệm, hoạt động GD ngoài giờ lên lớp” (ĐTB = 3.43) được đánh giá thấp nhất.

Về kết quả thực hiện các phương pháp và hình thức GD VHƯX cho HS tại các trường TH TP.TDM, tỉnh Bình Dương, CMHS được khảo sát đánh giá kết quả thực hiện “Khá” với ĐTB chung của phương pháp là 3.94 và ĐTB chung của hình thức GD là 3.96; trong đó “Phương pháp nêu gương” (ĐTB = 4.12) được đánh giá cao nhất và “Phương pháp thực hành trải nghiệm” (ĐTB = 3.73) được đánh giá thấp nhất.

Tóm lại, CBQL, GV và CMHS đã có sự tương đồng khi đánh giá mức độ thực hiện và kết quả thực hiện phương pháp, hình thức GD VHƯX cho HS tại các trường TH. Từ kết quả khảo sát, nhà trường cần thường xuyên tổ chức các chuyên đề học tập, nâng cao, bồi dưỡng chuyên môn cho GV để GV có thể lựa chọn và sử dụng các phương pháp và hình thức GD VHƯX sao cho phù hợp và đạt kết quả cao.

2.3.5 Thực trạng thực hiện đánh giá kết quả giáo dục văn hoá ứng xử cho học sinh tại các trường tiểu học thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hoá ứng xử cho HS.

Kết quả khảo sát ý kiến CBQL, GV về thực trạng thực hiện đánh giá kết quả GD VHƯX cho HS tại các trường TH TP.TDM, tỉnh Bình Dương trình bày ở bảng 2.11 như sau:

Bảng 2.11. Ý kiến của CBQL, GV về thực trạng thực hiện đánh giá kết quả GD VHƯX cho HS tại các trường TH

Nhìn vào bảng 2.11 chúng ta thấy, mức độ thực hiện và kết quả thực hiện đánh giá kết quả GD VHƯX cho HS tại các trường TH như sau:

Thực trạng về mức độ thực hiện được CBQL, GV đánh giá với ĐTB chung là 51 ở mức “Thường xuyên”. ĐLC trong khoảng 0.411 đến 0.698, nghĩa là các ý kiến của các đối tượng khảo sát khá tương đồng. Trong đó, nội dung “Tập trung đánh giá kết quả HS thực hiện Bộ QTƯX” (ĐTB = 4.00) được đánh giá cao nhất, tương ứng với mực độ thực hiện “Thường xuyên”. Nội dung này phù hợp khi tác giả nghiên cứu Kế hoạch năm học 2022 – 2023 của các trường cho thấy nhà trường đã xây dựng Bộ QTƯX trong nhà trường và nội dung thực hiện QTƯX cho HS, triển khai cho toàn thể GV và GV dựa vào đánh giá kết quả GD VHƯX cho HS. Bên cạnh đó, có 2 nội dung được đánh giá thực hiện “Thỉnh thoảng” là “Tạo điều kiện cho HS tự đánh giá” (ĐTB = 3.34); “Thực hiện đánh giá đồng đẳng (HS đánh giá lẫn nhau) (ĐTB = 3.07). Kết quả khảo sát phù hợp với ý kiến trả lời phỏng vấn khi có 3/5 GV cho rằng: Một số GV lớn tuổi ngại thay đổi việc đánh giá kết quả GD VHƯX cho HS trong việc tạo điều kiện cho HS tự đánh giá và HS tự đánh giá lẫn nhau để có thể đáp ứng yêu cầu về mục tiêu GD VHƯX cho HS trong nhà trường (GV1, GV3, GV4).

Thực trạng về kết quả thực hiện được CBQL, GV đánh giá với ĐTB chung là 65 ở mức “Khá”. ĐLC trong khoảng 0.441 đến 0.689. Nội dung đánh giá “GD VHƯX của HS trong các mối quan hệ với XH” (ĐTB = 4.29) được đánh giá cao nhất, tương ứng với mức độ thực hiện “Tốt”. Nội dung này khá phù hợp khi tác giả phỏng vấn CBQL, GV có ý kiến rằng: Kết quả đánh giá GD VHƯX của HS trong các mối quan hệ với XH được GV thực hiện rất tốt. HS thể hiện tốt các hành vi, thái độ, cử chỉ, lời nói chuẩn mực đối với quê hương, đất nước, cộng đồng, thầy cô, gia đình và mọi người xung quanh (QL1, QL2, GV3, GV5). Để có thêm thông tin, tác giả đã nghiên cứu Kế hoạch dạy học năm học 2022 – 2023 của GV cho thấy các bài học được lồng ghép GD VHƯX của HS trong các mối quan hệ với XH thể hiện nhiều trong các bài học của các môn như Đạo đức, Tiếng Việt, Tự nhiên và Xã hội và Hoạt động trải nghiệm. Có 2 nội dung được đánh giá thực hiện “Trung bình” là “Tạo điều kiện cho HS tự đánh giá” (ĐTB = 3.33); “Thực hiện đánh giá đồng đẳng (HS đánh giá lẫn nhau) (ĐTB = 3.15). Để có thêm thông tin tác giả nghiên cứu Kế hoạch bài dạy của GV năm học 2022 – 2023, cho thấy đa số GV ít lập phiếu tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng cho HS trong bài dạy, mà chỉ có phần tự đánh giá của HS trong môn Hoạt động trải nghiệm lớp 1, 2, 3. Tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng là các hình thức đánh giá kết quả GD VHƯX giúp HS đưa ra các phán đoán, nhận xét về kiến thức, kĩ năng, thái độ của bản thân và bạn học. Qua đó lựa chọn thông tin phù hợp, điều chỉnh và cải thiện việc học cho chính bản thân mình. Các hình thức đánh giá này GV chưa quan tâm thực hiện tốt. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hoá ứng xử cho HS.

Kết quả khảo sát CMHS về mức độ thực hiện và kết quả thực hiện đánh giá kết quả GD VHƯX cho HS tại các trường TH được thể hiện ở Biểu đồ 2.6 (Phụ lục 5 trang 39) cho chúng ta thấy, đánh giá của CMHS được khảo sát về mức độ thực hiện là “Thường xuyên”. Trong đó đánh giá kết quả GD “Tập trung đánh giá kết quả HS thực hiện Bộ QTƯX” đánh giá cao nhất (ĐTB = 4.05), còn “Thực hiện đánh giá đồng đẳng (HS đánh giá lẫn nhau)” (ĐTB = 3.43) được đánh giá thấp nhất trong các nội dung đánh giá. CMHS được khảo sát đánh giá kết quả thực hiện “Khá” với ĐTB chung là 3.69; trong đó đánh giá “GD VHƯX của HS trong các mối quan hệ với XH” (ĐTB = 4.00) cao nhất và “Thực hiện đánh giá đồng đẳng (HS đánh giá lẫn nhau)” (ĐTB = 3.48) được đánh giá thấp nhất trong các nội dung đánh giá.

Như vậy, thực trạng thực hiện đánh giá kết quả GD VHƯX cho HS tại các trường TH TP.TDM, tỉnh Bình Dương vẫn còn hạn chế trong việc “Tạo điều kiện cho HS tự đánh giá” (ĐTB = 3.33); “Thực hiện đánh giá đồng đẳng (HS đánh giá lẫn nhau) (ĐTB = 3.15). Đây là các hình thức đánh giá cần được quan tâm thực hiện và thực hiện có hiệu quả hơn nữa.

2.4 Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục văn hoá ứng xử cho học sinh tại các trường tiểu học thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương

2.4.1 Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên về tầm quan trọng của quản lý hoạt động giáo dục văn hóa ứng xử cho học sinh tại trường tiểu học

Nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của quản lý hoạt động GD VHƯX cho HS sẽ góp phần thực hiện tốt các chức năng quản lý (lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra, đánh giá) hoạt động GD VHƯX cho HS, góp phần nâng cao chất lượng GD trong nhà trường. Kết quả khảo sát ý kiến của CBQL, GV về tầm quan trọng của quản lý hoạt động GD VHƯX cho HS tại trường TH TP.TDM, tỉnh Bình Dương được ghi nhận trong Bảng 2.12 như sau:

Bảng 2.12. Ý kiến của CBQL, GV về tầm quan trọng của quản lý hoạt động GD VHƯX cho HS tại trường TH

Nhìn vào Bảng 2.12, chúng ta nhận thấy hầu hết CBQL, GV có nhận thức cao về tầm quan trọng của quản lý hoạt động GD VHƯX cho HS tại trường TH (ĐTB = 4.50). Không có phiếu nào ở mức độ “Rất không đồng ý” và “Không đồng ý”. ĐLC trong khoảng 0.520 đến 0.570 có nghĩa là, các ý kiến của các đối tượng khảo sát khá tương đồng. Tuy nhiên, bảng 2.12 cũng cho thấy vẫn còn một tỷ lệ nhỏ CBQL, GV có ý kiến ở mức độ “Đồng ý một phần”, chứng tỏ còn một bộ phận CBQL, GV chưa nhận thức đúng và đầy đủ về tầm quan trọng của quản lý hoạt động GD VHƯX cho HS tại trường TH.

Nghiên cứu bản kế hoạch năm học 2022 – 2023 của trường cũng chưa có một kế hoạch cụ thể, rõ ràng cho hoạt động GD VHƯX. Qua phỏng vấn một số CBQL, GV cho rằng: Nhà trường thường xuyên tuyên truyền cho GV và HS về VHƯX trong nhà trường nhưng chưa có kế hoạch cụ thể về mục tiêu, phương pháp, hình thức và nội dung thực hiện các hoạt động GD VHƯX (QL2, QL4, GV3, GV4). Như vậy đa số CBQL, GV có nhận thức đúng đắn về quản lý hoạt động GD VHƯX cho HS. Đây cũng là yếu tố đảm bảo cho các hoạt động GD VHƯX trong nhà trường được triển khai đúng hướng, đảm bảo tính khoa học để HS có cách ƯX đúng đắn trong môi trường sư phạm. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận CBQL, GV chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của quản lý hoạt động GD VHƯX cho HS tại trường TH. Như vậy, cần có biện pháp nâng cao nhận thức của CBQL, GV đảm bảo quản lý hoạt động GD VHƯX đạt các mục tiêu đề ra và HS có cách ƯX đúng đắn trong nhà trường, gia đình và XH.

2.4.2 Thực trạng xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục văn hoá ứng xử cho học sinh tại các trường tiểu học thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hoá ứng xử cho HS.

Lập kế hoạch là công cụ quản lý giúp HT đưa ra những định hướng phù hợp theo mục tiêu GD mà nhà trường đã đề ra, góp phần xây dựng thành công VHƯX trong nhà trường. Kết quả khảo sát ý kiến của CBQL, GV về thực trạng XD kế hoạch hoạt động GD VHƯX cho HS tại trường TH TP.TDM, tỉnh Bình Dương được ghi nhận trong Bảng 2.13 như sau:

Bảng 2.13. Ý kiến của CBQL, GV về thực trạng XD kế hoạch hoạt động GD VHƯX cho HS tại các trường TH

Nhìn vào bảng 2.13 cho thấy, mức độ thực hiện và kết quả thực hiện XD kế hoạch hoạt động GD VHƯX cho HS tại các trường TH theo đối tượng CBQL, GV được khảo sát như sau:

Về mức độ thực hiện được CBQL, GV đánh giá với ĐTB chung là 3.67, ứng với mức “Thường xuyên”. ĐLC trong khoảng từ 510 đến 0.587, có nghĩa là các ý kiến của các đối tượng khảo sát khá tương đồng. Nội dung “Xác định mục tiêu hoạt động GD VHƯX của nhà trường” (ĐTB = 4.01) được đánh giá cao nhất, tương ứng với mực độ thực hiện “Thường xuyên”. Điều này phù hợp khi nghiên cứu Kế hoạch GD của nhà trường năm học 2022 – 2023 cho thấy, các trường có có xác định mục tiêu, thời gian thực hiện, tên hoạt động, địa điểm và người thực hiện.

Nội dung được CBQL, GV cho rằng chỉ thỉnh thoảng thực hiện là “Xác định các hoạt động GD VHƯX trong nhà trường cần thực hiện để đạt mục tiêu đề ra” (ĐTB = 3.36). Qua phỏng vấn CBQL, GV cho rằng: Thời gian dành cho các hoạt động dạy học chiếm phần lớn thời gian, việc tổ chức khảo sát thực trạng biểu hiện của HS còn hạn chế nên chưa xác định rõ ràng, cụ thể các hoạt động GD VHƯX cho HS (QL1, QL4, GV2, GV3). Tác giả cũng nghiên cứu Kế hoạch năm học của nhà trường năm 2021 – 2022 và 2022 – 2023, tác giả nhận thấy nhà trường chưa có một kế hoạch riêng về hoạt động GD VHƯX cho HS mà chỉ là một nội dung nhỏ được lồng ghép trong kế hoạch GD của nhà trường. Như vậy, để quản lý hoạt động GD VHƯX cho HS có hiệu quả, nhà trường cần căn cứ vào các văn bản pháp lý, các chỉ đạo của cơ quan quản lý ngành để XD kế hoạch GD VHƯX cho HS một cách bài bản, trong đó nêu rõ mục tiêu, xác định các hoạt động GD VHƯX cần thực hiện để đạt mục tiêu đề ra, xác định các nguồn lực cần thiết và các phương án hành động tối ưu để thực hiện và cần cụ thể hóa các hoạt động cụ thể, rõ ràng trong từng tuần, từng tháng, từng học kì.

Về kết quả thực hiện được CBQL, GV đánh giá tương đối khá cao, tương ứng với ĐTB chung là 73 ở mức “Khá”. ĐLC thấp trong khoảng 0.545 đến 0.651, có nghĩa là các ý kiến của các đối tượng khảo sát khá tương đồng. Trong đó, nội dung “Xác định mục tiêu hoạt động GD VHƯX của nhà trường” (ĐTB = 4.25) được đánh giá cao nhất, tương ứng với mức độ thực hiện “Tốt”. Nội dung này phù hợp khi 100% nhà trường đều xác định được mục tiêu của hoạt động GD VHƯX cho HS theo Quyết định số 1299/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “XD VHƯX trong trường học giai đoạn 2018-2025” được thể hiện trong Kế hoạch GD của các trường vào đầu năm học. Các trường xác định được mục tiêu dựa trên mục tiêu chung trong Đề án. Có 5/5 CBQL và 5/5 GV nhận định rằng: Đầu năm nhà trường tuyên truyền, phổ biến đến toàn thể cán bộ GV, NV nhà trường về Quyết định số 1299/QĐ-TTg phê duyệt Đề án XD VHƯX trong trường học giai đoạn 2018-2025 để tất cả các thành viên trong nhà trường xác định chính xác mục tiêu của hoạt động GD VHƯX cho HS. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hoá ứng xử cho HS.

Tiếp theo, các nội dung được đánh giá ở mức độ “Khá” gồm “Xác định các nguồn lực để thực hiện hoạt động GD VHƯX cho HS” (ĐTB = 3.76); “Phân tích các phương án hành động, lựa chọn các phương án tối ưu và quyết định cách thực hiện hoạt động GD VHƯX” (ĐTB = 3.70); “Phê duyệt kế hoạch hoạt động GD VHƯX” (ĐTB = 3.62). Nội dung được đánh giá thấp nhất, ở mức độ “Trung bình” là “Xác định các hoạt động GD VHƯX trong nhà trường cần thực hiện để đạt mục tiêu đề ra” (ĐTB = 3.30). Điều này phản ánh đúng với tình hình thực tế trong xây dựng kế hoạch GD VHƯX cho HS thông qua phỏng vấn CBQL, GV: Trong Kế hoạch năm học của nhà trường không nêu các hoạt động GD VHƯX nhà trường cần thực hiện để đạt mục tiêu đề ra (QL2, QL5, GV4).

Như vậy, các trường TH TP.TDM, tỉnh Bình Dương đã XD kế hoạch hoạt động GD VHƯX cho HS ở mức độ thường xuyên và kết quả thực hiện khá. Tuy nhiên, nhà trường vẫn chưa có kế hoạch riêng và cụ thể các hoạt động GD VHƯX cho HS. Chính vì vậy cần cải tiến công tác XD kế hoạch hoạt động GD VHƯX cho HS. Nhà trường cần có dự báo khả năng thực hiện, những phương án hành động, lựa chọn các phương án tối ưu và quyết định cách thực hiện hoạt động GD VHƯX để xác định được nhiệm vụ, mục tiêu và cách thức đạt được hiệu quả.

2.4.3 Thực trạng tổ chức hoạt động giáo dục văn hoá ứng xử cho học sinh tại các trường tiểu học thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương

Tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động GD VHƯX cho HS là chức năng quan trọng trong công tác quản lý. HT là người tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động GD VHƯX. Kết quả khảo sát ý kiến của CBQL, GV về thực trạng tổ chức hoạt động GD VHƯX cho HS tại trường TH TP.TDM, tỉnh Bình Dương được ghi nhận trong Bảng 2.14 dưới đây:

Bảng 2.14. Ý kiến của CBQL, GV về thực trạng tổ chức hoạt động GD VHƯX cho HS tại các trường TH

Nhìn vào bảng 2.14 cho tác giả thấy, mức độ thực hiện và kết quả thực hiện tổ chức hoạt động GD VHƯX cho HS tại các trường TH theo CBQL, GV được khảo sát như sau:

  • Mức độ thực hiện:

Thực trạng về mức độ thực hiện được CBQL, GV đánh giá với ĐTB chung là 3.56 ở mức “Thường xuyên”. Nội dung “Triển khai kế hoạch GD VHƯX cho HS trong trường” (ĐTB = 3.81) được đánh giá cao nhất. Nội dung này được nhà trường căn cứ vào Quyết định số 1299/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “XD VHƯX trong trường học giai đoạn 2018-2025” và triển khai vào đầu năm học cho toàn thể cán bộ GV, NV trong trường.

Tiếp theo, các nội dung cũng thực hiện thường xuyên gồm: “Phân công nhiệm vụ của các bộ phận, cá nhân trong Ban chỉ đạo” (ĐTB = 3.76); “Thành lập Ban chỉ đạo tổ chức thực hiện hoạt động GD VHƯX cho HS” (ĐTB = 3.74); “Tổ chức thông tin thông suốt về hoạt động GD VHƯX trong nhà trường” (ĐTB = 3.71); “Tổ chức thực hiện hoạt động GD VHƯX cho HS” (ĐTB = 3.57); “Tổ chức thực hiện hoạt động phối hợp giữa nhà trường với gia đình và XH trong hoạt động GD VHƯX cho HS” (ĐTB = 3.55). Tuy nhiên, nội dung được đánh giá thực hiện chỉ ở mức độ “Thỉnh thoảng” là “Tổ chức XD QTƯX trong nhà trường” (ĐTB = 3.32). Mặc dù các trường đã phổ biến Thông tư số 06/TT-BGDĐT về Quy định QTƯX trong cơ sở GD mầm non, cơ sở GD phổ thông và cơ sở GD thường xuyên, song các trường chưa tập trung thời gian để xây dựng được Bộ QTƯX cho riêng từng trường dựa trên Bộ QTƯX do Bộ GD&ĐT ban hành. Qua phỏng vấn CBQL, GV, cho rằng: Trong năm học có rất nhiều hoạt động cần phải tổ chức thực hiện, nhà trường chưa tạo điều kiện để khảo sát các bên có liên quan và chưa thường xuyên tổ chức việc XD QTƯX trong nhà trường (QL1, QL3, GV1, GV4). Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hoá ứng xử cho HS.

Nội dung “Tổ chức thực hiện hoạt động tự học, bồi dưỡng nâng cao năng lực ƯX và GD VHƯX cho toàn thể nhà trường” (ĐTB = 3.04) được đánh giá thấp nhất trong các nội dung, chỉ ở mức thỉnh thoảng thực hiện. Phòng GD&ĐT TP.TDM, mỗi năm có tổ chức hoạt động tự học, tự bồi dưỡng, tập huấn nâng cao chuyên môn cho GV vào những dịp hè cuối năm học, tuy nhiên chưa có kế hoạch tổ chức cụ thể GD VHƯX cho GV các trường. (Báo cáo tổng kết năm học 2022 – 2023 của Phòng GD&ĐT TP.TDM). Có 5/5 GV cho rằng: Phòng GD&ĐT TP.TDM nói chung và các trường nói riêng chưa tổ chức thực hiện hoạt động tự học, bồi dưỡng nâng cao năng lực ƯX và GD VHƯX cho toàn thể nhà trường mà chỉ lồng ghép nội dung vào các buổi tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn.

  • Kết quả thực hiện:

Thực trạng về kết quả thực hiện được CBQL, GV đánh giá với điểm trung bình chung là 3.58 ở mức “Khá”. Các nội dung tổ chức GD VHƯX cho HS tại các trường TH được đánh giá ở mức độ “Khá” gồm: “Thành lập Ban chỉ đạo tổ chức thực hiện hoạt động GD VHƯX cho HS” (ĐTB = 3.79); “Tổ chức thông tin thông suốt về hoạt động GD VHƯX trong nhà trường” (ĐTB = 3.74); “Triển khai kế hoạch GD VHƯX cho HS trong trường” (ĐTB = 3.71); “Tổ chức thực hiện hoạt động GD VHƯX cho HS” (ĐTB = 3.65); “Phân công nhiệm vụ của các bộ phận, cá nhân trong Ban chỉ đạo” (ĐTB = 3.64); “Tổ chức thực hiện hoạt động phối hợp giữa nhà trường với gia đình và XH trong hoạt động GD VHƯX cho HS” (ĐTB = 3.60). Trong đó, nội dung “Thành lập Ban chỉ đạo tổ chức thực hiện hoạt động GD VHƯX cho HS” (ĐTB = 3.79) được đánh giá cao nhất. Nội dung này đúng với thực tế qua phỏng vấn CBQL, GV cho thấy đa số CBQL, GV nhận định: HT thành lập Ban chỉ đạo tổ chức thực hiện hoạt động GD VHƯX cho HS và phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng đối tượng trong ban chỉ đạo và tuyên truyền, phổ biến cho các thành viên trong nhà trường được biết (QL2, QL5, GV1, GV4, GV5).

Tuy nhiên, nội dung thực hiện chỉ ở mức độ trung bình là “Tổ chức XD QTƯX trong nhà trường” (ĐTB = 3.27), có 3/5 GV cho rằng: Việc triển khai và tổ chức XD QTƯX trong nhà trường chưa rõ ràng, chưa có những tiêu chí hay thang điểm thi đua để thực hiện GD VHƯX cho HS (GV1, GV2, GV4). Bên cạnh đó, “Tổ chức thực hiện hoạt động tự học, bồi dưỡng nâng cao năng lực ƯX và GD VHƯX cho toàn thể nhà trường” (ĐTB = 3.23) được đánh giá thấp nhất trong các nội dung, chỉ ở mức “Trung bình”. Có 5/5 CBQL và 4/5 GV cho rằng: Kinh phí hoạt động nhà trường có hạn và chỉ dành cho những hoạt động dạy học là chính. Đa phần GV chỉ được tập huấn và bồi dưỡng chuyên môn, nhà trường chưa tổ chức bồi dưỡng nâng cao năng lực ƯX và GD VHƯX cho toàn thể nhà trường (GV1, GV2, GV4, GV5). Như vậy, các trường TH TP.TDM, tỉnh Bình Dương đã tổ chức hoạt động

GD VHƯX cho HS ở mức độ thường xuyên nhưng kết quả thực hiện chưa cao chỉ ở mức độ tương đối khá. Các nội dung “Tổ chức thực hiện hoạt động tự học, bồi dưỡng nâng cao năng lực ƯX và GD VHƯX cho toàn thể nhà trường” và “Tổ chức XD QTƯX trong nhà trường” chỉ được đánh giá thỉnh thoảng thực hiện và kết quả thực hiện ở mức trung bình. Đây là 2 nội dung còn nhiều hạn chế trong tổ chức hoạt động GD VHƯX cho HS. Ở đây có sự tương quan khá mạnh giữa mức độ thực hiện và kết quả thực hiện (Pearson Correlation là 0.672**). Nội dung tổ chức nào chỉ thỉnh thoảng thực hiện thì kết quả thực hiện chỉ ở mức trung bình. Còn các nội dung tổ chức được thực hiện thường xuyên thì kết quả thực hiện ở mức khá. Chính vì vậy, để tổ chức hoạt động GD VHƯX cho HS, nhà trường cần XD các QTƯX trong nhà trường thật rõ ràng, cụ thể; cần thường xuyên tổ chức bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nâng cao năng lực ƯX và GD VHƯX cho toàn thể nhà trường để thực hiện hiệu quả các hoạt động GD VHƯX cho HS.

2.4.4 Thực trạng chỉ đạo hoạt động giáo dục văn hoá ứng xử cho học sinh tại các trường tiểu học Thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hoá ứng xử cho HS.

Chỉ đạo hoạt động GD VHƯX cho HS là nhiệm vụ quan trọng của HT nhà trường thông qua năng lực chỉ huy, sức ảnh hưởng cá nhân để huy động và thúc đẩy cấp dưới thực hiện hiệu quả mục tiêu kế hoạch đề ra. Kết quả khảo sát ý kiến của CBQL, GV về chỉ đạo hoạt động GD VHƯX cho HS tại các trường TH TP.TDM, tỉnh Bình Dương được ghi nhận trong Bảng 2.15 dưới đây:

Bảng 2.15. Ý kiến của CBQL, GV về thực trạng chỉ đạo hoạt động GD VHƯX cho HS tại các trường TH

Nhìn vào bảng 2.15 cho thấy, mức độ thực hiện và kết quả thực hiện chỉ đạo hoạt động GD VHƯX cho HS tại các trường TH theo CBQL, GV được khảo sát như sau:

Về mức độ thực hiện được CBQL, GV đánh giá thực hiện “Thường xuyên” (điểm trung bình chung là 3.67). ĐLC thấp trong khoảng 0.541 đến 0.667, có nghĩa là các ý kiến của các đối tượng khảo sát khá tương đồng. Các nội dung được đánh giá thực hiện “Thường xuyên” đó là: “Chỉ đạo thực hiện hoạt động GD VHƯX cho HS” (ĐTB = 4.02); “Chỉ đạo thực hiện hoạt động XD và triển khai Bộ QTƯX” (ĐTB = 3.95); “Chỉ đạo thực hiện hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức về hoạt động GD VHƯX trong nhà trường” (ĐTB = 3.80); “Chỉ đạo thực hiện hoạt động bồi dưỡng nâng cao năng lực ƯX VH và năng lực GD VHƯX cho tập thể sư phạm nhà trường” (ĐTB = 3.71). Trong đó, nội dung “Chỉ đạo thực hiện hoạt động GD VHƯX cho HS” (ĐTB = 4.02) được đánh giá cao nhất. Nghiên cứu biên bản cuộc họp hàng tháng của nhà trường có thể hiện, nhà trường luôn chỉ đạo cán bộ GV thực hiện hoạt động GD VHƯX cho HS trong công tác GD, các hoạt động phong trào cũng như trong công tác chủ nhiệm. Nội dung được đánh giá chỉ ở mức độ “Thỉnh thoảng” là “Chỉ đạo thực hiện hoạt động phối hợp với gia đình và XH trong GD VHƯX” (ĐTB = 3.37). Qua phỏng vấn, có 5/5 GV cho rằng: Nhà trường có thực hiện chỉ đạo thực hiện hoạt động phối hợp với gia đình và xã hội nhưng chưa thường xuyên và chưa có sự phối hợp nhịp nhàng trong các hoạt động GD VHƯX trong nhà trường. Nội dung được đánh giá thực hiện thấp nhất, cũng ở mức thỉnh thoảng thực hiện là “Chỉ đạo đầu tư CSVC, thiết bị phục vụ hoạt động GD VHƯX cho HS” (ĐTB = 3.14). Có 3/5 GV cho rằng: Nhà trường có rất nhiều hoạt động trong năm học, nguồn chính sách từ nhà nước cấp cho các trường còn hạn chế, chỉ đầu tư CSVC, các thiết bị phục vụ cho việc giảng dạy (GV2, GV4, GV5).

Về kết quả thực hiện được CBQL, GV đánh giá với ĐTB chung là 3.67, ở mức “Khá”. ĐLC thấp trong khoảng từ 0.533 đến 0.657, có nghĩa là ý kiến của các đối tượng khảo sát tương đồng nhau. Các nội dung được đánh giá đạt mức khá bao gồm: “Chỉ đạo thực hiện hoạt động GD VHƯX cho HS” (ĐTB = 3.93); “Chỉ đạo thực hiện hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức về hoạt động GD VHƯX trong nhà trường” (ĐTB = 3.88); “Chỉ đạo thực hiện hoạt động GD VHƯX cho HS” (ĐTB = 3.80); “Chỉ đạo thực hiện hoạt động XD và triển khai Bộ QTƯX” (ĐTB = 3.71). Trong đó, nội dung “Chỉ đạo thực hiện hoạt động GD VHƯX cho HS” (ĐTB = 3.93) được đánh giá cao nhất. Điều này này phản ánh đúng với tình hình thực tế, có 5/5 GV cho biết: HT và Phó HT căn cứ vào các văn bản, hướng dẫn cụ thể, rõ ràng cho GV về mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức GD VHƯX cho HS, tạo không khí sư phạm thoải mái giúp GV sáng tạo và gắn bó với nghề, thực hiện hiệu quả các hoạt động GD VHƯX cho HS. Tuy nhiên, nội dung “Chỉ đạo thực hiện hoạt động phối hợp với gia đình và XH trong GD VHƯX” (ĐTB = 3.38) được đánh giá thấp, chỉ ở mức độ “Trung bình”. Bên cạnh đó, nội dung “Chỉ đạo đầu tư CSVC, thiết bị phục vụ hoạt động GD VHƯX cho HS” (ĐTB = 3.34) được đánh giá thấp nhất trong việc thực hiện các nội dung chỉ đạo hoạt động GD VHƯX cho HS, chỉ ở mức độ “Trung bình”. Điều này phù hợp với thực tế, thể hiện rõ qua việc phỏng vấn CBQL, GV. Có 5/5 CBQL, GV nhận định: Việc chỉ đạo và huy động các nguồn lực hỗ trợ còn thiếu cho việc đầu tư, tạo điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ cho hoạt động GD VHƯX cho HS chưa đáp ứng được các yêu cầu đã đặt ra và kế hoạch hoạt động GD VHƯX nhà trường.

Như vậy, các trường TH TP.TDM, tỉnh Bình Dương đã thực hiện thường xuyên chỉ đạo hoạt động GD VHƯX cho HS và kết quả thực hiện tương đối khá. Các nội dung “Chỉ đạo thực hiện hoạt động phối hợp với gia đình và XH trong GD VHƯX” và “Chỉ đạo đầu tư CSVC, thiết bị phục vụ hoạt động GD VHƯX cho HS” còn hạn chế. Chính vì vậy, HT nhà trường cần thường xuyên thực hiện và chủ động hơn trong việc tăng cường chỉ đạo thực hiện hoạt động phối hợp với gia đình và XH trong GD VHƯX; cần chỉ đạo đầu tư CSVC, thiết bị phục vụ hoạt động GD VHƯX cho HS gắn với thực tế, phù hợp với điều kiện nhà trường nhằm đáp ứng tốt nhất việc tổ chức các hoạt động GD VHƯX cho HS. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hoá ứng xử cho HS.

2.4.5 Thực trạng kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục văn hoá ứng xử cho học sinh tại các trường tiểu học thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương

Kiểm tra, đánh giá hoạt động GD VHƯX ở các trường TH là một chức năng quan trọng trong bốn chức năng quản lý. Kết quả khảo sát ý kiến của CBQL, GV về kiểm tra, đánh giá hoạt động GD VHƯX cho HS tại các trường TH TP.TDM, tỉnh Bình Dương được trình bày trong Bảng 2.16 sau đây:

Bảng 2.16. Ý kiến của CBQL, GV về thực trạng kiểm tra, đánh giá hoạt động GD VHƯX cho HS tại các trường TH

Nhìn vào bảng 2.16 chúng ta thấy, mức độ thực hiện và kết quả thực hiện kiểm tra, đánh giá hoạt động GD VHƯX cho HS tại các trường TH được khảo sát như sau:

  • Mức độ thực hiện:

Thực trạng về mức độ thực hiện kiểm tra, đánh được CBQL, GV đánh giá với ĐTB chung là 3.70 ở mức “Thường xuyên” và các ý kiến của các đối tượng khảo sát khá tương đồng. Một số nội dung kiểm tra, đánh giá hoạt động GD VHƯX cho HS tại các trường TH được thực hiện “Thường xuyên” gồm: “Lập kế hoạch kiểm tra việc thực hiện hoạt động GD VHƯX cho HS” (ĐTB = 4.16); “Tổ chức phân công trách nhiệm cho các lực lượng kiểm tra, đánh giá” (ĐTB = 4.07); “Điều chỉnh các sai lệch trong kiểm tra, đánh giá hoạt động GD VHƯX cho HS” (ĐTB = 3.91); “Kiểm tra, đánh giá hoạt động bồi dưỡng nâng cao năng lực VHƯX và năng lực GD VHƯX” (ĐTB = 3.91); “Kiểm tra, đánh giá việc XD và triển khai Bộ QTƯX” (ĐTB = 3.65); “Kiểm tra, đánh giá hoạt động phối hợp giữa nhà trường với gia đình và XH về GD VHƯX” (ĐTB = 3.59). Trong đó, nội dung được đánh giá cao nhất là “Lập kế hoạch kiểm tra việc thực hiện hoạt động GD VHƯX cho HS” (ĐTB = 4.16). Có 5/5 GV ý kiến: HT thường xuyên lập kế hoạch kiểm tra việc thực hiện hoạt động GD VHƯX cho HS và thông tin rõ ràng đến các bộ phận và cá nhân liên quan trong quá trình thực hiện hoạt động từ đầu năm học.

Một số nội dung thực hiện chỉ ở mức độ “Thỉnh thoảng” như “Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện hoạt động tuyên truyền” có ĐTB = 3.38. Các GV được phỏng vấn cho rằng: Nhà trường thực hiện kiểm tra, đánh giá hoạt động tuyên truyền VHƯX cho HS chưa thường xuyên và chưa có hình thức cụ thể (QL3, QL4, GV2, GV5). Nội dung “Tổ chức XD tiêu chuẩn, tiêu chí kiểm tra, đánh giá hoạt động GD VHƯX” (ĐTB = 3.35) cũng được đánh giá thực hiện thỉnh thoảng, có 5/5 GV cho rằng: Các tiêu chuẩn, tiêu chí để kiểm tra, đánh giá hoạt động GD VHƯX cho HS chưa rõ ràng, cụ thể. Nội dung “Kiểm tra, đánh giá hoạt động GD VHƯX cho HS” (ĐTB = 3.27) được đánh giá thấp nhất. Qua phỏng vấn CBQL, GV cho rằng: Nhà trường chưa chú trọng đến việc kiểm tra, đánh giá hoạt động GD VHƯX cho HS và đôi lúc kiểm tra, đánh giá sơ sài (QL1, QL2, GV1, GV3). Để có thêm thông tin, tác giả đã nghiên cứu Biên bản nội dung họp hàng tháng của nhà trường cho thấy nhà trường có kế hoạch kiểm tra các hoạt động GD trong nhà trường như dự giờ dạy các lớp, kiểm tra hồ sơ của GV nhưng không có kế hoạch cụ thể kiểm tra, đánh giá hoạt động GD VHƯX cho HS.

  • Kết quả thực hiện: Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hoá ứng xử cho HS.

Thực trạng về kết quả thực hiện được CBQL, GV đánh giá với ĐTB chung là 3.55 ở mức “Khá”. Các nội dung kiểm tra hoạt động GD VHƯX cho HS tại các trường TH được đánh giá ở mức độ “Khá” là: “Tổ chức phân công trách nhiệm cho các lực lượng kiểm tra, đánh giá” (ĐTB = 4.14); “Lập kế hoạch kiểm tra việc thực hiện hoạt động GD VHƯX cho HS” (ĐTB = 3.96); “Kiểm tra, đánh giá việc XD và triển khai Bộ QTƯX” (ĐTB = 3.76); “Kiểm tra, đánh giá hoạt động phối hợp giữa nhà trường với gia đình và XH về GD VHƯX” (ĐTB = 3.73); “Điều chỉnh các sai lệch trong kiểm tra, đánh giá hoạt động GD VHƯX cho HS” (ĐTB = 3.56); “Kiểm tra, đánh giá hoạt động bồi dưỡng nâng cao năng lực VHƯX và năng lực GD VHƯX” (ĐTB = 3.45). Trong đó, nội dung “Tổ chức phân công trách nhiệm cho các lực lượng kiểm tra, đánh giá” (ĐTB = 4.14) được đánh giá cao nhất. Có 5/5 GV nhận định: Nhà trường thường xuyên phân công nhiệm vụ cho các lực lượng liên quan trong việc kiểm tra, đánh giá việc thực hiện hoạt động GD VHƯX cho HS tại trường theo đúng kế hoạch đã đề ra.

Các nội dung kết quả thực hiện chỉ ở mức độ trung bình, đó là: “Tổ chức XD tiêu chuẩn, tiêu chí kiểm tra, đánh giá hoạt động GD VHƯX” (ĐTB = 3.39) và “Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện hoạt động tuyên truyền” (ĐTB = 3.38). Qua phỏng vấn CBQL, GV cho rằng: Nhà trường chưa tổ chức XD các tiêu chuẩn, tiêu chí để kiểm tra, giám sát thực hiện và đánh giá kết quả của các hoạt động GD VHƯX cho HS (QL1, QL3, GV1, GV4). Nội dung được đánh giá thấp nhất, chỉ ở mức độ “Yếu” đó là “Kiểm tra, đánh giá hoạt động GD VHƯX cho HS” (ĐTB = 2.58). Đây là nội dung quan trọng nhất của chức năng kiểm tra hoạt động GD VHƯX cho HS. Qua phỏng vấn, có 5/5 GV nhận định: Nhà trường chưa thực hiện kiểm tra đột xuất, chưa thực hiện đa dạng, phong phú các hình thức kiểm tra, đánh giá hoạt động GD VHƯX cho HS.

Như vậy, các trường TH TP.TDM, tỉnh Bình Dương đã có kế hoạch kiểm tra, phân công cụ thể cho các thành viên, thực hiện khá thường xuyên hoạt động GD VHƯX cho HS song còn một số nội dung chưa quan tâm thực hiện thường xuyên và kết quả thực hiện chưa cao. Đáng lo ngại nhất là nội dung “Kiểm tra, đánh giá hoạt động GD VHƯX cho HS” chỉ thỉnh thoảng thực hiên và kết quả thực hiện còn hạn chế. Ở đây có sự tương quan khá mạnh giữa mức độ thực hiện và kết quả thực hiện (Pearson Correlation là 0.627**). Nội dung kiểm tra nào chỉ thỉnh thoảng thực hiện thì kết quả thực hiện chỉ ở mức trung bình, thậm chí yếu. Còn các nội dung kiểm tra được thực hiện thường xuyên thì kết quả thực hiện ở mức khá. Chính vì vậy, HT nhà trường cần có biện pháp cụ thể trong việc kiểm tra thực hiện Bộ QTƯX, tăng cường phân công trách nhiệm cho các cá nhân phụ trách việc đánh giá quá trình soạn kế hoạch bài dạy, XD nội dung, chủ đề phù hợp về GD VHƯX cho HS thông qua việc lồng ghép thường xuyên trong các môn học. Đặc biệt, nhà trường cần tăng cường kiểm tra, đánh giá hoạt động GD VHƯX cho HS với các nội dung, phương pháp và hình thức kiểm tra, đánh giá phong phú, đa dạng.

2.5 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục văn hoá ứng xử cho học sinh tại các trường tiểu học thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hoá ứng xử cho HS.

2.5.1 Các yếu tố chủ quan

Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động GD VHƯX cho HS tại các trường TH bao gồm năng lực quản lý của HT, trình độ VH của đội ngũ GV, sự phối hợp giữa CBQL, GV, NV và CMHS là yếu tố chủ quan hay yếu tố bên trong tác động trực tiếp đến kết quả đạt được trong quản lý hoạt động GD VHƯX cho HS. Kết quả khảo sát ý kiến của CBQL, GV về các yếu tố chủ quan tác động đến quản lý hoạt động GD VHƯX cho HS tại trường TH TP.TDM, tỉnh Bình Dương được thể hiện trong Biểu đồ 2.7 dưới đây:

Biểu đồ 2.7. Ý kiến của CBQL, GV về các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến quản lý hoạt động GD VHƯX cho HS tại trường TH

Nhìn vào biểu đồ 2.7, chúng ta nhận thấy hầu hết CBQL, GV đều đánh giá các yếu tố chủ quan ảnh hưởng rất nhiều đến quản lý hoạt động GD VHƯX cho HS tại trường TH với ĐTB chung là 4.67. Cụ thể là: “Năng lực quản lý của HT” với ĐTB là 4.73, ứng với mức ảnh hưởng rất nhiều. Báo cáo của Phòng GD&ĐT TP.TDM năm học 2022 – 2023 nêu rõ, đa số HT đều có năng lực quản lý tốt. Có 62/62 (đạt tỉ lệ 100%) HT, Phó HT các trường TH đạt mức Tốt qua việc đánh giá theo chuẩn HT. Qua phỏng vấn, có 5/5 GV nhận định: HT có năng lực quản lý tốt nên giúp cho nhà trường thực hiện tốt các mục tiêu, kế hoạch, chiến lược đề ra. Như vậy, đây là yếu tố thúc đẩy trong việc quản lý hoạt động GD VHƯX cho HS tại trường TH.

Yếu tố “Sự phối hợp giữa CBQL, GV, NV và CMHS” với ĐTB là 4.65 cũng ảnh hưởng rất nhiều đến quản lý hoạt động GD VHƯX cho HS tại trường TH. Qua phỏng vấn, 5/5 CBQL, GV cho rằng: Để quản lý hoạt động GD VHƯX cho HS tại trường TH đạt hiệu quả cao thì cần có sự phối hợp giữa CBQL, GV, NV và CMHS. Tuy nhiên, kết quả khảo sát về thực trạng hoạt động GD VHƯX và quản lý hoạt động GD VHƯX trình bày ở mục 2.3 và 2.4 cho thấy, sự phối hợp giữa nhà trường và CMHS trong GD VHƯX cho HS còn hạn chế. Như vậy, đây là yếu tố có ảnh hưởng nhiều song lại là rào cản trong quản lý hoạt động GD VHƯX cho HS. Vì vậy, cần thực hiện biện pháp tăng cường phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong GD VHƯX cho HS.

“Trình độ VH của đội ngũ GV” là yếu tố ảnh hưởng rất nhiều đến quản lý hoạt động GD VHƯX cho HS tại trường TH (ĐTB = 4.62). Báo cáo của Phòng GD&ĐT TP.TDM năm học 2022 – 2023 đã nêu: Trình độ đạt chuẩn của đội ngũ GV chiếm tỉ lệ 86,7%, trong đó trên chuẩn chiếm tỉ lệ 0,8%. Chưa đạt chuẩn: 139/1.046, chiếm tỉ lệ 13,3%. Kết quả đánh giá GV theo Chuẩn nghề nghiệp chiếm tỉ lệ 74,3% xếp loại Tốt; 25,5% GV xếp loại Khá. Số còn lại chiếm 0,2% xếp loại Đạt. Mặc dù tỉ lệ GV đạt trình độ đào tạo theo quy định cao và đa số GV được đánh giá khá tốt theo Chuẩn nghề nghiệp. Tuy nhiên, các GV chưa được tập huấn GD VHƯX cho HS. Vì vậy, trình độ VH, năng lực GD VHƯX của đội ngũ GV là yếu tố cần được cải thiện để thúc đẩy quá trình quản lý hoạt động GD VHƯX cho HS tại trường TH, góp phần nâng cao chất lượng GD trong nhà trường.

Tóm lại, năng lực quản lý của HT; trình độ VH của đội ngũ GV; sự phối hợp giữa CBQL, GV, NV và CMHS là các yếu tố ảnh hưởng rất nhiều và có tác dụng thúc đẩy hoặc cản trở quản lý hoạt động GD VHƯX cho HS tại trường TH TP.TDM, tỉnh Bình Dương. Đây là cơ sở thực tiễn để người nghiên cứu phân tích nguyên nhân của thực trạng và đề xuất biện pháp quản lý hoạt động GD VHƯX cho HS tại các trường TH TP.TDM, tỉnh Bình Dương.

2.5.2 Các yếu tố khách quan Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hoá ứng xử cho HS.

Những chủ trương, chính sách, định hướng và sự chỉ đạo của ngành; Điều kiện kinh tế – XH, môi trường VH của địa phương; Nhận thức và trình độ VH của gia đình và các tổ chức XH có liên quan; Đặc điểm tâm sinh lý của HSTH là những yếu tố khách quan có mối liên hệ mật thiết và ảnh hưởng đến quản lý hoạt động GD VHƯX cho HS. Kết quả khảo sát thực trạng các yếu tố khách quan tác động đến quản lý hoạt động GD VHƯX cho HS tại trường TH TP.TDM, tỉnh Bình Dương được thể hiện trong Biểu đồ 2.8 dưới đây:

Biểu đồ 2.8. Ý kiến của CBQL, GV về các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến quản lý hoạt động GD VHƯX cho HS tại trường TH

Nhìn vào biểu đồ 2.8, cho thấy hầu hết CBQL, GV đều đánh giá mức độ “Ảnh hưởng rất nhiều” với ĐTB chung là 4.50. Cụ thể là: “Nhận thức và trình độ VH của gia đình và các tổ chức XH có liên quan” với ĐTB là 4.70 được đánh giá ảnh hưởng nhiều nhất. Phỏng vấn CBQL, GV cũng cho rằng: Các gia đình và các tổ chức XH có liên quan cần nhận thức đúng đắn và trình độ VH của các gia đình góp phần ảnh hưởng không nhỏ trong việc quản lý hoạt động GD VHƯX cho HS của nhà trường đạt hiệu quả tốt hơn (QL2, QL5, GV1, GV3).

Yếu tố “Chủ trương, chính sách, định hướng và sự chỉ đạo của ngành” (ĐTB = 4.67) cũng ảnh hưởng rất nhiều. Có 5/5 CBQL nhận định: Nhà trường luôn được hướng dẫn và chỉ đạo của ngành về các hoạt động, đặc biệt là hoạt động GD VHƯX cho HS. Như vậy, yếu tố chủ trương, chính sách, định hướng và sự chỉ đạo của ngành sẽ thúc đẩy quá trình quản lý hoạt động GD VHƯX cho HS tại trường TH. Một yếu tố khác cũng ảnh hưởng rất nhiều đến quản lý hoạt động GD VHƯX cho HS tại trường TH, đó là “Đặc điểm tâm sinh lý của HSTH” (ĐTB = 4.47). Nội dung này phản ánh đúng với tình hình thực tiễn khi có 5/5 GV nhận định: Tâm lý của HSTH trong giai đoạn này mới hình thành, chưa có sự chú ý tập trung vào các hoạt động nhưng HSTH dễ thích nghi và tiếp nhận cái mới rất nhanh thông qua các hoạt động GD VHƯX trong nhà trường. Như vậy, đây là yếu tố có ảnh hưởng nhiều song lại là rào cản trong quản lý hoạt động GD VHƯX cho HS. Vì vậy, cần thường xuyên quan tâm đặc điểm tâm sinh lý của HS trong GD VHƯX cho HS.

Yếu tố “Điều kiện kinh tế – XH, môi trường VH của địa phương” với ĐTB là 4.15, ứng với mức “Ảnh hưởng nhiều”. TP.TDM là trung tâm chính trị, kinh tế, VH của tỉnh Bình Dương. Tình hình kinh tế – XH của TP.TDM đang trên đà phát triển mạnh mẽ và vững chắc, tuy nhiên còn nhiều phức tạp khi có nhiều dân nhập cư, nghề nghiệp chưa ổn định. Đây vừa là yếu tố thúc đẩy, vừa là yếu tố rào cản đến quá trình quản lý hoạt động GD VHƯX cho HS tại trường TH. Đa số CBQL, GV ý kiến: Nếu tình hình XH ổn định sẽ là điều kiện thuận lợi để GD VHƯX cho HS và hình thành nhân cách HS toàn diện. Môi trường VH địa phương lành mạnh, phát triển sẽ có tác động trực tiếp đến quá trình phát triển VH trong nhà trường (QL1, QL3, GV4, GV5).

Tóm lại, các yếu tố khách quan ảnh hưởng nhiều đến quản lý hoạt động GD VHƯX cho HS tại trường TH TP.TDM, tỉnh Bình Dương. Trong đó, yếu tố về “Chủ trương, chính sách, định hướng và sự chỉ đạo của ngành” là yếu tố có tác dụng thúc đẩy hoạt động quản lý. Các yếu tố còn lại như “Nhận thức và trình độ VH của gia đình và các tổ chức XH có liên quan”; “Đặc điểm tâm sinh lý của HSTH” và “Điều kiện kinh tế – XH, môi trường VH của địa phương” vừa có tác dụng thúc đẩy, vừa là rào cản trong quá trình quản lý hoạt động GD VHƯX cho HS tại trường TH TP.TDM, tỉnh Bình Dương. Đây là cơ sở thực tiễn để người nghiên cứu phân tích nguyên nhân của thực trạng và đề xuất biện pháp quản lý tại các TH TP.TDM, tỉnh Bình Dương.

2.6. Đánh giá chung Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hoá ứng xử cho HS.

Kết hợp các phương pháp nghiên cứu thực tiễn, tác giả có một số nhận định về những ưu điểm và hạn chế về thực trạng hoạt động GD VHƯX và quản lý hoạt động GD VHƯX cho HS tại các trường TH TP.TDM, tỉnh Bình Dương.

2.6.1 Những ưu điểm

Về nhận thức: Đa số CBQL, GV và CMHS tại các trường TH TP.TDM, tỉnh Bình Dương đã nhận thức đúng đắn về ý nghĩa, mục tiêu của hoạt động GD VHƯX cho HS và tầm quan trọng của công tác quản lý hoạt động GD VHƯX cho HS.

Về hoạt động GD VHƯX cho HS: Nhà trường đã xác định được mục tiêu GD VHƯX cho HS là hình thành môi trường giao tiếp ƯX, thái độ, cử chỉ và ngôn ngữ ƯX một cách chuẩn mực. GD VHƯX của HS trong mối quan hệ với bản thân được thực hiện khá tốt thông qua phương pháp nêu gương và quá trình dạy học, lồng ghép tích hợp vào các môn học.

Về quản lý hoạt động GD VHƯX cho HS: HT các nhà trường đã thực hiện đầy đủ 4 chức năng quản lý hoạt động GD VHƯX: Trong lập kế hoạch, các nhà trường đã xác định được mục tiêu hoạt động GD VHƯX cho HS. Đây là nội dung quan trọng trong việc lập kế hoạch, đảm bảo kế hoạch đúng hướng và gắn liền với thực tế của nhà trường; Đối với công tác tổ chức, các trường đã thành lập Ban chỉ đạo thực hiện hoạt động GD VHƯX cho HS; Công tác chỉ đạo hoạt động đã được HT quan tâm hướng dẫn cụ thể, rõ ràng cho GV về mục tiêu, nội dung, phương pháp và hình thức, thực hiện các hoạt động GD VHƯX cho HS được đánh giá cao; Đối với kiểm tra, đánh giá các trường đã tổ chức phân công trách nhiệm cho các lực lượng kiểm tra, đánh giá việc thực hiện hoạt động GD VHƯX cho HS từ đầu năm học trong các Kế hoạch đầu năm.

2.6.2 Những hạn chế

Về hoạt động GD VHƯX cho HS: Còn một số CBQL, GV chưa nhận thức đầy đủ và đúng đắn về ý nghĩa của hoạt động GD VHƯX cho HS; Về mục tiêu GD VHƯX cho HS: Lãnh đạo nhà trường triển khai song kết quả thực hiện chưa cao, trong đó mục tiêu “Giúp HS hình thành những suy nghĩ tích cực, biết lắng nghe, học hỏi và có thể tự XD cho bản thân mình một nền tảng nhân cách vững chắc để các em có thể phát huy trong cuộc sống” chỉ được đánh giá thỉnh thoảng thực hiện và kết quả thực hiện ở mức trung bình; GD VHƯX cho HS trong mối quan hệ ƯX đối với XH, tự nhiên và bản thân còn hạn chế. Nội dung GD HS có trách nhiệm với bản thân, không huỷ hoại thân thể, danh dự, nhân phẩm, tài sản của bản thân chưa được thực hiện thường xuyên và hiệu quả đạt được chưa cao; Phương pháp thực hành trải nghiệm và hình thức GD VHƯX cho HS thông qua hoạt động trải nghiệm, hoạt động GD ngoài giờ lên lớp thực hiện chưa thường xuyên và kết quả đạt được chưa cao, kết quả thực hiện chỉ ở mức trung bình; Nhà trường chưa tạo điều kiện cho HS tự đánh giá và còn xem nhẹ việc thực hiện đánh giá đồng đẳng trong đánh giá hoạt động GD VHƯX cho HS. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hoá ứng xử cho HS.

Về quản lý hoạt động GD VHƯX cho HS các trường còn các hạn chế sau đây: Một bộ phận CBQL, GV chưa nhận thức đúng đắn và đầy đủ về tầm quan trọng của quản lý hoạt động GD VHƯX cho HS; Về chức năng lập kế hoạch: Các trường chưa có kế hoạch riêng để quản lý hoạt động GD VHƯX cho HS, chỉ là một nội dung trong kế hoạch năm học của nhà trường và còn mang nặng tính hình thức. Chưa xác định các hoạt động GD VHƯX cho HS trong nhà trường cần thực hiện để đạt mục tiêu đề ra; Về thực hiện chức năng tổ chức: Tổ chức hoạt động GD VHƯX cho HS đã được lãnh đạo trường triển khai song kết quả thực hiện chưa cao, trong đó các nội dung “Tổ chức thực hiện hoạt động tự học, bồi dưỡng nâng cao năng lực ƯX và GD VHƯX cho toàn thể nhà trường” và “Tổ chức XD QTƯX trong nhà trường” chỉ được đánh giá thỉnh thoảng thực hiện và kết quả thực hiện ở mức trung bình; Về chỉ đạo hoạt động GD VHƯX cho HS: các trường còn hạn chế trong việc chỉ đạo thực hiện hoạt động phối hợp giữa nhà trường với gia đình và XH trong GD VHƯX. Chỉ đạo đầu tư CSVC, thiết bị phục vụ hoạt động GD VHƯX cho HS chưa được quan tâm thực hiện thường xuyên nên kết quả chỉ ở mức trung bình; Về kiểm tra, đánh giá hoạt động GD VHƯX cho HS: Các trường chưa thực hiện tốt việc tổ chức XD tiêu chuẩn, tiêu chí kiểm tra, đánh giá. HT chưa thường xuyên kiểm tra, đánh giá với nhiều hình thức và kết quả thực hiện ở mức trung bình.

2.6.3 Nguyên nhân của thực trạng

Nguyên nhân của ưu điểm: Nhà nước và ngành GD đã có các văn bản chỉ đạo về XD VHƯX trong trường học. Chẳng hạn như: Quyết định số 1299/QĐ-TTg phê duyệt Đề án “XD VHƯX trong trường học giai đoạn 2018-2025”; Thông tư số 06/TT-BGDĐT về Quy định QTƯX trong cơ sở GD mầm non, cơ sở GD phổ thông và cơ sở GD thường xuyên. Đây là các văn bản pháp lý quan trọng để các trường triển khai. Bên cạnh đó, nhà trường luôn nhận được sự quan tâm của Phòng GD&ĐT TP.TDM trong việc hướng dẫn thực hiện các hoạt động GD nói chung, hoạt động GD VHƯX cho HS nói riêng; Đa số HT các trường TH có năng lực quản lý tốt.

Nguyên nhân của hạn chế: Trong những năm qua, tình hình kinh tế – XH của TP.TDM đang trên đà phát triển mạnh mẽ và vững chắc, tuy nhiên còn nhiều phức tạp khi có nhiều dân nhập cư, nghề nghiệp chưa ổn định. Sự phối hợp giữa nhà trường với CMHS chưa chặt chẽ là một trong những nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong thực hiện mục tiêu, nội dung GD VHƯX và quản lý hoạt động GD VHƯX tại các trường TH trên địa bàn TP.TDM; Một bộ phận CBQL, GV chưa nhận thức đầy đủ và đúng đắn về ý nghĩa của hoạt động GD VHƯX và quản lý hoạt động GD VHƯX cho HS; Đội ngũ GV là những người ảnh hưởng trực tiếp khi tiếp xúc với HS trong việc uốn nắn, GD VHƯX cho HS. Tuy nhiên, năng lực sử dụng các phương pháp và hình thức trong các hoạt động GD VHƯX cho HS của GV còn nhiều lúng túng, hạn chế, phối hợp chưa được nhuần nhuyễn và linh hoạt nhằm đạt hiệu quả trong GD VHƯX cho HS; Đầu tư CSVC, thiết bị phục vụ hoạt động GD VHƯX cho HS chưa thường xuyên và còn hạn chế.

Kết luận chương 2 Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hoá ứng xử cho HS.

Thành phố Thủ Dầu Một là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, VH của tỉnh Bình Dương. Trong nhiều năm, các trường TH ở TP.TDM đạt Chuẩn Quốc gia và Kiểm định chất lượng ở các cấp độ, nhiều trường TH TP.TDM là đơn vị xuất sắc của GD TP.TDM và GD TH tỉnh Bình Dương. Các hoạt động GD, CSVC và thiết bị dạy học và chất lượng đội ngũ CBQL, GV của các trường TH TP.TDM khá tốt góp phần phát triển toàn diện HS, coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học.

Kết hợp các phương pháp nghiên cứu thực tiễn, tác giả luận văn đã phân tích thực trạng hoạt động GD VHƯX cho HS và quản lý hoạt động GD VHƯX cho HS tại các trường TH TP.TDM, tỉnh Bình Dương. Trong thời gian qua, có thể thấy quản lý hoạt động GD VHƯX cho HS tại các trường TH TP.TDM, tỉnh Bình Dương đã đạt được những kết quả và những thành tựu nhất định.

Từ kết quả khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động GD VHƯX cho HS tại các trường TH TP.TDM, tỉnh Bình Dương cho thấy đa số CBQL, GV đã nhận thức được ý nghĩa của hoạt động GD VHƯX và tầm quan trọng của quản lý hoạt động GD VHƯX cho HS để nâng cao chất lượng GD của nhà trường. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận CBQL, GV chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của công tác này. Kết quả của việc thực hiện mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức và đánh giá kết quả hoạt động GD VHƯX cho HS tại các trường TH TP.TDM, tỉnh Bình Dương chỉ ở mức trung bình đến khá. GD VHƯX trong các mối quan hệ với tự nhiên cho HS hiệu quả chưa cao. Hình thức thực hiện GD VHƯX cho HS thông qua hoạt động trải nghiệm, hoạt động GD ngoài giờ lên lớp chưa mang lại hiệu quả. Chưa tạo điều kiện cho HS tự đánh giá và thực hiện đánh giá đồng đẳng cho HS.

Quản lý hoạt động GD VHƯX cho HS tại trường TH là sự tác động c HT đến các đối tượng là CBQL, GV, NV, HS và CMHS thông qua việc lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo, kiểm tra đánh giá hoạt động GD VHƯX cho HS nhằm đạt tới mục tiêu hoạt động GD VHƯX cho HS góp phần nâng cao giáo dục toàn diện.

Đề tài đã phân tích, đánh giá thực trạng quản lý động GD VHƯX cho HS qua việc thực hiện các chức năng quản lý: Xây dựng kế hoạch động GD VHƯX cho HS trong trường TH; Tổ chức thực hiện động GD VHƯX cho HS trong trường TH; Chỉ đạo thực hiện động GD VHƯX cho HS trong trường TH; Kiểm tra, đánh giá thực hiện động GD VHƯX cho HS trong trường TH. Kết quả nghiên cứu cho thấy, quản lý hoạt động GD VHƯX cho HS tại các trường TH TP.TDM, tỉnh Bình Dương còn một số hạn chế như: Việc lập kế hoạch chưa thực sự được quan tâm đúng mức, chưa thực sự bao quát để tạo sự liên kết, phối hợp nhịp nhàng giữa các nội dung hoạt động GD VHƯX cho HS. Tổ chức thực hiện hoạt động GD VHƯX cho HS chưa thường xuyên và các nội dung tổ chức chưa được đa dạng, phong phú. Chỉ đạo hoạt động GD VHƯX cho HS còn hạn chế trong thực hiện hoạt động phối hợp giữa nhà trường với gia đình và XH. Chưa quan tâm chỉ đạo đầu tư CSVC, thiết bị phục vụ hoạt động GD VHƯX cho nên kết quả chỉ ở mức trung bình. Chức năng kiểm tra, đánh giá hoạt động GD VHƯX cho HS tại các trường TH chưa thường xuyên và hiệu quả. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục văn hoá ứng xử cho HS.

Kết quả nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động GD VHƯX cho HS tại các trường TH TP.TDM, tỉnh Bình Dương trong chương 2 là cơ sở thực tiễn giúp tác giả nghiên cứu và đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động GD VHƯX cho HS tại các trường TH TP.TDM, tỉnh Bình Dương được trình bày trong chương 3 của luận văn.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp quản lý giáo dục văn hoá ứng xử cho HS

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537