Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục phòng chống ma túy

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục phòng chống ma túy hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục phòng chống ma túy tại trường Trung học cơ sở huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát về tình hình kinh tế- xã hội và giáo dục huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương

Huyện Phú Giáo nằm phía Đông Bắc của tỉnh Bình Dương, có phía Đông giáp huyện Vĩnh Cửu, tỉnh Đồng Nai; phía Tây giáp huyện Bàu Bàng, phía Nam giáp huyện Bắc Tân Uyên tỉnh Bình Dương và phía Bắc giáp huyện Đồng Phú tỉnh Bình Phước. Huyện Phú Giáo có 11 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm thị trấn Phước Vĩnh (huyện lỵ) và 10 xã: An Bình, An Linh, An Long, An Thái, Phước Hòa, Phước Sang, Tam Lập, Tân Hiệp, Tân Long, Vĩnh Hòa. Dưới thời Pháp thuộc, huyện Phú Giáo ngày nay là một phần quận Tân Uyên, tỉnh Biên Hòa.

Kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội của huyện đã được đầu tư đồng bộ và từng bước hoàn thiện. Thời kỳ đầu tái lập huyện, hệ thống quy mô giao thông có kết cấu kỹ thuật thấp, lạc hậu, nhỏ bé. Đến nay, mạng lưới giao thông được mở rộng, nâng cấp; 100% các tuyến đường từ trung tâm huyện đến 11 xã, thị trấn và kết nối với các huyện, thị, thành phố trong và ngoài tỉnh được nhựa hóa bảo đảm lưu thông thuận tiện. Huyện đang tích cực phối hợp với các ngành của tỉnh đẩy nhanh tiến bộ đầu tư tuyến đường tạo lực Bắc Tân Uyên – Phú Giáo – Bàu Bàng, tuyến giao thông quan trọng đi qua địa bàn huyện.

Lĩnh vực văn hoá – xã hội đạt nhiều kết quả tích cực. Quy mô trường, lớp tiếp tục được củng cố, phát triển ở tất cả các cấp, đáp ứng nhu cầu học tập của nhân dân. Huyện hiện có 36/37 trường đạt chuẩn quốc gia, chiếm tỷ lệ 97,3%.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Hỗ Trợ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Quản Lý Giáo Dục

2.2. Tổ chức nghiên cứu

2.2.1. Nội dung khảo sát

Khảo sát thực trạng hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy ở trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo: Nhận thức của Cán bộ quản lý, GV về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy ở Trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo; thực trạng hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy ở Trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo với các nội dung như vai trò, mục tiêu, nội dung, phương pháp, hiệu quả giáo dục.

Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động giá dục Phòng chống ma túy ở Trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo với những nội dung như: Vai trò, lập kế hoạch phát triển đội ngũ giáo viên; sử dụng giáo viên; thực hiện kế hoạch; phối hợp các lực lượng giáo dục trong việc thực hiện kế hoạch; kiểm tra, đánh giá kết quả thực hiện kế hoạch quản lý hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy.

2.2.2. Công cụ khảo sát Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục phòng chống ma túy.

Để có cơ sở đánh giá tình hình quản lý hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy ở Trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo trong thời gian qua, chúng tôi đã xây dựng phiếu câu hỏi gồm cả hai đối tượng Cán bộ quản lý và GV với nội dung theo phiếu khảo sát phần phụ lục. Đây được xem là công cụ chính trong điều tra, khảo sát thực trạng. Chúng tôi sử dụng phần mềm SPSS 20.0 để hỗ trợ trong phân tích và xử lý các số liệu định lượng từ các bảng hỏi khảo sát. Ngoài ra, chúng tôi cũng phân tích các dữ liệu từ các bản kế hoạch, báo cáo, hồ sơ sổ sách của các trường trong địa bàn nghiên cứu.

2.2.3. Đối tượng khảo sát

Đối tượng khảo sát chính của đề tài bao gồm 124 Cán bộ quản lý và GV đang công tác tại 4 trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương gồm: Trung học cơ sở Trần Quang Diệu (29 người, chiếm 23,4%), Trung học cơ sở Trần Hưng Đạo (35 người, chiếm 28,2%), Trung học cơ sở Phước Hòa (32 người, chiếm 25,8%) và Trung học cơ sở Nguyễn Trãi (28 người, chiếm 22,6%). Cụ thể được thể hiện qua bảng 2.1 như sau:

Bảng 2.1. Khái quát về đối tượng khảo sát

Về giới tính, do đặc trưng của hội đồng sư phạm của các trường học ở nước ta là nam CB-GV ít hơn nữ CB-GV nên đối tượng nghiên cứu hơi lệch về phía nữ CB-GV. Cụ thể, nữ chiếm 83,1% và nam 16,9%.

Về thâm niên công tác, CB-GV có kinh nghiệm công tác dưới 5 năm là 14 (chiếm 11,3%), từ 5 đến 10 năm là 43 người (chiếm 34,7%). Có 57 CB-GV có kinh nghiệm từ 10 đến 20 năm, chiếm 46,0%. Kinh nghiệm giảng dạy từ 15 trên năm có 10 người chiếm 8,1%. Tỷ lệ này đảm bảo các nguyên tác chọn mẫu trong nghiên cứu khoa học.

Về vị trí công tác, CB-GV làm công tác chủ nhiệm chiếm 61 người (49,2%), có 49 CB-GV là GV bộ môn (chiếm 39,5%), Bí thư Đoàn trường là 03 CB-GV (chiếm tỉ lệ 2,4%) và 11 Tổ trưởng chuyển môn (chiếm 8,9%).

Về việc tham gia hoạt động Phòng chống ma túy, có 55 người đã từng thực hiện (chiếm 44,4%), đang thực hiện là 37 người (chiếm 29,8%) và 32 người chưa từng thực hiện (chiếm 25,8%).

Như vậy có thể thấy tỉ lệ mẫu được lựa chọn nghiên cứu đảm bảo tính khách quan cũng như các nguyên tắc chọn mẫu, đảm bao độ tin cậy cho kết quả nghiên cứu. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục phòng chống ma túy.

2.2.4. Kiểm tra độ tin cậy của thang đo

Trong quá trình xây dựng bảng hỏi khảo sát thực trạng về quản lý hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy ở Trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo, chúng tôi đã sử dụng phần mềm SPSS 20.0 để loại bỏ những câu hổi không đạt yêu cầu thông qua lệnh Cronbach’s Alpha, với độ tin cậy trong các thang đo Alpha=95%.

2.2.5. Tổ chức điều tra, khảo sát

Sau khi xây dựng được cơ sở lý luận về hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy ở Trường Trung học cơ sở và quản lý hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy ở Trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo, nhóm nghiên cứu xây dựng công cụ khảo sát (bảng hỏi khảo sát và câu hỏi phỏng vấn). Sau khi chuẩn bị đầy đủ các công cụ khảo sát thực trạng, nhóm nghiên cứu tiến hành khảo sát tại 4 trường với 124 giáo viên và cán bộ quản lý tại các trường Trung học cơ sở trên địa bàn theo danh sách. Trong đó, các phiếu hỏi được hướng dẫn, giải thích trực tiếp đến cán bộ quản lý, giáo viên trong buổi khảo sát. Đối tượng phỏng vấn được mã hóa lần lượt là CB1, CB2, CB3, GV1, GV2, GV3, GV4, GV5, GV6, GV7, GV8, GV9. Đối với các dữ liệu định lượng sau khi thu thập đầy đủ, nhóm nghiên cứu sử dụng phần mềm SPSS20.0 thực hiện thống kê và tạo bảng phân tích theo tỉ lệ phần trăm, độ lệch chuẩn và điểm trung bình, trong đó điểm trung bình được qui ước cụ thể.

2.2.6. Quy ước thang đo

Trong công cụ khảo sát thực trạng về quản lý hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy ở trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo, nhóm nghiên cứu đã sử dụng các thang đo định danh, thang đo thứ bậc và thang đo khoảng. Đồng thời, để tạo sự thống nhất trong phân tích từ các kết quả điểm trung bình tìm được 5 mức độ trong các câu hỏi, nhóm nghiên cứu tính khoảng cách giữa các mức theo công thức= (Maximum – Manimum)/n=(5-1)/5=0,8. Từ đó các giá trị trung bình trong thang đo được quy ước theo bảng 2.2 như sau:

Bảng 2.2. Quy ước thang đo các mức độ đánh giá Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục phòng chống ma túy.

Bảng quy ước 2.2 sẽ được sử dụng để phân tích đánh giá trong suốt chương 2 của đề tài này.

2.3. Hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy tại các Trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương

2.3.1. Mức độ cần thiết và tầm quan trọng của hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy tại các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương

Bảng 2.3. Mức độ cần thiết và tầm quan trọng của hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy tại các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo

Như đã phân tích trong chương một, giáo dục Phòng chống ma túy ở trường phổ thông là một trong các hoạt động giáo dục có vị trí quan trọng trong quá trình giáo dục hình thành và phát triển toàn diện nhân cách thế hệ trẻ trong giai đoạn hiện nay. Kết quả nghiên cứu ở bảng 2.4 cho thấy hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy đều được CB-GV tại các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương đánh giá ở mức độ rất cần thiết và rất quan trọng với mức ĐTB rất cao (4,67 và 4,62).

Tuy nhiên, qua trao đổi trực tiếp với một số GV chủ nhiệm ở một số đơn vị về tầm quan trọng của công tác này, thì bản thân họ trao đổi: hiện nay có quá nhiều hoạt động được đưa vào nhà trường, nếu thêm hoạt động Phòng chống ma túy sẽ làm nặng nề thêm hoạt động quản lý của nhà trường. Từ thực tế trên ta thấy rằng, nhận thức về mức độ cần thiết và tầm quan trọng của hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy trong trường Trung học cơ sở hiện nay chưa được hiểu một cách thống nhất, còn một bộ phận nhỏ Cán bộ quản lý và GV cho rằng công tác này là ít quan trọng, là nặng nề. Vì vậy, cần phải làm cho đội ngũ Cán bộ quản lý và GV nhà trường có nhận thức đúng đắn và thống nhất về tầm quan trọng của hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy, vì có nhận thức đúng và thống nhất thì mới có thể quản lý và tổ chức hoạt động một cách có hiệu quả.

2.3.2. Mục tiêu của hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy tại các Trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương

Mục tiêu của hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy ở các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo được thể hiện trong bảng 2.4 như sau:

Bảng 2.4. Mục tiêu của hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy ở các Trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục phòng chống ma túy.

Mục tiêu cụ thể của công tác giáo dục phòng chống ma túy trong nhà trường phổ thông được thể hiện ở cả ba mặt: Giáo dục về mặt tri thức; Giáo dục về kỹ năng, hành vi và giáo dục về mặt thái độ. Ba mặt này được người nghiên cứu cụ thể hóa thành 12 tiêu chí và yêu cầu các khách thể tham gia khảo sát đưa ra nhận định hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy tại đơn vị công tác của mình có xây dựng các nội dung này hay không. Kết quả sau khi xử lý được thể hiện trong bảng 2.4.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, tất cả các tiêu chí đều có sự lựa chọn “Có” với tỉ lệ trên 88%. Đây là tỉ lệ rất cao, chứng tỏ các Trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo tỉnh Bình Dương đã xác định khá đầy đủ mục tiêu giáo dục Phòng chống ma túy cho HS. Đây là kết quả đáng mừng bởi mục tiêu chính là kim chỉ nam cho hoạt động dạy học và giáo dục, giúp cho GV thiết kế nội dung, phương pháp giảng dạy, phương pháp đánh giá HS, giúp cho HS biết mình cần học cái gì, chủ động lập kế hoạch học tập. Đồng thời cũng là cơ sở để đánh giá hiệu quả của hoạt động giáo dục của nhà trường. Do đó, việc xác định đầy đủ mục tiêu giáo dục chính là bước đầu để đánh giá hiệu quả của hoạt động giao dục Phòng chống ma túy.

Mặc dù vậy, ở tất cả các nội dung đều vẫn còn tồn tại tỉ lệ nhất định khách thể nghiên cứu cho rằng trường mình không xây dựng mục tiêu giáo dục Phòng chống ma túy ở các nội dung này (4,8% đến 11,3%) như: Giúp HS hiểu và nắm vững luật pháp Việt Nam đối với các tội phạm về ma túy (11,3%); Giúp HS hiểu được những thủ đoạn lôi kéo, rủ rê các em vào con đường nghiện hút ma túy (10,5%); Giúp HS hiểu và biết cách phòng chống tệ nạn ma túy với đầy đủ trách nhiệm của mình (10,5%); Giúp HS biết giữ mình, không bị cám dỗ, lôi kéo vào tình trạng nghiện; không hút thuốc lá, uống rượu bia, không hút hít, tiêm chích ma túy (10,5%). Tỉ lệ này tuy không quá cao nhưng nó cũng chứng tỏ vẫn còn một số đơn vị chưa quán triệt đầy đủ các mục tiêu của hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy, điều này phần nào ảnh hưởng đến hiệu quả của hoạt động này ở các trường Trung học cơ sở.

2.3.3. Nội dung của hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy tại các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương

Qua khảo sát, hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy tại các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo được thể hiện qua bảng 2.5 như sau:

Bảng 2.5. Nội dung của hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy tại các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục phòng chống ma túy.

Các mục tiêu đã xác định ở trên sẽ được cụ thể hóa thành các nội dung giáo dục, hay nói cách khác, nếu thực hiện đầy đủ và hiệu quả các nội dung này sẽ đạt được mục tiêu giáo dục Phòng chống ma túy. Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong 5 nội dung giáo dục Phòng chống ma túy được liệt kê, chỉ có 2 nội dung được các khách thể nghiên cứu đánh giá là được các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo thực hiện thường xuyên là: “Một số kỹ năng sống nhằm giúp HS có khả năng tự bảo vệ cho bản thân khỏi bị lôi cuốn vào tệ nạn ma túy” (ĐTB = 3,45) và “Một số nội dung khác nhằm hình thành ở HS thái độ và hành vi cần có trước những vấn đề liên quan đến ma túy, xây dựng lối sống lành mạnh” (ĐTB = 3,42). Như vậy, có thể thấy các trường Trung học cơ sở rất quan tâm đến việc hình thành thái độ và kỹ năng sống cho HS, từ đó giúp HS xây dựng lối sống lành mạnh, tránh xa tệ nạn ma túy. Mặc dù vậy, cả 2 nội dung này đều có mức ĐTB khá gần với mức độ đánh giá thực hiện ở mức độ “thỉnh thoảng”, do đó đây vẫn chưa phải là kết quả đáp ứng được sự mong đợi trong công tác giáo dục Phòng chống ma túy tại các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo.

Ba nội dung còn lại với ĐTB từ 3,28 đến 3,33 chứng tỏ những nội dung này chỉ được các trường Trung học cơ sở quan tâm thực hiện ở mức độ “thỉnh thoảng”. Cả nội dung này đều thuộc về lĩnh vực kiến thức, cho thấy các trường chưa thực sự quan tâm đến việc giáo dục kiến thức cho HS. Mặc dù cái đích cuối cùng của hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy là giáo dục hành vi cho HS, nhưng hành vi đúng đắn sẽ phải dựa trên nền tảng là nhận thức sâu sắc, do đó giáo dục HS những kiến thức về ma túy, hiện tượng nghiện ma túy cũng như háp luật Việt Nam với tội phạm ma túy vẫn là những nội dung quan trọng. Kết quả nghiên cứu này thực sự rất đáng được quan tâm để nâng cao hơn nữa hiệu quả GD Phòng chống ma túy trong nhà trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo.

Bên cạnh đó, xem xét kĩ tỉ lệ lựa chọn các mức độ đánh giá có thể nhận thấy cả 5 nội dung đều có tổng tỉ lệ lựa chọn mức độ thực hiện từ “thỉnh thoảng” đến “không thực hiện” khá cao, từ 42,7% đến 65,3% (tức là khoảng 50% mẫu khảo sát). Điều này một lần nữa khẳng định mặc dù các trường Trung học cơ sở đã xác định được khá đầy đủ các mục tiêu giáo dục Phòng chống ma túy nhưng lại chưa thực sự hiện thực hóa mục tiêu này thành các nội dung giáo dục một cách cụ thể.

2.3.4. Hình thức tổ chức hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy tại các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương

Về hình thức tổ chức hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy tại các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo được tổ chức qua các nội dung thể hiện ở bảng 2.6:

Bảng 2.6. Hình thức tổ chức hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy tại các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục phòng chống ma túy.

Hình thức tổ chức dạy học là hình thức tổ chức quá trình dạy học chuyên nghiệp trong các cơ sở giáo dục chuyên trách, trong đó diễn ra sự liên kết một cách thống nhất giữa hoạt động dạy và hoạt động học và sự tương tác đa chiều giữa những chủ thể dạy và học. Mỗi hình thức tổ chức dạy học thực hiện một nội dung nhất định, được tổ chức theo một trình độ nhất định, với một chế độ học tập và trong một không gian, thời gian nhất định nhằm đạt được mục tiêu dạy và học đã đặt ra. Vận dụng vào hoạt động giáo dục có thể nói hình thức tổ chức dạy học là cách sắp xếp, tổ chức các biện pháp sư phạm. Hình thức tổ chức dạy học thay đổi tùy theo mục đích, nhiệm vụ dạy học và tùy theo số lượng người học. Như vậy, với mục tiêu cũng như nội dung giáo dục Phòng chống ma túy đa dạng và phong phú như đã xác định ở trên, để đạt được hiệu quả đòi hỏi cần phải thực hiện đa dạng các hình thức tổ chức dạy học và giáo dục.

Kết quả nghiên cứu ở bảng 2.6 cho thấy có 3/5 hình thức được các trường Trung học cơ sở thực hiện ở mức độ “thường xuyên” với ĐTB từ 3,52 đến 3,69 là: “Thông qua dạy học các môn học” (ĐTB = 3,69); “Qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp” (ĐTB = 3,59) và “Qua sinh hoạt tập thể” (ĐTB = 3,52). Có thể nói đây là 3 hình thức dạy học và giáo dục cơ bản nhất thường xuyên được áp dụng trong các trường Trung học cơ sở không chỉ trong hoạt động GD Phòng chống ma túy mà còn trong tất cả các hoạt động giáo dục khác trong nhà trường. Do đó, kết quả nghiên cứu này cũng không quá bất ngờ.

Hai hình thức tổ chức còn lại với ĐTB lần lượt là 3,33 và 3,31 được đánh giá thực hiện ở mức độ “thỉnh thoảng” bao gồm: “Qua các hoạt động xã hội” và “Qua hoạt động ngoại khóa”. Hai hình thức tổ chức dạy học và giáo dục này hiện đang được các nhà Giáo dục học khuyến khích sử dụng, đặc biệt là trong các hoạt động giáo dục đạo đức, giáo dục kỹ năng sống và giá trị sống cho HS, bởi những hiệu quả mà nó đem lại. Hình thức giáo dục này giúp HS được học qua những trải nghiệm thực tế. Việc trải qua quá trình khám phá kiến thức và tìm giải pháp giúp phát triển năng lực cá nhân và tăng cường sự tự tin; việc học cũng trở nên thú vị hơn với học sinh và việc dạy trở nên thú vị hơn với giáo viên. Tuy nhiên, hai hình thức này lại chưa được các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo quan tâm thực hiện. Đây là điều khá đáng tiếc, nhưng cũng cần phải chú ý thêm rằng để tổ chức hiệu quả 2 hình thức này đòi hỏi cần có sự phối hợp của các tổ chức xã hội khác trong công tác giáo dục HS.

2.3.5. Biện pháp giáo dục Phòng chống ma túy tại các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục phòng chống ma túy.

Bảng 2.7. Biện pháp giáo dục Phòng chống ma túy tại các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo

Kết quả nghiên cứu ở bảng 2.7 cho thấy, có 12/14 phương pháp tổ chức giáo dục Phòng chống ma túy cho HS đã được các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo tổ chức thực hiện ở mức độ “thường xuyên” với ĐTB từ 2,69 đến 3,33. Xếp ở vị trí đầu tiên là: “Tuyên truyền thông qua các buổi sinh hoạt chủ nhiệm, chào cờ, HĐGDNGLL” (ĐTB = 3,33). Công tác truyền thông – tuyên truyền là một phương pháp được thực hiện nhằm chuyển biến về nhận thức và ý thức trách nhiệm phòng, chống tệ nạn ma túy trong nhà trường. Có thể nói đây là phương pháp giáo dục Phòng chống ma túy cơ bản được thực hiện trong nhiều năm qua ở các trường phổ thông nói chung và các trường Trung học cơ sở nói riêng. Hàng năm, các trường đều phối hợp với các Sở ban ngành, Đoàn thể tổ chức tuyên truyền về tệ nạn ma túy cho HS thông qua các buổi sinh hoạt dưới cờ hoặc thông qua các buổi sinh hoạt chủ nhiệm, các chủ đề sinh hoạt giáo dục ngoài giờ lên lớp.

“Tổ chức ký cam kết giữa HS và nhà trường, có chữ ký của Cha mẹ học sinh” là phương pháp được thực hiện “thường xuyên” và xếp ở vị trí thứ 2 với ĐTB = 3,30. Thực tế, đây là phương pháp “truyền thống” được nhiều trường thực hiện vào đầu mỗi năm học. Mặc dù vậy, có thể nói việc ký cam kết này tuy được thực hiện thường xuyên nhưng hiệu quả của phương pháp này cũng cần phải xem xét một cách thấu đáo, bởi hiện nay việc tổ chức ký cam kết gần như được thực hiện một cách hình thức, chưa thực sự đáp ứng được mục tiêu đặt ra của phương pháp.

Với ĐTB = 3,25, “Thi vẽ tranh về ma túy” là phương pháp được xếp ở vị trí thứ 3. Đây cũng là một cách thức tổ chức khá quen thuộc và hiệu quả được thực hiện ở các trường phổ thông trong công tác GD Phòng chống ma túy. Thông qua hoạt động vẽ tranh, HS được thể hiện khả năng sáng tạo phong phú thông qua các tác phẩm với nội dung tuyên truyền về sự nguy hiểm của ma túy, các hình thức sử dụng ma túy như: hút, tiêm chích heroin, sử dụng thuốc lắc, ma túy tổng hợp; nhận thức của người dân về việc tự bảo vệ bản thân, gia đình và xã hội trước tệ nạn ma túy; hậu quả của ma túy đối với sức khỏe, tính mạng con người; chống kỳ thị, phân biệt đối xử người cai nghiện ma túy…

Một số các biện pháp khác, tuy không có thứ hạng cao nhưng vẫn được đánh giá ở mức độ “thường xuyên” tổ chức và có ĐTB khá gần với các biện pháp xếp ở những thứ hạng đầu tiên, có thể kể đến như: Tổ chức giảng dạy lồng ghép các nội dung phòng chống ma túy vào các môn học (ĐTB = 3,23); Thi viết bài tìm hiểu về ma túy, Luật phòng chống ma túy (ĐTB = 3,21); Tổ chức sưu tầm hình ảnh về vấn đề ma túy (ĐTB = 3,11),…

Hai nội dung xếp ở vị trí cuối cùng và cũng là hai nội dung được đánh giá thực hiện ở mức độ “thỉnh thoảng” bao gồm: Tham quan thực tế các trung tâm cai nghiện ma túy (ĐTB = 2,56); Thành lập đội đặc nhiệm phòng chống ma túy trong trường học (ĐTB = 2,58). Tỉ lệ “không thực hiện” ở hai nội dung này cũng khá cao (lần lượt là 22,6% và 24,2%). Đều này chứng tỏ hai biện pháp này chưa thực sự được các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo quan tâm thực hiện. Việc tham quan các trung tâm cai nghiện ma túy sẽ giúp HS có những trải nghiệm thực tế từ đó có những nhận thức và thái độ đúng đắn với ma túy và hiện tượng nghiện ma túy, từ đó có những hành vi thích hợp. Việc ‘Thành lập đội đặc nhiệm phòng chống ma túy trong trường học” giúp công tác Phòng chống ma túy trở thành một phần trong hoạt động hàng ngày của nhà trường, thực sự đưa công tác Phòng chống ma túy trở nên thiết thực hơn. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục phòng chống ma túy.

2.4. Quản lý hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy tại các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương

2.4.1. Mức độ quan trọng của công tác quản lý hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy tại các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương

Bảng 2.8. Mức độ quan trọng của công tác quản lý hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy tại các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo

Bên cạnh các biện pháp quản lý công tác dạy – học, giáo dục đạo đức, các nhà quản lý trường Trung học cơ sở cần phải quan tâm tới quản lý công tác giáo dục PCMT, đặc biệt trong hoàn cảnh xã hội đang phải đối mặt với tình hình gia tăng của tệ nạn xã hội. Nhà trường phải quan tâm tới việc xây dựng các biện pháp quản lý công tác giáo dục Phòng chống ma túy xâm nhập vào nhà trường đảm bảo cho HS một môi trường học tập và rèn luyện an toàn. Do đó có thể nói công tác quản lý giáo dục Phòng chống ma túy có vai trò rất quan trọng trong nhà trường Trung học cơ sở. Nhận thức được điều này sẽ là cơ sở thúc đẩy CB – GV các trường Trung học cơ sở tích cực, chủ động hơn trong công tác giáo dục Phòng chống ma túy.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, với ĐTB = 4,28 cho phép chúng tôi đi đến kết luận CBGV đánh giá công tác quản lý hoạt động GD Phòng chống ma túy ở trường Trung học cơ sở là “rất quan trọng”. Quan sát tỉ lệ lựa chọn các đánh giá cũng củng cố thêm kết luận này khi có tới 85,5% CBGV đánh giá công tác này là “quan trọng” và “rất quan trọng”. Mặc dù vậy, vẫn còn 12,9% CBGV cho rằng công tác này “không quan trọng” hoặc chỉ quan trọng ở mức độ “bình thường”. Mặc dù tỉ lệ này không quá cao, nhưng cho thấy vẫn còn tỉ lệ nhất định CBGV chưa nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của công tác quản lý hoạt động GD Phòng chống ma túy ở nhà trường, điều này có thể ảnh hưởng đến hiệu quả của công tác GD Phòng chống ma túy.

2.4.2. Lập kế hoạch hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy tại các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương

Lập kế hoạch hoạt động Phòng chống ma túy căn cứ vào nhiệm vụ năm học và phù hợp với điều kiện cụ thể của từng đơn vị là cơ sở để quản lý một cách khoa học, hiệu quả, chất lượng hoạt động tốt. Vì vậy, trước hết ta cần tìm hiểu thực trạng việc xây dựng kế hoạch hoạt động Phòng chống ma túy trong các trường Trung học cơ sở. Điều này đồng thời cũng thể hiện mức độ quan tâm, ưu tiên đối với hoạt động Phòng chống ma túy của Ban giám hiệu nhà trường. Mức độ thực hiện và kết quả thực hiện của việc lập kế hoạch hoạt động Phòng chống ma túy theo bảng 2.9 như sau:

Bảng 2.9. Lập kế hoạch hoạt động Phòng chống ma túy trong các trường Trung học cơ sở huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục phòng chống ma túy.

Kết quả nghiên cứu cho thấy, mức độ thực hiện ở cả 6 nội dung trong công tác quản lý nội dung, chương trình, kế hoạch hoạt động giáo dục phòng chống ma túy ở trường Trung học cơ sở có ĐTB dao động từ 2,93 đến 3,19 cho phép chúng tôi đi tới kết luận công tác này chưa được quan tâm thực hiện thường xuyên trong nhà trường, mức độ thực hiện chỉ rơi vào mức ‘thỉnh thoảng”. Đây là kết quả rất đáng quan tâm, bởi nó cho thấy mặc dù GV cũng như các Cán bộ quản lý giáo dục trong nhà trường đã nhận thức được tầm quan trọng của công tác giáo dục Phòng chống ma túy và công tác quản lý giáo dục Phòng chống ma túy nhưng điều đó lại chưa được thể hiện ra ngoài bằng những hành động cụ thể, thực tiễn khi mà tất cả những hoạt động cần thiết như: Xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy năm, tháng, tuần; Tổ chức nghiên cứu và phổ biến luật Phòng chống ma túy, những kiến thức liên quan đến ma túy cho CB, GV, HS trong trường; Quản lý chương trình hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy thông qua tổ chủ nhiệm, BCĐ giáo dục Phòng chống ma túy; Tổ chức cập nhật kiến thức về lĩnh vực Phòng chống ma túy cho CB, GV, bảo vệ, HS trong nhà trường… đều mới chỉ “thỉnh thoảng” được thực hiện. Đặc biệt, xem xét kĩ tỉ lệ lựa chọn các mức độ, có thể nhận thấy, ở tất cả các nội dung này, tỉ lệ lựa chọn mức độ “rất thường xuyên” thực hiện đều thấp hơn 6% và tổng tỉ lệ lựa chọn mức độ “hiếm khi” đến “không thực hiện” luôn cao hơn 16%. Như đã phân tích ở chương 1, hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy trong nhà trường Trung học cơ sở có vị trí rất quan trọng, đảm bảo môi trường an toàn, lành mạnh cho sự phát triển của HS. Nhưng những số liệu này rõ ràng cho thấy các trường Trung học cơ sở chưa thực sự dành sự quan tâm đúng mực cho công tác quản lý hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy trong nhà trường. Điều này sẽ ảnh hưởng tới hiệu quả của hoạt động này đồng thời phần nào ảnh hưởng tới hiệu quả của công tác dạy học và giáo dục trong nhà trường.

Kết quả nghiên cứu ở bảng kết quả trên cho thấy, ĐTB kết quả thực hiện của các nội dung trong công tác quản lý nội dung, chương trình, kế hoạch hoạt động giáo dục phòng chống ma túy ở trường Trung học cơ sở trải dài từ 3,28 đến 3,46 đồng nghĩa với việc mức độ hiệu quả của các nội dung này được các CBGV đánh giá từ mức trung bình đến khá. Trong đó, xếp ở vị trí đầu tiên và cũng là nội dung duy nhất được đánh giá hiệu quả thực hiện ở mức độ “khá” là nội dung “Xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy năm, tháng, tuần” (ĐTB = 3,46). Kết quả này cho thấy một số trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương đã thường xuyên lập kế hoạch tổ chức để GV thực hiện theo tháng, theo học kì và theo năm học một cách nghiêm túc và bài bản. Đây là kết quả khá đáng mừng vì nếu nhà trường lập kế hoạch tổ chức một cách nghiêm túc thì việc thực hiện của GV mới nghiêm chỉnh, đầy đủ; còn nếu chỉ đạo thực hiện theo kiểu phong trào thì chắc chắn GV chỉ thực hiện một cách hình thức, chiếu lệ và không đem lại hiệu quả GD như mong muốn. Tuy nhiên, ĐTB của nội dung này là 3,46 được xếp vào mức độ “khá” nhưng ĐTB này cũng khá gần với mức đánh giá “trung bình” cho nên chúng tôi cho rằng đây vẫn chưa phải là nội dung đáp ứng được sự mong đợi. Bên cạnh đó, quan sát tỉ lệ lựa chọn cũng nhận thấy, có 14,6% thực hiện nội dung này chỉ ở mức độ “yếu” và “kém” cho thấy vẫn còn một bộ phận Cán bộ quản lý chưa thực sự quan tâm quản lý việc thực hiện chương trình của GV trong trường. Sở dĩ như vậy vì một số Hiệu trưởng chưa nhận thức đúng nguy cơ ma túy xâm nhập vào nhà trường và vai trò của công tác GD phòng, chống ma túy trong học đường. Có 5/6 nội dung còn lại chỉ được các CBGV tham gia khảo sát đánh giá hiệu quả thực hiện ở mức độ “trung bình” như: Quản lý chương trình hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy thông qua tổ chủ nhiệm, BCĐ giáo dục Phòng chống ma túy (ĐTB = 3,37); Xây dựng các điều kiện vật chất, tài chính phục vụ hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy (ĐTB = 3,28); Tổ chức nghiên cứu và phổ biến luật Phòng chống ma túy, những kiến thức liên quan đến ma túy cho CB GV, HS trong trường (ĐTB = 3,38)…

Điều này cho thấy, các nội dung này chưa được quan tâm thực hiện thường xuyên và hiệu quả thực hiện cũng chưa cao.

Tóm lại, kết quả nghiên cứu cho thấy, công tác quản lý nội dung, chương trình, kế hoạch hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy ở các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo tỉnh Bình Dương được thực hiện ở mức độ “thỉnh thoảng” và hiệu quả thực hiện ở mức độ “trung bình”. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục phòng chống ma túy.

2.4.3. Tổ chức chỉ đạo thực hiện kế hoạch hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy tại các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương

Bảng 2.10. Công tác quản lý việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy tại các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương

Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong số 4 nội dung của công tác này, có 2 nội dung được CBGV đánh giá các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo thực hiện “thường xuyên” là “Chỉ đạo GVCN phối hợp với ĐoànTN, giám thị, GVBM tổ chức các HĐGDNGLL” (ĐTB = 3,54) và “Yêu cầu GVCN thực hiện các nội dung công tác của người GVCN (tìm hiểu HS, xây dựng tập thể lớp tự quản, thường xuyên liên hệ với cha mẹ HS….)” (ĐTB = 3,52). Điều này cho thấy, Hiệu trưởng các trường Trung học cơ sở đã quan tâm tới tổ chức cũng như chỉ đạo thực hiện kế hoạch hoạt đông GD Phòng chống ma túy thông qua lực lượng GVCN. Tuy nhiên, có thể nhận thấy, các Hiệu trưởng mới chỉ dừng lại ở việc chỉ đạo, yêu cầu các GVCN thực hiện công tác giáo dục học sinh nói chung, chưa có những chỉ đạo, yêu cầu trực tiếp trong công tác giáo dục Phòng chống ma túy.

Hai nội dung còn lại với ĐTB lần lượt là 3,31 và 3,20 được đánh giá thực hiện ở mức độ “thỉnh thoảng” bao gồm “Chỉ đạo tổ chuyên môn tổ chức hoạt động ngoại khóa bộ môn, HĐGDNGLL theo đặc thù của bộ môn” và “Tổ chức chỉ đạo các lực lượng giáo dục trong nhà trường phối hợp thực hiện hoạt động Phòng chống ma túy”. Có thể thấy rõ đây là những nội dung gắn liền trực tiếp với công tác giáo dục Phòng chống ma túy đáng tiếc lại chưa được các Hiệu trưởng quan tâm thực hiện một cách thường xuyên.

Quan sát kết quả nghiên cứu ở bảng trên cho thấy, hiệu quả thực hiện công tác Quản lý việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch hoạt động GD Phòng chống ma túy ở các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương được đánh giá ở mức độ “khá”. Điều này được minh chứng bởi ĐTB của tất cả các nội dung đều từ 3,53 trở lên và tỉ lệ lựa chọn mức độ “khá” luôn cao hơn so với các mức độ còn lại. Tương ứng với kết quả nghiên cứu về mức độ thực hiện, hiệu quả thực hiện của hai nội dung “Yêu cầu GVCN thực hiện các nội dung công tác của người GVCN (tìm hiểu HS, xây dựng tập thể lớp tự quản, thường xuyên liên hệ với cha mẹ HS….)” và “Chỉ đạo GVCN phối hợp với Đoàn TN, giám thị, GVBM tổ chức các HĐGDNGLL” vẫn được đánh giá cao hơn so với hai nội dung còn lại mặc dù cùng được đánh giá ở mức độ ‘khá”.

Bên cạnh đó, quan sát bảng số liệu có thể thấy vẫn còn tồn tại tỉ lệ nhất định các CBGV đánh giá mức độ thực hiện các nội dung của công tác này chỉ dừng lại ở mức độ yếu kém. Tuy tỉ lệ này không quá cao nhưng cũng cần phải quan tâm, bởi việc xây dựng kế hoạch và đặc biệt là việc tổ chức, thực hiện kế hoạch hoạt động GD Phòng chống ma túy là rất quan trọng. Nếu Hiệu trưởng cùng Ban giám hiệu nhà trường không chỉ đạo thực hiện một cách nghiêm túc, sát sao thì kế hoạch GD Phòng chống ma túy vẫn chỉ là kế hoạch trên giấy, không thể trở đưa vào áp dụng trong thực tiễn, hoặc nếu có thì cũng chỉ được thực hiện một cách đối phó, ít hiệu quả. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục phòng chống ma túy.

2.4.4. Quản lý sự phối hợp các lực lượng trong và ngoài nhà trường trong hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy tại các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương

Tham gia công tác GD học sinh không chỉ có GV mà còn rất nhiều lực lượng GD khác ở trong và ngoài nhà trường. Lực lượng GD trong nhà trường bao gồm công đoàn, Đoàn TNCS HCM, Đội TNTP.HCM,… Lực lượng GD ngoài nhà trường bao gồm: gia đình, chính quyền địa phương, công an, Hội phụ nữ, y tế, Mặt trận Tổ quốc, Hội chữ thập đỏ,…. Việc quan trọng trong công tác quản lý của Hiệu trưởng là phải phối hợp được các lực lượng này để huy động sức mạnh tổng hợp của tất cả các lực lượng vào công tác GD học sinh, phòng chống ma túy xâm nhập vào nhà trường.

Công tác quản lý sự phối hợp các lực lượng trong và ngoài nhà trường trong hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy tại các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương được thể hiện qua bảng 2.11 như sau:

Bảng 2.11. Công tác quản lý sự phối hợp các lực lượng trong và ngoài nhà trường trong hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy tại các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương

Một trong những nội dung quan trọng của hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy trong nhà trường Trung học cơ sở là công tác phối hợp với các lực lượng giáo dục trong nhà trường (cán bộ Đoàn, Đội, giám thị, ban đại diện cha mẹ HS, GVCN, GVBM, …). Vì đây là lực lượng trực tiếp tổ chức các hoạt động giáo dục học sinh, giữ vai trò quyết định chất lượng giáo dục trong nhà trường, cho nên Hiệu trưởng cần phải quan tâm tổ chức, động viên lực lượng này tham gia tổ chức các hoạt động giáo dục cho học sinh. Theo kết quả tổng hợp thống kê ở bảng… cho thấy: Cả 3 nội dung liên quan đến việc phối hợp các lực lượng giáo dục trong nhà trường đều đạt mức độ “thường xuyên” với ĐTB từ 3,41 đến 3,58, bao gồm: “Phối hợp chặt chẽ với Đoàn trường, GVCN, GVBM trong việc xây dựng nề nếp kỷ luật của nhà trường” (ĐTB = 3,58); “Phối hợp với các lực lượng GD trong nhà trường” (ĐTB = 3,48); “Phổ biến cho cán bộ Đoàn, Đội, GT, Ban đại diện Cha mẹ học sinh về luật Phòng chống ma túy và những kiến thức liên quan đến ma túy” (ĐTB = 3,41). Có thể nói đây chính là những yêu cầu cơ bản của công tác quản lý giáo dục Phòng chống ma túy trong gia trường và đã được Ban Giám hiệu quan tâm thực hiện thường xuyên. Mặc dù vậy, quan sát bảng số liệu tần số lựa chọn các mức độ thực hiện, có thể thấy vẫn còn tồn tại tỉ lệ nhất định CBGV cho rằng trường mình công tác “không bao giờ” hoặc “hiếm khi” thực hiện những nội dung này. Như đã phân tích ở trên, đây là những nội dung cơ bản của công tác quản lý giáo dục Phòng chống ma túy hơn nữa những nội dung này hàng năm đều được cơ quan quản lý Giáo dục Đào tạo các cấp chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện. Vì vậy, nếu vẫn còn tồn tại tỉ lệ chưa thực hiện hoạt động này cho thấy vẫn còn có những trường chưa thực sự quan tâm tới việc quản lý công tác giáo dục Phòng chống ma túy trong nhà trường.

Ở các nội dung còn lại liên quan tới việc phối hợp với các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường trong công tác giáo dục Phòng chống ma túy, có thể nhận thấy các nội dung này được đánh giá thực hiện ở mức độ từ “thỉnh thoảng” đến “thường xuyên”. Cụ thể như sau: Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục phòng chống ma túy.

Ba nội dung được đánh giá ở mức độ thực hiện “thường xuyên” bao gồm: Tổ chức khám sức khoẻ định kỳ vào đầu năm học cho HS để phát hiện kịp thời những HS có biểu hiện sử dụng ma túy (ĐTB = 3,52); Ký kết hợp đồng trách nhiệm với Công an địa phương trong việc thực hiện công tác Phòng chống ma túy trong HS (ĐTB = 3,42); Phối hợp với chính quyền địa phương, công an (ĐTB = 3,41).

Bốn nội dung còn lại chỉ được đánh giá thực hiện ở mức độ “thỉnh thoảng” bao gồm: “Tổ chức các hình thức tuyên truyền những kiến thức về ma túy và tác hại của nó tới HS, GV và cộng đồng dân cư” (ĐTB = 3,33); “Hạn chế các hàng quán, tụ điểm vui chơi giải trí gần trường học (quán nước, trò chơi điện tử, bi da…) nhằm hạn chế việc rủ rê, buôn bán, sử dụng ma túy trong HS” (ĐTB = 3,33); “Phối hợp với trung tâm y tế, Hội chữ thập đỏ” (ĐTB = 3,29); “Thông qua hội đồng giáo dục địa phương vận động các lực lượng xã hội (Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên, Mặt trận Tổ quốc…) tham gia quản lý, giáo dục HS ở cộng đồng dân cư” (ĐTB = 3,27).

Việc hạn chế các hàng quán, tụ điểm vui chơi giải trí gần trường học (quán nước, trò chơi điện tử, bi da…) là việc làm rất cần thiết. Trong thực tế , việc làm này chưa được các đơn vị quan tâm nhiều. Hơn nữa công tác phối hợp ở một số nơi còn lỏng lẻo, nhiều lần các đơn vị trường học đề nghị sự phối hợp, giúp đỡ của các cơ quan chức năng nhưng chưa được phối hợp tốt. Ở những tụ điểm này, sự tiềm ẩn của bóng dáng ma túy không phải là không có.

Bên cạnh đó việc thông qua hội đồng giáo dục địa phương vận động các lực lượng xã hội tham gia quản lý, giáo dục HS ở cộng đồng dân cư là việc làm có ý nghĩa nhằm tranh thủ sự hỗ trợ của địa phương trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy cho đối tượng thanh thiếu niên ngoài trường học hoặc cùng với nhà trường giám sát hoạt động của HS trong thời gian tham gia sinh hoạt tại địa phương. Tuy nhiên, một tỷ lệ khá lớn số trường học không thực hiện hoặc thực hiện không thường xuyên (tổng tỉ lệ lựa chọn từ “không thực hiện” đến thực hiện ở mức độ “thỉnh thoảng là 58,1%).

Việc ký kết hợp đồng trách nhiệm với Công an địa phương thực hiện công tác Phòng chống ma túy trong HS nhằm đảm bảo môi trường an ninh quanh trường học, để nhà trường có điều kiện để tổ chức các hoạt động giáo dục an toàn, không bị sự quấy rối của những phần tử xấu ở địa phương, góp phần thực hiện có hiệu quả công tác Phòng chống ma túy trong trường học. Tuy nhiên, qua khảo sát có tới 48,4% khách thể nghiên cứu đánh giá các trường Trung học cơ sở chưa thực hiện thường xuyên việc làm này. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục phòng chống ma túy.

Những hoạt động này đều là những hoạt động phức tạp, đòi hỏi phải có sự đồng thuận phối hợp của rất nhiều các cơ quan, lực lượng xã hội ở địa phương do đó việc thực hiện chưa thường xuyên cũng là điều dễ hiểu. Tuy nhiên, cũng cần phải phân tích thêm, những hoạt động này nếu được thực hiện thường xuyên và hiệu quả sẽ ảnh hưởng rất tốt tới công tác Phòng chống ma túy trong nhà trường, nó giúp công tác giáo dục Phòng chống ma túy vừa phát triển mạnh về chiều rộng cũng như chiều sâu, huy động được sức mạnh của toàn thể địa phương vào công tác Phòng chống ma túy.

Quan sát kết quả nghiên cứu ở bảng 2.11 có thể nhận thấy, tất cả các nội dung trong công tác Quản lý sự phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường trong công tác giáo dục Phòng chống ma túy ở các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương có ĐTB trải dài từ 3,48 đến 3,82 cho phép chúng tôi kết luận các CBGV tham gia khảo sát đánh giá hiệu quả của công tác này đạt mức độ “khá”. Trong đó, ĐTB cao nhất thuộc về các yếu tố liên quan đến việc phối hợp với các lực lượng giáo dục trong nhà trường như: “Phối hợp chặt chẽ với Đoàn trường, GVCN, GVBM trong việc xây dựng nề nếp kỷ luật của nhà trường” (ĐTB = 3,82); “Tổ chức khám sức khoẻ định kỳ vào đầu năm học cho HS để phát hiện kịp thời những HS có biểu hiện sử dụng ma túy” (ĐTB = 3,77); “Phối hợp với các lực lượng GD trong nhà trường” (ĐTB = 3,71). Đây cũng là những nội dung được đánh giá là thực hiện “thường xuyên” trong nhà trường.

Mặc dù vẫn được đánh giá ở mức độ thực hiện “khá” nhưng có ĐTB thấp hơn các nội dung còn lại là các yếu tố: “Hạn chế các hàng quán, tụ điểm vui chơi giải trí gần trường học (quán nước, trò chơi điện tử, bi da…) nhằm hạn chế việc rủ rê, buôn bán, sử dụng ma túy trong HS” (ĐTB = 3,48); “Phối hợp với trung tâm y tế, Hội chữ thập đỏ” (ĐTB = 3,51); “Thông qua hội đồng giáo dục địa phương vận động các lực lượng xã hội (Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên, Mặt trận Tổ quốc …) tham gia quản lý, giáo dục HS ở cộng đồng dân cư” (ĐTB = 3,55). Có thể thấy, đây là những nội dung liên quan đến việc phối hợp các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường và cần phải có sự phối hợp của rất nhiều các bên liên quan.

Tóm lại, công tác Quản lý sự phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường trong công tác giáo dục Phòng chống ma túy đã được các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương thực hiện “thường xuyên” và khá hiệu quả các nội dung phối hợp các lực lượng giáo dục trong nhà trường. Việc phối hợp các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường, đặc biệt là các nội dung phát triển chiều sâu của công tác giáo dục Phòng chống ma túy chưa được các trường quan tâm thực hiện thường xuyên.

2.4.5. Quản lý việc kiểm tra, đánh giá thực hiện kế hoạch hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy tại các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục phòng chống ma túy.

Công tác quản lý việc kiểm tra, đánh giá thực hiện kế hoạch hoạt động GD Phòng chống ma túy tại các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo được thể hiện qua bảng 2.12 dưới đây:

Bảng 2.12. Quản lý việc kiểm tra, đánh giá thực hiện kế hoạch hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy tại các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương

Thực hiện tốt chức năng kiểm tra sẽ giúp người quản lý đánh giá đúng hoạt động của đối tượng. Nó thúc đẩy và điều chỉnh hoạt động của đối tượng quản lý. Trong quản lý hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy, nếu Hiệu trưởng không tổ chức kiểm tra thì hoạt động sẽ là hình thức, không hiệu quả. Do đó, hoạt động kiểm tra, đánh giá này cần phải được thực hiện thường xuyên và hiệu quả. Tuy nhiên, kết quả thống kê ở bảng 2 .15, cho thấy: các nội dung trong công tác quản lý việc kiểm tra, đánh giá thực hiện kế hoạch giáo dục Phòng chống ma túy, hầu hết các ý kiến đánh giá đều chưa cao. Cụ thể, có 4/5 nội dung có ĐTB từ 2,99 đến 3,30 tương ứng với mức độ thực hiện “thỉnh thoảng”, bao gồm:

“Công bố chế độ khen thưởng những GV, HS có thành tích đóng góp cho hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy” (ĐTB = 3,11). Việc công bố chế độ khen thưởng những GV, HS có thành tích đóng góp cho hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy là việc làm có ý nghĩa động viên phong trào, ghi nhận những thành tích đạt được của HS và GV trong phong trào thi đua, tuy nhiên chỉ có 4,8% ý kiến đánh giá là “rất thường xuyên” và 40,3% ý kiến đánh giá là “thường xuyên”.

“Công bố chế độ xử lý HS nghiện hút ma túy” (ĐTB = 3,03). Đây là quy định mà Bộ GDĐT nêu khá cụ thể tại hướng dẫn số 2201/CTCT, ngày 22/3/2002 về quy định xử lý HS- SV vi phạm ma túy. Gần đây là thông tư số 31/2009/TT. BGDĐT ngày 23/10/2009 về việc ban hành quy định về công tác phòng chống tệ nạn ma túy tại các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân. Tuy nhiên, khảo sát thống kê chỉ thể hiện có 3,2% ý kiến đánh giá là “rất thường xuyên” và 35,5% ý kiến đánh giá là “thường xuyên”.

Ở nội dung có lịch làm việc hàng tháng với GVCN, đội ngũ cán bộ tự quản, Bí thư đoàn trường, GT, Bảo vệ nhằm phát hiện kịp thời HS có biểu hiện nghiện ma túy, chỉ có 8,1% ý kiến đánh giá “rất thường xuyên” và 39,5% ý kiến đánh giá là “thường xuyên”. Điều đó, chứng minh rằng Hiệu trưởng không thường xuyên bố trí lịch làm việc với các bộ phận có liên quan trong nhà trường, làm hạn chế đến hoạt động ngăn ngừa từ xa việc học sinh vi phạm ma túy.

Một trong những nội dung nhằm giúp Hiệu trưởng quản lý việc kiểm tra, đánh giá thực hiện kế hoạch giáo dục Phòng chống ma túy đó là xây dựng hộp thư giám sát và phát hiện HS có liên quan đến ma túy. Về hoạt động này, kết quả thống kê cho thấy có 4,8% ý kiến đánh giá “rất thường xuyên” và 31,5% ý kiến đánh giá là “thường xuyên”, điều đó cho phép chúng tôi nhận định hoạt động này chưa được thực hiện nghiêm túc trong các nhà trường.

Nội dung duy nhất được các CBGV đánh giá được các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo thực hiện ở mức độ “thường xuyên” là “Yêu cầu GVCN kết hợp với GVBM phát hiện những HS có những biểu hiện bất thường” (ĐTB = 3,43). Có thể nói, việc quản lý học sinh, công tác nắm bắt thông tin, phát hiện các đối tượng vi phạm về ma túy thuộc về GVCN và GVBM là chủ yếu, bởi vì đây chính là lực lượng gần gũi với HS nhất. Tuy nhiên, vẫn có tới 44,4% ý kiến đánh giá các trường Trung học cơ sở chưa thường xuyên thực hiện công tác này. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục phòng chống ma túy.

Kết quả nghiên cứu ở bảng số liệu trên cho thấy, có 3/5 nội dung được các CBGV tham gia nghiên cứu đánh giá được các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương thực hiện ở mức độ “khá” với ĐTB từ 3,44 đến 3,75, bao gồm: “Yêu cầu GVCN kết hợp với GVBM phát hiện những HS có những biểu hiện bất thường” (ĐTB = 3,75); “Có lịch làm việc hàng tháng với GVCN, đội ngũ cán bộ tự quản, bí thư đoàn trường, GT, bảo vệ nhằm phát hiện kịp thời HS có biểu hiện nghiện ma túy” (ĐTB = 3,59); “Công bố chế độ khen thưởng những GV, HS có thành tích đóng góp cho hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy” (ĐTB = 3,44). Tuy vậy, ở tất cả những nội dung này đều tồn tại tỉ lệ những ý kiến đánh giá kết quả thực hiện ở mức độ yếu, kém (từ 11,3% đến 17,7%).

Hai nội dung còn lại được đánh giá kết quả thực hiện ở mức độ “trung bình” gồm: “Công bố chế độ xử lý HS nghiện hút ma túy” (ĐTB = 3,38) và “Xây dựng hộp thư giám sát và phát hiện HS có liên quan đến ma túy” (ĐTB = 3,30).

Như vậy, có thể thấy, “Yêu cầu GVCN kết hợp với GVBM phát hiện những HS có những biểu hiện bất thường” chính là nội dung được thực hiện thường xuyên và hiệu quả nhất; “Xây dựng hộp thư giám sát và phát hiện HS có liên quan đến ma túy” là nội dung ít được thực hiện và thực hiện ít hiệu quả nhất trong công tác Quản lý việc kiểm tra, đánh giá thực hiện kế hoạch giáo dục Phòng chống ma túy ở các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương.

2.4.6. Yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy tại các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương

Kết quả nghiên cứu công tác Quản lý hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy như đã phân tích ở trên cho thấy các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương chưa thực sự quan tâm thực hiện một cách thường xuyên và trong quá trình thực hiện cũng còn thiếu hiệu quả. Vậy những yếu tố nào đã gây khó khăn cho công tác Quản lý hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy trong nhà trường Trung học cơ sở? Kết quả nghiên cứu được thể hiện trong bảng 2.13 dưới đây:

Bảng 2.13. Yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy tại các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo

Kết quả nghiên cứu ở bảng 2.13 cho thấy, với ĐTB từ 3,47 đến 3,90 chứng tỏ các nội dung này đều được các CBGV tham gia khảo sát “đồng ý” cho rằng các yếu tố này gây khó khăn cho công tác Quản lý hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy trong các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Tổng tỉ lệ lựa chọn mức độ “đồng ý” và “rất đồng ý” đều lớn hơn 48%. Trong đó, đặc biệt quan tâm tới một số các yếu tố sau đây:

Xếp ở thứ hạng đầu tiên là yếu tố “Các tội phạm liên quan tới ma túy càng ngày càng hoạt động tinh vi, phức tạp” (ĐTB = 3,90; tổng tỉ lệ lựa chọn mức độ “đồng ý” và “rất đồng ý” là 69,4%). Thực tế cho thấy, các tội phạm liên quan tới ma túy hoạt động ngày càng tinh vi, phức tạp gây khó khăn cho công tác Phòng chống ma túy. Điều này đòi hỏi cần phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng giáo dục cũng như toàn xã hội trong công tác Phòng chống ma túy, đồng thời cũng cho thấy sự cần thiết phải tăng cường giáo dục Phòng chống ma túy cho HS để các em có kiến thức cũng như kỹ năng nhận diện và ứng phó với tệ nạn ma túy trong học đường. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục phòng chống ma túy.

“HS được tiếp cận với quá nhiều thông tin khó kiểm soát” là yếu tố được xếp vị trí thứ hai với ĐTB = 3,71. Với sự phát triển vượt bậc của khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin như giai đoạn hiện nay, học sinh được tiếp cận với rất nhiều nguồn thông tin, trong khi với độ tuổi học sinh Trung học cơ sở các em chưa có khả năng lựa chọn, đánh giá chính xác độ tin cậy của các luồng thông tin, đồng thời lại rất tò mò, ham thích tìm hiểu những cái mới, do đó rất dễ bị lôi kéo, kích động tham gia vào việc sử dụng ma túy cũng như các hoạt động liên quan đến ma túy. Điều này cũng gây những khó khăn nhất định cho công tác Phòng chống ma túy trong nhà trường.

Với ĐTB = 3,67, yếu tố “phương pháp quản lý hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy còn hạn chế” được xếp ở vị trí thứ 3. Đây là một yếu tố thuộc về nhóm những khó khăn chủ quan. Kết quả này cũng được thể hiện rõ trong những số liệu và phân tích trên, rõ ràng hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy chưa nhận được sự quan tâm đúng mực của nhà trường, đồng thời nội dung, phương pháp giáo dục Phòng chống ma túy vẫn còn hạn chế khiến cho hiệu quả của công tác này thực sự chưa đáp ứng được yêu cầu.

Tất cả các yếu tố còn lại tuy không được xếp ở thứ hạng cao nhưng vẫn được các CBGV tham gia khảo sát “đồng ý” cho rằng những yếu tố này gây khó khăn cho công tác quản lý giáo dục Phòng chống ma túy trong nhà trường như: “Điều kiện thời gian, kinh phí, CSVC cho các hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy không đầy đủ” (ĐTB = 3,62); “Gia đình chưa có sự quan tâm đúng mức đến công tác phòng chống ma túy” (ĐTB = 3,60); “Sự phối hợp giữa GVCN với GVBM, Đoàn, Ban đại diện cha mẹ HS chưa thống nhất, thiếu đồng bộ” (ĐTB = 3,58),…

Như vậy, kết quả nghiên cứu cho thấy, có nhiều yếu tố gây khó khăn ảnh hưởng tới hiệu quả của công tác quản lý giáo dục Phòng chống ma túy ở các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, bao gồm cả các yếu tố khách quan và chủ quan, đặc biệt là một số yếu tố như: “Các tội phạm liên quan tới ma túy càng ngày càng hoạt động tinh vi, phức tạp”; “HS được tiếp cận với quá nhiều thông tin khó kiểm soát”; “phương pháp quản lý hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy còn hạn chế”,…

2.5. Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động quản lý giáo dục phòng chống ma túy cho học sinh trường Trung học cơ sở huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương

Từ việc nghiên cứu thực trạng các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục PCMT tại các trường Trung học cơ sở huyện Phú Giáo, đề tài rút ra một số nhận định sau:

2.5.1. Ưu điểm Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục phòng chống ma túy.

Về nhận thức và thái độ: Đa số CBGV tại các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo đều có nhận thức đúng đắn về về vai trò và tầm quan trọng của việc Phòng chống ma túy trong nhà trường, coi đây là một nội dung quan trọng của hoạt động GD trong nhà trường và đã xác định đúng mục tiêu, nội dung giáo dục Phòng chống ma túy.

Về biện pháp quản lý: Hiệu trưởng các nhà trường đã thực hiện quản lý HĐGD nhằm Phòng chống ma túy xâm nhập vào nhà trường thông qua việc kết hợp hoạt động dạy – học với việc thực hiện các hoạt động do Sở và Phòng giáo dục tổ chức bằng các hình thức giáo dục tương đối phong phú. Mặt khác, các nhà trường cũng đã phối kết hợp được các lực lượng trong nhà trường, gia đình và xã hội nhằm huy động sức mạnh tổng hợp giáo dục học sinh. Từ việc thực hiện đồng bộ các biện pháp quản lý hoạt động giáo dục phòng, chống ma túy của Hiệu trưởng, tại các nhà trường đã góp phần giữ gìn môi trường giáo dục an toàn và nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh.

2.5.2. Hạn chế

Bên cạnh những ưu điểm, trong quá trình quản lý hoạt động giáo dục học sinh Phòng chống ma túy xâm nhập vào nhà trường, đội ngũ CBGV của các trường Trung học cơ sở của huyện Phú Giáo còn bộc lộ một số hạn chế cơ bản sau:

  • Về nhận thức và thái độ: Một số ít Cán bộ quản lý và GV chưa nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng và mức độ cần thiết của công tác giáo dục Phòng chống ma túy, vì vậy còn thái độ chủ quan, chưa thực sự quan tâm tới công tác này.
  • Mặc dù đã thực hiện một số hoạt động nhưng hình thức giáo dục phòng chống ma túy chưa thực sự phong phú và không thực hiện thường xuyên do đó còn hạn chế về hiệu quả.
  • Hiệu trưởng mới chỉ kết hợp được với các lực lượng giáo dục trong nhà trường, còn các lực lượng ngoài nhà trường cũng chưa kết hợp thường xuyên nên chưa nhận được hỗ trợ, giúp đỡ nhiều từ các lực lượng này.
  • Công tác chỉ đạo, đánh giá, rút kinh nghiệm công tác này cũng chưa được các hiệu trưởng quan tâm đúng mức. Do vậy, các nhà trường chưa phát huy tối đa những ưu điểm đã có và chưa hạn chế được những thiếu sót đã xảy ra.

2.5.3. Nguyên nhân Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục phòng chống ma túy.

Tình hình tệ nạn ma túy trên địa bàn huyện Phú Giáo nói riêng và toàn tỉnh Bình Dương nói chung diễn ra ngày một phức tạp, đa dạng và có nguy cơ phát triển nhanh trong khi các lực lượng chuyên trách chưa đủ mạnh để trấn áp. Bên cạnh đó, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật và sự thay đổi của đời sống xã hội khiến học sinh tiếp cận được với quá nhiều thông tin (cả những thông tin tích cực và những thông tin sai trái) mà gia đình và nhà trường chưa thể kiểm soát được các luồng thông tin này.

Về phía công tác quản lý hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy, do đặc điểm nội dung chương trình nên giáo viên dạy phòng chống ma túy chủ yếu là các giáo viên kiêm nhiệm. Thế nhưng đội ngũ GV vì còn nhiều công tác khác phải thực hiện nên chưa thể đầu tư soạn giảng và tổ chức GD học sinh một cách chu đáo, cẩn thận và lôi cuốn các em.

Về phía gia đình, nhiều Cha mẹ học sinh do mải làm kinh tế không quan tâm sâu sát tới việc học tập của con em mình và giao hết việc GD con cho nhà trường, nhất là GD phòng chống ma túy cho nên dẫn tới tình trạng con vi phạm tệ nạn xã hội, sử dụng ma túy lúc nào không biết.

Về cơ sở vật chất, kinh phí và trang thiết bị, tuy có được đầu tư song chưa đồng bộ hoặc chủ yếu phục vụ dạy – học các bộ môn chính khóa trong chương trình mà có rất ít để phục vụ công tác GD phòng chống ma túy.

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục phòng chống ma túy.

Từ việc phân tích kết quả nghiên cứu thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy tại các Trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, đề tài rút ra một số kết luận như sau:

Hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy đều được CB,GV tại các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương đánh giá ở mức độ rất cần thiết và rất quan trọng.

Các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo tỉnh Bình Dương đã xác định khá đầy đủ mục tiêu giáo dục Phòng chống ma túy cho HS.

Có 2 nội dung được các khách thể nghiên cứu đánh giá là được các trường THCS trên địa bàn huyện Phú Giáo thực hiện thường xuyên là: “Một số kỹ năng sống nhằm giúp HS có khả năng tự bảo vệ cho bản thân khỏi bị lôi cuốn vào tệ nạn ma túy” (ĐTB = 3,45) và “Một số nội dung khác nhằm hình thành ở HS thái độ và hành vi cần có trước những vấn đề liên quan đến ma túy, xây dựng lối sống lành mạnh” (ĐTB = 3,42).

Có 3/5 hình thức được các trường Trung học cơ sở thực hiện ở mức độ “thường xuyên” với ĐTB từ 3,52 đến 3,69 là: “Thông qua dạy học các môn học” (ĐTB = 3,69); “Qua hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp” (ĐTB = 3,59) và “Qua sinh hoạt tập thể” (ĐTB = 3,52)

Có 12/14 phương pháp tổ chức giáo dục Phòng chống ma túy cho HS đã được các trường THCS trên địa bàn huyện Phú Giáo tổ chức thực hiện ở mức độ “thường xuyên”, đặc biệt là các phương pháp: “Tuyên truyền thông qua các buổi sinh hoạt chủ nhiệm, chào cờ, HĐGDNGLL”; “Tổ chức ký cam kết giữa HS và nhà trường, có chữ ký của Cha mẹ học sinh”; “Thi vẽ tranh về ma túy”; Tổ chức giảng dạy lồng ghép các nội dung phòng chống ma túy vào các môn học (ĐTB = 3,23); Thi viết bài tìm hiểu về ma túy, Luật phòng chống ma túy (ĐTB = 3,21); Tổ chức sưu tầm hình ảnh về vấn đề ma túy (ĐTB = 3,11),…

CBGV đánh giá công tác quản lý hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy ở trường

Công tác quản lý nội dung, chương trình, kế hoạch hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy ở các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo tỉnh Bình Dương được thực hiện ở mức độ “thỉnh thoảng” và hiệu quả thực hiện ở mức độ “trung bình”.

Hiệu quả thực hiện công tác Quản lý việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy ở các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương được đánh giá ở mức độ “khá”.

Công tác Quản lý sự phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường trong công tác giáo dục Phòng chống ma túy đã được các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương thực hiện “thường xuyên” và khá hiệu quả các nội dung phối hợp các lực lượng giáo dục trong nhà trường. Việc phối hợp các lực lượng giáo dục ngoài nhà trường, đặc biệt là các nội dung phát triển ở chiều sâu của công tác giáo dục Phòng chống ma túy chưa được các trường quan tâm thực hiện thường xuyên.

“Yêu cầu GVCN kết hợp với GVBM phát hiện những HS có những biểu hiện bất thường” chính là nội dung được thực hiện thường xuyên và hiệu quả nhất;

“Xây dựng hộp thư giám sát và phát hiện HS có liên quan đến ma túy” là nội dung ít được thực hiện và thực hiện ít hiệu quả nhất trong công tác Quản lý việc kiểm tra, đánh giá thực hiện kế hoạch giáo dục Phòng chống ma túy ở các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương. Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục phòng chống ma túy.

Có nhiều yếu tố gây khó khăn ảnh hưởng tới hiệu quả của công tác quản lý giáo dục Phòng chống ma túy ở các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện Phú Giáo, tỉnh Bình Dương, bao gồm cả các yếu tố khách quan và chủ quan, đặc biệt là một số yếu tố như: “Các tội phạm liên quan tới ma túy càng ngày càng hoạt động tinh vi, phức tạp”; “HS được tiếp cận với quá nhiều thông tin khó kiểm soát”; “phương pháp quản lý hoạt động giáo dục Phòng chống ma túy còn hạn chế”…

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Biện pháp quản lý giáo dục phòng chống ma túy

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *