Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Tin học ở trường THCS hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường trung học cơ sở tại thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
2.1.1. Vài nét về thành phố Thủ Dầu Một
Tỉnh Bình Dương thuộc vùng Đông Nam Bộ, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Tỉnh có 01 thành phố, 04 thị xã và 04 huyện với 91 xã, phường, thị trấn. Dân số năm 2025 là 1.995.817 người, mật độ dân số khoảng 741 người/km2 (Niên giám Thống kê tỉnh Bình Dương năm 2025). Năm 2025, thu nhập bình quân đầu người đạt 120 triệu đồng.
Thành phố Thủ Dầu Một với bề dày truyền thống lịch sử hơn 300 năm xây dựng và phát triển, là đô thị nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và là trung tâm hành chính, tổng hợp của tỉnh Bình Dương. Địa giới hành chính thành phố Thủ Dầu Một: phía Đông giáp thị xã Tân Uyên; phía Tây giáp huyện Củ Chi thuộc thành phố Hồ Chí Minh qua ranh giới tự nhiên là sông Sài Gòn; phí Nam giáp thị xã Thuận An; phía Bắc giáp thị xã Bến Cát. Thành phố Thủ Dầu Một có diện tích tự nhiên 118,67 km² (chiếm 4,40 % tổng diện tích toàn tỉnh), dân số 293.349 người (theo số liệu thống kê đến ngày 31/12/2024), mật độ dân số 2.471,9 người/km².
2.2.2. Khái quát tình hình về đội ngũ giáo viên, cán bộ quản lý, cơ sở vật chất của các trường trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương
Thời gian qua, nhìn tổng thể, hoạt động giáo dục nói chung, công tác QLGD của Tỉnh nói riêng, có sự chuyển biến tích cực, góp phần nâng cao chất lượng GD – ĐT, cơ bản đáp ứng nhu cầu phát triển sự nghiệp GD – ĐT của địa phương.
Hệ thống trường lớp và các cơ sở giáo dục ngày càng kiện toàn. Đến ngày 31-10- 2025, ngành GD – ĐT quản lý 600 trường (từ cấp học mầm non đến trung học phổ thông, giáo dục thường xuyên), trong đó, có 237/370 trường công lập đạt chuẩn quốc gia (đạt tỷ lệ 64,05%), với 419.902 HS. Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Tin học ở trường THCS.
Các CSVC, trang thiết bị được Tỉnh chú trọng đầu tư theo hướng chuẩn hóa, bảo đảm đầy đủ số lượng, cơ bản đáp ứng được nhu cầu học tập và quản lý. Trong năm 2025, bên cạnh những khoản chi thường xuyên của Tỉnh, tổng kinh phí huy động từ xã hội hóa cho hoạt động GD – ĐT đạt hơn 958 tỷ đồng, trong đó, xã hội hóa về lĩnh vực đầu tư CSVC trường học khoảng 113 tỷ, mua sắm thiết bị, đồ dùng phục vụ hoạt động giáo dục khoảng 810 tỷ đồng (nhiều nhất là giáo dục mầm non khoảng 780 tỷ đồng); học phí và các khoản thu sự nghiệp khác khoảng 35 tỷ đồng.
Ngoài ra, việc xây dựng chỉ tiêu đào tạo nguồn GV hàng năm cho từng cấp học bảo đảm đúng nhu cầu thực tế được triển khai thực hiện tốt. Việc đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ cán bộ QLGD luôn có sự phối hợp, kết hợp chặt chẽ giữa ngành GD – ĐT với các ngành, các cấp và trường Đại học Thủ Dầu Một.
Sau 10 năm triển khai thực hiện Chỉ thị 40-CT/TW của Ban Bí thư trên địa bàn Tỉnh (giai đoạn 2013 – 2023), ngành GD&ĐT đã tổ chức nhiều lớp đào tạo, bồi dưỡng như: nâng cao trình độ chuyên môn (từ đại học đến nghiên cứu sinh); chuẩn hóa trình độ cao đẳng; đào tạo về chính trị (từ sơ cấp đến cao cấp); đào tạo về quản lý nhà nước (từ chuyên viên đến chuyên viên cao cấp); cho CBQL các cấp học, ngành học bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ; các lớp bồi dưỡng chuyên đề khác; đào tạo tin học – ngoại ngữ và đặc biệt là tạo nguồn GV trình độ đại học từ HS. Tính đến quý IV/2023, cán bộ QLGD toàn Tỉnh có trình độ đạt chuẩn trở lên là 1071/1071, chiếm tỷ lệ 100%, trong đó trên chuẩn là 877/1071 tỷ lệ 81,89%. Đến nay, tỷ lệ cán bộ QLGD của Tỉnh đạt chuẩn và trên chuẩn khá cao. Trình độ đạt chuẩn trở lên là 1.142 người (tỷ lệ 100%), trong đó, trên chuẩn là 995 người (tỷ lệ 87,13%).
Bên cạnh đó, ngành GD – ĐT còn thường xuyên tham mưu cho Tỉnh ban hành nhiều chế độ, chính sách cho đội ngũ GV và cán bộ QLGD phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của địa phương. Hàng năm, các chế độ, chính sách luôn được ngành GD & ĐT bảo đảm thực hiện theo đúng sự chỉ đạo của Trung ương và của Tỉnh, góp phần tạo nên sự chuyển biến về nhận thức, phẩm chất đạo đức, tinh thần, thái độ trong thực hiện nhiệm vụ được giao.
Công tác rà soát, sắp xếp đội ngũ giáo viên, luân chuyển cán bộ QLGD được thực hiện đúng quy trình. Công tác xây dựng tổ chức cơ sở Đảng và phát triển đảng viên trong ngành GD – ĐT được cấp ủy, chính quyền các địa phương, đơn vị quan tâm, vì vậy, số lượng đảng viên và tổ chức cơ sở Đảng ở các trường học ngày càng tăng lên.
Có được kết quả trên là do những năm qua nền kinh tế của Tỉnh liên tục tăng trưởng, đã tạo điều kiện thuận lợi và có tác động tích cực đến sự phát triển trên lĩnh vực văn hóa – xã hội, nhất là đối với sự nghiệp GD – ĐT. Ngoài ra, sự quan tâm, hỗ trợ, giúp đỡ của Tỉnh, các sở, ban, ngành và địa phương cũng là một nguyên nhân không kém phần quan trọng.
2.2. Tổ chức nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương
2.2.1. Mục đích nghiên cứu Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Tin học ở trường THCS.
- Khảo sát thực trạng về quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
2.2.2. Nội dung nghiên cứu
- Thực trạng hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
- Thực trạng về quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
2.2.3. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu phân tích, tổng hợp tài liệu, các công trình nghiên cứu, văn bản, hồ sơ chuyên môn liên quan đến quản lý hoạt động dạy học môn Tin học tại đơn vị khảo sát và các cấp quản lý.
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi: thực hiện điều tra, khảo sát để tìm hiểu về thực trạng hoạt động dạy học môn Tin học và quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
2.2.4. Thông tin về mẫu khảo sát
Đối tượng khảo sát: Đội ngũ CBQL, GV và HS tại các trường THCS trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
Tác giả sử dụng phiếu lấy ý kiến khảo sát của 32 người gồm CBQL, tổ trưởng và tổ phó chuyên môn, 28 GV và 110 HS của 04 trường THCS: Phú Hòa, Nguyễn Viết Xuân, Chánh Nghĩa, Tương Bình Hiệp trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Dưới đây là một số thông tin về mẫu khảo sát:
- Cán bộ quản lý và giáo viên Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Tin học ở trường THCS.
- Bảng 2.1. Cơ cấu đội ngũ CBQL và GV theo chức vụ của mẫu nghiên cứu
Qua bảng số liệu ở bảng 2.1 cho thấy mẫu khảo sát được chọn với số lượng là 60 người, với 15 người đại diện cho mỗi đơn vị trường được chọn nghiên cứu. Trong mỗi đơn vị nghiên cứu, đảm bảo tỉ lệ về số lượng chức danh bao gồm: Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, Tổ trưởng chuyên môn, Tổ phó chuyên môn và GV. Như vậy, mẫu nghiên cứu dành cho CBQL và GV đảm bảo về mặt số lượng và cơ cấu đại diện cho đội ngũ CBQL ở các trường THCS trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
- Bảng 2.2. Thâm niên nghề nghiệp và thâm niên quản lý của CBQL-GV
Xây dựng thang đo thâm niên nghề nghiệp và thâm niên quản lý của CBQL và GV như sau: (1) Dưới 5 năm; (2) Từ 5 đến 10 năm; (3) Từ 11 đến 20 năm; (4) Từ 21 đến 30 năm; (5) Trên 30 năm.
Từ số liệu bảng 2.2 cho thấy thâm niên nghề nghiệp của CBQL và GV công tác ít nhất là dưới 5 năm, cao nhất là trên 30 năm. Với TTB đạt 2.88 cùng với số trung vị là 3 và số yếu vị là 3 cho chúng ta thấy số năm công tác bình quân của CBQL và GV là khoảng từ 11 đến 20 năm. Hơn nữa, quan sát đồ thị ở hình 2.1 có đỉnh hơi lệch về phía bên phải cho thấy thâm niên công tác của CBQL và GV tập trung trong lân cận khoảng từ 11 năm trở lên, CBQL và GV có thâm niên công tác trên 30 chiếm số lượng ít.
Từ số liệu bảng 2.2 cho thấy thâm niên quản lý của CBQL ít nhất là dưới 5 năm, cao nhất là từ 21 đến 30 năm. Với TTB đạt 1.90 cùng với số trung vị là 2 và số yếu vị là 1 cho chúng ta thấy số năm làm công tác quản lý bình quân của CBQL là khoảng từ dưới 5 đến 10 năm. Hơn nữa, quan sát đồ thị ở hình 2.2 cho thấy thâm niên làm quản lý của CBQL trong lân cận khoảng từ 21 đến 30 năm, chiếm số lượng rất ít.
Học sinh: Ở bậc THCS có tất cả 04 khối là 6, 7, 8, 9 nhưng do môn Tin học là môn tự chọn không bắt buộc tổ chức giảng dạy trong trường cho khối 8 và khối 9. Vì vậy, HS khối 8 và khối 9 được học môn tự chọn ở các trường dạy nghề trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
- Bảng 2.3. Cơ cấu học sinh của mẫu nghiên cứu
Từ số liệu bảng 2.3 cho thấy mẫu khảo sát dành cho đối tượng HS gồm 110 HS, trong đó HS khối 6 với số lượng 50 HS, và khối 7 với số lượng 60 HS đại diện cho 04 trường THCS. Như vậy, mẫu nghiên cứu này đảm bảo được về tính đại diện cho đối tượng khảo sát của bài nghiên cứu quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.
Công cụ điều tra, khảo sát: Tác giả tiến hành tìm hiểu thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS bằng xây dựng 03 mẫu phiếu khảo sát, bao gồm:
- Phụ lục 1: khảo sát dành cho đội ngũ CBQL và GV THCS.
- Phụ lục 2: khảo sát đối tượng HS THCS.
- Phụ lục 3: khảo sát tính cần thiết và tính khả thi về các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tin học.
2.2.5. Xây dựng thang đo Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Tin học ở trường THCS.
Đối với thang điểm 5: Điểm số được quy đổi theo mức độ tăng dần. Điểm thấp nhất là 1, điểm cao nhất là 5 và được chia làm 5 mức tương ứng: 1 điểm: Kém; 2 điểm: Yếu; 3 điểm: Trung bình; 4 điểm: Khá; 5 điểm: Tốt / Giỏi.
- Thang đo trung bình và mức ý nghĩa cụ thể như sau:
Đối với thang điểm 4: Điểm số được quy đổi theo mức độ tăng dần. Điểm thấp nhất là 1, điểm cao nhất là 4 và được chia làm 4 mức tương ứng:
- + 1 điểm: Không cần thiết / Không sử dụng.
- + 2 điểm: Phân vân / Không thường xuyên / Khó trả lời
- + 3 điểm: Cần thiết / Thường xuyên;
- + 4 điểm: Rất cần thiết / Rất thường xuyên
Thang đo trung bình và mức ý nghĩa cụ thể như sau:
2.2.6. Xử lý số liệu
Qui trình thực hiện khảo sát
- Bước 1: Xây dựng phiếu khảo sát;
- Bước 2: Gửi phiếu khảo sát lấy ý kiến đến các đối tượng theo mẫu;
- Bước 3: Thu phiếu khảo sát;
- Bước 4: Sử dụng phần mềm thống kê SPSS for Windows 20.0 để xử lí kết quả số liệu khảo sát .
Các chỉ số thống kê: Bảng phân bố tần số (Frequencies); trị trung bình (Mean); độ lệch chuẩn (Std. Deviation); số trung vị (Median); số yếu vị (Mode).
2.3. Thực trạng hoạt động dạy học môn Tin học ở trường trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Tin học ở trường THCS.
Hoạt động dạy học ở trường THCS góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục trung học, tạo điều kiện cho HS nghiên cứu cơ sở của những khoa học với sự phong phú, đa dạng của những bộ môn, khối lượng tri thức lớn phức tạp, sâu sắc, hệ thống hơn. Hoạt động dạy học theo từng môn học được hướng dẫn trực tiếp của các GVBM có phương pháp, trình độ, … dạy học riêng nên tạo ra sự đa dạng trong dạy học dưới sự lãnh đạo của nhà quản lý nhằm nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường.
2.3.1. Mục tiêu dạy học môn Tin học ở trường trung học cơ sở
Chất lượng dạy học trong nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào việc xác định chính xác mục tiêu. Để đáp ứng mục tiêu phát triển và hoàn thiện nhân cách phù hợp với mỗi cá nhân HS, chuyển đổi từ chương trình theo định hướng nội dung thành chương trình theo định hướng năng lực, kết quả là người học được trang bị kiến thức có tính hệ thống nhưng chủ yếu về kỹ năng thực hành, đặc biệt là kỹ năng sống.
Bảng dữ liệu 2.4 cho thấy, nội dung có trị trung bình cao nhất là Khả năng tìm kiếm thông tin (TTB=3.83, hạng 1). Ngoài ra, sự chênh lệch về trị trung bình lớn nhất và nhỏ nhất của nội dung khâu thực hiện mục tiêu dạy học thể hiện rõ. Giá trị chênh lệch là 0.65. Tiến hành so sánh trị trung bình cho thấy sự khác biệt trong đánh giá mức độ thực hiện mục tiêu dạy học có thể đưa ra nhận định như sau: Trong dạy học bộ môn Tin học, CNTT chủ yếu quan tâm tới mục tiêu học tập, tạo cho người học có khả năng tìm kiếm thông tin của những khoa học với sự phong phú, đa dạng trên mạng Internet, qua đó tiếp nhận có chọn lọc những thông tin cần thiết và vận dụng những kiến thức một cách linh hoạt, sáng tạo để góp phần mở rộng nguồn tri thức nhằm nâng cao hiểu biết và kỹ năng, phục vụ cho công việc của mình. Bên cạnh đó, hình thành và phát triển các phẩm chất chủ yếu tạo điều kiện cho người học sáng tạo và phát triển phù hợp với khả năng, nguyện vọng của mình.
- Bảng 2.4. Đánh giá về việc thực hiện mục tiêu dạy học môn Tin học ở trường trung học cơ sở
Các chỉ số phân tích cũng cho thấy: tất cả các nội dung của mục tiêu dạy học môn Tin học đều đánh giá ở mức Rất cần thiết. Điều đó chỉ ra nếu nhà trường mong muốn đạt được các nội dung mục tiêu đã đề ra trong hoạt động dạy học môn Tin học cần đưa ra nhiều biện pháp nhằm giúp GV thực hiện đúng mục tiêu và đội ngũ lãnh đạo cần tập trung nhiều trong công tác quản lý đảm bảo thực hiện các mục tiêu đã đề ra.
2.3.2. Nội dung dạy học môn Tin học ở trường trung học cơ sở Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Tin học ở trường THCS.
Việc xác định nội dung dạy học là một nhiệm vụ quan trọng của GV. Các nội dung chương trình trong trường THCS cần phải được truyền tải được hết kiến thức cho HS. Các nội dung này vừa sức với HS tạo cho họ sự tích cực, hứng thú, sáng tạo trong hoạt động nhận thức.
Qua bảng dữ liệu 2.5 có thể thấy, nội dung Một số khái niệm cơ bản của Tin học được đa số CBQL, GV đánh giá ở mức độ Rất cần thiết (TTB=4.00, hạng 1), trong khi đối tượng HS đánh giá nội dung này chỉ ở mức độ Khá (TTB=4.14, hạng 1). Tin học là ngành khoa học phát triển rất nhanh, cứ vài năm phần cứng và phần mềm lại thay đổi và nâng cấp. Do đó cần phải trang bị cho HS những kiến thức phổ thông và kĩ năng cơ bản để chương trình không bị nhanh lạc hậu. Nội dung có trị trung bình và thứ hạng thấp nhất là Hiểu được chức năng chủ yếu của máy tính cũng nhận được ý kiến đồng nhất trong cách đánh giá (CBQL-GV: TTB=2.88, hạng 5; học sinh: TTB=3.67, hạng 5). Để có thể sử dụng máy tính một cách hiệu quả thì cần có sự hiểu biết hết về khả năng chủ yếu của máy tính như khả năng xử lý dữ liệu, khả năng lưu trữ dữ liệu, khả năng di chuyển dữ liệu giữa nó và thế giới bên ngoài, đơn vị điều khiển bên trong hệ thống máy tính có nhiệm vụ quản lý các tài nguyên máy tính và điều phối sự vận hành của các thành phần chức năng phù hợp với yêu cầu nhận được từ người sử dụng. Đây là nội dung được CBQL và GV đánh giá mức độ là Cần thiết, HS đánh giá ở mức độ Khá.
- Bảng 2.5. Đánh giá về việc thực hiện nội dung dạy học môn Tin học ở trường trung học cơ sở
Nhìn chung, kết quả khảo sát cho thấy ý kiến đánh giá của các đối tượng khảo sát có sự đồng nhất cao về các nội dung của chức năng thực hiện nội dung dạy học môn Tin học ở trường THCS. Tuy nhiên, độ lệch chuẩn ý kiến đánh giá của HS cao hơn độ lệch chuẩn ý kiến đánh giá của CBQL và GV cho thấy, dưới góc nhìn của các HS có thể không nhìn nhận được hết các ý nghĩa nội dung mà môn Tin học cần truyền đạt nên khi đưa ra ý kiến có phần chủ quan trong cách đánh giá vấn đề này.
2.3.3. Phương pháp, hình thức dạy học môn Tin học ở trường trung học cơ sở
Ý thức được tầm quan trọng của việc tổ chức dạy học và phương pháp dạy học, GV cần phải thực hiện cải tiến phương pháp cho phù hợp với đặc điểm môn mình đảm nhiệm cũng như đặc điểm từng HS một cách linh hoạt, với những hình thức đa dạng để đảm bảo được yêu cầu phổ cập và nâng cao. Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Tin học ở trường THCS.
- Bảng 2.6. Đánh giá về việc thực hiện phương pháp dạy học môn Tin học ở trường trung học cơ sở.
Kết quả từ bảng 2.6 cho thấy: CBQL và GV đánh giá phần lớn các nội dung trong đánh giá công tác thực hiện các phương pháp trong hoạt động dạy học môn Tin học nằm trong mức Trung bình. Phương pháp được CBQL và GV đánh giá cao là Phối hợp các phương pháp dạy học truyền thống (TTB=3.35, hạng 1). Sự chênh lệch về giá trị trung bình lớn nhất và nhỏ nhất công tác thực hiện các phương pháp trong hoạt động dạy học môn Tin học không nhiều. Giá trị chênh lệch là 0.45.
Đánh giá việc thực hiện các phương pháp trong hoạt động dạy học môn Tin học được HS nhận định tất cả các nội dung nằm trong mức Trung bình. HS đánh giá sử dụng phương pháp Dạy học theo dự án (TTB=3.20, hạng 1), trong khi ở phương pháp này thì đa số CBQL và GV đánh giá (TTB=2.90, hạng 7), điều này cho thấy giữa CBQL – GV và HS chưa có ý kiến thống nhất trong cách đánh giá. Theo người nghiên cứu, một vài GV có thể không thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy, dạy học theo dự án. GV cần sẵn sàng chấp nhận rằng họ không phải là chuyên gia trong mọi lĩnh vực và HS của họ có thể biết nhiều hơn họ, đặc biệt là khi tiếp cận với công nghệ mới. Tương tự với phương pháp Thảo luận nhóm được CBQL và GV đánh giá cao (TTB=3.08, hạng 3), trong khi đối tượng HS đánh giá không cao (TTB=2.75, hạng 7).
Nhìn chung, đánh giá mức độ khi thực hiện các phương pháp trong hoạt động dạy học môn Tin học là Trung bình, xuất phát từ những góc độ tiếp cận vấn đề khác nhau nên phần lớn các nội dung không có sự đồng nhất trong cách đánh giá giữa CBQL, GV và HS. Theo người nghiên cứu, điều này không phản ánh nhiều đến thực trạng thực hiện các phương pháp trong hoạt động dạy học môn Tin học.
Tóm lại, công tác thực hiện các phương pháp trong hoạt động dạy học môn Tin học cần sự đổi mới phương pháp dạy học để giáo dục có hiệu quả và đạt chất lượng cao, trong quá trình giảng dạy chúng ta cần biết lựa chọn phương pháp dạy tối ưu nhất. Tuy nhiên, qua khảo sát cho thấy vẫn còn nhiều CBQL và GV vẫn còn mang nặng việc sử dụng phương pháp truyền thống trong hoạt động giảng dạy, trong khi ngành giáo dục nước ta hiện nay yêu cầu tích cực đổi mới, cải tiến phương pháp dạy học, sử dụng phương pháp phù hợp với HS đây là yếu tố quan trọng trong chương trình giáo dục phổ thông mới hiện nay.
Phân tích bảng số liệu 2.7 khảo sát về việc thực hiện các hình thức dạy học môn Tin học cho thấy: Hai nội dung nhận được sự đánh giá cao của đối tượng khảo sát là Phối hợp các hoạt động, phương pháp giảng dạy linh động, sáng tạo sao cho tạo được tình huống có vấn đề (CBQL và GV: TTB=3.13, hạng 1; HS: TTB=3.10, hạng 1) và Giảng dạy lý thuyết kết hợp với thực hành ngay trên phòng máy giúp HS có thể nắm lý thuyết vừa có thể thao tác ngay những nội dung và yêu cầu của bài học (CBQL và GV: TTB=3.11, hạng 2; HS: TTB=3.00, hạng 2). Chứng tỏ, nhận thức của các đối tượng khảo sát về mức độ thực hiện hình thức dạy học của hai nội dung trên có sự giống nhau trong cách đánh giá, bởi lẻ trong nội dung dạy môn Tin học đi từ chương trình đơn giản đến chương trình phức tạp và dần dần bổ sung thêm kiến thức mới. Vì vậy, cần phối hợp các hoạt động, phương pháp giảng dạy linh động, sáng tạo sao cho tạo được tình huống có vấn đề, tránh dạy theo kiểu cũ dễ làm cho HS mệt mỏi, nhàm chán. Đồng thời, tăng cường kết hợp giữa giảng dạy lí thuyết và thực hành, HS học kiến thức mới kết hợp với thực hành ngay trên máy tính để HS dùng máy tính kiểm nghiệm ngay kiến thức vừa học được.
- Bảng 2.7. Đánh giá về việc thực hiện hình thức dạy học môn Tin học ở trường trung học cơ sở
CBQL và GV đánh giá phần lớn các nội dung trong đánh giá công tác thực hiện các hình thức dạy học môn Tin học nằm trong mức Trung bình. Sự chênh lệch giữa giá trị trung bình lớn nhất và nhỏ nhất các nội dung trong đánh giá không nhiều. Giá trị chênh lệch là 0.48. HS đánh giá phần lớn các nội dung trong đánh giá công tác thực hiện các hình thức dạy học môn Tin học nằm trong mức Trung bình. Sự chênh lệch giữa giá trị trung bình lớn nhất và nhỏ nhất các nội dung trong đánh giá cũng không nhiều. Giá trị chênh lệch là 0.34.
Về mức độ thực hiện hình thức dạy học ở nội dung thứ 4, mặc dù giữa các đối tượng khảo sát có sự khác biệt đáng kể trong các nhận định về thực trạng thực hiện hình thức dạy học môn Tin học. Tuy nhiên, ý kiến của CBQL và GV đánh giá nội dung này được thực hiện ở mức Trung bình (TTB=2.65, hạng 6), đối tượng HS nghĩ rằng nội dung này được thực hiện ở mức Trung bình (TTB=2.80, hạng 3). Điều này cho thấy, các đối tượng khảo sát rất đồng tình trong cách đánh giá các hình thức dạy học môn Tin học
Tóm lại, phương pháp dạy học cần được thực hiện trên cơ sở phân hóa đối tượng, các căn cứ về điều kiện, loại hình năng lực và phẩm chất cần phát triển ở người học, đặc trưng của môn học mà tiến hành tổ chức dạy học một cách linh hoạt với những hình thức đa dạng để đảm bảo được yêu cầu chung của môn học và nâng cao nếu có điều kiện tăng cường các hoạt động trải nghiệm sáng tạo và ứng dụng CNTT, truyền thông trong tổ chức hoạt động dạy học.
2.3.4. Hoạt động giảng dạy môn Tin học ở trường trung học cơ sở Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Tin học ở trường THCS.
Hoạt động giảng dạy của GV là hoạt động trọng tâm ở nhà trường phổ thông. Đây là hoạt động quan trọng quyết định chất lượng đào tạo cũng như ảnh hưởng đến uy tín và thương hiệu của nhà trường. Để nâng cao chất lượng giáo dục thì phải quan tâm đến việc đánh giá hoạt động giảng dạy của GV thông qua nhiều hình thức khác nhau. Đánh giá hoạt động giảng dạy của GV hiện nay là một đòi hỏi chính đáng của những người vừa đóng góp, vừa thụ hưởng kết quả giáo dục.
Kết quả từ bảng 2.8 cho thấy nội dung Thông báo mục tiêu, chương trình, phương pháp dạy học và nội dung của học phần trước khi dạy học được đánh giá cao nhất với mức độ thực hiện là Khá (TTB=3.93, hạng 1) và kết quả thực hiện ở mức độ Khá (TTB=3.68, hạng 1). Nội dung GV thực hiện đổi mới PPDH cũng nhận được ý kiến đánh giá cao với mức độ thực hiện là Khá (TTB=3.86, hạng 2) và kết quả thực hiện ở mức độ Khá (TTB=3.65, hạng 2). Các nội dung còn lại trong đánh giá hoạt động giảng dạy môn Tin học ở trường THCS của GV đều nhận được sự đồng thuận cao trong cách đánh giá. CBQL và GV đánh giá phần lớn các nội dung ở mức Khá. Sự chênh lệch giữa giá trị trung bình lớn nhất và nhỏ nhất các nội dung trong đánh giá không nhiều. Giá trị chênh lệch là 0.04. Sự chênh lệch giữa giá trị trung bình lớn nhất và nhỏ nhất các nội dung trong đánh giá kết quả thực hiện các hoạt động giảng dạy môn Tin học không nhiều. Giá trị chênh lệch là 0.22. Chứng tỏ, các đối tượng khảo sát rất đồng tình trong cách đánh giá hoạt động giảng dạy môn Tin học ở trường THCS của GV.
- Bảng 2.8. Đánh giá hoạt động giảng dạy môn Tin học ở trường trung học cơ sở của giáo viên
Như vậy, hoạt động giảng dạy môn Tin học ở trường THCS được các GV triển khai thực hiện và kết quả đạt được là đảm bảo. Việc thực hiện các hoạt động giảng dạy môn Tin học ở trường THCS được các GV ở các trường THCS hiện nay đa số đều là các hoạt động mang tính tự giác, có tính thần trách nhiệm trong việc thực hiện công tác giảng dạy của GV. Do đó, CBQL cần thực hiện tốt vai trò quản lý của mình thông qua sự quan tâm, động viên, chia sẽ, hướng dẫn, hỗ trợ kịp thời thì hoạt động giảng dạy môn Tin học ở trường THCS của GV đạt được hiệu quả cao.
2.3.5. Hoạt động học môn Tin học ở trường trung học cơ sở
Trên cơ sở tổ chức cho học sinh nắm vững tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, phát triển năng lực nhận thức mà hình thành cho các em cơ sở thế giới quan khoa học, những phẩm chất đạo đức nói riêng và phát triển nhân cách nói chung theo mục đích giáo dục đã đề ra. Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Tin học ở trường THCS.
Qua khảo sát thực trạng đánh giá về năng lực HS đạt được trong hoạt động học môn Tin học ở trường THCS đã thu được kết quả như sau:
- Bảng 2.9. Đánh giá về năng lực HS đạt được trong hoạt động học môn Tin học ở trường trung học cơ sở
Qua bảng 2.9 cho thấy chỉ có hai năng lực được các đối tượng CBQL và GV có nhận thức khá tốt Năng lực hợp tác (TTB=3.76, hạng 1) và Năng lực giao tiếp (TTB=3.41, hạng 2), còn các Năng lực giải quyết vấn đề, Năng lực học tập và tự học tập, Năng lực sáng tạo, Năng lực sử dụng và quản lý các phương tiện, công cụ được đánh giá ở mức Trung bình. Trong khi đối tượng HS đánh giá tất cả các năng lực mà HS đạt được trong hoạt động học môn Tin học ở trường THCS chỉ ở mức độ Trung bình. Điều này cho thấy, trong đổi mới chương trình giáo dục phổ thông, phương pháp dạy học hiện nay đòi hỏi ngành giáo dục chuyển từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học. HS được phát huy vai trò chủ thể của quá trình học tập, biết cách học; chủ động, tự tin trong tương tác, giao tiếp với GV và bạn bè; biết tương trợ nhau trong học tập để cùng tiến bộ. Tuy nhiên, trình độ hiểu biết về mức độ năng lực mà HS đạt được trong hoạt động học môn Tin học ở trường THCS của các đối tượng khảo sát có sự khác nhau nên có sự nhận định khác nhau trong cách đánh giá.
Nhìn chung, qua kết quả khảo sát có thể thấy rằng các đối tượng khảo sát đều nhận thức được mục tiêu của quá trình học môn Tin học. Tuy nhiên, để giáo dục phát triển năng lực phẩm chất người học đi vào thực chất mang lại hiệu quả thiết thực cần hiểu đúng và có giải pháp triển khai phù hợp.
2.3.6. Kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học môn Tin học ở trường trung học cơ sở Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Tin học ở trường THCS.
Kiểm tra đánh giá có vai trò rất to lớn đến việc nâng cao chất lượng đào tạo.
Kết quả của kiểm tra đánh giá là cơ sở để điều chỉnh hoạt động dạy, hoạt động học và QLGD. Kết quả khảo sát như sau:
- Bảng 2.10. Đánh giá về việc thực hiện kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học môn Tin học ở trường trung học cơ sở
Từ kết quả bảng 2.10 cho thấy: nội dung Đánh giá kỹ năng thực hành của HS nhận được nhiều ý nhiều đánh giá của CBQL và GV về mức độ thực hiện Khá (TTB=3.48, hạng 1) và HS cũng đánh giá cao nội dung này ở mức Khá (TTB=3.74, hạng 2). Điều này cho thấy, các đối tượng khảo sát rất đồng tình với hình thức đánh giá kỹ năng thực hành của HS vì môn Tin học liên quan chặt chẽ đến việc sử dụng máy tính cho nên cần chú ý đánh giá HS qua kĩ năng sử dụng máy tính và các phần mềm. Nội dung thứ 2, CBQL và GV đánh giá cao về mức độ thực hiện Trung bình (TTB=3.23, hạng 2) trong khi HS đánh giá cao nội dung này ở mức Khá (TTB=3.80, hạng 1). Trong khi đó, các nội dung còn lại như Kiểm tra thường xuyên; Đánh giá thông qua theo dõi, quan sát, nhận xét… trong quá trình dạy học; Đánh giá thông qua các phong trào thi đua; Đánh giá sau khi hết tiết dạy, học xong bài,… đều nhận được ý kiến đánh giá của các đối tượng khảo sát ở mức Trung bình. Theo người nghiên cứu, sự khác nhau trong cách đánh giá cho thấy sự nhận thức của các đối tượng khảo sát về nội dung quan trọng được đánh giá thấp hơn so với các nội dung khác có thể do các điều kiện khách quan và chủ quan chi phối khi thực hiện.
Nhìn chung, kết quả khảo sát cho thấy các ý kiến đánh giá không được tập trung thống nhất. Nguyên nhân do đặc thù của môn Tin học nên việc kiểm tra, đánh giá bao gồm cả lí thuyết và thực hành, hình thức có thể là trắc nghiệm tự luận hoặc trắc nghiệm khách quan nên trong quá trình triển khai và thực hiện có nhiều khâu còn lúng túng. Vì vậy, thực hiện đúng theo định hướng đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS mà ngành giáo dục đã đề ra cần sử dụng phối hợp các hình thức, phương pháp kiểm tra, đánh giá khác nhau. Kết hợp giữa kiểm tra miệng, kiểm tra viết và bài tập thực hành. Kết hợp giữa trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan. Đồng thời, đánh giá thành tích học tập của HS không chỉ đánh giá kết quả mà thông qua theo dõi, quan sát, nhận xét… trong quá trình dạy học vì đánh giá thành tích học tập theo quan điểm phát triển năng lực không giới hạn vào khả năng vận dụng tri thức đã học trong việc giải quyết các vấn đề.
2.3.7. Các điều kiện, phương tiện hỗ trợ hoạt động dạy học môn Tin học ở trường trung học cơ sở
Xây dựng một môi trường học tập, làm việc thuận lợi “Xanh – Sạch – Đẹp” cùng với các trang thiết bị hiện đại sẽ góp phần củng cố, nâng cao dần chất lượng và hiệu quả đào tạo của trường. Thiếu điều kiện này thì quá trình dạy học không diễn ra hoặc diễn ra không được hoàn thiện. Qua khảo sát thực trạng đánh giá về các điều kiện, phương tiện hỗ trợ hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS đã thu được kết quả như sau: Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Tin học ở trường THCS.
Bảng số liệu 2.11 cho thấy: Nội dung GV có kiến thức chuyên môn vững vàng được đa số ý kiến của CBQL và GV đánh giá ở mức độ Khá (TTB=3.45, hạng 1), trong khi đối tượng HS đánh giá ở mức độ Trung bình (TTB=2.78, hạng 5). Khảo sát nội dung Phần mềm quản lý HS NetOp School, một trong những điều kiện hỗ trợ hoạt động dạy học môn Tin học được các đối tượng khảo sát đánh giá ở mức độ Trung bình (CBQL và GV: TTB=2.75, hạng 8; HS: TTB=2.79, hạng 4). Ở nội dung GV có tinh thần trách nhiệm, các đối tượng khảo nhận định cũng chỉ ở mức độ Trung bình (CBQL và GV: TTB=3.20, hạng 3; HS: TTB=2.74, hạng 7).
- Bảng 2.11. Đánh giá về các điều kiện hỗ trợ hoạt động dạy học môn Tin học ở trường trung học cơ sở
Qua khảo sát về các điều kiện hỗ trợ hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS, sự khác nhau về thứ bậc giữa các nội dung khảo sát có sự phân bố không đều giữa các ý kiến đánh giá của các đối tượng được khảo sát. Nguyên nhân xuất phát từ điều kiện thực tế của từng địa phương, từng trường học và đặc trưng của môn học cho nên không phải tất cả các trường THCS trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một đều nhận được sự quan tâm như nhau trong việc tạo các điều kiện tốt nhất để hỗ trợ hoạt động dạy học môn Tin học.
Trong hoạt động dạy học môn Tin học, các phương tiện, trang thiết bị có vai trò quan trọng góp phần làm tăng sức hấp dẫn và hiệu quả nội dung bài giảng, đồng thời tạo động cơ, hứng thú học tập của HS. Kết quả khảo sát như sau:
- Bảng 2.12. Đánh giá về các phương tiện hỗ trợ hoạt động dạy học môn Tin học ở trường trung học cơ sở
Kết quả khảo sát cho thấy, tất cả các phương tiện hỗ trợ hoạt động dạy học môn Tin học được đánh giá ở mức độ Trung bình. Phương tiện hỗ trợ hoạt động dạy học môn Tin học được đánh giá cao nhất là Máy vi tính (TTB=3.48, hạng 1), đây là nội dung duy nhất nhận được ý kiến đánh giá là Khá. Trong khi ở nội dung này đối tượng HS đánh giá chỉ ở mức Trung bình (TTB=2.74, hạng 4). Bởi vì, máy tính là phương tiện học tập không thể thiếu đối với bộ môn Tin học nhưng thực tế các máy tính được trang bị ở các trường không đồng bộ, không được bảo trì thường xuyên, kịp thời dẫn đến tình trạng nhiều máy hư hỏng không đủ máy tính cho HS thực hành. Ở nội dung Mạng Internet được các đối tượng khảo sát đều đưa ra ý kiến đánh giá ở mức Trung bình (CBQL và GV: TTB=3.40, hạng 2; HS: TTB=2.66, hạng 8). Ngày nay, mạng Internet giúp HS khám phá tri thức, phát huy tối đa năng lực trong quá trình học tập. Tuy nhiên đối với bộ môn Tin học, việc kết nối Internet không đạt yêu cầu sẽ làm ảnh hưởng rất nhiều không chỉ đến việc khai thác và chia sẻ tài nguồn tài nguyên mà còn ảnh hưởng nhiều đến chất lượng giảng dạy và học.
Thực trạng cho thấy hiện nay, bài giảng hiện đại đang có khuynh hướng sử dụng ngày càng nhiều các phương tiện như: máy chiếu, băng ghi âm, băng ghi hình, đĩa CD, phần mềm máy vi tính…, làm tăng sức hấp dẫn và hiệu quả. Tiến tới mọi GV phải có khả năng soạn bài giảng trên máy vi tính được nối mạng, biết sử dụng bảng tương tác để thực hiện bài giảng của mình một cách sinh động, hiệu quả, phát huy cao nhất tính tích cực học tập của HS. Vì vậy, nhà trường muốn nâng cao chất lượng giáo dục cần phải có sự tham mưu các cấp đầu tư nhiều hơn nữa vào các phương tiện, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động dạy cho GV và hoạt động học của HS đối với môn Tin học nói riêng và các bộ môn giảng dạy trong nhà trường nói chung.
Nhìn chung, kết quả khảo sát nhận được ý kiến đánh giá của các đối tượng khảo sát ở mức Trung bình, độ lệch chuẩn của HS cao hơn độ lệch chuẩn của CBQL và GV cho thấy các ý kiến đánh giá không thống nhất. Để người GV đạt hiệu quả cao trong giảng dạy thì cần có sự hỗ trợ, tạo điều kiện, thúc đẩy từ các nhà trường. Nhà trường cần tạo những điều kiện CSVC tốt nhất (đặc biệt cần có sự đầu tư cho hệ thống phòng máy vi tính, thư viện, nguồn tài liệu sách báo, tư liệu qua mạng thông tin) để GV có cơ hội nghiên cứu tìm hiểu chuyên môn nghiệp vụ cần thiết. Bên cạnh đó, GV vừa phải có kiến thức chuyên môn sâu rộng, biết ứng xử tinh tế, biết sử dụng các CNTT vào dạy học, biết định hướng phát triển HS theo mục tiêu giáo dục.
2.3.8. Mối quan hệ giữa hoạt động dạy và học môn Tin học ở trường trung học cơ sở Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Tin học ở trường THCS.
Để hoạt động học có kết quả thì trước tiên chúng ta phải coi trọng vai trò người GV, GV phải xuất phát từ lôgíc của khái niệm khoa học, xây dựng công nghệ dạy học, tổ chức tối ưu hoạt động cộng tác của dạy và học, thực hiện tốt các chức năng của dạy cũng như của học, đồng thời bảo đảm liên hệ nghịch thường xuyên, bền vững.
Phân tích số liệu bảng 2.13 nhận thấy Nội dung Phân bố thời gian dạy lí thuyết, thực hành/bài tập thực hành hợp lí được các đối tượng khảo sát đánh giá ở mức độ thực hiện là Khá (TTB=3.81, hạng 1) và kết quả thực hiện Khá (TTB=3.68, hạng 4). Nội dung Sự phối hợp giữa GVBM và HS được các đối tượng khảo sát đánh giá ở mức độ Khá (TTB=3.73, hạng 3) và kết quả thực hiện Khá (TTB=3.76, hạng 1). Nội dung Sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình được các đối tượng khảo sát đánh giá ở mức độ thực hiện là Khá (TTB=3.45, hạng 5) và kết quả thực hiện Khá (TTB=3.70, hạng 3).
Chứng tỏ, từ những góc độ tiếp cận vấn đề khác nhau dẫn đến có sự khác nhau trong cách đánh giá, do đó có sự phân bố không đồng đều trong cách đánh giá của các đối tượng khảo sát nên có sự khác nhau về các thứ bậc giữa các nội dung.
- Bảng 2.13. Đánh giá về mối quan hệ giữa hoạt động dạy và học môn Tin học ở trường trung học cơ sở
Qua khảo sát có thể thấy, nội dung HS tự giác, tích cực, chủ động, tự tổ chức, tự điều khiển hoạt động nhận thức của mình và nội dung Các giáo trình, tài liệu tham khảo cập được trang bị đầy đủ được các đối tượng khảo sát đánh giá ở mức độ thực hiện là Khá, tuy nhiên kết quả thực hiện là Trung bình. Cho thấy, trong quá trình thực hiện sẽ không tránh khỏi những phát sinh gây khó khăn nên dẫn đến kết quả đạt được không theo như dự kiến triển khai ban đầu.
Nhìn chung, kết quả khảo sát cho thấy các đối tượng khảo sát đều nhận thức được tầm quan trọng về mối quan hệ giữa hoạt động dạy và học môn Tin học. Tuy nhiên, có sự không thống nhất trong cách đánh giá của các đối tượng khảo sát. Do đó, trong mối quan hệ giữa hoạt động dạy và học môn Tin học để việc dạy và học mang lại kết quả, bổ ích, đáp ứng yêu cầu xã hội thì đòi hỏi cần phải có “sự tương tác” không chỉ trên lớp giữa hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò mà còn cần có sự phối hợp tốt giữa các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường. Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Tin học ở trường THCS.
2.4. Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương
2.4.1. Nhận thức của đội ngũ cán bộ quản lý về quản lý hoạt động dạy học môn Tin học
Phổ cập văn hoá thông tin trong xã hội nhằm tạo môi trường thuận lợi cho việc chuẩn bị hướng tới một xã hội thông tin. Trong đó, công nghệ quản lý giáo dục làm thay đổi cung cách điều hành và quản lý giáo dục, hỗ trợ công cuộc cải cách hành chính để làm việc hiệu quả hơn và quản lý quá trình học tập.
- Bảng 2.14. Đánh giá về sự cần thiết của công tác quản lý trong hoạt động dạy học môn Tin học
Qua số liệu bảng 2.14 cho thấy, tất cả 60 CBQL và GV được khảo sát đều nhận định công tác quản lý trong hoạt động dạy học môn Tin học ở mức cần thiết và rất cần thiết (chiếm tỉ lệ 100%) và không có CBQL, GV đánh giá có sự phân vân hay nhận định không cần thiết về công tác quản lý trong hoạt động dạy học môn Tin học. Với trị trung bình là 3.6 cho thấy CBQL và GV nhận định công tác quản lý trong hoạt động dạy học môn Tin học ở mức rất cần thiết. Hơn nữa, với độ lệch chuẩn khá nhỏ là 0.490 cho thấy số liệu đánh giá của CBQL và GV là khá tập trung. Đây là một điều kiện rất thuận lợi cho tác giả nghiên cứu đề tài này.
2.4.2. Phân cấp quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường trung học cơ sở
Đánh giá thực trạng công tác chỉ đạo của Hiệu trưởng đối với Tổ chuyên môn Tin học ở trường THCS qua kết quả khảo sát bảng 2.15 chúng ta có thể thấy, trong nhận định của CBQL và GV thì tất cả các nội dung được đánh giá ở mức độ Tốt. Nội dung có trị trung bình cao nhất là nội dung Hiệu trưởng chỉ đạo tổ trưởng chuyên môn xây dựng kế hoạch giảng dạy theo phân phối chương trình dạy học bộ môn Tin học ở các khối lớp (TTB=4.56). Bên cạnh đó, sự chênh lệch trị trung bình lớn nhất và nhỏ nhất của nội dung công tác chỉ đạo của Hiệu trưởng đối với Tổ chuyên môn cũng không lớn. Giá trị chênh lệch là 0.25.
- Bảng 2.15. Đánh giá về công tác chỉ đạo của Hiệu trưởng đối với Tổ chuyên môn
Nhìn chung, các chỉ số phân tích cũng cho thấy công tác chỉ đạo của Hiệu trưởng đối với Tổ chuyên môn được đánh giá ở mức độ Tốt. Điều đó chỉ ra rằng, Hiệu trưởng chỉ đạo tổ chuyên môn tổ chức tốt cho GV nghiên cứu chương trình, xây dựng kế hoạch dạy học ngay từ đầu năm học. Đồng thời, chỉ đạo tổ trưởng chuyên môn chỉ đạo GV thực hiện chương trình dạy học các môn học theo quy định, đảm bảo chất lượng và đúng tiến độ, thời gian như kế hoạch mà tổ chuyên môn đã đề ra. Duyệt kế hoạch giảng dạy hàng tuần cho từng GV. Bên cạnh đó, nếu nhà trường mong muốn hoàn thành các mục tiêu đề ra thì căn cứ vào kế hoạch hoạt động chuyên môn của nhà trường và kế hoạch hoạt động chuyên môn của tổ mà Hiệu trưởng cần xây dựng kế hoạch cụ thể trong công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động của tổ chuyên môn.
Đánh giá thực trạng công tác chỉ đạo của Tổ trưởng chuyên môn đối với GV trong tổ dạy học môn Tin học ở trường THCS qua bảng dữ liệu 2.16 có thể thấy, đa phần CBQL và GV đánh giá phần lớn các nội dung ở mức độ Tốt. Nội dung nhận sự đánh giá cao nhất là nội dung Tổ trưởng chuyên môn hướng dẫn GV trong tổ xây dựng kế hoạch giảng dạy bộ môn Tin học (TTB=4.51). Sự chênh lệch trị trung bình lớn nhất và nhỏ nhất của nội dung công tác chỉ đạo của Tổ trưởng chuyên môn đối với GV trong tổ cũng không lớn. Giá trị chênh lệch là 0.23. Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Tin học ở trường THCS.
- Bảng 2.16. Đánh giá về công tác chỉ đạo của Tổ trưởng chuyên môn đối với GV trong tổ
Nhìn chung, tất cả các nội dung công tác chỉ đạo của Tổ trưởng chuyên môn đối với GV trong tổ trong mức độ Tốt. Chứng tỏ, để đạt được các mục tiêu mà tổ đã đề ra phải thông qua hoạt động thực tiễn, các công việc cụ thể trong hoạt động dạy và học của thành viên trong tổ chuyên môn. Tổ trưởng chuyên môn cần tác động, ảnh hưởng tới hành vi cấp dưới thông qua các hoạt động hướng dẫn, kiểm tra, đánh giá, đôn đốc, động viên những người dưới quyền làm việc với hiệu quả cao. Do vậy, người tổ trưởng cần phải nhận thức sâu sắc, đúng đắn, có tinh thần trách nhiệm cao, có đầy đủ năng lực và phẩm chất và biết quản lý tổ một cách khoa học và nghệ thuật để không chỉ nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chuyên môn mà còn góp phần quan trọng đến chất lượng giáo dục của nhà trường.
2.4.3. Nội dung quản lý hoạt động dạy học Tin học trường trung học cơ sở
- Công tác tổ chức, chỉ đạo thực hiện chương trình dạy học môn Tin học ở trường trung học cơ sở
Đánh giá thực trạng công tác tổ chức, chỉ đạo thực hiện chương trình dạy học môn Tin học ở trường THCS. Qua bảng dữ liệu 2.17 có thể thấy, CBQL và GV đánh giá phần lớn những nội dung trong mức độ Tốt. Hai nội dung nhận được sự đánh giá cao ở mức độ Tốt là Xây dựng kế hoạch và triển khai các kế hoạch, công văn, chương trình liên quan về dạy học Tin học đến GV (TTB=4.30, hạng 1), đánh giá kết quả thực hiện Tốt (TTB=4.23, hạng 2) và Chỉ đạo lập kế hoạch kiểm tra và duyệt kế hoạch dạy học thông qua tổ trưởng chuyên môn có mức độ thực hiện là Tốt (TTB=4.23, hạng 3) và đánh giá kết quả thực hiện Tốt (TTB=4.33, hạng 1).
- Bảng 2.17. Thực trạng công tác tổ chức, chỉ đạo thực hiện chương trình dạy học môn Tin học ở trường trung học cơ sở
Ở nội dung Triển khai các qui định về hồ sơ sổ sách bộ môn Tin học đến GV có mức độ thực hiện là Tốt (TTB=4.26, hạng 2) và kết quả thực hiện là Khá (TTB=3.95, hạng 5). Nội dung nhận ý kiến đánh giá thấp nhất là Chỉ đạo GVBM Tin học thảo luận, đóng góp ý kiến về kế hoạch bài dạy, phân phối chương trình thông qua tổ trưởng chuyên môn mức độ thực hiện là Khá (TTB=3.81, hạng 6) và kết quả thực hiện là Khá (TTB=3.88, hạng 6), kết quả khảo sát của nội dung này có độ lệch chuẩn là 0.804 cao hơn độ lệch chuẩn của mức độ thực hiện là 0.791 cho thấy khi đưa ý kiến nhận định các ý kiến không thống nhất trong cách đánh giá.
Sự chênh lệch về giá trị trung bình lớn nhất và nhỏ nhất các nội dung công tác tổ chức, chỉ đạo thực hiện chương trình dạy học môn Tin học không nhiều. Giá trị chênh lệch là 0.49. Sự chênh lệch về giá trị trung bình lớn nhất và nhỏ nhất đánh giá kết quả thực hiện các nội dung cũng không nhiều. Giá trị chênh lệch là 0.45. Điều đó chỉ ra rằng, bên cạnh việc thực hiện công tác chỉ đạo thực hiện chương trình dạy học môn Tin học đã đề ra thì nhà trường cần quan tâm nhiều trong vấn đề nâng cao năng lực chuyên môn cho đội ngũ giáo viên, cũng như công tác chỉ đạo GVBM Tin học thảo luận, đóng góp ý kiến về kế hoạch bài dạy, phân phối chương trình thông qua tổ trưởng chuyên môn ở trường mình.
- Quản lý kế hoạch dạy học môn Tin học ở trường trung học cơ sở Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Tin học ở trường THCS.
Đánh giá thực trạng công tác quản kế hoạch dạy học môn Tin học ở trường THCS qua phân tích bảng số liệu 2.18, chúng ta thấy CBQL và GV đánh giá hầu hết các nội dung ở mức độ Tốt. Nội dung nhận được sự đánh giá cao nhất là nội dung Quản lý thông qua việc thanh kiểm tra và giám sát việc thực hiện chuẩn giờ lên lớp của GV, mức độ thực hiện là Tốt (TTB=4.36, hạng 1) và kết quả thực hiện là Khá (TTB=3.85, hạng 4), cho thấy nhà trường quan tâm nhiều đến việc thanh kiểm tra và giám sát việc thực hiện chuẩn giờ lên lớp của GV nhưng trong quá trình triển khai gặp khó khăn, trở ngại nên kết quả thực hiện hoạt động này không hoàn toàn phản ánh đúng thực trạng. Trong khi đó, hai nội dung được các đối tượng khảo sát đánh giá mức độ thực hiện Tốt bằng nhau là nội dung Quản lý thông qua việc xây dựng kế hoạch bộ môn, phân phối chương trình, giáo án, sổ điểm cá nhân của GV (TTB=4.21, hạng 3) và kết quả thực hiện là Tốt (TTB=4.25, hạng 1) và nội dung Quản lý thông qua thời khóa biểu, sổ đầu bài, sổ báo giảng của GV (TTB=4.21, hạng 3), kết quả thực hiện là Tốt (TTB=4.20, hạng 2). Sự chênh lệch về giá trị trung bình lớn nhất và nhỏ nhất các nội dung không nhiều. Giá trị chênh lệch là 0.21. Sự chênh lệch về giá trị trung bình lớn nhất và nhỏ nhất kết quả thực hiện các nội dung cũng không nhiều. Giá trị chênh lệch là 0.44.
- Bảng 2.18. Thực trạng quản lý kế hoạch dạy học môn Tin học ở trường trung học cơ sở
Tóm lại, kết quả khảo sát thực trạng quản lý kế hoạch dạy học môn Tin học ở trường THCS của GV, nhận được nhiều ý kiến đánh giá ở mức thực hiện Tốt cho thấy CBQL thường xuyên quan tâm đến hoạt động giảng dạy của GV, mặc dù kết quả thực hiện ở mức độ Khá. Tuy nhiên, độ lệch chuẩn của kết quả thực hiện cao hơn độ lệch chuẩn của mức độ thực hiện cho thấy, các ý kiến đánh giá có sự phân bố không đồng đều giữa các trường THCS. Trong công tác quản lý kế hoạch dạy học môn Tin học, nhà quản lý chú trọng nhiều đến công tác kiểm tra, đánh giá nhưng lại không chú trọng đến việc dự giờ, phân tích và đánh giá rút kinh nghiệm giờ dạy của GV. Yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến công tác quản lý vì thông qua việc dự giờ, phân tích và đánh giá rút kinh nghiệm giờ dạy của GV, từ đó phân tích điểm mạnh, điểm yếu về chuyên môn của GV để xác định nhu cầu phát triển chuyên môn cho GV nhằm nâng cao năng lực về dạy học cho GV.
- Quản lý hoạt động học tập môn Tin học ở trường trung học cơ sở
Đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động học tập môn Tin học ở trường THCS của học sinh qua kết quả khảo sát cho thấy CBQL và GV thể hiện mức đánh giá Tốt với phần lớn nội dung được hỏi.
- Bảng 2.19. Thực trạng quản lý hoạt động học tập môn Tin học ở trường trung học cơ sở Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Tin học ở trường THCS.
Nội dung được CBQL và GV đánh giá cao nhất là GVBM kết hợp với GVCN, Đoàn, Đội,… quản lý hoạt động học của HS với mức độ thực hiện là Tốt (TTB=4.53, hạng 1) và kết quả thực hiện được đánh giá là Tốt (TTB=4.45, hạng 1). Điểm số trung bình cao nhất của của nội dung thực hiện cũng là điểm số trung bình cao nhất của nội dung kết quả thực hiện. Chứng tỏ, sự phối hợp giữa các GV trong quản lý hoạt động học tập rất được đề cao và coi trọng. Bên cạnh đó, nội dung cũng nhận được ý kiến đánh giá cao của các đối tượng khảo sát là nội dung Tổ chức kiểm tra, giám sát thường xuyên trong quá trình học tập của HS mức độ thực hiện Tốt (TTB=4.40, hạng 2), kết quả thực hiện Tốt (TTB=4.28, hạng 3); và nội dung Xây dựng và phổ biến nội quy học tập, thực hành của HS mức độ thực hiện Tốt (TTB=4.38, hạng 3), kết quả thực hiện Tốt (TTB=4.33, hạng 2) Điều đó cho thấy công tác tổ chức kiểm tra, giám sát thường xuyên trong quá trình học tập của HS, cùng với việc xây dựng và phổ biến nội quy học tập, thực hành của HS thực sự được chú trọng trong công tác quản lý hoạt động học môn Tin học.
Ở nội dung Nhà trường kết hợp với gia đình quản lý hoạt động học của HS nhận được ý kiến đánh giá ở mức độ thực hiện là Tốt (TTB=4.36, hạng 4), kết quả thực hiện ở mức độ Khá (TTB=3.60, hạng 7). Chứng tỏ, quản lý hoạt động học môn Tin học giữa nhà trường và gia đình khi triển khai thực hiện tốt nhưng trong quá trình thực hiện vì lí do khách quan không giải quyết kịp thời những khó khăn, vướng mắc trong quản lý hoạt động học của HS nên kết quả thực hiện không tốt như khi triển khai. Nội dung nhận được ý kiến đánh giá thấp nhất là nội dung thứ 9, mức độ thực hiện là Khá (TTB=4.08, hạng 9), kết quả thực hiện ở mức độ Khá (TTB=3.45, hạng 9). Kết quả này cho thấy mặc dù không được đánh giá cao nhưng nội dung này vẫn đạt ở mức Khá. Nguyên nhân do CBQL và GV chưa tập trung vào nâng cao nhận thức về việc tự học, tự nghiên cứu của HS, GV theo thói quen chỉ tập trung truyền thụ kiến thức theo một chiều dẫn đến HS còn thụ động trong hoạt động học tập.
Như vậy, ý kiến đánh giá các nội dung này trong công tác quản lý hoạt động học môn Tin học ở trường THCS của HS ở mức Tốt. Tuy nhiên, nhà trường cần tạo được môi trường, bầu không khí học tập tốt; tổ chức các hoạt động, phong trào thi đua trong lớp, trường học. Đây là cơ hội cho GV và HS cùng tham gia để thông qua các hoạt động thi đua đó mà GV, HS có cơ hội nhìn nhận lại quá trình giảng dạy của GV và học tập của HS kết quả đạt được ở mức độ như thế nào để tự mình phấn đấu nâng cao năng lực cá nhân trong thời gian tới, đồng thời góp phần nâng cao tinh thần học tập trong nhà trường. Ngoài ra, nhà trường cần tập trung vào nâng cao nhận thức về sự cần thiết của môn Tin học cho HS và gia đình để cùng phối hợp trong việc nâng cao chất lượng học tập của HS. Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Tin học ở trường THCS.
- Quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học môn Tin học ở trường trung học cơ sở
Đánh giá thực trạng công tác quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học môn Tin học ở trường THCS qua phân tích số liệu bảng 2.20 cho thấy các nội dung có sự tương đồng trong cách đánh giá, sự phân tán độ lệch chuẩn không có sự khác biệt nhiều.
- Bảng 2.20. Thực trạng quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học môn Tin học ở trường trung học cơ sở
Nội dung được đánh giá cao nhất là nội dung Triển khai công văn liên quan đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS đến GV mức độ thực hiện là Tốt (TTB=4.35, hạng 4) và kết quả thực hiện ở mức độ Khá (TTB=4.13, hạng 4). Chứng tỏ, tất cả công văn liên quan đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS đến GV cần được triển khai trong cuộc họp hội đồng sư phạm nhà trường ngay từ đầu năm học để tất cả các GV nhà trường đều biết, đồng thời chỉ đạo cho Tổ trưởng chuyên môn triển khai thường xuyên trong các buổi sinh hoạt tổ để các thành viên trong tổ thực hiện đúng, thực hiện tốt nội dung này nhưng trong không tập trung vào nâng cao nhận thức của GV về đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS cho Tổ trưởng chuyên môn. Nội dung Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Tin học của HS thông qua việc chỉ đạo, hướng dẫn các hình thức, phương pháp kiểm tra, đánh giá ở mức độ thực hiện là Tốt (TTB=4.31, hạng 2) và kết quả thực hiện ở mức độ Khá (TTB=3.91, hạng 2). Nội dung Kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS thông qua việc xây dựng tiêu chí kiểm tra, đánh giá ở mức độ thực hiện là Tốt (TTB=4.26, hạng 3) và kết quả thực hiện ở mức độ Khá (TTB=3.85, hạng 3). Chứng tỏ, việc xây dựng tiêu chí kiểm tra, đánh giá và việc chỉ đạo, hướng dẫn các hình thức, phương pháp kiểm tra, đánh giá đều được CBQL và GV quan tâm và đánh giá cao trong công tác quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học. Nội dung cũng được đánh giá thấp nhất đó là nội dung Để thực hiện tốt hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS cần nâng cao nhận thức của GV mức độ thực hiện là Tốt (TTB=4.23, hạng 4) và kết quả thực hiện ở mức độ Khá (TTB=3.71, hạng 4).
Tóm lại, quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học môn Tin học mức độ thực hiện Tốt nhưng kết quả thực hiện đều ở mức độ Khá. Điều đó cho thấy nhà trường cần quan tâm nhiều đến việc nhận thức của GV trong đánh giá thành tích học tập của HS không chỉ đánh giá kết quả mà chú ý cả quá trình học tập vì đánh giá thành tích học tập theo quan điểm phát triển năng lực không giới hạn vào khả năng tái hiện tri thức mà chú trọng khả năng vận dụng tri thức trong việc giải quyết các nhiệm vụ phức hợp. Bên cạnh đó, Tin học là môn học mới được chính thức đưa vào chương trình dạy học ở trường phổ thông nên trước hết cần định hướng một cách tổng thể về nội dung, phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá của môn học trong việc tổ chức quản lí hoạt động dạy học. Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Tin học ở trường THCS.
- Quản lý các điều kiện, phương tiện hỗ trợ hoạt động dạy học môn Tin học ở trường trung học cơ sở
Các điều kiện, phương tiện hỗ trợ cho hoạt động dạy học đã chứng tỏ vai trò to lớn của mình trong quá trình dạy học. Nếu như nhà trường không tạo những điều kiện cần thiết thì hoạt động dạy học không đạt được hiệu quả cao trong hoạt động dạy học.
Qua phân tích bảng số liệu 2.21 cho thấy, CBQL và GV đánh giá phần lớn những nội dung của chức năng quản lý các điều kiện, phương tiện hỗ trợ hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS ở mức độ Tốt. Nội dung Trong hoạt động dạy học cần nâng cao nhận thức cho GV được nhiều CBQL và GV đánh giá ở mức độ thực hiện Tốt (TTB=4.35, hạng 1) và kết quả thực hiện là Khá (TTB=4.11, hạng 1). Nội dung Tổ chức các chuyên đề, dự giờ, thao giảng để nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ giảng dạy cho GV đánh giá ở mức độ thực hiện Tốt (TTB=4.26, hạng 2) và kết quả thực hiện là Khá (TTB=3.78, hạng 3). Nội dung Quản lí HS học môn Tin học cần có sự phối hợp giữa GVBM với GVCN và PHHS đánh giá ở mức độ thực hiện Tốt (TTB=4.21, hạng 3) và kết quả thực hiện là Khá (TTB=3.85, hạng 2). Chứng tỏ, khi GV nhận thức đầy đủ về công việc được giao thì sẽ có lòng nhiệt huyết và tinh thần trách nhiệm cao để thực hiện tốt công tác của mình thì đó là một sự thật không thể phủ nhận. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện các nhà quản lý chưa thể giải quyết hết được những khó khăn khi thực hiện nên không phản ánh đúng như thực trạng triển khai. Nội dung Các hoạt động, phong trào thi đua dạy giỏi trong tổ, trường… cần được phát động và tổ chức thường xuyên được đánh giá mức độ thực hiện là Khá và kết quả thực hiện là Khá. Cho thấy rằng, các hoạt động tổ chức trong nhà trường thì các hoạt động, phong trào thi đua đòi hỏi phải có sự đầu tư cao về thời gian, trí tuệ, tài chính nên công tác này vì các lí do khách quan nên có sự trở ngại khi thực hiện.
- Bảng 2.21. Thực trạng quản lý các điều kiện, phương tiện hỗ trợ hoạt động dạy học môn Tin học ở trường trung học cơ sở
Các nội dung Đảm bảo sách giáo khoa, sách GV và các tài liệu tham khảo bộ môn Tin học bổ sung kịp thời, thường xuyên; Phòng vi tính, máy vi tính và các trang thiết bị cần thiết phục vụ cho dạy học Tin học cần trang bị đầy đủ và được kiểm tra định kỳ đều được đánh giá mức độ thực hiện là Khá nhưng kết quả thực hiện là Trung bình. Điều này cho thấy, một trong những điều kiện không thể thiếu trong việc hỗ trợ hoạt động dạy học đó là sách giáo khoa, sách GV và các tài liệu tham khảo bộ môn Tin học, đây là điều kiện thiết yếu để tiến hành quá trình dạy học. Bên cạnh đó, trong quá trình dạy các nội dung đề cập đến các ứng dụng của các kiến thức vật lý trong đời sống và kỹ thuật; sử dụng trong việc ôn tập, đào sâu, mở rộng, hệ thống hoá kiến thức, kỹ năng của HS thì cần trang bị phòng vi tính có đầy đủ máy vi tính và các trang thiết bị cần thiết. Tuy nhiên, do điều kiện khách quan của từng trường nên việc quản lý các điều kiện, phương tiện hỗ trợ hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS chưa đạt hiệu quả cao. Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Tin học ở trường THCS.
Tóm lại, đối với bộ môn Tin học thì các phương tiện, trang thiết bị góp phần không nhỏ đến sự thành công của hoạt động dạy học môn Tin học. Chất lượng dạy học môn Tin học đạt được hiệu quả cao cũng cần có sự quan tâm hỗ trợ kịp thời giữa GVBM, GVCN, PHHS và cùng với nhà trường trong công tác QLGD nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra.
- Quản lý sự phối hợp dạy học môn Tin học ở trường trung học cơ sở
Đánh giá thực trạng công tác quản lý sự phối hợp dạy học môn Tin học ở trường THCS qua kết quả khảo sát bảng 2.22 có thể thấy có sự khác nhau đáng kể trong các nhận định về công tác này. Đa số ý kiến đánh giá đều cho rằng nội dung HT chỉ đạo GVBM Tin học thảo luận, đóng góp ý kiến về kế hoạch bài dạy, PPCT dưới sự hướng dẫn của TTCM được thực hiện ở mức Tốt (TTB=4.46, hạng 1) và kết quả thực hiện là Tốt (TTB=4.31, hạng 1). Các nội dung còn lại như Nhà trường phối hợp tổ chức các hoạt động, phong trào thi đua học tập trong HS; Sự phối hợp giữa GVBM, GVCN, tổ chức Đoàn, Đội… với tổ chuyên môn Toán-Tin; Nhà trường phối hợp tổ chức các hoạt động kiểm tra, giám sát, đánh giá thường xuyên trong quá trình học tập môn Tin học của HS; Nhà trường phối hợp với gia đình nhận thức về sự cần thiết của dạy học Tin học đều được các đối tượng khảo sát đánh giá ở mức thực hiện Tốt, tuy nhiên kết quả thực hiện chỉ đạt ở mức Khá. Đồng thời, các ý kiến đánh giá không đồng nhất với nhau, điều này cho thấy mặc dù nội dung thực hiện ở mức Tốt nhưng không nhận được sự quan tâm nhiều cho nên kết quả sau khi thực hiện là Khá, có thể lý giải là do các đối tượng khảo sát chưa nhìn bao quát nên đưa ý kiến đánh giá có phần chủ quan.
- Bảng 2.22. Thực trạng quản lý sự phối hợp dạy học môn Tin học ở trường trung học cơ sở
Nhìn chung, đa số các nội dung về công tác quản lý sự phối hợp dạy học môn Tin học ở trường THCS chỉ nằm ở mức Khá. Điều đó cho thấy rằng, để nâng cao chất lượng dạy học môn Tin học nói riêng và chất lượng các bộ môn trong nhà trường nói chung thì Hiệu trưởng phải đưa công tác quản lý vào kế hoạch và kế hoạch phải được xây dựng vừa mang tính tích cực, vừa có tính khả thi. Đồng thời, muốn thực hiện được mục tiêu giáo dục, cần phải coi trọng cả giáo dục nhà trường, giáo dục gia đình và giáo dục xã hội. Chỉ riêng nhà trường, chỉ riêng ngành giáo dục thì không thể làm tốt công tác giáo dục toàn diện được.
2.5. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường trung học cơ sở Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Tin học ở trường THCS.
Đánh giá thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS, từ bảng 2.23 cho kết quả khảo sát như sau:
- Bảng 2.23. Đánh giá về những yếu tố gây trở ngại cho công tác quản lý hoạt động dạy học môn Tin học
Các đối tượng khảo sát rất đồng ý với quan niệm cho rằng môn Tin học là môn học tự chọn nên chưa nhận được sự quan tâm nhiều so với các môn học chính thức khác, đây là nguyên nhân gây trở ngại lớn nhất cho công tác quản lý hoạt động dạy học môn Tin học với trị trung bình là 3.68 và độ lệch chuẩn khá nhỏ là 0.469 cho thấy các ý kiến đánh giá này khá tập trung. Tiếp theo, đối với bộ môn Tin học thì trang bị CSVC, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động dạy học Tin học là rất quan trọng ảnh hưởng rất lớn không chỉ công tác giảng dạy môn Tin học mà còn ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục nhà trường, tuy nhiên theo như kết quả khảo cho thấy việc trang bị CSVC, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động dạy học Tin học đáp ứng chưa kịp thời, cung cấp chưa đồng bộ, đây cũng là nguyên nhân gây trở ngại lớn, với trị trung bình là 3.50 và độ lệch chuẩn khá nhỏ là 0.596 cho thấy các ý kiếnđánh giá này khá tập trung.
Trong công tác quản lý hoạt động dạy học môn Tin học phụ thuộc rất nhiều sự phối hợp trong quản lý hoạt động dạy học tại đơn vị, giữa đơn vị với ngành giáo dục, tuy nhiên với trị trung bình là 3.85 và ĐLC là 0.732 cho thấy các ý kiến đánh giá chưa thật tập trung. Điều này chứng tỏ, việc trao đổi, học hỏi, giúp đỡ hổ trợ kịp thời tại đơn vị, giữa đơn vị với ngành giáo dục rất hữu ích trong công tác quản lý hoạt động dạy học môn Tin học nói riêng và công tác QLGD nói chung.
Bên cạnh đó, đối với các yếu tố cơ chế, chính sách hỗ trợ cho hoạt động dạy môn Tin học chưa hợp lí, chưa đồng bộ; bố trí nhân sự cho giảng dạy môn tin học có đầy đủ, kịp thời; văn bản chỉ đạo các cấp về công tác quản lí hoạt động dạy môn Tin học chưa cụ thể; sự phối hợp của các lực lượng giáo dục với đơn vị nhà trường trong quản lý hoạt động cũng là những yếu tố gây trở ngại đáng quan tâm cho công tác quản lý hoạt động dạy học môn Tin học. Giá trị chênh lệch là 0.34 cho thấy các đối tượng khảo sát có sự đồng thuận cao trong cách đánh giá.
2.6. Nhận xét chung về thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương
2.6.1. Những điểm mạnh, điểm yếu
- Những điểm mạnh Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Tin học ở trường THCS.
Trên cơ sở quán triệt các Nghị quyết của Đảng, tăng cường sự lãnh đạo của tổ chức Đảng trong các nhà trường THCS đề ra các chủ trương, biện pháp cơ bản kịp thời từng bước góp phần nâng cao chất lượng dạy học đáp ứng mục tiêu giáo dục phổ thông là tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho HS nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện…
Các nhà trường đã thực hiện khá tốt các chức năng quản lý hoạt động dạy học trên cơ sở điều kiện thực tế của nhà trường bằng năng lực quản lý và trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của mình. Căn cứ vào các qui chế về GD-ĐT, CBQL đã xây dựng kế hoạch để xác định rõ mục đích yêu cầu cụ thể của công tác dạy học; xây dựng nội dung hoạt động và đảm bảo chắc chắn có các nguồn lực để đạt được mục đích yêu cầu dạy học; các nhiệm vụ, xây dựng một số hồ sơ để quản lý chuyên môn, lập kế hoạch kiểm tra; từ đó đề ra biện pháp để đạt được mục đích yêu cầu dạy học môn Tin học ở trường THCS.
CBQL rất quan tâm đến hoạt động dạy học thông qua việc xác định rõ vai trò của GV và HS trong quá trình dạy học để có hướng quản lý phù hợp như phân công nhiệm vụ, phổ biến những nội qui về chuyên môn cho GV dạy học tại trường; tạo mọi điều kiện giúp đỡ, hỗ trợ các GV thực hiện chương trình dạy học, chuẩn bị bài dạy có chất lượng tốt, nâng cao chất lượng giờ dạy trên lớp của GV. Để tạo nguồn GV có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đạt chuẩn và trên chuẩn thì nhà trường cần tạo điều kiện cho đội ngũ GV giảng dạy được học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ góp phần đẩy mạnh công tác chuẩn hóa đội ngũ GV, thực hiện hoạt động dạy học theo hướng đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp dạy học. Qua đó, xây dựng được đội ngũ GV có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có lòng yêu nghề và tinh thần trách nhiệm cao trong công việc, yên tâm công tác, tạo nên một tập thể sư phạm đoàn kết.
Về phía lãnh đạo các cấp cũng đặc biệt quan tâm đến CSVC và đã có nhiều văn bản hướng dẫn việc ứng dụng CNTT. Cơ sở hạ tầng về CNTT, trang thiết bị phục vụ dạy học trong trường học đã dần được đầu tư để đáp ứng được việc tổ chức cho GV ứng dụng CNTT vào công tác dạy học của các trường. Đó là điều kiện thuận lợi để đẩy mạnh, nâng cao chất lượng công tác dạy và học trong trường THCS.
- Những hạn chế
Một số CBQL thực hiện công việc quản lý chủ yếu dựa vào kinh nghiệm bản thân không qua trường lớp đào tạo quản lý trước khi nhậm chức. Sự phối hợp trong quản lý hoạt động dạy học tại đơn vị, giữa đơn vị với ngành; sự phối hợp của các lực lượng giáo dục với đơn vị nhà trường trong quản lý hoạt động chưa đạt hiệu quả.
Công tác chỉ đạo sinh hoạt tổ mạng lưới, sinh hoạt tổ chuyên môn chỉ mang tính hình thức nên việc thực hiện phân phối chương trình, thao giảng, dự giờ, tham gia thi GV giỏi, công tác bồi dưỡng HS giỏi chưa mang lại hiệu quả nhiều. Trang bị CSVC, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động dạy học Tin học chưa đáp ứng nhu cầu thực tế.
Công tác xây dựng các tiêu chí kiểm tra, đánh giá việc thực hiện ngày, giờ, công; hoạt động dạy học của GV chưa thực sự được chú trọng. Công tác tập huấn, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho GV chưa được tổ chức thường xuyên. Bên cạnh đó, một số bộ phận GV không xác định nghiệp dạy học là chính, không chú trọng việc tự học, tự bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, ngại đổi mới trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy, không tâm huyết với nghề, với học trò. Chế độ, chính sách khen thưởng, động viên cho GV giảng dạy chưa được quan tâm và hỗ trợ kịp thời. Một số HS còn thụ động trong việc tự học, tự nghiên cứu.
2.6.2. Nguyên nhân của thành công và hạn chế Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Tin học ở trường THCS.
- Nguyên nhân của các thành công
Được sự quan tâm của Phòng GD – ĐT thành phố Thủ Dầu Một đối với công tác quản lý hoạt động dạy học của CBQL nhà trường. CSVC, trang thiết bị được Tỉnh chú trọng đầu tư theo hướng chuẩn hóa, cơ bản đáp ứng được nhu cầu học tập và quản lý.
Vấn đề nhận thức về tầm quan trọng của lĩnh vực quản lý hoạt động dạy học nói chung và quản lý hoạt động dạy học môn Tin học nói riêng ở trường THCS trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương của các CBQL và đội ngũ GV trong tập thể nhà trường đã được nâng cao làm cho quá trình ứng dụng trong thực tiễn nhanh và hiệu quả hơn, đáp ứng theo đúng mục tiêu giáo dục của cấp THCS và yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông trong giai đoạn hiện nay.
Kiến thức, kỹ năng và năng lực quản lý của CBQL được nâng cao qua các lớp bồi dưỡng dành cho CBQL tạo nên đội ngũ CBQL thực hiện tốt việc xây dựng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo việc thực hiện nhiệm vụ cụ thể của hoạt động dạy học của đội ngũ GV. Đồng thời, CBQL có tinh thần trách nhiệm cao và được tập thể sư phạm nhà trường tin tưởng.
Việc đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ GV luôn có sự phối hợp, kết hợp chặt chẽ giữa CBQL nhà trường, ngành GD – ĐT với các ngành, các cấp. Đa số GV có phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp, ứng xử với đồng nghiệp; năng lực phát triển nghề nghiệp, có ý thức phấn về chuyên môn (tự học, tự rèn luyện); chuyên môn giỏi; năng lực đánh giá học sinh; khả năng tìm tòi, sáng tạo trong công việc.
- Nguyên nhân của các hạn chế
Một số CBQL chưa sáng tạo trong tổ chức hoạt động giáo dục của đơn vị, chưa thực sự mạnh dạn chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học, ứng dụng CNTT trong QLGD, từ đó, hiệu quả quản lý không cao.
Các hoạt động thao giảng, dự giờ để các GV trao đổi, học hỏi và rút kinh nghiệm, tuy nhiên hoạt động này hầu như được tổ chức chỉ mang tính hình thức, các GV khi dự giờ còn nể nang, dè dặt trong việc góp ý xây dựng hồ sơ sổ sách, đổi mới phương pháp dạy học, sử dụng đồ dùng dạy học… Việc dự giờ có sự tham gia của CBQL vẫn còn hạn chế. CSVC, trang thiết bị được đầu tư, trang bị nhưng chưa đồng bộ, không đáp ứng đủ với số lượng HS theo thực tế.
Thực tế hiện nay cho thấy số lượng đội ngũ GV giảng dạy ở trường THCS cơ bản đáp ứng đủ nhu cầu về số lượng nhưng chưa đảm bảo chất lượng. Ngành Giáo dục đang trong quá trình đổi mới căn bản, toàn diện nhưng cho đến nay vẫn còn một bộ phận GV thiếu sự tự giác chủ động trong việc đổi mới chuyên môn. Một số GV tự hài lòng với bản thân, không trau dồi nâng cấp chuyên môn của mình, họ vẫn tự hài lòng với chính mình dù kiến thức chuyên môn lẫn kinh nghiệm thực tế đều thiếu hụt. Chính vì vậy, trong quá trình dạy học, họ đáp ứng một cách đối phó, bị động không những làm ảnh hưởng đến chất lượng với chuyên môn mà còn ảnh hưởng đến công tác quản lý hoạt động dạy học.
Tiểu kết chương 2 Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Tin học ở trường THCS.
Sự quan tâm của ngành GD – ĐT của Tỉnh ban hành nhiều chế độ, chính sách cho đội ngũ GV và cán bộ QLGD phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội của địa phương, góp phần tạo nên sự chuyển biến về nhận thức, phẩm chất đạo đức, tinh thần, thái độ trong thực hiện nhiệm vụ được giao. Bên cạnh đó, ngành GD – ĐT tỉnh hợp tác một số trường mở các lớp học chuyển giao một số công nghệ mới về quản lý GD – ĐT, bồi dưỡng cán bộ QLGD. Từ phân tích thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, kết quả cho thấy một số hạn chế xuất phát từ những nguyên nhân sau:
- Nhận thức về vị trí bộ môn Tin học là môn học tự chọn nên chưa nhận được nhiều sự quan tâm. Công tác xây dựng kế hoạch, chương trình dạy học chưa được chú trọng.
- Tin học là môn học mới được chính thức đưa vào chương trình dạy học ở trường phổ thông nên chưa định hướng một cách tổng thể về nội dung, phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá của môn học trong việc tổ chức, chỉ đạo thực hiện hoạt động dạy học môn Tin học.
- Một số CBQL chú trọng nhiều đến công tác kiểm tra, đánh giá nhưng lại chưa chú trọng đến việc dự giờ, phân tích và đánh giá rút kinh nghiệm giờ dạy của GV.
- Nhà trường chưa tổ chức thường xuyên cho đội ngũ GV giảng dạy môn Tin học được học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. CBQL một số trường chưa kịp thời tham mưu cho các cấp để trang bị CSVC, cung cấp trang thiết bị phục vụ cho hoạt dạy và học môn Tin học…
Xác định rõ yêu cầu khách quan là phải đánh giá yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý. Vấn đề mấu chốt ở đây là phải nâng cao nhận thức về dạy học môn Tin học; xác định kế hoạch, chương trình giảng dạy có phù hợp thực tế phát triển; công tác tổ chức, chỉ đạo thực hiện hoạt động dạy học môn Tin học có hiệu quả; kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy học môn Tin học có đúng định hướng; cơ sở hạ tầng, điều kiện máy móc, công nghệ thiết bị của nhà trường phải điều chỉnh, bổ sung ra sao để tạo điều kiện hỗ trợ hoạt động dạy học môn Tin học. Từ đó, tác giả đề xuất một số biện pháp mang tính khách quan, khả thi, phù hợp nhằm nâng cao công tác quản lý hoạt động giảng dạy môn Tin học ở các trường THCS thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương đáp ứng yêu cầu giai đoạn mới, trong điều kiện đặc thù tại tỉnh Bình Dương. Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Tin học ở trường THCS.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp quản lý dạy học môn Tin học ở trường THCS

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

