Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Giáo dục thể chất hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường THCS huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội, dân cư của huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
2.1.1. Điều kiện địa lý tự nhiên
Lục Nam là một huyện miền núi của Tỉnh Bắc Giang gồm 25 xã và 2 thị trấn, trong đó có 5 xã đặc biệt khó khăn; 6 xã khu vực II trong đó có 14 thôn, bản đặc biệt khó khăn, có tổng diện tích 597,15km2. Dân số khoảng 21,8 vạn người gồm 9 dân tộc chủ yếu sinh sống: Kinh, Tày, Nùng, Cao lan, Hoa, Sán dìu, Sán chí , Dao và Mường; trong đó người dân tộc thiểu số chiếm khoảng 13%.Lục Nam có vị trí chiến lược trọng yếu, có nhiều đường giao thông lớn nối liền với các huyện, các tỉnh trong vùng; cụ thể: Quốc lộ 31, Quốc lộ 37; tỉnh lộ 293; tuyến đường sắt Hà Nội-Quảng Ninh và đường sông Lục Nam.
2.1.2. Tình hình phát triển kinh tế – xã hội của huyện
Trong những năm qua, đặc biệt năm 2019 là năm có sự cố gắng vươn lên vượt bậc của các cấp chính quyền và nhân dân toàn huyện trong việc thực hiện Nghị quyết Đại hội đảng bộ huyện lần thứ XXI, thực hiện kế hoạch 5 năm (2016 – 2020) và tiếp tục mở ra những thời cơ và thuận lợi mới cho quá trình phát triển kinh tế – xã hội của huyện. Nền kinh tế của huyện Lục Nam có những chuyển biến rõ rệt, cơ cấu nền kinh tế chuyển biến theo hướng tích cực với mức tăng trưởng khá.
Bên cạnh những thành tựu đã đạt được ở trên, Lục Nam còn không ít những khó khăn thách thức đó là: Tỷ trọng giá trị sản xuất nông nghiệp còn cao trong cơ cấu kinh tế; thu nhập bình quân đầu người thấp. Kết cấu hạ tầng nông nghiệp nông thôn tuy đã được tăng cường một bước song chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội; chất lượng một số tuyến đường giao thông nông thôn còn kém, giao thông đi lại còn rất khó khăn. Các điều kiện phục vụ dạy và học, nâng cao chất lượng GD toàn diện còn nhiều bất cập, chất lượng GD văn hoá chưa đồng đều giữa các xã, các vùng trong huyện. Huyện xác định phát triển kinh tế – xã hội từ nay đến năm 2020 là phải nằm trong chiến lược phát triển của tỉnh theo hướng bền vững kinh tế – văn hóa – xã hội. Chuyển đổi cơ cấu và thực hiện CNH, HĐH phù hợp điều kiện của huyện nhằm đưa huyện đứng vào loại khá trong tỉnh, thu hẹp khoảng cách chênh lệch về trình độ phát triển giữa Lục Nam so với các huyện, thành phố mạnh của tỉnh, cùng với cả nước chủ động tham gia hội nhập kinh tế thế giới.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2.2. Khái quát về giáo dục THCS huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
2.2.1. Tình hình giáo dục THCS
Hiện nay, huyện Lục Nam có 25 trường THCS và 6 trường có 2 cấp học (TH&THCS). Tính đến năm học 2019-2020 có tổng số lớp là 356, với 11.709 học sinh, tỷ lệ huy động học sinh ra lớp trên số trẻ trong độ tuổi là 99,9%; tỷ lệ trẻ hoàn thành chương trình TH vào lớp 6 là 100%; tỷ lệ duy trì sĩ số là 99,96%. Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Giáo dục thể chất.
Bảng 2.1. Tình hình phát triển tại các trường THCS trên địa bàn huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang qua giai đoạn 2015-2020
Số lớp, số học sinh giảm nhẹ dần (do giảm dân số tự nhiên): năm học 2015-2016 có 383 lớp với 11.557 học sinh, đến năm học 2019-2020 có 356 lớp với 11709 học sinh (giảm 27 lớp, tăng 152 học sinh). Tỷ lệ huy động học sinh hoàn thành chương trình TH vào học lớp 6 được duy trì và đạt 100%. Qua số liệu ở 2 bảng trên ta thấy quy mô trường lớp các ngành học, cấp học của huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang trong 5 năm qua cơ bản ổn định và đáp ứng được nhu cầu học tập của con em trong huyện.
Quy mô cán bộ quản lý và giáo viên có xu hướng giảm, hàng năm quy mô GV, Cán bộ quản lý giảm từ 854 (năm học 2015-2016) xuống 835 người (năm học 2019-2020) do hiện nay các trường thực hiện tinh giản biên chế và đề án vị trí việc làm theo yêu cầu của ngành. Công tác đội ngũ luôn được quan tâm: số lượng cán bộ, GV đảm bảo đáp ứng theo quy định. Hàng năm, làm tốt công tác phát triển đảng trong các trường học, làm tốt công tác bồi dưỡng đội ngũ,trong liên tục nhiều năm qua, đội ngũ GV các cấp học được cử đi học nâng cao trình độ. Đến nay, đội ngũ Cán bộ giáo viên cơ bản đạt trình độ chuẩn trở lên.Nhìn chung quy mô phát triển trường lớp ổn định, phù hợp với tình hình thực tế của từng vùng, từng địa phương trên địa bàn toàn huyện.
2.2.2. Chất lượng giáo dục THCS Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Giáo dục thể chất.
Kết quả đánh giá chất lượng giáo dục THCS được phản ánh qua kết quả học tập năm học của HS. Quy mô HS trường THCS xếp loại hạnh kiểm Khá, Tốt đạt 95,1%, tỷ lệ xếp loại Yếu 0,2%. Không có học sinh vi phạm pháp luật, mắc tệ nạn xã hội. Xếp loại học lực Khá,Giỏi 51,89%. Tổ chức dạy nghề cho 3031 học sinh lớp 8 (đạt 100% số học sinh lớp 8). Có 21 trường tổ chức dạy tin học cho học sinh có 143 lớp 3.818 học sinh, đạt 33,2%. Tỷ lệ tốt nghiệp THCS đạt 97,8%, huy động được 80,5% số học sinh tốt nghiệp THCS vào lớp 10 THPT, bổ túc THPT các trường Trung học chuyên nghiệp và trường dạy nghề. 100% các xã và huyện đạt chuẩn phổ cập GD THCS từ năm 2003, đến nay duy trì đạt kết quả vững chắc chuẩn quốc gia về phổ cập GD THCS.
Bảng 2.2. Chất lượng GD đại trà cấp THCS phân loại theo học lực tại huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
Được quan tâm đầu tư đúng mức, vì vậy kết quả thi học sinh giỏi cấp tỉnh ngày càng cao, huyện Lục Nam thường đứng ở tốp đầu trong các huyện miền núi của tỉnh Bắc Giang. Qua các bảng trên ta thấy chất lượng GD trong 4 năm qua của huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang ở các cấp học nói chung và cấp THCS nói riêng có chiều hướng phát triển tốt cả về chất lượng mũi nhọn và chất lượng đại trà.
2.2.3. Thực trạng đội ngũ giáo viên dạy môn Giáo dục thể chất của các nhà trường
Để khảo sát thực trạng về số lượng, chất lượng đội ngũ giáo viên thể dục và tình hình thực hiện nhiệm vụ của các giáo viên thể dục ở huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đề tài tiến hành thu thập và phân tích một số số liệu thể hiện ở bảng 2.3:
Bảng 2.3. Số lượng và chất lượng giáo viên dạy Giáo dục thể chất ở các trường THCS huyện Lục Nam
Hiện nay, chất lượng giáo viên thể dục thì chưa đáp ứng được yêu cầu: Bình quân mỗi trường học chỉ có 1,8 giáo viên thể dục chuyên trách được đào tạo giáo viên Giáo dục thể chất. Trình độ GVTC nâng dần qua các năm học, năm 2015-2016 số lượng GVTC có trình độ cao đẳng 18, đến năm học 2018-2019 chỉ còn 13 người. Hàng năm, GVTC đã tham gia chương trình đào tạo, bồi dưỡng nâng chuẩn trình độ. Ngoài ra, tại huyện vẫn còn có trường không có GV chuyên trách về Giáo dục thể chất như: TH&THCS Lục Sơn còn chưa có giáo viên chuyên trách về thể dục. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng Giáo dục thể chất cho HS THCS trong toàn huyện Lục Nam.
Bên cạnh đó, trong các năm học giai đoạn 2015 – 2019, tổng số các tiết học thể dục của các trường THCS huyện Lục Nam là 25.270 tiết/năm học. Như vậy, trong năm học 2018-2019, với 57 GV chuyên trách thì có thể đảm nhiệm được: 57 GV x 19 tiết/1 tuần x 35 tuần = 37.905 tiết/năm học. Vậy ta thấy số giáo viên Giáo dục thể chất của huyện Lục Nam hoàn toàn có thể đáp ứng yêu cầu về đổi mới giảng dạy và tổ chức các hoạt động Giáo dục thể chất trong các nhà trường, chỉ có duy nhất 01 trường không có giáo viên chuyên trách. Trường không có GV chuyên trách thì GV kiêm nhiệm phải đảm nhận thêm từ 6 đến gần 10 tiết/ tuần. Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Giáo dục thể chất.
2.3. Khái quát về khảo sát thực trạng hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới các trường trung học cơ sở huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
2.3.1. Mục đích của khảo sát
- Đánh giá thực trạng dạy học môn Giáo dục thể chất tại các trường THCS trên địa bàn huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới.
- Đánh giá thực trạng cách thức quản lý, nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên về dạy học môn Giáo dục thể chất tại các trường THCS trên địa bàn huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới.
- Đánh giá thực trạng sử dụng phương pháp dạy học môn Giáo dục thể chất tại các trường THCS trên địa bàn huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới
- Đánh giá thực trạng việc sử dụng các hình thức dạy học dạy học môn Giáo dục thể chất tại các trường THCS trên địa bàn huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới.
- Đánh giá thực trạng sử dụng phương tiện, thiết bị học tập trong dạy học môn Giáo dục thể chất tại các trường THCS trên địa bàn huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới.
- Đánh giá thực trạng việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Giáo dục thể chất tại các trường THCS trên địa bàn huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới.
- Từ thực trạng đề xuất một số giải pháp quản lý hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất tại các trường THCS trên địa bàn huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới.
2.3.2. Đối tượng và mẫu khảo sát
Mẫu khảo sát được điều tra trong đề tài bao gồm lãnh đạo, chuyên viên Phòng giáo dục trung học – Giáo dục dân tộc Sở GD&ĐT Bắc Giang; lãnh đạo, chuyên viên Phòng GD&ĐT huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang; cán bộ quản lý, giáo viên dạy môn Giáo dục thể chất cấp THCS huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
2.3.3. Nội dung khảo sát Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Giáo dục thể chất.
2.3.3.1. Khảo sát thực trạng dạy học môn Giáo dục thể chất tại các trường THCS trên địa bàn huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới
Thực trạng việc thực hiện mục tiêu, nội dung chương trình môn Giáo dục thể chất tại các trường THCS trên địa bàn huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đáp ứng yêu cầu Chương trình giáo dục phổ thông mới.
- Thực trạng hoạt động giảng dạy của giáo viên dạy môn môn Giáo dục thể chất.
- Thực trạng hoạt động học tập của học sinh với môn Giáo dục thể chất.
- Thực trạng sử dụng phương pháp, phương tiện dạy học và cơ sở vật chất trong dạy học môn Giáo dục thể chất.
- Thực trạng hoạt động bồi dưỡng học sinh có năng khiếu Giáo dục thể chất.
- Thực trạng hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Giáo dục thể chất của học sinh.
2.3.3.2. Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất tại các trường THCS trên địa bàn huyện Lục Nam, tinh Bắc Giang đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới:
Thực trạng nhận thức về tầm quan trọng của công tác quản lý hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường THCS huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
Thực trạng quản lý mục tiêu, nội dung, chương trình dạy học môn Giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường THCS huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
Thực trạng quản lý hoạt động dạy của GV dạy Giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường THCS huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
Thực trạng quản lý hoạt động học tập môn Giáo dục thể chất của HS đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường THCS huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
Thực trạng quản lý đổi mới sử dụng phương pháp dạy học, hình thức dạy học phương tiện dạy học và cơ sở vật chất trong dạy học môn Giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường THCS huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng học sinh có năng khiếu Giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường THCS huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
Thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường THCS huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.
2.3.4. Quy trình, phương pháp đánh giá khảo sát Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Giáo dục thể chất.
Để đánh giá thực trạng về chất lượng hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất trường THCS trên bàn huyện Lục Nam, tinh Bắc Giang đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới và phẩm chất, năng lực của đội ngũ Cán bộ quản lý, GV, các phương pháp được sử dụng cụ thể như sau:
Trao đổi, đàm thoại với HS, cựu HS, GV, Cán bộ quản lý, của các trường THCS, các chuyên viên Phòng GDTrH – GĐT của Sở GD&ĐT Bắc Giang, của PGD và ĐT Lục Nam.
- Phát phiếu khảo sát cho Cán bộ quản lý, GV, HS.
- Xử lý số liệu theo phương pháp thống kê toán học.
2.3.5. Thời gian khảo sát
Năm học 2018-2019; Năm học 2019-2020.
2.4. Thực trạng hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường trung học cơ sở huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
2.4.1. Thực trạng thực hiện mục tiêu, nội dung, chương trình dạy học môn Giáo dục thể chất Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Giáo dục thể chất.
2.4.1.1. Về thực hiện mục tiêu hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất
- Mục tiêu chung
Môn Giáo dục thể chất giúp học sinh hình thành, phát triển kĩ năng chăm sóc sức khoẻ, kĩ năng vận động, thói quen tập luyện thể dục thể thao và rèn luyện những phẩm chất, năng lực để trở thành người công dân phát triển hài hoà về thể chất và tinh thần, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế, góp phần phát triển tầm vóc, thể lực người Việt Nam; đồng thời phát hiện và bồi dưỡng tài năng thể thao.
- Mục tiêu cấp trung học cơ sở
Môn Giáo dục thể chất giúp học sinh tiếp tục củng cố và phát triển các kĩ năng chăm sóc sức khoẻ, vệ sinh thân thể và vận động cơ bản, thói quen tập luyện và kĩ năng thể dục thể thao; nếp sống lành mạnh, hoà đồng và trách nhiệm; ý thức tự giác, tích cực vận dụng những điều đã học để tham gia các hoạt động thể dục, thể thao; bồi dưỡng năng khiếu thể thao.
Chương trình môn Giáo dục thể chất quán triệt đầy đủ quan điểm, mục tiêu, yêu cầu cần đạt về phẩm chất, năng lực, kế hoạch giáo dục và định hướng về nội dung giáo dục, phương pháp giáo dục và đánh giá kết quả giáo dục được quy định tại Chương trình tổng thể. Xuất phát từ đặc trưng của môn học, một số quan điểm sau được nhấn mạnh trong xây dựng chương trình:
Chương trình môn Giáo dục thể chất được xây dựng dựa trên nền tảng lí luận và thực tiễn, cập nhật thành tựu của khoa học thể dục thể thao và khoa học sư phạm hiện đại, trong đó có các kết quả nghiên cứu về giáo dục học,tâm lí học, sinh lí học, phương pháp giáo dục thể chất và huấn luyện thể thao; kinh nghiệm xây dựng chương trình môn Giáo dục thể chất của Việt Nam và các nước có nền giáo dục tiên tiến; kết quả phân tích thực tiễn giáo dục, điều kiện kinh tế – xã hội Việt Nam và sự đa dạng của học sinh.
Chương trình môn Giáo dục thể chất bảo đảm phù hợp với tâm – sinh lí lứa tuổi và quy luật phát triển thể chất của học sinh; phát huy tính chủ động và tiềm năng của mỗi học sinh thông qua các phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục; vận dụng các phương pháp kiểm tra, đánh giá phù hợp với đặc điểm của môn học, hỗ trợ việc hình thành, phát triển phẩm chất, năng lực ở học sinh.
Chương trình môn Giáo dục thể chất có tính mở, tạo điều kiện để học sinh được lựa chọn các hoạt động phù hợp với thể lực, nguyện vọng của bản thân và khả năng tổ chức của nhà trường; đồng thời tạo điều kiện để nhà trường xây dựng kế hoạch giáo dục phù hợp với điều kiện thực tế và đặc điểm của mỗi địa phương.
2.4.1.2. Về thực hiện nội dung chương trình dạy học môn Giáo dục thể chất
Yêu cầu cần đạt Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Giáo dục thể chất.
- Yêu cầu cần đạt về phẩm chất chủ yếu và năng lực chung
Môn Giáo dục thể chất góp phần hình thành và phát triển ở học sinh các phẩm chất chủ yếu và năng lực chung theo các mức độ phù hợp với môn học, cấp học đã được quy định tại Chương trình tổng thể.
- Yêu cầu cần đạt về năng lực đặc thù
Chương trình môn Giáo dục thể chất giúp học sinh hình thành và phát triển năng lực thể chất với các thành phần sau: năng lực chăm sóc sức khỏe, năng lực vận động cơ bản, năng lực hoạt động thể dục thể thao. Yêu cầu cần đạt về năng lực thể chất đối với cấp THCS được thể hiện như sau:
Chăm sóc sức khỏe: Hình thành được nền nếp vệ sinh cá nhân, vệ sinh trong tập luyện thể dục thể thao.
- Có kiến thức cơ bản và ý thức thực hiện chế độ dinh dưỡng trong tập luyện và đời sống hằng ngày để bảo vệ, tăng cường sức khoẻ.
- Tích cực tham gia các hoạt động tập thể trong môi trường tự nhiên để rèn luyện sức khoẻ.
Vận động cơ bản:
- Hiểu được vai trò quan trọng của các kĩ năng vận động cơ bản đối với việc phát triển các tố chất thể lực.
- Thực hiện thuần thục các kĩ năng vận động cơ bản được học trong chương trình môn học.
- Hình thành được thói quen vận động để phát triển các tố chất thể lực.
Hoạt động Thể dục thể thao:
- Hiểu được vai trò, ý nghĩa của thể dục thể thao đối với cơ thể và cuộc sống.
- Lựa chọn được và thường xuyên tập luyện nội dung thể thao phù hợp để nâng cao sức khoẻ, phát triển thể lực.
- Tham gia có trách nhiệm, hoà đồng với tập thể trong tập luyện thể dục thể thao và các hoạt động khác trong cuộc sống.
Bảng 2.6. Thực trạng việc thực hiện mục tiêu, nội dung chương trình môn Giáo dục thể chất tại các trường THCS trên địa bàn huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đáp ứng yêu cầu Chương trình giáo dục phổ thông mới
Kết quả điều tra thu được ở bảng 2.6 cho thấy, việc giáo viên nắm vững chương trình và lên kế hoạch giảng dạy đúng và đủ theo phân phối chương trình được giáo viên thực hiện thường xuyên Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Giáo dục thể chất.
Kết quả khảo sát cũng cho thấy chỉ có 1.8% giáo viên thực hiện không đủ chương trình và bị đánh giá kết quả thực hiện nội dung này ở mức độ trung bình. Rõ ràng BGH, tổ chuyên môn có theo dõi chặt chẽ để kịp thời nhắc nhở, đôn đốc vì vậy những giáo viên không thực hiện đủ chương trình chiếm tỉ lệ thấp. BGH các trường luôn quan tâm nắm bắt , theo dõi chặt chẽ việc dạy học vì vậy 100% giáo viên thực hiện chương trình qua dự giờ, giáo án, lịch báo giảng.
2.4.2. Thực trạng hoạt động giảng dạy của giáo viên dạy môn môn Giáo dục thể chất
Để biết được thực trạng việc dạy học môn Giáo dục thể chất ở các trường THCS tác giả đã sử dụng phiếu hỏi theo bảng 2.7 và thu được kết quả. cụ thể như sau:
Bảng 2.7. Thực trạng hoạt động giảng dạy của giáo viên dạy môn Giáo dục thể chất
- Đối với việc lập kế hoạch dạy học
Việc lập kế hoạch dạy học là một khâu rất quan trọng, giúp giáo viên xác định trọng tâm của năm học, của từng học kì và trọng tâm của tháng, của tuần. Qua đó các nhà quản lý cũng nắm rõ nội dung làm việc của từng giáo viên và thời gian tiến hành, cách tiến hành ra sao để công việc quản lý đạt hiệu quả tốt hơn. Thực tế cho thấy 100% giáo viên đã thực hiện tốt việc lập kế hoạch dạy học. Kế hoạch dạy học được xây dựng đầy đủ theo năm, tháng, tuần và được lãnh đạo nhà trường ký duyệt thường xuyên, đúng quy định.
- Soạn bài và chuẩn bị bài lên lớp.
Khâu soạn bài và chuẩn bị bài trên lớp cũng hết sức quan trọng. Nếu như khâu lập kế hoạch dạy học là xác định nhiệm vụ dạy học trong từng thời điểm thì khâu soạn bài và chuẩn bị trên lớp thực hiện một phần nhiệm vụ ấy. Khi soạn bài giáo viên phải hình dung được mục tiêu bài học về nhận thức, thái độ, tình cảm và kỹ năng, lượng vận động. Căn cứ mục tiêu, giáo viên phải đưa ra phương pháp và tổ chức dạy học sao cho phù hợp.
Qua trao đổi trực tiếp với cán bộ quản lý, giáo viên và điều tra bằng phiếu hỏi, chúng tôi nhận thấy, việc soạn bài lên lớp của giáo viên được đánh giá ở mức tốt. Các giáo viên đều có đủ giáo án khi lên lớp, giáo án đảm bảo nội dung, bám sát mục tiêu, thể hiện rõ các hoạt dộng của giáo viên và học sinh. Tuy nhiên nội dung giáo án chưa chú ý tính đối tượng, ít chú ý mở rộng kiến thức cho từng đối tượng học sinh và những nội dung cần giúp đỡ học sinh còn hạn chế trong môn học, học sinh khuyết tật vận động. Do đó, việc tìm hiểu, phân loại các dối tượng học sinh và xác định mục tiêu, kiến thức trong bài soạn sao cho việc tổ chức các hoạt động khi lên lớp phải phù hợp với các đối tượng và đảm bảo tinh cập nhật, mở rộng, liên hệ thực tế.
2.4.3. Thực trạng hoạt động học tập của học sinh với môn Giáo dục thể chất Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Giáo dục thể chất.
Để tìm hiểu phương pháp học tập của học sinh, qua trao đồi trực tiếp với giáo viên, học sinh, cựu học sinh và phụ huynh học sinh, tác giả nhận thấy các em chưa thật sự tự giác trong học tập. Việc tự học, tự tìm tòi khám phá, tự tập luyện chưa được các em thực hiện nhiều, dựa trên kết quả nghiên cứu về phương pháp tổ chức hoạt động dạy học của GV chưa đa dạng và thu hút HS trong các giờ học môn Giáo dục thể chất.Chủ yếu môn Giáo dục thể chất ở THCS xoay quanh mục tiêu HS lĩnh hội những kiến thức giáo viên truyền đạt ở lớp. Các em chưa có khả năng tự học, tự tập luyện chưa được khám phá tỉm tòi, và chưa được tham gia chơi các môn thể thao mà các em thích tại cộng đồng, nơi cư trú, hoặc có thì cũng rất ít. Việc vận dụng kiến thức chủ yếu thể hiện dưới dạng các bài tập đã học trên lớp, các trò chơi tại lớp học.
Bảng 2.8. Hứng thú học môn thể dục chính khoá và tham gia các hoạt động thể thao ngoại khoá của học sinh (n=500)
Qua việc khảo sát hứng thú học môn thể dục chính khoá của học sinh, có thể thấy rằng có tới 58% học sinh rất hứng thú và hứng thú học môn thể dục. Trong khi đó tỷ lệ học sinh có hứng thú tham gia các hoạt động thể thao ngoại khoá chưa cao với trên 44% học sinh rất hứng thú và hứng thú hoạt động thể thao ngoại khoá.
Bên cạnh việc xác định thực trạng hứng thú hoạt động thể thao ngoại khoá của học sinh, đề tài cũng đã tiến hành khảo sát về các nội dung và hình thức hoạt động thể thao ngoại khoá của các học sinh với kết quả cụ thể được thể hiện tại bảng 2.9:
Bảng 2.9. Nội dung, hình thức hoạt động thể thao ngoại khoá thường xuyên của các học sinh THCS (n=500)
Qua kết quả khảo sát nội dung và hình thức tập luyện thể thao ngoại khoá thường xuyên của các học sinh THCS trên địa bàn huyện Lục Nam có thể thấy rằng số lượng học sinh tham gia các hoạt động thể thao ngoại khoá thường xuyên chưa nhiều và hầu hết việc tập luyện của các em mang tính tự phát. Số lượng các học sinh tham gia tập luyện tại các câu lạc bộ thể thao, các lớp năng khiếu thể thao chưa nhiều, bên cạnh đó các lớp năng khiếu, các câu lạc bộ thể thao cũng chưa phong phú về số lượng các môn thể thao để đáp ứng nhu cầu tập luyện của các em học sinh trong giai đoạn hiện nay.
2.4.4. Thực trạng sử dụng phương pháp, phương tiện dạy học và cơ sở vật chất trong dạy học môn Giáo dục thể chất
Để đánh giá thực trạng sử dụng phương pháp, phương tiện dạy học và cơ sở vật chất trong hoạt động dạy học môn giáo dục thể chất, đề tài đã xây dựng phiếu hỏi mức độ thực hiện sử dụng phương pháp, phương tiện dạy học và cơ sở vật chất trong hoạt động dạy học môn giáo dục thể chất.
Tác giả khảo sát ở một nhóm đối tượng là 65 cán bộ quản lý của 31 trường THCS trên địa bàn huyện Lục Nam. Kết quả khảo sát được thể hiện ở bảng 2.10.
Qua kết quả thăm dò ý kiến cho thấy:
Khó khăn lớn nhất là việc tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động văn hoá thể thao của địa phương. Các địa phương không tổ chức tốt các hoạt động này nguyên nhân là do điều kiện kinh tế còn khó khăn, thiếu kinh phí tổ chức, đời sống khó khăn, việc phải hàng ngày lo công việc làm ăn nuôi sống gia đình khiến người dân không nghĩ đến nhu cầu sinh hoạt văn hoá thể thao.
Bên cạnh đó, lực lượng đứng ra tổ chức các hoạt động không đủ năng lực cũng là một nguyên nhân dẫn đến việc thiếu các hoạt động văn hoá thể thao tại các địa phương.
Khó khăn thứ 2 là khó khăn về điều kiện dụng cụ thể thao, sân bãi cho tập luyện, hầu hết các nhà trường đều thiếu dụng cụ và sân bãi phục vụ tập luyện trong nhiều năm nay. Lý do bởi cơ sở hạ tầng ở nhiều nhà trường vẫn đang thiếu thốn, kinh phí đầu tư cho công tác Giáo dục thể chất còn hạn chế, bãi tập cho học sinh hết sức khó khăn… Dụng cụ tập luyện cũng trong tình trạng tương tự khi mà nguồn kinh phí hàng năm cho việc mua sắm thiết bị, dụng cụ luyện tập không đáng kể so với nhu cầu thực tế.
Khó khăn thứ 3 là vấn đề kinh phí cho việc tổ chức các hoạt động Giáo dục thể chất, hằng năm kinh phí tổ chức các hoạt động trong nhà trường đều do ngân sách nhà nước cấp, nguồn ngân sách địa phương không hỗ trợ bởi điều kiện kinh tế của địa phương còn rất khó khăn.
Bảng 2.10. Ý kiến của cán bộ quản lý về sử dụng phương pháp, phương tiện dạy học và cơ sở vật chất trong dạy học môn Giáo dục thể chất Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Giáo dục thể chất.
Do đó kinh phí cho các hoạt động Giáo dục thể chất là rất ít ỏi trong khi nhiều công việc tại các nhà trường cần đến nguồn ngân sách này. Khó khăn tiếp theo là khó khăn về việc xây dựng kế hoạch thực hiện chương trình Giáo dục thể chất và kế hoạch kiểm tra đánh giá kết quả Giáo dục thể chất. Việc kiểm tra đánh giá theo kế hoạch dạy học căn cứ vào chương trình do Bộ GD&ĐT mặc dù vẫn được thực hiện đúng nhưng điều đó chưa đủ để đánh giá chất lượng Giáo dục thể chất của các nhà trường bởi việc đánh giá hiện tại chỉ dừng ở việc kiểm tra đánh giá về kiến thức về kỹ năng, kỹ xảo vận động cơ bản. Những kiến thức khác về Giáo dục thể chất như: Phòng tránh chấn thương; sơ cứu nạn nhân bị tai nạn chấn thương; vệ sinh học đường; vệ sinh dinh dưỡng; môi trường; phòng ngừa tệ nạn xã hội… là chưa có biện pháp kiểm tra cũng như chưa được quan tâm đúng mức
Các khó khăn tiếp theo là khó khăn về thiếu giáo viên TDTT, đây là thực trạng tại các trường THCS huyện Lục Nam trong nhiều năm qua. Do chưa đưa ra được mục tiêu cụ thể về các mặt hoạt động Giáo dục thể chất, về kiến thức, kỹ năng, vệ sinh thân thể, phòng chống bệnh tật, phòng tránh chấn thương… nên việc xây dựng kế hoạch chưa cụ thể và chi tiết, mới chỉ đưa ra mục tiêu về kỹ năng vận động. Giáo viên thể dục thiếu về số lượng và chất lượng, nhiều trường không có GV chuyên trách dẫn đến có Trường phải sắp xếp dạy chéo môn. Đây là khó khăn không thể giải quyết trong một thời gian ngắn mà đòi hỏi các nhà quản lý phải có kế hoạch để tăng cường số lượng, có biện pháp bồi dưỡng nâng cao chất lượng đội ngũ GV giảng dạy Giáo dục thể chất nhằm khắc phục tình trạng hiện tại.
Việc thiếu giáo viên dẫn đến khó khăn trong việc tổ chức phân công nhiệm vụ theo đúng chức năng chuyên môn, giáo viên thể dục phải đảm nhiệm nhiều hoạt động ngoài giờ, số lượng giờ làm việc vượt quá quy định gây sức ép về thời gian và khó có thể đảm bảo tốt chất lượng công việc.Căn cứ vào kết quả thăm dò ý kiến của cán bộ quản lý và giáo viên thể dục, giáo viên chủ nhiệm về những khó khăn khi tổ chức hoạt động Giáo dục thể chất ta có thể nhận thấy: Cán bộ quản lý còn chưa quan tâm đúng mức đến tổ chức hực hiện mục tiêu Giáo dục thể chất ở trường THCS. Hoặc nhận thức được tầm quan trọng nhưng kế hoạch hành động cụ thể thì vẫn chưa có. Sự nhiệt tình nỗ lực của giáo viên thể dục còn thiếu, chưa thực sự nêu cao trách nhiệm của bản thân trước nhiệm vụ chung của sự nghiệp, của phong trào.
Về nguyên nhân khách quan: Đây là một trong những khó khăn luôn được bàn đến mà chưa có hướng giải quyết. Dựa vào thực trạng điều tra cho thấy việc thiếu sân bãi, thiếu trang thiết bị luyện tập phục vụ cho việc tổ chức các hoạt động là rất khó khăn. Qua tìm hiểu thực tế tác giả nhận thấy rằng hầu như các trường đều thiếu sân chơi bãi tập, đặc biệt ở các trường học 2 ca thì việc tổ chức hoạt động vào buổi chiều lại ảnh hưởng đến việc học tập văn hoá của các lớp khác vì đa số các nhà trường chỉ có một sân sinh hoạt chung. Các khó khăn về kinh phí để đầu tư cho các hoạt động ngoài giờ cũng là nguyên nhân làm cho các hoạt động giáo dục thể chất ngoài giờ lên lớp của học sinh thiếu phong phú, thiếu chất lượng… làm cho sự nhiệt tình của cán bộ phụ trách các hoạt động này ngày một giảm sút, không thu hút được sự tham gia của học sinh.
Một trong những hạn chế gây ảnh hưởng cho việc thực hiện các hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất và ngoài giờ lên lớp là việc đánh giá, kiểm tra kết quả học tập và hoạt động gần như bỏ ngỏ không có tiêu chí cụ thể. Các mục tiêu chỉ dừng lại ở mức độ chung là có hoạt động còn hiệu quả, chất lượng, tác dụng thì chưa được đề cập đến. Lý do này dẫn đến hệ quả việc tìm ra cách thức mới biện pháp mới nhằm tổ chức có hiệu quả hơn các hoạt động ngoài giờ không được khuyến khích, sáng tạo. Một số cơ sở giáo dục có địa bàn dân cư xa trường dẫn đến việc tập trung học sinh đến trường tham gia các hoạt động là khó khăn, điều kiện kinh tế địa phương còn nhiều hạn chế nên học sinh ngoài giờ lên lớp chính khoá phải thường xuyên phụ giúp cha mẹ làm việc nhà. Lực lượng tổ chức các hoạt động Giáo dục thể chất ngoài giờ không đủ hoặc không đảm bảo trình độ tổ chức dẫn đến nội dung hoạt động nghèo nàn, không thu hút được sự tham gia nhiệt tình.
Khó khăn được xếp ở mức cao trong bảng thăm dò ý kiến về những khó khăn khi tổ chức hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất là vấn đề thiếu kinh phí cho các hoạt động. Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Giáo dục thể chất.
Đây cũng là một trong những nguyên nhân khách quan ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện mục tiêu dạy học môn Giáo dục thể chất.
2.4.5. Thực trạng hoạt động bồi dưỡng học sinh có năng khiếu môn Giáo dục thể chất
Việc bồi dưỡng các học sinh có năng khiếu về các môn thể thao vẫn được các nhà trường thực hiện, mặc dù vậy thì không được thường xuyên và đồng bộ các bộ môn. Do vấn đề về kinh phí mà các trường thường chỉ căn cứ vào kế hoạch tổ chức Hội khỏe phù đổng của năm học và chọn các môn thể thao dự theo thế mạnh của địa phương để tham gia do vậy thường số lượng các trường tham gia đồng đều ở các bộ môn là ít, thậm chí có những môn không thể tổ chức thi các cấp (từ cấp huyện trở lên được) do có quá ít đội hoặc vận động viên tham gia.
Ngoài ra vấn đề cản trở việc bồi dưỡng các em học sinh có năng khiếu về TDTT còn bị chi phối và ảnh hưởng bởi yếu tố người thầy. Cơ bản các giáo viên tham gia giảng dạy và bồi dưỡng đều do lòng đam mê bỏ công sức để huấn luyện các em còn việc hỗ trợ kinh phí để chi trả cho các giáo viên này là rất hạn chế. Việc xã hội hóa các hoạt động này ở các trường địa bàn nông thôn và miền núi rất hạn chế.
Hình thức tổ chức hoạt động Giáo dục thể chất cho học sinh được tiến hành chủ yếu dưới hai hình thức, giờ học chính khoá và giờ ngoại khoá. Các giờ học chính khoá là chương trình được thực hiện theo quy định có tính chất pháp quy và đây được coi là phần thực hiện không thể thiếu ở hầu hết các nhà trường. Các giờ ngoại khoá bao gồm hoạt động thể dục giữa giờ, các buổi sinh hoạt theo chủ điểm có tổ chức các hoạt động vui chơi giải trí mang tính vận động, các hoạt động thi đấu thể thao của học sinh trong trường và giữa các trường với nhau…Hoạt động nội khoá là chương trình bắt buộc nên các nhà trường đều tổ chức thực hiện nghiêm chỉnh theo mục tiêu kế hoạch đã đề ra trong từng năm học.Việc triển khai các nội dung chương trình được tiến hành hàng ngày, hàng tuần và có sự kiểm tra giám sát đều đặn của cán bộ quản lý. Khó khăn trong thực hiện nhiệm vụ này là ở một số trường không đủ giáo viên theo biên chế quy định, hoặc trình độ giáo viên không đảm bảo. Việc thiếu giáo viên dẫn đến việc dạy dồn, dạy ghép các lớp trong cùng khối; có những trường phân công giáo viên dạy các môn khác còn ít giờ dạy thêm môn thể dục, mặc dù họ không đủ năng lực dạy môn này.
Với hoạt động Giáo dục thể chất ngoài giờ lên lớp, đây là mảng hoạt động còn nhiều hạn chế ở hầu hết các trường. Cụ thể là các hoạt động mới chỉ dừng lại ở một số hoạt động như thể dục giữa giờ, sinh hoạt Đoàn Đội có nội dung Giáo dục thể chất như trò chơi vận động… mặc dù vậy thì những hoạt động này cũng chỉ mang tính hình thức còn về bản chất thì chưa thể hiện được vai trò của nó. Việc tổ chức các hoạt động thể thao ngoài giờ cho học sinh như việc tổ chức các câu lạc bộ thể thao, tổ chức các hoạt động thi đấu giao lưu, giao hữu giữa các lớp trong cùng một trường, giữa các trường với nhau hầu như là còn bị bỏ ngỏ trong nhiều năm qua. Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Giáo dục thể chất.
Để đánh giá, thực trạng thực hiện Giáo dục thể chất ngoài giờ lên lớp của học sinh, đề tài đã xây dựng phiếu hỏi mức độ thực hiện các hoạt động ngoại khoá môn thể dục của học sinh.Tác giả khảo sát ở một nhóm đối tượng là 65 cán bộ quản lý của Sở GD&ĐT Bắc Giang, Phòng Giáo dục và đào tạo huyện Lục Nam và 31 trường THCS trên địa bàn huyện Lục Nam. Kết quả khảo sát được thể hiện ở các bảng 2.11:
Bảng 2.11. Thực trạng hoạt động bồi dưỡng học sinh có năng khiếu Giáo dục thể chất
Qua kết quả khảo sát, có thể thấy rằng, các nội dung quản lý hoạt động Giáo dục thể chất ngoài giờ học chính khoá trên lớp của các nhà trường còn cơ bản thực hiện ở mức độ trung bình và chưa tốt.
2.4.6. Thực trạng hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Giáo dục thể chất của học sinh
Thực tế tại các trường THCS huyện Lục Nam trong những năm qua hoạt động kiểm tra, đánh giá được coi trọng và tiến hành thường xuyên, đều đặn. Hoạt động Giáo dục thể chất cũng được quan tâm và kiểm tra đánh giá theo lịch trình, kế hoạch của các Nhà trường. Tuy nhiên, căn cứ vào kết quả điều tra ở bảng 2.12 nhận thấy hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất là một khó khăn xếp ở vị trí thứ 4, đây là khó khăn ở hầu hết các trường và nó thể hiện cụ thể ở hai mặt sau:
Thứ nhất: Việc kiểm tra đánh giá chất lượng dạy học môn Giáo dục thể chất đối với học sinh. Theo kế hoạch giáo viên thể dục thực hiện kiểm tra đánh giá trình độ nắm kiến thức, kỹ năng của học sinh và cho điểm. Việc đánh giá này mới chỉ dừng lại ở việc thực hiện một số kỹ năng vận động. Còn một nhiệm vụ quan trọng là đánh giá sức khoẻ của học sinh thì gần như các giáo thể dục không thể đánh giá được và cũng không có nghiệp vụ chuyên môn, điều kiện để đánh giá. Theo quy định việc kiểm tra sức khoẻ định kỳ cho học sinh được tiến hành bởi giáo viên thể dục và cơ quan y tế phối hợp thực hiện. Việc làm này hầu như không được tiến hành trong nhà trường THCS. Bởi vậy chỉ khi học sinh nghỉ học vì bệnh tật và đi viện thì mới biết được thực tế tình trạng thể lực của các em ra sao. Đó là chưa kể việc đánh giá sự hiểu biết về các kiến thức: Phòng tránh chấn thương, vệ sinh học đường, vệ sinh cá nhân của học sinh chỉ thông qua việc kiểm tra trang phục học tập đầu các giờ thể dục chính khoá, hoặc chưa được kiểm tra. Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Giáo dục thể chất.
Thứ hai: Số lượng giáo viên thể dục tại các trường theo biên chế thường không đồng đều, không đủ để thành lập tổ chuyên môn độc lập. Nhiều trường chỉ có GV kiêm nhiệm từ các bộ môn khác. Vì vậy giáo viên thể dục thường sinh hoạt trong các tổ chuyên môn khác và cũng thường chịu sự quản lý của các tổ trưởng chuyên môn thuộc các chuyên ngành khác. Đây là khó khăn trong việc kiểm tra đánh giá trình độ chuyên môn nghiệp vụ của giáo viên thể dục để có biện pháp bồi dưỡng, khắc phục. Đặc thù của bộ môn thể dục có những điểm khác biệt so với các môn văn hoá đơn thuần, khác về môi trường lên lớp, khác về phương pháp, phương tiện, khác về cách đánh giá kiến thức… Vì vậy, ngoài số lượng ít ỏi giáo viên thể dục có thể đánh giá về trình độ chuyên môn, chất lượng giờ dạy thể dục của chính giáo viên thể dục thì việc đánh giá của các giáo viên khác gặp nhiều khó khăn. Xuất phát từ lý do đó, việc đánh giá, nhận xét giờ học, trình độ chuyên môn của giáo viên thể dục đối với các giáo viên khác cũng là cản trở, gây tâm lý e ngại cho người phải đánh giá, kiểm tra. Nhiều năm diễn ra tình trạng như vậy dẫn đến một thực tế là việc đánh giá chất lượng giảng dạy,trình độ chuyên môn của giáo viên thể dục vẫn bị bỏ ngỏ, giao phó hoàn toàn cho tinh thần tự giác và lương tâm của chính các giáo viên thể dục.
Bảng 2.12. Thực trạng hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Giáo dục thể chất của học sinh
Nguyên nhân gây ra những khó khăn trên là do điều kiện về đội ngũ, về cơ sở vật chất, tài chính khó khăn. Mặt khác là do công tác quản lý chưa có kế hoạch và những mục tiêu cụ thể về Giáo dục thể chất, chưa kiểm tra đánh giá thường xuyên, động viên khích lệ đội ngũ giáo viên, học sinh thực hiện nhiệm vụ dạy học môn Giáo dục thể chất trong nhà trường trong những năm qua.
2.5. Thực trạng quản lý dạy học môn Giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường trung học cơ sở huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
2.5.1. Thực trạng nhận thức về tầm quan trọng của công tác quản lý hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới các trường trung học cơ sở huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
Nhằm khảo sát thực trạng nhận thức về tầm quan trong của quản lý hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường THCS huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang tác giả đã xây dựng bộ câu hỏi bao gồm câu hỏi liên quan đến khái niệm, tầm quan trọng và nội dung quản lý hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới. Kết quả thu được Bảng 2.13:
Bảng 2.13. Kết quả khảo sát mức độ quan trọng của hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất đối với HS THCS
Qua bảng 2.13 cho thấy: Cán bộ quản lý và giáo viên chỉ có từ 33.3% đến 46,1% nhận thức vai trò phát triển của Giáo dục thể chất trong giáo dục học sinh là ở mức rất quan trọng, và có 53,9% đến 66.7% cán bộ quản lý và giáo viên chỉ đánh giá vai trò phát triển thể chất của Giáo dục thể chất trong giáo dục học sinh ở mức bình thường.
Đối với nhận thức của học sinh có 17,4% cho rằng Giáo dục thể chất có vai trò rất quan trọng để phát triển thể chất; 68,4 số học sinh được hỏi cho là Giáo dục thể chất chỉ có vai trò bình thường đối với phát triển thể chất. Điều đáng quan tâm là còn có tỷ lệ không nhỏ 14,2% đánh giá vai trò Giáo dục thể chất trong việc phát triển thể chất cho học sinh là không quan trọng.
Từ các kết quả điều tra trên ta có thể rút ra nhận xét chung là: Các cán bộ quản lý, giáo viên và phụ huynh học sinh đã có nhận thức chưa đúng đắn về vai trò của Giáo dục thể chất đối với việc phát triển thể chất và giáo dục toàn diện cho học sinh. Đây cũng chính là một trong những rào cản trong việc nâng cao chất lượng Giáo dục thể chất mà công tác quản lý Giáo dục thể chất ở các trường THCS huyện Lục Nam cần tháo gỡ. Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Giáo dục thể chất.
2.5.2. Thực trạng quản lý thực hiện mục tiêu,nội dung, chương trình dạy học môn Giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường trung học cơ sở huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
Về thực trạng quản lý nội dung, chương trình dạy học môn Giáo dục thể chất ở huyện Lục Nam trong thời gian qua đều dựa theo nội dung, chương trình về Giáo dục thể chất khối THCS mà Bộ GD&ĐT đã ban hành trong chương trình giáo dục phổ thông mới về môn Giáo dục thể chất. Nếu chỉ đánh giá hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất theo tiêu chí môn học do Bộ GD&ĐT đã ban hành thì Giáo dục thể chất huyện Lục Nam là đạt yêu cầu. Nhưng những phân tích cụ thể cho thấy là mục tiêu hiện nay chưa cụ thể: Thông qua kế hoạch bài giảng của giáo viên thể dục (giáo án bài giảng) chỉ có thể đánh giá được mục tiêu cụ thể trong từng bài, từng tuần và chỉ thuần túy là định hướng đến kỹ năng cần đạt được.
Mục tiêu về giáo dục sức khỏe cần đạt, kiến thức về an toàn để tránh chấn thương trong tập luyện, kiến thức cần trang bị về giữ gìn vệ sinh và các kiến thức liên quan là chưa được đề cập đến. Trong kế hoạch cả năm học cũng chưa có các hoạt động Giáo dục thể chất thông qua các hoạt động ngoại khóa…
Để đánh giá, thực trạng về quản lý nội dung, chương trình dạy học môn Giáo dục thể chất, đề tài đã xây dựng phiếu hỏi và khảo sát ở một nhóm đối tượng là 65 cán bộ quản lý của Sở GD&ĐT Bắc Giang, Phòng Giáo dục huyện Lục Nam và 31 trường THCS trên địa bàn huyện Lục Nam. Kết quả khảo sát được thể hiện ở các bảng 2.14:
Bảng 2.14. Thực trạng về quản lý thực hiện mục tiêu nội dung, chương trình dạy học môn Giáo dục thể chất
Căn cứ vào kết quả thăm dò ý kiến ở bảng 2.14 nhận thấy số ý kiến cho rằng kế hoạch quản lý về thực hiện mục tiêu, nội dung, chương trình môn học Giáo dục thể chất chưa đặt ra các mục tiêu cụ thể cho từng năm, từng giai đoạn chiếm 100% số ý kiến cho là đúng và rất đúng. Số ý kiến về việc chưa thường xuyên kiểm tra, giám sát hoạt động về mặt dạy học TDTT trong nhà trường có 100% cho là đúng và rất đúng. Như vậy việc hoạch định mục tiêu chưa đặt ra cụ thể. Công tác quản lý các hoạt động trong nội dung, chương trình môn học Giáo dục thể chất chưa được quan tâm đúng mức là mặt yếu kém nhất trong quản lý hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất ở các trường THCS.
2.5.3.Thực trạng quản lý hoạt động dạy của giáo viên dạy môn Giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường trung học cơ sở huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Giáo dục thể chất.
Để khảo sát nội dung này, tác giả đã sử dụng phiếu hỏi theo mẫu bảng 2.15 và đối tượng được hỏi là 65 cán bộ quản lí của Sở GD&ĐT Bắc Giang, Phòng GD&ĐT Lục Nam và các trường THCS huyện lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Kết quả thu được cụ thể như sau:
Bảng 2.15. Thực trạng quản lý hoạt động dạy của GV dạy môn Giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường THCS huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
Từ kết quả khảo sát thu được cho thấy, phần lớn cán bộ quản lí tham gia khảo sát đều nhận định rằng việc quản lí hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất đáp ứng chương trình giáo dục phổ thông mới có mức độ thực hiện tương đối thường xuyên (điểm trung bình mức độ thực hiện từ 1.86 đến 3.0). Thường xuyên nhất là “đưa ra kếh oạch, quy định về việc soạn bài và chuẩn bị giờ lên lớp của giáo viên” (điểm trung bình 3.0). xếp thứ 2 là “Tồ chức bồi dưỡng nhận thức cho giáo viên về tầm quan trọng và xu hướng đổi mới PPDH theo hướng phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh” (điểm trung bình là 2.97).
Các hoạt động ít được thực hiện ở các trường THCS thuộc địa bàn huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang là “Xử lí kịp thời những giáo viên vi phạm quy chế giảng dạy”, “Kiểm tra và xử lí các giáo viên từ chối hoặc không tham gia thường xuyên các hoạt động bồi dưỡng, nâng cao trình độ” (có điểm trung bình là 1.98) và “Khuyến khích giáo viên tham gia hoạt dộng TDTT thực tế, xem tạp chí, các chương trình truyền hình trong và ngoài nước để trau dồi kinh nghiệm” (điểm trung bình 1.94).
Nội dung tổ chức hoạt động xây dựng chương trình đào tạo, đề cương môn Giáo dục thể chất tương ứng với chương trình giáo dục phổ thông hiện nay đều được cả cán bộ quản lí và giáo viên đồng tình lựa chọn là thường xuyên (điểm trung bình là 2.88).
2.5.4. Thực trạng quản lý hoạt động học tập môn Giáo dục thể chất của học sinh đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường trung học cơ sở huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
Hoạt động học tập môn giáo dục thể chất đều tổ chức thực hiện nghiêm chỉnh theo mục tiêu kế hoạch đã đề ra trong từng năm học. Việc triển khai các nội dung chương trình được tiến hành hàng ngày, hàng tuần và có sự kiểm tra giám sát đều đặn của cán bộ quản lý. Khó khăn trong thực hiện nhiệm vụ này là ở một số trường không đủ giáo viên theo biên chế quy định, hoặc trình độ giáo viên không đảm bảo. Việc thiếu giáo viên dẫn đến việc dạy dồn, dạy ghép các lớp trong cùng khối; có những trường phân công giáo viên dạy các môn khác còn ít giờ thì bố trí dạy thêm môn thể dục, mặc dù có thể họ không đủ năng lực, trình độ để dạy môn này. Điều đó làm ảnh hưởng tương đối lớn tới việc học tập môn giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu Chương trình giáo dục phổ thông ở các trường THCS huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Để làm rõ hơn, tác giả đã sử dụng phiếu hỏi trong bảng 2.16. Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Giáo dục thể chất.
Bảng 2.16. Thực trạng quản lý hoạt động học tập môn Giáo dục thể chất của HS đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường THCS huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
Từ kết quả khảo sát thu được cho thấy, phần lớn cán bộ quản lí và giáo viên tham gia khảo sát đều nhận định rằng việc quản lí hoạt động học tập môn Giáo dục thể chất của học sinh THCS đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới có mức độ thực hiện tương đối thường xuyên (điểm trung bình mức độ thực hiện từ 2.77 đến 3.0). Thường xuyên nhất là “Theo dõi, kiểm tra sự đôn đốc việc thực hiện theo chương trình học tập của học sinh” (điểm trung bình 3.0). Xếp thứ 2 là “Xây dựng nội quy phù hợp với đặc điểm vãn hoá tại địa phương từ đó xây dựng kế hoạch Dạy học môn giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới” (điểm trung bình là 2.95). xếp thứ 3 là “Kiểm tra, đánh giá thông qua sản phẩm học tập; ý thức học tập trong giờ học môn Giáo dục thể chất của học sinh” (với điểm trung bình 2.77).
Nội dung quản lí hoạt động học tập môn Giáo dục thể chất của học sinh THCS trong chương trình giáo dục phổ thông hiện nay đều được cả cán bộ quản lí và giáo viên đồng tình lựa chọn là tương đối thường xuyên và đảm bảo.
2.5.5. Thực trạng quản lý sử dụng phương pháp dạy học, hình thức dạy học, phương tiện dạy học và cơ sở vật chất trong hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường trung học cơ sở huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
Để đánh giá thực trạng quản lý các điều kiện phục vụ cho hoạt động Giáo dục thể chất của học sinh, đề tài đã xây dựng phiếu hỏi mức độ quản lý các hoạt động ngoại khoá môn thể dục của học sinh.
Tác giả khảo sát ở một nhóm đối tượng là 65 cán bộ quản lý của 31 trường THCS trên địa bàn huyện Lục Nam. Kết quả khảo sát được thể hiện ở bảng 2.17.
Qua kết quả thăm dò ý kiến cho thấy:
Khó khăn lớn nhất là việc tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động văn hoá thể thao của địa phương. Các địa phương không tổ chức tốt các hoạt động này nguyên nhân là do điều kiện kinh tế còn khó khăn, thiếu kinh phí tổ chức, đời sống khó khăn, việc phải hàng ngày lo công việc làm ăn nuôi sống gia đình khiến người dân không nghĩ đến nhu cầu sinh hoạt văn hoá thể thao.
Bên cạnh đó, lực lượng đứng ra tổ chức các hoạt động không đủ năng lực cũng là một nguyên nhân dẫn đến việc thiếu các hoạt động văn hoá thể thao tại các địa phương. Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Giáo dục thể chất.
Khó khăn thứ 2 là khó khăn về điều kiện dụng cụ thể thao, sân bãi cho tập luyện, hầu hết các nhà trường đều thiếu dụng cụ và sân bãi phục vụ tập luyện trong nhiều năm nay. Lý do bởi cơ sở hạ tầng ở nhiều nhà trường vẫn đang thiếu thốn, kinh phí đầu tư cho công tác Giáo dục thể chất còn hạn chế, bãi tập cho học sinh hết sức khó khăn… Dụng cụ tập luyện cũng trong tình trạng tương tự khi mà nguồn kinh phí hàng năm cho việc mua sắm thiết bị, dụng cụ luyện tập không đáng kể so với nhu cầu thực tế.
Khó khăn thứ 3 là vấn đề kinh phí cho việc tổ chức các hoạt động Giáo dục thể chất, hằng năm kinh phí tổ chức các hoạt động trong nhà trường đều do ngân sách nhà nước cấp, nguồn ngân sách địa phương không hỗ trợ bởi điều kiện kinh tế của địa phương còn rất khó khăn.
Bảng 2.17. Ý kiến của cán bộ quản lý về quản lý sử dụng phương pháp dạy học, hình thức dạy học, phương tiện dạy học và cơ sở vật chất trong dạy học môn giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu Chương trình giáo dục phổ thông mới
Phần lớn các cán bộ quản lý ở địa bàn huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đều nhận định rằng việc quản lý sử dụng phương pháp dạy học, hình thức dạy học, phương tiện dạy học và cơ sở vật chất trong dạy học môn giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu Chương trình giáo dục phổ thông mới có mức đô thực hiện tốt (điểm trung bình thực hiện ~ 2.1). Cơ bản các nhà trường đều thực hiện việc trang bị cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học cho mon học giáo dục thể chất, tuy nhiên sự trang bị này lại không được xây dựng một cách cụ thể thông qua kế hoạch mà chỉ là trang bị bổ sung, chủ yếu là tập trung trang bị cho các môn có thế mạnh của nhà trường để phục vụ công tác bồi dưỡng học sinh có năng khiếu tham gia thi đấu các giải thể thao do cấp huyện, cấp tỉnh tổ chức chứ chưa xây dựng được kế hoạch trang bị dàu hạn phục vụ công tác dạy học đồng đều các môn học giáo dục thể chất để học sinh được tiếp cận nhiều nội dung học phong phú hơn.
2.5.6. Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng học sinh có năng khiếu môn Giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường trung học cơ sở huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
Công tác bồi dưỡng học sinh có năng khiếu môn học môn Giáo dục thể chất cũng như các môn học khác là nhiệm quan trọng nhằm sớm phát hiện ra các em học sinh có tố chất đặc biệt để bồi dưỡng, tạo điều kiện cho các em phát huy hết năng khiếu của mình, qua đó cũng đóng góp vào công tác tham gia Hội khỏe phù đổng các cấp của nhà trường, giúp tạo ra sân chơi lành mạnh cho các em học sinh thể hiện tố chất đặc biệt của mình. Quản lý tốt công tác này còn giúp nhà trường có thành tích cao trong công tác thi đua hàng năm học.
Bảng 2.18. Thực trạng quản lý hoạt động bồi dưỡng học sinh có năng khiếu môn Giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới các trường THCS huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
Từ kết quả trên cho thấy việc bồi dưỡng các học sinh có năng khiếu về môn Giáo dục thể chất vẫn được thực hiện thường xuyên. Tuy nhiên về chất lượng chuyên biệt hóa như: dành thời gian ngoài giờ chính khóa để bồi dưỡng còn thực hiện ở mức độ thấp và việc kiểm tra công tác bồi dưỡng của BGH nhà trường còn chưa thường xuyên. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến chất lượng các đội tuyển TDTT học sinh tham gia các giải TDTT dành cho học sinh hoặc tham gia Hội khỏe phù đổng các cấp chất lượng còn chưa cao. Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Giáo dục thể chất.
2.5.7. Thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường trung học cơ sở huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
Trong quá trình dạy học, không thể thiếu khâu kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS. Kiểm tra đánh giá là khâu cơ bản, là nhiệm vụ thường xuyên của thầy cô và nhà trường để tổng hợp các yếu tố thúc đẩy quá trình học tập và rèn luyện của HS và giữ vai trò đánh giá chất lượng dạy và học.
Bảng 2.19. Thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới tại các trường THCS trên địa bàn huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
Từ kết quả khảo sát thấy rằng hiện nay giáo viên đã kết hợp đa dạng các hình thức đánh giá kết quả học tập của học sinh. Hình thức kiểm tra như: đánh giá học sinh ngay trong quá trình học tập bằng những nhận xét, góp ý (được hầu hết GV lựa chọn), đặc biệt hình thức đánh giá toàn diện kỹ năng đa được 66,7% GV lựa chọn.
Tuy nhiên, qua việc trao đổi trực tiếp thì thấy rằng việc tự đánh giá hay đánh giá chéo của học sinh cũng chỉ dừng lại ở việc đánh giá bài làm đúng hay sai, thực hiện đã tốt hay chưa tốt nội dung yêu cầu kiểm tra mà chưa có phản hôi chính xác về nguyên nhân của hạn chế, thiếu sót và cách khắc phục.
Ban giám hiệu còn chưa thường xuyên KTĐG tiến độ, chất lượng triền khai nhiệm vụ dạy học môn Giáo dục thể chất của toàn trường cũng như của tổ chuyên môn, nên phần nào cũng có những hạn chế nhất định.
Một thực trạng cho thấy HS học ngày càng bị động, lười nhác, lười vận động,thái độ và động cơ sống không rõ ràng mà luôn ỷ lại vào gia đình và thầy cô. Về phía GV thấy được sự bất cập đó nhưng cũng chưa mạnh dạn trao đổi quan điểm dạy học theo hướng đổi mới của mình để đề xuất với nhà trường tìm ra biện pháp cải thiện tinh hình trên của HS.
Kết quả khảo sát thực trạng quản lý KTĐG hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất nói trên cho thấy đây cũng là một khâu còn yếu. Mặc dù quản lý KTĐG hoạt động dạy học nói chung, dạy học môn Giáo dục thể chất nói riêng thì nhà trưởng đã thực hiện rất tốt, nhưng những nội dung KTĐG dạy học thì còn nhiều lúng túng trong quản lý.
2.6. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý dạy học môn Giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường trung học cơ sở huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
Để đánh giá thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lí hoạt động dạy học môn giáo dục thể chất ở các trường THCS tại huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đáp ứng yêu cầu Chương trình giáo dục phổ thông mới, tác giả tiến hành phát phiếu điều tra xin ý kiến của cán bộ quản lý của Sở GD&ĐT Bắc Giang, Phòng GD&ĐT Lục Nam, 31 trường THCS trong huyện Lục Nam (tổng số 83 phiếu) như câu hỏi 8- phụ lục I. Phiếu hỏi có ba mức đánh giá và tính điểm theo mỗi mức như sau: Ảnh hưởng nhiều 3 điểm, ảnh hưởng ít 2 điểm, không ảnh hưởng 1 điểm. Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Giáo dục thể chất.
Bảng 2.20. Kết quả điều tra các yếu tố ảnh hưởng đến quản lí hoạt động Dạy học môn giáo dục thể chất ở các trường THCS tại huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang, đáp ứng yêu cầu CTGDPT
Kết quả khảo sát cho thấy: Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quản lí hoạt động DHMGDTC ở các trường THCS tại huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đáp ứng yêu cầu CTGDPT mới, tuy nhiên ta có thể phân thành 3 nhóm chính:
Nhóm yểu tố ảnh hưởng thuộc về chủ thể quản lý; nhóm yếu tổ ảnh hưởng thuộc về đối tượng quản lý; nhóm yếu tố ảnh hưởng thuộc về môi trường quản lý. Tổng có 28 yếu tố thành phần. Qua khảo sát, tác giả nhận thấy mức độ ảnh hưởng của các yếu tố rất lớn với điểm trung bình chung ( ̅) là 2,64 (Min = 1;Max = 3). Mức độ ảnh hường của các yếu tố khác nhau. Nếu xếp theo thứ bậc thì mức độ ảnh hưởng như sau:
- Nhóm các yếu tố ảnh hưởng thuộc về chủ thể quản lý với ̅: 2,71.
- Nhóm các yếu tố ảnh hường thuộc về đổi tượng quản lý với ̅: 2,64.
- Nhóm các yếu tố ảnh hưởng thuộc về môi trường quản lý với ̅: 2,58.
Việc phân tích thực trạng mức độ ảnh hưởng của các yếu tố là cơ sở thực tiễn để đề xuất biện pháp quản lí hoạt động Dạy học môn giáo dục thể chất ở các trường THCS tại huyện Lục, tỉnh Bắc Giang đáp ứng yêu cầu Chương trình giáo dục phổ thông mới. Ta có thể dùng biểu đồ để biểu thị mức độ ảnh hưởng của 3 nhóm yếu tố nêu trên như sau:
Biểu đồ 2.1. Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đối với quản lí hoạt động DHMGDTC ở các trường THCS tại huyện Lục, tỉnh Bắc Giang đáp ứng yêu cầu CTGDPT mới
2.7. Đánh giá chung về thực trạng quản lý dạy học môn Giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu chương trình giáo dục phổ thông mới ở các trường trung học cơ sở huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
2.7.1. Những ưu điểm
Mặc dù là huyện miền núi, xong công tác giáo dục luôn được các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương quan tâm tập điều kiện đầu tư cho sự phát triển về giáo dục nói chung, về Giáo dục thể chất nói riêng. Vì vậy Giáo dục thể chất của huyện Lục Nam có nhiều thuận lợi hơn các địa phương khác trong tỉnh. Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Giáo dục thể chất.
Với điều kiện thuận lợi hơn các địa phương khác trong tỉnh nên chất lượng công tác Giáo dục thể chất trong giờ học chính khoá cũng như chất lượng công tác thể thao ngoại khoá và chất lượng học sinh tham gia Hội khỏe phù đổng các cấp của học sinh THCS huyện Lục Nam luôn đạt kết quả cao so với các địa phương khác trong tỉnh. Vì vậy, trong những năm qua, phong trào Giáo dục thể chất nói chung của các trường THCS huyện Lục Nam luôn nằm trong nhóm dẫn đầu toàn tỉnh, đồng thời huyện Lục Nam cũng là nguồn cung cấp chính các học sinh THCS có trình độ, có thành tích tốt cho các đội tuyển thể thao học sinh của tỉnh Bắc Giang trong các kỳ tham dự Hội khoẻ Phù Đổng các cấp và các giải thể thao học sinh cấp khu vực, toàn quốc trong những năm qua.
Đội ngũ giáo viên thể dục của các trường THCS huyện Lục Nam thường xuyên được tham gia tổ chức các hoạt động thể thao cấp huyện, cấp tỉnh,…nên có nhiều điều kiện được bồi dưỡng, rèn luyện nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ về công tác TDTT.
Đại đa số các học sinh THCS huyện Lục Nam đều có ý thức đối với việc tập luyện TDTT để nâng cao sức khoẻ, nâng cao thể chất và đáp ứng nhu cầu tinh thần thông qua các hoạt động thể thao nên đã góp phần thúc đẩy phong trào thể thao học đường, phong trào hoạt động thể thao ngoại khoá ngày càng phát triển.
2.7.2. Những hạn chế
Bên cạnh những ưu điểm, những mặt mạnh của công tác Giáo dục thể chất trong các trường THCS huyện Lục Nam, qua kết quả thăm dò, khảo sát thực trạng về quản lý dạy học môn Giáo dục thể chất ở các trường THCS, đề tài đã rút ra những mặt còn yếu kém là:
Nhận thức của các học sinh về vai trò của Giáo dục thể chất đối với việc phát triển thể chất và giáo dục toàn diện cho học sinh còn chưa đồng đều. Nhiều học sinh còn coi nhẹ môn học thể dục, coi các giờ học thể dục là thời gian vui đùa…
Hệ thống cơ sở vật chất phục vụ cho việc giảng dạy và học tập môn thể dục nói chung và phục vụ cho các hoạt động thể thao trong các nhà trường còn thiếu. Số lượng, chủng loại cũng như chất lượng của các trang thiết bị, dụng cụ tập luyện TDTT của các nhà trường còn rất hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu học tập của học sinh. Diện tích sân bãi tập luyện thể dục của các nhà trường nhỏ hẹp, không đảm bảo cho việc giảng dạy các nội dung có yêu cầu về sân bãi đủ tiêu chuẩn như các bài tập chạy, bài tập ném bóng, bóng đá…
Đội ngũ giáo viên thể dục của các nhà trường tuy đã đủ về số lượng và yếu về chất lượng và tình trạng thừa thiếu giáo viên cục bộ vẫn còn tồn tại. Tình trạng có trường học không có giáo viên thể dục và việc phải bố trí giáo viên các môn học khác phải kiêm nhiệm dạy thêm môn thể dục vẫn còn xảy ra.
Việc tổ chức các hoạt động thể thao ngoại khoá cho học sinh còn chưa được quan tâm đúng mức. Số lượng các hoạt động thể thao ngoại khoá của học sinh còn hạn chế, hình thức tổ chức chưa phong phú nên chưa thu hút được sự tích cực hưởng ứng tham gia của học sinh. Các loại hình tổ chức tập luyện thể thao ngoài giờ cho thanh thiếu niên của huyện Lục Nam nói chung và của đối tượng là học sinh THCS nói riêng còn rất thiếu, các lớp năng khiếu thể thao, các câu lạc bộ thể thao cơ sở chưa có nên chưa đáp ứng được nhu cầu tập luyện thể thao ngoài giờ cho các em học sinh được thường xuyên.
Công tác xã hội hoá giáo dục của huyện Lục Nam còn hạn chế, chưa thu hút được nhiều nguồn lực trong xã hội để góp phần đầu tư nâng cao chất lượng, phát triển hệ thống cơ sở vật chất… đối với công tác giáo dục nói chung và công tác Giáo dục thể chất nói riêng.
Nguồn kinh phí ngân sách nhà nước cấp cho giáo dục chưa đáp ứng được yêu cầu về việc đầu tư nâng cao chất lượng hệ thống cơ sở vật chất phục vụ cho việc giảng dạy và học tập môn thể dục của các nhà trường trong huyện.
2.7.3. Nguyên nhân của những hạn chế Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Giáo dục thể chất.
Nhận thức về tầm quan trọng của dạy học môn Giáo dục thể chất của cán bộ, giáo viên, học sinh còn nhiều hạn chế. Phần lớn giáo viên, học sinh hiểu môn Giáo dục thể chất trong nhà trường là dạy môn phụ. Chưa quan tâm đến các vấn đề giáo dục môi trường, giáo dục vệ sinh phòng chữa bệnh, phòng tránh chấn thương, vệ sinh dinh dưỡng,vệ sinh học đường, phòng tránh, ngăn ngừa các tệ nạn xã hội, nghiện hút,…
Các lực lượng xã hội chưa xây dựng được môi trường giáo dục sức khoẻ thống nhất trong trường, ở gia đình và trong cộng đồng. Một trong các nguyên nhân là vì hoàn cảnh kinh tế, địa lý ở địa phương có khó khăn, nhưng nguyên nhân chủ yếu là các cấp quản lý chưa quan tâm đúng mức đến vấn đề dạy môn Giáo dục thể chất, chưa có kế hoạch cụ thể, chưa đặt thành các mục tiêu phấn đấu hàng năm.
Giáo viên thể dục ở một số trường còn thừa, thiếu cục bộ thậm chí có trường còn không có giáo viên dạy môn Giáo dục thể chất dẫn đến việc dạy chéo môn, dạy dồn, dạy ghép. Số giờ giảng dạy chuyên môn đã đủ tiêu chuẩn quy định trong khi đó giáo viên thể dục lại phải đảm nhiệm nhiều công việc về hoạt động phong trào; thiếu thời gian học tập bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để đáp ứng các yêu cầu huấn luyện các môn tự chọn. Đây là những khó khăn và là nguyên nhân quan trọng gây ảnh hưởng đến quá trình quản lý hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất trong các nhà trường THCS. Nhân tố quyết định đến chất lượng giáo dục là đội ngũ giáo viên, việc đáp ứng đủ số lượng, chất lượng giáo viên theo quy định là điều kiện cơ bản để đáp ứng việc thực hiện mục tiêu Giáo dục thể chất đã đề ra.
Việc thực hiện nội dung chương trình do Bộ GD&ĐT ban hành là pháp lệnh song để đảm bảo phù hợp với hoàn cảnh điều kiện thực tế ở các vùng miền cần “mềm” hoá nội dung chương trình. Công việc này cần sự chỉ đạo của cán bộ quản lý và được bàn bạc trao đổi một cách nghiêm túc trong giáo viên thì việc tăng cường nội dung Giáo dục thể chất ngoài giờ lên lớp vào các các hoạt động khác mới thực hiện được. Mặt khác việc tổ chức các hoạt động thể thao ngoại khoá cho học sinh cũng cần những điều kiện như kinh phí xây dựng chương trình, sự tham gia nhiệt tình của giáo viên dạy các môn…
Qua thăm dò ý kiến cán bộ, giáo viên cho thấy: Ở các trường THCS huyện Lục Nam chưa có nội dung chương trình hoạt động thể thao ngoại khoá kết hợp với các hoạt động phong trào khác ngoài giờ lên lớp. Đây là một vấn đề còn tồn tại trong quản lý dạy học môn Giáo dục thể chất cần được giải quyết. Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Giáo dục thể chất.
Việc đầu tư cơ sở vật chất, sân bãi luyện tập, dụng cụ thể thao đòi hỏi nguồn kinh phí lớn, trong thực tế ở nhiều trường những điều kiện cơ bản cần thiết hơn như lớp học, bàn ghế, đồ dùng dạy học,… vẫn chưa được đáp ứng tốt thì việc tập trung kinh phí để đầu tư sân bãi, mua sắm trang thiết bị dụng cụ học tập TDTT là rất khó khăn. Nhiều trường chỉ trông chờ vào kinh phí các dự án tài trợ. Cơ sở vật chất là điều kiện tiên quyết để thực hiện các giờ học Giáo dục thể chất và các hoạt động Giáo dục thể chất ngoài giờ. Để có một nhà trường với trang thiết bị dụng cụ, sân bãi tập luyện thể dục thể thao có thể đáp ứng được yêu cầu cho hoạt động Giáo dục thể chất hiện nay ở huyện Lục Nam là rất cần có sự đầu tư của nhà nước, của các cấp, các ngành, đoàn thể cũng như sự tham gia ủng hộ của các tổ chức, cá nhân, các nhà hảo tâm trong toàn xã hội.
Môi trường hoạt động thể thao ngoại khoá cho các đối tượng thiếu niên nhi đồng nói chung và đối tượng học sinh THCS nói riêng của huyện Lục Nam còn hạn chế. Các hoạt động ngoại khoá trong hệ thống giáo dục của địa phương mới chỉ dừng lại ở một số hoạt động thi đấu theo hệ thống Hội khoẻ Phù Đổng, hệ thống hội thi thể thao các cấp mà chưa có các hoạt động thi đấu giao lưu thể thao thường xuyên giữa các lớp, các khối, các trường… Một số ngành chuyên môn như ngành văn hoá, thể thao, trung tâm hoạt động thanh thiếu nhi… chưa tổ chức được nhiều lớp năng khiếu thể thao, câu lạc bộ thể thao để tạo môi trường thuận lợi thu hút và đáp ứng nhu cầu tập luyện thể thao ngoại khoá nâng cao thể chất, phát triển tài năng thể thao cho các em học sinh.
Việc kiểm tra đánh giá công tác Giáo dục thể chất chưa có chuẩn cụ thể và chưa được tổ chức thường xuyên. Nội dung dạy học môn Giáo dục thể chất mới chỉ dừng lại ở việc đánh giá kỹ năng vận động, nhiều nội dung khác thuộc nhiệm vụ của Giáo dục thể chất chưa được đề cập trong các hình thức kiểm tra đánh giá. Việc đánh giá tình trạng sức khoẻ toàn diện của học sinh, kiểm tra đánh giá kiến thức về vệ sinh than thể phòng bệnh… chưa được quan tâm và chưa có cách thức kiểm tra đánh giá hợp lý.
Tiểu kết chương 2 Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Giáo dục thể chất.
Chương 2 đã khái quát được tình hình thực tế của việc quản lí hoạt động Dạy học môn giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu Chương trình giáo dục phổ thông mới. Đồng thời thu thập, thống kê, phân tích số liệu cụ thể về tình hình công tác quản lí của đội ngũ cán bộ quản lí cũng như giáo viên.
Trong các nội dung về công tác quản lí, từng nội dung cụ thể thì không có một nội dung nào được các nhà quản lí cũng như giáo viên đánh giá ở mức độ “Tốt”, đa phần là các nội dung được đánh giá ở mức độ “Khá”. Cá biệt có nội dung còn được đánh giá ở mức độ “Trung bình”, thậm chí là “Yếu – Kém”.
Kết quả khảo sát và những đánh giá ban đầu từ khảo sát thực trạng quản lí hoạt động Dạy học môn giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu Chương trình giáo dục phổ thông mới là những cơ sở thực tiễn quan trọng giúp chúng tôi đề xuất những giải pháp, hướng thay đồi phù hợp, khả thi với đặc điểm tại địa bàn khu dân cư. Từ đó, góp phần nâng cao hiệu quả việc quản lí hoạt động Dạy học môn giáo dục thể chất tại huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đáp ứng yêu cầu Chương trình giáo dục phổ thông mới.
Kết quả nghiên cứu ở chương 2 cho thấy: Công tác quản lý, chỉ đạo hoạt động dạy học môn Giáo dục thể chất tại các trường THCS trên địa bàn huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang đáp ứng yêu cầu Chương trình giáo dục phổ thông mới đã đạt được một số kết quả đáng ghi nhận. Nhiều hoạt động đã được các trường tập trung chỉ đạo thực hiện khá tốt, có tác động tích cực đến các hoạt động dạy học như: việc chỉ đạo tồ trưởng bộ môn đánh giá kế hoạch bài giảng dựa trên mục tiêu dạy học việc điều chỉnh sự phân công chuyên môn cho hợp lí; việc quản lý giờ dạy của GV thông qua thời khóa biểu, Kế hoạch dạy học, Sổ báo giảng, sổ ghi đầu bài; việc kiểm tra giáo án và hồ sơ cá nhân, lịch báo giảng sổ ghi đầu bài và kiểm tra thực hiện chấm, cho và vào điểm của GV.
Việc tổ chức sinh hoạt chuyên môn chưa thực sự hiệu quả, nội dung sinh hoạt chưa được phong phú, nhàm chán, không thiết thực, tổ chức sinh hoạt nặng hình thức, TTCM chưa thể hiện được vai trò rõ rệt đã dẫn tới sự phối hợp với tổ trưởng để quản lý việc thực hiện chương trình, kế hoạch dạy học chưa tốt; việc thiết kế, tổ chức bài dạy nặng hình thức, việc tổ chức cho tổ bộ môn cùng thiết kế giáo án, thao giảng, dự giờ, rút kinh nghiệm không được thực hiện thường xuyên.
Việc bồi dưỡng nâng cao nhận thức, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ về đổi mới phương pháp dạy học cho giáo viên không được chỉ đạo quyết liệt dẫn đến việc tổ chức cho GV học tập, bồi dưỡng, nắm vững PPDH tích cực, việc hướng dẫn thiết kế bài dạy theo hướng tiếp cận năng lực, việc tổ chức tập huấn KT- ĐG kết quả học tập của HS theo tiếp cận năng lực… không đạt được mục tiêu đã định.
Việc đổi mới kiểm tra – đánh giá chất lượng dạy học theo tiếp cận năng lực đã được quan tâm, xong một số GV thực hiện còn chậm, chưa định lượng rõ tiêu chuẩn, tiêu chí đánh giá GV nên việc đánh giá còn nặng cảm tính dẫn tới việc kiểm tra hoạt động sinh hoạt tổ, nhóm chuyên môn chưa được thực hiện nghiêm túc, việc đánh giá GV bằng kết quả thi đua cuối năm thiếu công bằng, chưa đạt được hiệu quả tích cực là điều chỉnh phương pháp giảng dạy và giúp HS điều chỉnh phương pháp học tập.
Các trường chưa tập trung quản lý có hiệu quả việc sử dụng các PTKT,ĐDDH môn Giáo dục thể chất theo hướng phát triển năng lực. Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học môn Giáo dục thể chất các nhà trường chỉ đáp ứng nhu cầu dạy học tối thiểu, chưa thể đáp ứng tốt yêu cầu dạy học môn Giáo dục thể chất theo Chương trình giáo dục phổ thông và các hoạt động ngoại khóa, các hoạt động TDTT ngoài giờ nhằm phát triển năng lực về thể chất cho học sinh.
Kết quả nghiên cứu ở chương 2 cũng cho thấy một số yếu tố cả chủ quan và khách quan đều có ảnh hưởng đến quản lý dạy học môn Giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu Chương trình giáo dục phổ thông mới. Trong đó, các yếu tố: phương pháp và kinh nghiệm giảng dạy của GV; năng lực và trình độ chuyên môn nghiệp vụ của GV giảng dạy; Chương trình, nội dung dạy học môn Giáo dục thể chất có ảnh hưởng nhiều nhất đến quản lí dạy học môn Giáo dục thể chất đáp ứng yêu cầu Chương trình giáo dục phổ thông mới. Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Giáo dục thể chất.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp quản lý dạy học môn Giáo dục thể chất
