Luận văn: Thực trạng QL vui chơi phát triển tình cảm xã hội cho trẻ

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng QL vui chơi phát triển tình cảm xã hội cho trẻ hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý hoạt động vui chơi phát triển tình cảm xã hội cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong trường mầm non tại huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát về địa bàn nghiên cứu

2.1.1. Điều kiện tự nhiên của huyện Bắc Tân Uyên

Theo Báo cáo số 56/BC-UBND ngày 20/4/2024 về tình hình phát triển KT-XH, QP-AN tháng 4/2024 và một số nhiệm vụ trọng tâm tháng 5/2024 của Ủy ban nhân dân huyện Bắc Tân Uyên năm 2024. Huyện Bắc Tân Uyên được thành lập và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01/4/2021 theo Nghị quyết số 136/NQ-CP ngày 29/12/2020 của Chính phủ trên cơ sở chia tách huyện Tân Uyên để thành lập thị xã Tân Uyên và huyện Bắc Tân Uyên. Sau khi chia tách, huyện nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Bình Dương, phía Đông của huyện giáp tỉnh Đồng Nai, phía Tây giáp thị xã Tân Uyên và huyện Bàu Bàng, phía Nam giáp thị xã Tân Uyên và phía Bắc giáp huyện Phú Giáo. Huyện có diện tích tự nhiên là 40.087 ha; có hai con sông lớn chảy qua là sông Bé và sông Đồng Nai, diện tích chủ yếu là trồng cây cao su và cây ăn quả có múi (cam, quít, bưởi da xanh, bưởi đường da cam). Dân số toàn huyện hiện nay là 62.392 người, với 12.651 hộ.2.1.2. Điều kiện kinh tế – xã hội của huyện Bắc Tân Uyên

Theo Quyết định số 1234/QĐ–UBND ngày 09/5/2019 về công nhận các xã khó khăn trên địa bàn tỉnh Bình Dương theo tiêu chí của Trung ương và của tỉnh của Ủy ban nhân dân tỉnh Bình dương năm 2019 thì huyện Bắc Tân Uyên có 10 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó có 8 xã thuộc vùng khó khăn theo Quyết định số 1234/QĐ-UBND ngày 09/5/2019 của UBND tỉnh Bình Dương (trừ xã Tân Bình và Bình Mỹ); với 54 ấp. Cơ cấu kinh tế của huyện là Nông lâm nghiệp- Công nghiệp-Dịch vụ (46,58% – 29,98% – 23,44%). Nông nghiệp giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, giá trị sản xuất nông-lâm nghiệp ước thực hiện 2.056 tỷ đồng. Trong đó, trồng trọt chiếm tỷ trọng 80,52%, chăn nuôi chiếm 19,48%. GDP bình quân đầu người đạt 39,5-40 triệu đồng/người/năm. Đến cuối năm 2023, huyện có 7/10 xã đạt chuẩn nông thôn mới.

Trong bối cảnh còn nhiều khó khăn thách thức nhưng nhìn chung đến nay, tình hình KT-XH, quốc phòng an ninh trên địa bàn huyện tiếp tục có chuyển biến tích cực, các chỉ tiêu chủ yếu đều đạt và vượt kế hoạch; an sinh xã hội được đảm bảo. Cơ sở hạ tầng và giao thông nông thôn tiếp tục được đầu tư, xây dựng; tình hình sản xuất công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp duy trì hoạt động. Thị trường hàng hóa tương đối ổn định, số lượng hàng hóa đa dạng, phong phú đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng. Thu ngân sách ước đạt kế hoạch đề ra. Tình hình an ninh chính trị, trật tự xã hội trên địa bàn huyện được giữ vững và ổn định. Công tác đền ơn đáp nghĩa, chăm lo cho các đối tượng chính sách, đối tượng xã hội có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và công nhân xa quê được quan tâm và thực hiện tốt. Ngành GD, y tế đạt được nhiều kết quả tích cực trong nâng cao trình độ đào tạo và chăm sóc sức khỏe. Hoạt động văn hóa, thể dục thể thao được tổ chức, từng bước đáp ứng nhu cầu vui chơi giải trí của người dân. Luận văn: Thực trạng QL vui chơi phát triển tình cảm xã hội cho trẻ.

2.1.3. Khái quát tình hình giáo dục và đào tạo của huyện Bắc Tân Uyên

Cùng với sự tăng trưởng của nền kinh tế, đồng thời kế thừa truyền thống hiếu học của miền quê Tân Uyên, Chiến khu Đ, ngành GD&ĐT huyện trong những năm qua, đặc biệt từ khi tách huyện đến nay đã có bước phát triển và đạt được một số thành tựu đáng kể, đóng góp xứng đáng vào phong trào GD tỉnh Bình Dương cũng như sự phát triển KT-XH của địa phương.

CSVC trường học ngày càng được quan tâm đầu tư tăng cường, quy mô GD&ĐT phát triển và tương đối đồng đều, CLGD ổn định và được nâng lên qua từng năm. Toàn huyện hiện có 25 trường với 1.046 người. Cụ thể:

  • Cấp Mầm non: có 10 trường với 328 người, trong đó GV dạy lớp 190 người, CBQL 31/31 nữ, nhân viên hành chính 107 người. Tỷ lệ GV đạt chuẩn trở lên đạt 100%
  • Cấp Tiểu học: có 10 trường với 384 người, trong đó GV dạy lớp 250 người, CBQL 24/16 nữ, nhân viên hành chính 110 người. Tỷ lệ GV đạt chuẩn trở lên chiếm 99,6%: trung cấp 19/250 (7,6%), cao đẳng 83/250 (33,2%), đại học 145/250 (58%), thạc sĩ 1/250 (0,4%); cấp học còn 2 GV chưa đủ chuẩn (0,8%).
  • Cấp Trung học cơ sở: có 2 trường Trung học cơ sở với 73 người, trong đó GV dạy lớp 43 người, CBQL 4/1 nữ, nhân viên hành chính 26 người. Tỷ lệ GV đạt chuẩn trở lên đạt 100%.
  • Cấp Trung học phổ thông: có 3 trường THPT (có cấp THCS) với 248 người, trong đó GV dạy THCS có 105 người, GV dạy THPT có 82 người, CBQL 11/4 nữ, nhân viên hành chính 50 người. GV đạt chuẩn trở lên 100%.
  • Phòng Giáo dục và Đào tạo:13 người/7 nữ.

Đối với đội ngũ CBQL, 100% đều đạt chuẩn trở lên về chuyên môn, trong đó trên chuẩn cấp Mầm non đạt 96,77% (30/31); cấp Tiểu học đạt 91,67% (22/24); cấp THCS đạt 100%. Số đảng viên toàn ngành hiện có 287 người, chia ra: 73 Mầm non, 99 Tiểu học, 19 THCS, 84 THPT, 12 Phòng GD&ĐT.

Toàn huyện hiện có 11/25 trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 1 (trong đó có 7 trường Tiểu học) và 03 trường đạt kiểm định CLGQ (trong đó có 1 trường Tiểu học). Huyện được công nhận phổ cập Tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập THCS nhiều năm qua.

2.2. Tổ chức nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động vui chơi phát triển tình cảm xã hội cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi trong trường mầm non tại huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương

2.2.1. Mục đích nghiên cứu

Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động vui chơi phát triển tình cảm xã hội cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi tại huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương

2.2.2. Nội dung nghiên cứu

Thực trạng hoạt động vui chơi phát triển tình cảm xã hội cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi tại huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương

Thực trạng quản lý hoạt động vui chơi phát triển tình cảm xã hội cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi tại huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương

2.2.3. Phương pháp nghiên cứu Luận văn: Thực trạng QL vui chơi phát triển tình cảm xã hội cho trẻ.

2.2.3.1. Đối với phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

  • Mẫu khảo sát

Khảo sát với 118 đối tượng là HT, Phó HT, Tổ trưởng khối lá, GV lớp lá huyện Bắc Tân Uyên, Bình Dương.

Mẫu khảo sát được chọn theo kỹ thuật lấy mẫu “Phân tầng không theo tỷ lệ”[39, 29], 10 trường được chọn khảo sát là:

Trường MN Hoa Cúc (mã hóa: A), Trường MG Bông Trang (mã hóa: B ), Trường MN Tân Lập (mã hóa: C); Trường MN Hoa Phong Lan (mã hóa: D); Trường MN Sơn Ca (mã hóa: E), Trường MN Hiếu Liêm (mã hóa: F); Trường MN Hoa Anh Đào (mã hóa: G); Trường MN Thường Tân (mã hóa: H); Trường MG Măng Non (mã hóa: I); Trường MN Trúc Xanh (mã hóa: J).

Mẫu khảo sát với đối tượng là CBQL gồm 31 người là Hiệu trưởng và hiệu phó tại 10 trường Mầm Non và mẫu giáo, Tổ trưởng khối lá: 10 người giáo viên cốt cán được phân công làm tổ trưởng khối lá mỗi trường có 1 người.

  • Bảng 2.1. Cơ cấu đội ngũ CBQL theo chức vụ của mẫu khảo sát
  • Bảng 2.2. Cơ cấu đội ngũ GV của mẫu khảo sát
  • Thiết kế bảng hỏi

Để tìm hiểu thực trạng QL HĐVC PTTCXH ở các trường mầm non tại huyện Bắc Tân Uyên, chúng tôi đã xây dựng bảng hỏi dựa trên cơ sở lý luận về HĐVC PTTCXH đã được xây dựng ở chương I.

  • Bảng hỏi dành cho CBQL (phụ lục 1.1) gồm 7 câu hỏi, bao gồm 2 phần:

Phần I. Thực trạng về HĐVC PTTCXH lớp gồm 04 câu hỏi liên quan về: Tầm quan trọng, phân loại trò chơi, nội dung HĐVC, phương pháp Luận văn: Thực trạng QL vui chơi phát triển tình cảm xã hội cho trẻ.

Phần II. Thực trạng QL HĐVC PTTCXH lớp gồm 3 câu hỏi liên quan về: sự cần thiết, các hoạt động QL HĐVC PTTCXH (công tác xây dựng kế hoạch, công tác tổ chức thực hiện, công tác lãnh đạo, chỉ đạo đội ngũ GV, công tác kiểm tra đánh giá HĐVC PTTCXH, các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả QL HĐVC PTTCXH).

  • Bảng hỏi dành cho GVCN (phụ lục 2) gồm 6 câu hỏi, bao gồm 2 phần:

Phần I. Thực trạng về HĐVC PTTCXH gồm 5 câu hỏi, trong đó có 4 câu hỏi như bảng hỏi đối với CBQL, 1 câu hỏi về nội dung phát triển tình cảm xã hội

Phần II. Thực trạng QL HĐVC PTTCXH gồm 2 câu hỏi về các hoạt động QL HĐVC PTTCXH (công tác xây dựng kế hoạch: thực hiện kế hoạch, thiết lập mục tiêu rõ ràng, xác định các nguồn lực, công tác tổ chức thực hiện, công tác lãnh đạo, công tác kiểm tra đánh giá giống bảng hỏi với CBQL).

2.2.3.2. Đối với phương pháp phỏng vấn

  • Mẫu khảo sát

Thực hiện phỏng vấn trên nhóm đối tượng GV và CBQL và chuyên viên phòng giáo dục. Mẫu khảo sát gồm 1 chuyên viên phòng, 10 CBQL và 10 GV đã được chọn nghiên cứu.

  • Thiết kế bộ câu hỏi phỏng vấn Chúng tôi xây dựng bảng hỏi gồm:

Đối với GV có 3 câu hỏi với các nội dung là: GV đã phối hợp sử dụng tốt các phương pháp giáo dục; vấn đề phân công phân nhiệm phụ trách công tác HĐVC PTTCXH tại đơn vị; công tác tổ chức các buổi hội thảo, tập huấn cho GV được tổ chức tại đơn vị (phụ lục 2.1).

Đối với CBQL có 6 câu hỏi với các nội dung là: Nguyên nhân số trẻ mẫu giáo lớn trên mỗi lớp lại đông; đội ngũ GV có tham gia vào các trò chơi của trẻ; đội ngũ GV có phân loại trò chơi rõ ràng; đội ngũ GV sử dụng các phương pháp tổ chức HĐVC tại đơn vị; sự cần thiết của công tác quản lý HĐVC PTTCXH; Xây dựng kế hoạch tích hợp PTTCXH thông qua các hoạt động trò chơi tại đơn vị. (phụ lục 2.2).

Đối với Chuyên viên phòng Giáo dục có 1 câu hỏi với nội dung: công tác tổ chức các buổi hội thảo, tập huấn cho GV được tổ chức tại đơn vị. (phụ lục 2.3) Luận văn: Thực trạng QL vui chơi phát triển tình cảm xã hội cho trẻ.

2.2.4. Phương pháp xử lý số liệu

2.2.4.1. Xây dựng thang đo

Về cách tính trị trung bình và ý nghĩa của trị trung bình:

Giá trị khoảng cách: (Maximum-Minimun)/n = 0,8. Đối với thang đo Likert bậc 5 sắp theo mức độ tăng dần: Điểm số được quy đổi theo thang bậc 5. Điểm thấp nhất là 1, cao nhất là 5 và chia làm 5 mức, theo đó ta có cách cho điểm như sau:

  • + 1 điểm: Không thực hiện/ Không quan trọng/ Không cần thiết/Không ảnh hưởng / Kém.
  • + 2 điểm: Ít thực hiện/ Ít quan trọng/Ít cần thiết/ Ít ảnh hưởng/Yếu.
  • + 3 điểm: Khá thường xuyên/ Khá quan trọng/ Khá cần thiết/ Bình thường/Trung bình.
  • + 4 điểm: Thường xuyên/ Quan trọng/ Cần thiết/Nhiều ảnh hưởng/ Khá.
  • + 5 điểm: Rất thường xuyên/ Rất quan trọng/ Rất cần thiết/ Rất nhiều/ Tốt

Quy ước xử lý thông tin phiếu khảo sát

Bảng 2.3. Thang đo trị trung bình và mức ý nghĩa

  • Phương pháp xử lý số liệu thu được từ bảng hỏi

Trình tự xử lý: Sau khi thu phiếu trưng cầu ý kiến, chúng tôi tiến hành làm sạch dữ liệu, đánh số thứ tự các phiếu trưng cầu ý kiến và sử dụng phần mềm thống kê IBM SPSS 0 (Statistical Package for the Social Sciences) để xử lý số liệu, từ đó đánh giá, nhận xét và rút ra kết luận về thực trạng QL HĐVC PTTCXH ở các trường mầm non tại huyện Bắc Tân Uyên.

Các chỉ số thống kê được sử dụng bao gồm: Bảng phân bố tần số (Frequencies), tỉ lệ phần trăm (%); trị trung bình (Mean) (TTB); độ lệch chuẩn (Std. Deviation) (ĐLC); số trung vị (Median); số yếu vị (Mode); kiểm định trung bình (T-Test).

  • Kiểm định trị trung bình

Đặt giả thuyết: Luận văn: Thực trạng QL vui chơi phát triển tình cảm xã hội cho trẻ.

  • H0: Không có sự khác biệt mang ý nghĩa về mặt thống kê trong việc đánh giá một chỉ tiêu nghiên cứu giữa hai hay nhiều nhóm đối tượng được khảo sát.
  • H1: Có sự khác biệt mang ý nghĩa về mặt thống kê trong việc đánh giá một chỉ tiêu nghiên cứu giữa hai hay nhiều nhóm đối tượng được khảo sát.

Kết quả:

Nếu giá trị Sig. (2-tailed) nhỏ hơn 0.05, ta bác bỏ H0 và chấp nhận H1. Nếu giá trị Sig. (2-tailed) lớn hơn hoặc bằng 0.05, ta chấp nhận H0.

  • Lưu ý:

Dùng kiểm định Independent-samples T-test kiểm tra sự khác biệt về mặt ý nghĩa trong việc đánh giá một chỉ tiêu nghiên cứu giữa CBQL và GV.

  • Phương pháp xử lý số liệu phỏng vấn

Trình tự: Tác giả chọn mẫu, trực tiếp gặp, trao đổi, thu âm và ghi nhận dữ liệu, sau đó so sánh, đối chiếu để có những phân tích phù hợp với thực tế, làm rõ kết quả điều tra về thực trạng QL HĐVC PTTCXH ở các trường mầm non tại huyện Bắc Tân Uyên.

Xử lý số liệu phỏng vấn: Chúng tôi mã hóa mẫu phỏng vấn của 1 chuyên viên Phòng giáo dục phụ trách mầm non tương ứng với CV, 10 CBQL theo thứ tự từ CB1 đến CB10 tương ứng với 10 CBQL thuộc 10 Trường A, B, C, D, E, F, G, H, I, K. Mã hóa mẫu phỏng vấn của 10 GV từ GV1 đến GV10, mỗi trường chọn ngẫu nhiên 1 GV được phỏng vấn, mã hóa từ GV1-GV10.

2.3. Thực trạng HĐVC PTTCXH ở các trường mầm non tại huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL vui chơi phát triển tình cảm xã hội cho trẻ.

2.3.1. Thực trạng đội ngũ CBQL và GV lớp lá tại 10 trường khảo sát

2.3.1.1. Thông tin đặc điểm đội ngũ cán bộ quản lý

Khảo sát với 41 đối tượng là Hiệu trưởng, Phó hiệu trưởng, Tổ trưởng tổ khối chuyên môn các trường mầm non huyện Bắc Tân Uyên, Bình Dương. Cụ thể trình bày ở bảng 2.1 sau đây:

  • Bảng 2.4: Tổng quan về trình độ chuyên môn, tuổi, thâm niên công tác của CBQL

Từ số liệu thống kê ở bảng 2.4 cho thấy CBQL có trình độ chuyên môn đạt chuẩn 100%, tỷ lệ trên chuẩn cao tới 85.4%. Độ tuổi của đội ngũ CBQL nằm trong độ tuổi từ 35 đến 45 chiếm 68.3% và thâm niên quản lý nằm trong khoảng từ 5 đến 10 năm chiếm 63.4%. Đây là độ tuổi với nhiều kinh nghiệm trong công tác quản lý. Đây chính là lợi thế để nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý.

2.3.1.2. Thông tin đặc điểm đội ngũ giáo viên

Khảo sát với 77 đối tượng là GV các trường mầm non huyện Bắc Tân Uyên, Bình Dương. Cụ thể trình bày ở bảng 2.2 sau đây:

  • Bảng 2.5: Tổng quan về trình độ chuyên môn, tuổi, thâm niên công tác của GV

Từ số liệu thống kê ở bảng 2.5 cho thấy 100% GV có trình độ chuyên môn đạt chuẩn, trên chuẩn đạt 36.4%. 80.6% GV nằm trong độ tuổi từ 25 đến 35 tuổi và thâm niên công tác từ 5 đến 10 năm chiếm tỷ lệ 81.9%, thấy rằng đội ngũ GV còn rất trẻ. Đây là độ tuổi vàng bởi với đội ngũ GV tuổi còn trẻ với nhiều nhiệt huyết, năng động, sáng tạo, chủ động tiếp thu các kiến thức mới, các phương pháp đổi mới trong giảng dạy trẻ như ứng dụng CNTT vào giảng dạy giúp cho trẻ hứng thú với các bài giảng, các hoạt động vui chơi phát triển tình cảm xã hội. Bên cạnh đó, thấy rằng độ tuổi từ 35 đến 45 là độ tuổi với nhiều kinh nghiệm chỉ chiếm 9.1%, điều đó cũng có nghĩa là GV trẻ chiếm ưu thế thì cũng sẽ có một số hạn chế trong việc thiếu kinh nghiệm thực tế trong việc xử lý các tình huống. Luận văn: Thực trạng QL vui chơi phát triển tình cảm xã hội cho trẻ.

Như vậy qua nghiên cứu về thực trạng đội ngũ CBQL, GV và HS chúng tôi có kết luận như sau: (1) về đội ngũ CBQL nằm trong độ tuổi từ 35 đến 45, thâm niên quản lý nằm trong khoảng từ 5 đến 10 năm, trình độ chuyên môn trên chuẩn cao 85.4%. Còn GV nằm trong độ tuổi từ 25 đến 35 tuổi và thâm niên công tác từ 5 đến 10 năm, 100% GV đạt chuẩn.

2.3.1.3. Thông tin về số lượng học sinh

Theo số liệu báo cáo của các trường mầm non, thống kê số lớp, số học sinh tại các trường như sau

  • Bảng 2.6. Số liệu về số lớp lá và số HS lớp lá

Qua bảng số liệu thấy rằng tỷ lệ trẻ ở lớp mẫu giáo lớn khá cao. Bình quân khoảng 46 trẻ/ lớp, tỷ lệ này quá cao so với quy định. Qua phỏng vấn CBQL tại 10 trường mầm non thì được CBQL 1, CBQL 2, CBQL 3 đều có chung ý kiến rằng: “Theo quy định lớp mẫu giáo từ 5 – 6 tuổi thì 35 trẻ/ lớp mẫu giáo học 2 buổi/ ngày và mỗi GV chỉ quản lý 16 trẻ. Nhưng do đặc thù của tỉnh Bình Dương là tỉnh phát triển nhanh về công nghiệp nên lượng nhập cư vào Bình Dương làm việc rất đông, điều đó kéo theo việc những lao động nhập cư sẽ đưa con em họ đi theo. Dẫn đến tình trạng số lượng trẻ tại các trường mầm non tăng đột biến. Bên cạnh đó theo theo phổ cập giáo dục mầm non thì phải huy động tất cả trẻ từ 5 – 6 tuổi đến lớp. Diện tích phòng học và số lượng GV không đủ cho số lượng trẻ vượt quá quy định nhiều đến như vậy”. Đây cũng chính là vấn đề khó khăn cho GV mầm non các lớp tổ chức các hoạt động vui chơi phát triển tình cảm xã hội cho trẻ.

2.3.2. Thực trạng nhận thức của đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý về tầm quan trọng của HĐVC PTTCXH Luận văn: Thực trạng QL vui chơi phát triển tình cảm xã hội cho trẻ.

Để đánh giá thực trạng nhận thức của đội ngũ GV và CBQL về tầm quan trọng của HĐVC PTTCXH ở trường mầm non, chúng tôi đã tiến hành khảo sát và kết quả như sau:

  • Bảng 2.7. Ý kiến của GV, CBQL về mức độ quan trọng HĐVC PTTCXH ở trường mầm non

Qua bảng số liệu trên ta thấy rằng có đến 20.8% GV và 100% cán bộ QL đánh giá HĐVC PTTCXH ở mức “rất quan trọng” và “quan trọng”. Tuy nhiên có 16.9% GV đánh giá ở mức “bình thường” và 62.3% GV đánh giá mức “khá quan trọng”. Không có GV nào đánh giá mức “không quan trọng”. Qua đó cho thấy một số bộ phận nhỏ GV vẫn chưa có nhận thức được tầm quan trọng HĐVC PTTCXH. Vì thế HT cần phải có những biện pháp để nâng cao nhận thức cho GV về tầm quan trọng HĐVC PTTCXH.

  • Mức độ thực hiện nhiệm vụ của GV trong phân loại trò chơi và đánh giá kết quả đạt được qua HĐVC
  • Bảng 2.8: Mức độ thực hiện nhiệm vụ của GV trong phân loại trò chơi

Qua bảng phân tích số liệu trên ta thấy rằng đội ngũ CBQL đánh giá mức độ thực hiện của nội dung (1), (3), (4), (5), (7), (8), (9) ở mức độ thường xuyên (với TTB lần lượt TTB nhỏ nhất là 3.51 và TTB lớn nhất là 4.12) và kết quả của những nội dung đều đạt kết quả tốt (TTB 4.34 và 4.59). Ta nhận thấy ở mức độ thực hiện có độ lệch chuẩn thấp nhất là 0.666>0.5 cho thấy có độ phân tán tập trung trong ý kiến đánh giá. Tuy nhiên với nội dung (2) thì về mức độ thực hiện CBQL đánh mức độ “khá thường xuyên” (với TTB là 3.39) và kết quả đạt được là “tốt” (với TTB là 4.34) còn đội ngũ GV thì đánh giá mức độ “thường xuyên” (với TTB là 4.04) và kết quả đạt được “tốt” (với TTB là 4.62). Vì thế chúng tôi thực hiện kiểm định Independent – samples T-Test (Phụ lục 4.2.8) giữa đội ngũ CBQL và đội ngũ GV ở dụng dung 2 thì thấy rằng ở mức độ thực hiện sig <0.05 cho thấy có sự khác biệt giữa đội ngũ CBQL và GV, về mức độ thực hiện thì sig>0.05 cho thấy không có sự khác biệt giữa đội ngũ CBQL và GV. Chúng tôi tiến hành phỏng vấn CBQL 5, CBQL 6, CBQL 7 thì 3 CBQL cùng trả lời với những nội dung sau: “Theo như báo cáo của các khối trưởng khối lá, cũng như CBQL dự giờ GV thì việc GV tham gia vào trò chơi giả bộ của trẻ chỉ ở mức “khá thường xuyên” nhưng kết quả đạt được lại “tốt”. Lý do vì đây là nhóm mẫu giáo lớn vì thế trẻ bắt đầu tự ý thức chơi, chỉ cần GV đưa ra chủ đề trẻ sẽ chơi và hướng dẫn cách chơi, thì trẻ có thể chơi các trò chơi giả bộ không nhất thiết GV phải tham gia chơi cùng như với nhóm trẻ mẫu giáo nhỏ. Do đó mặc dù mức độ tham gia vào trò chơi của trẻ của GV chỉ ở mức “khá thường xuyên” nhưng kết quả đạt được lại là “tốt”. Luận văn: Thực trạng QL vui chơi phát triển tình cảm xã hội cho trẻ.

Nội dung (6) thì CBQL đánh giá mức độ thực hiện “khá thường xuyên” (với TTB là 2.61) và kết quả đạt được “khá” (với TTB là 3.61) và GV đánh giá mức độ thực hiện “Khá thường xuyên” (với TTB là 2.62) và kết quả đạt được là “khá” (với TTB là 3.62) và có độ lệch chuẩn là 0.703>0.5 có độ phân tán tập trung.

Thông qua phỏng vấn sâu 10 CBQL của 10 trường về vấn đề phân loại trò chơi của GV thì các CBQL có ý kiến giống nhau: “đa phần GV chưa phân loại rõ các loại trò chơi. Tại các lớp, GV phân bố góc chơi theo kinh nghiệm xen kẽ động, tĩnh và các góc cơ bản: đóng vai, xây dựng, tạo hình thiên nhiên, học tập, âm nhạc… theo nội dung của hoạt động học, trẻ sẽ chơi những góc tương ứng để hỗ trợ trẻ củng cố kiến thức trong ngày. Cách hướng dẫn cho trẻ chơi ở từng loại trò chơi GV vẫn còn lẫn lộn và chưa nắm vững cách thức tổ chức và hướng dẫn trẻ chơi. Mặc dù trình độ chuyên môn của GV đều đạt chuẩn và trên chuẩn tuy nhiên độ tuổi của độ ngũ GV đều nằm trong độ tuổi còn khá trẻ vì thế chưa có nhiều kinh nghiệm trong phân loại HĐVC PTTCXH và điều này sẽ ảnh hưởng nhiều tới chất lượng tổ chức HĐVC PTTCXH cho trẻ”.

  • Bảng 2.9: Kết quả đạt được thông qua HĐVC theo đánh giá của CBQL và GV

Từ bảng 2.9 kết quả khảo sát kết quả đạt được thông qua hoạt động vui chơi theo đánh giá của CBQL và GV. Qua đó, chúng tôi nhận thấy rằng HĐVC giúp phát triển thể chất và HĐVC giúp trẻ phát triển tình cảm xã hội được GV và CBQL đánh giá cao nhất với 100%; HĐVC giúp trẻ phát triển trí tuệ được xếp thứ hai với 97.5% ý kiến; HĐVC giúp trẻ phát triển nhận thức xếp thứ ba với 67.8% ý kiến; HĐVC giúp trẻ phát triển tình cảm thẫm mỹ được xếp thứ tư 63.6%; HĐVC giúp trẻ phát triển ngôn ngữ được xếp thứ năm với 61.9%. Kết quả trên thể hiện rằng CBQL và GV đều đánh giá kết quả đạt được “tốt”, thông qua HĐVC đều giúp cho trẻ phát triển được rất nhiều lĩnh vực đặc biệt giúp trẻ phát triển về thể chất và phát triển tình cảm xã hội.

2.3.4. Mức độ thực hiện và kết quả đạt được của nội dung giáo dục phát triển tình cảm xã hội và phương pháp giáo dục trong hoạt động vui chơi ở trường mầm non

Để đánh giá mức độ thực hiện và kết quả đạt được của GV trong nội dung và phương pháp giáo dục trong hoạt động vui chơi ở trường mầm non. Chúng tôi tiến hành khảo sát CBQL và GVCN và kết quả như sau:

  • Bảng 2.10: Ý kiến của GV về mức độ thực hiện và kết quả đạt được của GV về nội dung giáo dục phát triển tình cảm xã hội ở trường mầm non Luận văn: Thực trạng QL vui chơi phát triển tình cảm xã hội cho trẻ.

Qua bảng phân tích số liệu trên ta thấy rằng đội ngũ GV đánh giá mức độ thực hiện của các nội dung PTTCXH ở mức độ thường xuyên (với TTB nhỏ nhất 3.65 và TTB lớn nhất là 3.83) và kết quả của các nội dung đều đạt kết quả tốt (TTB thấp nhất là 4.55 và TTB cao nhất là 4.61). Ta nhận thấy ở mức độ thực hiện có độ lệch chuẩn thấp nhất là 0.613 và kết quả đạt được có độ lệch chuẩn thấp nhất là 0.491 cho thấy có độ phân tán tập trung ý kiến đánh giá ở nội dung khảo sát này. Điều này cho thấy GV thường xuyên thực hiện giáo dục trẻ ý thức về bản thân, nhận biết và thể hiện cảm xúc với mọi người và sự vật xung quanh, cách ứng xử với mọi người, quan tâm bảo vệ mội trường vì thế kết quả đạt được là tốt, qua đó GV đã trang bị cho trẻ kỹ năng sống để giúp trẻ hòa nhập vào cộng đồng xã hội và ảnh hưởng đối với sự phát triển thể lực, ngôn ngữ, nhận thức của trẻ.

  • Bảng 2.11. Ý kiến của GV về mức độ thực hiện, kết quả đạt được của các phương pháp giáo dục trong HĐVC

Qua bảng số liệu 2.11, chúng tôi nhận thấy, đa số các phương pháp giáo dục trong HĐVC được hỏi ý kiến đều được GV đánh giá đa số sử dụng ở mức “thường xuyên” và hiệu quả đạt được ở mức “tốt”, dẫn đầu là phương pháp “thực hành” với TTB là 4.05 hiệu quả đạt được mức “tốt”. Riêng phương pháp (1) tác động bằng tình cảm chỉ được các GV đánh giá ở mức sử dụng “khá thường xuyên” với TTB là 3.26, kết quả đạt được ở mức “trung bình” (TTB là 3.26).

Như vậy, các phương pháp GV đã sử dụng trong HĐVC rất đa dạng. Tuy nhiên, phương pháp tác động bằng tình cảm là một trong những phương pháp quan trọng và hiệu quả nhưng GV chỉ sử dụng mức độ khá thường xuyên và kết quả đạt được còn hạn chế, điều này ảnh hưởng nhiều đến HĐVC của trẻ. Qua trao đổi phỏng vấn GV1, GV5, GV7, GV8, GV10 có cùng ý kiến “do số lượng trẻ của mỗi lớp quá đông, 1 GV phải quản lý quá nhiều trẻ, diện tích phòng không đảm bảo các đủ cho các hoạt động vui chơi trong nhà, dẫn đến phương pháp tác động bằng tình cảm đến từng trẻ khó thực hiện được tốt, chỉ quản lý lớp dưới dạng chung chung hoặc hướng dẫn được một số trẻ”.

Bên cạnh đó, qua bảng số liệu thấy rằng hầu hết các GV đều đánh giá các nội dung ở mức độ thực hiện “thường xuyên” và kết quả đạt được “tốt” nhưng đội ngũ CBQL chỉ đánh giá mức độ thực hiện của GV các phương pháp giáo dục nội dung (1, 2, 3, 4, 5) trong HĐVC ở mức “khá thường xuyên” và kết quả đạt được “khá” đến “tốt”. Khi chúng tôi tiến hành phỏng vấn CBQL1, CBQL5, CBQL7, CBQL8, CBQL10 thì có cùng ý kiến “GV các trường mầm non có thường xuyên áp dụng các phương pháp tổ chức HĐVC cho trẻ. Các loại phương pháp giáo dục được sử dụng khá đa dạng, phong phú. Tuy nhiên thông qua việc dự giờ thấy rằng GV chưa thật sự vận dụng linh hoạt các nhóm phương pháp một cách hiệu quả. Một số GV còn phân chia trẻ về các góc chơi theo ý định chủ quan của mình, trẻ không được tự do lựa chọn góc chơi, trò chơi. Điều này ảnh hưởng đến hứng thú của trẻ và hạn chế sự sáng tạo của trẻ”.

2.4. Thực trạng công tác quản lý HĐVC PTTCXH ở các trường mầm non tại huyện Bắc Tân Uyên, Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL vui chơi phát triển tình cảm xã hội cho trẻ.

Để khảo sát thực trạng quản lý HĐVC PTTCXH ở các trường mầm non tại huyện Bắc Tân Uyên chúng tôi tiến hành khảo sát với các nội dung tương ứng với các chức năng QL bao gồm: lập kế hoạch; tổ chức thực hiện; lãnh đạo, chỉ đạo; kiểm tra, đánh giá. Đồng thời với mỗi chức năng QL chúng tôi khảo sát đánh giá theo hai tiêu chí đó là: mức độ thực hiện và kết quả đạt được của HĐVC PTTCXH ở các trường mầm non.

2.4.1. Thực trạng nhận thức của cán bộ quản lý về sự cần thiết của công tác quản lý HĐVC PTTCXH ở trường mầm non tại huyện Bắc Tân Uyên, Bình Dương

Để đánh giá nhận thức của CBQL về sự cần thiết của công tác quản lý HĐVC PTTCXH ở trường mầm non tại huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, chúng tôi đã tiến hành khảo sát và kết quả đạt được như sau:

  • Bảng 2.12. Đánh giá của CBQL về sự cần thiết của công tác quản lý HĐVC PTTCXH

Qua bảng phân tích số liệu trên cho thấy rằng: có 27 CBQL chiếm 65.9% đánh giá mức rất cần thiết và 14 CBQL chiếm 34.1% đánh giá mức cần thiết. Không có CBQL nào đánh giá mức “khá cần thiết”, “ít cần thiết” và “không cần thiết”. Hơn nữa TTB là 4.66 cho thấy đội ngũ CBQL đánh giá công tác quản lý HĐVC PTTCXH là rất cần thiết. Hơn nữa ĐLC là 0.480 cho thấy ý kiến đánh giá của đội ngũ CBQL tập trung. Qua phỏng vấn CBQL 2, CBQL 3, CBQL 4, CBQL 5, CBQL 6 đều có cùng ý kiến “công tác quản lý HĐVC PTTCXH là rất cần thiết vì thông qua HĐVC để giúp trẻ em phát triển toàn diện và tình cảm xã hội là một nội dung quan trọng trong dạy học mầm non và HĐVC có tác động tích cực và quan trọng nhất đến sự phát triển tình cảm xã hội cho trẻ ở lứa tuổi này và phát triển toàn diện của trẻ, giúp trẻ phát triển nhân cách và rèn luyện một số kỹ năng cơ bản tham gia vào cuộc sống hàng ngày.”

Có thể nói đây là điều kiện thuận lợi trong việc triển khai nghiên cứu, cũng như khẳng định được tính cấp thiết và tính giá trị của đề tài nghiên cứu.

2.4.2. Thực trạng xây dựng kế hoạch quản lý HĐVC PTTCXH ở trường mầm non tại huyện Bắc Tân Uyên, Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL vui chơi phát triển tình cảm xã hội cho trẻ.

Để có được kế hoạch hay thì công tác chuẩn bị cho việc xây dựng kế hoạch HĐVC PTTCXH rất quan trọng. Vì thế để biết được đánh giá của CBQL về mức độ thực hiện và kết quả đạt được cuả công tác chuẩn bị cho việc xây dựng kế hoạch HĐVC PTTCXH. Chúng tôi tiến hành khảo sát, kết quả như sau:

  • Bảng 2.13. Đánh giá của CBQL về mức độ thực hiện và kết quả đạt được của công tác chuẩn bị cho việc xây dựng kế hoạch HĐVC PTTCXH

Qua bảng số liệu trên ta thấy rằng đội ngũ CBQL thực hiện nội dung (1), (2) ở mức độ “thường xuyên” có TTB lần lượt là 3.8 và 3.68. Kết quả đạt được của các hoạt động này được đội ngũ CBQL đánh giá ở mức “tốt” (với TTB lần lượt là 4.56 và 4.51). Việc thực hiện những nội dung này là một trong những hoạt động rất quan trọng để đảm bảo về tính giá trị và tính khả thi của một kế hoạch. Từ kết quả trên cho thấy đội ngũ CBQL thực hiện đảm bảo được hoạt động này và đây là tiền đề quan trọng và cũng là khâu đầu tiên trong công tác quản lý HĐVC PTTCXH. Ngoài ra thấy ĐLC >0.5 chứng tỏ sự đánh giá của các CBQL ở đây rất tập trung. Như vậy nội dung (1), (2) đã được quán triệt rộng rãi trong đội ngũ CBQL và điều này cũng thể hiện tính dân chủ trong hoạt động lãnh đạo, QL việc lập kế hoạch thực hiện HĐVC PTTCXH tại đơn vị.

  • Bảng 2.14. Đánh giá của CBQL về mức độ thực hiện và kết quả đạt được của các loại kế hoạch HĐVC PTTCXH ở trường mầm non Luận văn: Thực trạng QL vui chơi phát triển tình cảm xã hội cho trẻ.

Từ bảng phân tích trên ta thấy rằng đội ngũ CBQL đánh giá việc thực hiện các kế hoạch ở mức độ “thường xuyên” và “rất thường xuyên” và kết quả đạt được được đánh giá mức độ “tốt”. Tuy nhiên từ bảng phân tích trên ta thấy kết quả đạt được của nội dung “Kế hoạch tích hợp phát triển tình cảm xã hội cho trẻ vào các hoạt động vui chơi” chỉ đạt mức “khá”. Chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu các CBQL 1, CBQL 3, CBQL 7, CBQL 9, CBQL 10 thì họ có cùng ý kiến “do đặc thù là mầm non, để xây dựng kế hoạch tích hợp PTTCXH thông qua các hoạt động trò chơi thì Hiệu trưởng cần phải hướng dẫn GV lựa chọn chủ đề, lựa chọn nội dung tích hợp, lựa chọn hoạt động, lựa chọn phương tiện, học liệu. Lựa chọn chủ đề phải xuất phát từ nhu cầu thực tế và sự hứng thú của trẻ, nội dung cho một chủ đề cần phải tính đến GV có thể làm được hay không và có phù hợp với khả năng của trẻ, đồng thời các nội dung phải có mối liên hệ với nhau, xoay quanh một chủ đề. Chính vì thế một kế hoạch tốt là phải đảm bảo được các điều kiện như trên nên đa số Hiệu trưởng xây dựng kế hoạch tích hợp phát triển tình cảm xã hội vào hoạt động vui chơi chỉ đạt kết quả là khá”.

Qua kết quả khảo sát cho thấy hoạt động xây dựng các kế hoạch HĐVC PTTCXH các trường mầm non trên địa bàn huyện Bắc Tân Uyên được thực hiện ở mức độ “thường xuyên” và đạt được kết quả “tốt”. Như vậy hoạt động lập các kế hoạch HĐVC PTTCXH ở các trường mầm non được hiệu trưởng thực hiện đảm bảo đầy đủ và đúng về mặt lý luận khoa học và sát với tình hình thực tiễn tại đơn vị. Điều này đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình thực hiện QL HĐVC PTTCXH tại các đơn vị.

2.4.3. Thực trạng thực tổ chức thực hiện hoạt động vui chơi phát triển tình cảm xã hội cho trẻ tại huyện Bắc Tân Uyên, Bình Dương

Để biết được mức độ thực hiện và kết quả đạt được việc tổ chức thực hiện kế hoạch QL HĐVC PTTCXH ở trường mầm non huyện Bắc Tân Uyên, Bình Dương được thực hiện như thế nào, chúng tôi tiến hành khảo sát và kết quả như sau:

  • Bảng 2.15. Đánh giá của CBQL, GV về mức độ thực hiện và kết quả đạt được của tổ chức thực hiện HĐVC PTTCXH

Từ kết quả phân tích trên cho thấy đội ngũ CBQL đánh giá việc thực hiện và kết quả đạt được của hoạt động tổ chức thực hiện QL HĐVC PTTCXH. Trong đó đội ngũ CBQL đánh giá nội dung (1), (3), (4) ở mức độ thực hiện “thường xuyên” và “rất thường xuyên” (TTB lần lượt là 3.83, 4.34, 4.17) và kết quả đạt được là “tốt” (TTB lần lượt là 4.51, 4.49, 4.51). Nội dung (2) đội ngũ CBQL đánh giá mức độ thực hiện chỉ ở mức “khá thường xuyên” (TTB là 2.73) và kết quả đạt được mức độ “trung bình” (TTB là 3.39). Bên cạnh đó, chúng tôi thực hiện kiểm định Independent – Samples T – Test giữa đội ngũ CBQL và đội ngũ GVCN. Kết quả từ bảng Phụ lục 4.2.15 cho thấy, sig >0.05 cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa trong ý kiến đánh giá giữa hai nhóm đối tượng này khi đánh giá về mức độ thực hiện và kết quả đạt được đối với các nội dung liên quan đến hoạt động tổ chức thực hiện QL HĐVC PTTCXH. Luận văn: Thực trạng QL vui chơi phát triển tình cảm xã hội cho trẻ.

Từ những nhận xét trên ta thấy rằng trong nội dung (2) chỉ được thực hiện ở mức “khá thường xuyên”. Vì thế chúng tôi tiến hành phỏng vấn GV thì GVCN 2, GVCN 3, GVCN 4, GVCN 6, GVCN 7, GVCN 9 có cùng ý kiến “Việc phân công phân nhiệm GV phụ trách công tác HĐVC PTTCXH là do Hiệu trưởng phân công dựa trên các tiêu chí của điều lệ trường mầm non, trình độ chuyên môn và theo điều kiện thực tế của trường. Vì thế mỗi năm GV đều được phân công biên chế lại, tuy nhiên có một số GV từ lúc ra trường đến nay thì năm nào cũng phụ trách công tác HĐVC PTTCXH. Dẫn đến việc phân công, phân nhiệm không đồng đều, GV bị nhàm chán về nội dung và GV càng lớn tuổi thì nhiệt huyết hướng dẫn và cùng tham gia vào các HĐVC PTTCXH sẽ bị hạn chế.

Sau khi nghe ý kiến của GV các trường, chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu các CBQL 2, CBQL 3, CBQL 4, CBQL 6, CBQL 7, CBQL 9 thì được biết nguyên nhân của việc phân công phân nhiệm không đồng đều như sau: “Nguyên nhân là do để thực hiện được tốt việc tổ chức hoạt động vui chơi phát triển tình cảm xã hội GV cần phải đảm bảo thực hiện tốt từ việc lựa chọn chủ đề phù hợp, xây dựng nội dung hấp dẫn thu hút, phân loại các loại trò chơi, các góc chơi phù hợp với sở thích của trẻ, xử lý các tình huống trong quá trình hướng dẫn trẻ chơi và chơi cùng trẻ. Tất cả điều này đòi hỏi GV cần phải có trình độ chuyên môn tốt, nhiệt tình, năng động và sáng tạo. Vì thế cần phải lựa chọn đội ngũ GV phù hợp có thể thực hiện tốt việc tổ chức hoạt động vui chơi, dẫn đến việc phân công, phân nhiệm không đồng đều”.

2.4.4. Thực trạng công tác chỉ đạo, điều khiển hoạt động vui chơi phát triển tình cảm xã hội ở trường mầm non tại huyện Bắc Tân Uyên, Bình Dương

Công tác chỉ đạo, điều khiển HĐVC PTTCXH đóng vai trò rất quan trọng. Vì thế chúng tôi đã tiến hành khảo sát đội ngũ CBQL, GV về mức độ thực hiện và kết quả đạt được của công tác chỉ đạo đội ngũ GV thực hiện kế hoạch HĐVC PTTCXH. Kết quả như sau:

  • Bảng 2.16: Đánh giá của đội ngũ CBQL, GV về mức độ triển khai và kết quả đạt được của công tác lãnh đạo, chỉ đạo đội ngũ GV thực hiện kế hoạch Luận văn: Thực trạng QL vui chơi phát triển tình cảm xã hội cho trẻ.

Từ kết quả điều tra trên cho thấy đội ngũ CBQL đánh giá HT “thường xuyên” thực hiện công tác lãnh đạo, chỉ đạo thông qua việc quan tâm, khuyến khích, hướng dẫn quá trình thực hiện QL HĐVC PTTCXH của GV (TTB là 3.9) và kết quả đạt được ở mức “tốt” (TTB là 4.49). Đánh giá mức độ thực hiện nội dung (2), (3), (5), (6) được CBQL đánh giá ở mức “thường xuyên” đến “rất thường xuyên” (TTB lần lượt là 4.44, 4.39, 4.17, 3.73) và kết quả đạt được ở mức “tốt” (TTB lần lượt là 4.56, 4.59, 4.63, 4.54).

Đối với nội dung (4) thì mức độ thực hiện CBQL đánh giá ở mức “khá thường xuyên” với TTB là 3.00 và kết quả đạt được “khá” với TTB là 3.49. Còn đội ngũ GV đánh giá nội dung (4) mức độ “khá thường xuyên” với TTB là 2.95, kết quả đạt được là “khá”. Vì thế chúng tôi tiến hành phỏng vấn GV và được 10 GV đều có ý kiến gần giống nhau đó là “Công tác tổ chức các buổi hội thảo, tập huấn cho GV thường được tổ chức vào đầu năm, tất cả GV các trường sẽ được chuyên viên phòng và Ban giám hiệu tập huấn một số vấn đề để nâng cao chuyên môn, nghiệp vụ. Nhưng vấn đề liên quan đến HĐVC PTTCXH không được tổ chức riêng thành một chuyên đề mà được lồng ghép vào các nội dung trình bày cũng như không có những hướng dẫn cụ thể về HĐVC PTTCXH vì thế GV chủ yếu dựa vào kinh nghiệm thực tế, học hỏi từ đồng nghiệp, học hỏi trên mạng Internet chứ chưa được chuyên gia hướng dẫn cụ thể chuyên đề HĐVC PTTCXH ”. Bên cạnh đó chúng tôi cũng đã tiến hành phỏng vấn thêm CV (chuyên viên Phòng giáo dục huyện Bắc Tân Uyên quản lý mầm non) thì được biết “Hằng năm thường vào dịp Hè Sở sẽ gửi công văn yêu cầu chuyên viên và Ban giám hiệu các trường tập trung về Sở để tham gia các lớp tập huấn bồi dưỡng chuyên môn. Và nội dung tập huấn do Sở quyết định, và Sở sẽ mời chuyên gia hoặc giảng viên từ trường Đại học Sư phạm TP.HCM để tập huấn các chuyên đề Sở yêu cầu vì thế chuyên viên và Ban giám hiệu không thể quyết định nội dung tập huấn. Và sau đó chúng tôi sẽ triển khai lại cho toàn thể GV những nội dung mà chúng tôi đã được tập huấn, bên cạnh đó chúng tôi cũng chỉ giải đáp hoặc hướng dẫn GV thực hiện một số vấn đề trong HĐVC PTTCXH nếu GV có thắc mắc. Đây cũng là vấn đề khó khăn trong việc tổ chức các buổi tập huấn, các chuyên đề hội thảo riêng về HĐVC PTTCXH

Từ những phân tích trên chúng tôi nhận thấy rằng vai trò lãnh đạo của người Hiệu trưởng là yếu tố rất quan trọng, mang tính định hướng và dẫn dắt đội ngũ GV thực hiện thành công HĐVC PTTCXH. Do đó, Hiệu trưởng ở đơn vị thực hiện tốt vai trò lãnh đạo, chỉ đạo thông qua sự quan tâm, khuyến khích, hướng dẫn đội ngũ GV hiệu quả thì công tác chỉ đạo GV cũng sẽ đạt hiệu quả.

2.4.5. Thực trạng kiểm tra, đánh giá HĐVC PTTCXH ở trường mầm non tại huyện Bắc Tân Uyên, Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL vui chơi phát triển tình cảm xã hội cho trẻ.

Sau khi xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện, lãnh đạo chỉ đạo thì kiểm tra đánh giá mức độ thực hiện và kết quả đạt được đóng vai trò không kém phần quan trọng. Vì khi đó HT mới có thể nhìn nhận, đánh giá, bổ sung hoàn chỉnh kế hoạch tiếp theo. Vì vậy chúng tôi tiến hành khảo sát đội ngũ CBQL và GV về mức độ thực hiện và kết quả đạt được của việc ban hành các tiêu chí, quy định về kiểm tra đánh giá HĐVC PTTCXH. Kết quả như sau:

  • Bảng 2.17. Đánh giá của CBQL và GV về mức độ thực hiện và kết quả đạt được của việc xây dựng, ban hành các tiêu chí, quy định về công tác kiểm tra, đánh giá HĐVC PTTCXH

Từ kết quả bảng 2.17 cho thấy CBQL đánh giá việc thực hiện nội dung (2) chỉ đạt ở mức độ “khá thường xuyên” với TTB là 2.71 và kết quả đạt được “khá” (TTB là 3.44). Đối với nội dung (1) thì CBQL đánh giá thực hiện ở mức “thường xuyên” (TTB là 3.98) và kết quả đạt được “tốt” (TTB là 4.46).

Bên cạnh đó, chúng tôi cũng đã tiến hành kiểm định Independent – Samples T – Test giữa đội ngũ CBQL và GVCN. Kết quả từ bảng phụ lục 4.2.17 cho thấy rằng, các giá trị sig. >0.05 cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa trong ý kiến đánh giá giữa hai nhóm đối tượng khi đánh giá mức độ thực hiện và kết quả đạt được với các nội dung liên quan đến công tác kiểm tra đánh giá HĐVC PTTCXH.

  • Bảng 2.18. Đánh giá của CBQL và GV về mức độ thực hiện và kết quả đạt được của việc kiểm tra đánh giá HĐVC PTTCXH

Từ kết quả bảng phân tích số liệu cho thấy CBQL đánh giá việc thực hiện nội dung (1) chỉ đạt ở mức độ “thường xuyên” với TTB là 3.59 và kết quả đạt được “tốt” (TTB là 4.15). Đối với nội dung (2) thì CBQL đánh giá thực hiện ở mức “khá thường xuyên” (TTB là 2.85) và kết quả đạt được “khá” (TTB là 3.46). Bên cạnh đó, chúng tôi cũng đã tiến hành kiểm định Independent – Samples T – Test giữa đội ngũ CBQL và GVCN. Kết quả từ bảng phụ lục 4.2.18 cho thấy rằng, các giá trị sig. >0.05 cho thấy không có sự khác biệt có ý nghĩa trong ý kiến đánh giá giữa hai nhóm đối tượng khi đánh giá mức độ thực hiện và kết quả đạt được với các nội dung liên quan đến công tác kiểm tra đánh giá HĐVC PTTCXH.

2.4.6. Nhận định chung về quản lý hoạt động vui chơi phát triển tình cảm xã hội các trường mầm non huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương

Qua điều tra thực trạng quản lý HĐVC PTTCXH tại các trường mầm non huyện Bắc Tân Uyên, Bình Dương, chúng tôi rút ra một số nhận định sau đây: Luận văn: Thực trạng QL vui chơi phát triển tình cảm xã hội cho trẻ.

2.4.6.1. Ưu điểm

CBQL GV đã nhận thức đúng đắn được tầm quan trọng của HĐVC PTTCXH cũng như công tác quản lý HĐVC PTTCXH, xác định được rõ ràng các nội dung HĐVC PTTCXH. 100% CBQL có nhận thức HĐVC PTTCXH là cần thiết và rất cần thiết.

Trong việc quản lý HĐVC PTTCXH thì đội ngũ CBQL đã thiết lập mục tiêu rõ ràng, xác định nguồn lực tham gia thực hiện HĐVC PTTCXH hợp lý. Thực hiện xây dựng các kế hoạch như kế hoạch thi GV dạy giỏi, làm đồ dùng đồ chơi giỏi; kế hoạch bồi dưỡng tập huấn cho GV; kế hoạch mua sắm, sữa chữa trang thiết bị, đồ dùng dạy học; Kế hoạch bồi dưỡng, tập huấn cho GV; kế hoạch huy động nguồn kinh phí cho việc bồi dưỡng tập huấn khen thưởng đều được hiệu trưởng xây dựng dựng kế hoạch rõ ràng, cụ thể theo từng giai đoạn với mức độ thực hiện thường xuyên và kết quả tốt.

Trong quá trình tổ chức thực hiện hoạt động vui chơi phát triển tình cảm xã hội hiệu trưởng đã ra quyết định, thành lập đội ngũ GV cốt cán hỗ trợ GV khác trong quá trình tổ chức thực hiện HĐVC PTTCXH.

Trong quá trình chỉ đạo điều khiển HĐVC PTTCXH được Hiệu trưởng quan tâm, động viên khuyến khích, hướng dẫn quá trình thực hiện.

Trong quá trình kiểm tra đánh giá HĐVC PTTCXH đa số được thực hiện mức độ từ thường xuyên đến rất thường xuyên và kết quả đạt được tốt.

2.4.6.2. Hạn chế

Bên cạnh những ưu điểm nêu trên, trong công tác quản lý HĐVC PTTCXH ở các trường mầm non tại huyện Bắc Tân Uyên còn bộc lộ một số điểm hạn chế sau:

Một số bộ phận nhỏ GV vẫn chưa nhận thức được tầm quan trọng của HĐVC PTTCXH.

Trong việc xây dựng kế hoạch tích hợp phát triển tình cảm xã hội cho trẻ vào các hoạt động vui chơi chỉ đạt kết quả khá.

Trong việc tổ chức thực hiện HĐVC PTTCXH vẫn còn tồn tại có một số GV thường xuyên được phân công phân nhiệm thực hiện HĐVC PTTCXH dẫn đến GV phải làm công việc lặp đi lặp lại nhiều năm, GV sẽ dễ bị nhàm chán, kết quả đạt được sẽ không cao. Luận văn: Thực trạng QL vui chơi phát triển tình cảm xã hội cho trẻ.

Trong công tác chỉ đạo việc thực hiện HĐVC PTTCXH, công tác tổ chức các buổi hội thảo, tập huấn cho GV vào đầu năm học thì không có tổ chức tập huấn riêng chuyên đề HĐVC PTTCXH mà chỉ được lồng ghép vào các nội dung khác.

Chưa có xây dựng và ban hành các quy định về các hình thức khen thưởng, kỷ luật liên quan đến HĐVC PTTCXH của GV.

2.4.6.3. Nguyên nhân

Tỉnh Bình Dương là tỉnh phát triển nhanh về công nghiệp, có rất nhiều khu công nghiệp dẫn đến lượng nhập cư, di cư đến Bình Dương ngày càng cao. Họ mang theo gia đình, con cái đến ở dẫn đến tỷ lệ trẻ đặc biệt là trẻ các lớp mẫu giáo lớn hàng năm không ngừng tăng lên.

Do độ tuổi GV còn khá trẻ, chưa có nhiều kinh nghiệm và diện tích phòng học không đủ cho số lượng trẻ đông. Vì thế HĐVC chủ yếu bố trí ngoài trời thì sẽ thực hiện tốt hơn là trong phòng học.

Do các yếu tố để xây dựng kế hoạch tích hợp HĐVC PTTCXH đòi hỏi phải có sự phù hợp về nội dung, phương tiện và xuất phát từ sự hứng thú của trẻ. Bên cạnh đó nội dung của kế hoạch phải rõ ràng, cụ thể để GV thực hiện theo vì thế các trường mầm non trên địa bàn huyện Bắc Tân Uyên vẫn chưa làm tốt vấn đề này.

Nội dung công tác tổ chức các buổi hội thảo tập huấn đều do Sở quyết định và mời chuyên gia về hướng dẫn theo nội dung Sở yêu cầu. Các chuyên viên và Ban Giám hiệu tham gia tập huấn và về hướng dẫn lại cho các GV tại trường. Vì thế chưa chủ động trong việc chọn nội dung tập huấn tại đơn vị.

2.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý HĐVC PTTCXH tại huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương

Để tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến công tác QL HĐVC PTTCXH ở các trường mầm non huyện Bắc Tân Uyên, chúng tôi tiến hành khảo sát mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến QL HĐVC PTTCXH ở các trường mầm non tham gia khảo sát. Kết quả xử lý thông tin trong phiếu khảo sát như sau:

  • Bảng 2.19. Đánh giá của CBQL về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả QL HĐVC PTTCXH

Từ bảng 2.19, chúng tôi thấy rằng với các yếu tố có TTB từ 3.95 đến 4.59. Điều đó chứng tỏ CBQL hoàn toàn đồng ý với tất cả yếu tố đó đã ảnh hưởng đến hiệu quả QL HĐVC PTTCXH tại đơn vi. Trong đó CBQL đánh giá yếu tố chủ quan (2) là quan trọng nhất, tiếp theo là yếu tố chủ quan (1), và khách quan (3). Trong thực tế thì 3 yếu tố này là thực sự cần thiết trong việc QL HĐVC PTTCXH. Nó quyết định HĐVC PTTCXH có thành công hay không. Bên cạnh đó chúng tôi thấy ĐLC nhỏ nhất là 0.499 và ĐLC lớn nhất là 0.773 điều đó cho thấy các ý kiến đánh giá khá tập trung và không có CBQL nào đưa ra thêm các yếu tố khác.

Tiểu kết chương 2 Luận văn: Thực trạng QL vui chơi phát triển tình cảm xã hội cho trẻ.

Kết quả nghiên cứu thực trạng quản lý HĐVC PTTCXH ở các trường mầm non huyện Bắc Tân Uyên tỉnh Bình Dương cho thấy:

Đối với công tác xây dựng kế hoạch: thì CBQL đều xác định mục tiêu và xác định đội ngũ thực hiện HĐVC PTTCXH trước khi xây dựng kế hoạch, các kế hoạch thực hiện đều thực hiện mức độ thường xuyên và kết quả đạt được tốt, tuy nhiên có kế hoạch tích hợp phát triển tình cảm xã hội cho trẻ vào các hoạt động vui chơi thì kết quả đạt được mức khá.

Đối với công tác tổ chức thực hiện: hiệu trưởng ra quyết định phân công tổ trưởng, tổ khối, GV thực hiện giảng dạy tích hợp HĐVC PTTCXH, tuy nhiên trong việc phân công, phân nhiệm thực hiện tổ chức HĐVC PTTCXH chủ yếu chỉ một số GV dẫn đến mức độ thực hiện và kết quả đạt được chưa cao.

Đối với công tác lãnh đạo chỉ đạo: hiệu trưởng luôn quan tâm đến đội ngũ GV, hướng dẫn cụ thể GV thực hiện HĐVC PTTCXH, chỉ đạo tốt việc xây dựng kế hoạch tích hợp phát triển tình cảm xã hội cho trẻ, chỉ đạo tốt việc tổ chức hội thi GV dạy và làm đồ chơi giỏi, chỉ đạo GV tổ chức các góc trò chơi cho trẻ và mua sắm, sữa chữa trang thiết bị, ĐDĐC đều ở mức độ thường xuyên và kết quả đạt được tốt, tuy nhiên việc chỉ đạo tổ chức các buổi hội thảo, tập huấn liên quan đến HĐVC PTTCXH chưa tổ chức thành buổi chuyên đề riêng mà chủ yếu là lồng ghép vào các nội dung tập huấn do Sở Giáo dục chọn lựa nội dung tập huấn

Đối với công tác kiểm tra đánh giá thì: Thường xuyên xây dựng ban hành các quy định khen thưởng, kỷ luật liên quan đến HĐVC PTTCXH, kiểm tra dự giờ GV thường xuyên theo đúng quy định, kiểm tra đánh giá GV xây dựng kế hoạch tích hợp PTTCXH cho trẻ vào các HĐVC được thực hiện thường xuyên, tuy nhiên chưa có xây dựng bảng tiêu chí đánh giá riêng các hoạt động vui chơi phát triển tình cảm xã hội mà chủ yếu là lồng ghép nội dung đánh giá vào bảng đánh giá tiết dạy GV tại đơn vị.

Nghiên cứu của chúng tôi đã chỉ rõ, trong thời gian qua, HT các trường mầm non huyện Bắc Tân Uyên đã sử dụng các biện pháp QL HĐVC PTTCXH phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, của nhà trường, nhìn chung đã đạt được hiệu quả nhất định trong thực hiện nhiệm vụ. Tuy nhiên, mức độ thực hiện và mức độ tác dụng của các biện pháp còn ở mức độ thấp hơn so với mức độ nhận thức, việc sử dụng các biện pháp QL chưa đồng bộ nên hiệu quả QL còn chưa cao.

Nghiên cứu lý luận QL HĐVC PTTCXH và kết quả điều tra, phân tích thực trạng là cơ sở gợi mở cho việc đề xuất, hoàn thiện các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả QL HĐVC PTTCXH ở các trường mầm non tại huyện Bắc Tân Uyên trong chương 3 của đề tài này. Luận văn: Thực trạng QL vui chơi phát triển tình cảm xã hội cho trẻ.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp QL vui chơi phát triển tình cảm xã hội cho trẻ

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537