Luận văn: Thực trạng QL phương tiện thiết bị dạy học trường THCS

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng QL phương tiện thiết bị dạy học trường THCS hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng công tác quản lý khai thác sử dụng thiết bị dạy học ở các trường trung học cơ sở huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát về huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương

2.1.1. Về điều kiện tự nhiên, dân số

Vị trí địa lý: Ninh Giang là một huyện thuộc tỉnh Hải Dương, nằm bên bờ sông Luộc và tiếp giáp với các tỉnh lân cận là Thái Bình, Hải Phòng. Ninh Giang nằm ở đỉnh phía Đông Nam tỉnh Hải Dương, vị trí khoảng 20123’vĩ Bắc,106024’ kinh Đông; phía Nam giáp xã Thắng Thủy (Hải Phòng) qua sông Luộc, phía Bắc giáp xã Thống Kênh huyện Gia Lộc, Tây Giáp xã Hùng Sơn, huyện Thanh Miên phía Tây Nam giáp xã An Khê, phía Đông Giáp xã Hà Kỳ. Theo đường bộ Ninh Giang cách thành phố Hải Dương 29 km, Hà Nội 87 km.

Hành chính, dân số: Huyện có thị trấn Ninh Giang và 27 xã, dân số khoảng 150.000 người, diện tích tự nhiên 135,4 km².

  • Về Giao thông:
  • Đường bộ:
  • Quốc lộ: Quốc lộ 37, Trục Bắc- Nam;
  • Tỉnh lộ: Đường 396,
  • Đường sông: Sông Luộc, Cửu An, Đĩnh Đào.
  • Hiện nay các tuyến đường qua sông đều đã xây dựng các cây cầu có kết cấu theo đường cấp 2, cấp 3 đồng bằng.
  • Giao thông nông thôn: 99% đã được bê tông hóa.

2.1.2. Tình hình giáo dục nói chung và giáo dục trung học cơ sở nói riêng

Tình hình giáo dục nói chung

  • Có 5 trường trung học phổ thông, 2 trung tâm.
  • 3 trường công lập;
  • 2 trường tư thục;
  • 1 Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp – Hướng nghiệp – Dạy nghề;(Vừa sáp nhập với TTGDTX huyện Ninh Giang)
  • 1 Trung tâm giáo dục địa phương. Luận văn: Thực trạng QL phương tiện thiết bị dạy học trường THCS.
  • Số học sinh trung học cơ sở khoảng gần 000 học sinh.

Về cơ sở vật chất các trường học phổ thông: Đến nay tỷ lệ phòng học kiên cố cao tầng khối mầm non đạt 74,8%; tiểu học đạt 88,3%; trung học cơ sở đạt 100%; trung học phổ thông đạt 100%. Toàn huyện có 55 trường học đạt chuẩn quốc gia (mầm non 14, tiểu học 24, trung học cơ sở 18, trung học phổ thông 2).

Tính đến giữa năm học 2025 – 2026, huyện Ninh Giang có 29 trường trung học cơ sở.

  • Tình hình trung học cơ sở nói riêng

Thực hiện kế hoạch phát triển: Duy trì 29 trường THCS với 252 lớp, trong đó Phổ cập giáo dục trung học cơ sở: Đạt mức độ 3, Xóa mù chữ đạt mức độ 2. Xếp loại hạnh kiểm, học lực: (Không tính học sinh khuyết tật 96 học sinh)

  • Xếp loại hạnh kiểm

Trong tổng số 7.569 học sinh, số lượng học sinh có hạnh kiểm tốt chiếm tỷ lệ khá cao. Ngược lại, vẫn còn một số học sinh có hạnh kiểm xếp loại trung bình (1,55%) và yếu (0,05%), tuy số lượng này không nhiều các trường cần cải tiến phương pháp dạy học, quản lý để không còn tình trạng học sinh xếp loại hạnh kiểm trung bình và yếu.

  • Xếp loại học lực

Số học sinh có kết quả học lực giỏi (24,6%) và khá (45,9%) là chủ yếu. Mặt khác, còn 0,03% học sinh có học lực kém và 2,77% học sinh xếp loại học lực trung bình và 26,7% học sinh xếp loại học lực trung bình. Chứng tỏ, năng lực thực hiện, năng lực thực tiễn ở người học còn những hạn chế nhất định.

  • Kết quả xét tốt nghiệp trung học cơ sở Luận văn: Thực trạng QL phương tiện thiết bị dạy học trường THCS.

Tỷ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp trung học cơ sở rất cao, trong đó xếp loại giỏi tới 26,1% và loại khá 46,5%. Tuy nhiên, số lượng học sinh có kết quả tốt nghiệp loại trung bình có số lượng khá lớn (27,4%). Điều này có thể liên quan đến việc khai thác, sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học nhằm nâng cao năng lực người học, năng lực thực hành, năng lực thực tiễn chưa đạt hiệu quả như mong muốn.

  • Tình hình cơ sở vật chất ở các trường trung học cơ sở

Tính đến năm học 2025-2026 trên toàn địa bàn huyện có 29 trường trung học cơ sở, các trường đều được kiên cố hóa. Trong đó có 15 trường được công nhận trường đạt chuẩn quốc gia với đầy đủ cơ sở vật chất theo quy định hiện hành của Điều lệ trường trung học. Cơ cấu các khối công trình trong trường đều đảm bảo gồm: Khu phòng học, phòng bộ môn; khu phục vụ học tập; khu văn phòng. Cụ thể:

Về địa điểm, diện tích 100% trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện được đặt trong môi trường thuận lợi cho giáo dục, có tường bao quanh, có cổng trường và biển trường.Tổng diện tích sử dụng đủ theo tiêu chuẩn quy định.

29/29 trường có hệ thống hạ tầng công nghệ thông tin kết nối internet đáp ứng yêu cầu quản lý và dạy học.

Hiện nay nhiều trường có hệ thống cơ sở vật chất tương đối khang trang, đồng bộ và đang chờ xét công nhận đạt chuẩn quốc gia, hệ thống thư viện hiện đại phục vụ dạy và học như trường Trung học cơ sở Nghĩa An, Hồng Dụ, Hiệp Lực, Ứng Hòe… đảm bảo tốt tiêu chuẩn về sách, báo, tạp chí, bản đồ, tranh ảnh giáo dục, băng đĩa giáo khoa; cơ sở vật chất, trang thiết bị chuyên dùng…

2.1.3. Khái quát khảo sát thực trạng Luận văn: Thực trạng QL phương tiện thiết bị dạy học trường THCS.

Mục đích khảo sát: Phát hiện thực trạng trong công tác khai thác, sử dụng phương tiện thiết bị dạy học và quản lý khai thác, sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học ở các trường THCS huyện Ninh Giang.

Nội dung khảo sát:

  • Những thuận lợi, khó khăn trong công tác xây dựng, khai thác, sử dụng phương tiện thiết bị dạy học ở các trường THCS huyện ninh Giang, tỉnh Hải Dương.
  • Đánh giá vai trò, tác dụng của việc khai thác, sử dụng các phương tiện thiết bị dạy học.
  • Đánh giá mức độ thực hiện công việc xây dựng, khai thác, sử dụng phương tiện thiết bị dạy học.
  • Đánh giá các biện pháp quản lý, khai thác, sử dụng phương tiện thiết bị dạy học ở các trường THCS huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương(theo bốn chức năng quản lí)

Phương pháp khảo sát phương pháp xử kết quả khảo sát

  • Phương pháp chuyên gia.(phụ lục 2)
  • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi.(phụ lục1)
  • Phương pháp quan sát.(phụ lục 3)
  • Phương pháp phỏng vấn sâu(phụ lục 4)
  • Phương pháp khảo nghiệm.
  • Phương pháp xử lí số liệu bằng thống kê toán học với sự trợ giúp của SPSS.

Đối tượng phạm vi khảo sát:

Gồm 261 khách thể, trong đó 86 cán bộ quản lý là hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, tổ trưởng các tổ chuyên môn; 123 giáo viên ở 17 trường trung học cơ sở; riêng với cán bộ quản lý thư viện, thiết bị trường học gồm 52 cán bộ ở 29 trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Ninh Giang.

2.2. Thực trạng về khai thác sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học ở các trường trung học cơ sở huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương Luận văn: Thực trạng QL phương tiện thiết bị dạy học trường THCS.

2.2.1. Đánh giá những thuận lợi, khó khăn trong công tác xây dựng, khai thác, sử dụng các phương tiện, thiết bị dạy học ở trường trung học cơ sở

  • Các thuận lợi

Bảng 2.1. Những thuận lợi trong công tác xây dựng, khai thác, sử dụng các phương tiện, thiết bị dạy học ở trường trung học cơ sở

  • Kết quả theo mẫu chung

Kết quả cho thấy việc xây dựng, khai thác, sử dụng các phương tiện, thiết bị dạy học ở các trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Ninh Giang có những thuận lợi nhất định (ĐTB = 2,08, ĐLC = 0,48), tuy không cao song chứng tỏ được một số thuận lợi có tác động nhất định đến việc thực hiện xây dựng trường chuẩn cũng như nâng cấp, đầu tư cơ sở vật chất phục vụ dạy và học.

Trong năm thuận lợi cơ bản được đưa ra có hai thuận lợi nổi trội là “Cán bộ thiết bị trường học chuyên trách được đào tạo, bồi dưỡng có năng lực chuyên môn, tinh thần trách nhiệm” (ĐTB = 2,18, ĐLC = 0,46) và “Giáo viên nhà trường tích cực tham gia xây dựng, khai thác sử dụng các phương tiện, thiết bị dạy học” (ĐTB = 2,17, ĐLC = 0,17). Tiếp đến có thuận lợi “Sự quan tâm lãnh đạo, tạo điều kiện cho công tác này của Ban Giám hiệu nhà trường” (ĐTB = 2,14, ĐLC = 0,47) thể hiện tính chủ động của Ban Giám hiệu nhà trường trong quản lý khai thác phương tiện, thiết bị dạy học hiệu quả. Vai trò của đội ngũ cán bộ quản lý thiết bị trường học và vai trò của giáo viên thể hiện sự nổi trội, bởi đây là đội ngũ quản lý và sử dụng trực tiếp các trang thiết bị dạy học, đồng thời sự quan tâm của Giám hiệu nhà trường khẳng định được sự cam kết của các cấp lãnh đạo trong việc xây dựng các trường trung học cơ sở trên toàn địa bàn huyện đạt chuẩn quốc gia.

Bên cạnh những thuận lợi được đánh giá ở mức khá thì thuận lợi “Kinh phí đầu tư của Nhà nước, từ công tác xã hội hóa, địa phương dành đất cho xây dựng cơ bản các hạng mục công trình phục vụ dạy và học” kết quả thấp nhất ĐTB = 1,93 trong số năm thuận lợi. Việc đầu tư kinh phí từ các nguồn khác nhau cần được sử dụng hiệu quả nhằm đem lại hiệu quả tốt nhất cho việc quản lý khai thác, sử dụng trang thiết bị dạy học ở các trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Ninh Giang đạt hiệu quả thiết thực.

Khẳng định về những thuận lợi, thầy giáo Bùi Anh Tuấn cán bộ Phòng Giáo dục cho rằng: “Ban Giám hiệu các trường, Phòng Giáo dục khá tích vực trong việc xây dự kế hoạch trường chuẩn đồng thời với việc đầu tư, nâng cấp về cơ sở vật chất phục vụ dạy và học, ngoài ra đội ngũ giáo viên có những tích cực tương đối rõ về sử khai thác, sử dụng phương tiện dạy học, nhất là trong thời gian gần đây Dự thảo chương trình giáo dục phổ thông mới được Bộ Giáo dục công bố thì các thuận lợi được các trường quan tâm nhiều hơn”. Luận văn: Thực trạng QL phương tiện thiết bị dạy học trường THCS.

  • Kết quả theo loại khách thể

Kết quả đánh giá giữa cán bộ quản lý (ĐTB = 2,14, ĐLC= 0,46), giáo viên (ĐTB = 2,09, ĐLC= 0,45) và cán bộ thiết bị trường học (ĐTB = 2,02, ĐLC= 0,52) sự chênh lệch kết quả đánh giá không đáng kể. Cùng với đó, sự chênh lệch có sự tương đồng ở hầu hết trên từng biểu hiện thuận lợi, ngoại trừ “Cán bộ thiết bị trường học chuyên trách được đào tạo, bồi dưỡng có năng lực chuyên môn, tinh thần trách nhiệm”, nhóm cán bộ quản lý đánh giá cao nhất (ĐTB = 2,36), nổi trội so với đánh giá của giáo viên và cán bộ thiết bị trường học. Trong khi đó giáo viên đánh giá “Giáo viên nhà trường tích cực tham gia xây dựng, khai thác sử dụng các phương tiện, thiết bị dạy học” thể hiện sự nổi trội ĐTB = 2,28. Điều này chỉ ra bản thân giáo viên tự đánh giá có thể bao quát được những điểm mạnh trong việc sử dụng trang thiết bị trong các giờ dạy. Nhóm cán bộ thiết bị trường học cho rằng “Sự quan tâm lãnh đạo, tạo điều kiện cho công tác này của Ban Giám hiệu nhà trường” ĐTB = 2,17 có hiệu quả nhất.

Việc đánh giá những thuận lợi nổi trội giữa các nhóm khác thể là khác nhau, song về biểu hiện thuận lợi được đánh giá thấp khá thống nhất, tập trung vào “Kinh phí đầu tư của Nhà nước, từ công tác xã hội hóa, địa phương dành đất cho xây dựng cơ bản các hạng mục công trình phục vụ dạy và học”. Do vậy, trên thực tế tính hiệu quả về mặt này chưa cao và cần được quan tâm nhiều hơn, nhằm nâng cao hiệu quả dạy học ở các trường trung học cơ sở huyện Ninh Giang.

Minh họa ý kiến cho kết quả trên, đồng chí Nguyễn Thị Huyền cán bộ thư viện, thiết bị trường Trung học cơ sở Quang Hưng khẳng định: “Bản thân mỗi chúng tôi luôn ý thức về việc bảo quản trang thiết bị dạy học cũng như cách khai thác làm sao cho hiệu quả. Tuy nhiên, một số trang thiết bị cũ cần được thay mới, nên đòi hỏi các cấp quan tân nhiều hơn”.

  • Các khó khăn

Bảng 2.2. Những khó khăn trong công tác xây dựng, khai thác, sử dụng các phương tiện, thiết bị dạy học ở trường trung học cơ sở

  • Kết quả theo mẫu chung Luận văn: Thực trạng QL phương tiện thiết bị dạy học trường THCS.

Những khó khăn chiếm vụ trí đáng kể (ĐTB = 2,28, ĐLC = 0,48) so với những thuận lợi (ĐTB = 2,08, ĐLC = 0,48), trong đó có thể thấy khó khăn nổi trội ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả quản lý khai thác sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học, đó là “Nguồn kinh phí hạn hẹp, chưa có sự đầu tư thỏa đáng cho về cơ sở vật chất cho công tác thiết bị dạy học” (ĐTB = 2,46, ĐLC = 0,47) và “Một số trang thiết bị, phương tiện quá cũ, mua sắm chưa phù hợp, thiếu một số trang thiết bị cần thiết”, với ĐTB = 2,34, ĐLC = 0,45). Những khó khăn trên đều xuất phát từ lý do chính là nguồn kinh phí hạn hẹp nên việc trang cấp cho các trường bị hạn chế.Các trường trung học cơ sở hiện không có nguồn thu nào khác ngoài sự đầu tư của Nhà nước, công tác xã hội hóa về mặt này còn hạn chế. Nguồn kinh phí của các trường chủ yếu cho nhiều nội dung hoạt động chung của các trường. Do vậy,khi các trang thiết bị dạy học cũ khó có điều kiện để thay thế hoặc mua sắm mới, gây nên việc thiếu phương tiện dạy học ở các trường hiện khá phổ biến.

Cùng với những khó khăn chiếm vị trí nổi bật như trên thì hai khó khăn còn lại là “Một số giáo viên ngại sưu tầm, tìm kiếm, tự tạo các đồ dùng dạy học hoặc ngại sử dụng các trang thiết bị trong dạy học hoặc chưa thực sự tiết kiệm, sử dụng chưa hiệu quả” ĐTB = 2,19 và “Việc bảo quản trang thiết bị từ phía cán bộ chuyên trách, giáo viên, học sinh chưa tốt” ĐTB = 2,12, ở mức trung bình song đều có ảnh hưởng đến quản lý khai thác và sử dụng phương tiện dạy học. Như vậy là sự chủ động trong việc sưu tầm, bảo quản trang thiết bị dạy học của giáo viên và cán bộ thư viện còn những hạn chế nhất định.Nếu như những biểu hiện này được cải thiện thì việc quản lý khai thác thiết bị trường học có thể được nâng lên, góp phần quan trọng vào việc nâng cao kết quả dạy học ở trường trung học cơ sở.

  • Kết quả theo loại khách thể

Có sự tương đồng trong kết quả đánh giá việc khai thác, sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học ở các trường trung học cơ sở huyện Ninh Giang giữa giáo viên (ĐTB = 2,29, ĐLC = 0,44) với đánh giá của cán bộ thiết bị trường học (ĐTB = 2,30, ĐLC = 0,53). Có thể hai nhóm này thường xuyên sử dụng cũng như trực tiếp quản lý trang thiết bị dạy học nên nắm rõ những hạn chế hơn so với đánh giá của cán bộ quản lý (ĐTB = 2,24, ĐLC = 0,46). Ngoài ra, việc đánh giá khó khăn nổi trội có sự tương đồng giữa ba nhóm khách thể về “Nguồn kinh phí hạn hẹp, chưa có sự đầu tư thỏa đáng về cơ sở vật chất cho công tác thiết bị dạy học”. Cả ba nhóm đều nhận thức khá rõ khó khăn và là cản trở lớn nhất chính là ngồn kinh phí từ việc trang cấp và kinh phí của các trường luôn trong trạng thái hạn hẹn hẹp nên hầu như các trường chưa có đủ trang thiết bị phục vụ dạy học, ngoại trừ hai trường đã đạt chuẩn. Luận văn: Thực trạng QL phương tiện thiết bị dạy học trường THCS.

Một khó khăn khác cũng được đánh giá sát thực tế là “Việc bảo quản trang thiết bị từ phía cán bộ chuyên trách, giáo viên, học sinh chưa tốt” ở cả giáo viên, cán bộ quản lý và cán bộ thiết bị trường học. Tuy nhiên, các cán bộ thiết bị trường học, giáo viên có ý thức và trách nhiệm khá tốt việc xây dựng, khai thác, bảo quản trang thiết bị, nhiều giáo viên có những cải tiến trong việc sử dụng các thiết bị dạy học và được cấp cấp đánh giá cao, đây là thực tế cần khuyến khích trong việc sử dụng đồ dùng dạy học ở các trường trung học cơ sở.

Minh họa ý kiến về những khó khăn trên, đồng chí Nguyễn Thị Loan cán bộ thư viện, thiết bị trường Trung học cơ sở Thành Nhân cho rằng “Khó khăn lớn nhất trong việc khai thác và sử dụng phương tiện, trang thiết bị dạy học hiện nay chính là nhiều trang thiết bị đã cũ nên tính năng hạn chế, hơn nữa việc trang cấp mới cũng hạn chế do nguồn kinh phí của nhà trường, từ trang cấp chưa đảm bảo”.

Tóm lại, khó khăn lớn nhất đối với việc quản lý khai thác trang thiết bị dạy học ở các trường hiện chính là nguồn kinh phí và nhiều trang thiết bị đã cũ, chưa được thay thế, sửa chữa. Các cán bộ thiết bị trường học, giáo viên có ý thức và trách nhiệm tương đối tốt trong sử dụng và bảo quản đồ dùng, phương tiện dạy học nhưng còn những bất cập cần khắc phục.

2.2.2 Đánh giá vai trò, tác dụng của việc khai thác, sử dụng các phương tiện, trang thiết bị dạy học

Bảng 2.3. Vai trò, tác dụng của việc khai thác, sử dụng các phương tiện, trang thiết bị dạy học

  • Kết quả theo mẫu chung Luận văn: Thực trạng QL phương tiện thiết bị dạy học trường THCS.

Đánh giá về vai trò, tác dụng của việc khai thác, sử dụng các phương tiện, trang thiết bị dạy học ở các trường trung học cơ sở huyện Ninh Giang ở mức trung bình (ĐTB = 2,09, ĐLC = 0,47). Với kết quả như trên chỉ ra thực trạng phấn đấu xây dựng trường trung học cơ sở đạt chuẩn các trường trong việc xây dựng trường chuẩn bị hạn chế, vì trang thiết bị dạy học là một trong những tiêu chuẩn quan trọng được quy định tại Điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học, số 12/2019/TT-BGDĐT, ngày 28 tháng 3 năm 2019 và Thông tư ban hành Quy chế công nhận trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học đạt chuẩn quốc gia của Bộ Giáo dục.

Trong 6 vai trò được nêu ra thì vai trò “Giúp cho việc học đi đôi với hành, khắc sâu và cụ thể hóa kiến thức lý thuyết, rèn luyện kỹ năng thực hành môn học, chống dạy học chay” được đánh giá trội hơn (ĐTB = 2,18, ĐLC = 0,50). Sở dĩ vai trò này được đánh giá nổi trội vì đây là nội dung quan trọng hơn cả, hướng vào thực hiện theo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo thông qua nhằm nâng cao năng lực người học, tạo sự đồng bộ giữa dạy và học. Ngược lại, vai trò “Góp phần thực hiện tiêu chí phấn đấu nhà trường đạt chuẩn quốc gia” được đánh giá thấp nhất (ĐTB = 1,97, ĐLC = 0,47). Tuy vai trò này có ý nghĩa là một tiêu chí trông việc xây dựng trường chuẩn quốc gia, thực tế toàn huyện tính đến hết năm 2025 có rất ít trường được công nhận là trường chuẩn quốc gia nên các trường đang rất nỗ lực khắc phục khó khăn để có đầy đủ năm tiêu chuẩn trong đó có tiêu chuẩn thứ 4 về thiết bị dạy học.

Đánh giá về thực trạng trên, thầy giáo Đỗ Văn Long giáo viên trường Trung học cơ sở Thị trấn Ninh Giang nêu ý kiến: “Theo ý kiến của cá nhân tôi, thực chất việc thực hiện khai thác, sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học ở các trường trung học cơ sở còn nhiều hạn chế, nguyên nhân chính là việc đầu tư và các hạng mục để xây dựng trường chuẩn chưa đồng đều, chưa có sự chú ý nhiều đến việc trang cấp, khai thác các phương tiện dạy học có hiệu quả”.

  • Kết quả theo loại khách thể

Nhìn chung giáo viên tuy có đánh giá về vai trò, tác dụng của việc khai thác, sử dụng các phương tiện, trang thiết bị dạy học trội hơn (ĐTB = 2,14) so với đánh giá của giáo viên (ĐTB = 2,10) và đánh giá của cán bộ thiết bị trường học (ĐTB = 2,03) nhưng không tạo ra sự khác biệt. Điều này cho thấy các khách thể đánh giá khá tương đồng về vai trò và tác dụng của việc khai thác, sử dụng phương tiện dạy học hiệu quả chưa cao. Tuy nhiên, việc đánh giá một số vai trò có những điểm khác biệt nhỏ. Giáo viên đánh giá “Giúp cho việc học đi đôi với hành, khắc sâu và cụ thể hóa kiến thức lý thuyết, rèn luyện kỹ năng thực hành môn học, chống dạy học chay” trội nhất, với ĐTB = 2,34. Đánh giá của cán bộ thiết bị trường học thể hiện rõ ở vai trò “Rèn luyện kỹ năng sử dụng phương tiện, trang thiết bị cho giáo viên và học sinh trong các môn học” ĐTB = 2,16 thì cán bộ quản lý lại tập trung vào “Góp phần nâng cao kết quả học tập của học sinh” ĐTB = 2,16. Trên thực tế cả ba vai trò trên có nét tương đồng cùng hướng vào chất lượng, năng lực học tập của học sinh, chính là việc quản lý, khai thác thiết bị dạy học chưa tạo được động lực quan trọng để thúc đẩy năng lực học tập của học sinh.

Tóm lại, đánh giá chung về khai thác, sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học ở các trường trung học cơ sở ở mức trung bình và có sự tương đồng trong đánh giá giữa các nhóm khách thể. Tuy nhiên, trên từng vai trò cụ thể, cán bộ quản lý đánh giá cao vai trò học đi đôi với hành, khắc sâu và cụ thể hóa kiến thức lý thuyết, rèn luyện kỹ năng thực hành,giáo viên đánh giá trội ở vai trò nâng cao kết quả học tập của học sinh và cán bộ thư viện đánh giá tập trung vào rèn luyện kỹ năng sử dụng phương tiện, trang thiết bị cho giáo viên và học sinh.

2.2.3 Thực hiện công việc xây dựng, khai thác, sử dụng phương tiện đồ dùng dạy học Luận văn: Thực trạng QL phương tiện thiết bị dạy học trường THCS.

Bảng 2.4. Thực hiện công việc xây dựng, khai thác, sử dụng phương tiện đồ dùng dạy học

  • Kết quả theo mẫu chung

Có thể thấy 29 trường trên địa bàn huyện ngoại trừ 15 trường được công nhận đạt chuẩn quốc gia, còn lại các trường đang phấn đấu xây dựng trường chuẩn, khó khăn chính cản trở vấn đề là điều kiện về cơ sở vật chất, trong đó có khó khăn, thiếu thốn về trang thiết bị dạy học, vì vậy kết quả thực hiện xây dựng, khai thác phương tiện đồ dùng dạy học trên toàn địa bàn huyện không cao (ĐTB = 2,01, ĐLC = 0,52). Hạn chế này cần được khắc phục nhằm tạo sự đồng bộ trong việc xây dựng các trường trung học cơ sở đạt chuẩn quốc gia.

Thực hiện công việc “Mua sắm các phương tiện, trang thiết bị phục vụ dạy và học” với kết quả trội nhất, ở mức khá (với ĐTB = 2,23, ĐLC = 0,52), chứng tỏ các Ban Giám hiệu các trường luôn nỗ lực với việc mua sắm các trang thiết bị dạy và học cho nhà trường, nhưng từ các nội dung trên chỉ ra nguồn kinh phí chi thường xuyên của trường là chủ yếu nên rất ít kinh phí còn lại để chi cho đầu tư, đó là khó khăn chung hiện nay của các trường, kể cả các trường đã đạt chuẩn quốc gia. Cũng vì vậy, đội ngũ giáo viên luôn nỗ lực trong thực hiện “Sử dụng có kết quả các phương tiện, trang thiết bị phục vụ dạy và học” nên có kết quả đồng thời ở mức khá (ĐTB = 2,14, ĐLC = 0,51). Kết quả này cho thấy các trường trung học cơ sở ở địa phương chưa hoàn toàn đáp ứng yêu cầu thực tiễn về trang thiết bị có nhiều trang thiết bị dạy học đã cũ hoặc nhiều tính năng chưa được khai thác hết do những hạn chế về kinh nghiệm.Mặt khác, trong giờ lên lớp, thời gian dành cho việc dạy lý thuyết khá nhiều nên thời gian thực hành, sử dụng các trang thiết bị dạy học bị hạn chế. Tuy nhiên, kết quả trên cho thấy sự cố gắng rất lớn của Ban Giám hiệu và của đội ngũ giáo viên các trường trong việc khai thác, xây dựng, sử dụng trang thiết bị dạy học ở các trường trung học cơ sở ở địa phương. Luận văn: Thực trạng QL phương tiện thiết bị dạy học trường THCS.

Tuy nhiên, việc “Đào tạo, bồi dưỡng, quản lý đội ngũ cán bộ làm công tác thiết bị, thư viện trường học” có kết quả thấp nhất (ĐTB = 1,84, ĐLC = 0,54). Thực tế một số cán bộ thiết bị trường học đã đạt chuẩn, song việc nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho đội ngũ này là việc làm thường xuyên, như đã phân tích, trở ngại lớn nhất chính là nguồn kinh phí hạn hẹp nên chủ yếu đội ngũ này ít được đi bồi dưỡng mà chủ yếu là tự bồi dưỡng. Từ thực tế cho thấy cần thường xuyên nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ thiết bị nhà trường thông qua việc cử đi đào tạo, độ ngũ này cần chủ động hơn trong bồi dưỡng và tự bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ quản lý và khai thác thiết bị trường học. Minh họa ý kiến cho thực trạng này, đồng chí Nguyễn Thị Là phụ trách thiết bị trường học trường Trung học cơ sở Hồng Đức cho rằng: “Chúng tôi đã đạt chuẩn cán bộ thư viện, thiết bị trường học, song chúng tôi luôn có mong muốn được cử tham gia các khóa đào tạo do tỉnh và Bộ Giáo dục và đào tạo tổ chức, nhằm cập nhật với kiến thức, kỹ năng sử dụng và quản lý tốt các trang thiết bị dạy học hiện đại, phục vụ cho việc dạy và học đạt kết quả tốt, nhưng hiện nay chúng tôi chủ yếu tự bồi dưỡng, tự nghiên cứu là chính”.

  • Kết quả theo loại khách thể

So sánh tương quan kết quả đánh giá giữa ba nhóm khách thể cho thấy sự tương đồng rất rõ. Đối với cán bộ quản lý kết quả đánh giá ĐTB = 2,04, ở giáo viên ĐTB = 1,98 và ở cán bộ thiết bị trường học là 2,01. Các kết quả đều ở mức trung bình, chứng tỏ các khách thể nhận thức về những ưu điểm và những hạn chế trong thực hiện công việc xây dựng, khai thác phương tiện đồ dùng dạy học ở các trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Ninh Giang khá thống nhất. Do đó ở các công việc như “Mua sắm các phương tiện, trang thiết bị phục vụ dạy và học” được đánh giá cao trội nhất và “Đào tạo, bồi dưỡng, quản lý đội ngũ cán bộ làm công tác thiết bị, thư viện trường học” kết quả đánh giá thấp hơn đã chỉ ra thực trạng trên.

Một công việc nữa cho thấy các khách thể có cách đánh giá tương đối thống nhất giữa cán bộ quản lý và cán bộ thiết bị trường học “Mua sắm các phương tiện, trang thiết bị phục vụ dạy và học” với kết quả trội hơn, trong khi đó ở giáo viên là công việc “Sử dụng có kết quả các phương tiện, trang thiết bị phục vụ dạy và học”. Các kết quả này được giải thích dựa trên đặc thù về chuyên môn nên cách nhìn nhận là hoàn toàn có căn cứ thực tiễn.

Tóm lại, kết quả thực hiện công việc xây dựng, khai thác phương tiện đồ dùng dạy học chưa cao. Tuy nhiên, kết quả thực hiện các công việc có sự khác nhau khá rõ, công việc mua sắm các phương tiện, trang thiết bị phục vụ dạy và học được kết quả cao nhất. Ngược lại, công việc đào tạo, bồi dưỡng, quản lý đội ngũ cán bộ làm công tác thiết bị, thư viện trường học còn hạn chế. Mặc dù đánh giá trên các công việc khác nhau nhưng các khách thể tương đối thống nhất trên mẫu chung cũng như trên hầu hết công việc. Luận văn: Thực trạng QL phương tiện thiết bị dạy học trường THCS.

2.2.4. Đánh giá chung về xây dựng, khai thác, sử dụng phương tiện, đồ dùng dạy học ở trường trung học cơ sở

  • Biểu đồ 2.1. Đánh giá chung việc xây dựng, khai thác, sử dụng phương tiện, đồ dùng dạy học

Trong số các nội dung trên về xây dựng, khai thác phương tiện đồ dùng dạy học có thể thấy nhưng khó khăn có kết quả nổi trội so với những thuận lợi, khi đánh giá về vai trò, tác dụng của phương tiện dạy học cũng như kết quả xây dựng và khai thác các phương tiện dạy học. Từ kết quả khảo sát cho thấy quá trình thực hiện bộc lộ những mặt được và chưa được như sau:

  • Về ưu điểm

Những thuận lợi trong xây dựng, khai thác, sử dụng các phương tiện, thiết bị dạy học cho thấy đội ngũ cán bộ thiết bị trường học chuyên trách được đào tạo, bồi dưỡng đạt chuẩn về chuyên môn, có tinh thần trách nhiệm cao, chủ động khắc phục nhiều khó khăn trong việc quản lý, bảo quản trang thiết bị dạy học. Cùng với đó nhiều giáo viên đã sáng tạo, linh hoạt trong sử dụng, khai thác thiết bị dạy học có hiệu quả trong các giờ dạy học

Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên và cán bộ chuyên trách thiết bị trường học đánh giá thực hiện khai thác, sử dụng các phương tiện, trang thiết bị dạy học tương đối thống nhất, thể hiện rõ ở đánh giá giúp cho việc học đi đôi với hành, khắc sâu và cụ thể hóa kiến thức lý thuyết, rèn luyện kỹ năng thực hành, chống dạy học chay.

Việc thực hiện công việc xây dựng, khai thác phương tiện đồ dùng dạy học được cán bộ quản lý, giáo viên và cán bộ chuyên trách thiết bị trường học ý thức và thực hiện khá tốt yêu cầu mua sắm các phương tiện, trang thiết bị phục vụ dạy và học, nâng cao hiệu quả dạy học tiếp cận năng lực người học theo chương trình giáo dục phổ thông mới.

  • Về hạn chế Luận văn: Thực trạng QL phương tiện thiết bị dạy học trường THCS.

Bên cạnh những thuận lợi, việc khai thác, sử dụng trang thiết bị dạy học ở các trường trung học cơ sở huyện Ninh Giang còn nhiều hạn chế:

Thứ nhất: Những thuận lợi trong xây dựng, khai thác, sử dụng các phương tiện, thiết bị dạy học ở trường trung học cơ sở chưa nhiều, thậm chí kết quả đánh giá ở mức trung bình.

Thứ hai:Những khó khăn trong xây dựng, khai thác, sử dụng các phương tiện, thiết bị dạy học khá cao, khó khăn lớn nhất là nguồn kinh phí hạn hẹp, chưa có sự đầu tư thỏa đáng cho về cơ sở vật chất để mua sắm, sửa chữa thiết bị dạy học.

Thứ ba: Đánh giá về vai trò, tác dụng của việc khai thác, sử dụng các phương tiện, trang thiết bị dạy học chưa cao, chưa tạo sự đồng bộ trong thực hiện tiêu chí phấn đấu nhà trường đạt chuẩn quốc gia.

Thứ tư: Kết quả thực hiện công việc xây dựng, khai thác phương tiện đồ dùng dạy học đưa đáp ứng được yêu cầu thực tế, còn nhiều hạn chế trong tiếp cận đào tạo, bồi dưỡng, quản lý đội ngũ cán bộ làm công tác thiết bị, thư viện trường học nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ thường xuyên đáp ứng chương trình giáo dục phổ thông mới.

  • Về nguyên nhân của những hạn chế

Nguồn kinh phí hạn hẹp nên các trường chủ yếu dành nguồn kinh phí chi thường xuyên mà ít có kinh phí chi cho đầu từ mua sắm trang thiết bị phục vụ dạy học, dẫn đến tình trạng còn hiện tượng dạy học chay

Việc đánh giá vai trò, tác dụng của phương tiện dạy học chưa đáo ứng được yêu cầu thực tiễn ở các trường trung học cơ sở, điều này tác đông không tốt đến thực hiện tiêu chí phấn đấu nhà trường đạt chuẩn quốc gia.

Kết quả nhận thức về những khó khăn và thuận lợi, vai trò của khai thác và sử dụng trang thiết bị, phương tiện dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy của giáo viên và kết quả học tập của học sinh cũng như đánh giá về thực hiện xây dựng, khai thác phương tiện đồ dùng dạy học ở nhiều nội dung chưa có sự đồng bộ giữa cán bộ quản lý, giáo viên và cán bộ chuyên trách thiết bị trường học.

2.3. Thực trạng quản lý khai thác, sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học ở các trường THCS Huyện Ninh Giang Luận văn: Thực trạng QL phương tiện thiết bị dạy học trường THCS.

2.3.1. Lập kế hoạch xây dựng, khai thác, sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học

  • Kết quả theo mẫu chung

Kết quả đánh giá việc lập kế hoạch, xây dựng, khai thác, sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học mức trung bình (ĐTB = 2,05, ĐLC = 0,46). Lý giải chung về kết quả này, đồng chí Lâm Tiến Đắc, cán bộ Phòng Giáo dục huyện Ninh Giang cho rằng: “Các trường hiện đã rất nỗ lực và tích cực xây dựng trường chuẩn, cho nên việc quản lý bị dàn trải nên đa phần các trường chưa có chiến lược ưu tiên lập kế hoạch cụ thể để khai thác tốt nhất hiệu quả các trang thiết bị hiện có. Khó khăn khác nữa là nguồn kinh phí các từ cáp trên trong việc trang cấp thiết bị dạy học cho các trường có hạn nên Ban Giám hiệu nhà trường chủ yếu tập trung xây dựng kế hoạch có tính tổng thể hơn là kế hoạch chi tiếp”. Có thể thấy lý giải trên hoàn toàn phù hợp với đánh giá về công việc “Lập kế hoạch tổng thể của nhà trường, kế hoạch từng năm học về việc xây dựng, khai thác, sử dụng phương tiện, trang thiết bị dạy học” với kết quả trội nhất (ĐTB = 2,29, ĐLC = 0,45). Thực tế Ban Giám hiệu nhà trường đã chỉ đạo các bộ phận có liên quan như giáo viên bộ môn, cán bộ thiết bị trường học có kế hoạch chung về quản lý và sử dụng thiết bị dạy học.

  • Bảng 2.5. Lập kế hoạch, xây dựng, khai thác, sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học

Cùng với việc xây dựng kế hoạch dạy học, công việc “Kế hoạch mua sắm các phương tiện, trang thiết bị dạy học” luôn là mối quan tâm chung của các trường (ĐTB = 2,21) song theo ý kiến của các cán bộ thiết bị trường học, ngoài trở ngại về kinh phí còn có trở ngại khác đó là quy định về thay thế, mua sắm còn bất cập như một số thiết bị cũ hoặc đã hư hỏng ở nhiều trường chưa được thanh lý do chưa có cơ chế cho nên kế hoạch được triển khai nhưng khi đưa vào thực hiện luôn bị vướng bởi cơ chế. Ngoài ra, một cản trở khác là “Kế hoạch bảo quản, kiểm kê, thanh lý, bổ sung phương tiện, trang thiết bị dạy học” (ĐTB = 1,92) và “Kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn cho cán bộ thiết bị trường học” (ĐTB = 1,87) chậm được tiến hành do sự phối hợp giữa chỉ đạo của Ban Giám hiệu các trường với sự chủ động của cán bộ thiết bị trường học chưa thường xuyên, chưa chặt chẽ nên việc kiểm kê, thanh lý chưa đảm bảo tiến độ, gây nên sự chậm trễ trong việc thanh lý, thay mới hoặc sửa chữa kịp thời. Do vậy, kết quả đánh giá công việc này tương đối thấp, công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn cho cán bộ thiết bị trường học bị ảnh hưởng. Luận văn: Thực trạng QL phương tiện thiết bị dạy học trường THCS.

  • Kết quả theo loại khách thể

Lập kế hoạch xây dựng, khai thác, sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học thuộc sự chỉ đạo, điều hành của Ban Giám hiệu nên có thể đây là lợi thế của cán bộ quản lý trong nhìn nhận, đánh giá kết quả thực hiện.Do vậy đánh giá chung cũng như đánh giá trên từng công việc cho thấy cán bộ quản lý đánh giá trội hơn so với đánh giá của giáo viên và cán bộ thiết bị trường học.

Công việc “Lập kế hoạch tổng thể của nhà trường, kế hoạch từng năm học về việc xây dựng, khai thác, sử dụng phương tiện, trang thiết bị dạy học” và “Kế hoạch mua sắm các phương tiện, trang thiết bị dạy học” ba nhóm đồng thời đánh giá cao hơn so với các công việc khác. Cô giáo Phạm Thị Hà, giáo viên bộ môn vật lý trường Trung học cơ sở Đồng Tâm nói về thực trạng này: “Hàng năm nhà trường đều tiến hành xây dựng kế hoạch tổng thể chung và những nội dung về quản lý, khai thác, sử dụng trang thiết bị, phương tiện dạy học cũng như việc trang cấp, mua sắm. Nhưng theo tôi, việc mua sắm tính khả thi chưa cao vì vấn đề ngân sách cho hoạt động này phụ thuộc vào cấp trên, rồi cơ chế thay mới phải báo cáo lên cấp trên nên cần thời gian dài đã ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý trên thực tế”.

Minh chứng trên là khẳng định thêm cho hiệu quả công việc bảo quản, kiểm kê, thanh lý, bổ sung phương tiện, trang thiết bị dạy học cũng như công việc đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn cho cán bộ thiết bị trường học chưa đáp ứng được yêu cầu dạy và học trong các trường trung học cơ sở ở địa bàn huyện Ninh Giang.

Như vậy, kết quả thực hiện công việc lập kế hoạch xây dựng, khai thác, sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học nhìn chung còn hạn chế. Trong các công việc thì công việc lập kế hoạch tổng thể của nhà trường, kế hoạch từng năm học về việc xây dựng, khai thác, sử dụng phương tiện, trang thiết bị dạy học được đánh giá cao hơn. Trong khi đó, việc thực hiện kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn cho cán bộ thiết bị trường học thấp nhất. Cán bộ quản lý đánh giá hiệu quả các công việc quản lý trội hơn so với giáo viên và cán bộ thiết bị trường học.

2.3.2 Tổ chức thực hiện kế hoạch Luận văn: Thực trạng QL phương tiện thiết bị dạy học trường THCS.

Bảng 2.6. Tổ chức thực hiện kế hoạch

  • Kết quả theo mẫu chung

Việc tổ chức thực hiện kế hoạch quản lý khai thác và sử dụng trang thiết bị, phương tiện dạy học chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế kết quả đánh giá chung chỉ ở mức trung bình (ĐTB = 2,02, ĐLC = 0,54). Điều này đã tác động không tốt đến hiệu quả dạy học ở các trường cũng như việc nâng cao năng lực học tập của học sinh đáp ứng yêu cầu Chương trình giáo dục phổ thông mới. Công việc “Xây dựng và thực hiện các quy định về việc khai thác, sử dụng, bảo quản phương tiện, trang thiết bị dạy học” tuy có kết quả cao hơn song chỉ ở mức trung bình khá (ĐTB = 2,13, ĐLC = 0,59), mặc dù các trường đều có quy định khá chi tiết và cụ thể trong thực hiện các quy định sử dụng, bảo quản trang thiết bị dạy học, nhưng vấn đề quản lý còn những bất cập vì thế kết quả đánh giá không cao ở các công việc quản lý.

Kết quả khảo sát cho thấy những hạn chế trong tổ chức thực hiện kế hoạch ở công việc “Cử cán bộ tham gia dự các khóa bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ về công tác trang thiết bị dạy học” và “Tổ chức kiểm tra, đánh giá công tác quản lý, xây dựng, mua sắm, khai thác, sử dụng, bảo quản, thanh lý, bổ sung trang thiết bị”, kết quả lần lượt là 1,92 điểm và 1,93 điểm. Trên thực tế, việc cử cán bộ tham gia các khóa đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ quản lý, khai thác thiết bị dạy học không chỉ là nhu cầu của bản thân mỗi cán bộ phụ trách thiết bị dạy học, mà còn là yêu cầu của các trường song do khó khăn nguồn kinh phí không đáp ứng được các nhu cầu đó làm cho việc mua sắm các trang thiết bị dạy học tương đối hạn chế Ban Giám hiệu chưa tích cực, chủ động kiểm tra, đánh giá việc sử dụng và bảo quản của giáo viên cũng như đối với cán bộ quản lý thiết bị.

Thầy giáo Bùi Văn Hiệp, Phó hiệu trưởng Trường trung học cơ sở Kiến Quốc được phân công phụ trách thiết bị trường học đưa ra một số ý kiến: “Lâu nay nhà trường có cử cán bộ tham gia các khóa tập huấn ngắn ngày do Phòng Giáo dục và Sở Giáo dục tổ chức nhưng đều là nguồn kinh phí do Phòng, Sở chi trả. Ngoài ra, do tập trung vào hoạt động chuyên môn và các hoạt động khác nên việc quản lý tổ chức thực hiện kế hoạch quản lý, khai thác thiết bị dạy học có phần chưa đem lại hiệu quả tích cực”.

  • Kết quả theo loại khách thể Luận văn: Thực trạng QL phương tiện thiết bị dạy học trường THCS.

Nhóm khách thể cán bộ quản lý đánh giá công việc tổ chức thực hiện kế hoạch cao nhất, với ĐTB = 2,07, các giáo viên trực tiếp sử dụng trang thiết bị dạy học đánh giá thấp hơn, với ĐTB = 2,03 và thấp nhất là cán bộ thiết bị trường học, với ĐTB =1,96.

Cán bộ quản lý và cán bộ thiết bị trường học đánh giá khá thống nhất về công việc “Xây dựng và thực hiện các quy định về việc khai thác, sử dụng, bảo quản phương tiện, trang thiết bị dạy học” với kết quả tương ứng là 2,14 điểm và 2,15 điểm. Nhưng đối với giáo viên có nhìn khác thể hiện ở công việc “Tổ chức các bộ phận phụ trách công tác trang thiết bị dạy học và phân công trách nhiệm cho các bộ phận, cá nhân phụ trách triển khai công việc”, với 2,12 điểm. Căn cứ vào yêu cầu sử dụng trang thiết bị dạy học cũng như việc phối hợp bảo quản và sử dụng cần có sự liên đới giữa giáo viên và cán bộ thiết bị dạy học nên kết quả đánh giá này phù hợp với nhu cầu sử dụng thiết bị dạy học của giáo viên. Ngược lại với kết quả đánh giá trội hơn ở các công việc thì ba nhóm khách thể đánh giá khá thống nhất cho rằng “Cử cán bộ tham gia dự các khóa bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ về công tác trang thiết bị dạy học” bộc lộ hạn chế rõ nhất.

Tóm lại, thực trạng tổ chức thực hiện kế hoạch chưa cao. Công việc xây dựng và thực hiện các quy định về việc khai thác, sử dụng, bảo quản phương tiện, trang thiết bị dạy học được đánh giá ở mức khá và việc cử cán bộ tham gia dự các khóa bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ về công tác trang thiết bị dạy học còn nhiều hạn chế. Theo khách thể, cán bộ quản lý đánh giá trội nhất, sau đó là giáo viên và kết quả thấp nhất thể hiện ở nhóm cán bộ quản lý thiết bị trường học.

2.3.3 Chỉ đạo xây dựng, khai thác, sử dụng trang thiết bị dạy học

Bảng 2.7. Chỉ đạo xây dựng, khai thác, sử dụng trang thiết bị dạy học

  • Kết quả chung:

Nhìn chung sự chỉ đạo của Hiệu trưởng trong chỉ đạo quản lý khai thác, sử dụng trang thiết bị dạy học đạt kết quả ở mức khá, với ĐTB = 2,19. Điều này chứng tỏ sự quan tâm không chỉ của Hiệu trưởng mà còn thể hiện tinh thần, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ phụ trách trang thiết bị dạy học trong toàn bộ các trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Ninh Giang.

Kết quả chỉ đạo ở từng nội dung mặc dù có sự chênh lệch nhưng không quá lớn, cụ thể “Chỉ đạo việc lập kế hoạch, xây dựng, khai thác, sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học” có kết quả trội hơn, với ĐTB = 2,29; “Chỉ đạo việc đổi mới phương pháp khai thác, sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học”, với ĐTB = 2,26. Thực tế đây là những nội dung chỉ đạo có ảnh hưởng trực tiếp đến toàn bộ các hoạt động khai thác, sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học và được các khách thể ý thức khá rõ, do vậy các đánh giá ở mức khá. Luận văn: Thực trạng QL phương tiện thiết bị dạy học trường THCS.

Các công việc “Chỉ đạo bồi dưỡng, đánh giá cán bộ phụ trách phương tiện, thiết bị dạy học” và “Chỉ đạo việc phối hợp đồng bộ các lực lượng trong việc quản lý, khai thác và sử dụng trang thiết bị dạy học” có kết quả thấp hơn, lần lượt là 2,10 điểm và 2,09 điểm song đồng thời nói lên sự quan tâm, tinh thần và trách nhiệm của Hiệu trường, của Ban Giám hiệu trong việc nâng cao hiệu quả chỉ đạo khai thác, sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học tương đối sát sao, từng bước đáp ứng yêu cầu dạy và học theo chương trình giáo dục phổ thông mới, góp phần nâng cao năng lực học tập của học sinh, nâng cao năng lực thực hành, năng lực vạn dụng kiến thức đã học vào thực tiễn.

  • Kết quả theo loại khách thể:

Đánh giá giữa các nhóm khách thể: cán bộ quản lý (ĐTB = 2,21), của giáo viên (ĐTB = 2,19) và của cán bộ thiết bị trường học (ĐTB = 2,16), chứng tỏ có sự tương đồng khi có cùng ý kiến về kết quả chỉ đạo việc xây dựng, khai thác, sử dụng trang thiết bị dạy học ở các trường trung học cơ sở huyện Ninh Giang, điều này còn chỉ ra sự thuận lợi cho việc phối hợp giữa các khách thể trong việc nâng cao hiệu quả khai thác và sử dụng các trang thiết bị dạy học vào các giờ dạy.

Cán bộ quản lý và cán bộ thiết bị trường học đồng thời đánh giá “Chỉ đạo việc lập kế hoạch, xây dựng, khai thác, sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học” với kết quả cao nhất, trong khi đó giáo viên đánh giá công việc “Chỉ đạo việc đổi mới phương pháp khai thác, sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học” trội nhất trong số các công việc, song sự chênh lệch trên không quá cách biệt. Ngược lại, công việc “Chỉ đạo việc phối hợp đồng bộ các lực lượng trong việc quản lý, khai thác và sử dụng trang thiết bị dạy học” các ý kiến đánh giá ở thấp hơn trong số các công việc được đưa ra, nhưng không ở mức thấp.

Đánh giá về thực trạng trên, cô giáo Trịnh Thị Nghĩa, giáo viên trường Trung học cơ sở Hồng Dụ cho rằng: “Cá nhân tôi cho rằng sự chỉ đạo của Hiệu trưởng cũng như tập thể Ban Giám hiệu tương đối sát sao với các hoạt động quản lý khai thác và sử dụng cơ sở vật chất, nhất là các trang thiết bị phục vụ trực tiếp cho việc dạy và việc học của giáo viên. Do vậy, chất lượng học tập của học sinh năm sau luôn cao hơn năm trước, nhân cách học sinh được phát triển toàn diện”.

Từ phân tích trên cho thấy, chỉ đạo của Hiệu trưởng trong quản lý khai thác, sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học ở các trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Ninh Giang đã đạt được nhiều kết quả tích cực, nổi trội là việc chỉ đạo việc lập kế hoạch, xây dựng, khai thác, sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học. Đánh giá giữa các nhóm khách thể có sự tương đồng khá cao trên mẫu chung cũng như trên từng công việc. Luận văn: Thực trạng QL phương tiện thiết bị dạy học trường THCS.

2.3.4 Kiểm tra, đánh giá công tác xây dựng, khai thác, sử dụng trang thiết bị dạy học

Bảng 2.8. Kiểm tra, đánh giá việc xây dựng, khai thác, sử dụng trang thiết bị dạy học

  • Kết quả chung:

Có thể thấy việc kiểm tra, đánh giá công tác quản lý thiết bị dạy học tương đối thấp trên mẫu chung (ĐTB = 1,92, ĐLC = 0,51) cũng như trên từng công việc quản lý cụ thể.

Công viêc quản lý được đánh giá trội nhất là “Thường xuyên kiểm tra, đánh giá số lượng, chất lượng các trang thiết bị dạy học” với ĐTB = 2,00. Đây là công việc hệ trọng liên quan trực tiếp đến việc khai thác và sử dụng trang thiết bị dạy học hiệu quả nhất, giúp cho việc dạy học đảm bảo tiếp cận năng lực học tập của học sinh, song thực thế việc này có được thực hiện nhưng chưa thường xuyên. Minh họa cho thực trạng này, đồng chí Trần Thị Thúy thành viên Ban Giám hiệu được phân công phụ trách trực tiếp thư viện, thiết bị trường học trường Trung học cơ sở Hồng Phúc cho biết “Chúng tôi luôn ý thức được việc này nhưng trong những năm qua nhà trường cần dành kinh phí ưu tiên cho nhiều hạng mục để xây dựng trường chuẩn quốc gia, tất nhiên chiến lược quan trọng nhất là nâng cao chất lượng học tập của học sinh. Bên cạnh đó số lượng các đồ dùng dạy học chưa nhiều nên các hoạt động kiểm tra, đánh giá các trang thiết bị dạy học chưa thực sự được ưu tiên đúng mức”.

Công việc “Rút kinh nghiệm, hoàn thiện các biện pháp quản lý việc xây dựng, khai thác, sử dụng phương tiện, trang thiết bị dạy học” được đánh giá thấp nhất (ĐTB = 1,83, ĐLC = 0,47). Chính vì nhà trường một mặt đang tích cực chuẩn bị cho việc xây dựng trường chuẩn, đồng thời chỉ đạo thực hiện hoạt động dạy học theo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể mới được Bộ Giáo dục thông quan ngày 27 tháng 7 năm 2025 nên việc rút kinh nghiệm về việc quản lý, khai thác thiết bị dạy học có thể ít được coi trọng.Do vậy các công việc như kiểm tra việc giáo viên, học sinh tham gia xây dựng, sưu tầm, sử dụng trang thiết bị, đồ dùng dạy học và kiểm tra, thanh lý, bổ sung, phương tiện, thiết bị dạy học chưa được quan tâm đúng mức, có ảnh hưởng đến kết quả dạy học cũng như thực hiện các nội dung dạy học hiện hành.

  • Kết quả theo loại khách thể: Luận văn: Thực trạng QL phương tiện thiết bị dạy học trường THCS.

Dựa trên các kết quả thu được từ khảo sát chỉ ra nhóm khách thể cán bộ quản lý thiết bị dạy học tự đánh giá về công việc phụ trách cao nhất (ĐTB = 2,03, ĐLC = 0,48), trội hơn rõ rệt so với đánh giá của cán bộ quản lý (ĐTB = 1,88) và đánh giá của giáo viên (ĐTB = 1,85). Tuy nhiên, xem xét kết quả đánh giá trên từng công việc cụ thể của mỗi nhóm khách thể có kết quả khác nhau.

Nhóm khách thể cán bộ quản lý cho rằng công việc “Thường xuyên kiểm tra, đánh giá số lượng, chất lượng các trang thiết bị dạy học” đạt kết quả tốt nhất, với ĐTB = 1,98, trong khi đó giáo viên cho rằng công việc “Kiểm tra việc giáo viên, học sinh tham gia xây dựng, sưu tầm, sử dụng trang thiết bị, đồ dùng dạy học” trội hơn (ĐTB = 2,01) và đối với cán bộ quản lý thiết bị trường học khẳng định “Kiểm tra, thanh lý, bổ sung, phương tiện, trang thiết bị dạy học” đạt hiệu quả tốt nhất (2,11). Sự không thống nhất trong kết quả đánh giá trên có thể được giải quyết qua việc nâng cao chất lượng các công việc quản lý việc khai thác, sử dụng các trang thiết bị dạy học của Ban Giám hiệu, nhằm tạo sự tương đồng trong nhận thức và hành động, thực hiện tốt việc dạy học theo tiếp cận năng lực học sinh, đáp ứng Chương trình giáo dục phổ thông mới. Đồng thời có thể thấy cách tiếp cận trong đánh giá ở đây thường thiên về các công việc mà mỗi nhóm phụ trách, nên cách nhìn nhận về hiệu quả quản lý có phần khác nhau nên việc thực hiện sẽ thiên theo hướng tiếp cận riêng mà chưa quan tâm sâu vào tiếp cận chung là quản lý khai thác phương tiện dạy học hiệu quả nhất.

Như vậy, đánh giá chung ở mức trung bình, hiệu quả thực hiện công việc kiểm tra, đánh giá công tác quản lý thiết bị dạy học chưa đáp ứng được các yêu cầu của thực tiễn. Công việc kiểm tra, đánh giá số lượng, chất lượng các trang thiết bị dạy học được chú trọng nhất nhưng kết quả không cao và đánh giá giữa các nhóm khách thể về những công việc được quản lý tốt nhất chưa có sự thống nhất cao.

2.3.5. Đánh giá chung thực trạng các biện pháp quản lý, khai thác, sử dụng phương tiện, trang thiết bị dạy học Luận văn: Thực trạng QL phương tiện thiết bị dạy học trường THCS.

Biểu đồ 2.2. Đánh giá chung thực trạng các biện pháp quản lý, khai thác, sử dụng phương tiện, trang thiết bị dạy học

  • Về ưu điểm

Kết quả thực hiện quản lý lập kế hoạch, xây dựng, khai thác, sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học đạt được một số kết quả tích cực, đáng kể là việc thực hiện lập kế hoạch tổng thể và kế hoạch từng năm học về việc xây dựng, khai thác, sử dụng phương tiện, trang thiết bị dạy học cũng như kế hoạch mua sắm các phương tiện, trang thiết bị dạy học được ưu tiên và quan tâm đồng thời với chiến lược xây dựng trường chuẩn quốc gia.

Quản lý tổ chức thực hiện kế hoạch tuy chưa cao nhưng có kế hoạch ưu tiên xây dựng và thực hiện các quy định về việc khai thác, sử dụng, bảo quản phương tiện, trang thiết bị dạy học, nhằm khai thác tốt các phương tiện dạy học đã có. Cùng với đó là sự chỉ đạo khá sát sao của hiệu trưởng về quản lý khai thác, sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học.

Việc kiểm tra, đánh giá công tác thiết bị dạy học được thực hiện theo kế hoạch của nhà trường hàng năm, trong đó trọng tâm là kiểm tra, đánh giá số lượng, chất lượng các trang thiết bị dạy học, mặc dù kết quả không cao song thể hiện sự nỗ lực cũng như sự chủ động của Ban Giám hiệu, của giáo viên và của cán bộ chuyên trách thiết bị trường học.

  • Về hạn chế

Kết quả thực hiện quản lý khai thác, sử dụng trang thiết bị dạy học ở các trường trung học cơ sở huyện Ninh Giang còn những hạn chế sau:

Việc lập kế hoạch, xây dựng, khai thác, sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học ở mức trung bình, trong đó hạn chế rõ nhất ở công việc xây dựng kế hoạch bảo quản, kiểm kê, thanh lý, bổ sung phương tiện, trang thiết bị dạy học và công việc xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn cho cán bộ thiết bị trường học chưa được quan tâm thỏa đáng. Việc bồi dưỡng chủ yếu là tự bồi dưỡng nên tính chủ động của cán bộ chuyên trách thiết bị trường học bại hạn chế.

Quản lý tổ chức thực hiện kế hoạch hiệu quả chưa cao, trong đó khâu xây dựng và thực hiện các quy định về việc khai thác, sử dụng, bảo quản phương tiện, trang thiết bị dạy học cần được đẩy mạnh hơn nữa. Ngoài ra, công tác kiểm tra, đánh giá công tác thiết bị dạy học chưa thường xuyên, mặc có có đánh giá số lượng, chất lượng các trang thiết bị dạy học song chưa chú trọng vào khâu hiệu quả sử dụng. Luận văn: Thực trạng QL phương tiện thiết bị dạy học trường THCS.

  • Nguyên nhân của những hạn chế

Các khó khăn lớn hơn rất nhiều so với các thuận lợi, đặc biệt thiếu nguồn kinh phí và một số trang thiết bị, phương tiện quá cũ ảnh hưởng lớn đến chất lượng dạy và học. Việc khai thác trang thiết bị ở các vai trò chưa đồng bộ, tính hiệu quả trong thực hiện tiêu chí phấn đấu nhà trường đạt chuẩn quốc gia còn thấp.

Việc xây dựng, khai thác phương tiện đồ dùng dạy học khá hạn chế, rõ nhất là khâu đào tạo, bồi dưỡng, quản lý đội ngũ cán bộ làm công tác thiết bị, thư viện trường học cũng như yêu cầu kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm về công tác quản lý trang thiết bị trường học còn chậm so với yêu cầu thực tiễn.

Biện pháp quản lý, khai thác, sử dụng phương tiện, trang thiết bị dạy học nhìn chung đã đạt được một số kết quả tích cực, trong đó việc lập kế hoạch, xây dựng, khai thác, sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học đạt mức khá song về kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn cho cán bộ thiết bị trường học chủ yếu phụ thuộc và yêu cầu của cấp trên, dẫn đến tổ chức thực hiện kế hoạch và kiểm tra, đánh giá công tác thiết bị dạy học còn nhiều bất cập.

2.4. Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố khách quan, chủ quan tới việc xây dựng, khai thác, sử dụng phương tiện, trang thiết bị dạy học ở trường trung học cơ sở

  • Bảng 2.9. Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố khách quan, chủ quan tới việc xây dựng, khai thác, sử dụng phương tiện, trang thiết bị dạy học ở trường trung học cơ sở

Trên cơ sở các kết quả thu được từ khảo sát nhận thức của các khách thể về mức độ ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan và khách quan đến việc xây dựng, khai thác, sử dụng phương tiện, trang thiết bị dạy học ở trường trung học cơ sở địa bàn huyện Ninh Giang cho thấy yếu tố chủ quan và khách quan đồng thời có mức độ ảnh hưởng rất rõ rệt, trong đó các yếu tố khách quan có kết quả ĐTB = 2,78 rõ nét hơn so với mức độ ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan ĐTB = 2,73. Với kết quả này chứng tỏ được sự quan tâm đến mức độ và các yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lý xây dựng, khai thác, sử dụng phương tiện, trang thiết bị dạy nhằm nâng cao hiệu quả dạy học ở các trường trung học cơ sở.

Về các yếu tố chủ quan: Các yếu tố được đánh giá cao nhưng nổi bật là “Sự quan tâm, tinh thần trách nhiệm, năng lực quản lý của Ban Giám hiệu nhà trường” với (ĐTB = 2,79, ĐLC = 0,18). Việc khai thác các trang thiết bị, phương tiện dạy học tại các trường trước hết phụ thuộc trực tiếp sự chỉ đạo của cán bộ quản lý, với các trường cán bộ quản lý năng động, mạnh dạn trong việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tiếp cận năng lực của học sinh sẽ chú ý đến việc khai thác, sử dụng phương tiện dạy học để nâng cao chất lượng dạy học. Luận văn: Thực trạng QL phương tiện thiết bị dạy học trường THCS.

Đồng thời với những ảnh hưởng từ phía cán bộ quản lý thì ảnh hưởng của các yếu tố “Cán bộ phụ trách trang thiết bị có kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, tay nghề, nhiệt tình và có trách nhiệm” (ĐTB = 2,75, ĐLC = 0,22) và “Giáo viên quan tâm và thể hiện hành động tích cực xây dựng, tìm kiếm, sáng chế đồ dùng dạy học, sử dụng có kết quả trang thiết bị dạy học” (ĐTB = 2,72, ĐLC = 0,21). Có thể khẳng định đồng thời thời với sự chủ động của Ban Giám hiệu nhà trường thì vai trò của cán bộ thư viện trường học với kinh nghiệm, trình độ, năng lực quản lý cơ sở vật chất cho hoạt động dạy học cũng như ảnh hưởng từ phía giáo viên góp phần nâng cao hiệu quả quản lý trang thiết bị dạy học.

Ảnh hưởng từ học sinh trong sử dụng cũng như bảo quản trang thiết bị khs rõ ràng, có thể thấy điều này từ yếu tố “Học sinh có ý thức trách nhiệm trong việc xây dựng, sử dụng phương tiện, bảo quản trang thiết bị học tập” (ĐTB = 2,76, ĐLC = 0,30). Việc học sinh sử dụng trang thiết bị dạy học vào hoạt động học trong và ngoài giờ học có hiệu quả nhiều hay ít đều có ảnh hưởng đến vai trò quản lý của nhà trường cũng như của đội ngũ cán bộ thiết bị trường học.

Về các yếu tố khách quan có sự ảnh hưởng nội trội (ĐTB = 2,78, ĐLC = 0,19) so với mức độ ảnh hưởng từ các yếu tố chủ quan. Trong quá trình quản lý việc khai thác và sử dụng trang thiết bị dạy học cần chú ý đồng thời các yếu tố chủ quan và yếu tố khách quan song nhấn mạnh và tập trung và các yếu tố khách

Trong số các yếu tố có ảnh hưởng mạnh đến quản lý việc khai thác và sử dụng trang thiết bị dạy học thì yếu tố “Sự quan tâm của các cấp quản lý lãnh đạo ở địa phương, ngành giáo dục tạo mọi điều kiện kinh phí đầu tư, đào tạo bồi dưỡng cán bộ thiết bị dạy học cho nhà trường” và “Cơ chế, chính sách của nhà nước, của các Bộ, ngành có liên quan, tạo điều kiện phát huy và tự chủ trong công tác thiết bị trường học” với điểm trung bình > 2,80. Có nghĩa các cấp quản lý cũng như cơ chế, chính sách quản lý khai thác và sử dụng thiết bị dạy học giữ vai trò quyết định, tạo nên sự ảnh hưởng toàn diện. Cho nên hiệu quả quản lý việc khai thác và sử dụng trang thiết bị dạy học vào hoạt động dạy học tại các trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Ninh Giảng phụ thuộc phần lớn vào sự quản lý của các cấp và cơ chế, chính sách từ việc xây dựng trường chuẩn đến xây dựng hệ thống trang thiết bị phục vụ dạy học.

Bên cạnh đó, mức độ ảnh hưởng của yếu tố “Sự đóng góp của xã hội, cơ sở sản xuất, doanh nghiệp, cha mẹ học sinh về phương tiện, điều kiện, trang thiết bị dạy học” ít hơn so với hai yếu tố trên song ở mức rất cao (ĐTB = 2,69). Thực tế công tác xã hội hóa cơ sở vật chất trong các trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện nói chung và công tác xã hội hóa trang thiết bị dạy học còn nhiều hạn chế, chưa huy động được sự tham gia của người dân, nếu hoạt động này được thực hiện sẽ góp phần quan trọng thúc đẩy các trường đẩy nhanh tiến độ xây dựng trường chuẩn và xây dựng hệ thống trang thiết bị dạy học có hiệu quả.

Như vậy, các yếu tố chủ quan và khách quan có ảnh hưởng rất cao đến quản lý khai thác và sử dụng trang thiết bị dạy học. Về phía chủ quan, yếu tố sự quan tâm, tinh thần trách nhiệm, năng lực quản lý của Ban Giám hiệu nhà trường và về phía khách quan yếu tố sự quan tâm của các cấp quản lý lãnh đạo ở địa phương, ngành giáo dục tạo mọi điều kiện kinh phí đầu tư, đào tạo bồi dưỡng cán bộ thiết bị dạy học cho nhà trường có mức ảnh hưởng nhiều nhất.

Tiểu kết chương 2 Luận văn: Thực trạng QL phương tiện thiết bị dạy học trường THCS.

Nhìn chung các thuận lợi trong công tác xây dựng, khai thác, sử dụng các phương tiện, thiết bị dạy học ở trường trung học cơ sở tương đối thấp, trong đó nguồn kinh phí đầu tư của Nhà nước, từ công tác xã hội hóa chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển hệ thống trang thiết bị dạy và học và rào cản lớn nhất là chưa có sự đầu tư thỏa đáng cho về cơ sở vật chất cho công tác thiết bị dạy học.

Đánh giá vai trò, tác dụng của việc khai thác, sử dụng các phương tiện, trang thiết bị dạy học tuy đạt được yêu cầu giúp cho việc học đi đôi với hành, khắc sâu và cụ thể hóa kiến thức lý thuyết nhưng đánh giá về tầm quan trọng trong thực hiện tiêu chí phấn đấu trường chuẩn quốc gia chưa tương xứng.

Thực hiện công việc xây dựng, khai thác phương tiện đồ dùng dạy học thiếu tính đồng bộ, trong đó yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng, quản lý đội ngũ cán bộ làm công tác thiết bị, thư viện trường học chưa được quan tâm thường xuyên.

Thực trạng quản lý, khai thác, sử dụng phương tiện, trang thiết bị dạy học chưa đồng bộ. Quản lý việc lập kế hoạch, xây dựng, khai thác, sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học khá hiệu quả về lập kế hoạch tổng thể của nhà trường, kế hoạch từng năm học nhưng kế hoạch bảo quản, kiểm kê, thanh lý, bổ sung phương tiện, trang thiết bị dạy học và kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn cho cán bộ thiết bị trường học thiếu tính đồng bộ nên kết quả không cao.

Tổ chức thực hiện kế hoạch với yêu cầu xây dựng và thực hiện các quy định về việc khai thác, sử dụng, bảo quản phương tiện, trang thiết bị dạy học khá tốt nhưng công tác đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ về công tác trang thiết bị dạy học và tổ chức kiểm tra, đánh giá công tác quản lý, xây dựng, khai thác, sử dụng, bảo quản trang thiết bị đôi khi còn bị buông lỏng. Việc quản lý của Hiệu trưởng đối với khai thác, sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học được tiến hành thường xuyên, khá chặt chẽ.

Quản lý kiểm tra, đánh giá công tác thiết bị dạy học còn yếu ở nhiều khâu, trọng tâm là việc rút kinh nghiệm, hoàn thiện các biện pháp quản lý việc xây dựng, khai thác, sử dụng phương tiện, trang thiết bị dạy học còn chậm. Ngoài ra, trong nhận thức về sử dụng trang thiết bị cũng như khâu quản lý sử dụng trang thiết bị dạy học chưa có sự thống nhất giữa cán bộ quản lý với nhóm sử dụng và giáo viên.

Các yếu tố chủ quan và khách quan ảnh hưởng tới việc xây dựng, khai thác, sử dụng phương tiện, trang thiết bị dạy học ở trường trung học cơ sở rất rõ. Cụ thể, yếu tố chủ quan ảnh hưởng rõ nhất là sự quan tâm, tinh thần trách nhiệm, năng lực quản lý của Ban Giám hiệu nhà trường và về phía khách quan là yếu tố sự quan tâm của các cấp quản lý lãnh đạo ở địa phương, ngành giáo dục tạo mọi điều kiện kinh phí đầu tư, đào tạo bồi dưỡng cán bộ thiết bị dạy học cho nhà trường. Các yếu tố khách quan ảnh hưởng nhiều hơn so với ảnh hưởng từ các yếu tố chủ quan. Luận văn: Thực trạng QL phương tiện thiết bị dạy học trường THCS.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp QL phương tiện thiết bị dạy học trường THCS

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537