Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng QL nhà trường và gia đình trong giáo dục hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh tại các trường tiểu học thị xã Bến Cát, Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Khái quát về điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội, văn hoá giáo dục của thị xã Bến Cát – Tỉnh Bình Dương
Bến Cát là một thị xã thuộc tỉnh Bình Dương, nằm trong khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam, trung tâm thị xã cách Thành phố Thủ Dầu Một 20 km, cách Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 50 km. Thị xã (TX) Bến Cát có đường Quốc lộ 13 cách Thành phố Thủ Dầu Một khoảng 20 km về hướng bắc, tỉnh lộ 744 theo hướng Tây Bắc đi huyện Dầu Tiếng và tỉnh Tây Ninh. Thị xã Bến Cát hiện đang là đô thị loại III. Thị xã nằm ở trung tâm tỉnh Bình Dương, có sông Sài Gòn và sông Thị Tính chảy qua.
Trước năm 2020, thị xã Bến Cát ngày nay là một phần huyện Bến Cát cũ. Ngày 29 tháng 12 năm 2019, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 136/NQ-CP, tách huyện Bến Cát thành thị xã Bến Cát và huyện Bàu Bàng. Thị xã Bến Cát được thành lập từ thị trấn Mỹ Phước và 7 xã: Thới Hòa, Tân Định, Hòa Lợi, Chánh Phú Hòa, An Điền, Phú An, An Tây của huyện Bến Cát cũ. Đồng thời chuyển thị trấn Mỹ Phước và 4 xã Thới Hòa, Tân Định, Hòa Lợi, Chánh Phú Hòa thành 5 phường có tên tương ứng.
Thị xã Bến Cát có 23.442,24 ha diện tích tự nhiên và 203.420 nhân khẩu với 8 đơn vị hành chính trực thuộc, gồm 5 phường và 3 xã.Ngày 24 tháng 10 năm 2024, Bộ Xây dựng ban hành quyết định công nhận thị xã Bến Cát là đô thị loại III trực thuộc tỉnh Bình Dương. Ngày 29 tháng 1 năm 2025, thị xã Bến Cát chính thức được công nhận là đô thị loại III.
Thị xã được chia thành 8 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó bao gồm 5 phường: Chánh Phú Hòa, Hòa Lợi, Mỹ Phước, Tân Định, Thới Hòa và 3 xã: An Điền, An Tây, Phú An.
2.1.1. Tình hình kinh tế – xã hội thị xã Bến Cát – Tỉnh Bình Dương
Ngày 29 tháng 12 năm 2019, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 136/NQ-CP, tách huyện Bến Cát thành thị xã Bến Cát và huyện Bàu Bàng. Thị xã Bến Cát được thành lập từ thị trấn Mỹ Phước và 7 xã: Thới Hòa, Tân Định, Hòa Lợi, Chánh Phú Hòa, An Điền, Phú An, An Tây của huyện Bến Cát cũ. Đồng thời chuyển thị trấn Mỹ Phước và 4 xã Thới Hòa, Tân Định, Hòa Lợi, Chánh Phú Hòa thành 5 phường có tên tương ứng. Ngày 24 tháng 10 năm 2024, Bộ Xây dựng ban hành quyết định công nhận thị xã Bến Cát là đô thị loại III trực thuộc tỉnh Bình Dương. Ngày 29 tháng 1 năm 2025, thị xã Bến Cát chính thức được công nhận là đô thị loại III. Luận văn: Thực trạng QL nhà trường và gia đình trong giáo dục.
Thị xã Bến Cát thuộc tỉnh Bình Dương nằm trong khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam, cách thành phố Thủ Dầu Một 20km, cách TP Hồ Chí Minh khoảng 50km, có trục quốc lộ 13 đi qua. Phía bắc Thị xã Bến Cát giáp với huyện Bàu Bàng. Phía tây Thị xã Bến Cát là huyện Dầu Tiếng. Phía đông Thị xã Bến Cát là huyện Tân Uyên và huyện Phú Giáo. Phía nam Thị xã Bến Cát giáp thành phố Thủ Dầu Một và huyện Củ Chi (TP.HCM). Diện tích tự nhiên của Bến Cát là 23.442,24 ha và dân số năm 2024 là 269.998 người, trong đó dân nhập cư là 153.976 người (số liệu từ Phòng thống kê thị xã Bến Cát).
Năm 2024, tình hình kinh tế – xã hội của thị xã tiếp tục tăng trưởng và phát triển ổn định; tốc độ tăng trưởng kinh tế của thị xã đạt 23,5%, cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp – dịch vụ – nông nghiệp với tỷ trọng tương ứng: công nghiệp 78,83% – dịch vụ 20,72% – nông nghiệp 0,4%. Thu nhập bình quân đầu người đạt gần 115 triệu đồng/người/năm. Tổng giá trị sản xuất đạt trên 116.600 tỷ đồng, tăng 19,7 % so với năm 2023.
Sau những thành công mô hình kinh tế khu công nghiệp (KCN) ở phía Nam, từ năm 2001, tỉnh Bình Dương có chủ trương đưa công nghiệp về vùng nông thôn phía bắc, khởi đầu là hình thành Khu công nghiệp Mỹ Phước. Như vậy mặc dù phát triển công nghiệp sau, nhưng Bến Cát đã vượt lên và trở thành địa điểm rất hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài, và cũng trở thành địa phương có tốc độ phát triển công nghiệp mạnh mẽ. Tiếp tục đầu tư cơ sở hạ tầng, chỉnh trang đô thị, cải cách thủ tục hành chính tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh, cùng doanh nghiệp chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho người lao động là các giải pháp được Bến Cát thực hiện trong thời gian tới, thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội (KTXH) ở địa phương.
Trên cơ sở những kết quả đạt được trong những năm qua, Bến Cát quyết tâm hoàn thành và thực hiện thắng lợi mục tiêu nhiệm vụ đề ra trong năm 2025, tạo thuận lợi cho các năm tiếp theo, đóng góp vào sự phát triển toàn diện nền Kinh tế xã hội của tỉnh Bình Dương.
2.1.2. Khái quát giáo dục tiểu học tại thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương
- Một số đặc điểm giáo dục tiểu học
Thị xã Bến Cát là địa chỉ người lao động ở khắp nơi tìm về sinh cơ lập nghiệp. Từ đó nhu cầu học tập của con em người lao động cũng tăng lên. Hàng năm, thị xã Bến Cát là một trong số những địa phương có số HS tăng cao. Đáp ứng nhu cầu học tập của các em, những năm qua ngành GD-ĐT tích cực tham mưu Uỷ ban nhân dân (UBND) thị xã cho phép cải tạo, sửa chữa nâng cấp mở rộng cơ sở vật chất trường lớp hiện có. Ngoài ra, ngành còn xây dựng thêm nhiều công trình trường mới ở những địa phương có số HS tăng cao. Quan tâm đến sự nghiệp trồng người, lãnh đạo địa phương, các ngành có liên quan đã tập trung đầu tư xây dựng trường lớp ngày càng khang trang, hiện đại, đáp ứng nhu cầu học tập của HS.
Hiện nay, thị xã Bến Cát có 15 trường tiểu học được đầu tư xây dựng kiên cố. Thực hiện sự chỉ đạo của Uỷ ban nhân dân thị xã, Phòng Giáo dục – Đào tạo (GD-ĐT) đã phối hợp chặt chẽ với các ban, ngành và Uỷ ban nhân dân thị xã trong việc khảo sát, góp ý thiết kế và thống nhất danh mục đầu tư theo từng kỳ kế hoạch theo thứ tự ưu tiên đầu tư xây dựng trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2022-2026. Đến nay, các trường đã được tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị bảo đảm cho việc tổ chức hoạt động dạy học trong trường theo hướng thực học, lý thuyết gắn với thực hành và thực tiễn, phục vụ cho giáo dục hướng nghiệp và phân luồng đạt hiệu quả. Tuy nhiên, do dân số tăng cơ học nhanh, nên áp lực về cơ sở vật chất ở thị xã Bến Cát luôn ở mức cao, nhiều trường có sĩ số HS trên lớp cao hơn quy định (từ 45 học sinh đến 55 HS/ lớp), có trường giảm số lớp học 2 buổi/ngày để đáp ứng đủ chỗ học cho HS. Luận văn: Thực trạng QL nhà trường và gia đình trong giáo dục.
Dù gặp những khó khăn nhất định, nhưng với sự tâm huyết, luôn đổi mới và sáng tạo trong giảng dạy của người thầy, chất lượng giáo dục tại các trường tiểu học trong thị xã Bến Cát đã dần được nâng lên. Có được thành quả này, các trường tiểu học đã xây dựng kế hoạch giáo dục theo định hướng phát triển năng lực HS và đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng phát huy tính tích cực, sáng tạo của HS. Các trường cũng tập trung phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục về năng lực chuyên môn, kỹ năng xây dựng và thực hiện kế hoạch giáo dục…
- Quy mô, cơ cấu
Tính đến năm 2025 – 2026, mạng lưới trường lớp, các loại hình giáo dục đã được củng cố, phát triển, điều chỉnh gắn với địa bàn dân cư và bố trí tương đối hợp lý ở các địa phương, vừa tạo điều kiện thuận lợi cho người học, vừa thực hiện tốt mục tiêu giáo dục. Phải nói rằng quy mô giáo dục của thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương trong những năm gần đây đã không ngừng tăng lên. Ngành GD&ĐT đã góp phần phát triển đúng hướng theo mục tiêu: “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” cho thị xã.
- Bảng 2.1. Quy mô trường lớp, cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh năm học 2025 – 2026
Bảng 2.1 cho thấy, năm 2025 – 2026 mạng lưới trường lớp đã phát triển rộng khắp với 15 trường Tiểu học. Đặc biệt khối TH hiện nay tại thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương có 15 trường với 538 lớp, dạy học cho 25347 HS với 620 giáo viên và 37 Cán bộ quản lý.
- Chất lượng giáo dục
Nhìn chung số lớp và số HS giữa các trường không đồng đều và đang có xu hướng tăng do dân nhập cư trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương tăng qua các năm.
- Bảng 2.2. Chất lượng giáo dục TH qua các năm Luận văn: Thực trạng QL nhà trường và gia đình trong giáo dục.
Bảng 2.2 cho thấy, hoàn thành chương trình tiểu học chiếm tỉ lệ 100%. Về chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý: trong nhiều năm qua, ngành Giáo Dục thị xã Bến Cát đã xác định nhiệm vụ quan trọng là xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý các trường TH đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, nâng cao về chất lượng. Việc sắp xếp, bố trí đội ngũ cán bộ quản lý được thực hiện kịp thời, phù hợp với năng lực công tác và phẩm chất đạo đức. Tính đến năm học 2025 – 2026 tình hình đội ngũ cán bộ quản lý (Hiệu Trưởng, Phó hiệu Trưởng) các trường TH của thị xã Bến Cát có 38 cán bộ quản lý trong đó có 19 nữ và 18 nam. Tất cả Cán bộ quản lý đều đạt trình độ chuẩn và trên chuẩn, 37 cán bộ quản lý tốt nghiệp Đại Học Sư Phạm (chiếm 100 %), có 4 Cán bộ quản lý đã tốt nghiệp Cao học quản lý giáo dục (chiếm 1 %).
Về chất lượng đội ngũ giáo viên: Đội ngũ giáo viên của TX Bến Cát trong nhiều năm qua đủ về số lượng, mạnh về chất lượng và đồng bộ về cơ cấu là cơ sở để nhà trường thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, là một trong những nội dung quan trọng trong hoạt động quản lý của nhà quản lý. Hầu hết các giáo viên TH ở thị xã Bến Cát đều được đào tạo đạt chuẩn và trên chuẩn. Nhìn chung, giáo dục và đào tạo của thị xã Bến Cát có nhiều thuận lợi như sự đầu tư xây dựng mạng lưới trường lớp, chất lượng đội ngũ Cán bộ quản lý và GV đều đạt chuẩn và có tay nghề.
- Mặt mạnh
Thị xã Bến Cát có tốc độ phát triển đô thị hóa nhanh, có tiềm lực về quỹ đất và sự đầu tư, là địa phương có phong trào giáo dục mạnh, nhân dân có truyền thống hiếu học. Đảng bộ và chính quyền các cấp rất quan tâm đến sự nghiệp giáo dục. Bên cạnh đó đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đa số yêu nghề yêu trẻ, luôn nhiệt tình, tự trọng và tinh thần trách nhiệm cao. Cơ sở vật chất tại các trường, lớp và trang thiết bị dạy học tương đối đầy đủ, ngày càng đáp ứng yêu cầu nâng cao chất lượng dạy học. Song song đó công tác xã hội hoá giáo dục tiếp tục được đẩy mạnh, đã tạo ra các nguồn lực đầu tư cho giáo dục.
- Hạn chế
Về phía giáo viên:
Số giáo viên biến động hàng năm. Việc sắp xếp và phân công thường lệ thuộc vào phân bổ người của PGD-ĐT. GV tìm hiểu HS và đưa ra các biện pháp giáo dục có khi chưa sát thực tế vì không có nhiều thời gian. Đời sống của cán bộ, GV chưa được cải thiện nhiều, một số GV chưa an tâm công tác và chưa dành hết tâm lực cho công tác giáo dục.
- Về phía học sinh:
Vẫn còn nhiều HS con em gia đình lao động nghèo, buôn bán cá thể một số em hoàn cảnh phức tạp cha mẹ ly hôn hoặc làm ăn xa, gửi con cho với ông, bà, chú, bác nuôi dưỡng ít được quan tâm chăm sóc, giáo dục tỉ mỉ. Một số HS cha mẹ chưa quan tâm sâu sát, thường lợi dụng các buổi không đến trường, tham gia vào các trò chơi trên mạng internet nên việc tiếp thu bài còn chậm. Ngoài ra một số HS ý thức học tập chưa cao, đến lớp không làm bài, không thuộc bài … rất khó khăn trong hoạt động dạy học.
- Về phía Cha mẹ học sinh
Đa số CMHS thuộc thành phần buôn bán, lao động cá thể, công nhân viên chức, ít có thời gian kiểm tra việc học tập của HS. Một số gia đình chưa dành nhiều thời gian nhắc nhở, đôn đốc và kiểm tra việc học tập của con em mình, còn giao khoán cho nhà trường, do vậy việc phối hợp ba môi trường thiếu chặt chẽ, gây hạn chế cho công tác giáo dục và ảnh hưởng không tốt đến chất lượng học tập của học sinh.
2.2. Tổ chức nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh Luận văn: Thực trạng QL nhà trường và gia đình trong giáo dục.
2.2.1. Đối tượng khảo sát
Chúng tôi sử dụng 2 mẫu khảo sát:
- Mẫu 1: Dành cho Cán bộ quản lý và GV các trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương (Phụ lục 1)
- Mẫu 2: Dành cho phụ huynh học sinh các trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương (Phụ lục 2)
Chúng tôi đã tiến hành khảo sát tại 8 trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát – Tỉnh Bình Dương bao gồm các đối tượng là Cán bộ quản lý (Hiệu Trưởng, Phó hiệu Trưởng, tổ trưởng chuyên môn), giáo viên phụ trách lớp và phụ huynh học sinh. Cụ thể trình bày ở bảng 2.3 như sau:
- Bảng 2.3. Thống kê số liệu các trường khảo sát
Đối với phiếu khảo sát Cán bộ quản lý và GV: Chúng tôi thu được 200 phiếu có thông tin, đặc điểm đối tượng khảo sát thể hiện ở bảng 2.4 như sau:
- Bảng 2.4 Đặc điểm Cán bộ quản lý và GV được khảo sát
Ngoài ra, các giáo viên và cán bộ quản lý làm việc trong ngành giáo dục đều có bằng đại học, với 92.5% là giáo viên, cán bộ quản lý đã có bằng cử nhân, sau đại học chiếm 1.5%, khác chiếm 6.0% và được thể hiện rõ thông qua biểu đồ 2.1, cụ thể như:
- Biểu đồ 2.1. Kết quả khảo sát về trình độ của GV và Cán bộ quản lý tại các trường Tiểu học trên địa bàn TX Bến Cát tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL nhà trường và gia đình trong giáo dục.
Đối với phiếu khảo sát phụ huynh học sinh: Chúng tôi thu được 200 phiếu có thông tin, có đặc điểm ở bảng 2.3 như sau:
- Bảng 2.5. Đặc điểm phụ huynh học sinh được khảo sát
Nhìn vào bảng 2.4 và 2.5 ta thấy, đối tượng khảo sát có đặc điểm đa dạng, phong phú cho phép đề tài thu thập thông tin toàn diện về thực trạng hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và thực trạng quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình cho học sinh tại các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.
2.2.2. Nội dung khảo sát thực trạng
Khảo sát thực trạng hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh tại các trường tiểu học công lập trên địa bàn thị xã Bến Cát, bao gồm: thực trạng về tầm quan trọng, mục tiêu, nội dung và hình thức của hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình
Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình theo 4 chức năng của quản lý. Bên cạnh các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình
2.2.3. Phương pháp khảo sát thực trạng
Ngoài phương pháp điều tra khảo sát bằng bộ phiếu hỏi là cơ sở để định lượng, tác giả luận văn còn dùng phương pháp phỏng vấn nhằm đánh giá định tính thực trạng.
2.2.4. Qui ước thang đo
Thang đo sử dụng chủ yếu trong các phiếu khảo sát là thang đo định danh để xác định tên gọi và một số đặc điểm của đối tượng khảo sát; thang đo thứ bậc và thang đo khoảng cách để tính các tham số trong thống kê mô tả như trị trung bình, tỷ lệ phần trăm.
Trong thang đo, điểm thấp nhất là 1 và điểm cao nhất là 4 tương ứng với các tiêu chí trong thực trạng hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và thực trạng quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình cho học sinh trường Tiểu học trong bảng 2.6 như sau:
- Bảng 2.6. Quy ước xử lý thông tin
2.3. Thực trạng hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh tại các trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng QL nhà trường và gia đình trong giáo dục.
2.3.1. Thực trạng nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh
Nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình là quan trọng, đặc biệt đối với người làm công tác quản lý. Nếu cán bộ quản lý, giáo viên, cha mẹ học sinh đều có nhận thức đầy đủ về vấn đề này thì hiệu quả của sự phối hợp sẽ được nâng cao.
- Bảng 2.7. Nhận thức về tầm quan trọng của hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình tại các trường tiểu học
Ở bảng 2.7 cho thấy cán bộ quản lý, giáo viên và cha mẹ học sinh đều nhận thức được tầm quan trọng của sự phối hợp giữa Nhà trường – Gia đình trong công tác giáo dục học sinh. Hầu hết những người được hỏi đều thấy được sự cần thiết phải phối hợp giữa Nhà trường – Gia đình trong công tác giáo dục học sinh, có đến 89.5% cán bộ giáo viên cho rằng hoạt động phối hợp giữa Nhà trường – Gia đình là quan trọng và rất quan trọng và có 10.5% cán bộ giáo viên cho rằng ít quan trọng. Về phía cha mẹ học sinh có 94% cha mẹ học sinh được hỏi cho rằng sự phối hợp giữa Nhà trường – Gia đình trong công công tác giáo dục học sinh là quan trọng và rất quan trọng và 6% cha mẹ học sinh cho rằng ít quan trọng. Đặc biệt không có cán bộ giáo viên và cha mẹ học sinh cho rằng sự phối hợp giữa Nhà trường – Gia đình là không quan trọng.
2.3.2. Thực trạng nhận thức về mục tiêu của hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh Luận văn: Thực trạng QL nhà trường và gia đình trong giáo dục.
Nhận thức sự phối hợp giữa Nhà trường – Gia đình còn được phản ảnh rõ hơn qua bảng khảo sát nhận thức về mục tiêu của hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong công tác giáo dục học sinh qua bảng 2.8 sau đây.
- Bảng 2.8. Nhận thức về mục tiêu của hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình tại các trường tiểu học
Qua bảng 2.8 cho thấy: phụ huynh học sinh (PHHS) và cán bộ quản lý, giáo viên (CBQL, GV) đánh giá ở mức đồng ý và rất đồng ý đối với nhận thức về mục tiêu của hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình của phụ huynh học sinh với điểm trung bình từ 3.16 đến 3.52 và mức điểm trung bình của Cán bộ quản lý, giáo viên đánh giá về nhận thức về mục tiêu của hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình từ 3.06 đến 3.60 và phần lớn họ cho rằng những mục tiêu này rất cần thiết đối với học sinh trường Tiểu học như:
Tạo điều kiện cho giáo viên và phụ huynh trong việc trao đổi phương pháp giáo dục học sinh với ĐTB từ 3.52 đến 3.60 xếp bậc 1. Điều này phù hợp với thực tế, nhà trường luôn tạo điều kiện cho giáo viên và phụ huynh học sinh được gặp gỡ trao đổi về các phương pháp giáo dục học sinh thông qua các cuộc họp định kì cũng như các buổi trao đổi cá nhân sau giờ học. Việc tạo ra môi trường giáo dục lành mạnh ở trường cũng như ở nhà với ĐTB từ 3.47 đến 3.48 xếp bậc 2 và hạn chế những tác động tiêu cực đến quá trình phát triển nhân cách học sinh với ĐTB từ 3.43 đến 3.46 xếp bậc 3 là những mục tiêu phù hợp với thực tế nhà trường hiện nay. Môi trường giáo dục ngày nay đã và đang đáp ứng được các yêu cầu giáo dục lành mạnh như hạn chế các vấn đề liên quan đến bạo lực học dường, bệnh thành tích cũng như một số yếu tố tiêu cực gây ảnh hưởng đến nhân cách học sinh sau này.
Tạo ra sự thống nhất giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh một cách liên tục, toàn vẹn với ĐTB từ 3.41 đến 3.4 xếp bậc 4. Phát huy được ưu thế của giáo dục gia đình với ĐTB từ 3.22 đến 3.23 xếp bậc 5. Nâng cao trách nhiệm của gia đình về giáo dục con cái với ĐTB từ 3.19 đến 3.22 xếp bậc 6. Tuyên truyền, phổ biến kiến thức khoa học giáo dục tiểu học đến gia đình học sinh với ĐTB từ 3.06 đến 3.16 xếp bậc 7.
Qua trao đổi phỏng vấn chúng tôi đã ghi nhận được một số ý kiến như sau: “Theo tôi, mối quan hệ giữa nhà trường và gia đình ở trường TH có tầm quan trọng lớn trong việc nâng cao chất lượng giáo dục. Đây là mối quan hệ tác động qua lại. Gia đình là nơi hình thành, phát triển và bồi đắp nhân cách của trẻ, là cầu nối giữa trẻ em và nhà trường. Nhà trường là môi trường có đủ điều kiện nhất trong việc thực hiện các mục tiêu giáo dục. Nhà trường có vai trò quan trọng trong việc thực hiện các mục tiêu giáo dục và truyền thụ tri thức cho các em. Vì vậy, cần tăng cường phối hợp chặt chẽ giữa nhà trường và gia đình sẽ góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả giáo dục học sinh” (CBQL1). Tuy nhiên cũng có một số nhận xét khác như: “Theo tôi, mục tiêu của phối hợp giữa nhà trường và gia đình hiện nay là nhằm giáo dục, bồi dưỡng và rèn luyện năng lực phẩm chất ở HS để đảm bảo HS phát triển một cách toàn diện nhất dù ở nhiều môi trường khác nhau với những mối quan hệ phức tạp” (CBQL4), “Theo tôi, mục tiêu của hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình ở trường tiểu học hiện nay là: gia đình sẽ nắm bắt được tình hình học tập và rèn luyện của HS ở trường. Nhà trường sẽ biết được hoàn cảnh của HS để đưa ra phương pháp giáo dục HS phù hợp và hiệu quả” là nhận xét của GV3 hay “Theo tôi, mục tiêu của hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình nói riêng cũng như mục tiêu của các hoạt động giáo dục khác nói chung trong nhà trường đều hướng đến việc phát triển HS từ năng lực đến phẩm chất” (GV7). Luận văn: Thực trạng QL nhà trường và gia đình trong giáo dục.
Qua đây đã cho thấy phần lớn cán bộ quản lý, giáo viên và Phụ huynh học sinh nhận thức đúng và đầy đủ các mục tiêu của hoạt động phối hợp giữa Nhà trường – Gia đình trong công tác giáo dục học sinh, kiến thức về giáo dục HS của họ vẫn còn hạn chế, chưa hiểu rõ và hiểu đầy đủ các vai trò trong sự phối hợp giữa nhà trường gia đình trong công tác giáo dục học sinh. Mặc dù họ đã thấy được tầm quan trọng, cần thiết phải có sự phối hợp giữa Nhà trường – Gia đình trong công tác giáo dục học sinh (khảo sát ở trên), song cụ thể từng mục tiêu của sự phối hợp giữa Nhà trường – Gia đình vẫn chưa được hiểu đầy đủ, thể hiện nhận thức chung về sự phối hợp Nhà trường – Gia đình còn hạn chế. Đây chính là một trong những nguyên nhân làm cho sự phối hợp giữa nhà trường-gia đình chưa chặt chẽ, hiệu quả chưa cao.
2.3.3. Thực trạng thực hiện nội dung hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh
Sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình đáp ứng được nhu cầu thực tế để giáo dục học sinh được tốt hơn. Bên cạnh mức độ phối hợp thì chất lượng sự phối hợp cũng cần phải chú trọng. Cho nên cần phải tìm hiểu sâu vào việc thực hiện các nội dung phối hợp giữa nhà trường và gia đình, chúng tôi có kết quả ở như sau:
Bảng 2.9. Mức độ thực hiện các nội dung phối hợp nhà trường và gia đình theo đánh giá của Cán bộ quản lý, giáo viên
- Qua bảng 2.9 cho thấy:
Nội dung: “Phối hợp theo dõi, giám sát, kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục học sinh” với ĐTB là 3.60 xếp bậc 1. Đây là nội dung được các trường Tiểu học thị xã Bến Cát rất thường xuyên thực hiện và đã duy trì nhiều năm.
Nội dung: “Phối hợp trong việc xây dựng môi trường giáo dục, văn hóa ứng xử trong các mối quan hệ với học sinh và phụ huynh” với ĐTB là 3.46 xếp bậc 2. Nội dung: “Phối hợp xây dựng kế hoạch giáo dục học sinh của nhà trường và lớp học” với ĐTB là 3.44 xếp bậc 3. Nội dung: “Phối hợp tổ chức thực hiện chương trình giáo dục học sinh của nhà trường và lớp học” với ĐTB là 3.29 xếp bậc 4. Nội dung: “Phối hợp trong việc xây dựng cảnh quan trường học, cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng của lớp,…” với ĐTB là 3.22 xếp bậc 5. Ở các nội dung này theo các ý kiến được khảo sát cho rằng được thực hiện một cách thường xuyên. Luận văn: Thực trạng QL nhà trường và gia đình trong giáo dục.
Nội dung: “Phối hợp chăm lo đời sống tinh thần cho giáo viên” với ĐTB là 3.19 xếp bậc 6 và nội dung: “Phối hợp quản lý học sinh học tập và rèn luyên ở gia đình, ngoài xã hội” với ĐTB là 3.12 xếp bậc 7. Tuy được đánh giá thấp nhưng 2 nội dung vẫn được thực hiện một cách thường xuyên.
Qua trao đổi phỏng vấn, chúng tôi ghi nhận một số ý kiến như sau: “Theo tôi, hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình thì cần những nội dung như: Phối hợp trong giáo dục phẩm chất và năng lực cho HS. Hình thành kiến thức, kỹ năng cho HS. Cha mẹ thầy cô là những tấm gương sáng cho HS noi theo; Giáo dục kỹ năng sống giúp HS có thái độ và hành vi tích cực. Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh” (CBQL2) hay ý kiến đóng góp và nội dung phối hợp của GV1 “Hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình thì cần những nội dung: Thực hiện chương trình chăm sóc, bảo vệ sức khỏe, xây dựng kế hoạch giáo dục, phối hợp với nhà trường trong việc xây dựng môi trường giáo dục”; “Các nội dung cần phối hợp giữa nhà trường và gia đình là: Phối hợp quản lý HS trong quá trình học tập và rèn luyện; Phối hợp xây dựng cơ sở vật chất, cung cấp các trang thiết bị cần thiết phục vụ việc dạy và học” (GV3)
Qua các số liệu thống kê cho thấy về phía nhà trường, Cán bộ quản lý, giáo viên có nhận thức sâu sắc và đầy đủ về hoạt động phối hợp giữa Nhà trường – Gia đình, nhiều nội dung phối hợp được quan tâm thực hiện rất tốt. Tuy nhiên, vẫn còn một số nội dung chưa được thực hiện tốt như: Phối hợp chăm lo đời sống tinh thần cho giáo viên và Phối hợp quản lý học sinh học tập và rèn luyên ở gia đình, ngoài xã hội. Việc thực hiện còn rất hạn chế ở một số nội dung phối hợp giữa nhà trường với gia đình làm ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng, hiệu quả của sự phối hợp.
Bảng 2.10. Mức độ thực hiện các nội dung phối hợp nhà trường và gia đình theo đánh giá của Phụ huynh học sinh
- Qua bảng 2.10 cho thấy: Luận văn: Thực trạng QL nhà trường và gia đình trong giáo dục.
Nội dung: “Phối hợp theo dõi, giám sát, kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục học sinh” với ĐTB là 3.60 xếp bậc 1. Nội dung này được đa số ý kiến của cha mẹ học sinh cho rằng đã thực hiện rất thường xuyên.
Nội dung: “Phối hợp trong việc xây dựng môi trường giáo dục, văn hóa ứng xử trong các mối quan hệ với học sinh và phụ huynh” với ĐTB là 3.45 xếp bậc 2. Nội dung: “Phối hợp xây dựng kế hoạch giáo dục học sinh của nhà trường và lớp học” với ĐTB là 3.42 xếp bậc 3. Nội dung: “Phối hợp tổ chức thực hiện chương trình giáo dục học sinh của nhà trường và lớp học” với ĐTB là 3.40 xếp bậc 4. Nội dung: “Phối hợp trong việc xây dựng cảnh quan trường học, cơ sở vật chất, trang thiết bị, đồ dùng của lớp,…” với ĐTB là 3.33 xếp bậc 5. Nội dung: “Phối hợp chăm lo đời sống tinh thần cho giáo viên” với ĐTB là 3.25 xếp bậc 6 và nội dung: “Phối hợp quản lý học sinh học tập và rèn luyên ở gia đình, ngoài xã hội” với ĐTB là 3.21 xếp bậc 7. Ở các nội dung này theo các ý kiến được khảo sát cho rằng được thực hiện một cách thường xuyên.
Kết quả thống kê ở bảng 2.10 đã cho thấy tình trạng thực hiện các nội dung để phối hợp với nhà trường theo đánh giá của cha mẹ học sinh là rất tốt, đa số phụ huynh có tạo điều kiện cho con em học tập ở nhà, thỉnh thoảng có kiểm tra đôn đốc con em mình học tập. Tuy nhiên, đây mới chỉ là hoạt động chăm sóc con em ở điều kiện bình thường, điều đó chưa thể hiện đầy đủ các nội dung phối hợp giữa gia đình với nhà trường trong công tác giáo dục học sinh. Có nhiều nội dung quan trọng mà cha mẹ học sinh cần phải phối hợp với nhà trường chưa được quan tâm thực hiện, làm cho sự phối hợp giữa Nhà trường – Gia đình thời gian qua tại các trường Tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát chưa được tốt.
Tóm lại, qua ý kiến của cán bộ, GV và cha mẹ học sinh trong phần nội dung phối hợp chúng tôi nhận thấy rằng nội dung phối hợp giữa Nhà trường – Gia đình được thực hiện một cách đầy đủ và thường xuyên, nghiêm túc, điều này làm cho chất lượng hoạt động phối hợp tại các trường Tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát đạt kết quả tốt. Tuy nhiên Cán bộ quản lý cần phải tăng cường tuyên truyền giáo dục, đề ra kế hoạch với những nội dung phong phú, phù hợp với từng nhà trường, từng địa phương trên địa bàn để thực hiện sự phối hợp giữa Nhà trường – Gia đình thực hiện tốt hơn.
2.3.4. Thực trạng hình thức tổ chức hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh Luận văn: Thực trạng QL nhà trường và gia đình trong giáo dục.
Khảo sát giải pháp được nhà trường sử dụng để tổ chức hoạt động phối hợp giữa nhà trường, gia đình và thu được kết quả ở bảng 2.11 như sau:
- Bảng 2.11. Thực trạng hình thức tổ chức của hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình tại các trường tiểu học
Nhìn vào bảng 2.11 cho thấy, nếu xếp ở mức độ các hình thức tổ chức hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình được nhà trường Tiểu học sử dụng trong cơ sở thì các hình thức được xếp thứ tự như sau:
Theo ý kiến cán bộ, giáo viên và cha mẹ học sinh những hình thức đã thực hiện rất thường xuyên là hình thức: “Thông qua bảng thông báo của trường, lớp để thông tin, tuyên truyền đến phụ huynh” với ĐTB từ 3.60 đến 3.60 xếp bậc 1. Thực tế cho thấy đây là hình thức được sử dụng rất thường xuyên, nhà trường sử dụng bảng thông báo để thông báo rộng rãi đến phụ huynh các vấn đề thiết yếu như các lịch học, nghỉ lễ, các cuộc họp phụ huynh học sinh và các nội dung cần triển khai rộng rãi,…
Ngoài ra, những hình thức đã thực hiện thường xuyên gồm: Hình thức: “Tổ chức họp phụ huynh định kì” với ĐTB từ 3.45 đến 3.46 xếp bậc 2. Điều này phù hợp với thực tế, định kì mỗi năm 3 lần các trường đều tổ chức họp với cha mẹ học sinh. Trong đó, họp lần thứ nhất để bầu Ban đại diện cha mẹ học sinh và thông qua trao đổi ý kiến và tiến hành thống nhất một số nội dung, hình thức giáo dục học sinh của lớp. Họp lần thứ nhất có vai trò rất quan trọng, có ý nghĩa quyết định cho quá trình phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong suốt năm học. Họp lần thứ hai để báo cáo kết quả học tập học kì 1 của học sinh đến phụ huynh, từ đó điều chỉnh các phương pháp giáo dục học sinh nếu cần thiết.
Hình thức: “Tuyên truyền, phổ biến các điều luật, văn bản, thông tư, quy định, kế hoạch… về phối hợp nhà trường và cha mẹ học sinh” với ĐTB từ 3.44 đến 3.45 xếp bậc 3. Hình thức: “Thông qua các hội thi, hoạt động văn hóa văn nghệ, tham quan các hoạt động của nhà trường” với ĐTB từ 3.22 đến 3.22 xếp bậc 4. Ngoài ra, hình thức: “Thành lập Ban đại diện cha mẹ học sinh của trường, lớp và phối hợp thông qua ban đại diện cha mẹ học sinh” với ĐTB từ 3.18 đến 3.19 xếp bậc 5 chưa được phù hợp với thực tế bởi hình thức bầu Ban đại diện cha mẹ học sinh là điều hết sức cần thiết trong quá trình phối hợp giữa nhà trường và gia đình vì Ban đại diện cha mẹ học sinh của trường, lớp là có khả năng hợp tác, điều hành hội cha mẹ học sinh tốt sẽ góp phần đẩy mạnh hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh.
Qua bảng trên đưa ra một số hình thức ít được thực hiện thường xuyên trong tổ chức hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình được các lực lượng đánh giá trong các nhà trường Tiểu học ít sử dụng như:
Hình thức: “Trao đổi trực tiếp thường xuyên với gia đình học sinh sau giờ học” với ĐTB từ 2.37 đến 2.44 xếp bậc 6. Hình thức: “Tổ chức những buổi sinh hoạt, trao đổi phổ biến kiến thức giáo dục theo chuyên đề cho cha mẹ” với ĐTB từ 2.33 đến 2.41 xếp bậc 7. Hình thức: “Phối hợp giáo dục thông qua các ứng dụng công nghệ: thư điện tử, web, mail, zalo; Sổ liên lạc, thư mời” với ĐTB từ 2.17 đến 2.32 xếp bậc 8. Luận văn: Thực trạng QL nhà trường và gia đình trong giáo dục.
Qua phân tích số liệu các ý kiến của cán bộ giáo viên và cha mẹ học sinh, chúng tôi nhận thấy rằng bên cạnh nội dung còn hạn chế, hoạt động phối hợp chưa được thực hiện thường xuyên và có hình thức chưa phong phú, linh hoạt. Phần lớn các phương pháp được Cán bộ quản lý và giáo viên chủ nhiệm thực hiện một cách sơ sài, định kỳ có tính chất một chiều từ phía nhà trường đến gia đình học sinh ở mỗi cuối học kỳ và cuối năm học. Những phương pháp phối hợp giữa Nhà trường – Gia đình qua công tác trao đổi trực tiếp thường xuyên với gia đình học sinh sau giờ học hay phối hợp giáo dục thông qua các ứng dụng công nghệ: thư điện tử, web, mail, zalo; Sổ liên lạc, thư mời vốn dĩ là hoạt động quan trọng của công tác chủ nhiệm, nhưng hiện nay chưa được giáo viên chủ nhiệm thực hiện thường xuyên, hiệu quả chưa cao.
So kết quả phiếu khảo sát phần ý kiến của cán bộ, giáo viên và cha mẹ học sinh trả lời có nhiều điểm khá tương đồng trong phần phương pháp phối hợp giữa Nhà trường – Gia đình như:
- Thông qua bảng thông báo của trường, lớp để thông tin, tuyên truyền đến phụ huynh.
- Tổ chức họp phụ huynh định kì.
- Tuyên truyền, phổ biến các điều luật, văn bản, thông tư, quy định, kế hoạch… về phối hợp nhà trường và cha mẹ học sinh.
- Thông qua các hội thi, hoạt động văn hóa văn nghệ, tham quan các hoạt động của nhà trường.
Tóm lại, quả kết quả khảo sát về thực trạng hình thức tổ chức của hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình ở trường tiểu học đối với cán bộ, giáo viên và cha mẹ học sinh, tác giả nhận thấy rằng: nhìn chung nhận thức về hoạt động phối hợp giữa nhà trường với gia đình tại các trường Tiểu học thuộc thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương chưa đầy đủ và toàn diện. Cán bộ quản lý, giáo viên chưa có sự quan tâm nhiều, chưa có những hình thức phù hợp, chưa thể hiện vai trò chủ đạo của nhà trường trong công tác phối hợp với gia đình. Nhà trường chưa thể hiện hoạt động bằng các kế hoạch phối hợp cụ thể, phù hợp với thực tế, có tính chất thường xuyên. Đối với cha mẹ học sinh cũng có những nhận thức chưa đầy đủ về vai trò của gia đình trong sự phối hợp, một số phụ huynh còn chưa quan tâm, số đông chờ đợi sự chủ động ở phía nhà trường như là thư từ, sổ liên lạc nhà trường mời đến để biết tình trạng học tập của con em mình, mà chưa tích cực phối hợp với nhà trường để giáo dục học sinh một cách có kế hoạch hiệu quả hơn.
2.4 Thực trạng quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh tại các trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương
2.4.1. Thực trạng xây dựng kế hoạch hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh Luận văn: Thực trạng QL nhà trường và gia đình trong giáo dục.
- Bảng 2.12. Thực trạng xây dựng kế hoạch của hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình tại các trường tiểu học
Qua bảng 2.12 chúng ta thấy so kết quả phiếu khảo sát phần ý kiến của cán bộ, GV và cha mẹ học sinh trả lời có nhiều điểm khá tương đồng trong xây dựng kế hoạch hoạt động phối hợp giữa Nhà trường – Gia đình. Các nội dung được thực hiện một các thường xuyên và rất thường xuyên như:
Nội dung “Xác định mục tiêu hoạt động phối hợp cụ thể phù hợp với điều kiện của nhà trường” với điểm trung bình từ 3.33 đến 3.61 xếp bậc 1. Nội dung “Xây dựng nội dung phối hợp cụ thể theo từng năm học, học kỳ, tháng, tuần” với điểm trung bình từ 3.23 đến 3.53 xếp bậc 2. Nội dung “Lựa chọn các biện pháp phối hợp giữa nhà trường và gia đình phù hợp nội dung” với điểm trung bình từ 3.12 đến 3.50 xếp bậc 3. Nội dung “Hướng dẫn xây dựng các loại kế hoạch và chương trình hoạt động cụ thể” với điểm trung bình từ 3.09 đến 3.22 xếp bậc 4.
Qua bảng trên đưa ra một số nội dung mà nhà trường ít sử dụng trong xây dựng kế hoạch hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình được các lực lượng đánh giá trong các nhà trường Tiểu học ít sử dụng như:
Nội dung “Khảo sát, điều tra tình hình thực tế hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình” với điểm trung bình từ 2.40 đến 2.41 xếp bậc 5. Nội dung “Trình kế hoạch lên các cấp có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt và ban hành” với điểm trung bình từ 2.40 đến 2.41 xếp bậc 6. Nội dung “Xác định lực lượng, điều kiện, kinh phí thực hiện và hỗ trợ hoạt động phối hợp” với điểm trung bình từ 2.36 đến 2.37 xếp bậc 7.
Qua trao đổi phỏng vấn Cán bộ quản lý và GV, chúng tôi ghi nhận một số ý kiến sau: “Nhà trường cần hướng dẫn cho cha mẹ học sinh một số kiến thức về khoa học giáo dục, cách quản lý, hướng dẫn con em học tập và rèn luyện. Giáo viên chủ nhiệm còn cần tổ chức trao đổi kinh nghiệm giáo dục trong các bậc cha mẹ học sinh để họ có thể giúp nhau giáo dục con em tốt hơn” (GV3) hay “Về việc xây dựng kế hoạch hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình thì mỗi năm chúng tôi đều có kế hoạch hoạt động chung cho toàn trường sau đó triển khai đến từng GV cùng thực hiện” là ý kiến của Cán bộ quản lý2
Hoạt động xây dựng kế hoạch hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh tại các trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương theo ý kiến đa số cán bộ giáo viên đều cho rằng đã thực hiện “thường xuyên”. Tuy nhiên vẫn còn một số nội dung còn mang tính hình thức, thường chỉ đề cập đến vấn đề này ở đầu năm học, với hiệu quả phối hợp Nhà trường – Gia đình chưa cao.
2.4.2. Thực trạng tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh
Muốn thực hiện tốt kế hoạch hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình thì khâu tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch là một bước rất quan trọng, không thể thiếu được. Các trường tiểu học trên địa bàn thị xã đã có nhiều hình thức tổ chức triển khai kế hoạch hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình.
- Bảng 2.13. Thực trạng tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch của hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình tại các trường tiểu học Luận văn: Thực trạng QL nhà trường và gia đình trong giáo dục.
Qua kết quả khảo sát ở bảng 2.13 cho thấy: các trường tiểu học ở thị xã Bến Cát đã quan tâm tới công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình nhưng việc tổ chức thực hiện chưa thật tốt. Các đối tượng được khảo sát đã khẳng định:
Các nội dung được thực hiện một các thường xuyên và rất thường xuyên như: Nội dung “Xây dựng cơ chế phối hợp với ban đại diện cha mẹ học sinh toàn trường” với điểm trung bình từ 3.53 đến 3.61 xếp bậc 1. Nội dung “Hướng dẫn cách thức tổ chức hoạt động phối hợp cho giáo viên chủ nhiệm” với điểm trung bình từ 3.33 đến 3.50 xếp bậc 2 (CBQL, GV) và bậc 4 (PHHS). Nội dung “Hiệu trưởng phổ biến kế hoạch hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình” với điểm trung bình từ 3.48 đến 3.52 xếp bậc 3 (CBQL, GV) và bậc 2 (PHHS)
Nội dung “Chỉ đạo, hướng dẫn cho giáo viên chủ nhiệm cách thức phối hợp với Ban đại diện cha mẹ học sinh của lớp” với điểm trung bình từ 3.15 đến 3.48 xếp bậc 3 (CBQL, GV) và bậc 5 (PHHS). Nội dung “Chỉ đạo tổ chức họp cha mẹ học sinh, bầu Ban đại diện cha mẹ học sinh của các lớp và toàn trường” với điểm trung bình từ 3.14 đến 3.19 đồng xếp bậc 6 (CBQL, GV) và (PHHS)
Nội dung “Lựa chọn và phân công nhiệm vụ cho các thành viên trong nhà trường thực hiện hoạt động phối hợp” với điểm trung bình từ 3.08 đến 3.16 đồng xếp bậc 7 (CBQL, GV) và (PHHS). Nội dung “Theo dõi, giám sát hoạt động phối hợp” với điểm trung bình từ 3.04 đến 3.12 đồng xếp bậc 8 (CBQL, GV) và (PHHS)
Qua bảng trên đưa ra một số nội dung mà nhà trường ít sử dụng trong tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch của hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình được các lực lượng đánh giá trong các nhà trường Tiểu học ít sử dụng như:
Nội dung “Phân bổ kinh phí cho hoạt động phối hợp” với điểm trung bình từ 2.17 đến 2.40 xếp bậc 9 (CBQL, GV) và bậc 11 (PHHS). Nội dung “Tổ chức, hướng dẫn vận động cha mẹ học sinh tham gia vào các hoạt động giáo dục của trường” với điểm trung bình từ 2.22 đến 2.38 đồng xếp bậc 10 (CBQL, GV) và (PHHS)
Nội dung “Tổ chức các buổi chuyên đề, trao đổi kinh nghiệm trong hoạt động phối hợp” với điểm trung bình từ 2.26 đến 2.37 xếp bậc 11 (CBQL, GV) và bậc 9 (PHHS) Luận văn: Thực trạng QL nhà trường và gia đình trong giáo dục.
Qua trao đổi phỏng vấn, chúng tôi ghi nhận một số ý kiến sau: “Khi Tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình thì cần những nội dung như: Phối hợp trong quản lý HS, tạo điều kiện để HS được học tập và rèn luyện; Động viên, khen thưởng những HS có thành tích, có tiến bộ trong học tập; Luôn trò chuyện, tiếp xúc với các em để hiểu được tâm tư, nguyện vọng của các em” (CBQL1); “Việc tổ chức và chỉ đạo thực hiện hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình được BGH thực hiện thường xuyên trong suốt năm học. Sau khi triển khai kế hoạch chung, các tổ sẽ xây dựng kế hoạch cụ thể cho tổ và từng lớp thực hiện. Trong quá trình thực hiện nếu có khó khăn gì thì BGH sẽ giúp đỡ để mọi GV đều hoàn thành tốt kế hoạch đề ra” (CBQL4); “Ban giám hiệu chỉ đạo, phân công giáo viên chủ nhiệm thực hiện phối hợp với cha mẹ học sinh ở từng lớp” (GV4) hay “Người đứng đầu nhà trường phổ biến rộng rãi đến toàn thể GV của trường thực hiện nghiêm túc các văn bản, quy định của nhà nước về việc phối hợp giữa nhà trường với gia đình trong giáo dục học sinh” là ý kiến của (GV7).
Qua phân tích kết quả các ý kiến trả lời của Cán bộ quản lý, giáo viên, chúng tôi nhận thấy, công tác quản lý tổ chức thực hiện hoạt động phối hợp giữa nhà trường với gia đình có thực hiện đạt hiệu quả nhất định nhưng chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu trong công tác giáo dục học sinh. Công tác hướng dẫn tổ chức hoạt động phối hợp giữa nhà trường có nơi, có lúc ở một số trường Tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát chưa được Cán bộ quản lý thực hiện nghiêm túc. Việc lựa chọn giáo viên chủ nhiệm có năng lực tham gia phối hợp với gia đình còn nhiều hạn chế ở một số trường trong thị xã, nhất là các trường vùng nông thôn do số lượng giáo viên còn rất thiếu, nên việc lựa chọn còn khó khăn hơn. Biện pháp quản lý tổ chức hoạt động chuyên đề thảo luận trao đổi kinh nghiệm trong công tác phối hợp giữa nhà trường với gia đình còn rất hạn chế . Điều này chưa phát huy được những kinh nghiệm thực tế trong quá trình phối hợp làm cho chất lượng phối hợp chưa được cải thiện trong thời gian qua.
2.4.3. Thực trạng kiểm tra, đánh giá thực hiện kế hoạch hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh
- Bảng 2.14. Thực trạng kiểm tra, đánh giá thực hiện kế hoạch hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình tại các trường tiểu học Luận văn: Thực trạng QL nhà trường và gia đình trong giáo dục.
Từ bảng kết quả thống kê 2.14 cho, các nội dung kiểm tra đánh giá được Cán bộ quản lý, giáo viên và Phụ huynh học sinh cho rằng đã thực hiện ở mức độ “rất thường xuyên” và “thường xuyên” cụ thể như sau:
Nội dung “Xác định các nội dung, tiêu chí kiểm tra, đánh giá cần thiết cho hoạt động phối hợp” với điểm trung bình từ 3.48 đến 3.54 xếp bậc 3 (CBQL, GV) và bậc 1 (PHHS). Qua đây cho thấy Cán bộ quản lý tại các trường chưa có qui định các tiêu chuẩn đánh giá công tác phối hợp giữa nhà trường trong công tác giáo dục học sinh, vì vậy chưa cơ sở để đánh giá hoạt động phối hợp, đã làm ảnh hưởng đến kết quả của hoạt động phối hợp.
Nội dung “Xác định hình thức, biện pháp kiểm tra hoạt động động phối hợp” với điểm trung bình từ 3.43 đến 3.61 xếp bậc 1 (CBQL, GV) và bậc 2 (PHHS)
Nội dung “Phân công lực lượng kiểm tra – đánh giá hoạt động phối hợp” với điểm trung bình từ 3.05 đến 3.21 xếp bậc 7 (CBQL, GV) và bậc 5 (PHHS). Đa số cán bộ giáo viên cho rằng tại các trường Tiểu học Cán bộ quản lý có theo dõi, kiểm tra điều chỉnh hoạt động của giáo viên chủ nhiệm với gia đình học sinh và đã có những hiệu quả thiết thực. Tuy nhiên công tác kiểm tra này chỉ mới thể hiện ở việc Hiệu trưởng yêu cầu chủ nhiệm báo cáo số lượng cha mẹ học sinh dự họp mà chưa quan tâm đến kết quả phối hợp giữa giáo viên chủ nhiệm với cha mẹ học sinh. Ở một số trường Hiệu trưởng chưa kiểm tra việc xây dựng kế hoạch phối hợp với gia đình của giáo viên chủ nhiệm.
Nội dung “Tổ chức kiểm tra, đánh giá theo từng loại kế hoạch hoạt động phối hợp” với điểm trung bình từ 3.12 đến 3.50 xếp bậc 2 (CBQL, GV) và bậc 7 (PHHS). Nội dung “Tổng kết, rút kinh nghiệm từng giai đoạn kịp thời để điều chỉnh hoạt động cho phù hợp” với điểm trung bình từ 3.12 đến 3.21 đồng xếp bậc 5 (CBQL, GV) và (PHHS)
Nội dung “Tuyên dương, khen thưởng những tập thể, cá nhân thực hiện tốt hoạt động phối hợp” với điểm trung bình từ 3.30 đến 3.41 xếp bậc 4 (CBQL, GV) và bậc 3 (PHHS). Nội dung “Nhắc nhở, kiểm điểm những cá nhân chưa thực hiện tốt hoạt động phối hợp” với điểm trung bình từ 3.10 đến 3.25 xếp bậc 6 (CBQL, GV) và bậc 4 (PHHS)
Như vậy còn một tỉ lệ khá lớn tại các trường chưa thực hiện tốt khâu quản lý việc kiểm tra, đánh giá công tác phối hợp, dẫn đến thực trạng hoạt động phối hợp giữa nhà trường với gia đình còn lỏng lẻo, có tính chất đơn điệu, rập khuôn chưa thu hút cha mẹ học sinh tham gia vào hoạt động phối hợp. Để đảm bảo cho công tác phối hợp được tốt, các nhà quản lý trường học cần tăng cường kiểm tra, đánh giá nghiêm túc hoạt động này, nhằm động viên khuyến khích, thúc đẩy và điều chỉnh của đội ngũ giáo viên để hoạt động phối hợp ngày càng hiệu quả hơn.
2.4.4. Thực trạng quản lý các điều kiện phục vụ hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh Luận văn: Thực trạng QL nhà trường và gia đình trong giáo dục.
Kết quả đánh giá về quản lý các điều kiện phục vụ hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh tại các trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương được thể hiện ở bảng sau:
- Bảng 2.15. Thực trạng quản lý các điều kiện phục vụ hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình tại các trường tiểu học của Cán bộ quản lý, giáo viên
Từ bảng 2.15 cho thấy “Hiệu trưởng có trách nhiệm trong quá trình xây dựng, tổ chức, chỉ đạo hoạt động phối hợp” xếp vị trí thứ 1 với điểm trung bình là 3.53. Nội dung “Đảm bảo điều kiện về nguồn kinh phí, cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động phối hợp” xếp vị trí thứ 2 với điểm trung bình là 3.49. Điều này cho thấy tầm quan trọng của BGH, là một người lãnh đạo cần có tầm nhìn, chiến lược thì mới đưa chất lượng giáo dục của đơn vị đi lên cũng như có các kế hoạch để đảm bảo nguồn kinh phi cho việc xây dựng hoạt động phối hợp.
Nội dung “Sự chủ động của gia đình trong thực hiện hoạt động phối hợp” xếp vị trí thứ 3 với điểm trung bình là 3.41. Nội dung “Trách nhiệm của của các bộ phận khác trong nhà trường” xếp vị trí thứ 4 với điểm trung bình là 3.12. Xếp ở vị trí thứ 5 là nội dung “Ban hành các văn bản và phương tiện phục vụ cho hoạt động phối hợp” với ĐTB là 2.99. Qua đây cho thấy, nhà trường cũng có chủ động phối hợp với gia đình, nhưng tỷ lệ cũng chưa cao. Bên cạnh đó, các lực lượng khác đôi lúc còn thơ ơ không xem trọng công việc này, cũng như phương tiện phục vụ cho sự phối hợp chưa đảm bảo dẫn đến hiệu quả chưa cao.
Qua trao đổi phỏng vấn Cán bộ quản lý và GV cũng có 1 số ý kiến như sau, để quản lý tốt điều kiện phục vụ hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh cần: “Để làm tốt công tác quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình cần những điều kiện: Lắng nghe ý kiến của phụ huynh, sẵn sàng tư vấn các kiến thức về giáo dục HS cũng như đặc điểm tâm sinh lý HS” (GV1); “Nhà lãnh đạo có tầm nhìn, có thể quản lý được các phương án, đề án đưa ra. Có sự phân công rõ ràng, đúng người đúng việc, không thiên vị nhằm phát huy điểm mạnh của từng cá nhân. Ngoài ra cần truyền tải nội dung, thông diệp đến phụ huynh, giúp phụ huynh thấy được vai trò của bản thân trong giáo dục HS để từ đó cùng chung tay với nhà trường trong giáo dục HS một cách toàn diện” (GV6) hay “Phải phù hợp với trình độ phát triển kinh tế – xã hội của địa phương, trình độ nhận thức của mỗi gia đình HS, thời gian phải thuận lợi để các thành viên trong nhà trường và gia đình gắn kết với nhau; Nhà trường đóng vai trò chủ đạo, Hiệu trưởng chịu trách nhiệm chỉ đạo; GVCN là lực lượng nòng cốt, thực hiện chỉ đạo; Gia đình có vai trò chủ động trong Hội CMHS thông qua quy chế, thống nhất với nhà trường các kế hoạch, nhận thức đúng trách nhiệm của mình trong việc phối hợp vời nhà trường” (CBQL2). Luận văn: Thực trạng QL nhà trường và gia đình trong giáo dục.
Như vậy, có thể thấy việc quản lý các nguồn lực phục vụ cho phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh còn có những hạn chế nhất định, cần được khắc phục.
2.5. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh tại các trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương
Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh tại các trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương là rất lớn, có nguyên nhân chủ quan từ phía nhà trường, gia đình học sinh và các nguyên nhân khách quan khác:
2.5.1. Yếu tố khó khăn từ phía nhà trường
- Bảng 2.16. Yếu tố khó khăn từ phía nhà trường đối với hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình tại các trường tiểu học
Theo bảng 2.16, các nguyên nhân về phía nhà trường có ảnh hưởng nhiều đến hiệu quả sự phối hợp nhà trường gia đình như sau:
“Các cấp quản lý nhà trường chưa chú trọng đến quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường- gia đình” với ĐTB từ 3.30 đến 3.47. Nguyên nhân “Các cấp quản lý nhà trường hạn chế về trình độ, năng lực quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường- gia đình” với ĐTB từ 3.11 đến 3.19. Hai nguyên nhân này được đa số ý kiến cán bộ giáo viên, Phụ huynh học sinh cho rằng là có ảnh hưởng nhiều đến hoạt động phối hợp Nhà trường – Gia đình. Cán bộ quản lý nhà trường tuy nhận thức được tầm quan trọng và sự cần thiết hoạt động phối hợp giữa Nhà trường – Gia đình, nhưng họ chưa chú trọng thực hiện hoạt động này. Do đó công tác quản lý xây dựng kế hoạch phối hợp thiếu sự quan tâm, quản lý tổ chưc thực hiện kế hoạch còn hạn chế, quản lý kiểm tra đánh giá hoạt động phối hợp nhà trường-gia đình chưa được chặt chẻ. Đây là nguyên nhân có ảnh hưởng nhiều đến quản lý sự phối hợp giữa Nhà trường – Gia đình. Như vậy cần có những biện pháp để khắc phục những hạn chế này, cần làm cho Cán bộ quản lý chú trọng hơn trong việc thực hiện hoạt động phối hợp nhà trường- gia đình.
“Nhận thức của các lực lượng giáo dục trong nhà trường về vai trò của hoạt động phối hợp chưa thống nhất” với ĐTB từ 3.20 đến 3.46 và nguyên nhân “Giáo viên chưa nhận thức được vai trò nòng cốt của mình trong hoạt động phối hợp” với ĐTB từ 2.99 đến 3.17 cho thấy rằng đây là các nguyên nhân làm ảnh hưởng nhiều trong công tác quản lý sự phối hợp Nhà trường – Gia đình. Đây là hệ quả của nguyên nhân nhận thức chưa đúng của một số Cán bộ quản lý về công tác phối hợp Nhà trường – Gia đình, bởi lẽ Cán bộ quản lý chưa tuyên truyền, giáo dục tốt cho đội ngũ, giúp cho mọi người nhận thức tốt hơn.
“Năng lực giao tiếp ứng xử với cha mẹ học sinh với giáo viên trong các hoạt động phối hợp chưa tốt” với ĐTB từ 3.28 đến 3.34 cho thấy nhà trường có vai trò chủ đạo trong sự phối hợp Nhà trường – Gia đình, vì vậy cán bộ giáo viên cần tích cực, chủ động phối hợp với gia đình, cần phải tích cực tuyên truyền để cha mẹ học sinh thông hiểu quá trình giáo dục học sinh, tầm quan trọng, vai trò của sự phối hợp, cùng với những nội dung và hình thức phù hợp tạo sự gắn kết giữa nhà trường với gia đình, không làm tốt điều này đã làm ảnh hưởng nhiều đến công tác quản lý sự phối hợp Nhà trường – Gia đình.
“Các văn bản hướng dẫn hoạt động phối hợp chưa rõ ràng” với ĐTB từ 3.36 đến 3.52 cho thấy đây là nguyên nhân làm ảnh hưởng nhiều đến hiệu quả sự phối hợp, được nhiều ý kiến đồng tình, qua thực trạng ta thấy rõ sở dĩ chưa phối hợp tốt giữa Nhà trường – Gia đình bởi các văn bản huớng dẫn khó hiểu, phụ huynh ít quan tâm dẫn đến sự phối hợp nhà Nhà trường – Gia đình còn rất hạn chế. Luận văn: Thực trạng QL nhà trường và gia đình trong giáo dục.
“Cơ sở vật chất, điều kiện, phương tiện phục vụ cho sự phối hợp chưa đáp ứng” với ĐTB từ 3.56 đến 3.63 và nguyên nhân “Kinh phí, thới gian dành cho hoạt động phối hợp giữa nhà trường – gia đình còn ít” với ĐTB từ 3.11 đến 3.22. Cho thấy 2 vấn đề kinh phí, thời gian và CSVC, điều kiện phục vụ cho sự phối hợp cũng rất quan trọng. Nếu khắc phục được các yếu tố này thì công tác phối hợp sẽ đạt kết quả tốt hơn.
Qua trao đổi phỏng vấn, chúng tôi ghi nhận một số ý kiến như sau: “Yếu tố khó khăn từ phía nhà trường ảnh hưởng đến hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình cho học sinh tiểu học là: Các buổi họp ban đại diện cha mẹ học sinh chưa đảm bảo 100% dự họp do điều kiện công tác của một vài thành viên; Một số phụ huynh do làm ăn xa, tăng ca nên không liên hệ thường xuyên với GVCN để nắm tình hình học tập của học sinh” (CBQL2); “Khi PH đóng góp ý kiến thì còn e ngại, sợ đụng chạm đến những vấn đề nhạy cảm trong nhà trường” (CBQL4); “Phụ huynh không quan tâm đến HS dẫn đến việc GV muộn hợp tác cùng phụ huynh để giáo dục HS cũng là điều khó khăn” (GV7).
Như vậy, để quản lý tốt hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh tại các trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương cần khắc phục các yếu tố trên.
2.5.2. Yếu tố khó khăn từ phía gia đình
- Bảng 2.17. Yếu tố khó khăn từ phía gia đình đối với hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình tại các trường tiểu học
Theo bảng 2.17, các nguyên nhân về phía gia đình có ảnh hưởng nhiều đến hiệu quả sự phối hợp nhà trường gia đình như sau:
“Nhận thức của gia đình về vai trò, trách nhiệm của hoạt động phối hợp với nhà trường chưa cao” với ĐTB từ 3.27 đến 3.42. Nguyên nhân “Phương pháp giáo dục học sinh của gia đình chưa thống nhất gây khó khăn cho giáo viên trong quá trình giáo dục học sinh” với ĐTB từ 3.11 đến 3.18. Luận văn: Thực trạng QL nhà trường và gia đình trong giáo dục.
“Gia đình thiếu thời gian phối hợp với nhà trường” với ĐTB từ 3.38 đến 3.44. Nguyên nhân “Đời sống kinh tế gia đình khó khăn” với ĐTB từ 3.58 đến 3.68. Nguyên nhân “Năng lực giao tiếp ứng xử của gia đình trong hoạt động phối hợp còn hạn chế” với ĐTB từ 3.11 đến 3.29
Qua đây cho thấy, để nâng cao hiệu quả công tác quản lý cần phải có những biện pháp tuyên truyền cho Phụ huynh học sinh hiểu rõ tầm quan trọng, tính cần thiết để cha mẹ học sinh quan tâm nhiếu hơn. Hầu hết, cha mẹ học sinh chưa quan tâm thậm chí còn khoán trắng cho nhà trường trong việc giáo dục học sinh, đây là hệ quả của việc nhận thức chưa đúng hoạt động phối hợp với nhà trường, họ chưa hiểu được quá trình giáo dục là cần có cả ba môi trường đặc biệt là sự cần thiết phải phối hợp giữa Nhà trường – Gia đình. Ngoài ra, Cha mẹ học sinh ngại tiếp xúc với thầy cô giáo còn thể hiện nhiều ở những địa phương nông thôn, do các yếu tố tâm lý lo lắng đến lỗi lầm của con em, nhận thức về giáo dục và trình độ văn hóa của một số cha mẹ học sinh còn thấp, cũng do các biện pháp phối hợp giữa nhà trường gia đình chưa phù hợp, nội dung đơn điệu (chỉ có tính chất thông báo của giáo viên chủ nhiệm cho gia đình học sinh), thậm chí còn do cách ứng xử chưa tốt của các thầy cô chủ nhiệm. Vì vậy cần có các biện pháp phối hợp Nhà trường – Gia đình tốt hơn.
2.6. Đánh giá chung và nguyên nhân thực trạng quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh các trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương
2.6.1. Ưu điểm Luận văn: Thực trạng QL nhà trường và gia đình trong giáo dục.
Các trường có đội ngũ giáo viên có thâm niên lâu năm trong ngành giáo dục và đều có bằng cử nhân, gắn bó với nghề. Bên cạnh đó, các em học sinh rất tôn trọng thầy cô giáo, ý thức tự học cao và biết lắng nghe, nghe lời thầy cô giáo. Đồng thời, các Cán bộ quản lý và GV có nhận thức cao về tâm quan trọng của hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình.
Về mục tiêu hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình, được các trường quan tâm sâu sắc trong các hoạt động tạo ra môi trường giáo dục lành mạnh ở trường cũng như ở nhà, tạo điều kiện cho giáo viên và phụ huynh trong việc trao đổi phương pháp giáo dục học sinh.
Về việc thực hiện nội dung hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình được các trường quan tâm đến vấn đề phối hợp theo dõi, giám sát, kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục học sinh; phối hợp trong việc xây dựng môi trường giáo dục, văn hóa ứng xử trong các mối quan hệ với học sinh và phụ huynh; Phối hợp xây dựng kế hoạch giáo dục học sinh của nhà trường và lớp học sinh.
Về hình thức tổ chức hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình thì nhà trường chú trọng việc phối hợp thông qua bảng thông báo của trường, lớp để thông tin, tuyên truyền đến phụ huynh. Bên cạnh đó, còn có ổ chức họp phụ huynh định kì cũng như tuyên truyền, phổ biến các điều luật, văn bản, thông tư, quy định, kế hoạch… về phối hợp nhà trường và cha mẹ học sinh.
Về công tác quản lý hoạt động hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình, các trường đã thực hiện kế hoạch nghiêm túc và thường xuyên trong việc xác định mục tiêu hoạt động phối hợp cụ thể phù hợp với điều kiện của nhà trường. Bên cạnh đó, các trường đã tổ chức thường xuyên và hiệu quả trong việc xây dựng cơ chế phối hợp với ban đại diện cha mẹ học sinh toàn trường, hướng dẫn cách thức tổ chức hoạt động phối hợp cho giáo viên chủ nhiệm. Đặc biệt, Hiệu trưởng các trường đã tích cực trong việc chỉ đạo xác định hình thức, biện pháp kiểm tra hoạt động động phối hợp, tổ chức kiểm tra, đánh giá theo từng loại kế hoạch hoạt động phối hợp. Ngoài ra, nhà trường cũng thực hiện kiểm tra đánh giá thường xuyên và theo tiêu chi rõ ràng.
2.6.2. Hạn chế
Tuy các giáo viên có nhiều thâm niên trong công tác thuộc lĩnh vực ngành giáo dục nhưng qua phỏng vấn sâu các giáo viên và Cán bộ quản lý người nghiên cứu được biết giáo viên đều cho rằng hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình có vai trò quan trọng, tuy nhiên họ chưa được tham gia đào tạo – bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ thuộc lĩnh vực phụ trách, các nội dung về phòng chống BLHĐ còn chưa cụ thể chỉ lồng ghép trong các tiết dạy môn đạo đức, ngoại khóa hay NGLL. Vậy chỉ có GVCN hay Tổng phụ trách thì mới có thời gian đi sâu và nghiên cứu sâu cũng như thuận lợi hơn trong việc phối hợp giữa nhà trường và gia đình cho HS. Đồng thời, học sinh các trường còn mang tính thụ động, còn làm việc riêng, tham gia một cách thụ động và chưa tích cực trong việc giúp đỡ bạn bè, thầy cô. Ngoài ra, về nhận thức: (1) Đối với nhận thức về mục tiêu, thì việc tuyên truyền, phổ biến kiến thức khoa học giáo dục tiểu học đến gia đình học sinh, nâng cao trách nhiệm của gia đình về giáo dục con cái chưa được sự quan tâm coi trọng trong các trường; (2) Đối với nhận thức về nội dung và hình thức tổ chức thì việc phối hợp quản lí học sinh học tập và rèn luyên ở gia đình, ngoài xã hội; phối hợp chăm lo đời sống tinh thần cho giáo viên chưa được thực hiện một cách thường xuyên. Luận văn: Thực trạng QL nhà trường và gia đình trong giáo dục.
Hạn chế về thực trạng quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình, bao gồm:
- Kế hoạch phối hợp giữa nhà trường và gia đình: Các trường chưa xác định lực lượng, điều kiện, kinh phí thực hiện và hỗ trợ hoạt động phối hợp, cũng như trình kế hoạch lên các cấp có thẩm quyền thẩm định, phê duyệt và ban hành.
- Tổ chức thực hiện kế hoạch phối hợp giữa nhà trường và gia đình: Các trường chưa thực hiện hiệu quả và thường xuyên về tổ chức các buổi chuyên đề, trao đổi kinh nghiệm trong hoạt động phối hợp; tổ chức, hướng dẫn vận động cha mẹ học sinh tham gia vào các hoạt động giáo dục của trường.
- Kiểm tra – đánh giá hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình: Việc thực hiện trong công tác kiểm tra chưa mang lại hiểu quả như: phân công lực lượng kiểm tra – đánh giá hoạt động phối hợp; Nhắc nhở, kiểm điểm những cá nhân chưa thực hiện tốt hoạt động phối hợp.
- Quản lý các điều kiện hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình: Cũng gặp một số yếu tố khó khăn như ban hành các văn bản và phương tiện phục vụ cho hoạt động phối hợp hay trách nhiệm của của các bộ phận khác trong nhà trường chưa được đánh giá cao.
2.6.3. Nguyên nhân
Những hạn chế trên có nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân từ phía nhà trường:
- Do nhận nhức của một số cán bộ giáo viên chưa đúng và đầy đủ về vai trò công tác phối hợp và quản lý sự phối hợp giữa Nhà trường – Gia đình trong công tác giáo dục học sinh, từ đó dẫn đến việc xem nhẹ vai trò và hiệu quả của công tác này.
- Do Cán bộ quản lý chưa có kế hoạch thực hiện, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra đánh giá thực hiện kế hoạch. Cán bộ giáo viên chưa thực hiện vai trò chủ đạo của nhà trường cũng như chưa tuyên truyền sâu rộng cho Phụ huynh học sinh nhận thức rõ ràng và đầy đủ về tầm quan trọng của công tác phối hợp Nhà trường – Gia đình trong giáo dục học sinh.
Có những nguyên nhân từ phía gia đình:
- Cha mẹ học sinh chưa nhận thức đúng về vai trò của hoạt động phối hợp giữa Nhà trường – Gia đình trong công tác giáo dục học sinh.
- Một số cha mẹ chưa quan tâm, còn khoán trắng công tác giáo dục học sinh cho nhà trường, còn ngại tiếp xúc với thầy cô giáo….. Trên cơ sở lý luận và thực trạng đã phân tích chúng tôi đã đề xuất một số biện pháp tăng cường quản lý sự phối hợp Nhà trường – Gia đình tại các trường Tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát tỉnh Bình Dương nhằm đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ của công tác quản lý trường học trong giai đoạn mới.
Tiểu kết chương 2 Luận văn: Thực trạng QL nhà trường và gia đình trong giáo dục.
Hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình và quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình cho học sinh trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát tỉnh Bình Dương, ngoài những kết quả đạt được song vẫn còn không ít những bất cập, yếu kém cần có những biện pháp khắc phục. Những hình thức và nội dung trong công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình ở nhà trường tiểu học chú trọng chưa thực sự đầy đủ. Các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát tỉnh Bình Dương đã có nhiều cố gắng củng cố bộ máy quản lý, cải tiến nội dung tuyên truyền hình thức phối hợp thông qua các hoạt động của Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Đội thiếu niên nhằm phát huy tính độc lập, sáng tạo, tự chủ của học sinh. Tuy nhiên, đội ngũ cán bộ giáo viên, chưa được bồi dưỡng về công tác phối hợp nên còn gặp khó khăn và lúng túng trong công việc là điều khó tránh khỏi.
Khâu xây dựng và thực hiện kế hoạch phối hợp giữa nhà trường và gia đình cho học sinh chưa sát thực tế, thiếu mục tiêu, nội dung, phương pháp cụ thể. Các hình thức, nội dung, biện pháp thực hiện còn mang nặng tính hình thức, nghèo nàn chưa thu hút được học sinh, thiếu linh hoạt, các hoạt động chưa đan xen, lồng ghép với nhau. Công tác kiểm tra, đánh giá được tiến hành chưa thường xuyên, thiếu quy định cụ thể. Việc khen thưởng, kỷ luật chưa kịp thời, chưa đầu tư cơ sở vật chất và tài chính thỏa đáng đối với các hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong công tác giáo dục học sinh. Vì thế, chưa đủ mạnh để động viên, khuyến khích các lực lượng tham gia công tác phối hợp này.
Qua đó, với những kết quả nghiên cứu trên, các biện pháp đề xuất được đưa ra nhằm khắc phục những hạn chế thiếu sót trong quá trình quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh tiểu học, góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy môn đạo đức, nâng cao ý thức cho học sinh, cũng như trong quá trình quản lý hoạt động phối hợp nhằm nâng cao đạo đức cho học sinh tại các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, Bình Dương được bảo đảm chất lượng, các biện pháp được trình bày đầy đủ trong chương 3, bao gồm mục tiêu, nội dung và cách thực hiện. Luận văn: Thực trạng QL nhà trường và gia đình trong giáo dục.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp QL nhà trường và gia đình trong giáo dục
