Luận văn: Biện pháp QL nhà trường và gia đình trong giáo dục

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Biện pháp QL nhà trường và gia đình trong giáo dục hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Biện pháp quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh tại các trường tiểu học thị xã Bến Cát, Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

3.1. Nguyên tắc đề xuất các biện pháp

3.1.1. Đảm bảo tính mục tiêu

Quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình cần có mục tiêu nhất định, người lãnh đạo phải đề ra được mục đích, yêu cầu của hoạt động trong từng kì và cả năm học để đạt tới mục tiêu bậc học và của toàn Ngành.

Các biện pháp cần phải nhằm vào việc hình thành và phát triển nhân cách của HS theo đúng mục tiêu giáo dục của cấp học, được thể hiện rõ trong mục tiêu giáo dục tổng thể, cũng như mục tiêu chương trình các môn học cụ thể. Nguyên tắc này đòi hỏi mục tiêu giáo dục của nhà trường phải là “thước đo”, là chuẩn để đánh giá hiệu quả các biện pháp.

Vì mục tiêu được phân thành nhiều cấp độ khác nhau (mục tiêu tổng quát, mục tiêu bộ phận) cho nên các biện pháp đề ra phải phân thành nhiều cấp theo tính chất quy mô của các hoạt động và theo từng giai đoạn cụ thể thì hiệu quả sẽ cao hơn.

3.1.2. Đảm bảo tính đồng bộ

Hệ thống quản lý nhà trường được hình thành từ các bộ phận chức năng, khi nghiên cứu, đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình cho HS cần có tính đồng bộ. Quá trình quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình thực tiễn chịu tác động của nhiều yếu tố, trong đó bao gồm những yếu tố chủ quan và những yếu tố khách quan. Vì vậy, việc đưa ra một số biện pháp quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình cho HS phải đồng bộ nhằm phát huy tốt những ảnh hưởng tích cực, hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của các yếu tố đó.

3.1.3. Đảm bảo tính thực tiễn và tính khả thi Luận văn: Biện pháp QL nhà trường và gia đình trong giáo dục.

Các biện pháp được thực hiện trong phạm vi điều kiện nguồn lực, vật lực, tài chính của nhà trường, phù hợp với yêu cầu, đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi học sinh, khả năng giáo viên và theo xu thế phát triển xã hội đất nước cũng nhưng theo xu hướng đổi mới giáo dục. Đồng thới, các biện pháp phải vận dụng được vào thực tiễn tại các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương.

3.1.4. Đảm bảo tính hiệu quả

Hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình cần được tổ chức phong phú, đa dạng, vì vậy, một mặt nhà trường nên tìm những hoạt động hấp dẫn để HS phát huy năng lực theo bản thân. Mặt khác, người Hiệu trưởng phải biết chỉ đạo tổ chức hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình để các em tự giác hoạt động phù hợp với tâm sinh lí lứa tuổi thì mới đem lại hiệu quả giáo dục cao.

Ngoài ra, hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình còn góp phần nâng cao, củng cố kiến thức đã học, phát triển năng lực cho HS đáp ứng yêu cầu xã hội về nguồn nhân lực và đáp ứng nhu cầu hoàn thiện nhân cách của HS.

3.1.5. Đảm bảo tính kế thừa

Các biện pháp khi đề xuất cần quan tâm đến tính kế thừa nhằm hoàn thiện quá trình dạy học cho học sinh nhà trường, đồng thời phát huy tính tích cực và giải quyết những tồn tại, hạn chế mà các cách làm, biện pháp trước kia chưa giải quyết được

3.2. Các biện pháp quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh tại các trường tiểu học thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương

3.2.1. Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý, giáo viên và cha mẹ học sinh về hoạt động phối hợp giữa nhà trường – gia đình

3.2.1.1 Mục tiêu của biện pháp

Biện pháp này nhằm làm cho cán bộ giáo viên, cha mẹ học sinh nhận thức được vai trò, tầm quan trọng và nhiệm vụ của hoạt động phối hợp giữa nhà trường với gia đình, từ đó ý thức được trách nhiệm của mình trong công tác phối hợp cùng giáo dục học sinh.

3.3.1.2. Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp Luận văn: Biện pháp QL nhà trường và gia đình trong giáo dục.

Qua phân tích thực trạng cho thấy, một bộ phận không nhỏ cán bộ giáo viên và cha mẹ học sinh chưa nhận thức đúng về vai trò cũng như nhiệm vụ của hoạt động phối hợp giữa nhà trường với gia đình dẫn đến thái độ còn thờ ơ, đùn đẩy, né tránh không tham gia vào các hoạt động phối hợp giữa nhà trường với gia đình. Vì vậy, để quản lý tổ chức hoạt động phối hợp giữa nhà trường với gia đình, Cán bộ quản lý trước hết cần phải nâng cao nhận thức của mình và tuyên truyền giải thích cho GV và Phụ huynh học sinh hiểu một cách sâu sắc về hoạt động phối hợp giữa Nhà trường – Gia đình, cần phải làm cho họ hiểu rằng: việc giáo dục học sinh không phải là việc riêng của nhà trường, của người thầy giáo hay chỉ là công việc của phụ huynh mà GV chỉ là người dạy chữ. Nhân cách của học sinh là sản phẩm của sự tổng hòa mối quan hệ phối hợp giữa nhà trường cùng với gia đình. Để phối hợp tốt giữa Nhà trường – Gia đình cần phải có mục tiêu phối hợp một cách cụ thể trong từng giai đoạn. Nhà trường với vai trò chủ đạo trong công tác phối hợp phải tích cực vận động gia đình phối hợp để tránh tình trạng còn e ngại, khi một số bậc cha mẹ còn ngại tiếp xúc với các thầy cô, nhất là cha mẹ của học sinh yếu kém.

Tuyên truyền về tầm quan trọng, vai trò, trách nhiệm của nhà trường và gia đình trong hoạt động phối hợp giữa nhà trường với gia đình. Từ đầu năm học, nhà trường cần phối hợp với ban đại diện cha mẹ học sinh, cùng đánh giá những mặt tốt và chưa làm tốt trong công tác phối hợp ở năm trước, từ đó tuyên truyền cho cha mẹ học sinh ngày càng hiểu sâu hơn về tầm quan trọng, vai trò, trách nhiệm của nhà trường và gia đình trong hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình để họ luôn tham gia phối hợp một cách chặt chẽ hơn trong công tác giáo dục học sinh. Song song đó, nhà trường còn thường xuyên phổ biến đến Cán bộ quản lý, giáo viên về vai trò, tầm quan trọng của hoạt động phối hợp giữa Nhà trường – Gia đình thông qua các buổi chuyên đề, thảo luận nhằm giúp nâng cao nhận thức của cả Cán bộ quản lý, giáo viên và cha mẹ học sinh về hoạt động phối hợp giữa Nhà trường – Gia đình.

Xác định và phổ biến mục tiêu phối hợp giữa nhà trường với gia đình trong giáo dục học sinh. Cứ mỗi đầu năm học, kế hoạch năm học được hiệu trưởng triển khai, ngoài việc phổ biến những nhiệm vụ chung cần làm nổi bật nội dung về xã hội hóa giáo dục, trong đó hoạt động phối hợp giữa nhà trường với gia đình học sinh cần được chú ý đưa vào thảo luận sâu sắc hơn. Hàng tháng ở tổ chủ nhiệm Cán bộ quản lý cần phổ biến mục đích yêu cầu, nội dung hoạt động phối hợp với cha mẹ học sinh trong tháng, nhằm giúp đội ngũ cán bộ giáo viên thông suốt, nâng cao tinh thần trách nhiệm trong công tác phối hợp. Đặc biệt trong những trường hợp giáo dục học sinh chưa ngoan, vi phạm đạo đức, thì việc phối hợp giữa nhà trường với gia đình càng phải được chú ý hơn. Đối với Cán bộ quản lý, giáo viên thì nhà trường cần xác định mục tiêu phối hợp giữa nhà trường với gia đình trong công tác giáo dục học sinh trong các cuộc họp chuyên môn hay hội đồng. Có những yêu cầu và các chỉ tiêu cụ thể về hoạt động phối hợp trong công tác chủ nhiệm tránh để giáo viên bằng lòng với cách phối hợp hiện tại vốn chưa hiệu quả.

Trao đổi, bàn bạc, thống nhất với cha mẹ học sinh về các chủ trương, mục tiêu, nội dung chương trình giáo dục. Tổ chức họp phụ huynh học sinh định kỳ theo qui định của Nhà trường, trong những trường hợp đặc biệt chủ động xin ý kiến Ban Giám hiệu Nhà trường để tổ chức họp đột xuất hoặc gặp riêng và trao đổi với từng phụ huynh học sinh để bàn bạc, trao đổi thông tin, nhằm đề ra những biện pháp khắc phục, uốn nắn kịp thời. Luận văn: Biện pháp QL nhà trường và gia đình trong giáo dục.

Vận động và tạo điều kiện cho gia đình tích cực tham gia các hoạt động phối hợp với nhà trường. Tích cực vận động gia đình trong công tác phối hợp để tránh tình trạng còn e ngại khi gia đình tiếp xúc với thầy cô giáo, nhất là cha mẹ học sinh yếu kém. Tác động đến gia đình về vấn đề ủng hộ tạo điều kiện cho sự phối hợp thông qua việc đóng góp quỹ Cha mẹ học sinh (Hội phí).

Phát huy vai trò của giáo viên chủ nhiệm trong hoạt động phối hợp. Theo đó, giáo viên chủ nhiệm là người trung gian trao đổi thông tin giữa Nhà trường và gia đình, thực hiện nhiệm vụ lĩnh hội và truyền đạt những chủ trương của Nhà trường đến với gia đình đồng thời thu nhận ý kiến, nguyện vọng của gia đình để báo cáo lại lãnh đạo Nhà trường. Qua đó gắn kết được trách nhiệm giữa Nhà trường và gia đình trong việc giáo dục học sinh. Lãnh đạo nhà trường cần có những chỉ đạo đảm bảo cho giáo viên chủ nhiệm nắm vững nhiệm vụ của họ trong công tác với gia đình học sinh cũng như làm cho giáo viên chủ nhiệm nắm vững các yêu cầu sư phạm của các hình thức phối hợp với gia đình học sinh. Cùng với đó, lãnh đạo nhà trường cũng cần nâng cáo năng lực công tác của giáo viên chủ nhiệm để họ có khả năng vận động, thuyết phục cha mẹ học sinh và biết gợi ý, định hướng hoạt động của Ban đại diện cha mẹ học sinh lớp.

Phát huy vai trò của Ban đại diện cha mẹ học sinh trường/lớp trong hoạt động phối hợp. Mời phụ huynh học sinh tham gia Hội phụ huynh học sinh Nhà trường nhằm phát huy tính tích cực của các bậc phụ huynh trong việc tham gia cùng Nhà trường để giáo dục con em mình. Ngoài ra, nhà trường giúp định hướng được chương trình, hình thức hoạt động phối hợp của Ban đại diện cha mẹ học sinh để phối hợp giáo dục học sinh và xây dựng nhà trường. Bầu cử được Ban đại diện cha mẹ học sinh cấp trường, cấp lớp nhiệt tình, có khả năng hoat động mang lại nhiều kế quả khả quan trong quá trình phối hợp. Qua đó đã thể hiện sự quan tâm sâu sát của Nhà trường, đồng thời tạo được sự tin tưởng của phụ huynh học sinh đối với Nhà trường khi con em mình được học tập ở tại trường.

Thống nhất các lực lượng giáo dục khác. Các lực lượng khác trong nhà trường cũng góp phần không nhỏ vào việc tổ chức và nâng cao chất lượng hoạt động như: Tổng phụ trách Đội qua các phong trào đã phản ánh kịp thời những hoạt động của từng học sinh cho giáo viên chủ nhiệm và ban giám hiệu làm cơ sở cho việc phối hợp giữa trường – gia đình được tốt hơn; Bộ phận thư viện chuẩn bị các tài liệu, sách vở có liên quan đến nội dung sẽ triển khai cho cha mẹ học sinh; bộ phận thiết bị chuẩn bị phương tiện kỹ thuật cho việc phối hợp… Để thực hiện được những vấn đề này đầu năm học hiệu trưởng cần giao trách nhiệm cho từng bộ phận trong nhà trường, cán bộ phụ trách phải có kế hoạch tham gia các hoạt động phối hợp với cha mẹ học sinh trong kế hoạch công tác của mình. Sức mạnh tổng hợp của các bộ phận trong nhà trường sẽ làm cho nội dung và hình thức phối hợp được phong phú, hiệu quả hơn.

3.2.2. Biện pháp 2: Đổi mới xây dựng kế họach, tổ chức hoạt động phối hợp giữa nhà trường – gia đình Luận văn: Biện pháp QL nhà trường và gia đình trong giáo dục.

  • Mục tiêu của biện pháp

Biện pháp này nhằm đảm bảo tính ổn định tương đối, tính hệ thống và tính hướng đích của các hoạt động. Đổi mới xây dựng kế hoạch, chương trình hoạt động phối hợp giữa Nhà trường – Gia đình gắn liền với kế hoạch quản lý chung của nhà trường được hội đồng nhà trường thông qua vào mỗi đầu năm học. Qua kết quả khảo sát và phân tích thực trạng việc xây dựng kế hoạch phối hợp ở phần trên, tác giả nhận thấy rằng: hầu hết các trường chưa xây dựng kế hoạch phối hợp một cách chu đáo và phù hợp, mà chỉ đề ra một số công việc sẽ thực hiện như là: Họp cha mẹ học sinh, thỉnh thoảng gởi thông báo, sổ liên lạc cho cha mẹ học sinh…, nên hiệu quả phối hợp chưa cao. Vì vậy các trường cần xây dựng kế hoạch năm có nội dung và phương pháp phù hợp cho sự phối hợp giữa nhà trường với gia đình. Kế hoạch phối hợp không rườm rà, phải cụ thể, thực tế, khoa học, phải khả thi thể hiện các hoạt động cụ thể qua từng giai đoạn phối hợp và phù hợp với đối tác cần phối hợp với nhà trường.

  • Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp

Nội dung và hình thức hoạt động phối hợp giữa nhà trường với gia đình rất đa dạng, vì vậy để đảm bảo cho công tác quản lý sự phối hợp, tổ chức thực hiện nhiều hoạt động mang lại hiệu quả cao, người hiệu trưởng cần phải tăng cường chỉ đạo các bộ phận trong nhà trường, đặc biệt là tổ chủ nhiệm, tổ chức tốt các hoạt động phối hợp.

Xây dựng kế hoạch hoạt động phối hợp giữa nhà trường- gia đình phù hợp điều kiện của trường và địa phương. Theo đó vào đầu mỗi năm học, lãnh đạo nhà trường căn cứ vào tình hình thực tế của nhà trường và địa phương để xây dựng kế hoạch hoạt động phối hợp một cách phù hợp nhất, đáp ứng nhiệm vụ giáo dục của từng năm học, và nhiệm vụ chính trị của từng địa phương. Có nội dung phối hợp cụ thể phù hợp với điều kiện của nhà trường, phù hợp với tập quán và điều kiện sinh hoạt của cha mẹ học sinh. Những trường ở khu vực trung tâm huyện thì nhà trường nhận được sự hỗ trợ từ gia đình học sinh về Hội phí hội phụ huynh nhiều hơn so với các trường ở xã, sự giúp đỡ từ phía chính quyền địa phương cũng có phần khác nhau, từ đó nhà trường sẽ căn cứ vào nguồn hỗ trợ từ phía phụ huynh để lên kế hoạch tổ chức một số hoạt động lễ hội với quy mô khác nhau giữa các trường. Ngoài ra các trường có học sinh là con công nhân viên chức chiếm đa số thì quá trình phối hợp, trao đổi giữa giáo viên chủ nhiệm và phụ huynh học sinh cũng được diễn ra một cách dễ dàng hơn so với các trường có phụ huynh học sinh là công nhân lao động. Luận văn: Biện pháp QL nhà trường và gia đình trong giáo dục.

Thành lập ban chỉ đạo hoạt động phối hợp giữa nhà trường- gia đình. Để cho hoạt động phối hợp giữa nhà trường với gia đình được chặt chẽ, thiết thực, thu hút phụ huynh học sinh tham gia, hiệu trưởng cần chỉ đạo tổ chủ nhiệm tăng cường tổ chức các hình thức, nội dung phù hợp với cha mẹ học sinh như: Tổ chức định kỳ các cuộc họp cha mẹ học sinh ở lớp, trường. Thành lập Ban đại diện cha mẹ học sinh ở trường, lớp ngay từ đầu năm học, thường xuyên phối hợp để tìm cách giải quyết những khó khăn. Giáo viên chủ nhiệm thường xuyên gởi tin nhắn vnedu, đi thăm gia đình học sinh hoặc điện thoại, đưa các yêu cầu cho cha mẹ học sinh để giáo dục con em tìm hiểu các hòan cảnh khó khăn, cá biệt. Bên cạnh đó, thực hiện nghiêm túc việc gởi sổ liên lạc cho gia đình học sinh đúng thời gian quy định và xem xét, giải quyết các ý kiến nếu thấy phù hợp của phụ huynh học sinh gởi đến.

Phân công nhiệm vụ cụ thể cho các thành viên, Cán bộ quản lý và GV thực hiện. Ngay từ đầu năm hiệu trưởng trên cơ sở kế hoạch đã đề ra thì tiến hành phân công nhiệm vụ phối hợp cụ thể cho giáo viên thực hiện. Triển khai kế hoạch và thường xuyên theo dõi có sơ kết tổng kết để rút ra những kết quả đạt được. Tổ chủ nhiệm có vai trò quan trọng trong việc thực hiện các nội dung và đảm bảo tính đa dạng của các hình thức hoạt động. Vì vậy, trên cơ sở kế hoạch hoạt động phối hợp giữa nhà trường với gia đình đã được thông qua từ đầu năm học, Hiệu trưởng phân công trách nhiệm cho tổ và từng giáo viên chủ nhiệm trong việc tổ chức các hoạt động phối hợp giữa nhà trường với gia đình phù hợp với đặc thù của từng năm học, từng khối lớp. Trong kế hoạch năm học của tổ chủ nhiệm, phải có nội dung thực hiện công tác phối hợp với cha mẹ học sinh.

Sắp xếp bố trí thời gian phù hợp để tiến hành hoạt động phối hợp giữa nhà trường với gia đình. Hằng năm các trường đều sắp xếp 3 khoảng thời gian cố định: đầu năm học, cuối học kì 1, cuối năm học để thông qua các kế hoạch hay vấn đề liên quan cần phổ biến vào các khoảng thời gian này. Ngoài khoảng thời gian cố định được nhà trường sắp xếp thì giáo viên chủ nhiệm còn có thể phối hợp với phụ huynh về các vấn đề liên quan đến giáo dục học sinh vào các khoảng thời gian như sau giờ học, hay trao đổi qua điện thoại về tình hình HS tại trường để tìm hướng giúp các em tốt hơn.

Tổ chức đa dạng phương thức phối hợp giữa nhà trường- gia đình. Hàng ngày các bộ phận của nhà trường kịp thời thông báo cho cha mẹ học sinh những trường hợp cần thiết qua thư từ, email, mạng xã hội hay điện thoại trực tiếp để phụ huynh kịp thời phối hợp với nhà trường giáo dục học sinh. Hàng tuần có tổng kết lớp, tổng kết tuần qua tiết sinh hoạt lớp. Hàng tháng, hiệu trưởng có cuộc họp với tổ chủ nhiệm để nắm tình hình giáo dục học sinh và nhắc nhở giáo viên chủ nhiệm thông báo qua tin nhắn, qua sổ liên lạc cho cha mẹ học sinh biết về tình hình học tập và rèn luyện của con em họ. Mỗi học kỳ có cuộc họp toàn thể phụ huynh, nhằm sơ kết hoạt động phối hợp, rút kinh nghiệm các mặt chưa tốt và phát huy những mặt tích cực, động viên khen thưởng những giáo viên chủ nhiệm có hoạt động phối hợp tốt với gia đình, cùng với kết quả giáo dục học sinh tốt. Để thực hiện tốt các nội dung cần phải có sự thống nhất cao từ Ban giám hiệu đến mọi thành viên trong nhà trường.

Tổ chức, hướng dẫn vận động cha mẹ học sinh tích cực tham gia vào các hoạt động giáo dục của trường. Hướng dẫn, giúp đỡ cho cha mẹ học sinh nắm được những kinh nghiệm giáo dục; đặc điểm tâm lý lứa tuổi học sinh tiểu học; mục đích, nội dung và nhiệm vụ giáo dục con em trong gia đình; cách thức tổ chức quá trình giáo dục con em ở nhà; các biện pháp kích thích học tập… thông qua diễn đàn hay các buổi tọa đàm. Ngoài ra, nhà trường còn vận động cha mẹ học sinh tham gia vào các hoạt động ngoại khóa của nhà trường như: về nguồn, hỗ trợ học sinh trong các cuộc thi về văn nghệ, câu lạc bộ tiếng anh,…

Đối mới hoạt động của ban đại diện cha mẹ học sinh trường và lớp. Mời phụ huynh học sinh đến trường, đến lớp ở cương vị khách tham dự nhân dịp các lễ hội của trường, báo cáo kết quả giảng dạy hoặc tùy theo điều kiện và khả năng của phụ huynh tham gia vào tổ chức vui choi, học tập, hoạt động ngoài giờ lên lớp là việc cần phải làm nhiều hơn hiện nay.

  • Theo dõi, giám sát hoạt động phối hợp. Luận văn: Biện pháp QL nhà trường và gia đình trong giáo dục.

Sơ kết, tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm về hoạt động phối hợp. Việc kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động phối hợp giữa nhà trường với gia đình có thể thực hiện từ trên xuống của hiệu trưởng, kiểm tra qua đánh giá thi đua của tổ, kiểm tra, đánh giá thông qua họat động phối hợp của các tổ chức khác theo từng mục tiêu, giai đoạn cụ thể. Sơ kết, tổng kết để đánh giá về hiệu quả công tác phối hợp để tìm ra những nguyên nhân thành công, nguyên nhân hạn chế nhằm thực hiện tốt công tác phối hợp. Từ đó có biện pháp động viên, khuyến khích, khen thưởng thường xuyên và kịp lúc cũng như có các biện pháp điều chỉnh các sai lệch trong quá trình phối hợp thông qua họp Hội đồng nhà trường để GV có hướng điều chỉnh cho phù hợp.

3.2.3. Biện pháp 3:Chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm thực hiện hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình theo từng lớp học

  • Mục tiêu của biện pháp

Biện pháp này nhằm nâng cao hiệu quả quản lý của nhà trường trong việc chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm thực hiện hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình theo từng lớp học. Lựa chọn bố trí những thành viên có năng lực phối hợp giữa nhà trường-gia đình để làm công tác chủ nhiệm, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng thành viên trong hội đồng nhà trường, kịp thời điều chỉnh củng cố lực lượng phối hợp trong từng giai đoạn.

  • Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp

Chỉ đạo GVCN lập kế hoạch phối hợp với gia đình học sinh. Theo đó, GVCN dựa theo kế hoạch chung của nhà trường về công tác phối hợp với gia đình học sinh để định hướng cho kế hoạch cụ thể riêng sao cho phù hợp với đặc điểm tình hình lớp về những thuận lợi, khó khăn, tình hình học tập của học sinh,…

Chỉ đạo GVCN thực hiện phối hợp với ban đại diện cha mẹ học sinh lớp chủ nhiệm. Theo đó, hiệu trưởng đề ra những quy định cụ thể, thống nhất tùy theo tình hình thực tế của trường, địa phương, theo kinh nghiệm của tập thể nhà trường nhằm đảm bảo các GVCN thực hiện các hình thức phối hợp có nề nếp. Luận văn: Biện pháp QL nhà trường và gia đình trong giáo dục.

Chỉ đạo GVCN tổ chức các kì họp định kì với cha mẹ học sinh. Theo kế hoạch chung của nhà trường, định kỳ tổ chức các cuộc họp cha mẹ học sinh lớp, có thể kết hợp tổ chức tọa đàm. Nội dung họp phụ huynh học sinh lớp phải tập trung bàn sâu, bàn kỹ về biện pháp giáo dục học sinh.

Chỉ đạo GVCN xây dựng mối quan hệ giao tiếp ứng xử với gia đình học sinh. Bồi dưỡng năng lực giao tiếp ứng xử với gia đình cho giáo viên chủ nhiệm. Giao tiếp với phụ huynh học sinh một cách có văn hóa, đánh giá học sinh công bằng, lôi cuốn cha mẹ học sinh vào việc hướng dẫn học sinh sử dụng thời gian ở nhà hợp lý.

Chỉ đạo, hướng dẫn GVCN sử dụng các công cụ công nghệ thông tin trong quá trình phối hợp. Theo đó, lãnh đạo nhà trường tập huấn hướng dẫn giáo viên chủ nhiệm sử dụng phần mềm VnEdu hoặc sử dụng mail, zalo, facebook,…

Tổ chức trao đổi kinh nghiệm phối hợp với gia đình của giáo viên chủ nhiệm có kinh nghiệm với giáo viên mới chủ nhiệm. Chẳng hạn, thảo luận các đề tài kinh nghiệm trong giao tiếp với cha mẹ học sinh; biện pháp phối hợp quản lý học sinh học ở nhà; biện pháp phối hợp giáo dục học sinh.

Động viên khen thưởng kịp thời những gương GVCN phối hợp tốt thông qua các hình thức như tuyên dương, khen thưởng khích lệ,…

3.2.4. Biện pháp 4: Tăng cường nguồn lực cho công tác phối hợp Luận văn: Biện pháp QL nhà trường và gia đình trong giáo dục.

  • Mục tiêu của biện pháp

Biện pháp này nhằm đảm bảo và tăng cường hoạt động phối hợp, khắc phục những tồn tại về nhân lực mà qua khảo sát đã thể hiện. Nguồn lực con người là điều kiện tiên quyết để thực hiện kế hoạch phối hợp giữa nhà trường-gia đình đã đề ra, phải xây dựng đội ngũ giáo viên chủ nhiệm nhiệt tình, có kiến thức và năng lực thực hiện một cách tốt nhất những nhiệm vụ mà lãnh đạo nhà trường phân công.

  • Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp

Lực lượng nòng cốt: Ban giám hiệu và giáo viên chủ nhiệm. Xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên chủ nhiệm là việc làm cần thiết và thường xuyên, nhằm giúp họ có những kỹ năng giao tiếp, nghệ thuật ứng xử, tuyên truyền vận động, từ đó thu hút được sự phối hợp của phụ huynh học sinh tham gia vào hoạt động giáo dục học sinh mà nhà trường đã đề ra. Hiệu trưởng là người thường xuyên nhắc nhở và động viên đội ngũ cán bộ giáo viên trong nhà trường nhận thức đúng về vai trò nhiệm vụ phối hợp, xem đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của người thầy. Cụ thể là:

  • Xây dựng kế hoạch chiến lược xác định tầm nhìn, sứ mệnh của nhà trường.

Phối hợp xây dựng cơ sở vật chất, cung cấp các trang thiết bị cần thiết phục vụ dạy và học. Mỗi năm nhà trường đều tiến hành kiểm kê tài sản, cơ sở vật chất của từng lớp để kịp thời điều chỉnh cho phù hợp. Ngoài ra, giáo viên chủ nhiệm và nhà trường còn có thể vận động phụ huynh trường, lớp ủng hộ thêm cái trang thiết bị cần thiết phục vụ cho dạy và học.

Phối hợp công tác đảm bảo an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội trong và ngoài nhà trường. Kết hợp với Công an thị xã Bến Cát sinh hoạt về an toàn giao thông cho học sinh và phụ huynh, kết hợp với dân quân địa phương thường xuyên chốt chặn khu vực trước cổng trường để tránh các trường hợp trộm cướp, buôn bán trước cổng trường,…

Bổ sung kịp thời những cán bộ có năng lực phối hợp tốt vào ban chỉ đạo. Lựa chọn cán bộ, giáo viên có năng lực phối hợp tốt để làm nòng cốt cho hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình.

Bồi dưỡng cho cán bộ quản lí, giáo viên đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của công tác phối hợp. Bổ sung kịp thời những cán bộ có năng lực phối hợp tốt vào ban chỉ đạo hay tham dự các lớp tập huấn về quản lý.

Phát huy vai trò của ban chỉ đạo hoạt động phối hợp giữa nhà trường-gia đình. Bồi dưỡng kiến thức tâm lý và kỹ năng ứng xử cho giáo viên chủ nhiệm. Tạo điều kiện cho cán bộ giáo viên đi học về quản lý, về tâm lý sư phạm, tâm lý giao tiếp…, để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của công tác phối hợp. Luận văn: Biện pháp QL nhà trường và gia đình trong giáo dục.

Tổ chức trao đổi kinh nghiệm phối hợp với gia đình của giáo viên chủ nhiệm có kinh nghiệm với giáo viên mới chủ nhiệm thông qua việc họp các khối lớp với nhau.

Tạo nguồn kinh phí cho hoạt động phối hợp: từ quỹ Hội cha mẹ học sinh, Hội khuyến học, Hội cựu giáo chức, … Ngoài ra, cần tạo điều kiện cho cán bộ giáo viên đi học tập về quản lý,về tâm lý sư phạm, tâm lý giao tiếp… để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của công tác phối hợp vào các ngày cuối tuần hay hổ trợ kinh phí bồi dưỡng để thầy cô tự trang bị thêm kiến thức cho bản thân. Tham mưu cho cấp ủy, chính quyền, phối hợp với các ban ngành đoàn thể, các tổ chức xã hội, cha mẹ học sinh nhằm tăng cường nguồn lực về tài chính, tăng cường cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ cho hoạt động phối hợp giữa nhà trường với gia đình để góp phần nâng cao chất lượng giáo dục nói chung.

3.2.5. Biện pháp 5: Kiểm tra đánh giá hoạt động phối hợp giữa nhà trường – gia đình trong giáo dục học sinh

  • Mục tiêu của biện pháp

Trong hoạt động quản lý, công tác kiểm tra là hoạt động rất quan trọng giúp cho người quản lý nắm bắt được một cách chính xác những thông tin phản hồi từ đối tượng quản lý, nắm được diễn biến công việc trong tổ chức, từ đó có những chỉ đạo thích hợp. Qua phân tích thực trạng cho thấy, các nhà trường thực hiện có phần hạn chế việc kiểm tra trong tổ chức hoạt động phối hợp, nếu có kiểm tra thì chủ yếu nhằm vào kết quả thực hiện của giáo viên chủ nhiệm để đánh giá thi đua, vì vậy Cán bộ quản lý cần phải tăng cường kiểm tra ngay từ bước xây dựng kế hoạch phối hợp giữa nhà trường gia đình của giáo viên chủ nhiệm cho đến việc thực hiện nhiệm vụ phối hợp và kết quả phối hợp để kịp thời uốn nắn và động viên.

Qua kiểm tra đánh giá, đảm bảo sự thành công của kế hoạch, phát hiện kịp thời những sai sót, tìm ra nguyên nhân và biện pháp sửa chữa kịp thời, đồng thời là căn cứ, cơ sở quan trọng để rút kinh nghiệm, xây dựng cho kế hoạch tiếp theo, dự kiến quyết định bước phát triển mới.

  • Nội dung và cách thức thực hiện biện pháp Luận văn: Biện pháp QL nhà trường và gia đình trong giáo dục.

Để quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường với gia đình một cách có hiệu quả, người hiệu trưởng cần tăng cường công tác kiểm tra, cần chú ý kiểm tra vào toàn bộ quá trình từ khâu xây dựng kế hoạch, chuẩn bị, đến triển khai hoạt động. Kiểm tra có kế hoạch định kỳ, kiểm tra thường xuyên, kiểm tra đột xuất. Kiểm tra qua hồ sơ sổ sách của chủ nhiệm, qua hoạt động thực tiển, qua sự phản ánh của cha mẹ học sinh.

Khác với hoạt động dạy và học trên lớp, hoạt động phối hợp giữa Nhà trường – Gia đình đa dạng và phong phú, không có chuẩn chung cho mọi hoạt động, nên để kiểm tra hoạt động này phải dựa vào kế hoạch thống nhất chung cho toàn trường từ năm học, phải có tiêu chí, chuẩn mực cụ thể cho từng hoạt động, có thể định tính, định lượng hoặc sự thừa nhận của tập thể, của cha mẹ học sinh, của xã hội trong những điều kiện, hoàn cảnh cụ thể. Việc kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động phối hợp giữa nhà trường với gia đình có thể thực hiện từ trên xuống của hiệu trưởng, kiểm tra qua đánh giá thi đua của tổ, kiểm tra, đánh giá thông qua họat động phối hợp của các tổ chức khác theo từng mục tiêu, giai đoạn cụ thể.

Biện pháp động viên, khuyến khích, khen thưởng là biện pháp hỗ trợ cho công tác kiểm tra. Động viên khen thưởng nhằm tôn vinh những thành quả của sự phối hợp, khích lệ các lực lượng phối hợp, từ đó nhân rộng điển hình để cho việc tốt ngày các lan tỏa, hạn chế những tồn tại. Ngoài cách động viên khen thưởng thì cũng rất cần biện pháp điều chỉnh những sai lệch một cách kịp thời.

  • Để quản ký kiểm tra đánh giá được tốt cần thực hiện qua các vấn đề sau:

Ban chỉ đạo có kế hoạch kiểm tra, kiểm tra theo định kỳ về công tác phối hợp đưa xuống cho các thành viên theo dõi và thực hiện. Việc kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động phối hợp giữa nhà trường với gia đình có thể thực hiện từ trên xuống của hiệu trưởng, kiểm tra qua đánh giá thi đua của tổ, kiểm tra, đánh giá thông qua họat động phối hợp của các tổ chức khác theo từng mục tiêu, giai đoạn cụ thể.

  • Có sơ kết, tổng kết để đánh giá về hiệu quả công tác phối hợp để tìm ra những nguyên nhân thành công, nguyên nhân hạn chế nhằm thực hiện tốt công tác phối hợp.
  • Có biện pháp động viên, khuyến khích, khen thưởng thường xuyên và kịp lúc.
  • Có biện pháp điều chỉnh các sai lệch trong quá trình phối hợp thông qua họp Hội đồng nhà trường, từ đó GV có hướng điều chỉnh cho phù hợp.
  • Có các biện pháp nhân rộng những điển hình tốt trong công tác phối hợp thông qua các buổi tọa đàm hay các chuyên đề về phối hợp.

3.3. Mối quan hệ giữa các biện pháp Luận văn: Biện pháp QL nhà trường và gia đình trong giáo dục.

Các biện pháp được đề xuất trên cơ sở lý luận và thực tiễn của quá trình quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh tại các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, tỉnh Bình Dương, chính vì vậy, mỗi biện pháp vừa là nguyên nhân cũng vừa là kết quả của biện pháp kia ảnh hưởng đến sự hiệu quả trong công tác quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh, các biện pháp phải thực hiện đồng bộ để đảm bảo kính khả thi và khoa học giải quyết được những tồn tại từ thực tiễn.

Mỗi biện pháp đều có những vị trí, vai trò nhất định trong quá trình quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình. Tuy nhiên, không có biện pháp nào là vạn năng, mỗi biện pháp đều có ưu điểm và những hạn chế nhất định. Đồng thời mỗi biện pháp quản lý phải được thực hiện trong những điều kiện nhất định. Khi giải quyết một nhiệm vụ quản lý, người ta thường phải vận dụng và phối hợp nhiều biện pháp để giải quyết, phải tùy theo công việc, con người, điều kiện, hoàn cảnh cụ thể mà lựa chọn và kết hợp các biện pháp quản lý thích hợp. Bởi vì các biện pháp quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.

Việc thực hiện tốt biện pháp này sẽ là tiền đề để thực hiện có hiệu quả các biện pháp khác và ngược lại. Vì vậy, cần đảm bảo được tính đồng bộ trong việc tổ chức thực hiện các biện pháp đã nêu trong các trường tiểu học. Mỗi biện pháp sẽ có ít ý nghĩa khi được thực hiện đơn lẻ.

Ngoài ra, Hiệu trưởng cần quan tâm và thực hiện đồng bộ các biện pháp đã được đề xuất trong luận văn này bao gồm:

  • Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý, giáo viên và cha mẹ học sinh về hoạt động phối hợp giữa nhà trường – gia đình.
  • Biện pháp 2: Chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm thực hiện hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình theo từng lớp học.
  • Biện pháp 3: Đổi mới xây dựng kế họach, tổ chức hoạt động phối hợp giữa nhà trường – gia đình.
  • Biện pháp 4: Tăng cường nguồn lực cho công tác phối hợp.
  • Biện pháp 5: Kiểm tra đánh giá hoạt động phối hợp giữa nhà trường – gia đình trong giáo dục học sinh.

Các biện pháp nêu trên có tác động qua lại, ảnh hưởng lẫn nhau, hỗ trợ và bổ sung cho nhau trong quá trình quản lý. Nếu các nhà quản lý vận dụng tốt thì tác động của các biện pháp sẽ là tích cực, nếu thực hiện không khéo thì tác động sẽ trở thành tiêu cực đến kết quả của quá trình thực hiện quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh.

3.4. Khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp

3.4.1. Mục tiêu khảo sát Luận văn: Biện pháp QL nhà trường và gia đình trong giáo dục.

  • Nhằm đánh giá tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất.

3.4.2. Đối tượng và phương pháp khảo sát

  • Đối tượng: Cán bộ quản lý và GV các trường tiểu học tại thị xã Bến Cát
  • Số lượng: 200 người, trong đó có 22 Cán bộ quản lý và 178 GV
  • Thời gian khảo nghiệm: các phiếu điều tra được phát ra trong học kì II năm học 2025-2026.
  • Phương pháp khảo sát: lấy ý kiến bằng bảng hỏi xử lí số liệu (tính điểm trung bình các biện pháp được đánh giá và xếp hạng thứ bậc)

Cách đánh giá: Để xử lý số liệu và đánh giá các nội dung khảo sát từ phương pháp điều tra bằng bảng hỏi, tác giả quy ước thang thứ bậc và thang định khoảng theo 4 mức độ tương ứng từ 1 – 4 như sau:

  • Bảng 3.1. Quy ước xử lý thông tin

3.4.3. Kết quả khảo sát

Bảng 3.2. Kết quả khảo sát mức độ cần thiết của các biện pháp quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình tại các trường tiểu học

  • Đối với biện pháp 1: Nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý, giáo viên và cha mẹ học sinh về hoạt động phối hợp giữa nhà trường – gia đình.

Qua bảng số liệu 3.2 chúng tôi có thể nhận định rằng mức độ cần thiết đến rất cần thiết cho công tác hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình và quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình (ĐTB từ 2.96 đến 3.68). Cụ thể: Có đến 78% số người được khảo sát cho rằng nội dung “Tuyên truyền về tầm quan trọng, vai trò, trách nhiệm của nhà trường và gia đình trong hoạt động phối hợp giữa nhà trường với gia đình” là cần thiết. Nội dung “Xác định và phổ biến mục tiêu phối hợp giữa nhà trường với gia đình trong giáo dục học sinh” (69.5%); nội dung “Trao đổi, bàn bạc, thống nhất với cha mẹ học sinh về các chủ trương, mục tiêu, nội dung chương trình giáo dục” (80%); nội dung “Vận động và tạo điều kiện cho gia đình tích cực tham gia các hoạt động phối hợp với nhà trường” (98%); nội dung “Phát huy vai trò của giáo viên chủ nhiệm trong hoạt động phối hợp” (77.5%); nội dung “Phát huy vai trò của Ban đại diện cha mẹ học sinh trường/lớp trong hoạt động phối hợp (87%) và nội dung “Phát huy vai trò của giáo viên chủ nhiệm trong hoạt động phối hợp” (66%).

Như vậy, phần lớn GV và Cán bộ quản lý đều có nhu cầu Nâng cao nhận thức cho Cán bộ quản lý, giáo viên và cha mẹ học sinh về hoạt động phối hợp giữa Nhà trường – Gia đình tại trường tiểu học để thấy được những mặt tích cực của công tác này trong việc góp phần nâng cao chất lượng giáo dục nói chung.

  • Đối với biện pháp 2: Chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm thực hiện hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình theo từng lớp học. Luận văn: Biện pháp QL nhà trường và gia đình trong giáo dục.

Các nội dung mà chúng tôi đưa ra trong biện pháp này được đánh giá ở mức độ cần thiết và rất cần thiết cho công tác hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình và quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình (ĐTB từ 2.87 đến 3.42). Cụ thể: “Lựa chọn, phân công giáo viên chủ nhiệm có năng lực thực hiện hoạt động phối hợp Nhà trường – Gia đình” với 85.5% là cần thiết và rất cần thiết; nội dung “Chỉ đạo GVCN lập kế hoạch phối hợp với gia đình học sinh” (63%); “Chỉ đạo GVCN thực hiện phối hợp với ban đại diện cha mẹ học sinh lớp chủ nhiệm” (78.5%); “Chỉ đạo GVCN tổ chức các kì họp định kì với cha mẹ học sinh” (94%); “Chỉ đạo GVCN xây dựng mối quan hệ giao tiếp ứng xử với gia đình học sinh” (83%); “Chỉ đạo, hướng dẫn GVCN sử dụng các công cụ công nghệ thông tin trong quá trình phối hợp” (65.5%); “Bồi dưỡng năng lực giao tiếp ứng xử với gia đình cho giáo viên chủ nhiệm” (85%); “Tổ chức trao đổi kinh nghiệm phối hợp với gia đình của giáo viên chủ nhiệm có kinh nghiệm với giáo viên mới chủ nhiệm” (83%) và “Động viên khen thưởng kịp thời những gương GVCN phối hợp tốt” (61.5%).

Như vậy, công tác thỉ đạo giáo viên chủ nhiệm thực hiện hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình theo từng lớp học thật sự cần thiết và phải được thực hiện một cách đồng bộ tại các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát.

  • Đối với biện pháp 3: Đổi mới xây dựng kế họach, tổ chức hoạt động phối hợp giữa nhà trường – gia đình.

Để thực hiện biện pháp này, nhà trường cần: Xây dựng kế hoạch hoạt động phối hợp giữa nhà trường- gia đình phù hợp điều kiện của trường và địa phương; Thành lập ban chỉ đạo hoạt động phối hợp giữa nhà trường- gia đình; Phân công nhiệm vụ cụ thể cho các thành viên, cán bộ quản lý và giáo viên thực hiện; Sắp xếp bố trí thời gian phù hợp để tiến hành hoạt động phối hợp giữa nhà trường với gia đình; Tổ chức đa dạng phương thức phối hợp giữa nhà trường-gia đình; Tổ chức, hướng dẫn vận động cha mẹ học sinh tích cực tham gia vào các hoạt động giáo dục của trường; Đối mới hoạt động của ban đại diện cha mẹ học sinh trường và lớp; Theo dõi, giám sát hoạt động phối hợp; Sơ kết, tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm về hoạt động phối hợp.

Các nội dung chúng tôi đưa ra trong biện pháp này được đánh giá ở mức độ cần thiết và rất cần thiết cho công tác hoạt động phối hợp giữa Nhà trường – Gia đình và quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà Nhà trường – Gia đình (với ĐTB từ 3.21 đến 3.54). Trong số khách thể mà chúng tôi khảo sát, có rất ít GV, Cán bộ quản lý cho rằng những vấn đề chúng tôi đưa ra là ít cần thiết (chiếm 1.5% đến 18.5%) và không có GV, Cán bộ quản lý cho rằng các vấn đề chúng tôi đưa ra là không cần thiết.

  • Đối với biện pháp 4: Tăng cường nguồn lực cho công tác phối hợp.

Qua bảng 3.2 chúng tôi nhận thấy các biện pháp đề xuất được đánh giá ở mức độ cần thiết và rất cần thiết cho công tác phối hợp giữa Nhà trường – Gia đình và quản lý hoạt động phối hợp giữa Nhà trường – Gia đình (ĐTB từ 3.12 đến 3.54). Cụ thể, nội dung “Xây dựng kế hoạch chiến lược xác định tầm nhìn, sứ mệnh của nhà trường” (90%); “Phối hợp xây dựng cơ sở vật chất, cung cấp các trang thiết bị cần thiết phục vụ dạy và học” (83.5%); “Phối hợp công tác đảm bảo an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội trong và ngoài nhà trường” (85%); “Bổ sung kịp thời những cán bộ có năng lực phối hợp tốt vào ban chỉ đạo” (83.5%); “Phát huy vai trò của ban chỉ đạo hoạt động phối hợp giữa nhà trường với gia đình” (82.5%); “Bồi dưỡng cho cán bộ quản lý, giáo viên đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của công tác phối hợp” (71%) và “Cần tạo nguồn kinh phí cho hoạt động phối hợp” (91.5%). Luận văn: Biện pháp QL nhà trường và gia đình trong giáo dục.

  • Đối với biện pháp 5: Kiểm tra đánh giá hoạt động phối hợp giữa nhà trường – gia đình trong giáo dục học sinh.

Các nội dung chúng tôi đưa ra trong biện pháp này được đánh giá ở mức độ từ cần thiết đến rất cần thiết cho hoạt động phối hợp giữa Nhà trường – Gia đình và quản lý hoạt động phối hợp giữa Nhà trường – Gia đình (ĐTB từ 2.96 đến 3.54). Cụ thể: nội dung “Ban chỉ đạo có kế hoạch kiểm tra, kiểm tra theo định kỳ về công tác phối hợp” (87%); “Có sơ kết, tổng kết để đánh giá về hiệu quả công tác phối hợp để tìm ra những nguyên nhân thành công, nguyên nhân hạn chế hạn chế” (75%); “Có biện pháp động viên, khuyến khích, khen thưởng thường xuyên và kịp lúc” (91.5%); “Có biện pháp điều chỉnh các sai lệch trong quá trình phối hợp” (66%) và “Có các biện pháp nhân rộng những điển hình tốt trong công tác phối hợp” (71.5%)

Như vậy, các biện pháp quản lý hoạt động phối hợp giữa Nhà trường – Gia đình tại các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát tỉnh Bình Dương mà chúng tôi đề xuất được đa số Cán bộ quản lý và GV đánh giá ở mức cần thiết và rất cần thiết là cao.

  • Kết quả khảo sát tính khả thi của các biện pháp

Để có cơ sở đánh giá tính khả thi của các biện pháp đề xuất, chúng tôi tiến hành lấy ý kiến của GV và Cán bộ quản lý các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát. Kết quả khảo sát được ghi nhận trong bảng 3.3 dưới đây:

Bảng 3.3. Kết quả khảo sát tính khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình tại các trường tiểu học

  • Đối với biện pháp 1: Nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý, giáo viên và cha mẹ học sinh về hoạt động phối hợp giữa nhà trường – gia đình.

Theo số liệu bảng 3.3 chúng tôi có thể nhận định rằng mức độ khả thi đến rất khả thi cho công tác hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình và quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình (ĐTB từ 2.94 đến 3.64). Cụ thể: Có đến 73.5% số người được khảo sát cho rằng “Tuyên truyền về tầm quan trọng, vai trò, trách nhiệm của nhà trường và gia đình trong hoạt động phối hợp giữa nhà trường với gia đình” là khả thi. Tương tự, “Xác định và phổ biến mục tiêu phối hợp giữa nhà trường với gia đình trong giáo dục học sinh” (70.5%); “Trao đổi, bàn bạc, thống nhất với cha mẹ học sinh về các chủ trương, mục tiêu, nội dung chương trình giáo dục” (80%); “Vận động và tạo điều kiện cho gia đình tích cực tham gia các hoạt động phối hợp với nhà trường” (97.5%); “Phát huy vai trò của giáo viên chủ nhiệm trong hoạt động phối hợp” (77.5%); “Phát huy vai trò của Ban đại diện cha mẹ học sinh trường/lớp trong hoạt động phối hợp (88%) và “Thống nhất các lực lượng xã hội khác” (64%).

Hầu hết các ý kiến được hỏi đều cho rằng nhóm các biện pháp nâng cao nhận thức cho Cán bộ quản lý, giáo viên và cha mẹ học sinh về hoạt động phối hợp giữa Nhà trường – Gia đình là khả thi, nếu được thực hiện tại các các trường tiểu học trong thị xã Bến Cát thì sẽ đem lại những hiệu quả tốt trong hoạt động phối hợp giữa Nhà trường – Gia đình trong công tác giáo dục HS, nhằm nâng cao chất lượng giáo dục tại các trường.

  • Đối với biện pháp 2: Chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm thực hiện hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình theo từng lớp học. Luận văn: Biện pháp QL nhà trường và gia đình trong giáo dục.

Các nội dung cụ thể mà chúng tôi đưa ra trong biện pháp này được đánh giá ở mức độ khả thi và rất khả thi cho công tác hoạt động phối hợp giữa Nhà trường – Gia đình và quản lý hoạt động phối hợp giữa Nhà trường – Gia đình (ĐTB từ 2.99 đến 3.45). Cụ thể như: “Lựa chọn, phân công giáo viên chủ nhiệm có năng lực thực hiện hoạt động phối hợp Nhà trường – Gia đình” với 84% là cần thiết và rất cần thiết; nội dung “Chỉ đạo GVCN lập kế hoạch phối hợp với gia đình học sinh” (66%); “Chỉ đạo GVCN thực hiện phối hợp với ban đại diện cha mẹ học sinh lớp chủ nhiệm” (83%); “Chỉ đạo GVCN tổ chức các kì họp định kì với cha mẹ học sinh” (93.5%); “Chỉ đạo GVCN xây dựng mối quan hệ giao tiếp ứng xử với gia đình học sinh” (83%); “Chỉ đạo, hướng dẫn GVCN sử dụng các công cụ công nghệ thông tin trong quá trình phối hợp” (68.5%); “Bồi dưỡng năng lực giao tiếp ứng xử với gia đình cho giáo viên chủ nhiệm” (82%); “Tổ chức trao đổi kinh nghiệm phối hợp với gia đình của giáo viên chủ nhiệm có kinh nghiệm với giáo viên mới chủ nhiệm” (84.5%) và nội dung “Động viên khen thưởng kịp thời những gương GVCN phối hợp tốt” (76%).

Nói chung nhóm biện pháp chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm thực hiện hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình theo từng lớp học được phần lớn Cán bộ quản lý, giáo viên qua khảo sát cho rằng có tính khả thi cao, có thể áp dụng tại các trường tiểu học thị xã Bến Cát góp phần nâng cao hiệu quả công tác quản lý sự phối hợp Nhà trường – Gia đình, giúp cho công tác giáo dục HS được tốt hơn. Với số liệu các ý kiến khảo sát khá tương đồng về mức độ cần thiết và tính khả thi của từng biện pháp trong nhóm biện pháp này. Tuy nhiên ở từng thời điểm và mỗi hoàn cảnh cụ thể thì mỗi biện pháp có mức độ cần thiết và tính khả thi không giống nhau có thể biện pháp này trong hoàn cảnh nhất định thì có tính khả thi hơn biện pháp kia, nhưng trong hoàn cảnh khác thì biện pháp đó lại ít khả thi. Vì vậy khi áp dụng các biện pháp trong nhóm biện chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm thực hiện hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình theo từng lớp học cần phải thật cụ thể, áp dụng linh hoạt và cần có sự phối hợp đồng bộ các biện pháp có liên quan.

  • Đối với biện pháp 3: Đổi mới xây dựng kế họach, tổ chức hoạt động phối hợp giữa nhà trường – gia đình.

Các nội dung cụ thể mà chúng tôi đưa ra trong biện pháp này được đánh giá ở mức độ cần thiết và rất cần thiết cho công tác hoạt động phối hợp giữa Nhà trường – Gia đình và quản lý hoạt động phối hợp giữa Nhà trường – Gia đình (với ĐTB từ 3.27 đến 3.51). Trong số khách thể mà chúng tôi khảo sát, có rất ít GV, Cán bộ quản lý cho rằng những vấn đề chúng tôi đưa ra là ít cần thiết (chiếm 2.5% đến 18.5%) và không có GV hay Cán bộ quản lý cho rằng những vấn đề chúng tôi đưa ra là không cần thiết.

Nhìn chung nhóm các biện pháp đổi mới xây dựng kế họach, tổ chức hoạt động phối hợp giữa Nhà trường – Gia đình được đa số Cán bộ quản lý, GV tại các trường tiểu học thị xã Bến Cát đánh giá là có tính khả thi cao, có thể áp dụng để nâng chất lượng và hiệu quả quản lý sự phối hợp giữa Nhà trường – Gia đình trong công tác giáo dục HS. Tuy nhiên theo các đánh giá trên, tính khả thi ở từng biện pháp cụ thể có khác nhau, sự sắp xếp các thứ tự ưu tiên của từng biện pháp có tính chất tương đối, việc áp dụng các biện pháp cần phải vận dụng một cách linh hoạt, phù hợp ở từng trường, từng hoàn cảnh, sự việc cụ thể, việc phối hợp nhiều biện pháp có tính hổ trợ và làm tăng hiệu quả cho nhau.

  • Đối với biện pháp 4: Tăng cường nguồn lực cho công tác phối hợp.

Nhìn vào bảng 3.3 chúng tôi nhận thấy các biện pháp đề xuất được đánh giá ở mức độ khả thi và rất khả thi cho công tác hoạt động phối hợp giữa Nhà trường – Gia đình và quản lý hoạt động phối hợp giữa Nhà trường – Gia đình (ĐTB từ 3.17 đến 3.57). Cụ thể, các nội dung “Xây dựng kế hoạch chiến lược xác định tầm nhìn, sứ mệnh của nhà trường” (84%); “Phối hợp xây dựng cơ sở vật chất, cung cấp các trang thiết bị cần thiết phục vụ dạy và học” (88%); “Phối hợp công tác đảm bảo an ninh, chính trị, trật tự an toàn xã hội trong và ngoài nhà trường” (90%); “Bổ sung kịp thời những cán bộ có năng lực phối hợp tốt vào ban chỉ đạo” (84.5%); “Phát huy vai trò của ban chỉ đạo hoạt động phối hợp giữa nhà trường với gia đình” (74%); “Bồi dưỡng cho cán bộ quản lý, giáo viên đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của công tác phối hợp” (79.5%) và “Cần tạo nguồn kinh phí cho hoạt động phối hợp” (92%). Luận văn: Biện pháp QL nhà trường và gia đình trong giáo dục.

Tóm lại nhóm biện pháp tăng cường nguồn lực cho công tác phối hợp đã được phần lớn cán bộ giáo viên được khảo sát cho rằng có tính khả thi. Các biện pháp này được đánh giá mức cần thiết tương đối ngang bằng nhau, nên việc áp dụng các biện pháp phối hợp nhà trường gia đình cần sát với điều kiện thực tế mà lựa chọn các biện pháp khả thi hợn.

  • Đối với biện pháp 5: Kiểm tra đánh giá hoạt động phối hợp giữa nhà trường – gia đình trong giáo dục học sinh.

Các nội dung cụ thể mà chúng tôi đưa ra trong biện pháp này được đánh giá ở mức độ từ khả thi đến rất khả thi cho công tác hoạt động phối hợp giữa Nhà trường – Gia đình và quản lý hoạt động phối hợp giữa Nhà trường – Gia đình (ĐTB từ 2.96 đến 3.53). Cụ thể GV và Cán bộ quản lý được khảo sát đều đánh giá các nội dung ở mức độ từ cần thiết đến rất cần thiết như: nội dung “Ban chỉ đạo có kế hoạch kiểm tra, kiểm tra theo định kỳ về công tác phối hợp” (85.5%); “Có sơ kết, tổng kết để đánh giá về hiệu quả công tác phối hợp để tìm ra những nguyên nhân thành công, nguyên nhân hạn chế hạn chế” (71.5%); “Có biện pháp động viên, khuyến khích, khen thưởng thường xuyên và kịp lúc” (92%); “Có biện pháp điều chỉnh các sai lệch trong quá trình phối hợp” (66%) và “Có các biện pháp nhân rộng những điển hình tốt trong công tác phối hợp” (71.5%).

Nhìn chung các ý kiến khảo sát đều cho rằng các biện pháp trong nhóm này là có tính khả thi cao, các mức độ cần thiết và khả thi tương đối đồng đều, các biện pháp rất cần thiết, rất khả thi có thể áp dụng hiệu quả để quản lý hoạt động phối hợp giữa Nhà trường – Gia đình tại các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát, góp phần nâng cao chất lượng HS. Các Cán bộ quản lý cần phối hợp, lựa chọn các biện pháp phù hợp với điều kiện thực tế hoàn cảnh của trường, địa phương và trong từng giai đoạn để phát huy tối đa các ưu điểm của các biện pháp đã đề ra.

Trên đây là những phân tích số liệu một cách cụ thể và chi tiết về các mức độ cần thiết và mức độ khả thi của các biện pháp. Để có một bức tranh tổng thể về vấn đề này, chúng tôi tiến hành xếp thứ hạng các biện pháp như sau:

Bảng 3.4. Mức độ cần thiết và mức độ khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình

  • Kết quả khảo sát tính cần thiết của các biện pháp đề xuất được trình bày một cách trực quan bằng biểu đồ dưới đây:

Biểu đồ 3.1. Mức độ cần thiết và mức độ khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình

Kết quả khảo sát tất cả GV và Cán bộ quản lý về các biện pháp quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình tại các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát tỉnh Bình Dương cho thấy, các biện pháp mà chúng tôi đưa ra đều mang tính khả thi (ĐTB từ 3.18 đến 3.37) và rất cần thiết (ĐTB = 3.16 đến 3.40) trong công tác quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình. Luận văn: Biện pháp QL nhà trường và gia đình trong giáo dục.

Điều đáng lưu tâm khi phân tích bảng số liệu là đối với các biện pháp “Đổi mới xây dựng kế họach, tổ chức hoạt động phối hợp giữa nhà trường – gia đình” với sự cần thiết (ĐTB = 3.40) và tính khả thi (ĐTB = 3.37); Biện pháp “Tăng cường nguồn lực cho công tác phối hợp” với sự cần thiết (ĐTB = 3.31) và tính khả thi (ĐTB = 3.35); biện pháp “Nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý, giáo viên và cha mẹ học sinh về hoạt động phối hợp giữa nhà trường – gia đình” với sự cần thiết (ĐTB = 3.30) và tính khả thi (ĐTB = 3.28) của nó rất cao và gần như tương đồng thứ hạng với nhau. Thiết nghĩ, các nhà quản lý và lãnh đạo các đơn vị cần chú trọng và ưu tiên thực hiện biện pháp này để có thể đáp ứng được nhu cầu và nguyện vọng của GV và Cán bộ quản lý tại các địa bàn mà chúng tôi đã khảo sát. Bên cạnh đó, việc “Kiểm tra đánh giá hoạt động phối hợp giữa nhà trường -gia đình trong giáo dục học sinh” và sự “Chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm thực hiện hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình theo từng lớp học” cũng cần phải được xem trọng và phải được thực hiện một cách nghiêm túc. Bởi vì 2 biện pháp này cũng rất cần thiết (ĐTB lần lượt là 3.16 và 3.19) và khả năng thực thi cũng rất cao (ĐTB lần lượt là 3.22 và 3.18).

Nhìn chung, từ kết quả khảo nghiệm cho thấy sự tương quan giữa mức độ cần thiết và tính khả thi là khá phù hợp cũng như không có sự khác biệt lớn trong đánh giá của GV và Cán bộ quản lý về các biện pháp. Vì thế, trong quá trình quản lý hoạt động phối hợp giữa Nhà trường – Gia đình tại các trường tiểu học tại thị xã Bến Cát, Bình Dương, các Cán bộ quản lý có thể vận dụng các biện pháp này sao cho phù hợp với từng điều kiện và hoàn cảnh của trường mình, từng bước nâng cao hiệu quả của công tác này, từ đó nâng cao dần chất lượng dạy học nói riêng và chất lượng của ngành nói chung, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội.

Tóm lại, chúng tôi đã trình bày rất cụ thể và rõ ràng về các biện pháp quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình tại các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát tỉnh Bình Dương. Các biện pháp trên đều có mối quan hệ biện chứng, hỗ trợ cho nhau. Để có thể làm tốt công tác quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình tại các đơn vị, những nhà quản lý cũng như những nhà lãnh đạo cần có sự tham khảo kết quả nghiên cứu của chúng tôi để có thể lựa chọn, cân nhắc và ưu tiên cho những biện pháp mang tính khả thi và sự cần thiết cao. Sự thành công khi sử dụng các biện pháp ở mức độ nào là tùy thuộc vào năng lực thực tiễn, kinh nghiệm và nghệ thuật lãnh đạo của Cán bộ quản lý trong quá trình thực hiện các biện pháp đã nêu.

Tiểu kết chương 3 Luận văn: Biện pháp QL nhà trường và gia đình trong giáo dục.

Trên cơ sở phân tích lí luận và đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh tại các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát tỉnh Bình Dương, chúng tôi đã xem xét và mạnh dạn đề xuất 5 biện pháp quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình đảm bảo tính thực tiễn, tính khả thi và tính hệ thống. Hệ thống các biện pháp như sau:

  • Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý, giáo viên và cha mẹ học sinh về hoạt động phối hợp giữa nhà trường – gia đình.
  • Biện pháp 2: Chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm thực hiện hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình theo từng lớp học.
  • Biện pháp 3: Đổi mới xây dựng kế họach, tổ chức hoạt động phối hợp giữa nhà trường – gia đình.
  • Biện pháp 4: Tăng cường nguồn lực cho công tác phối hợp.
  • Biện pháp 5: Kiểm tra đánh giá hoạt động phối hợp giữa nhà trường – gia đình trong giáo dục học sinh.

Chúng tôi đã tiến hành khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp thông qua việc xin ý kiến đánh giá của các Cán bộ quản lý và GV có uy tín, kinh nghiệm lâu năm tại các trường mà đề tài nghiên cứu. Kết quả khảo sát cho thấy, cả 5 biện pháp đề xuất đều cần thiết và có tính khả thi cao, phù hợp với đặc điểm tình hình của các trường trên địa bàn thị xã Bến Cát tỉnh Bình Dương. Các biện pháp trên có mối quan hệ chặt chẽ, thống nhất biện chứng và cần phải được tiến hành đồng bộ, không xem nhẹ biện pháp nào. Nếu áp dụng hiệu quả các biện pháp đã đề xuất sẽ góp phần nâng cao chất lượng hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh tại các trường tiểu học tại địa phương.

Kết luận và kiến nghị

1. Kết luận Luận văn: Biện pháp QL nhà trường và gia đình trong giáo dục.

  • Từ kết quả nghiên cứu nêu trên chúng tôi rút ra một số kết luận sau:

Chất lượng giáo dục là mục tiêu hàng đầu của mọi cơ sở giáo dục và các nhà quản lý. Việc nâng cao chất lượng giáo dục là vấn đề có tính cấp thiết, để GD&ĐT phát triển một cách có hiệu quả cần phải chú trọng đến vai trò của công tác QLGD. Trong đó, đội ngũ Cán bộ quản lý luôn giữ vai trò chủ chốt vì họ là lực lượng quyết định trực tiếp đến hiệu quả của công tác giáo dục. Việc bồi dưỡng nâng cao năng lực quản lý cho đội ngũ Cán bộ quản lý trong nhà trường là một trong những vấn đề thiết yếu cần phải thực hiện một cách có hiệu quả nhất. Ngoài ra, để công tác giáo dục được hiệu quả cao thì ngoài vai trò của tập thể nhà trường thì cần phải có sự phối hợp chặt chẽ từ phía gia đình và xã hội, trong đó sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình là yếu tố rất quan trọng. Vì vậy quản lý sự phối hợp giữa Nhà trường – Gia đình trong giáo dục học sinh là rất cần thiết nhằm nâng cao chất lượng giáo dục học sinh trong giai đoạn mới. Trên cơ sở kế thừa, hệ thống hoá các nghiên cứu về lí luận, đề tài làm sáng tỏ cơ sở lí luận về công tác quản lý sự phối hợp Nhà trường – Gia đình trong công tác giáo dục học sinh tại các trường Tiểu học.

Công tác quản lý sự phối hợp giữa Nhà trường – Gia đình tại các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát trong những năm qua đã góp phần giúp công tác giáo dục học sinh đạt hiệu quả nhất định. Việc lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện và kiểm tra, đánh giá sự phối hợp Nhà trường – Gia đình đã gắn kết nhà trường và gia đình học sinh lại với nhau để cùng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục học sinh.

Tuy nhiên, ở mỗi nhà trường vẫn còn tồn tại nhiều vấn đề đòi hỏi các cán bộ giáo viên phải suy nghĩ, và học hỏi để tìm những biện pháp có hiệu quả, phù hợp với thực tế của từng trường để làm cho sự phối hợp giữa Nhà trường – Gia đình ngày càng tốt hơn. Thực trạng công tác quản lý còn hạn chế tại các trường trường tiểu học trên địa bàn thị xã Bến Cát thể hiện qua các nội dung được khảo sát như là:

  • Nhận thức về công tác phối hợp, nhận thức về quản lý sự phối hợp Nhà trường – Gia đình còn rất hạn chế ở một số cán bộ, giáo viên và cha mẹ học sinh. Luận văn: Biện pháp QL nhà trường và gia đình trong giáo dục.
  • Các nội dung phối hợp giữa Nhà trường – Gia đình còn ít và chưa thực hiện một cách thường xuyên và đồng bộ.
  • Những phương pháp phối hợp giữa Nhà trường – Gia đình chưa được phong phú, còn ít được quan tâm, còn nhiều hạn chế trong công tác vạch kế hoạch, tổ chức thực hiện kế hoạch, kiểm tra đánh giá công tác phối hợp giữa Nhà trường – Gia đình trong công tác giáo dục học sinh.
  • Công tác quản lý sự phối hợp Nhà trường – Gia đình trong công tác giáo dục học sinh còn nhiều hạn chế thể hiện ở việc đa số cán bộ giáo viên thấy được tầm quan trọng của công tác quản lý sự phối hợp Nhà trường – Gia đình nhưng họ chưa thật sự chú trọng thực hiện. Một bộ phận giáo viên chưa nhận thức đầy đủ vai trò của hoạt động quản lý sự phối hợp dẫn đến các hoạt động quản lý việc xây dựng kế hoạch phối hợp ở mức độ và hiệu quả chưa cao. Công tác quản lý tổ chức thực hiện hoạt động phối hợp giữa Nhà trường – Gia đình có đạt mức độ thường xuyên và hiệu quả nhất định nhưng cũng còn nhiều mặt hạn chế. Công tác quản lý kiểm tra, đánh giá sự phối hợp NT – GĐ chưa được thường xuyên và có hiệu quả chưa

Các biện pháp đề xuất gồm:

  • Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý, giáo viên và cha mẹ học sinh về hoạt động phối hợp giữa nhà trường – gia đình.
  • Biện pháp 2: Chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm thực hiện hoạt động phối hợp giữa nhà trường và gia đình theo từng lớp học.
  • Biện pháp 3: Đổi mới xây dựng kế họach, tổ chức hoạt động phối hợp giữa nhà trường – gia đình.
  • Biện pháp 4: Tăng cường nguồn lực cho công tác phối hợp.
  • Biện pháp 5: Kiểm tra đánh giá hoạt động phối hợp giữa nhà trường – gia đình trong giáo dục học sinh.

Các biện pháp mà luận văn đã nêu trên đây được xem là một hệ thống. Trong đó mỗi biện pháp là một thành tố trong đó chứa đựng những biện pháp cụ thể. Các thành tố trong hệ có mối quan hệ hữu cơ với nhau, kết nối nhau, bổ sung cho nhau tạo nên một thể thống nhất trong quá trình quản lý sự phối hợp giữa nhà trường-gia đình trong công tác giáo dục học sinh. Tuy nhiên mỗi giải pháp có đặc tính riêng, độc lập về vai trò, vị trí và tính chất đặc thù của nó. Mỗi biện pháp có khả năng phát huy vai trò của nó trong từng thời điểm và hoàn cảnh cụ thể của mỗi trường khác nhau. Không có giải pháp nào “hoàn hảo”, chúng chỉ phát huy tối đa hiệu quả khi được sử dụng một cách phù hợp và đồng bộ, có sự linh hoạt sáng tạo. Điều này đòi hỏi đội ngũ Cán bộ quản lý phải giỏi, đáp ứng nhu cầu của công tác. Trước mắt và lâu dài cần thiết phải có sự quan tâm chỉ đạo của lãnh đạo ngành giáo dục, trực tiếp là Sở Giáo Dục và Đào Tạo. Các giải pháp phải được áp dụng vào những hoàn cảnh thật cụ thể của từng trường và cần phải đảm bảo tính khách quan, khoa học. Đồng thời phải có sự nỗ lực của mỗi cán bộ, giáo viên để các biện pháp phối hợp nhà trường – gia đình được thành công. Luận văn: Biện pháp QL nhà trường và gia đình trong giáo dục.

2. Kiến nghị

Để thực hiện được các biện pháp quản lý hoạt động phối hợp giữa nhà trường với gia đình trong công tác giáo dục học sinh, tác giả có một số kiến nghị với các cấp quản lý giáo dục và các bậc cha mẹ học sinh gồm các vấn đề sau:

2.1. Đối với Phòng Giáo dục và Đào tạo thị xã Bến Cát

  • Phòng giáo dục và đào tạo cần có những văn bản hướng dẫn về hoạt động phối hợp giữa nhà trường với gia đình trong giáo dục học sinh để làm cơ sở pháp lý cho việc tổ chức thực hiện các hoạt động phối hợp này.
  • Phòng giáo dục và đào tạo cần quan tâm hơn nữa các chế độ ưu đãi về mặt chính sách giúp nâng cao đời sống của giáo viên, tạo tâm lý ổn định, an tâm công tác trong ngành giáo dục đặc biệt là trong công tác phối hợp giáo dục học sinh giữa nhà trường gia đình.

2.2. Đối với các trường Tiểu học

  • Hiệu trưởng nhà trường cần có nhận thức đúng và đầy đủ ý nghĩa, tầm quan trọng của hoạt động phối hợp giữa nhà trường với gia đình trong giai đoạn hiện nay. Từ đó có sự đầu tư về thời gian cũng như công sức cho hoạt động này và thực hiện một cách linh hoạt sáng tạo các biện pháp quản lý trong điều kiện cụ thể của mỗi trường.
  • Hiệu trưởng cần phải tuyên truyền phổ biến cho cán bộ giáo viên và gia đình học sinh nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác phối hợp, để động viên các nguồn lực phối hợp làm cho kế hoạch phối hợp trong giáo dục học sinh đạt được hiệu quả cao nhất.
  • Nhà trường cần có kế hoạch chủ động trong sự phối hợp, tuyên truyền, vận động cho gia đình học sinh hiểu rõ ý nghĩa, tầm quan trọng và sự cần thiết phải phối hợp với nhau trong công tác giáo dục học sinh một cách có hiệu quả.

2.3. Đối với Cha mẹ học sinh

Ban chấp hành hội cha mẹ học sinh cần có những người am hiểu về công tác giáo dục và có kinh nghiệm trong sự phối hợp với nhà trường để giáo dục con, em. Từ đó cùng với nhà trường tuyên truyền, vận động mọi gia đình học sinh tích cực phối hợp với nhà trường để giáo dục học sinh được tốt hơn. Luận văn: Biện pháp QL nhà trường và gia đình trong giáo dục.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Quản lý nhà trường và gia đình trong giáo dục học sinh

2 thoughts on “Luận văn: Biện pháp QL nhà trường và gia đình trong giáo dục

  1. Pingback: Luận văn: Thực trạng QL nhà trường và gia đình trong giáo dục

  2. Luận văn: Biện pháp QL nhà trường và gia đình trong giáo dục says:

    Luận văn: Biện pháp QL nhà trường và gia đình trong giáo dục

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *