Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng QL dạy học môn Tiếng Việt tại các trường hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt tại các trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Vài nét khái quát về giáo dục tiểu học của huyện Võ Nhai
Võ Nhai là huyện vùng cao nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Thái Nguyên. Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 83.923,14 ha, địa hình phức tạp chủ yếu là đồi núi dốc và núi đá vôi; phía Bắc giáp huyện Nà Rì (tỉnh Bắc Kạn), Phía Đông giáp huyện Bắc Sơn (tỉnh Lạng Sơn), phía Nam giáp huyện Yên Thế (tỉnh Bắc Giang), phía Tây giáp huyện Đồng Hỷ (tỉnh Thái Nguyên).
Trong những năm qua sự nghiệp giáo dục của huyện Võ Nhai đã được các cấp uỷ Đảng, chính quyền đặc biệt quan tâm và coi trọng, chất lượng giáo dục ngày càng được củng cố và nâng cao. Quy mô trường, lớp ổn định, chất lượng giáo dục ngày một cao hơn. Các cấp học được đầu tư ngày càng đầy đủ về cơ sở vật chất phục vụ dạy và học. Đội ngũ cán bộ quản lí cơ bản đã đáp ứng được với yêu cầu, đội ngũ giáo viên đã từng bước được chuẩn hoá. Công tác xã hội hoá giáo dục được đẩy mạnh.
- Về phát triển quy mô, mạng lưới trường lớp
Toàn huyện có 15 đơn vị hành chính gồm 14 xã và 01 thị trấn với tổng số 174 xóm bản; huyện Võ Nhai có 22 trường tiểu học và 3 trường có cấp học tiểu học; Mạng lưới các trường tiểu học được phân bố hợp lý trên địa bàn huyện đảm bảo cho học sinh không phải đi học quá xa và đáp ứng được nhu cầu học tập của học sinh.
Bảng 2.1: Quy mô mạng lưới trường, lớp, học sinh cấp tiểu học
- Về chất lượng giáo dục
Nhờ thực hiện tốt kỷ cương, nề nếp trong giảng dạy mà chất lượng học tập của học sinh tiếp tục được giữ vững và nâng cao. Chất lượng đại trà được duy trì và nâng cao, học sinh hoàn thành tốt đạt tỷ lệ cao. Chất lượng mũi nhọn cả về số lượng và chất lượng ngày càng tăng. Tuy vậy, tỷ lệ học sinh cần cố gắng vẫn còn, đặc biệt là học sinh yếu về môn Tiếng Việt. Đây là vấn đề cần quan tâm trong những năm học tiếp theo để nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Qua thực tế điều tra, chất lượng học tập yếu thường ở những trường ở xa trung tâm huyện, những học sinh có bố mẹ đi làm ăn xa lâu ngày mới về nên việc quan tâm đến vấn đề học tập của các cha mẹ học sinh chưa tốt, phó mặc cho nhà trường.
Những tồn tại trên ảnh hưởng rất lớn đến việc tiếp thu nội dung học tập môn Tiếng Việt, dẫn đến chất lượng giáo dục không được như mong đợi. Luận văn: Thực trạng QL dạy học môn Tiếng Việt tại các trường.
Bảng 2.2: Kết quả xếp loại hai mặt giáo dục trong 3 năm học qua
- Về đội ngũ cán bộ quản lý
Trong những năm qua cùng với sự phát triển của toàn ngành giáo dục huyện, đội ngũ cán bộ quản lý các trường Mầm non, Tiểu học, Trung học cơ sở đã có những bước chuyển biến mạnh mẽ, chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý ngày một nâng cao cả về chuyên môn và năng lực quản lý đã phát huy có hiệu quả trong công tác quản lý. Đặc biệt là vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng và chính quyền cơ sở, Chi bộ Đảng, các tổ chức trong nhà trường được phát huy hiệu quả tốt.
Hiện nay, số cán bộ quản lý có trình độ đại học và trên đại học đạt 72,2%; Trình độ Trung cấp lý luận chính trị đạt tỷ lệ 100%. Công tác đánh giá cán bộ quản lý đuợc Phòng Giáo dục Đào tạo tiến hành nghiêm túc hàng năm, đặc biệt công tác bổ nhiệm và bổ nhiệm lại, kiên quyết miễn nhiệm những cán bộ quản lý năng lực yếu, uy tín thấp. Việc làm trên đã có tác dụng tích cực trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý nói chung và đội ngũ cán bộ quản lý ở các truờng tiểu học nói riêng.
- Về đội ngũ giáo viên
Giáo viên là nhân tố tiên quyết làm nên chất luợng giáo dục. Hiện nay chất luợng của một bộ phận giáo viên còn yếu do một trong những nguyên nhân là những giáo viên dạy lâu năm chỉ mới đuợc chuẩn hóa, việc củng cố tích lũy kiến thức và việc tự học, tự bồi duỡng chua đạt hiệu quả. Bên cạnh đó do sự tác động của cơ chế thị truờng, đời sống của một bộ phận giáo viên còn gặp nhiều khó khăn. Chế độ tiền luơng cho giáo viên chua thực sự thỏa đáng, luơng của giáo viên hiện nay chua đủ sức hấp dẫn để thu hút số học sinh giỏi xuất sắc vào các trường sư phạm mặc dù nhà nước đã có chính sách miễn học phí cho sinh viên các trường sư phạm, đồng thời nhiều sinh viên sư phạm ra trường chưa được tuyển dụng do biên chế có hạn. Dù tỉ lệ giáo viên/lớp ở các trường tiểu học hiện nay là 1,5 nhưng vẫn thiếu và bất cập về chủng loại. Bởi vậy, muốn nâng cao chất lượng giáo dục yêu cầu quan tâm đầu tiên là chất lượng đội ngũ giáo viên. Luận văn: Thực trạng QL dạy học môn Tiếng Việt tại các trường.
- Bảng 2.3: Đội ngũ giáo viên tiểu học 3 năm qua
Qua bảng số liệu trên cho thấy số lượng giáo viên cơ bản đáp ứng được nhu cầu giảng dạy, tỉ lệ số giáo viên đạt chuẩn và trên chuẩn cao, có tác dụng tốt đến nâng cao chất lượng giáo dục. Số giáo viên giỏi cấp tỉnh, cấp huyện ngày càng cao. Tuy vậy, tỉ lệ giáo viên được đánh giá trung bình vẫn còn, chứng tỏ sự cố gắng tự học, tự bồi dưỡng vươn lên của số giáo viên còn hạn chế. Tỉ lệ này chủ yếu rơi vào những giáo viên tuổi cao, trình độ đào tạo đạt chuẩn và sức khỏe hạn chế. Công tác tuyển dụng giáo viên mới thay thế còn gặp khó khăn do định biên giảm, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay tỉnh, thành huyện đang thực hiện đề án tinh giản biên chế.
- Về chất lượng đội ngũ
Hiện nay, hầu hết các trường tiểu học đều có một đội ngũ giáo viên trẻ, năng động nhiệt tình, dễ thích nghi với cái mới, yêu nghề, đoàn kết, ham học hỏi, có ý thức phấn đấu vươn lên trong công tác giảng dạy cũng như trong công tác khác, có phẩm chất tốt, lập trường tư tưởng vững vàng.
Nhiều giáo viên có kiến thức vững chắc, phương pháp giảng dạy tốt, tích cực học tập, bồi dưỡng thường xuyên, tự bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tích cực đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hoá hoạt động nhận thức của học sinh. Có những sáng kiến kinh nghiệm có giá trị trong việc nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường, số giáo viên giỏi cấp cơ sở chiếm tỷ lệ cao và được nâng lên hàng năm.
Tuy nhiên vẫn còn một số giáo viên chưa cố gắng học tập nâng cao trình độ tin học và ngoại ngữ, do đó việc sử dụng các trang thiết bị còn hạn chế, một số giáo viên còn lúng túng, chưa tích cực, chủ động tham gia đổi mới phương pháp dạy học.
Thực trạng hoạt động dạy học của giáo viên không chỉ được đánh giá qua việc thao giảng, thi giáo viên giỏi cấp trường, cấp cụm, cấp thành phố, mà còn được đánh giá qua việc kiểm tra theo định kì hoặc đột xuất của cán bộ quản lý, tổ trưởng chuyên môn, qua kiểm tra chuyên môn hàng năm do Phòng Giáo dục và Đào tạo tiến hành kiểm tra tại các trường học.
- Kết luận của các đợt kiểm tra nhà trường năm học 2024 – 2025
Giáo viên có đầy đủ hồ sơ chuyên môn theo quy định, hầu hết chất lượng khá tốt, tuy nhiên có một số giáo án còn cẩu thả, chưa đáp ứng yêu cầu đổi mới, việc nhận xét đánh giá vào vở học sinh còn ít.
Đa số giáo viên có kiến thức vững vàng, phương pháp giảng dạy có sự đổi mới, phù hợp với đối tượng học sinh, phát huy được tính tích cực, chủ động của học sinh, tuy nhiên cũng có một số tiết dạy còn chưa đảm bảo về nội dung, vẫn sử dụng phương pháp truyền thống, chưa thể hiện sự đổi mới. Luận văn: Thực trạng QL dạy học môn Tiếng Việt tại các trường.
Qua kết quả kiểm tra hoạt động sư phạm hàng năm của Phòng Giáo dục và Đào tạo tại các nhà trường, số tiết được đánh giá giỏi chưa nhiều, số tiết trung bình còn cao. Điều đó đòi hỏi giáo viên phải không ngừng phấn đấu tự bồi dưỡng chuyên môn, học hỏi kinh nghiệm đồng nghiệp, tích cực đổi mới phương pháp dạy học. Bên cạnh đó cán bộ quản lý cần quan tâm hơn nữa trong việc quản lý hoạt động dạy học góp phần nâng cao chất lượng giờ dạy.
- Về cơ sở vật chất
Trong những năm qua, thực hiện những chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, đặc biệt dưới sự chỉ đạo của Huyện ủy, Uỷ ban nhân dân huyện nên công tác đầu tư cơ sở vật chất trường học được đẩy mạnh. Bằng nhiều chương trình như chương trình kiên cố hóa trường lớp của Chính phủ, chương trình tài trợ của các tổ chức phi Chính phủ tài trợ cho địa bàn huyện về đầu tư cơ sở vật chất trường học và xây dựng trường học đạt chuẩn quốc gia,… Đến nay toàn huyện có 18/25 trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia mức độ I. Hiện nay tính riêng tiểu học có 23/25 trường học có phòng học cao tầng, hơn 182 phòng học cao tầng và mái bằng kiên cố. 100% số trường có công trình vệ sinh nước sạch cho giáo viên và học sinh. Trong năm 2025 xóa được 31 phòng học tạm trên địa bàn. Đảm bảo đủ các điều kiện như ánh sáng trong phòng học, bàn ghế đúng quy cách đối với lứa tuổi học sinh.
2.2. Tổ chức triển khai nghiên cứu Luận văn: Thực trạng QL dạy học môn Tiếng Việt tại các trường.
2.2.1. Mục đích khảo sát
- Khảo sát về thực trạng hoạt động dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số của huyện Võ Nhai.
- Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số của huyện Võ Nhai.
2.2.2. Nội dung khảo sát
- Thực trạng hoạt động dạy học môn tiếng Việt ở các trường tiểu học dân tộc thiểu số thiểu số của huyện Võ Nhai.
- Thực trạng về công tác quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Việt ở các trường tiểu học dân tộc thiểu số thiểu số của huyện Võ Nhai.
2.2.3. Khách thể khảo sát và địa bàn khảo sát
Khảo sát 45 CBQL, GV tiểu học đang trực tiếp công tác tại 05 trường tiểu học: Trường Tiểu học Đông Bo, Trường Tiểu học Lũng Luông, Trường Tiểu học Liên Minh, Trường Tiểu học Sảng Mộc, Trường Tiểu học Thần Sa trên địa bàn huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
2.2.4. Phương pháp khảo sát
- Điều tra bằng phiếu hỏi.
- Quan sát, phỏng vấn.
2.3. Kết quả khảo sát
2.3.1. Thực trạng hoạt động dạy học
2.3.1.1 Thực trạng thực hiện nội dung, chương trình dạy học
Việc đánh giá hoạt động giảng dạy môn Tiếng Việt của giáo viên được tiến hành điều tra bằng phiếu hỏi trên 10 đối tượng là hiệu trưởng, phó hiệu trưởng và 35 giáo viên ở các trường tiểu học thể hiện ở 3 mức độ thường xuyên, đôi khi và không bao giờ. Kết quả tổng hợp điểm các ý kiến trả lời như sau: Luận văn: Thực trạng QL dạy học môn Tiếng Việt tại các trường.
- Bảng 2.4: Thực trạng thực hiện nội dung, chương trình dạy học
Từ kết quả thống kê ở bảng 2.7 cho thấy những nội dung thực hiện dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số của huyện Võ Nhai đã được giáo viên quan tâm thực hiện, tuy nhiên mức độ quan tâm chưa đồng đều, chưa thường xuyên.
Các nội dung được giáo viên quan tâm thường xuyên ở mức độ cao trong việc thực hiện hoat động dạy học môn Tiếng Việt đó là:
- Lập kế hoạch dạy học, thiết kế giáo án trước khi lên lớp có 100% ý kiến đánh giá đã tiến hành thường xuyên.
- Thực hiện đầy đủ nội dung chương trình dạy học môn Tiếng Việt có 93,3% ý kiến đánh giá đã tiến hành thường xuyên.
- Một số nội dung công việc chưa được quản lý, giáo viên quan tâm hoặc mức độ quan tâm thấp đó là các nội dung sau:
- Tự nghiên cứu tài liệu mới về dạy học môn Tiếng Việt có 64,4% ý kiến đánh giá tiến hành thường xuyên
- Đổi mới phương pháp giảng dạy để nâng cao chất lượng dạy học có 62,2% ý kiến đánh giá tiến hành thường xuyên
- Thăm lớp, dự giờ động nghiệp có 62,2% ý kiến đánh giá đã tiến hành thường xuyên.
- Các nội dung khác có 42,2% ý kiến đánh giá đã tiến hành thường xuyên.
Nhận xét chung: Về cơ bản giáo viên đã thực hiên tốt các nhiệm vụ chuyên môn trong dạy học, tuy nhiên còn hạn chế ở một số nội dung đó là: Đổi mới phương pháp giảng dạy để nâng cao chất lượng dạy học, tự nghiên cứu tài liệu mới về dạy học môn Tiếng Việt còn chưa được thường xuyên chỉ đôi khi thực hiện.
2.3.2.2. Thực trạng thực hiện giờ lên lớp của giáo viên Luận văn: Thực trạng QL dạy học môn Tiếng Việt tại các trường.
Hoạt động giảng dạy môn Tiếng Việt của giáo viên ở trường tiểu học được thực hiện chủ yếu thông qua giờ lên lớp. Giờ lên lớp là một khâu quan trọng trong quá trình giảng dạy, qua giờ lên lớp giáo viên sẽ thể hiện năng lực sư phạm và trình độ chuyên môn, kiến thức cuộc sống và xã hội rõ nhất. Giờ lên lớp giữ vai trò quyết định chất lượng dạy học môn học trong nhà trường. Tác giả đã khảo sát trên 45 cán bộ quản lý, giáo viên và kết quả thu được như sau:
- Bảng 2.5: Thực trạng thực hiện giờ dạy trên lớp của giáo viên
Kết quả khảo sát thực trạng thực hiện giờ lên lớp môn Tiếng Việt của giáo viên tiểu học ở huyện Võ Nhai được thể hiện qua bảng 2.8 cho thấy: Giáo viên thực hiện đủ các khâu lên lớp theo quy định chiến 48,9%. Phân phối thời gian giữa các khâu chiếm 60%, Lời nói rõ ràng trình bày bảng hợp lý, khoa học chiếm 62,2%, Vận dụng kết hợp tốt các bài dạy chiếm 62,2%. Tuy nhiên bên cạnh đó còn có một số ý kiến cho rằng phân phối thời gian cũng chưa được tốt chiếm tỷ lệ 11,5%, Chưa sử dụng thành thạo đồ dùng, thiết bị dạy học, chưa thực hiện đầy đủ các khâu lên lớp theo quy định chiếm 8,9%
2.3.2. Thực trạng hoạt động học môn Tiếng Việt của học sinh
Việc đánh giá thực trạng học tập môn Tiếng Việt của học sinh được thực hiện qua phiếu điều tra tại các trường tiểu học trông huyện và hồi cứu số liệu báo cáo thống kê của Phòng GDĐT Võ Nhai để đánh giá kết quả học tập, thái độ, động cơ học tập của học sinh, tìm ra nguyên nhân của thực trạng. Luận văn: Thực trạng QL dạy học môn Tiếng Việt tại các trường.
- Kết quả học tập môn Tiếng Việt của học sinh
Bảng 2.6: Kết quả học tập môn Tiếng Việt trong 3 năm học qua
Nhìn vào kết quả trên, chúng ta thấy chất lượng học tập môn Tiếng Việt của học sinh qua các năm đã có sự chuyển biến tiến bộ, tuy nhiên, tỷ lệ học sinh chưa hoàn thành môn học vẫn còn cao, sự tiến bộ còn chậm, chưa có được sự bứt phá. Chất lượng này ảnh hưởng nhiều đến chất lượng của các môn học khác, làm cho chất lượng giáo dục nói chung của các trường tiểu học đạt kết quả không như mong muốn.
- Hoạt động học tập trên lớp, nề nếp học tập của học sinh
Để tìm hiểu thực trạng hoạt động học tập của học sinh, chúng tôi đã tiến hành khảo sát 45 cán bộ quản lý, giáo viên của 5 trường tiểu học. Với câu hỏi ở 4 mức độ Tốt, Khá, Trung bình, Chưa tốt (CT). Kết quả khảo sát như sau:
- Bảng 2.7: Kết quả điều tra về hoạt động học tập của học sinh
Nhìn chung, hoạt động học tập rèn nề nếp cho học sinh được các nhà trường đặc biệt chú trọng tuy vậy học sinh có thái độ học tập môn Tiếng Việt tốt (có tỉ lệ 93,3%) nhưng việc tham gia các hoạt động ngoại khóa cũng như các hoạt động của môn học còn hạn chế (chỉ có 46,7% học sinh tham gia tốt các hoạt động được tổ chức trong giờ học). Đặc biệt, số lượng học sinh có học bài, làm bài ở nhà còn thấp chiếm tỉ lệ 42,2% đánh giá ở mức trung bình và 13,3% được đánh giá là thực hiện chưa tốt). Việc sử dụng các tài liệu liên quan đến môn học của học sinh trong các nhà trường được đánh giá chưa cao, tỉ lệ thực hiện tốt chiếm 37,8%.
Kết quả trên cho thấy: Tuy học sinh có thái độ học tập môn Tiếng Việt tốt (có tỉ lệ 93,3%) nhưng việc tham gia các hoạt động ngoại khóa cũng như các hoạt động của môn học còn hạn chế (chỉ có 46,7% học sinh tham gia tốt các hoạt động được tổ chức trong giờ học). Đặc biệt, số lượng học sinh có học bài, làm bài ở nhà còn thấp chiếm tỉ lệ 42,2% đánh giá ở mức trung bình và 13,3% được đánh giá là thực hiện chưa tốt). Việc sử dụng các tài liệu liên quan đến môn học của học sinh trong các nhà trường được đánh giá chưa cao, tỉ lệ thực hiện tốt chiếm 37,8%. Luận văn: Thực trạng QL dạy học môn Tiếng Việt tại các trường.
Kết quả trên cho thấy: Tuy học sinh có thái độ học tập môn Tiếng Việt tốt (có tỉ lệ 93,3%) nhưng việc tham gia các hoạt động ngoại khóa cũng như các hoạt động của môn học còn hạn chế (chỉ có 46,7% học sinh tham gia tốt các hoạt động được tổ chức trong giờ học). Đặc biệt, số lượng học sinh có học bài, làm bài ở nhà còn thấp chiếm tỉ lệ 42,2% đánh giá ở mức trung bình và 13,3% được đánh giá là thực hiện chưa tốt). Việc sử dụng các tài liệu liên quan đến môn học của học sinh trong các nhà trường được đánh giá chưa cao, tỉ lệ thực hiện tốt chiếm 37,8%.
Như vậy, qua điều tra thực tế và qua quá trình theo dõi hoạt động dạy học môn Tiếng Việt tại các trường tiểu học huyện Võ Nhai trong những năm gần đây, cho thấy hầu như các nhà trường đã có đủ phòng học cho tất cả các lớp học 2 buổi/ngày. Trang trí các phòng học đúng quy định, đã có những đồ dùng do công ty thiết bị giáo dục cấp phát, có đủ sách giáo khoa và sách giáo viên, sách tham khảo phục vụ cho thầy và trò. Đội ngũ giáo viên ở các trường tiểu học nhiệt tình, đoàn kết, tâm huyết với nghề nghiệp. Ban giám hiệu chỉ đạo chặt chẽ các hoạt động dạy và học trong nhà trường, có tinh thần trách nhiệm cao trong công tác và cùng với giáo viên tìm tòi, giải quyết những vướng mắc trong giảng dạy, vận động và tuyên truyền được hội phụ huynh học sinh, chính quyền cùng tham gia công tác giáo dục.
Mặc dù vậy chất lượng dạy học môn Tiếng Việt có kết quả chưa như mong đợi, tỉ lệ học sinh yếu trong 3 năm gần đây vẫn còn, có hiện tượng năm sau cao hơn năm trước.
Nguyên nhân của thực trạng này do nhiều yếu tố kết hợp lại: Cơ cấu giáo viên chưa đồng bộ, trình độ chuyên môn của giáo viên không đồng đều dẫn đến việc đổi mới phương pháp dạy tuy có hiệu quả nhưng chưa cao, nhất là việc cập nhật khoa học công nghệ thông tin trong giảng dạy như việc sử dụng giáo án điện tử… khiến cho việc tổ chức các hoạt động trong giờ học môn Tiếng Việt chưa gây được hứng thú cho học sinh. Mặt khác chương trình sách giáo khoa môn Tiếng Việt hiện hành có rất nhiều điều chỉnh về nội dung, về cấu trúc của bài học một số phân môn (Luyện từ và câu, Tập làm văn), về phương pháp giảng dạy, điều đó dẫn đến sự phối hợp, hỗ trợ của phụ huynh học sinh đối với con em mình về mặt hướng dẫn học ở nhà cũng hạn chế.
2.3.3. Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt Luận văn: Thực trạng QL dạy học môn Tiếng Việt tại các trường.
- Thực trạng xây dựng kế hoạch và thực hiện chương trình dạy học môn Tiếng Việt
Chương trình giảng dạy là văn bản pháp quy do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành, tất cả các trường phải tuân thủ nghiêm túc mà người trực tiếp thực hiện là đội ngũ giáo viên. Hiệu trưởng không chỉ căn cứ vào đó để hướng dẫn giáo viên thực hiện đủ nội dung chương trình, không được cắt xén, dồn ép mà còn lấy đó làm căn cứ để kiểm tra, đánh giá giáo viên có nghiêm túc trong công tác giảng dạy hay không. Việc quản lý chương trình dạy học phải đảm bảo sao cho nhà trường phải dạy đúng, đủ số môn theo quy định; giáo viên dạy đủ tiết/tuần/môn/, giáo viên dạy đúng, đủ số tiết/bài. Để quản lý tốt việc thực hiện chương trình, hiệu trưởng cần phải:
Quán triệt và yêu cầu giáo viên nắm vững phân phối chương trình, nội dung giảng dạy. Kịp thời phổ biến cho giáo viên các văn bản mới về hướng dẫn điều chỉnh môn học. Yêu cầu tổ chuyên môn, giáo viên lập kế hoạch và kiểm tra, kí duyệt kế hoạch. Kiểm tra việc thực hiện chương trình, tiến độ chương trình và hồ sơ giảng dạy của giáo viên. Triển khai thời gian thực học 35 tuần/năm và tổ chức dạy bù cho kịp tiến độ chương trình. Phối hợp các tổ chuyên môn để quản lý chương trình. Trong quá trình quản lý, hiệu trưởng phải sử dụng các phương tiện để quản lý chương trình như: sổ báo giảng, sổ dự giờ, kiểm tra học sinh, sử dụng thời khoá biểu để kiểm soát chương trình. Việc kiểm tra thực hiện chương trình phải được tiến hành thường xuyên, sau kiểm tra phải có điều chỉnh, xử lý kịp thời.
Tại các trường tiểu học của huyện Võ Nhai, Hiệu trưởng quy định các tổ trưởng chuyên môn kiểm tra giáo viên của tổ mình, sau đó báo cáo trực tiếp và bằng văn bản tiến độ thực hiện chương trình của các giáo viên hàng tháng. Cứ định kì 1 lần/tháng, Ban giám hiệu lại kiểm tra việc thực hiện chương trình, các loại hồ sơ, giáo án của giáo viên.
Để đánh giá thực trạng việc quản lý thực hiện chương trình dạy môn Tiếng Việt của giáo viên tiểu học ở huyện Võ Nhai, tác giả đã thực hiện điều tra bằng phiếu đối hỏi đối với 45 cán bộ quản lý và giáo viên ở 5 trường tiểu học sau khi tổng hợp các ý kiến, kết quả thu được như sau: Luận văn: Thực trạng QL dạy học môn Tiếng Việt tại các trường.
- Bảng 2.8: Thực trạng quản lý việc thực hiện chương trình môn Tiếng Việt của các trường học
Sau khi tiến hành khảo sát, kết quả cho thấy việc tổ chức quán triệt và yêu cầu giáo viên nắm vững và thực hiện đúng phân phối chương trình được hiệu trưởng đặc biệt chú trọng và được đánh giá thực hiện khá tốt chiếm 100%.
Qua điều tra cho thấy việc thực hiện phổ biến cho giáo viên các văn bản mới về hướng dẫn điều chỉnh môn học chưa tốt, điều này được giáo viên đánh giá chiếm 6,7% chưa được thường xuyên.
Tổ chức chuyên môn, giáo viên lập kế hoạch và ký duyệt kế hoạch cho thấy kết quả triển khai thực hiện khá tốt, con số này được các giáo viên đánh giá là 100% làm rất thường xuyên và thường xuyên.
Các phiếu điều tra cho thấy việc kiểm tra thực hiện chương trình, kiểm tra hồ sơ giảng dạy của giáo viên được đánh giá cao chiếm tỉ lệ 46,7% là rất thường xuyên, vì có kiểm tra mới nắm bắt được thực tế giảng dạy, chương trình giảng dạy có đúng kế hoạch đặt ra hay không. Tuy nhiên, một số phiếu vẫn đánh giá là hiệu trưởng thực hiện chưa tốt, thể hiện ở mức độ thực hiện trung bình đạt 26,7% việc phối hợp với các tổ chuyên môn để quản lý chương trình là chưa được tốt. Kết quả đạt ở mức tốt và khá đạt từ 93,3% trở lên. Khi phát hiện như vậy người Hiệu trưởng cần phải có biện pháp quản lí chặt chẽ hơn để hoạt động giảng dạy được diễn ra đúng tiến độ theo tinh thần chỉ đạo của toàn ngành, không để dạy dồn ép chương trình khiến các em học sinh phải lĩnh hội một lượng kiến thức lớn trong thời gian ngắn làm giảm hiệu quả học tập.
- Thực trạng quản lý hoạt động soạn bài, chuẩn bị bài lên lớp của giáo viên
Soạn bài và chuẩn bị bài tốt là yếu tố cơ bản góp phần cho sự thành công của giờ lên lớp. Soạn bài thực chất là thiết kế cụ thể cho giờ lên lớp, thể hiện rõ nội dung kiến thức cần truyền thụ, cách thức tổ chức lớp học, đồng thời dự đoán trước các tình huống xảy ra và phương thức giải quyết các tình huống. Vì vậy, hiệu trưởng cần chỉ đạo giáo viên, tổ chuyên môn tổ chức tốt khâu soạn bài, giúp đỡ giáo viên soạn các bài khó và chuẩn bị các điều kiện cần thiết cho giờ lên lớp. Có 6 nội dung quản lý giáo viên soạn bài, chuẩn bị bài đó là: Luận văn: Thực trạng QL dạy học môn Tiếng Việt tại các trường.
- Đề ra những quy định cụ thể, thống nhất về việc soạn bài và chuẩn bị tiết dạy.
- Tiến hành kiểm tra định kì và đột xuất công tác soạn bài, chuẩn bị bài lên lớp của giáo viên.
- Góp ý về phương pháp, nội dung bài soạn, việc lựa chọn và sử dụng các phương tiện dạy học.
- Giao tổ chuyên môn họp thống nhất các nội dung cơ bản và hình thức tổ chức những bài dạy có lồng ghép và điều chỉnh.
- Bồi dưỡng nghiệp vụ cho giáo viên về phương pháp tiến hành soạn bài và chuẩn bị bài lên lớp.
- Giao tổ chuyên môn lập kế hoạch và thực hiện kiểm tra định kì giáo án của giáo viên.
Kết quả điều tra thu được như sau:
- Bảng 2.9: Quản lý việc soạn bài, chuẩn bị bài lên lớp của giáo viên
Về thực hiện kiểm tra định kì giáo án của giáo viên, các cán bộ quản lý đánh giá cao mức độ thực hiện nội dung quản lý này 41% là tốt.
Việc đề ra các quy định cụ thể, thống nhất về việc soạn bài và chuẩn bị tiết dạy là rất tốt và có 77,8% cho rằng các nhà trường đã làm tốt vấn đề này.
Vấn đề góp ý về phương pháp, nội dung bài soạn, việc lựa chọn và sử dụng các phương tiện dạy học cũng được đánh giá là quan trọng và có 62,2%
Các tổ chuyên môn họp thống nhất các nội dung cơ bản và hình thức tổ chức những bài dạy có lồng ghép và điều chỉnh được đánh giá 57,8% là tốt, tuy nhiên vẫn còn 13,3% ý kiến nhận xét các tổ chuyên môn làm chưa được tốt trong công tác này vẫn mạng tính hình thức, chung chung, làm để chống đối khi có đoàn đến kiểm tra.
- Thực trạng quản lý giờ lên lớp của giáo viên Luận văn: Thực trạng QL dạy học môn Tiếng Việt tại các trường.
Hoạt động giảng dạy môn Tiếng Việt của giáo viên ở trường tiểu học được thực hiện chủ yếu thông qua giờ lên lớp. Giờ lên lớp là một khâu quan trọng trong quá trình giảng dạy, qua giờ lên lớp giáo viên sẽ thể hiện năng lực sư phạm và trình độ chuyên môn, kiến thức cuộc sống và xã hội rõ nhất. Giờ lên lớp giữ vai trò quyết định chất lượng dạy học môn học trong nhà trường. tác giả đã khảo sát trên 45 cán bộ quản lý và giáo viên và kết quả thu được như sau:
- Bảng 2.10: Quản lý giờ dạy trên lớp của giáo viên
Kết quả khảo sát thực trạng việc quản lý giờ lên lớp môn Tiếng Việt của giáo viên tiểu học ở huyện Võ Nhai được thể hiện qua bảng 2.13 cho thấy: Hiệu trưởng các trường tiểu học đã thực hiện nội dung quản lý giờ lên lớp của giáo viên là thường xuyên và rất thường xuyên chiến tỉ lệ 100%. Phiếu đều đánh giá việc quản lý thông tin của học sinh, phụ huynh học sinh và đồng nghiệp mức độ thực hiện không thường xuyên còn chiếm 8,9%. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn 11,1% phiếu đánh giá việc tổ chức cho giáo viên học tập quy chế, tiêu chuẩn đánh giá, xếp loại tiết dạy chưa được thường xuyên tại các trường học, phiếu đánh giá việc tổ chức dự giờ định kì, đột xuất có góp ý thực hiện ở mức độ chưa thường xuyên còn 4,4%. Kết quả của tất cả các nội dung được đánh giá khá và tốt đạt từ 91,1% trở lên, bên cạnh đó kết quả về công tác xây dựng nề nếp cho giáo viên vẫn được đánh giá ở mức trung bình là 24,4%. Như vậy, kết quả đánh giá trên đây cho thấy hiệu trưởng các trường tiểu học đã thực hiện nội dung quản lý giờ dạy trên lớp của giáo viên, song việc thực hiện các biện pháp này chưa thật đồng bộ.
Qua các buổi kiểm tra chuyên môn tại 5 trường, qua kiểm tra hồ sơ của cán bộ quản lý thì mỗi cán bộ quản lý hằng tháng đều dự giờ đột xuất cũng như thường xuyên trung bình mỗi tháng 4 tiết, qua các tiết dạy của giáo viên có nhận xét rút kinh nghiệm và đánh giá từng tiết dự.
- Thực trạng quản lý đổi mới phương pháp dạy học tích cực môn Tiếng Việt
Căn cứ vào điều kiện thực tế của các nhà trường, nhận thức đánh giá một cách khách quan về hoạt động dạy học của giáo viên và hoạt động học tập của học sinh trong môn Tiếng Việt, đồng thời qua việc trao đổi, dự giờ, dự sinh hoạt chuyên môn xem xét các hoạt động phục vụ dạy và học tại nhà trường tác giả nhận thấy: Đa số ý kiến cho rằng việc đổi mới phương pháp dạy học tích cực sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt. Thế nhưng, trong thực tế nhiều giáo viên ngại đầu tư vào soạn bài, ngại đầu tư nghiên cứu tìm tòi, những giáo viên có tuổi nghề cao thì hạn chế về mặt tin học. Hơn thế nữa, việc đổi mới phương pháp dạy học trong những năm gần đây chưa được hiệu trưởng nhà trường quan tâm đúng mức, nhất là bồi dưỡng kĩ năng sư phạm chưa được tiến hành một cách thường xuyên gắn với công tác thi đua khen thưởng chưa kịp thời và đúng lúc.
Theo quan niệm của một số giáo viên có kinh nghiệm trong nghề, một tiết học được coi là đổi mới khi thể hiện được 3 khâu: Không thể hiện sự đọc chép. Học sinh tích cực chủ động trong giờ học. Sử dụng đồ dùng dạy học.
Như vậy trong việc đổi mới phương pháp dạy học, nâng cao chất lượng giờ dạy, công việc đầu tiên của người giáo viên cần phải đổi mới đó là khâu soạn bài. Luận văn: Thực trạng QL dạy học môn Tiếng Việt tại các trường.
Khi tiến hành thực nghiệm tại nhà trường, tác giả đã dự một số giờ trên lớp, tuy đã có báo trước và các tiết đã có sự chuẩn bị trước, khi xem giáo án có trên 56,7% số giáo viên có sử dụng hệ thống câu hỏi và hệ thống hoạt động của thầy và trò trong từng phần, mục. Nhưng kĩ năng soạn bài theo hướng phát huy tính độc lập, chủ động và sáng tạo của học sinh, kĩ năng soạn bài theo kiểu trò chơi sư phạm, kĩ năng soạn bài theo hướng dạy để học sinh tự học còn rất mới hầu như chưa được sử dụng trong bài giảng. Việc dạy ở trên lớp của giáo viên gần 50% các tiết dạy đều diễn ra theo cách cũ, thầy giảng, trò nghe ghi chép tái hiện. Thậm chí có những tiết dạy giáo viên đọc những gì ghi tóm tắt trong sách giáo khoa, chưa tổ chức để các em thảo luận nhóm phát hiện ra vấn đề, chưa rèn cho các em kĩ năng hợp tác với nhau.
Xét về góc độ nhận thức với cán bộ quản lý nhà trường đều có nhận thức đúng đắn và cấp thiết về việc đổi mới phương pháp dạy học bộ môn, góp phần vào việc nâng cao chất lượng dạy học Tiếng Việt. Điều này được thể hiện rõ nét nhất trong kế hoạch năm học khá chi tiết, kế hoạch họp hội đồng hàng tháng cụ thể. Hiệu trưởng đã thể hiện rõ việc phân quyền cho phó hiệu trưởng và tổ trưởng chuyên điều hành hoạt động của tổ. Các tổ trưởng chuyên môn đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, thể hiện qua các buổi sinh hoạt chuyên đề, thao giảng, dự giờ, rút kinh nghiệm rèn luyện các kĩ năng dạy học theo hướng đổi mới phương pháp dạy học tích cực cho giáo viên. Qua đó, về mặt nhận thức và thực hiện có thể đánh giá bước đầu cơ bản khá thuận lợi và có chuyển biến tích cực trong đội ngũ giáo viên. Nhưng đổi mới phương pháp dạy học môn Tiếng Việt theo hướng tích cực nhằm nâng cao chất lượng giờ dạy là vấn đề mới và hết sức nhạy cảm, không phải ngày một, ngày hai có thể thực hiện được. Việc đổi mới phương pháp giảng dạy thường chỉ dừng ở chủ trương hoặc chung chung nên dẫn đến nhiều hạn chế như: Chưa phát huy được tính sáng tạo, tích cực, chủ động, của học sinh, trong học tập học sinh chưa rèn được kĩ năng thực hành một cách vững chắc. Giáo viên chưa thực sự là người tổ chức, hướng dẫn học sinh học tập. Học sinh chưa có phương pháp học tập đúng đắn, thái độ động cơ học tập chưa rõ ràng.
Trong khi đó yêu cầu đổi mới trong chương trình giáo dục tổng thể năm 2026 môn Tiếng Việt cấp tiểu học chú trọng các kỹ năng: đọc, viết, nghe và nói, tập trung giáo dục kỹ năng đọc hiểu, kỹ năng tạo dựng các văn bản khác nhau cần thiết trong cuộc sống. Xây dựng thư viện thân thiện, thư viện xanh, thư viện lớp học tạo phong trào đọc sách cho học sinh, trong đó chú trong công tác kiểm tra, đánh giá thường xuyên học sinh tuy nhiên việc kiểm tra đánh giá học sinh của một số giáo viên chưa được thường xuyên. Luận văn: Thực trạng QL dạy học môn Tiếng Việt tại các trường.
- Thực trạng quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh
Kết quả thuyết phục nhất trong việc giảng dạy của giáo viên là chất lượng học tập của học sinh. Việc đánh giá kết quả học tập của học sinh còn có ý nghĩa là biết được hiệu quả của quá trình giảng dạy, phát hiện những thiếu sót hoặc những điểm chưa hoàn chỉnh trong việc xây dựng và thực hiện kế hoạch, từ đó mà có biện pháp điều chỉnh cho phù hợp với thực tế. Đây là một yêu cầu quan trọng trong công tác quản lý của người hiệu trưởng đối với việc giảng dạy của giáo viên. Tác giả đã khảo sát trên 45 cán bộ quản lý và giáo viên kết quả thu được như sau:
- Bảng 2.11: Quản lý kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh trong các trường học
Kết quả thu được ở bảng 2.11 cho thấy, hiệu trưởng các trường đã thường xuyên thực hiện việc phổ biến các văn bản, quy định về chế độ kiểm tra, cho điểm, đánh giá xếp loại học sinh và chỉ đạo giáo viên tổ chức kiểm tra, đánh giá đúng chất lượng, đảm bảo công bằng, đồng thời hiệu trưởng cũng đã có biện pháp xử lý các trường hợp sai phạm về điểm số, về kết quả đánh giá xếp loại học sinh. Kết quả khảo sát các nội dung này cho thấy 100% phiếu đánh giá là rất thường xuyên và thường xuyên.
Tuy nhiên, nội dung quy định hình thức chấm chéo, tập trung, việc chấm trả bài cho học sinh đúng quy chế và nhất là chế độ thông tin kết quả học tập giữa gia đình và nhà trường của giáo viên chưa được hiệu trưởng quan tâm thực hiện. 8,9% phiếu đánh giá hiệu trưởng thực hiện không thường xuyên. Kết quả được đánh giá là tốt và khá đạt từ 75,6% trở lên, tuy nhiên việc tổ chức kiểm tra vở của học sinh, sổ điểm định kì, đột xuất vẫn còn được đánh giá ở mức trung bình là 24,4%, phổ biến cho giáo viên các văn bản quy định về chế độ kiểm tra, cho điểm, xếp loại học sinh ở mức trung bình là 22,2%. Nguyên nhân là do hiệu trưởng chưa có biện pháp quy định cụ thể cho giáo viên, quản lý chưa chặt chẽ. Điều này cho thấy biện pháp quản lý của hiệu trưởng chưa khoa học, việc quản lý còn hạn chế. Luận văn: Thực trạng QL dạy học môn Tiếng Việt tại các trường.
- Thực trạng quản lý hoạt động học tập môn Tiếng Việt của học sinh vùng dân tộc thiểu số của huyện Võ Nhai
Một điều đáng quan tâm trong hoạt động học tập của học sinh là hiệu trưởng phải quan tâm chỉ đạo thầy cô giáo bồi dưỡng phương pháp tự học cho học sinh, hướng dẫn các em cách tự học ở trên lớp cũng như ở nhà, yêu cầu các em xây dựng thời gian biểu học tập ở nhà, kiểm tra việc học ở nhà của các em trên cơ sở phối hợp các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường.
Để quản lý việc học tập của học sinh, các nhà trường đã quan tâm tới việc giáo dục tinh thần, thái độ, động cơ học tập, tính trung thực trong học tập, ý chí vươn lên. Xây dựng và kiên trì thực hiện nền nếp học tập, nhiều trường nền nếp học tập có tiến bộ rõ rệt trên cơ sở phối kết hợp tốt các lực lượng giáo dục như: tổng phụ trách, chủ nhiệm lớp, hội cha mẹ học sinh… các nhà trường đã áp dụng khá tốt các hình thức động viên khen thưởng, phê bình, kỷ luật học sinh.
Để xác định thực trạng việc quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt cho học sịnh vùng dân tộc thiểu số huyện Võ Nhai, chúng tôi đã khảo sát 45 cán bộ quản lý và giáo viên và kết quả thu được như sau:
- Bảng 2.12: Nội dung quản lý hoạt động học tập môn Tiếng Việt của học sinh
Qua kết quả điều tra cho thấy, các nhà trường đã làm một số công việc quản lý hoạt động học của học sinh như sau:
Biên chế lớp một cách hợp lý, khoa học đảm bảo đồng đều giữa các lớp. Chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm lớp xây dựng nề nếp, các quy định cụ thể và kiện toàn cơ cấu cán bộ lớp. Chỉ đạo tổ chức họp phụ huynh đầu năm học để nhà trường, giáo viên chủ nhiệm lớp thông báo cho phụ huynh nắm được kế hoạch và phương hướng, nhiệm vụ năm học của nhà trường, thông qua họp phụ huynh nhà trường và giáo viên chủ nhiệm thống nhất với phụ huynh các biện pháp giáo dục học sinh của lớp trong năm học.
Tuy nhiên qua kết quả điều tra, nhà trường chưa thực hiện triệt để nội dung quản lý đánh giá, nắm tình hình và năng lực học tập môn Tiếng Việt, tỉ lệ phiếu đánh giá mức 13,3% phiếu đánh giá là chưa thường xuyên.
Thông qua sổ liên lạc giáo viên chủ nhiệm thông báo cho cha mẹ học sinh tình hình học tập của con em mình trên lớp, đồng thời qua cha mẹ học sinh, giáo viên chủ nhiệm nắm bắt được tình hình học tập ở nhà của học sinh. Nhà trường đã có nhiều cố gắng trong việc chỉ đạo hoạt động học của học sinh theo kế hoạch, song vẫn còn hạn chế đó là sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc giáo dục học sinh chưa được quan tâm đúng mức. Giáo viên chủ nhiệm chưa duy trì thường xuyên việc thông báo tình hình học tập của học sinh qua sổ liên lạc (thể hiện ở mức độ thực hiện chưa thường xuyên là 13,3%). Kết quả quản lý việc hoạt động học tập môn Tiếng Việt đạt mức độ khá và tốt được đánh giá từ 60% trở lên, bên cạnh đó việc tổ chức bồi dưỡng học sinh giỏi, phụ đạo học sinh yếu môn Tiếng Việt có 40% được đánh giá ở mức trung bình. Chỉ đạo giáo viên chủ nhiệm phối hợp với phụ huynh học sinh thông báo tình hình học tập của học sinh thông qua sổ liên lạc hàng tháng có 33,8% đạt kết quả ở mức trung bình. Luận văn: Thực trạng QL dạy học môn Tiếng Việt tại các trường.
- Thực trạng quản lý sử dụng phương tiện và các điều kiện phục vụ dạy học môn Tiếng Việt
Phương tiện và các điều kiện hỗ trợ hoạt động giảng dạy là một trong những đặc trưng chủ yếu và là yêu cầu bắt buộc của hoạt động giảng dạy môn Tiếng Việt, nhất là ở bậc tiểu học. Phương tiện, điều kiện hỗ trợ giảng dạy giúp cho học sinh lĩnh hội tốt nhất hệ thống kiến thức mà chương trình dạy học đòi hỏi. Phương tiện, điều kiện phục vụ giảng dạy đầy đủ, đồng bộ, được quản lý và khai thác sử dụng tốt sẽ có tác động tích cực đối với việc nâng cao chất lượng giảng dạy môn học của đội ngũ giáo viên.
Để tìm hiểu thực trạng quản lý phương tiện và các điều kiện phục vụ cho công tác giảng dạy tại các trường dân tộc thiểu số tại huyện Võ Nhai, chúng tôi tiến hành khảo sát 45 giáo viên và thu được kết quả ở bảng 2.16 như sau:
- Bảng 2.13: Thực trạng quản lý phương tiện, các điều kiện phục vụ hoạt động giảng dạy
Qua kết quả nghiên cứu thực tế thu được cho thấy, có 100% phiếu điều tra đánh giá hiệu trưởng đã quan tâm thực hiện thường xuyên công tác tham mưu với cơ quan quản lý cấp trên trong việc đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ giảng dạy. Việc quản lý, sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất thiết bị dạy học hiện có ở trường được đánh giá khá – tốt nhưng tỉ lệ chưa thật cao, có 10/45 phiếu đánh giá ở mức độ không thường xuyên, chiếm 22,2%. Việc tổ chức phong trào làm đồ dùng dạy học trong đội ngũ giáo viên chưa được hiệu trưởng các trường quan tâm thực hiện thường xuyên và chưa nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình của đội ngũ giáo viên. Vì vậy kết quả thực hiện đạt ở mức độ trung bình là điều tất nhiên, có 13/45 phiếu đánh giá chưa thường xuyên chiếm tỷ lệ 28,9%. Kết quả đạt tốt và khá được đánh giá đạt từ 53,3% trở lên, Hằng năm bổ sung các tài liệu, thiết bị dạy học môn tiếng Việt đáp ứng yêu cầu kết quả yếu kém cò chiếm 8,9%. Tổ chức phong trào làm đồ dùng dạy học trong giáo viên được đánh giá cũng cong nhiều hạn chế yếu kém chiếm 4,4%. Khi được phỏng vấn đa số giáo viên đều cho rằng vấn đề khó khăn nhất hiện nay trong việc tự làm đồ dùng dạy học còn nhiều hạn chế vì giá trị sử dụng không cao. Tuy nhiên hiệu trưởng chưa có biện pháp quản lí nhằm giải quyết vấn đề này cũng như khuyến khích động viên giáo viên tham gia tháo gỡ khó khăn nhằm mang lại hiệu quả thật sự.
2.4. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng tới công tác quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học vùng DTTS huyện Võ Nhai.
Qua kết quả khảo sát vừa trình bày ở phần 2.3 có thể thấy rằng công tác quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học vùng DTTS huyện Võ Nhai thời gian qua bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố trong đó có cả yếu tố chủ quan như: phẩm chất chính trị: Đạo đức nghề nghiệp, lối sống tác phong, giao tiếp và ứng xử. Trình độ và năng lực quản lý: Hiểu biết nghiệp vụ quản lý, xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch phát triển nhà trường, cán bộ, giáo viên, nhân viên nhà trường, quản lý học sinh và yếu tố khách quan như: Điều kiện cơ sở vật chất – phương tiện kỹ thuật phục vụ hoạt động dạy, điều kiện về số lượng, chất lượng đội ngũ giáo viên và học sinh, sự hợp tác phối hợp của các thành viên và tổ chức trong tập thể nhà trường, sự quan tâm của lãnh đạo các cấp, thực hiện tốt xã hội hóa giáo dục, điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội ở địa phương. Đây cũng là cơ sở để đề xuất các biện pháp ở chương 3.
2.5. Đánh giá chung về thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt tại các trường tiểu học huyện Võ Nhai Luận văn: Thực trạng QL dạy học môn Tiếng Việt tại các trường.
Qua nghiên cứu thực tế về các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt của hiệu trưởng trường tiểu học huyện Võ Nhai tác giả đã khái quát được những mặt mạnh, cũng như những mặt còn hạn chế trong quá trình quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt của hiệu trưởng nhà trường.
2.4.1. Mặt mạnh
- Về mặt tác động tới nhận thức của giáo viên
Giáo viên nhận thức được vai trò quan trọng của người thầy trong quá trình dạy học, trong việc nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt, đồng thời nêu cao tinh thần, trách nhiệm của người giáo viên trong công tác giảng dạy, nghiêm túc thực hiện mọi nội quy, quy chế của nhà trường và của ngành đề ra.
- Về quản lý hoạt động dạy của giáo viên
Cán bộ quản lý nhà trường là những người có lập trường tư tưởng vững vàng, có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ chuyên môn nghiệp vụ đạt chuẩn. Là những người nhiệt tình, tâm huyết với công việc, có tinh thần trách nhiệm, năng động.
Hiệu trưởng đã đề ra kế hoạch chung, kế hoạch quản lý phù hợp với thực tế nhà trường, có những quyết định đúng đắn kịp thời, tổ chức công việc tương đối hợp lý, khoa học. Luận văn: Thực trạng QL dạy học môn Tiếng Việt tại các trường.
Việc quản lý chương trình dạy học ở nhà trường được thực hiện nghiêm túc, có các biện pháp kiểm tra thường xuyên, không có hiện tượng dạy dồn, hay cắt xén chương trình. Nhà trường đều thực hiện đúng tiến độ, bám sát phân phối chương trình và thực hiện lịch báo giảng đều đặn theo khối lớp.
Việc dự giờ thăm lớp, rút kinh nghiệm bài giảng, đánh giá kết quả giáo viên qua các đợt thao giảng được tổ chức thường xuyên, có tác dụng tốt trong việc cải tiến phương pháp giảng dạy, nâng cao trình độ chuyên môn của giáo viên.
Hàng năm, nhà trường đều tổ chức cho cán bộ giáo viên học tập quy chế, nhiệm vụ năm học mới, tiêu chuẩn đánh giá xếp loại…và đã thực hiện tốt.
Hiệu trưởng đã phát huy được vai trò của tổ chuyên môn trong việc hoạt động giảng dạy của giáo viên; dự giờ, thống nhất nội dung bài giảng, góp ý xây dựng giờ dạy.
Xây dựng được chế độ khen thưởng, tổ chức tuyên dương khen chê kịp thời, đúng mức có tác dụng đẩy mạnh phong trào thi đua.
Duy trì chế độ kiểm tra chuyên môn định kì, đột xuất, phối hợp chặt chẽ với tổ chức trong nhà trường để kiểm tra đánh giá việc thực hiện nền nếp dạy và học.
- Về quản lý hoạt động học của học sinh
Quản lý tốt việc thực hiện nền nếp của học sinh. Phần lớn học sinh ngoan ngoãn, kính trọng thầy cô giáo, đoàn kết với bạn bè, chấp hành nghiêm túc các nội quy của lớp cũng như của trường đề ra.
Thực hiện tốt việc phân công đội ngũ cán sự lớp là những em có phẩm chất đạo đức tốt, có thành tích học tập cao, nhiệt tình, có năng lực điều hành quản lý các hoạt động của lớp.
2.4.2. Hạn chế Luận văn: Thực trạng QL dạy học môn Tiếng Việt tại các trường.
- Về quản lý hoạt động dạy của giáo viên
Việc quản lý khâu soạn bài, chuẩn bị bài lên lớp, đổi mới phương pháp giảng dạy, quản lý việc kiểm tra đánh giá học sinh còn lỏng lẻo, nặng về hình thức, chưa thực sự tích cực đổi mới, chưa đi vào chiều sâu. Cụ thể:
Về tổ chức, thực hiện kế hoạch, còn thiếu tính thường xuyên. Việc quản lý chuẩn bị bài và soạn bài trên lớp mới chỉ quan tâm đến số lượng và hình thức giáo án chứ chưa quan tâm đến chất lượng của giáo án, vẫn còn hiện tượng dạy chay. Dự giờ rút kinh nghiệm sư phạm bài dạy, còn mang tính chiếu lệ, ít chú ý tới phương pháp, nội dung và cách thức tổ chức lớp học mà chủ yếu chỉ kiểm tra, đánh giá các bước lên lớp.
Việc chỉ đạo dạy học theo phương pháp dạy học tích cực còn lúng túng. Phương pháp dạy học còn nặng về truyền thụ một chiều, ít phát huy được tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh.
Về xây dựng kế hoạch phần lớn chưa xây dựng được kế hoạch dài hạn, nhà trường chủ yếu quan tâm tới kế hoạch năm học của trường, còn kế hoạch của các bộ phận, các tổ nhóm chuyên môn và của cá nhân thì sơ sài, chiếu lệ, đối phó cho nên tính khả thi của kế hoạch rất yếu. Bên cạnh đó, duyệt kế hoạch thực chất chỉ là ký xác nhận kế hoạch của giáo viên.
- Công tác bồi dưỡng giáo viên chưa được quan tâm đúng mức.
Việc chỉ đạo chế độ dự giờ thăm lớp, đúc kết kinh nghiệm của tổ chuyên môn và việc tổ chức bồi dưỡng giáo viên theo chuyên đề chưa được duy trì thường xuyên, việc bồi dưỡng nâng cao tay nghề cho một bộ phận giáo viên đã giảng dạy nhiều năm nhưng trình độ chuyên môn còn hạn chế chưa được chú trọng đúng mức.
Công tác chỉ đạo tổ chuyên môn, phát động phong trào làm thiết bị dạy học và việc sử dụng thiết bị đồ dùng dạy học chưa thường xuyên. Luận văn: Thực trạng QL dạy học môn Tiếng Việt tại các trường.
Do thiếu kinh phí nên thiết bị, tài liệu dạy học môn học chưa đáp ứng được nhu cầu của giáo viên trong tình hình mới. Nhà trường chưa chú ý bổ sung sách tham khảo cho giáo viên, trong thư viện nhà trường chủ yếu là sách được cấp phát.
- Về quản lý hoạt động học của học sinh
Việc kiểm tra đánh giá hoạt động học tập của HS chưa khách quan, chưa thực sự phản ánh đúng chất lượng học tập của học sinh, chưa kích thích được học sinh trong học tập. Sự phối hợp giữa gia đình và nhà trường trong việc giáo dục học sinh chưa được quan tâm đúng mức.
2.4.3. Nguyên nhân những tồn tại
- Nguyên nhân khách quan
Nguồn ngân sách chi cho giáo dục còn hạn chế, việc huy động đóng góp từ phụ huynh học sinh, từ các cơ quan đoàn thể còn gặp nhiều khó khăn nên cơ sở vật chất chưa hoàn thiện, còn bất cập so với yêu cầu đổi mới. Công tác xã hội hóa chưa cao.
- Nguyên nhân chủ quan
Đội ngũ cán bộ quản lý đều trưởng thành đi lên từ giáo viên trực tiếp đứng lớp, một số mới qua bồi dưỡng về nghiệp vụ quản lý nên gặp nhiều khó khăn trong công việc nắm bắt hệ thống lý luận quản lý để thực hiện vận dụng vào thực tiễn, do đó làm việc thường dựa vào kinh nghiệm, dựa vào suy diễn chủ quan của cá nhân.
Đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, trình độ đạt chuẩn, song về thực chất, năng lực chuyên môn còn hạn chế vì chưa chịu cải tiến phương pháp dạy học, ngại tiếp cận với trang thiết bị hiện đại.
Một số cán bộ còn hạn chế về năng lực và nghiệp vụ quản lý, chưa tích cực tự học, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ quản lý để đáp ứng ngày càng cao sự nghiệp giáo dục. Thậm chí, một số còn chưa coi trọng đúng mức công tác dạy học, thiếu các biện pháp quản lý phù hợp, do đó hiệu quả công tác quản lý chưa cao. Chưa coi trọng xây dựng nền nếp dạy học và kiểm tra hoạt động dạy của giáo viên, ít tham gia dự giờ. Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác quản lý giáo dục chưa thường xuyên, khoa học. Luận văn: Thực trạng QL dạy học môn Tiếng Việt tại các trường.
Kết luận chương 2
Quá trình khảo sát và phân tích thực trạng hoạt động dạy học môn Tiếng Việt và quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số huyện Võ Nhai đã cho thấy: Công tác quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt đã được các cấp, các ban ngành, các nhà trường quan tâm và đã đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên tính hiệu quả của hoạt động này chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của xã hội, chưa tương ứng với ý nghĩa, giá trị của nó trong công tác giáo dục. Trên thực tế điều tra, còn nhiều nhà quản lý, giáo viên chưa nhận thức, đánh giá đúng vai trò của dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số, nhiều học sinh kết quả cuối năm chưa hoàn thành.
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này trong đó chúng ta không thể không kể đến nguyên nhân từ góc độ quản lý, năng lực của học sinh, của giáo viên, về điều kiện CSVC, trang thiết bị phục vụ cho công tác dạy và học…. Để khắc phục tình trạng này cán bộ quản lý các trường học phải tìm tòi, nghiên cứu tìm ra những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng dạy môn Tiếng Việt trong nhà trường. Đó là những nội dung tác giả của luận văn trình bày ở chương 3. Luận văn: Thực trạng QL dạy học môn Tiếng Việt tại các trường.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp QL dạy học môn Tiếng Việt tại các trường

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

