Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Biện pháp QL dạy học môn Tiếng Việt tại các trường hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt tại các trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
3.1. Nguyên tắc đề xuất các biện pháp
3.1.1. Nguyên tắc đảm bảo tính đồng bộ của các biện pháp
Xuất phát từ bản chất của quá trình quản lý của người Hiệu trưởng trong nhà trường, trong đó tập trung vào việc lập kế hoạch, chỉ đạo hoạt động dạy của giáo viên, hoạt động học của học sinh, điều hành hoạt động dạy học và các hoạt động khác phục vụ cho hoạt động dạy học môn Tiếng Việt trong nhà trường. Các hoạt động này nhằm tạo ra kỷ cương, nề nếp, phối hợp với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà truờng, tạo ra được môi trường giáo dục lành mạnh, nhằm nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường. Đảm bảo tính đồng bộ của các biện pháp phải chú ý đến các yếu tố tác động tham gia vào các biện pháp của đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất – thiết bị dạy học. Chỉ khi thực hiện đồng bộ các biện pháp mới phát huy thế mạnh của từng biện pháp, trong việc nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt trong nhà trường.
3.1.2. Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn của các biện pháp
Các biện pháp phải được thể hiện và cụ thể hoá đường lối, phương châm giáo dục của Đảng và Nhà nước, phù hợp với định chế giáo dục của ngành trong quá trình quản lý. Muốn vậy phải xác định định hướng chiến lược phát triển giáo dục hiện nay, các biện pháp cụ thể để thực hiện chiến lược giáo dục trong đó việc nâng cao chất lượng dạy học trong nhà trường là một trong những yếu tố cấp bách cần được tập trung giải quyết. Nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt trong nhà trường, đòi hỏi người Hiệu trưởng phải tìm ra các biện pháp quản lý của mình. Tính thực tiễn của các biện pháp đòi hỏi phải tìm các biện pháp quản lý phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện, môi trường của nhà trường tiểu học, của đặc thù bộ môn Tiếng Việt, trên cơ sở tuân thủ nghiêm các hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
3.1.3. Nguyên tắc đảm bảo tính khả thi của các biện pháp
Không gây áp lực, quá tải cho giáo viên và học sinh, biện pháp tổ chức phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, của nhà trường, lớp học.
Tạo hứng thú cho người học và tinh thần trách nhiệm cho người dạy để thu hút các thành viên trong nhà trường tham gia.
Xây dựng chất lượng giáo dục hiệu quả, tạo dựng niềm tin và tinh thần trách nhiệm của chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể các cấp, của cộng đồng của cha mẹ học sinh tham gia vào các hoạt động giáo dục với nhà trường.
3.2. Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số huyện Võ Nhai Luận văn: Biện pháp QL dạy học môn Tiếng Việt tại các trường.
3.2.1. Chỉ đạo phát triển chương trình dạy học môn Tiếng Việt theo hướng tiếp cận năng lực học sinh đáp ứng chương trình phát triển giáo dục tổng thể
- Mục tiêu biện pháp
Mục tiêu giáo dục của chương trình định hướng năng lực là kết quả học tập cần đạt được mô tả chi tiết và có thể quan sát được, thể hiện được mức độ tiến bộ của học sinh một cách liên tục.
- Nội dung và cách thức thực hiện
Nội dung giáo dục là những nội dung nhằm đạt được kết quả đầu ra đã quy định, gắn với các tình huống thực tiễn. Chương trình chỉ quy định những nội dung chính, không quy định chi tiết. Với chương trình này, giáo viên chủ yếu là người tổ chức, hỗ trợ học sinh tự lực và tích cực lĩnh hội tri thức. Trong đó, chú trọng sự phát triển khả năng giải quyết các vấn đề, khả năng giao tiếp và chú trọng sử dụng các quan điểm, phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực, các phương pháp dạy học thí nghiệm, thực hành.
Dạy học theo hướng tiếp cận năng lực là phương pháp dạy học nhắm trúng vào năng lực của người học để thiết kế chương trình. Muốn dạy học theo hướng này đạt hiệu quả mong muốn thì khâu xác định sở thích và năng lực người học là quan trọng hàng đầu, nhưng chỉ dựa vào sở thích của người học thì đúng, nhưng chưa đủ. Để thành công, yếu tố có tính quyết định ở đây là năng lực người học. Vì vậy giáo viên cần chuẩn bị các nội dung câu hỏi phù hợp, căn cứ vào bài dạy sao cho phù hợp.
- Điều kiện để thực hiện biện pháp Luận văn: Biện pháp QL dạy học môn Tiếng Việt tại các trường.
Các nội dung giáo dục nâng cao nhận thức cho cán bộ quản lý, giáo viên về hoạt động dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh vùng dân tộc thiểu số phải theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, các quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, phù hợp với điều kiện thực tế địa phương, nhà trường.
Cán bộ quản lý phải luôn gương mẫu, nêu cao tinh thần trách nhiệm về việc giáo dục, bồi dưỡng nâng cao nhận thức cho đội ngũ giáo viên và học sinh.
Đội ngũ giáo viên phải thực sự tâm huyết, tư tưởng cầu tiến bộ, có khả năng quản lý lớp cũng như đánh giá thực trạng để nâng cao trình độ chuyên môn.
3.2.2. Chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tăng cường thực hành trải nghiệm cho học sinh
- Mục tiêu giải pháp
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo được cho là có thể mang lại cho học sinh cơ hội và điều kiện phát triển năng lực, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng. Với hoạt động trải nghiệm sáng tạo, hình thức và không gian dạy học được đổi mới, mở rộng ra ngoài lớp học, lực lượng tham gia quá trình dạy học không chỉ là giáo viên trong trường mà có sự tham gia của các thành phần xã hội. Hoạt động giáo dục trải nghiệm sáng tạo chính là thực hiện quan điểm, định hướng “học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn liền với xã hội”.
Thông qua việc tổ chức thực hiện đổi mới phương pháp dạy học cho phù hợp với đối tượng học sinh.
- Nội dung và cách thức thực hiện Luận văn: Biện pháp QL dạy học môn Tiếng Việt tại các trường.
Nội dung chương trình trải nghiệm môn Tiếng Việt tập trung vào các hoạt động phát triển bản thân, kỹ năng sống, quan hệ với bạn bè, thầy cô và người thân trong gia đình. Bên cạnh đó, các hoạt động lao động, các hoạt động xã hội và làm quen với một số nghề gần gũi cũng được tổ chức thực hiện.
Trong năm học các trường học đã tổ chức một số hoạt động trải nghiệm như:
- Tham quan, dâng hương Di tích lịch sử văn hóa ở địa phương vào ngày hội và trải nghiệm các hoạt động trong ngày Hội của các làng trong xã
- Viếng, chăm sóc các ngôi mộ liệt sĩ ở Nghĩa trang liệt sỹ của xã để thể hiện đạo lí Uống nước nhớ nguồn…
- Quyên góp quần áo, sách vở, đồ dùng học tập,… ủng hộ các bạn nhỏ vùng bị thiên tai, lũ lụt.
- Tổ chức trải nghiệm cho học sinh qua các hội thi như: Thi vẽ tranh, Thi kể chuyện theo sách, theo tranh, Thi đọc thơ diễn cảm, Tổ chức ngày hội đọc sách, thi đấu cầu lông, cờ vua, bóng đá mi ni,…
Chỉ đạo thực hiện các nguyên tắc dạy Tiếng Việt theo định hướng đổi mới. Thông qua các hoạt động chuyên môn như: chuyên đề, hoạt động ngoại khóa của trường, lớp, nhà trường chỉ đạo và kiểm tra, đánh giá giáo viên thực hiện các nguyên tắc dạy Tiếng Việt theo định hướng đổi mới.
Nguyên tắc hướng vào hoạt động giao tiếp: Nguyên tắc này sẽ chi phối trực tiếp việc chọn và sắp xếp nội dung kiến thức cần dạy. Kiến thức về Tiếng Việt chỉ có ý nghĩa khi chúng góp phần hình thành các kỹ năng giao tiếp (nghe, nói, đọc, viết).
Nguyên tắc chú ý đến trình độ tiếng Việt vốn có của học sinh: Đối với học sinh thì vốn tiếng Việt trước khi vào lớp 1 là rất ít. Do đó giáo viên dạy lớp 1 phải có một phương pháp phù hợp, vừa giúp các em hiểu bài, vừa phát huy tính chủ động, tích cực của các em trong giờ học Tiếng Việt. Luận văn: Biện pháp QL dạy học môn Tiếng Việt tại các trường.
Nguyên tắc rèn luyện ngôn ngữ gắn liền với rèn luyện tư duy: Chuẩn bị đầy đủ, tạo mọi điều kiện cho các em nắm được nội dung các vấn đề cần viết hoặc nói (đặc biệt là nội dung sự kiện cho các đề bài tập làm văn). Muốn vậy, đề tài của các bài tập làm văn phải gần gũi với cuộc sống thực tế của các em. Giáo viên phải tổ chức cho học sinh tìm hiểu, quan sát, ghi chép đầy đủ và phong phú các tư liệu cần thiết trước khi viết hoặc nói.
Nguyên tắc kết hợp rèn luyện cả 4 kỹ năng ngôn ngữ (nghe, nói, đọc, viết). Học sinh tiểu học khi mới đến trường, các em chỉ mới biết nói chứ chưa biết đọc, biết viết. Do đó, trong quá trình dạy Tiếng Việt cho học sinh, bên cạnh việc dạy đọc và viết, giáo viên cần lưu ý luyện cho các em kỹ năng nói và nghe.
Tóm lại: Các nguyên tắc dạy Tiếng Việt chỉ trở thành cơ sở cho việc dạy tiếng khi chúng được đúc kết từ thực tiễn dạy học Tiếng Việt trên những quy luật chung của nó. Bảo đảm các nguyên tắc cơ bản của việc dạy tiếng là tiền đề, là điều kiện tiên quyết để đạt mục đích dạy và học môn Tiếng Việt.
- Chỉ đạo thực hiện các phương pháp dạy học tích cực sao cho phù hợp với đối tượng học sinh.
Trong phạm vi nghiên cứu, đề tài chỉ đề cập đến những phương pháp dạy học tích cực sau đây mà nhà trường cần chỉ đạo thực hiện bởi tính đổi mới và phù hợp của nó trong việc giảng dạy Tiếng Việt.
Dạy học Tiếng Việt theo định hướng giao tiếp: Một trong những mục tiêu hàng đầu của môn Tiếng Việt ở bậc tiểu học là rèn luyện các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi. Chính vì thế, chương trình tiểu học mới đã quan tâm đến việc dạy Tiếng Việt thông qua hoạt động giao tiếp.
Bản chất của tính giao tiếp là dùng mọi biện pháp làm cho quá trình dạy Tiếng Việt giống hoặc gần giống với giao tiếp tự nhiên. Nói cách khác, phương pháp giao tiếp được xây dựng trên cơ sở quá trình dạy và học tiếng là mô hình của giao tiếp tự nhiên. Quá trình dạy học theo phương pháp giao tiếp phải tạo điều kiện cho học sinh nảy sinh các nhu cầu giao tiếp, hứng thú giao tiếp, nghĩa là dạy và học trong giao tiếp. Luận văn: Biện pháp QL dạy học môn Tiếng Việt tại các trường.
Tổ chức trò chơi học tập Tiếng Việt: Cùng với các phương pháp dạy học hiện đại theo xu thế đổi mới, trò chơi học tập là một phương pháp tổ chức dạy học có nhiều tác dụng trong việc phát huy tính tích cực học tập của học sinh trong quá trình tiếp thu kiến thức. Xuất phát từ tâm lý học lứa tuổi, có thể khẳng định phương pháp tổ chức trò chơi học tập là phương pháp dạy học rất phù hợp với học sinh tiểu học, đặc biệt là trong việc tiếp thu và vận dụng kiến thức Tiếng Việt, môn học gần gũi với thực tế cuộc sống hàng ngày.
Phương pháp học tập hợp tác (theo nhóm): Hình thức tổ chức dạy học theo phương pháp học tập hợp tác có ý nghĩa và tác dụng tích cực. Tất cả học sinh đều được làm việc và thực hành luyện tập, biết giúp đỡ lẫn nhau, giải quyết được những vấn đề khó và tìm ra cái mới trong bài học, tạo thái độ học tập tích cực, đặc biệt bước đầu giúp các em làm quen với phong cách làm việc hợp tác.
Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy môn Tiếng Việt: Trong xu thế phát triển của xã hội hiện nay, việc đưa thành tựu khoa học công nghệ phục vụ dạy học là xu thế tất yếu của xã hội hiện đại, của nền kinh tế tri thức.
Ưu điểm lớn nhất của bài giảng điện tử là nội dung bài học được minh hoạ bằng những âm thanh, hình ảnh sống động, làm cho học sinh thích thú và tiếp thu bài nhẹ nhàng hơn, ứng dụng Công nghệ thông tin đảm bảo nâng cao khả năng tự học, phát triển tư duy tích cực của người học, đồng thời tạo điều kiện cho người dạy tự hoàn thiện, tự cập nhật thông tin nhanh chóng, đáp ứng nhu cầu đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục nói chung và đối với bộ môn Tiếng Việt bậc tiểu học nói riêng.
Tuy nhiên, việc ứng dụng Công nghệ thông tin vào dạy học môn Tiếng Việt khá khó khăn, phức tạp, cần đầu tư rất nhiều thời gian, kinh phí, công sức và trí tuệ của cả người dạy và nhà quản lý để đảm bảo các điều kiện cho việc thực hiện phương pháp này. Trước những khó khăn, trở ngại đó, để thực hiện tốt hình thức dạy học này, hiệu trưởng cần phải quan tâm chỉ đạo:
Đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị hiện đại, cần thiết cho việc ứng dụng công nghệ thông tin vào việc giảng dạy.
Tổ chức bồi dưỡng cho đội ngũ tổ trưởng và giáo viên kiến thức về tin học và việc sử dụng các phần mềm để soạn và giảng một bài giảng điện tử. Luận văn: Biện pháp QL dạy học môn Tiếng Việt tại các trường.
Tổ chức những chuyên đề giảng dạy Tiếng Việt có sự hỗ trợ của công nghệ thông tin để giáo viên học hỏi, rút kinh nghiệm về kĩ năng thực hiện một giáo án điện tử. Tránh làm cho bài giảng thiên về trình diễn thông tin và lạm dụng các hiệu ứng hoạt hình vì những bài giảng ấy chỉ thu hút học sinh lúc ban đầu, do các em tò mò, thích thú với cái mới lạ, cái sống động. Nhưng chính nó sẽ triệt tiêu các hoạt động tích cực của học sinh, đi lệch trọng tâm yêu cầu một tiết dạy theo phương pháp mới.
Bài giảng điện tử không thể thay thế việc biên soạn giáo án và thực hành giảng dạy bằng phương pháp truyền thống, mà nên quan niệm đó là một trong những hình thức tổ chức bài lên lớp trong đó toàn bộ kế hoạch hoạt động dạy học đều được chương trình hoá do giáo viên điều khiển thông qua phương tiện công nghệ thông thông tin.
- Điều kiện để thực hiện biện pháp
Ban giám hiệu nhà trường phải quan tâm bồi dưỡng nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ giáo viên, nhân viên thấy được ý nghĩa, tầm quan trọng, tính cấp thiết của hoạt động dạy học môn Tiếng Việt cho các em học sinh nhằm giúp các em qua các bài học giáo dục kỹ năng sống.
Tổ chức bồi dưỡng giáo viên về đổi mới phương pháp hoạt động dạy học môn Tiếng Việt, thống nhất sử dụng các phương pháp gợi mở, thảo luận, tạo tình huống, đề xuất giải quyết, tìm cách khám phá giải quyết vấn đề.
Tổ chức cho giáo viên tham gia trao đổi về chuyên môn tích cực, lành mạnh, thông qua đó để giáo viên cọ sát về chuyên môn, về phương pháp và xử lý tình huống trong hoạt động dạy học môn Tiếng Việt một cách đạt hiệu.
Nhà trường khuyến khích giáo viên tự làm đồ dùng dạy học hỗ trợ thêm cho quá trình giảng dạy.
Tổ chức bồi dưỡng giáo viên làm quen với các hình thức tổ chức theo hướng mở, biết phát huy tính tích cực và tạo điều kiện cho học sinh cùng trải nghiệm.
Tổ chức các hoạt động trải nghiệm cho học sinh bằng nhiều hình thức với kinh phí xã hội hóa từ nhiều nguồn lực để tổ chức một cách hiệu quả.
Tóm lại, mỗi phương pháp, hình thức dạy học có mặt mạnh và hạn chế riêng, phù hợp với từng loại bài riêng, từng khâu riêng của quá trình dạy học. Vì vậy, không nên quá lạm dụng hoặc phủ định hoàn toàn một phương pháp, hình thức dạy học nào. Điều quan trọng là cần căn cứ vào nội dung, tính chất từng bài. Căn cứ vào trình độ học sinh và năng lực, sở trường của giáo viên. Căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh của từng trường, từng lớp mà lực chọn và sử dụng kết hợp các phương pháp, hình thức dạy học một cách hợp lý, đúng mức, tiến tới mục đích cuối cùng là đạt hiệu quả giảng dạy tốt.
3.2.3. Đổi mới kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy học môn Tiếng Việt trong trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số của huyện Võ Nhai Luận văn: Biện pháp QL dạy học môn Tiếng Việt tại các trường.
- Mục tiêu giải pháp
- Đổi mới ba hình thức đánh giá:
Thứ nhất là đánh giá thường xuyên, do giáo viên môn học phụ trách, kết hợp đánh giá của giáo viên, của phụ huynh học sinh, của chính học sinh được đánh giá và của các học sinh khác trong tổ, trong lớp.
Thứ hai là đánh giá định kỳ, do nhà trường tổ chức với mục tiêu quản lý, nâng cao chất lượng và phân loại học sinh.
Thứ ba là đánh giá trên diện rộng ở cấp quốc gia, cấp địa phương, do tổ chức khảo thí cấp quốc gia hay cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tổ chức để phục vụ công tác quản lý các hoạt động dạy học, bảo đảm chất lượng đánh giá kết quả giáo dục ở cơ sở giáo dục, phục vụ công tác phát triển chương trình và nâng cao chất lượng giáo dục.
- Nội dung và cách thức thực hiện Luận văn: Biện pháp QL dạy học môn Tiếng Việt tại các trường.
Kiểm tra, đánh giá trong hoạt động dạy học là kiểm tra, đánh giá các hoạt động dạy học của cả thầy và trò. Kiểm tra, đánh giá tốt các nội dung của hoạt động dạy học, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch năm học.
Đối với giáo viên: kiểm tra, đánh giá các nội dung hoạt động dạy học như việc thực hiện chương trình dạy học, soạn bài, giờ dạy trên lớp, những quy định về chuyên môn.
Đối với học sinh: kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh từ đó xác định chất lượng của học sinh để đánh giá chính xác công tác dạy học của thầy.
Người hiệu trưởng phải coi đổi mới việc kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy học là một nhiệm vụ quan trọng trong công tác quản lý nhà trường, do vậy họ phải xác định được những yêu cầu của việc đổi mới kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy học trường tiểu học đó là:
Phát hiện, đánh giá được tinh thần, thái độ, chất lượng công tác, những việc làm đúng, chưa đúng, những thiếu sót, lệch lạc… của giáo viên trong việc thực hiện chức năng nhiệm vụ, các quy chế, quy định về chuyên môn nghiệp vụ.
Đánh giá được thực chất, chất lượng học tập, rèn luyện của học sinh, của lớp do từng giáo viên phụ trách.
Chỉ ra được cho thầy và trò phương hướng, biện pháp khắc phục, những tồn tại thiếu sót, bồi dưỡng cho chính bản thân người hiệu trưởng những vấn đề mới, những kinh nghiệm hay về chuyên môn, nghiệp vụ.
Xây dựng được nền nếp dạy học, phân công, phân cấp quản lý rõ ràng và nâng cao tác dụng của công tác kiểm tra hoạt động dạy học trong nhà trường.
Nội dung hoạt động dạy học môn Tiếng Việt trường tiểu học khá đa dạng, phong phú. Tuỳ theo tình hình cụ thể của mỗi trường, của mỗi giai đoạn mà hiệu trưởng xác định những mặt hoạt động trọng tâm để tiến hành kiểm tra, xây dựng kế hoạch kiểm tra cho cả năm học, từng học kì và từng đợt. Luận văn: Biện pháp QL dạy học môn Tiếng Việt tại các trường.
Nội dung kiểm tra đó là đầy đủ các nội dung hoạt động dạy học môn Tiếng Việt như: Kiểm tra việc thực hiện chương trình, kiểm tra việc soạn bài của giáo viên, kiểm tra việc giảng dạy trên lớp và dự giờ của giáo viên, kiểm tra kết quả học tập của học sinh.
Kiểm tra việc thực hiện chương trình dạy học là văn bản pháp quy mà mọi giáo viên phải tuân thủ một cách nghiêm túc. Để kiểm tra việc thực hiện chương trình của giáo viên, hiệu trưởng phải căn cứ vào:
- Bảng phân phối chương trình môn học Tiếng Việt ở tiểu học.
- Căn cứ vào hướng dẫn giảng dạy môn học ở tiểu học, các tài liệu về yêu cầu chỉnh lí, điều chỉnh nội dung dạy học của môn học.
- Kế hoạch dạy học (của tổ, khối chuyên môn và của cá nhân) đối với môn học.
Cách thức kiểm tra việc thực hiện chương trình:
- Lập sổ theo dõi thường xuyên việc thực hiện thời khoá biểu hàng ngày, hàng tuần, hàng tháng, học kì và cả năm học của giáo viên.
- Lên lịch kiểm tra theo đề chung môn học và vở ghi chép bài của học sinh.
- Cuối mỗi tuần, mỗi tháng, mỗi học kì cần kiểm tra, ghi nhận xét việc thực hiện chương trình vào lịch báo giảng của mỗi giáo viên.
Kiểm tra việc soạn bài của giáo viên: hiệu trưởng căn cứ vào những quy định cụ thể đã đề ra về nội dung, yêu cầu chung của một giáo án mà tất cả cần phải đảm bảo khi soạn bài để kiểm tra. Trong kiểm tra nội dung bài soạn môn Tiếng Việt cần đặc biệt lưu ý các yêu cầu sau: Luận văn: Biện pháp QL dạy học môn Tiếng Việt tại các trường.
- Xác định đúng mục đích yêu cầu bài dạy.
- Xác định được các công việc cụ thể cần chuẩn bị của thầy và trò.
- Xác định đúng nội dung kiến thức trọng tâm.
- Xác định phương pháp dạy học phù hợp với các loại đối tượng và phát huy được tính tích cực chủ động của học sinh.
- Xác định hệ thống câu hỏi phù hợp, khai thác được nội dung kiến thức trọng tâm và phù hợp với mỗi loại đối tượng học sinh.
Cách thức tiến hành kiểm tra việc soạn bài:
- Hiệu trưởng trực tiếp kiểm tra theo định kì và kí duyệt.
- Kiểm tra qua dự giờ.
- Kiểm tra gián tiếp qua tổ trưởng, khối trưởng chuyên môn.
Kiểm tra việc giảng dạy trên lớp và việc dự giờ của giáo viên: hiệu trưởng căn cứ vào:
- Giờ lên lớp theo thời khoá biểu của giáo viên để kiểm tra.
- Lịch báo giảng và phân phối chương trình dạy học môn học.
Các quy trình về giờ lên lớp, nề nếp tổ chức dạy học của nhà trường. Việc dự giờ xem xét việc đảm bảo nội dung bài dạy (về kiến thức cơ bản, tính chính xác, tính hệ thống), việc rèn luyện kỹ năng và công tác giáo dục tư tưởng thông qua bài học (phù hợp với đặc trưng bộ môn và mức độ sâu sắc…), việc vận dụng các phương pháp chung và riêng đối với môn học nhằm phát huy tính tích cực, tự giác trong học tập của học sinh. Ngoài ra còn có thể xem xét về phong cách dạy của thầy và cách học của trò.
Kết quả đánh giá chung việc giảng dạy của thầy và kết quả tiếp thu bài học của trò thông qua việc khảo sát chất lượng.
Cách thức tiến hành kiểm tra: hình thức chủ yếu là dự giờ. Việc dự giờ phải được tiến hành thường xuyên và phải có kế hoạch chỉ đạo các tổ, khối chuyên môn và các giáo viên dự giờ của nhau. Có thể dự giờ theo kế hoạch và dự giờ đột xuất.
Dự giờ theo kế hoạch: Chọn giáo viên dạy và lên lịch dự giờ. Hình thức này thường kết hợp với kế hoạch đăng kí thi đua hoặc kết hợp với kế hoạch kiểm tra toàn diện giáo viên hay thanh tra chuyên môn của phòng giáo dục.
Dự giờ đột xuất: Hình thức này giúp hiệu trưởng nắm bắt được thực chất tình hình giảng dạy của giáo viên và nề nếp, chất lượng học tập của học sinh, của đơn vị lớp. Luận văn: Biện pháp QL dạy học môn Tiếng Việt tại các trường.
Kiểm tra kết quả học tập môn Tiếng Việt của học sinh: Hiệu trưởng cần quan tâm đến việc kiểm tra, đánh giá đúng kết quả học tập của học sinh. Chỉ có đánh giá đúng thực chất kết quả học tập của học sinh mới có thể đánh giá chính xác công tác giảng dạy của giáo viên và như vậy mới có thể đánh giá được hiệu quả giảng dạy của nhà trường. Việc đánh giá nghiêm túc, cẩn trọng sẽ hạn chế được các hiện tượng tiêu cực đồng thời cũng giúp thầy và trò cùng thực sự cố gắng, nỗ lực trong dạy và học.
Hiệu trưởng kiểm tra kết quả học tập của học sinh căn cứ vào:
- Yêu cầu, nội dung chương trình môn học.
- Việc phân tích chất lượng đầu vào (có thể tính theo các mốc quy định như chất lượng học tập theo tháng, theo học kì, theo năm học) và so sánh với chất lượng ở thời điểm tiến hành đánh giá.
- Nề nếp học tập của mỗi lớp.
- Cách thức tiến hành kiểm tra:
Kiểm tra chất lượng học tập của môn Tiếng Việt theo chuyên đề chung: Khi sử dụng hình thức kiểm tra này, mỗi tổ chuyên môn nên căn cứ vào yêu cầu nội dung chương trình và phân phối chương trình dạy học môn học để xây dựng một số bộ đề chung (gọi là hình thức ngân hàng đề kiểm tra cho tổ, khối). Hiệu trưởng có thể chọn hoặc bốc ngẫu nhiên một trong số các đề kiểm tra đó làm đề kiểm tra chung cho các lớp trong khối. Sau khi chọn đề kiểm tra, công việc quan trọng là cần tổ chức nghiêm túc việc coi và chấm (coi đúng quy chế, chấm bài kiểm tra theo hai bước độc lập, có đánh phách và dọc phách…). Hình thức này có thể áp dụng cho việc kiểm tra theo định kỳ kiểm tra đầu vào, giữa kỳ 1, cuối năm.
Kiểm tra thông qua việc chấm chữa bài và các thông tin khác. Hiệu trưởng có thể kiểm tra kết quả học tập của học sinh thông qua việc chấm chữa bài trong vở học hoặc qua nhận xét của giáo viên chủ nhiệm, của học sinh.
Một trong những khâu quan trọng làm tăng hiệu quả của công tác kiểm tra là trao đổi, góp ý với giáo viên. Sau khi kiểm tra, ngoài việc nêu những ưu, khuyết điểm thì cần chú ý bồi dưỡng cho giáo viên có thêm những nhận thức đúng, những hiểu biết mới và quan trọng hơn là chỉ ra được các biện pháp phát huy ưu điểm khắc phục thiếu sót. Việc góp ý phải rõ ràng, chính xác cụ thể, thiết thực, sát đối tượng, có cơ sở khoa học, cơ sở pháp lí vững chắc, tránh góp ý một cách chung chung, theo cảm tính. Cuối cùng phải định được thời gian cho đối tượng được kiểm tra sửa chữa khuyết điểm, thiếu sót và thời gian kiểm tra lại việc sửa chữa, điều chỉnh. Luận văn: Biện pháp QL dạy học môn Tiếng Việt tại các trường.
- Điều kiện để thực hiện biện pháp
Hiệu trưởng phải có nhận thức tốt, có khả năng trong việc xác định các giá trị cốt lõi, các chuẩn mực để đưa ra tiêu chí đánh giá chuẩn xác.
- Thực hiện đánh giá phải đảm bảo khách quan, trung thực, chính xác.
Tóm lại, Biện pháp đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy học là một biện pháp quan trọng trong quản lý dạy học môn Tiếng Việt của người Hiệu trưởng. Kiểm tra đánh giá cần theo chuẩn mực và quy trình nhất định thì mới đem lại hiệu quả cho công tác quản lý. Người hiệu trưởng phải coi đổi mới kiểm tra, đánh giá chất lượng dạy học là cột sống của công tác quản lý trường tiểu học. Riêng kế hoạch kiểm tra giảng dạy cần định rõ đối với từng giáo viên trong từng thời gian. Trong công tác kiểm tra, cần đạt được các yêu cầu sau:
Việc kiểm tra phải có kế hoạch cụ thể. Kế hoạch kiểm tra phải nêu rõ mục tiêu, yêu cầu, nội dung, hình thức, phương pháp kiểm tra và thời gian tiến hành. Kế hoạch kiểm tra định kì cần công bố công khai để mọi người cùng thực hiện và tiện theo dõi kết quả.
- Trong kiểm tra phải đảm bảo tính khách quan, chính xác.
- Từng nội dung kiểm tra phải có chuẩn đánh giá thích hợp.
- Trong kiểm tra phải đảm bảo tính linh hoạt đồng bộ và tính liên tục hệ thống.
- Kiểm tra phải dẫn đến tác động điều chỉnh hoạt động dạy học trong nhà trường.
3.2.4. Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị trong dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số của huyện Võ Nhai
Mục tiêu giải pháp Luận văn: Biện pháp QL dạy học môn Tiếng Việt tại các trường.
- Giúp Hiệu trưởng quản lý việc bảo quản và sử dụng thiết bị dạy học môn Tiếng Việt một cách có hiệu quả.
- Huy động các nguồn kinh phí tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị dạy học môn Tiếng Việt cho nhà trường.
Nội dung và cách thức thực hiện
- Nhà trường cần quản lý việc đầu tư xây dựng, mua sắm thiết bị dạy học đạt hiệu quả.
- Việc đầu tư mua sắm thiết bị phải đảm bảo yêu cầu về tính thiết thực, hiệu quả sử dụng và phù hợp với điều kiện nhà trường. Trước hết cần đầu tư những thiết bị tối thiểu, sau đó mới tiến tới đầu tư các thiết bị hiện đại.
- Đầu tư cơ sở vật chất có hiệu quả đảm bảo phòng học đúng quy cách, tạo điều kiện tổ chức các hoạt động dạy học, giáo dục đa dạng, phong phú, sách tham khảo dùng cho học sinh cần gắn liền với đời sống hàng ngày đặc biệt là những tác phẩm văn học, tạp chí Văn học tuổi thơ được các em đặc biệt quan tâm. Nhà trường cần trang bị các tủ sách dùng chung, thư viện lưu động để học sinh dễ tiếp cận.
- Tăng cường các hoạt động kiểm tra, đánh giá việc quản lý và sử dụng sau đầu tư để kiểm định chất lượng sản phẩm, đồng thời tránh thất thoát, lãng phí.
- Nhà trường khuyến khích giáo viên tự làm đồ dùng dạy học môn Tiếng Việt.
- Việc làm đồ dùng dạy học gắn liền với đối tượng là hết sức cần thiết, qua thực tế giảng dạy, nhà trường và giáo viên xác định cụ thể loại đồ dùng dạy học nào cần phải làm thêm để phục vụ giảng dạy từng bài cho học sinh.
- Hàng năm nhà trường tổ chức các cuộc thi “Đồ dùng dạy học tự tạo” tạo thành phong trào thi đua mang lại hiệu quả thiết thực trong công tác dạy và học.
- Bảo quản và sử dụng cơ sở vật chất, thiết bị, đồ dùng dạy học một cách hiệu quả.
Nhà trường thực hiện triệt để các yêu cầu về bảo quản, khai thác và sử dụng cơ sở vật chất, thiết bị, đồ dùng dạy học đảm bảo đạt hiệu quả cao. Trước hết, ưu tiên những phòng xây kiên cố dùng làm phòng thiết bị, đồ dùng dạy học để đảm bảo thiết bị được bảo quản tốt. Người phụ trách thiết bị phải là người có tinh thần trách nhiệm cao, biết sắp xếp và bảo quản thiết bị một cách khoa học, hợp lý. Luận văn: Biện pháp QL dạy học môn Tiếng Việt tại các trường.
Yêu cầu mỗi giáo viên biết xác định từng loại thiết bị dạy học cần thiết cho từng bài dạy, biết cách khai thác triệt để các tính năng, tác dụng của từng loại đồ dùng dạy học. Từ đó sử dụng thiết bị dạy học vào bài giảng sao cho phù hợp đạt hiệu quả, yêu cầu cao nhất. Có hình thức xử lý thích đáng đối với những giáo viên cố tình không chịu sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học trong quá trình dạy học.
- Điều kiện để thực hiện biện pháp
Tăng cường đầu tư CSVC trường lớp, đồ dùng trang thiết bị dạy học phải được tiến hành một cách thường xuyên, phải tham mưu để có sự tham gia lãnh đạo, chỉ đạo của Huyện ủy, HĐND, UBND huyện, cần có cơ chế cùng sự phối kết hợp chặt chẽ giữa Phòng giáo dục với các cấp ủy Đảng, chính quyền địa phương. Đầu tư phải có trọng tâm, trọng điểm, tránh dàn trải không đem lại hiệu quả thiết thực. Làm tốt công tác quản lý, giám sát các nguồn vốn đầu tư cho xây dựng CSVC trường học. Có kế hoạch bảo quản và sử dụng tối ưu CSVC, trang thiết bị được đầu tư mua sắm, tất cả các giờ học, bài học có đồ dùng giáo viên nhất thiết phải sử dụng theo đúng quy định. Cần phải có hồ sơ, sổ sách theo dõi để thuận lợi cho việc quản lý, sử dụng cũng như quy trách nhiệm cho cá nhân, tập thể. Vào cuối năm học phải tổ chức kiểm kê, đánh giá, phân loại để có kế hoạch cho năm tiếp theo.
3.3. Khảo nghiệm tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đã đề xuất
3.3.1. Mục đích khảo nghiệm
Nhằm xác định mức độ cần thiết và tính khả thi của mỗi biện pháp đề xuất, phân tích đánh giá kết quả đó, rút ra những bài học trong công tác quản lý và những kết luận khoa học. Từ đó tiếp tục vận dụng sáng tạo vào quản lí hoạt động dạy học môn Tiếng Việt đối với các trường tiểu học nhằm mục đích ngày càng thực hiện tốt hơn công tác quản lý, tạo nên sự chuyển biến tích cực trong chất lượng dạy học ở các trường Tiểu học vùng dân tộc thiểu số huyện Võ Nhai.
3.3.2. Nội dung khảo nghiệm
- Các biện pháp đề xuất để quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học vùng dân tộc thiểu số huyện Võ Nhai.
3.3.3. Phương pháp khảo nghiệm
- Dùng phiếu hỏi, xin ý kiến chuyên gia về tính khả thi và tính hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất.
3.3.4. Nội dung và cách tiến hành Luận văn: Biện pháp QL dạy học môn Tiếng Việt tại các trường.
Việc đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học vùng dân tộc thiểu số huyện Võ Nhai. Dựa trên cơ sở lý luận của vấn đề cần nghiên cứu, cơ sở nghiên cứu thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học vùng dân tộc thiểu số huyện Võ Nhai. Để tiến hành xác định tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu vùng dân tộc thiểu số huyện Võ Nhai, Tác giả đã tiến hành khảo sát theo các bước sau:
- Bước 1: Xác định nội dung phiếu hỏi xin ý kiến của các chuyên gia về các biện pháp tăng cường quản lý dạy học môn Tiếng Việt tại các trường tiểu học.
- Bước 2: Xác định tiêu chuẩn và lựa chọn các chuyên gia.
Các chuyên gia được tham khảo ý kiến về các biện pháp đề xuất được lựa chọn theo các yêu cầu sau:
- Có kinh nghiệm thực tiễn về công tác chỉ đạo chuyên môn ở các trường tiểu học trên địa bàn huyện Võ Nhai.
- Đã từng được đào tạo (bồi dưỡng) chuyên môn về công tác quản lý giáo dục.
Từ việc đề xuất các biện pháp tăng cường quản lý dạy học môn Tiếng Việt tại các trường tiểu học huyện Võ Nhai, chúng tôi đã thăm dò ý kiến của 15 đồng chí là lãnh đạo, chuyên viên Phòng Giáo dục và Đào tạo và 28 cán bộ quản lý các nhà trường, 35 tổ trưởng chuyên môn, 133 giáo viên các trường tiểu học. Luận văn: Biện pháp QL dạy học môn Tiếng Việt tại các trường.
- Bước 3: Xin ý kiến các chuyên gia và xử lý các phiếu hỏi.
Phiếu khảo sát về tính cần thiết của các biện pháp quản lý đã đề xuất được đánh giá ở 3 mức độ: Rất cần thiết, cần thiết, không cần thiết.
Tương tự như vậy phiếu khảo sát về tính khả thi của các biện pháp đề xuất cũng được tính theo 3 mức độ: Rất khả thi, khả thi, không khả thi.
Nội dung phiếu hỏi: Để nâng cao chất lượng quản lý hoạt động động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học vùng dân tộc thiểu số huyện Võ Nhai đáp ứng tình hình đổi mới Trong hoạt động giáo dục cần thực hiện các biện pháp sau:
- Bảng 3.1: Kết quả khảo nghiệm tính khả thi, tính cần thiết của các biện pháp đề xuất
Để khảo nghiệm sự tương quan giữa mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đã đề xuất, tác giả thể hiện bằng biểu đồ dưới đây:
- Về mức độ cần thiết của các biện pháp đề xuất
Tất cả 4 biện pháp đề xuất đều được đánh giá là cần thiết và rất cần thiết thể hiện.
Biện pháp được đánh giá là cần thiết nhất là biện pháp “Chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tăng cường thực hành trải nghiệm cho học sinh” với tổng số phiếu đánh giá là rất cần thiết đạt 98,1%. Biên pháp được đánh giá ở mức độ rất cần thiết thấp nhất là biện pháp “Đổi mới kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy học môn Tiếng Việt trong trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số của huyện Võ Nhai” tuy nhiên vẫn chiếm tỷ lệ 88,6%.
- Về tính khả thi của các biện pháp đề xuất Luận văn: Biện pháp QL dạy học môn Tiếng Việt tại các trường.
Tất cả 4 biện pháp đề xuất đều được đánh giá là rất khả thi và khả thi nhằm chuyển biến tích cực chất lượng trong công tác dạy học ở các trường Tiểu học vùng dân tộc thiểu số huyện Võ Nhai
Từ kết quả khảo nghiệm trên cho thấy, các cán bộ quản lý và giáo viên ở các trường Tiểu học được hỏi đều đánh giá cao tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp mà tác giả đề xuất. Cụ thể: 100% các ý kiến đều cho rằng việc áp dụng các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học vùng dân tộc thiểu số huyện Võ Nhai mà tác giả đề xuất đều cần thiết và có tính khả thi, trong đó tỉ lệ ý kiến cho rằng các biện pháp rất cần thiết dao động từ 90 – 95% và rất khả thi dao động từ 80 – 95%. Điều đó cho thấy cơ sở khoa học, tính thực tiễn của việc nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học vùng dân tộc thiểu số huyện Võ Nhai và các biện pháp đề xuất có thể áp dụng mang lại hiệu quả quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học vùng dân tộc thiểu số huyện Võ Nhai.
Trong 4 biện pháp trên đều rất cần thiết và có tính khả thi nhưng ở mức độ khẳng định khác nhau. Biện pháp (3) “Đổi mới kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy học môn Tiếng Việt trong trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số của huyện Võ Nhai”; biện pháp (4) “Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị trong dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số của huyện Võ Nhai” có tính thực thi của biện pháp chưa được cao. Qua trao đổi, phỏng vấn và thống kê trên phiếu điều tra, chúng tôi được biết các ý kiến này là của các đồng chí giáo viên chưa thực sự tin tưởng vào sự đổi mới trong cách nghĩ, cách làm của đội ngũ Hiệu trưởng trường tiểu học. Như vậy, người Hiệu trưởng trường tiểu học muốn làm tốt công tác quản lý nhà trường nói chung, quản lý hoạt động dạy học nói riêng thì trước hết phải xây dựng được các biện pháp quản lý khả thi và trong quá trình chỉ đạo thực hiện các biện pháp đó phải không ngừng thay đổi cách nghĩ, cách làm, luôn năng động, sáng tạo, là tấm gương mẫu mực thì mới thuyết phục được người thừa hành, người thực hiện, mới nâng cao được chất lượng giáo dục của nhà trường. Người cán bộ quản lý giáo dục phải vận dụng linh hoạt từng biện pháp, phải tinh thông về lý luận, đồng thời phải am hiểu thực tiễn của trường mình để vận dụng, lên kế hoạch thực hiện, qua đó thấy được khó khăn của trường mình thì việc triển khai mới đạt kết quả. Luận văn: Biện pháp QL dạy học môn Tiếng Việt tại các trường.
Kết luận chương 3
Để góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh vùng dân tộc thiểu số huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên, tác giả của luận văn xin đề xuất 4 biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt như sau:
- Chỉ đạo phát triển chương trình dạy học môn Tiếng Việt theo hướng tiếp cận năng lực học sinh đáp ứng chương trình phát triển giáo dục tổng thể.
- Chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tăng cường thực hành trải nghiệm cho học sinh.
- Đổi mới kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy học môn Tiếng Việt trong trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số của huyện Võ Nhai
- Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị trong dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số của huyện Võ Nhai.
Các biện pháp trên có mối quan hệ chặt chẽ, tác động lẫn nhau. Do đó, phải thực hiện chúng một cách đồng bộ, nhất quán trong suốt quá trình tổ chức dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh.
Ngoài ra, để có cơ sở khách quan nhằm áp dụng các biện pháp trên vào thực tiễn, tôi đã trưng cầu ý kiến của một số cán bộ, giáo viên trong ngành giáo dục. Nhìn chung, đại bộ phận những người được trưng cầu ý kiến đều đánh giá các biện pháp trên có tính cấp thiết và khả thi, có thể thực hiện để góp phần nâng cao chất lượng hoạt động dạy học nói chung và chất lượng môn Tiếng Việt cho học sinh vùng dân tộc thiểu số huyện Võ Nhai sẽ ngày càng được nâng lên.
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ Luận văn: Biện pháp QL dạy học môn Tiếng Việt tại các trường.
1. Kết luân
Đối với các trường tiểu học, quản lý dạy học môn Tiếng Việt có vai trò quyết định chất lượng giáo dục trong mỗi nhà trường, bởi tầm ảnh hưởng quan trọng, to lớn của môn Tiếng Việt đối với các môn học khác. Do đó, để nâng cao chất lượng giáo dục trong các trường tiểu học của huyện Võ Nhai, trước tiên cần nâng cao chất lượng, hiệu quả các nội dung quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt trong nhà trường bao gồm: bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên dạy môn Tiếng Việt; quản lý chương trình và kế hoạch dạy học môn Tiếng Việt; tổ chức đổi mới phương pháp dạy học môn Tiếng Việt; tổ chức, chỉ đạo nâng cao chất lượng giờ dạy môn Tiếng Việt trên lớp; tổ chức tốt việc dự giờ, thăm lớp dạy học môn Tiếng Việt; tăng cường quản lý việc học tập Tiếng Việt của học sinh; đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy học môn Tiếng VIệt trong trường tiểu học; tăng cường đầu tư và phát huy tác dụng của cơ sở vật chất, thiết bị trong dạy học môn Tiếng Việt.
Trong chương 2 của luận văn, đã đi vào phân tích thực trạng hoạt động dạy học môn Tiếng Việt và quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở 05 trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số huyện Võ Nhai. Kết quả nghiên cứu cho thấy các trường đã nhận thức đúng đắn tầm quan của môn Tiếng Việt. Công tác quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt đã được các cấp, các ban ngành, các nhà trường quan tâm và đã đạt được những kết quả nhất định. Tuy nhiên tính hiệu quả của hoạt động này chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu của xã hội, chưa tương ứng với ý nghĩa, giá trị của nó trong công tác giáo dục. Trên thực tế điều tra, còn nhiều nhà quản lý, giáo viên chưa nhận thức, đánh giá đúng vai trò của dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số, nhiều học sinh kết quả cuối năm chưa hoàn thành.
Từ việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn, tại chương 3, chúng tôi đề xuất 4 biện pháp sau đây nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động dạy học học môn Tiếng Việt ở trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số:
- Biện pháp 1: Chỉ đạo phát triển chương trình dạy học môn Tiếng Việt theo hướng tiếp cận năng lực học sinh đáp ứng chương trình phát triển giáo dục tổng thể.
- Biện pháp 2: Chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tăng cường thực hành trải nghiệm cho học sinh.
- Biện pháp 3: Đổi mới kiểm tra, đánh giá hoạt động dạy học môn Tiếng Việt trong trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số của huyện Võ Nhai.
- Biện pháp 4: Tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị trong dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số của huyện Võ Nhai.
Các biện pháp trên có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, hỗ trợ nhau. Mỗi một biện pháp lại giữ một vị trí vai trò riêng trong quá trình thực hiện, vì vậy các biện pháp cần được áp dụng một cách hợp lý để phát huy được hiệu quả cao nhất. Người Hiệu trưởng phải biết linh hoạt lựa chọn và vận dụng một cách sáng tạo các biện pháp quản lý cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của mỗi địa phương, mỗi nhà trường. Trên cơ sở lý luận đã trình bày, tác giả đề tài vận dụng vào nghiên cứu thực tiễn để đề xuất một số biện pháp phù hợp. Mặc dù chỉ là sự nghiên cứu và đề xuất mang tính chủ quan cá nhân nhưng tác giả của luận văn rất hi vọng những biện pháp đã nêu trên sẽ góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động và quản lý dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học vùng dân tộc Thiểu số huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên.
2. Khuyến nghị Luận văn: Biện pháp QL dạy học môn Tiếng Việt tại các trường.
2.1. Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Thái Nguyên
Tăng cường công tác chỉ đạo, kiểm tra hoạt đông quản lý, đổi mới việc chỉ đạo công tác quản lý hoạt động giảng dạy để đi vào chiều sâu chất lượn chuyên môn.
Thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn, hội thảo về phương pháp giảng dạy môn Tiếng Việt.
Quan tâm hơn nữa việc đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị giáo dục hiện đại theo hướng đồng bộ, tạo điều kiện thuận lợi cho các trường tiểu học trong tỉnh tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy và thực hiện giáo dục toàn diện một cách năng động.
2.2. Đối với Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Võ Nhai
Có kế hoạch và biện pháp cụ thể trong việc chỉ đạo, kiểm tra công tác quản lý hoạt động giảng dạy môn Tiếng Việt của hiệu trưởng các trường tiểu học.
Duy trì đội ngũ cốt cán chuyên môn thường xuyên từ cấp phòng đến cấp trường thông qua mạng lưới thanh tra viên, giáo viên giỏi.
Thường xuyên tổ chức giao lưu, trao đổi kinh nghiệm giữa hiệu trưởng các trường tiểu học về công tác quản lý, đặc biệt là quản lý hoạt động giảng dạy môn Tiếng Việt. Cần xây dựng và nhân điển hình tiên tiến trong công tác quản lý bằng việc tổ chức các hội thảo, chuyên đề về công tác quản lý, tổng kết kinh nghiệm quản lý.
Rà soát và hỗ trợ các trường trong việc sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ giảng dạy và học tập môn Tiếng Việt.
Tăng cường hoạt động thanh tra tài chính và thanh tra chuyên ngành ở các cấp học. Kiên quyết ngăn chặn các hiện tượng tiêu cực trong đánh giá, tổ chức nghiêm túc các kỳ thi xét tuyển công chức.
Bên cạnh đó, Phòng Giáo dục và Đào tạo cũng cần quan tâm đến việc thực hiện đúng các chế độ chính sách cho cán bộ giáo viên như nâng lương trước thời hạn, tăng lương đúng định kỳ…
2.3 Đối với các trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số huyện Võ
Hiệu trưởng cần phải tiến hành đồng bộ các biện pháp và nội dung quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học.
Phát huy vai trò của tổ chuyên môn trong quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt, nhằm tăng cường các hoạt động bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên, tăng cường hoạt đông trải nghiệm sáng tạo của học sinh.
Cán bộ quản lý các trường học phải tích cực tự bồi dưỡng và tham gia đầy đủ về nghiệp vụ quản lý. Cần phối hợp nhuần nhuyễn các phương pháp quản lý, áp dụng tích cực những giải pháp quản lý hoạt động dạy học với tinh thần chủ động, linh hoạt không ỷ lại cấp trên.
Thường xuyên tham mưu, đề xuất với các cấp ủy Đảng, chính quyền, Phòng GDĐT, với Ban đại diện cha mẹ học sinh trong việc xây dựng cơ sở vật chất, đầu tư trang thiết bị dạy học theo phương thức Nhà nước và nhân dân cùng làm.
Thực hiện nghiêm túc, đồng bộ chức năng quản lý, coi trọng nguyên tắc tập trung dân chủ trong việc điều hành mọi hoạt động, xây dựng tập thể đoàn kết, nhất trí, tạo sự đồng thuận trong tập thể sư phạm nhà trường.
Tạo điều kiện cho giáo viên được đi giao lưu học tập, trao đổi kinh nghiệm với giáo viên ở các trường có kinh nghiệm và sáng kiến trong đổi mới phương pháp dạy học môn Tiếng Việt.
Giáo viên cần phát huy vai trò tự bồi dưỡng, học hỏi đồng nghiệp, đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức dạy học môn Tiếng Việt, tích cực chủ động phát triển chương trình nhà trường và chương trình môn học nhằm tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh. Luận văn: Biện pháp QL dạy học môn Tiếng Việt tại các trường.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com


[…] ===>>> Luận văn: Biện pháp QL dạy học môn Tiếng Việt tại các trường […]