Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo hành công trình xây dựng hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thực trạng pháp luật, thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo hành công trình xây dựng ở Việt Nam và kiến nghị hoàn thiện dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
Bảo hành công trình xây dựng là một yếu tố quan trọng để bảo đảm chất lượng và an toàn của công trình trong suốt thời gian sử dụng. Việc hoàn thiện pháp luật về bảo hành công trình xây dựng không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan mà còn góp phần nâng cao chất lượng công trình và phát triển bền vững ngành xây dựng. Mặc dù, khung pháp lý về bảo hành công trình xây dựng không ngừng được bổ sung, sửa đổi nhằm điều chỉnh kịp thời quan hệ pháp luật trong hoạt động này. Tuy nhiên, vẫn còn những khoảng trống pháp lý liên quan đến quan hệ pháp luật này cần tiếp tục nghiên cứu. Thực tiễn thực hiện pháp luật đối với hoạt động bảo hành công trình xây dựng cho các chủ thể vẫn còn phát sinh nhiều tranh chấp. Chương này sẽ tập trung nghiên cứu một số vấn đề sau:
- Phân tích, đánh giá thực trạng quy định pháp luật về bảo hành công trình xây dựng; phân tích thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo hành công trình xây dựng.
- Làm rõ sự cần thiết phải tiếp tục hoàn thiện pháp luật về bảo hành công trình xây dựng;
- Xác định các định hướng hoàn thiện pháp luật; đề xuất các kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bảo hành công trình xây dựng ở Việt Nam.
2.1. Thực trạng pháp luật về bảo hành công trình xây dựng ở Việt Nam
2.1.1. Quy định pháp luật về bảo hành công trình xây dựng ở Việt Nam
Thứ nhất, quy định pháp luật về thời hạn bảo hành công trình xây dựng.
Thời hạn bảo hành công trình xây dựng là một chủ đề quan trọng trong quản lý chất lượng công trình và bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan trong ngành xây dựng. Quy định pháp luật về thời hạn bảo hành công trình xây dựng không chỉ xác định nghĩa vụ của bên nhận thầu mà còn liên quan đến quyền lợi của chủ sở hữu công trình và quản lý dự án. Cụ thể:
Đầu tiên, thời gian bảo hành cung cấp một cơ chế pháp lý để bên nhận thầu chịu trách nhiệm về các lỗi và khiếm khuyết phát sinh sau khi công trình được nghiệm thu và bàn giao. Điều này giúp bảo vệ bên giao thầu, chủ sở hữu công trình khỏi các vấn đề phát sinh do lỗi thi công hoặc thiết kế, đồng thời đảm bảo rằng công trình được duy trì ở trạng thái tốt nhất. Theo điểm p khoản 1 Điều 141 Luật Xây dựng năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2020 thì bảo hành công trình xây dựng là một nội dung trong hợp đồng xây dựng. Mặc dù Điều 125 Luật Xây dựng năm 2014, sửa đổi, bổ sung năm 2020 quy định “Nhà thầu thi công xây dựng có trách nhiệm bảo hành công trình do mình thi công. Nhà thầu cung ứng thiết bị công trình, thiết bị công nghệ có trách nhiệm bảo hành thiết bị do mình cung cấp“. Tuy nhiên, để quan hệ pháp luật bảo hành phát sinh trên thực tiễn thì “Chủ đầu tư phải thỏa thuận trong hợp đồng xây dựng với các nhà thầu tham gia xây dựng công trình về quyền và trách nhiệm của các bên trong bảo hành công trình xây dựng; thời hạn bảo hành công trình xây dựng, thiết bị công trình, thiết bị công nghệ; biện pháp, hình thức bảo hành; giá trị bảo hành; việc lưu giữ, sử dụng, hoàn trả tiền bảo hành, tài sản bảo đảm, bảo lãnh bảo hành hoặc các hình thức bảo lãnh khác có giá trị tương đương“. Nếu trường hợp các bên không thỏa thuận về thời gian bảo hành và mức bảo hành thì không có cơ sở để chấp nhận. Quy định này xuất phát từ lý do hợp đồng xây dựng là hợp đồng dân sự dựa trên ý chí, tự nguyện của các bên và khi xảy ra tranh chấp trong quá trình sử dụng thì khó có thể xác định trách nhiệm thực hiện bảo hành thuộc về ai. Có thể thấy rằng, mặc dù bảo hành là một nội dung trong hợp đồng xây dựng, tuy nhiên điều khoản này phải quy định cụ thể trong hợp đồng, thể hiện ý chí của các bên đối với hoạt động bảo hành. Nếu các bên không có thỏa thuận này thì khi có tranh chấp xảy ra hoặc sự cố công trình, hư hại, khiếm khuyết hỏng hóc sẽ khó có thể xác định phần lỗi, trách nhiệm thuộc về ai cũng như công tác bảo hành do ai sẽ là người thực hiện. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo hành công trình xây dựng.
Bên cạnh đó, pháp luật cũng quy định về thời hạn bảo hành đối với các cấp công trình. Tùy vào mỗi dự án với nguồn ngân sách đầu tư cũng như mục đích, công năng sử dụng khác nhau mà quy định thời hạn bảo hành khác nhau, vì thế khi ký kết hợp đồng xây dựng, bên nhận thầu cần phải lưu ý về dự án mà mình đảm nhiệm thi công để có những mốc thời hạn bảo hành hợp lý. Xác định được mốc thời hạn bảo hành công trình chuẩn theo phân cấp sẽ giúp đảm bảo cho bên giao thầu yên tâm về việc lên kế hoạch cho quá trình bảo hành cũng như dự toán khoản chi phí cho phần công việc này. Theo quy định tại Điều 125 Luật Xây dựng năm 2014 sửa đổi, bổ sung năm 2020 thì “thời gian bảo hành công trình, thiết bị công trình, thiết bị công nghệ được xác định theo loại, cấp công trình xây dựng và quy định của nhà sản xuất hoặc hợp đồng cung cấp thiết bị”. Theo loại, cấp công trình thì “a) Không ít hơn 24 tháng đối với công trình cấp đặc biệt và cấp I sử dụng vốn đầu tư công hoặc vốn nhà nước ngoài đầu tư công;b) Không ít hơn 12 tháng đối với các công trình cấp còn lại sử dụng vốn đầu tư công hoặc vốn nhà nước ngoài đầu tư công.c) Thời hạn bảo hành đối với công trình sử dụng vốn khác có thể tham khảo quy định tại điểm a, điểm b khoản này để áp dụng.”. Có thể thấy, Chính phủ đã quy định chi tiết và phân cấp rõ ràng về thời hạn bảo hành cho từng cấp công trình, điều này tạo điều kiện cho việc quản lý chặt chẽ chi phí đầu tư và ràng buộc bên nhận thầu có trách nhiệm hơn trong việc thực hiện thi công các dự án. Tuy nhiên, đối với các dự án sử dụng vốn khác, thời hạn bảo hành dựa trên tham khảo thời hạn bảo hành tối thiểu tại các dự án sử dụng vốn đầu tư công hoặc vốn nhà nước ngoài đầu tư công, miễn đảm bảo có mục liên quan đến thời hạn bảo hành trong hợp đồng.
Có thể nhận thấy, mấu chốt của việc bảo hành là đảm bảo công trình được đưa vào sử dụng đúng mục đích, công năng, đảm bảo hiệu quả về người, tài sản, tránh những trường hợp tác động xấu đến tính mạng, vật chất của các bên. Do đó, việc quy định về thời hạn bảo hành công trình xây dựng cần căn cứ vào các cấp công trình mà không phân biệt nguồn vốn đầu tư sẽ hợp lý hơn. Điều này thể hiện sự đồng bộ trong việc quy định quản lý theo cấp công trình, tạo điều kiện dễ dàng trong công tác quản lý của cơ quan nhà nước, các đơn vị ngoài nhà nước trong việc thực hiện áp đặt các điều kiện có sẵn quy định trong luật vào trong các quan hệ hợp đồng, tránh trường hợp xảy ra các mâu thuẫn, tranh chấp không đáng có của các bên.
Quy định pháp luật về thời hạn bảo hành công trình xây dựng cũng đã được đề cập trong một số quy định pháp luật có liên quan chẳng hạn: Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 tại điểm h khoản 1 Điều 19 quy định nghĩa vụ của bên bán, cho thuê, cho thuê mua nhà ở, công trình xây dựng có sẵn “Bảo hành nhà ở, công trình xây dựng, phần diện tích sàn xây dựng trong công trình xây dựng theo thỏa thuận trong hợp đồng và quy định của pháp”. Hay Luật Nhà ở năm 2023, tại khoản 2 Điều cũng đã quy định cụ thể thời hạn bảo hành đối với từng loại nhà ở, theo đó, “Nhà được bảo hành kể từ khi hoàn thành việc xây dựng và nghiệm thu đưa vào sử dụng với thời hạn như sau: a) Đối với nhà chung cư thì tối thiểu là 60 tháng; b) Đối với nhà ở riêng lẻ thì tối thiểu là 24 tháng.” Quy định này đã giúp ràng buộc trách nhiệm giữa chủ đầu tư, bên bán đối với bên mua nhà, chung cư trong quan hệ mua bán nhà ở, chung cư riêng lẻ. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo hành công trình xây dựng.
Đồng thời, Luật Nhà ở năm 2023 tại khoản 1 Điều 129 cũng có quy định: “Tổ chức, cá nhân thi công xây dựng nhà ở phải bảo hành nhà ở theo quy định của pháp luật về xây dựng; tổ chức, cá nhân cung ứng thiết bị nhà ở phải bảo hành thiết bị theo thời hạn do nhà sản xuất quy định.”. Nhưng nếu các công trình này là nhà ở để bán, cho thuê mua thì bên bán, bên cho thuê mua nhà ở có trách nhiệm bảo hành nhà ở. Điểm này cũng được lặp lại tại khoản 7 Điều 29 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP: “Đối với công trình nhà ở, nội dung, yêu cầu, trách nhiệm, hình thức, giá trị và thời hạn bảo hành thực hiện theo quy định của pháp luật về nhà ở”. Thời hạn bảo hành công trình xây dựng được quy định trong Nghị định này là không ít hơn cho công trình cấp 1 và cấp đặc biệt là 24 tháng và các cấp còn lại là 12 tháng, không quan tâm đến loại hình công trình là nhà ở chung cư hay nhà ở riêng lẻ. Nhưng tại khoản 2 Điều 129 Luật Nhà ở năm 2023 số 65/2014/QH13 thì thời hạn được tính bảo hành bắt đầu “kể từ khi hoàn thành việc xây dựng và nghiệm thu đưa vào sử dụng với thời hạn như sau: a) Đối với nhà chung cư thì tối thiểu là 60 tháng; b) Đối với nhà ở riêng lẻ thì tối thiểu là 24 tháng”.
Có thể thấy, việc quy định riêng cho từng loại nhà nhằm để các bên hiểu rõ quyền, nghĩa vụ của nhau cũng như “ràng buộc trách nhiệm giữa chủ đầu tư, bên bán đối với bên mua nhà, chung cư trong quan hệ mua bán nhà ở, chung cư riêng lẻ”. Tuy nhiên, thông qua phân tích trên cũng cho thấy rằng, thời hạn bảo hành giữa bên giao thầu và bên nhận thầu được quy định trong Luật Xây dựng khác nhau so với thời hạn bảo hành giữa bên bán, bên cho thuê mua với người mua.
Luật Nhà ở năm 2023 đặt ra thời hạn bảo hành tối thiểu dài hơn so với thời hạn bảo hành của cấp công trình, điều này nhằm bảo vệ quyền lợi lâu dài của người sử dụng và có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh người sở hữu, người mua nhà, người thuê nhà cần đảm bảo rằng các lỗi phát sinh sau khi nhận nhà sẽ được sửa chữa và bảo trì một cách nhanh chóng và hiệu quả. Trên thực tế các lỗi hư hỏng, khiếm khuyết xảy ra đối với công trình xây dựng đều do bên nhận thầu sửa chữa và thực hiện vì họ là người nắm rõ chi tiết dự án đã thực hiện. Vậy nên bên giao thầu thường ràng buộc trách nhiệm bảo hành với bên nhận thầu như thời hạn được quy định ở Điều 129 Luật Nhà ở năm 2023. Điều này có thể là một điểm bất lợi cho bên nhận thầu nhưng trong một số trường hợp thì thời hạn bảo hành dài hơn được coi là một trong những điều kiện để trúng thầu.
Thứ hai, quy định pháp luật về phân chia trách nhiệm bảo hành công trình xây dựng giữa bên giao thầu và bên nhận thầu
Trong lĩnh vực xây dựng, việc bảo hành công trình là một vấn đề quan trọng, không chỉ đảm bảo sự công bằng và minh bạch trong các giao dịch xây dựng mà còn góp phần bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan. Trong khi bên nhận thầu có trách nhiệm sửa chữa các lỗi phát sinh do thiết kế hoặc thi công không đúng quy chuẩn thì bên giao thầu cũng cần xác định rõ các vấn đề về chất lượng công trình, thực hiện kiểm tra, giám sát chất lượng thi công. Để giải quyết các tranh chấp liên quan đến trách nhiệm bảo hành, cần có một cơ chế đánh giá chất lượng công trình rõ ràng, công bằng và minh bạch và cần các chuyên gia, đơn vị thứ ba hoặc cơ quan quản lý nhà nước để xác định nguyên nhân và mức độ hư hỏng. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo hành công trình xây dựng.
Tại khoản 2 Điều 7 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP quy định về phân định trách nhiệm giữa các chủ thể trong quản lý xây dựng công trình. Ngoại trừ chủ đầu tư, bên đại diện chủ đầu tư thì bên nhận thầu, nhà thầu thi công, nhà thầu cung ứng sản phẩm, nhà thầu tư vấn “phải chịu trách nhiệm trực tiếp, toàn diện về chất lượng và an toàn đối với các công việc do mình thực hiện”, tuy nhiên trách nhiệm này chỉ được thực hiện nếu chủ đầu tư và các nhà thầu có thỏa thuận trong hợp đồng. Việc thỏa thuận trong hợp đồng phụ thuộc vào ý chí của các bên theo quy định tại khoản 2 Điều 28 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP “Chủ đầu tư phải thỏa thuận trong hợp đồng xây dựng với các nhà thầu tham gia xây dựng công trình về quyền và trách nhiệm của các bên trong bảo hành công trình xây dựng”. Mặc dù trách nhiệm của các nhà thầu đã được quy định trong các văn bản pháp luật, tuy nhiên sự phân định rõ về trách nhiệm của từng nhà thầu trong mỗi dự án cũng như nguyên tắc phối hợp của các bên trong quá trình bảo hành thì chưa được xác định rõ và chi tiết. Nếu hợp đồng không làm rõ trách nhiệm của bên nhận thầu trong việc bảo hành công trình sẽ rất khó để xác định chính xác các nghĩa vụ khi công trình gặp phải vấn đề về chất lượng.
Khi các điều khoản bảo hành không rõ ràng, có khả năng cao xảy ra tranh chấp giữa bên giao thầu và bên nhận thầu, các tranh chấp này thường liên quan đến việc xác định ai phải chịu trách nhiệm cho các vấn đề về chất lượng công trình, thời gian bảo hành, và cách thức sửa chữa, tranh chấp này có thể dẫn đến các kiểm tra, khiếu nại, và thậm chí là kiện tụng, gây tốn kém thời gian và chi phí cho các bên. Nếu trách nhiệm bảo hành không được quy định rõ ràng, công tác bảo hành, sửa chữa công trình có thể không được thực hiện đầy đủ, hệ lụy của việc này là công trình không được duy trì ở trạng thái tốt nhất, gây ra các vấn đề nghiêm trọng về chất lượng và an toàn. Ngoài ra, sự không rõ ràng trong quy định cũng có thể dẫn đến việc bảo hành không đúng cách, làm giảm tuổi thọ và giá trị của công trình, làm cho công tác kiểm tra và giám sát trở nên khó khăn hơn và cũng khiến cho các cơ quan quản lý và giám sát khó có thể đảm bảo rằng các bên có thực hiện đúng nghĩa vụ của mình hay không. Nếu hợp đồng không quy định rõ ràng trách nhiệm bảo hành, việc chứng minh lỗi và xác định trách nhiệm trở nên khó khăn hơn.
Thứ ba, quy định pháp luật về xác nhận hoàn thành công tác bảo hành
Điều khoản bảo hành trong hợp đồng xây dựng thường bao gồm các tiểu mục chi tiết về thời hạn bảo hành, trách nhiệm bảo hành, phạm vi công việc bảo hành, và các yêu cầu khác. Xác nhận hoàn thành bảo hành là một cách để đảm bảo rằng công trình đã được sửa chữa hoặc khắc phục các lỗi và khuyết điểm theo đúng yêu cầu, các tiêu chuẩn kỹ thuật của hợp đồng. Điều này rất quan trọng vì sẽ giúp duy trì chất lượng công trình trong suốt thời gian sử dụng và giúp bên nhận thầu chứng minh rằng các nghĩa vụ cho hoạt động bảo hành đã được hoàn thành. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo hành công trình xây dựng.
Sau khi được nghiệm thu và đưa vào sử dụng đơn vị nhận thầu có trách nhiệm bảo hành đối với phần công việc mà mình thực hiện nếu có xảy ra sự cố và sau khi kết thúc thời gian bảo hành theo thỏa thuận trong hợp đồng thì đơn vị nhận thầu cần phải “thiết lập báo cáo hoàn thành công tác bảo hành gửi chủ đầu tư. Chủ đầu tư có trách nhiệm xác nhận hoàn thành việc bảo hành công trình xây dựng cho nhà thầu bằng văn bản. Nếu bên nhận thầu không làm báo cáo hoàn thành cho công tác bảo hành thì việc bảo hành công trình vẫn chưa được coi là hoàn thiện. Việc xác nhận hoàn thành bảo hành không chỉ là thể hiện việc chấm dứt thực hiện sửa chữa các sai sót mà còn là sự giải tỏa phần chi phí tạm giữ bảo hành cho bên nhận thầu. Tuy nhiên, xác nhận hoàn thành bảo hành không đồng nghĩa với việc bên nhận thầu chấm dứt trách nhiệm của mình mà bên nhận thầu vẫn phải “chịu trách nhiệm về chất lượng đối với phần công việc do mình thực hiện kể cả sau thời gian bảo hành”, quy định này được đưa ra nhằm ràng buộc trách nhiệm đối với bên nhận thầu về chất lượng công trình. Các điều khoản trong hợp đồng cần nêu rõ phạm vi trách nhiệm, thời gian và các yêu cầu liên quan đến việc thực hiện bảo hành và sửa chữa. Điều này giúp các bên có một cơ sở rõ ràng để giải quyết các vấn đề phát sinh và tránh được tranh chấp.
Đối với bên giao thầu thì việc xác nhận hoàn thành bảo hành được quy định tại khoản 5 Điều 29 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP “Chủ đầu tư có trách nhiệm xác nhận hoàn thành việc bảo hành công trình xây dựng cho nhà thầu bằng văn bản và hoàn trả tiền bảo hành (hoặc giải toả thư bảo lãnh bảo hành của ngân hàng có giá trị tương đương) cho các nhà thầu trong trường hợp kết quả kiểm tra, nghiệm thu việc thực hiện bảo hành của nhà thầu thi công xây dựng công trình, nhà thầu cung ứng thiết bị tại khoản 4 Điều này đạt yêu cầu”. Sau khi hết thời hạn bảo hành bên nhận thầu sẽ gửi biên bản xác nhận hoàn thành bảo hành cho bên giao thầu, bên giao thầu ngoài nghĩa vụ phải ký xác nhận hoàn thành bảo hành thì bên giao thầu còn có nghĩa vụ hoàn trả tiền bảo hành. Hai nghĩa vụ này được thực hiện cùng thời điểm sau khi thời hạn bảo hành chấm dứt, việc này cũng đồng nghĩa với việc mọi phát sinh hư hỏng, hỏng hóc, khiếm khuyết xảy ra của công trình xây dựng sau thời hạn bảo hành sẽ không được đảm bảo bằng chi phí của bên nhận thầu. Ngoài việc xác nhận của bên giao thầu thì “Chủ sở hữu hoặc người quản lý, sử dụng công trình có trách nhiệm tham gia xác nhận hoàn thành bảo hành công trình xây dựng cho nhà thầu thi công xây dựng công trình và nhà thầu cung ứng thiết bị khi có yêu cầu của chủ đầu tư.” Đối với các dự án có nhiều bên tham gia vào thì việc xác nhận hoàn thành bảo hành sẽ được các bên tham gia xác nhận khi có yêu cầu từ chủ đầu tư. Việc chủ sở hữu hoặc người quản lý, sử dụng công trình có trách nhiệm tham gia xác nhận hoàn thành bảo hành công trình xây dựng cho nhà thầu thi công xây dựng công trình và nhà thầu cung ứng thiết bị khi có yêu cầu của chủ đầu tư là một quy định quan trọng trong quản lý chất lượng công trình và bảo đảm quyền lợi của các bên liên quan. Quy định này không chỉ phản ánh sự hợp tác chặt chẽ giữa các bên mà còn có ý nghĩa sâu rộng đối với việc duy trì và nâng cao chất lượng công trình trong suốt thời gian sử dụng. Trong nhiều trường hợp, các vấn đề về chất lượng công trình có thể không được phát hiện ngay lập tức và chỉ trở nên rõ ràng sau khi công trình đã được đưa vào sử dụng, bằng cách yêu cầu sự xác nhận từ chủ sở hữu hoặc ban quản lý, các bên liên quan để đảm bảo rằng mọi vấn đề phát sinh được giải quyết một cách công bằng và minh bạch, từ đó tránh được các tranh chấp và mâu thuẫn có thể xảy ra sau này. Các đơn vị này cùng xác nhận vào biên bản xác nhận hoàn thành công trình xây dựng mang tính khách quan, có thể đánh giá được chất lượng công trình sau một thời gian sử dụng, mọi khiếm khuyết hư hỏng còn tồn đọng nếu có sẽ được các bên liệt kê và ghi rõ vào biên bản xác nhận để bên nhận thầu có thể khắc phục trước khi chấm dứt thời hạn bảo hành của mình.
Thứ tư, quy định pháp luật về bảo đảm bảo hành Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo hành công trình xây dựng.
Bảo đảm bảo hành không chỉ là yêu cầu về mặt pháp lý mà còn là một công cụ quan trọng giúp duy trì chất lượng công trình và minh bạch hóa trách nhiệm giữa các bên. Sau quá trình nghiệm thu và bàn giao đưa công trình vào sử dụng, bên nhận thầu và bên giao thầu sẽ thực hiện hồ sơ quyết toán hợp đồng. Một trong những nội dung không thể thiếu ở hồ sơ quyết toán đó chính là bảo đảm bảo hành. Theo Nghị định số 37/2015/NĐ-CP ngày 22 tháng 4 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng được sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 50/2021/NĐ-CP ngày 01 tháng 4 năm 2021 có đề cập hình thức bảo đảm bảo hành tại điểm b khoản 2 Điều “Bảo đảm bảo hành có thể thực hiện bằng hình thức bảo lãnh hoặc hình thức khác do các bên thỏa thuận, nhưng phải ưu tiên áp dụng hình thức bảo lãnh”. Quy định này đặt ra đối với các dự án đầu tư xây dựng sử dụng vốn đầu tư công, vốn nhà nước ngoài đầu tư công còn đối với các tổ chức, cá nhân sử dụng vốn khác có thể tham khảo các quy định này để xác lập và quản lý hợp đồng xây dựng. Tương tự vậy tại khoản 2 Điều 28 tại Nghị định số 06/2021/NĐ-CP cũng đề cập về việc hình thức giữ bảo hành có thể là bảo lãnh bảo hành hoặc các hình thức bảo lãnh khác có giá trị tương đương. Tuy nhiên, chỉ quy định cụ thể “Đối với công trình sử dụng vốn đầu tư công hoặc vốn nhà nước ngoài đầu tư công thì hình thức bảo hành được quy định bằng tiền hoặc thư bảo lãnh bảo hành của ngân hàng”. Hay trong Luật Nhà ở năm 2023 thì tại Điều 129 quy định về bảo hành nhà ở cũng không hề đề cập đến bất cứ nội dung nào liên quan đến hình thức giữ bảo hành chỉ có quy định về thời gian tối thiểu đối với bảo hành cũng như các nội dung về bảo hành nhà ở như thế nào. Đối với mức giữ bảo đảm bảo hành đối với công trình xây dựng thì pháp luật quy định tại khoản 7 Điều 28 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP quy định “Đối với công trình sử dụng vốn đầu tư công hoặc vốn nhà nước ngoài đầu tư công, mức tiền bảo hành tối thiểu được quy định như sau: a) 3% giá trị hợp đồng đối với công trình xây dựng cấp đặc biệt và cấp I; b) 5% giá trị hợp đồng đối với công trình xây dựng cấp còn lại. c) Mức tiền bảo hành đối với công trình sử dụng vốn khác có thể tham khảo các mức tối thiểu quy định tại điểm a, điểm b khoản này để áp dụng.” Qua đó có thể thấy đối với các dự án sử dụng vốn khác thì có thể tham khảo quy định của pháp luật, các bên có thể tự do thỏa thuận các hình thức bảo đảm bảo hành như là phát hành chứng thư bảo lãnh bảo hành từ ngân hàng, tạm giữ giá trị bảo hành hoặc cam kết bằng văn bản giữa các bên và mức tiền bảo hành tối thiểu có thể tham khảo theo quy định của pháp luật. Mục đích của việc bảo đảm bảo hành xuất phát từ việc bên giao thầu muốn đảm bảo sự an toàn, ổn định của công trình, khoản bảo đảm này có thể được sử dụng để bảo vệ bên giao thầu trong trường hợp bên nhận thầu không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ bảo hành. Trong quá trình sử dụng công trình, nếu phát sinh lỗi hoặc khuyết điểm do lỗi của bên nhận thầu và không được khắc phục kịp thời, bên giao thầu có quyền yêu cầu giải quyết thông qua khoản bảo lãnh bảo hành. Điều này đảm bảo rằng bên giao thầu không phải chịu gánh nặng tài chính để sửa chữa hoặc khắc phục các vấn đề phát sinh, đồng thời giúp họ duy trì chất lượng công trình theo các tiêu chuẩn yêu cầu. Bằng cách này, bên giao thầu có thể bảo vệ quyền lợi và tài sản của mình, đồng thời giảm thiểu rủi ro tài chính liên quan đến các vấn đề bảo trì và sửa chữa. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo hành công trình xây dựng.
Tóm lại, bảo lãnh bảo hành có ưu điểm cho cả bên giao thầu và bên nhận thầu. Với chứng thư bảo lãnh bảo hành thì bên giao thầu có thể an tâm về công tác sữa chữa, thay thế với phát sinh hỏng hóc, hư hại trong quá trình sử dụng và còn nằm trong thời hạn bảo hành của bên nhận thầu. Vì nếu bên nhận thầu không thực hiện nghĩa vụ bảo hành đối với phần công trình do mình thi công thì bên giao thầu “có quyền sử dụng tiền bảo hành để thuê tổ chức, cá nhân khác sửa chữa”. Và phía bên giao thầu cũng có quyền “hoàn trả tiền bảo hành (hoặc giải toả thư bảo lãnh bảo hành của ngân hàng có giá trị tương đương) cho các nhà thầu trong trường hợp kết quả kiểm tra, nghiệm thu việc thực hiện bảo hành của nhà thầu thi công xây dựng công trình, nhà thầu cung ứng thiết bị đạt yêu cầu”. Bên cạnh đó, thư bảo lãnh bảo hành sẽ giúp cho nhà thầu thu hồi được giá trị quyết toán ở cuối công trình, thư bảo lãnh như một điều kiện trong hồ sơ thanh toán đối với bên giao thầu. Hết thời hạn bảo hành thì bên nhận thầu có thể rút được khoản tiền bảo lãnh này một cách dễ dàng hơn mà không cần phải đi đòi từ bên giao thầu.
Thứ năm, quy định pháp luật xử lý vi phạm trong bảo hành công trình xây dựng
Các quy định pháp luật về xử lý vi phạm trong bảo hành công trình xây dựng thường được thiết lập để bảo vệ quyền lợi các bên trong trường hợp các bên không thực hiện đúng nghĩa vụ của mình. Tại Nghị định số 16/2022/NĐ-CP về quy định xử lý vi phạm hành chính về lĩnh vực xây dựng ban hành ngày 28 tháng 1 năm 2022 có đề cập đến các vi phạm về bảo hành công trình xây dựng. Cụ thể tại Điều 20 và Điều 38 của Nghị định có đề cập đến các hành vi vi phạm nghĩa vụ bảo hành công trình xây dựng. Các hành vi này vừa là hành vi của bên giao thầu vừa là hành vi của bên nhận thầu.
Đối với bên giao thầu thì được đề cập là hành vi “Không xác nhận đã hoàn thành trách nhiệm bảo hành của nhà thầu”. Một trong những lý do phổ biến dẫn đến việc bên giao thầu không xác nhận hoàn thành bảo hành là sự không hài lòng với chất lượng công trình sau khi bên nhận thầu hoàn tất nghĩa vụ bảo hành. Bên giao thầu có thể phát hiện các lỗi hoặc khuyết điểm chưa được khắc phục hoàn toàn hoặc không đạt yêu cầu theo hợp đồng. Khi điều này xảy ra, bên giao thầu có thể trì hoãn việc xác nhận hoàn thành bảo hành cho đến khi các vấn đề được giải quyết đầy đủ. Việc bên giao thầu không xác nhận hoàn thành bảo hành có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi của bên nhận thầu. Bên nhận thầu có thể không được giải phóng bảo lãnh bảo hành hoặc các khoản tài chính đã dự phòng từ việc được giải phóng bảo lãnh bảo hành. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến tài chính của bên nhận thầu mà còn có thể làm giảm khả năng thực hiện các dự án tiếp theo hoặc gây ra khó khăn trong việc duy trì hoạt động kinh doanh. Trừ các lí do kể trên nếu bên giao thầu cố tình thực hiện hành vi này để nhằm mục đích giam giữ khoản bảo đảm bảo hành của bên nhận thầu thì sẽ bị áp dụng mức phạt từ ba mươi đến bốn mươi triệu đồng và biện pháp khắc phục là phải xác nhận hoàn thành bảo hành cho bên nhận thầu.
Hoặc trong một số trường hợp các công trình thuộc chung cư nhà ở thì phía chủ đầu tư dự án thực hiện ký kết hợp đồng đối với người thuê, mua lại với các điều khoản bảo hành về thời hạn bảo hành không đủ theo quy định của pháp luật thì thực hiện mức phạt ở hành vi này chỉ từ mười triệu đến hai mươi triệu. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo hành công trình xây dựng.
Đối với bên nhận thầu, Nghị định số 16/2022/NĐ-CP ngày 28 tháng 01 năm 2022 về quy định xử phạt vi phạm hành chính về xây dựng cũng quy định về một số hành vi vi phạm nghĩa vụ bảo hành cũng như một số biện pháp khắc phục như là “không lập báo cáo hoàn thành công tác bảo hành công trình gửi chủ đầu tư. Trong ngành xây dựng, việc lập và gửi báo cáo hoàn thành công tác bảo hành công trình là một nghĩa vụ quan trọng của bên nhận thầu. Báo cáo này không chỉ là tài liệu chứng minh rằng các công việc bảo hành đã được thực hiện đầy đủ mà còn là cơ sở để bên giao thầu xác nhận và chấp nhận công trình đã hoàn tất nghĩa vụ bảo hành, hoàn trả mức bảo đảm bảo hành. Tuy nhiên, trong một số trường hợp bên nhận thầu không thực hiện việc xác lập báo cáo hoàn thành công tác bảo hành vì do mâu thuẫn về chất lượng công trình, nếu có những vấn đề liên quan đến chất lượng công trình mà bên nhận thầu cho rằng chưa được giải quyết hoặc còn tranh cãi với bên giao thầu, chủ đầu tư về việc các công việc bảo hành đã được thực hiện đúng yêu cầu, họ có thể trì hoãn việc lập và gửi báo cáo. Hoặc nếu có sự bất đồng về các điều khoản hợp đồng, đặc biệt là các điều khoản liên quan đến nghĩa vụ bảo hành, bên nhận thầu có thể từ chối lập báo cáo cho đến khi tranh chấp được giải quyết. Trong một số trường hợp bên giao thầu cũng đưa ra nhiều vấn đề hạng mục ép buộc bên giao thầu cần phải thực hiện bảo hành trước khi ký xác nhận hoàn thành bảo hành, nhưng các hạng mục này có thể nằm ngoài phạm vi công việc hoặc không phải lỗi do bên nhận thầu nên việc bên nhận thầu không đồng thuận về các yêu cầu bảo hành hoặc chi phí liên quan có thể làm trì hoãn quy trình lập báo cáo. Trừ các trường hợp kể trên nếu bên nhận thầu kéo dài và không lập báo cáo xác nhận bảo hành thì hành vi vi phạm này sẽ bị “phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng” và thực hiện các biện pháp khắc phục là phải lập báo cáo gửi chủ đầu tư. Bên cạnh đó, nếu bên nhận thầu “không thực hiện trách nhiệm bảo hành theo quy định” thì sẽ bị “Phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng” và buộc thực hiện trách nhiệm bảo hành của mình.
Thật vậy, việc xác định cụ thể về hành vi vi phạm, chế tài liên quan đến công tác bảo hành trong Nghị định là thật sự cần thiết để đảm bảo các bên thực hiện đúng nghĩa vụ của mình khi tham gia vào quan hệ hợp đồng xây dựng. Đồng thời, các quy định này cũng góp phần giảm thiểu các phát sinh, tranh chấp trong quá trình thực hiện nghĩa vụ bảo hành công trình xây dựng của các bên.
2.1.2. Đánh giá thực trạng quy định pháp luật về bảo hành công trình xây dựng ở Việt Nam Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo hành công trình xây dựng.
Thứ nhất, pháp luật về xây dựng đã tạo lập được hành lang pháp lý cho các chủ thể tham gia vào hoạt động bảo hành công trình xây dựng. Để thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ các bên trong quan hệ xây dựng thì quy định về thời hạn bảo hành công trình xây dựng, bảo đảm bảo hành, phân chia rõ về trách nhiệm, quyền, nghĩa vụ các bên trong quá trình thực hiện công tác bảo hành cũng như các quy định pháp luật đối với các hành vi vi phạm quyền và nghĩa vụ cần được chi tiết và rõ ràng. Đối với bên giao thầu, pháp luật về bảo hành công trình sẽ giúp cho bên giao thầu an tâm hơn đối với các dự án xây dựng của mình không những về mặt kỹ thuật mà còn an toàn về tài chính khi phần giá trị tạm giữ bảo hành được đảm bảo để thực hiện sữa chữa các hư hỏng, khiếm khuyết khi có sự cố xảy ra, mọi chi phí liên quan đến việc sửa chữa, thay thế các hỏng hóc, khiếm khuyết sẽ do bên nhận thầu thực hiện. Đối với bên nhận thầu việc quy định các điều khoản bảo hành chi tiết sẽ khuyến khích đảm bảo chất lượng thi công ngay từ đầu và hạn chế phát sinh hỏng hóc trong thời gian vận hành và sử dụng. Bên nhận thầu cũng tránh được các rủi ro về nghĩa vụ trong quá trình bảo hành, “có quyền từ chối bảo hành trong các trường hợp hư hỏng, khiếm khuyết phát sinh không phải do lỗi của nhà thầu gây ra hoặc do nguyên nhân bất khả kháng được quy định trong hợp đồng xây dựng”.
Thứ hai, pháp luật về bảo hành công trình xây dựng giúp nâng cao chất lượng dự án công trình xây dựng. Thực vậy, trong quá trình sử dụng nếu công trình gặp sự cố hoặc có vấn đề về chất lượng trong thời gian bảo hành, bên nhận thầu sẽ phải sử dụng nguồn ngân sách và nhân công của mình để khắc phục các khiếm khuyết, hư hỏng, từ đó bên nhận thầu sẽ chú trọng hơn đến việc sử dụng vật liệu có chất lượng cao, tuân thủ quy trình thi công và luôn kiểm tra chất lượng sản phẩm nghiêm ngặt trước khi nghiệm thu bàn giao. Pháp luật về bảo hành công trình tạo ra một môi trường cạnh tranh công bằng khi bên nhận thầu phải chứng minh khả năng cung cấp công trình chất lượng tốt để duy trì danh tiếng và uy tín của mình. Điều này tạo động lực thúc đẩy sự cạnh tranh trong ngành xây dựng, khuyến khích các nhà thầu khác cũng phải cải thiện chất lượng công trình nâng cao uy tín, đảm bảo về mặt an toàn dự án và giảm được một phần chi phí khắc phục sửa chữa sau thời hạn bảo hành.
Thứ ba, pháp luật về xây dựng đã đưa ra các chế tài, các biện pháp xử lý vi phạm khi các bên không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Hành vi vi phạm nghĩa vụ trong việc xác định thời gian bảo hành công trình không đủ hay bên nhận thầu không lập báo cáo hoàn thành công tác bảo hành công trình gửi chủ đầu tư hoặc bên nhận thầu không thực hiện trách nhiệm bảo hành theo quy định. Thông qua việc liệt kê các hành vi vi phạm, đưa ra các mức phạt và các biện pháp khắc phục sẽ giúp cho các bên hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình trong việc thực hiện đúng theo như cam kết của hợp đồng. Mọi vi phạm sẽ phải chịu trách nhiệm và xử lý theo quy định của pháp luật. Đây không chỉ là công cụ “đánh vào” tài chính mà còn là công cụ nâng cao nhận thức các bên trong về việc tuân thủ pháp luật trong quan hệ xây dựng.
Mặc dù pháp luật hiện tại cũng đã quy định khá đầy đủ đối với hoạt động bảo hành công trình xây dựng. Tuy nhiên, các quy định pháp luật hiện hành vẫn còn phát sinh một số vướng mắc, cụ thể:
Một là, thời hạn bảo hành chưa được quy định chi tiết rõ ràng như tại khoản 5 Điều 28 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP chỉ yêu cầu bắt buộc thời hạn bảo hành đối với các cấp công trình cho các dự án sử dụng vốn đầu tư công hoặc vốn nhà nước ngoài đầu tư công, các nguồn vốn khác có thể tham khảo theo thời hạn này, như vậy nếu các nguồn vốn khác không áp dụng thời hạn bảo hành theo Nghị định số 06/2021/-NĐ-CP thì việc xử lý vi phạm cũng như các biện pháp khắc phục cho hành vi vi phạm phải được xử lý như thế nào? Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo hành công trình xây dựng.
Hai là, về phân chia trách nhiệm bảo hành. Các quy định về quyền hạn và nghĩa vụ của các nhà thầu phụ thuộc phần nhiều vào các thỏa thuận mà chưa có thêm các quy định phân chia quyền hạn trong quá trình làm việc hoặc cách thức, nguyên tắc phối hợp làm việc giữa các nhà thầu trong một dự án.
Ba là, việc xác nhận hoàn thành bảo hành cũng gặp nhiều khó khăn nếu một dự án có nhiều bên liên quan như nhiều nhà thầu cùng thực hiện, các đơn vị tư vấn, giám sát thi công. Thêm vào đó, việc đánh giá chất lượng hạng mục công trình cũng chưa thật sự rõ ràng do các quy định chưa được cụ thể hóa, dẫn đến việc các bên không có căn cứ rõ ràng để xác nhận hoàn thành.
Bốn là, điều kiện cho các bảo đảm bảo hành cũng như thời hạn cho các bảo đảm cũng chưa quy định cụ thể. Đây có thể là một điểm bất lợi cho bên nhận thầu khi tham gia thực hiện dự án.
Năm là, mức xử phạt đối với các hành vi vi phạm nghĩa vụ trong hoạt động bảo hành công trình xây dựng còn nhẹ. Do đó, cần rà soát, triển khai, sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật trong thời gian tới.
2.2. Thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo hành công trình xây dựng ở Việt Nam Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo hành công trình xây dựng.
2.2.1. Thực tiễn thực hiện pháp luật về thời hạn bảo hành công trình xây dựng
Thời hạn bảo hành công trình xây dựng trong các hợp đồng xây dựng có thể là một trong những yêu cầu để thực hiện trúng thầu của một dự án. Điều khoản này sẽ kéo dài từ cam kết đấu thầu cho đến giai đoạn trúng thầu, triển khai dự án và thực hiện công tác sau khi nghiệm thu đưa vào sử dụng. Khi xác định về thời hạn bảo hành cần lưu ý về thời hạn và phạm vi bảo hành đối với vật tư thi công và trang thiết bị từ nhà sản xuất. Thời hạn bảo hành công trình xây dựng được quy định tại khỏan 2 Điều 28 Nghị định 06/2021/NĐ-CP, trường hợp các bên không thỏa thuận thì việc xác định trách nhiệm bảo hành sẽ khó phân định nếu xảy ra tranh chấp. Thời hạn bảo hành đối với dự án không sử dụng nguồn vốn đầu tư công hoặc nguồn vốn nhà nước ngoài đầu tư công cần quy định rõ ràng, chặt chẽ phù hợp với các quy định pháp luật. Bên giao thầu cần phải hiểu và tuân thủ quy định của pháp luật trong việc đưa ra mức đề xuất về thời hạn bảo hành phù hợp với từng cấp dự án công trình. Trong trường hợp các bên không có thỏa thuận về nội dung bảo hành công trình thì khi xảy ra các tranh chấp liên quan đến nội dung này thì việc xử lý sẽ được thực hiện dựa trên ý chí tự nguyện của các bên như đã giao kết. Dưới đây là một trường hợp tương tự khi cả hai bên đều không yêu cầu nội dung bảo hành trong hợp đồng.
Công ty I và công ty M thực hiện ký kết hợp đồng xây dựng nhưng trong hợp đồng giao kết “không có quy định về điều khoản về thời gian bảo hành và mức bảo hành công trình”, và khi tranh chấp xảy ra “thì Công ty I có đề nghị Công ty M phải trả chi phí bảo hành nhưng do các khoản này không được quy định trong hợp đồng nên Công ty M không đồng ý chi trả” .Tuy nhiên, thực tiễn xét xử nhận định rằng: “Hợp đồng 34 được xác lập giữa các bên dựa trên sự tự nguyện, bình đẳng, hợp tác, không trái pháp luật và đạo đức xã hội; hiệu lực của hợp đồng được các bên xác nhận từ ngày 12/10/2015; các bên đã hoàn thành các công việc theo thỏa thuận trong hợp đồng và lỗi do chưa quyết toán là do Công ty I. Nên hợp đồng 34 được xác lập, thực hiện và về nội dung, hình thức phù hợp với quy định tại Điều 138, 139, 140, 141 Luật Xây dựng nên không có cơ sở tuyên bố hợp đồng 34 bị vô hiệu.
Qua vụ việc trên, có thể thấy rằng đối với các dự án không sử dụng vốn đầu tư công hoặc vốn nhà nước ngoài đầu tư công thì nếu các bên không quy định, thỏa thuận điều khoản bảo hành thì khi xảy ra tranh chấp, hợp đồng vẫn không bị vô hiệu và các bên phải thực hiện nghĩa vụ của mình. Việc thực hiện quy định về bảo hành đối với các dự án sử dụng vốn khác có thể là sự khuyến khích và tham khảo, không mang tính bắt buộc, do đó các bên cần lưu ý khi thực hiện giao kết hợp đồng.
Ngoài ra, khi đề cập đến bảo hành, thì pháp luật bảo hành công trình xây dựng hiện hành cũng không quy định chi tiết về các hạng mục cần thực hiện, các bên tự thỏa thuận với nhau về các công việc bảo hành. Điều này cũng phát sinh nhiều vướng mắc trên thực tiễn thực hiện pháp luật bảo hành công trình xây dựng. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo hành công trình xây dựng.
Về nội dung này có thể tham khảo pháp luật của Trung Quốc, cụ thể tại Lệnh số 80 của Bộ Xây dựng Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ban hành ngày 26/6/2000 về “Các biện pháp bảo hành chất lượng công trình xây dựng nhà ở” tại Điều 2 quy định rằng “Các Biện pháp này sẽ áp dụng để đảm bảo chất lượng của tất cả các loại dự án xây dựng nhà ở (bao gồm cả dự án sửa chữa) được xây dựng mới, mở rộng và cải tạo trên lãnh thổ Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa”, không phân biệt dự án sử dụng nguồn vốn nào, chỉ cần dự án được thực hiện trên lãnh thổ của quốc gia sẽ được tuân thủ theo quy định của pháp luật. Thời hạn bảo hành của công trình cũng sẽ không phân theo cấp công trình mà được phân chia theo hạng mục như tại Điều 7 của Lệnh này như ” Đối với công trình chống thấm mái, nhà vệ sinh có yêu cầu chống thấm, chống rò rỉ với phòng và bề mặt tường bên ngoài thì thời gian bảo hành là 5 năm; Đối với hệ thống sưởi và làm mát của tòa nhà, thời gian bảo hành chất lượng là hai mùa sưởi và mùa làm mát. Thời gian bảo hành cho đường dây điện, ống cấp thoát nước và lắp đặt thiết bị là 2 năm và thời gian bảo hành cho dự án sửa chữa là năm. Tại Việt Nam, khoản 2 Điều 1 Thông tư số 06/2021/TT-BXD ban hành ngày 30 tháng 6 năm 2021 quy định về phân cấp công trình xây dựng và hướng dẫn áp dụng trong quản lý hoạt động đầu tư xây dựng thì việc phân cấp công trình xây dựng không phân biệt công trình đó sử dụng nguồn vốn nào, miễn là có liên quan đến hoạt động đầu tư xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam “Thông tư này áp dụng với người quyết định đầu tư, chủ đầu tư, chủ sở hữu, người quản lý, sử dụng công trình, nhà thầu trong nước, nhà thầu nước ngoài, các cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng và các tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến hoạt động đầu tư xây dựng trên lãnh thổ Việt Nam”, tuy nhiên bảo hành công trình xây dựng lại quy định về thời hạn bảo hành theo cấp công trình và nguồn vốn sử dụng thì hoàn toàn chưa hợp lý. Cho nên, việc quy định thời hạn theo hạng mục sẽ dễ dàng quản lý hơn và phân định trách nhiệm cho các bên nhận thầu nếu dự án có nhiều nhà thầu tham gia sẽ phù hợp với nhu cầu thực tiễn chất lượng của từng hạng mục và trang thiết bị, đây có thể là nội dung mà pháp luật Việt Nam có thể học hỏi kinh nghiệm và nghiên cứu áp dụng.
Mặc dù pháp luật Việt Nam chưa có quy định về bảo hành theo hạng mục nhưng trong một số trường hợp, hợp đồng của các bên cũng áp dụng quy định này tại điều khoản bảo hành như hợp đồng thi công của công ty UN và công ty SL có đề cập “Thực hiện việc bảo hành sàn và mái Công trình trong thời gian là 36 tháng và bảo hành các hạng mục còn lại trong thời gian 24 tháng kể từ ngày các bên ký biên bản nghiệm thu toàn bộ công trình. Xác lập thời hạn bảo hành cho từng hạng mục riêng biệt sẽ giúp các bên có thể kiểm soát tốt chất lượng và trách nhiệm của mình trong công tác bảo hành.
2.2.2. Thực tiễn thực hiện pháp luật về phân chia trách nhiệm bảo hành công trình xây dựng giữa bên giao thầu và bên nhận thầu Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo hành công trình xây dựng.
Trên thực tế, mặc dù phân định trách nhiệm giữa các bên trong công tác quản lý xây dựng công trình theo Điều 7 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP và việc xác định nội dung bảo hành cũng được quy định tại Điều 28 Nghị định này tuy nhiên vẫn chưa được quy định rõ ràng, chi tiết về các công việc, phạm vi, cũng như nội dung thuộc nghĩa vụ cần được bảo hành từ các bên. Vì thế, khi các bên áp dựng các quy định này sẽ còn lúng túng trong việc xác định trách nhiệm, nghĩa vụ của mình. Như tại bản án Phúc thẩm số 15/2023/KDTM-PT của Tòa án Nhân dân thành phố Đà Nẵng ngày 25 tháng 7 năm 2023: Công ty V thuê Công ty Đ thiết kế cho công trình của mình nhưng sau khi hoàn thiện công trình nghiệm thu kiểm định chất lượng để hoàn công thì công trình “không đảm bảo khả năng chịu lực khi tính toán theo hồ sơ cấp phép; kết cấu cột chuyển vị đỉnh không nằm trong giới hạn cho phép, không đảm bảo khả năng chịu lực.” Do đó, Công ty V phải tốn thêm các chi phí để hoàn thành việc gia cố, đảm bảo khả năng chịu lực của công trình, kéo dài thời gian thi công chậm đưa công trình vào hoạt động làm văn phòng vào làm việc và cho thuê gây thiệt hại cho Công ty V một khoản chi phí lớn. Trong quá trình điều tra và xét xử, qua các kết quả giám định từ trung tâm giám định thì phần lỗi của việc thực hiện này chính là ở bản vẽ thiết kế của công ty Đ, không thuộc trường hợp thi công không đạt chất lượng của đơn vị thi công. Vì vậy, đơn vị nhận thầu thi công không chịu trách nhiệm với việc bảo hành của công trình này. Căn cứ và điểm c, e khoản 2 Điều 86 Luật Xây dựng năm 2014 được sửa đổi bổ sung bởi Luật Xây dựng năm 2020 về nghĩa vụ của nhà thầu thiết kế thì phải “Chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm thiết kế do mình đảm nhận và bồi thường thiệt hại khi đề ra nhiệm vụ khảo sát, sử dụng thông tin, tài liệu, tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng, giải pháp kỹ thuật, công nghệ không phù hợp”. Bên cạnh đó, căn cứ vào điểm c khoản 4 Điều 5 và khoản 6 Điều 29 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP “Trong quá trình thi công xây dựng, nhà thầu thiết kế xây dựng phải chịu chi phí thực hiện kiểm định nếu kết quả kiểm định liên quan đến công việc do mình thực hiện chứng minh được lỗi của các nhà thầu này”. Ngoài ra,“Nhà thầu thiết kế xây dựng công trình chịu trách nhiệm về chất lượng đối với phần công việc do mình thực hiện kể cả sau thời gian bảo hành.” Vì thế, tất cả chi phí phát sinh do công ty thiết kế Đ phải chịu hoàn toàn trách nhiệm đối với các sai phạm của dự án này. Mặc dù các văn bản quy phạm pháp luật có quy định về trách nhiệm của các bên tuy nhiên vẫn chưa thực sự cụ thể và chi tiết trong việc phân định trách nhiệm do đó vẫn có một số vụ án cần phải xem xét và xử lại để có thể xác định được rõ trách nhiệm các bên trong công tác bảo hành công trình xây dựng. Tương tự vậy, tại Quyết định giám đốc thẩm số 21/2021/KDTM-GĐT ngày 17 tháng 12 năm 2021 của Tòa án Nhân dân cấp cao tại Hà Nội về việc tranh chấp thực hiện nghĩa vụ hợp đồng và tuyên bố một phần hợp đồng vô hiệu thì việc phân định trách nhiệm trong hợp đồng xây dựng dự án cũng chưa thật sự rõ ràng và minh bạch cho các bên như “Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm chưa thu thập các tài liệu, chứng cứ liên quan đến hồ sơ thiết kế ban đầu, thay đổi thiết kế; không làm rõ về việc thay đổi thiết kế, lỗi của các bên trong quá trình thiết kế và thi công. Để có cơ sở giải quyết vụ án, Tòa án cần làm rõ các hạng mục Công ty D đã hoàn thành, đưa vào sử dụng, hạng mục nào còn thiếu sót, hạng mục nào không đảm bảo chất lượng dẫn đến hậu quả của những sai sót đó”, “chưa làm rõ các vấn đề nêu trên nhưng buộc Công ty D phải bồi thường 70% tổng giá trị hợp đồng là chưa đủ cơ sở vững chắc”. Đơn vị giám sát ” Ngoài ra, đơn vị giám sát là Công ty TNHH H (sau đây viết tắt là Công ty H) có một phần lỗi do không thực hiện đúng nhiệm vụ giám sát dẫn đến việc công trình không đảm bảo chất lượng, có lỗi nhưng không giải quyết trong vụ án này là chưa toàn diện”. Và phía Ban quản lý dự án lại yêu cầu sửa thiết kế, kết cấu công trình không đúng như bản vẽ thẩm duyệt ban đầu vậy nên xảy ra tình trạng công trình không đạt chất lượng. Qua các bản án trên thì có thể thấy rằng tất cả chất lượng của công trình khi nghiệm thu cần được xác định trách nhiệm của các bên và mức độ tổn thất của dự án cũng cần được quy trách niệm cho các bên tham gia vào. Những nội dung chi tiết về công tác bảo hành cũng như liên quan đến chất lượng càng phải quy định cụ thể, chi tiết từng bên trong hợp đồng, tránh tình trạng nghĩa vụ “mập mờ”, nội dung được hiểu đa nghĩa nếu như xảy ra tranh chấp. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo hành công trình xây dựng.
Trong quy định của pháp luật nên làm rõ về vai trò, trách nhiệm cũng như các yếu tố lỗi xảy ra trong công tác bảo hành công trình xây dựng. Mặc dù có khoản 3 Điều 29 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP quy định về trường hợp loại trừ trách nhiệm của bên nhận thầu đối với công tác bảo hành. Tuy nhiên, điều khoản này chỉ đề cập chung chung, không liệt kê chi tiết về những lỗi nào không phải do nhà thầu gây ra. Điều này thật khó xác định, vì nó mang tính chất định tính vậy nên phân định trách nhiệm về yếu tố lỗi cần được làm rõ hơn, chi tiết hơn như có thể quy định như tại điểm a, b khoản 1 Điều 4 Bảo hành của Hợp Đồng Dịch Vụ Thi Công Nội Thất của công ty HV và công ty MD “Việc bảo hành này không bao gồm các vật tư và thiết bị bên nhận thầu không cung cấp, các thiệt hại do những nguyên nhân sử dụng không đúng cách, lỗi thay thế, sửa chữa và Bên thứ ba lắp đặt sai sau khi Bên nhận thầu đã lắp đặt ban đầu. Tương tự như vậy, việc bảo hành không bao gồm thay thế vật tư do hao mòn tự nhiên, sử dụng bình thường hoặc với cường độ cao, sự lão hóa và gỉ sét vật liệu tự nhiên như gỗ hoặc đá. Thiệt hại do các vết trầy xước, đốm, ố vàng, mẻ, lồi lõm và các thiệt hại khác gây ra bởi người sử dụng, trẻ em và vật nuôi.
Nhìn chung, đối với dự án từ giai đoạn nghiệm thu, hoàn công và đưa vào sử dụng, việc xảy ra sự cố có thể xảy ra bất cứ lúc nào, với các dự án có nhiều bên nhận thầu tham gia thì việc quy định trách nhiệm cho từng bên là điều cần thiết. Trách nhiệm của bên nhận thầu cần phải được liệt kê chi tiết trong các hợp đồng ký kết với nhau, trách nhiệm về việc thực hiện khác phục sự cố, trách nhiệm về việc chi trả chi phí và bồi thường tổn thất do sự cố mang lại. Vì thế, cần phải có quy chế, phân định rõ ràng về trách nhiệm của từng bên để khi phát sinh lỗi trong quá trình tranh chấp sẽ dễ dàng xác định được trách nhiệm của nhau, ngay cả “khi hết thời hạn bảo hành, công tác giám sát, nghiệm thu công trình vẫn phải được quản lý chặt chẽ với đầy đủ hồ sơ, nhật ký thi công, hồ sơ hoàn công, hồ sơ quyết toán từng phần và hồ sơ hoàn thành bảo hành công trình giữa chủ đầu tư với các nhà thầu thi công nhằm xác định rõ trách nhiệm sửa chữa hư hỏng đối với các nhà thầu khi sự cố xảy ra. Thế nhưng trên thực tế có một số hợp đồng thi công vẫn ràng buộc phía nhà thầu sửa chữa các phần lỗi không phải do nhà thầu gây ra như Khoản 2 Điều III Hợp đồng thầu phụ giữa công ty SSL và công ty MW “Ngoài ra bên B cũng phải có trách nhiệm thực hiện các công việc sửa chữa các hỏng hóc do các nguyên nhân khác gây ra khi có yêu cầu. Hoặc bên giao thầu áp đặt thời hạn thanh toán cho bên giao thầu đối với bên thứ ba khi bên thứ ba thực hiện các sai sót trong thời hạn bảo hành như Điều 19.2.3 Bảo Hành, hợp đồng tư vấn thiết kế xây dựng nhà xưởng của công ty UN và công ty SL “Trong thời hạn bảo hành Công trình, Nhà thầu phải sữa chữa mọi sai sót, khiếm khuyết do lỗi của Nhà thầu gây ra trong quá trình thi công xây dựng Công trình bằng chi phí của Nhà thầu. Việc sửa chữa các lỗi này phải được bắt đầu trong vòng không quá 07 ngày sau khi nhận được thông báo của Chủ đầu tư về các lỗi này. Nếu quá thời hạn này mà Nhà thầu không bắt đầu thực hiện các công việc sửa chữa thì Chủ đầu tư có quyền thuê một Nhà thầu khác (bên thứ ba) thực hiện công việc này và toàn bộ chi phí cho việc sửa chữa để chi trả cho bên thứ ba sẽ do Nhà thầu chịu. Nhà thầu phải thanh toán cho bên thứ ba trong vòng 07 ngày sau khi nhận được thông báo của Chủ đầu tư về các khoản thanh toán này. Trường hợp, hết hạn thanh toán mà Nhà thầu vẫn không thanh toán các chi phí này thì Chủ đầu tư sẽ xử lý Bảo đảm Thực hiện Bảo hành Công trình và thực hiện theo Điều 20[Khiếu nại và giải quyết tranh chấp] để yêu cầu Nhà thầu phải thanh toán. Bên nhận thầu cần phải chú ý khi thực hiện ký kết hợp đồng đối với những điều khoản ràng buộc trách nhiệm và nghĩa vụ phải thực hiện để tránh các điều kiện mơ hồ, không thuộc phạm vi trách nhiệm do mình giải quyết.
Vậy nên để đảm bảo chất lượng công trình được ổn định xuyên suốt trong quá trình khai thác, vận hành sử dụng ngay cả khi hết thời hạn bảo hành, công tác giám sát, nghiệm thu công trình phải được quản lý chặt chẽ với đầy đủ hồ sơ, nhật ký thi công, hồ sơ hoàn công, hồ sơ quyết toán từng phần và hồ sơ hoàn thành bảo hành công trình giữa chủ đầu tư với các nhà thầu thi công nhằm xác định rõ trách nhiệm sửa chữa hư hỏng đối với các nhà thầu khi sự cố xảy ra.
2.2.3. Thực tiễn thực hiện pháp luật về xác nhận hoàn thành công tác bảo hành công trình xây dựng Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo hành công trình xây dựng.
Bên nhận thầu cũng nên ý thức được về trách nhiệm của mình trong việc tổng kết thực hiện hoàn thiện bảo hành đối với các dự án sắp hết hạn. Một trong những yếu tố mà bên nhận thầu hay gặp phải đó chính là bên giao thầu từ chối xác nhận hoặc kéo dài thời gian xác nhận biên bản hoàn thành bảo hành hoặc ràng buộc các điều khoản gây khó khăn trong việc xác nhận hoàn thành bảo hành như tại điểm a Điều 16.4 Hợp đồng thi công giữa công ty NE và công ty SO “Việc thực hiện các sửa chữa sai sót của nhà thầu sẽ không được xem là đã hoàn thành nếu nhà thầu chưa được chủ đầu tư cấp biên bản nghiệm thu xác nhận hoàn thành sửa chữa sai sót, nêu rõ nhà thầu đã hoàn thành sửa chữa các tồn đọng , sai sót theo đúng hợp đồng. Để được cấp biên bản nghiệm thu xác nhận hoàn thành thì các hạng mục khiếm khuyết phải được sửa chữa theo đúng Hợp đồng, tuy nhiên nội dung về chất lượng các hạng mục lại không được thể hiện rõ đầy đủ, cũng như đạt yêu cầu như thế nào, chỉ quy định chung chung thì bên nhận thầu sẽ khó có được biên bản xác nhận hoàn thành bảo hành từ chủ đầu tư nếu chủ đầu tư cố ý muốn kéo dài thời hạn này. Hoặc tại điểm b Điều 16.4 Hợp đồng thi công giữa công ty NE và công ty SO có nêu nếu có một bên thứ ba là tư vấn giám sát cho dự án công trình thì việc xác nhận hoàn thành bảo hành cũng cần được xác nhận bởi bên thứ ba và đôi lúc “Chủ đầu tư hoặc nhà tư vấn sẽ cấp hoặc có thông báo từ chối cấp biên bản nghiệm thu xác nhận hoàn thành sửa chữa sai sót trong vòng 03 ngày kể từ ngày nhà thầu thông báo chủ đầu tư là đã hoàn thành việc sửa chữa các tồn đọng, sai sót trên thực tế. Việc từ chối xác nhận hoàn thành xuất phát từ nhiều lý do, có thể sửa chữa các khuyết điểm của bên nhận thầu chưa đạt yêu cầu về chất lượng, hoặc cũng có thể nguyên nhân chủ quan từ phía chủ đầu tư, nhà tư vấn. Việc thực hiện xác nhận hoàn thành bảo hành đòi hỏi các bên nhận thầu phải linh động và nhạy bén. Có thể bên nhận thầu nên thêm điều khoản về thông báo cho bên giao thầu ít nhất ba mươi ngày trước ngày hết hạn bảo hành và trong tháng cuối của thời hạn bảo hành thì hai bên nên phối hợp kiểm tra để xử lý, sửa chữa những hư hỏng, sai sót cho những thiết bị, hạng mục mà bên nhận thầu thi công như tại Khoản 4 Điều 5 Bảo hành của Hợp Đồng Dịch Vụ Thi Công Nội Thất của công ty HV và công ty MD có quy định “Bên B sẽ thông báo cho bên A ít nhất 30 ngày trước ngày hết hạn bảo hành và trong tháng thứ 18 (mười tám) Bên B phối hợp cùng Bên A kiểm tra và bảo hành công trình và tích cực phối hợp với bên A để xử lý/ sửa chữa những hư hỏng/ sai sót cho những thiết bị/hạng mục thi công mà bên B đã cung cấp. Điều này giúp cho bên nhận thầu có thể hoàn thành nghĩa vụ bảo hành trọn vẹn, cũng giúp cho bên giao thầu an an tâm và chuẩn bị sẵn sàng nguồn tài chính để có thể chi trả lại khoản tạm giữ bảo hành (nếu có). Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo hành công trình xây dựng.
Xác nhận hoàn thành bảo hành cần phải được quy định rõ trong hợp đồng xây dựng để các bên nắm và thực hiện tốt nghĩa vụ của mình tránh phát sinh các tranh chấp trong giai đoạn cuối nghiệm thu hoàn thành hết hạn bảo hành công trình. Điều kiện này có thể không dễ dàng đối với bên nhận thầu vì trong một số trường hợp bên giao thầu sẽ kéo dài thời hạn xác nhận hoàn thành bảo hành vì bên giao thầu cho rằng sau khi ký biên bản xác nhận hoàn thành bảo hành đồng nghĩa là chấm dứt trách nhiệm sữa chữa các sai sót và các hư hỏng của công trình. Vì thế, một số đơn vị giao thầu có thể lấy lí do để liệt kê các hạng mục hư hại không đáng kể hoặc không thuộc phạm vi của bên nhận thầu để cố tình kéo dài thời gian bảo hành công trình cũng như kéo dài trả lại khoản tiền giá trị bảo hành đã giữ trong trường hợp giữ khoản tiền bảo hành. Như “Theo quy định tại Điều 11.1 của Hợp đồng, thời hạn bảo hành công trình bắt đầu từ ngày chấp nhận cuối cùng đến hết thời hạn 12 tháng và công trình được đưa vào sử dụng hơn 1 năm, 07 hạng mục hư hỏng được thỏa thuận trong biên bản họp được phát sinh vào thời điểm công trình đã hết thời gian bảo hành và nằm ngoài những nội dung yêu cầu sửa chữa” thế nhưng bên giao thầu vẫn không chịu xác nhận hòan thành bảo hành cho bên nhận thầu, gây khó khăn cho bên nhận thầu cả về thời gian và về tài chính. Ngoài ra, bên nhận thầu cần lưu ý về các lỗi liên quan đến chất lượng công trình, nên thêm các điều khoản về loại trừ trách nhiệm đối với các lỗi như ”Nguyên nhân gây hư hỏng phát sinh là do địa hình xây dựng, thời tiết, môi trường sản xuất kinh doanh hoặc lỗi từ bên giao thầu ”kinh doanh những nhóm thiết bị hạng nặng, làm rung lắc gây ảnh hưởng đến chất lượng công trình” thì bên nhận thầu có quyền từ chối bảo hành đối với những hạng mục này. Tuy nhiên khi đứng trên lập trường của bên giao thầu, có thể nhận thấy một số khó khăn của bên giao thầu khi phải xác nhận hoàn thành bảo hành, có thể kể đến đầu tiên là các hạng mục hư hỏng trong thời gian bảo hành nhưng chưa thực sự được khắc phục, sữa chữa hoàn toàn. Mặc dù gần đến hết thời hạn bảo hành nhưng bên nhận thầu chưa thực sự giải quyết triệt các hư hỏng nên tạo tâm lý bất an đối với bên giao thầu về sự an toàn của công trình, đôi lúc dự án có cả ban quản lý cùng với các đơn vị tư vấn giám sát thì cũng cần phải xác nhận về độ an toàn cũng như không còn các lỗi kỹ thuật, hư hỏng, khiếm khuyết trong thời gian khá lâu. Vậy nên, cần đặt ra một số quy định về xác nhận hoàn thành bảo hành như điều kiện nghiệm thu, hồ sơ cần có để hoàn thiện quá trình đóng bảo hành cũng như các cơ chế cho bên nhận thầu yêu cầu đối với bên giao thầu, nhà tư vấn để hạn chế các tranh chấp, vướng mắc giữa các bên.
2.2.4. Thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo đảm bảo hành công trình xây dựng Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo hành công trình xây dựng.
Đối với bảo đảm bảo hành thì mặc dù một vài hình thức bảo đảm bảo hành cũng mang lại nhiều tích cực cho các bên khi thực hiện. Tuy nhiên khi áp dụng vào thực tế thì vẫn còn tồn tại một số bất cập như sau:
Một là về điều kiện mẫu thư bảo lãnh bảo hành. Hiện nay không có một mẫu chung cho thư bảo lãnh bảo hành trong hợp đồng xây dựng, mẫu do các bên tự thỏa thuận. Do đó, trên thực tế ở một số trường hợp bên giao thầu sẽ tận dụng điểm này để ràng buộc với bên nhận thầu đối với chứng thư bảo lãnh. Như trong hợp đồng xây dựng công ty HV và công ty MD có đề cập “bên giao thầu sẽ nhận được chứng thư bảo lãnh bảo hành bằng 5% giá trị quyết toán Hợp đồng trước thuế do Ngân hàng TMCP Phương Đông phát hành (đây là bảo lãnh ngân hàng vô điều kiện, không hủy ngang với mẫu chứng thư bảo lãnh được đồng ý trước bởi bên giao thầu) có hiệu lực 18 tháng tính từ ngày hoàn thành và bàn giao công trình được các Bên ký xác nhận trong biên bản nghiệm thu”. Với việc áp dụng mẫu bảo lãnh bảo hành vô điều kiện và không hủy ngang sẽ là một điều bất lợi cho bên nhận thầu bởi vì chỉ cần gửi văn bản yêu cầu thanh toán kèm với bản gốc của thư bảo lãnh thì Ngân hàng sẽ chi trả khoản thanh toán cho bên giao thầu mà không cần chấp thuận hay cho phép của nhà thầu mà vẫn lấy được bảo lãnh bảo hành. Hay trong một số trường hợp bên giao thầu ấn định mẫu thư bảo lãnh bảo hành cho bên nhận thầu để ràng buộc trách nhiệm bảo hành, việc ấn định một số mẫu bảo lãnh bảo hành khiến cho các nhà thầu sẽ khó khăn trong việc giải tỏa thanh toán cũng như phải tuân thủ một số yêu cầu bắt buộc từ phía bên giao thầu như tại hợp đồng thi công giữa công ty NE và công ty SO “Tất cả các thư bảo lãnh theo quy định tại Khoản (a), (b), (c) Điều 8.2 của Hợp đồng này (các thư bảo lãnh) phải được cấp bởi ngân hàng thương mại được thành lập và hoạt động hợp pháp tại Việt Nam, được bên giao thầu chấp thuận theo danh sách tại Phụ lục 7 (danh sách ngân hàng) đính kèm hợp đồng và theo các mẫu bảo lãnh tại phụ lục 8 (mẫu các thư bảo lãnh) đính kèm hợp đồng. Bất cứ thay đổi nào đối với nội dung các thư bảo lãnh phải được sự đồng ý của bên giao thầu hoặc chủ đầu tư”. Từ những yêu cầu này mà có bên giao thầu từ chối giải tỏa bảo lãnh ngân hàng đối với bảo đảm thực hiện bảo hành với lí do “mẫu bảo lãnh bảo hành của Ngân hàng chưa được sự chấp thuận, Công ty CH (bên giao thầu) cho rằng Công ty BM (bên nhận thầu) tự ý quyết định mẫu bảo lãnh bảo hành của Ngân hàng là không tuân thủ theo quy định của Hợp đồng mà hai bên đã ký kết. Trên thực tế có một số tình huống xảy ra phát sinh các tranh chấp trong quá trình xác nhận hoàn thành bảo hành và giải phóng thư bảo lãnh. Cụ thể bên giao thầu sẽ gây khó khăn cho bên nhận thầu như “Trong trường hợp bên B cung cấp cho bên A bảo lãnh bảo hành có giá trị tương đương với giá trị giữ lại bảo hành, thì bên A sẽ thanh toán tiền giữ lại bảo hành cho bên B. Mẫu bảo lãnh bảo hành của ngân hàng phải được bên A chấp thuận. Bảo hành bằng bảo lãnh ngân hàng phải có thời hạn là 1 năm kể từ ngày phát hành, điều kiện giải tỏa bảo lãnh phải có biên bản nghiệm thu sau bảo hành hợp lệ. Vì không xem xét mẫu thư bảo lãnh cũng như không gửi xác nhận cho bên giao thầu nên đến cuối thời hạn bảo hành bên giao thầu lấy lí do “mẫu bảo lãnh bảo hành của Ngân hàng chưa được sự chấp thuận của Công ty CH Căn cứ tại khoản 4.4 Điều 4 Hợp đồng thi công xây dựng số 12092019/HĐTC/CH-BM ngày 12/9/2019 nên Công ty CH cho rằng Công ty BM tự ý quyết định mẫu bảo lãnh bảo hành của Ngân hàng là không tuân thủ theo quy định tại khoản 4.4 Điều 4 của Hợp đồng mà hai bên đã ký kết. Bởi mẫu thư bảo lãnh bảo hành số 48836000014356 ngày 29/4/2020 của Ngân hàng chưa được Công ty CH chấp thuận do có một số nội dung chưa được làm rõ. Vậy nên, bên nhận thầu cần phải xác định kĩ về mẫu thư bảo lãnh cũng như gửi thông báo để bên giao thầu xác nhận thư để làm cơ sở pháp lý cho các phát sinh nếu có sau này. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo hành công trình xây dựng.
Hai là, thời hạn đối với bảo đảm bảo hành công trình xây dựng. Sau một thời gian thực hiện bảo đảm bảo hành công trình thông qua hình thức tạm giữ khoản chi phí hoặc bảo đảm bảo hành bằng bảo lãnh ngân hàng thì “việc hoàn trả tiền bảo hành là nghĩa vụ của bên giao thầu, phát sinh vào thời điểm hết thời hạn bảo hành và nghĩa vụ bảo hành đã hoàn thành”. Trong Nghị định số 06/2021/NĐ-CP cũng chỉ đề cập về thời hạn bảo hành công trình xây dựng cũng như mức giá trị tối đa được giữ bảo hành nhưng không đề cập đến thời hạn cho việc bảo đảm bảo hành là bao lâu. Do đó, trên thực tế các bên thường chọn thời hạn cho bảo đảm bảo hành bằng với thời hạn bảo hành công trình. Trong một số trường hợp như là nhà ở, chung cư có thời hạn bảo hành lên đến 60 tháng thì việc tạm giữ bảo đảm bảo hành cũng phải tuân theo thời hạn này, điều này khiến cho bên nhận thầu khó khăn trong việc giải tỏa nguồn vốn của mình, bị động về ngân sách trong các dự án khác. Hơn thế nữa trong một số dự án có điều khoản gia hạn thời hạn bảo hành, thì việc gia hạn thời hạn bảo hành cũng kéo theo gia hạn về bảo đảm bảo hành. Có thể đề cập trong hợp đồng của công ty SL và công ty AW khi phía bên giao thầu yêu cầu về “Thư bảo lãnh bảo hành phải có hiệu lực cho đến khi kết thúc thời hạn bảo hành theo quy định tại hợp đồng. Nhà thầu có nghĩa vụ gia hạn thời hạn bảo lãnh bảo hành và duy trì hiệu lực cho đến khi hoàn tất nghĩa vụ bảo hành trên thực tế khi nhà thầu chưa hoàn thành nghĩa vụ bảo hành theo quy định của hợp đồng hoặc trong vòng mười bốn ngày trước ngày hết hạn thời hạn bảo hành mà phát sinh nghĩa vụ bảo hành của nhà thầu”. Như vậy có thể thấy rằng, trên thực tế việc thực hiện bảo đảm bảo hành phụ thuộc vào thời hạn bảo hành, khi đưa ra các yêu cầu về gia hạn bảo hành liên quan đến bảo đảm bảo hành thì các bên nhận thầu buộc phải chấp nhận vì nó như một điều kiện để đấu thầu và thực hiện dự án.
Ba là giá trị tạm giữ bảo hành. Theo quy định tại điểm a và b khoản 7 Điều Nghị định số 06/2021/NĐ-CP có đề cập về giá trị tạm giữ bảo hành “3% giá trị hợp đồng đối với công trình xây dựng cấp đặc biệt và cấp I và 5% giá trị hợp đồng đối với công trình xây dựng cấp còn lại”. Tuy nhiên, quy định này chỉ bắt buộc đối với các công trình sử dụng vốn đầu tư công hoặc vốn nhà nước ngoài đầu tư công, các công trình sử dụng các nguồn vốn khác thì có thể tham khảo theo quy định này. Việc để các công trình sử dụng vốn khác có thể tham khảo quy định này được hiểu rằng, các chủ thể có thể tham khảo mức giá trị tạm giữ bảo hành như theo quy định pháp luật hoặc có thể tự do thỏa thuận với nhau ở các mức khác. Điều này vô hình chung dẫn đến các trường hợp một số bên giao thầu ép buộc tạm giữ mức bảo hành với giá trị lớn đối với các dự án giá trị nhỏ, nhưng bên nhận thầu buộc phải chấp nhận vì có thể đây là điều kiện đủ để tham gia đấu thầu và thực hiện dự án. Ngoài ra, trong quy định của pháp luật cũng không đề cập đến việc chi trả đối với số tiền thực hiện bảo hành lớn hơn mức giá trị bảo hành tạm giữ do bên nào chi trả. Đây có thể là vấn đề tranh chấp giữa các bên nếu không có quy định cụ thể trong hợp đồng. Vậy nên, cần phải có quy định pháp luật về vấn đề này để xác định trách nhiệm thuộc về ai như tại hợp đồng giữa công ty SL và công ty AW “Trường hợp số số tiền bảo lãnh bảo hành không đủ để chi trả các chi phí bảo hành trên thực tế thì nhà thầu phải chi trả toàn bộ các khoản tiền chênh lệch giữa chi phí này với số tiền bảo lãnh bảo hành cho bên giao thầu để (i) bên giao thầu thanh toán lại cho Chủ đầu tư (ii) chi trả trực tiếp cho Chủ đầu tư trong vòng (7) bảy ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của Chủ đầu tư. Có thể thấy, việc quy định rõ ràng về trách nhiệm thanh toán đối với trường hợp thực hiện bảo hành vượt mức tạm giữ bảo đảm là hoàn toàn hợp lý. Bởi vì nếu như không quy định rõ ràng trong hợp đồng khi xảy ra tranh chấp về khối lượng công việc bảo hành, thì những khoản này sẽ khó phân định và giải quyết. Theo quy định tại điểm a, b, c khoản 7 Điều 28 Nghị định số 06/2021/NĐCP khi nói về giá trị tạm giữ bảo hành thì “a) 3% giá trị hợp đồng đối với công trình xây dựng cấp đặc biệt và cấp I; b) 5% giá trị hợp đồng đối với công trình xây dựng cấp còn lại; c) Mức tiền bảo hành đối với công trình sử dụng vốn khác có thể tham khảo các mức tối thiểu quy định tại điểm a, điểm b khoản này để áp dụng.“ Xét trên thực tế vẫn còn một số bên nhận thầu trong một số trường hợp có thể ép bên giao thầu giữ giá trị bảo hành cao như “thời hạn bảo hành công trình là 12 tháng, được tính từ ngày nghiệm thu bàn giao công trình và giá trị bảo hành là 8% trên giá trị hợp đồng. Sau 06 tháng sử dụng thanh toán 4%, hết thời gian bảo hành thanh toán tiếp 4% còn lại” mặc dù đây chỉ là công trình xây dựng thuộc cấp II. Có thể thấy việc tạm giữ giá trị bảo hành của bên giao thầu trong các dự án sử dụng vốn khác thì mức tiền giữ bảo hành có thể cao hơn cao so với quy định pháp luật. Điều này là một điều bất lợi cho bên nhận thầu, với dự án mức đầu tư lớn thì việc tạm giữ giá trị bảo hành cao sẽ khiến cho bên nhận thầu khó khăn trong việc quản lý nguồn ngân sách và nguồn kinh phí cho các dự án đầu tư khác.
2.2.5. Thực tiễn thực hiện pháp luật về xử lý vi phạm về bảo hành công trình xây dựng Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo hành công trình xây dựng.
Đối với quy định xử phạt vi phạm về xây dựng Nghị định số 16/2022/NĐ-CP đã đưa ra hai điều luật về hành vi vi phạm cũng như chế tài đối với công tác bảo hành, tuy nhiên cả hai điều luật này chưa thật sự cụ thể và chi tiết và có một số bất cập như sau:
Thứ nhất, mặc dù có đề cập về việc quy định thời gian bảo hành không đủ, không theo quy định của pháp luật thì sẽ bị “phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng”93. Tuy nhiên, tại điều này lại không quy định cụ thể về biện pháp khắc phục đối với hành vi này như là việc điều chỉnh điều khoản về thời hạn bảo hành lại hoặc chỉnh sửa, bổ sung thêm về thời hạn bảo hành, việc phạt hành chính đối với hành vi này thực sự chưa được cụ thể và rõ ràng cho các bên. Bên cạnh đó, khi đề cập đến vấn đề thời hạn bảo hành thì tại Nghị định số 06/2021/NĐ-CP tại khoản 5 Điều 28 chỉ yêu cầu bắt buộc thời hạn bảo hành đối với các cấp công trình cho các dự án sử dụng vốn đầu tư công hoặc vốn nhà nước ngoài đầu tư công, các nguồn vốn khác có thể tham khảo theo thời hạn này, như vậy nếu các nguồn vốn khác không áp dụng thời hạn bảo hành theo Nghị định số 06/2021/-NĐ-CP thì việc xử lý vi phạm hành chính cũng như các biện pháp khắc phục cho hành vi vi phạm phải được xử lý như thế nào?
Thứ hai, nhìn chung đối với mức phạt cho các hành vi vi phạm về bảo hành công trình xây dựng ở mức nộp phạt và thực hiện các biện pháp khắc phục theo hành vi còn thấp, chưa đủ tính răn đe và cưỡng chế để thực hiện khắc phục hành vi vi phạm. Có thể thấy rằng, nếu một dự án có giá trị đầu tư rất lớn, mức tiền giữ bảo hành rất nhiều nhưng phía bên giao thầu kéo dài thời gian về việc không xác nhận hoàn thành bảo hành cho bên nhận thầu, nhưng khoản phạt cho hành vi này là “phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 40.000.000 đồng” cũng nhỏ hơn so với mức đầu tư của dự án. Như phía bên giao thầu sẽ viện lý do “công trình bị hư hại, chưa hoàn thành việc bảo hành công trình, công trình bàn giao không đúng tiến độ” mặc dù “Ban Quản lý các khu công nghiệp T đã ban hành Thông báo số 1227/TB-KCNĐN (sau đây viết là Thông báo số 1227) về việc chấp thuận kết quả nghiệm thu để đưa vào sử dụng công trình thuộc dự án nhà máy P1, kết luận chấp nhận kết quả nghiệm thu của chủ đầu tư đối với công trình nêu trên, những hư hỏng phát sinh trong quá trình công trình đưa vào sử dụng không phải do lỗi xây dựng của nguyên đơn gây ra, cũng không phải là do chất lượng công trình không bảo đảm”. Ngoài ra, chế tài cho việc tái phạm nhiều lần cũng như không khắc phụ hậu quả cũng không được đề cập và làm rõ. Vì thế một số bên giao thầu lợi dụng điểm này để cố tình thực hiện các hành vi này. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo hành công trình xây dựng.
Thứ ba, các hành vi vi phạm nghĩa vụ bảo hành hiện nay vẫn chưa được quy định đầy đủ. Cụ thể, vấn đề cần làm rõ là cách thức xác định thời hạn bảo hành không đủ trong cam kết bảo hành, mức xử lý vi phạm và các biện pháp khắc phục đối với các hành vi này. Việc không thực hiện trách nhiệm bảo hành của bên nhận thầu ở lần đầu thì mức phạt bao nhiêu, tái phạm thì mức phạt có gia tăng hay không và chế tài đối với biện pháp khắc phục là không thực hiện trách nhiệm bảo hành là như thế nào thì pháp luật hiện hành chưa quy định. Ngoài ra, vẫn còn một số hành vi vi phạm nghĩa vụ bảo hành vẫn chưa được liệt kê và quy định như là không thỏa thuận hoặc thỏa thuận không đúng về thời hạn bảo hành, thực hiện trách nhiệm bảo hành nhưng không đạt chất lượng như yêu cầu. Tại bản án số 243/2020/KDTM-PT ngày 06/5/2020 về việc Tranh chấp hợp đồng thi công xây dựng, Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh “Theo thỏa thuận tại Điều 4.3 Hợp đồng thì thời gian bảo hành là tháng kể từ ngày bàn giao công trình. Tuy nhiên, trong thời hạn bảo hành, các công trình bắt đầu phát sinh nhiều lỗi về chất lượng xây dựng, cụ thể: Gạch lót sàn bị nứt, tường bị ố do cửa sổ bị rỉ, cùm bị rỉ, cỏ thiếu nước, nền xưởng bị tách, lưới chống côn trùng bị mục, ron nền xưởng bị hở, gạch ốp bị bung, cạnh cửa sổ bị nứt và thấm nước, tường bị nứt, lỗ foam bị hở, cảnh quan hư hỏng…và kết cấu công trình không vững dẫn tới công trình hư hỏng nghiêm trọng. Phía Công ty T cũng đã sửa chữa nhiều lần nhưng các bên vẫn chưa lập được biên bản nghiệm thu. Nguyên nhân là vật liệu thi công và quá trình thi công của Công ty T không đảm bảo theo thiết kế và thỏa thuận giữa hai bên.” Hậu quả của việc thi công và thực hiện bảo hành nhưng không đạt yêu cầu là “kết quả kiểm định công trình số 19152/DV.32/SCQC ngày 16/10/2019 thì rất nhiều hạng mục bị hư hỏng. Qua phân tích các yếu tố ảnh hưởng và kết quả điều tra, khảo sát hiện trạng công trình, cơ quan kiểm định đánh giá: nguyên nhân chủ yếu gây hư hỏng một số cấu kiện của các hạng mục công trình “Nhà máy Joongwon Việt Nam – Long An GWFNV Factory” chủ yếu là do quá trình thiết kế, thi công chưa đảm bảo. Các hư hỏng trên có thể được khắc phục, sửa chữa theo kiến nghị biện pháp kỹ thuật với chi phí là 1.719.704.000 (Một tỷ bảy trăm mười chín triệu bảy trăm lẻ bốn ngàn) đồng”. Thông qua bản án trên, có thể thấy rằng việc thực hiện công tác bảo hành là phía bên nhận thầu, tuy nhiên cần phải có quy định chi tiết về nội dung đảm bảo chất lượng khi bảo hành, các mức xử lý, phạt, bồi thường đối với các trường hợp không đảm bảo chất lượng dự án ngay cả trường hợp đã thực hiện bảo hành.
2.3. Hoàn thiện pháp luật về bảo hành công trình xây dựng tại Việt Nam Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo hành công trình xây dựng.
2.3.1. Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bảo hành công trình xây dựng
Ngành xây dựng tại Việt Nam đã chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ trong những thập kỷ qua, đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế và cải thiện cơ sở hạ tầng quốc gia. Tuy nhiên, sự gia tăng quy mô và tính chất phức tạp của các dự án xây dựng đã đặt ra yêu cầu cao hơn về chất lượng và bảo hành công trình. Bảo hành công trình xây dựng là một yếu tố quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng và an toàn của các công trình sau khi hoàn thành. Mặc dù các quy định về bảo hành công trình đã được đưa vào pháp luật, thực tiễn thi hành cho thấy còn nhiều vấn đề. Nhiều chủ đầu tư và nhà thầu chưa thực hiện đúng nghĩa vụ của hoạt động bảo hành, dẫn đến các vấn đề về chất lượng công trình và tranh chấp giữa các bên liên quan. Sự không đồng bộ và thiếu rõ ràng trong các quy định hiện hành đã tạo ra những khó khăn trong việc áp dụng và thực thi các quy định bảo hành. Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng, pháp luật về xây dựng ngày càng ổn định và tương đối đầy đủ, bổ sung kịp thời so với sự phát triển của xã hội. Song, xã hội luôn vận động và phát triển đòi hỏi pháp luật cũng có sự thay đổi tương ứng cho phù hợp và hoàn thiện hơn. Do vậy, việc tiếp tục hoàn thiện pháp luật về xây dựng mà cụ thể hơn là bảo hành công trình xây dựng là vô cùng cần thiết vì những lý do sau:
- Khắc phục những hạn chế của pháp luật hiện hành về hoạt động bảo hành công trình xây dựng
Thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo hành công trình xây dựng thời gian qua vẫn còn một số trường hợp chưa được thực hiện đúng, đầy đủ, trách nhiệm của các bên trong việc thực hiện nghĩa vụ bảo hành chưa được phân định rõ ràng so với quy định của pháp luật. Việc xảy ra các tranh chấp trong hoạt động bảo hành công trình khiến cho công trình rơi vào tình trạng thiếu an toàn mà các bên cũng bị ảnh hưởng nhiều về uy tín, thời gian và chi phí thực hiện. Chính những điều đó đã đòi hỏi cần sớm khắc phục những hạn chế, bất cập của pháp luật hiện hành nhằm thúc đẩy và bảo đảm thực hiện pháp luật liên quan đến hoạt động này một cách có hiệu quả.
- Tiếp tục hoàn thiện pháp luật trong hoạt động bảo hành công trình xây dựng để phù hợp với xu hướng toàn cầu hóa Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo hành công trình xây dựng.
Nhu cầu về cở sở vật chất hạ tầng càng tăng thì ngành xây dựng càng phải nghiên cứu và ứng dụng các mô hình quản lý cũng như các quy định từ nhiều quốc gia khác nhau để giúp đảm bảo quyền lợi của các bên và giảm thiểu tranh chấp lĩnh vực xây dựng nói chung cũng như hoạt động bảo hành nói riêng. Nhiều quốc gia đã áp dụng các mô xây dựng trực tuyến cũng như đưa ra thông tin chi tiết về hạng mục bảo hành cho từng quy mô dự án hoặc một số quốc gia có riêng một cơ quan quản lý chất lượng và bảo hành về công trình xây dựng. Do đó, pháp luật xây dựng cần xây dựng và hoàn thiện cơ sở pháp lý vững chắc để có thể vừa bảo đảm được lợi ích của các bên trong hoạt động bảo hành, vừa bảo đảm lợi ích của quốc gia trong bối cảnh hội nhập sâu rộng như hiện nay.
Các nước trên thế giới đang bước vào giai đoạn phát triển nhanh chóng về công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, các công nghệ thực tế ảo, dữ liệu lớn, được ứng dụng vào mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế – xã hội, điều đó đã tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của mô hình quản lý thông tin xây dựng trực tuyến tạo ra một hệ sinh thái về thông tin dự án, công trình xây dựng rõ ràng, minh bạch. Trước những sự biến đổi lớn về mặt thông tin số cũng như dữ liệu về ngành xây dựng thì đòi hỏi tại Việt Nam cần phải triển, học hỏi và ứng dụng các cộng nghê kỹ thuật số vào việc quản lý hoạt động bảo hành công trình xây dựng. Vì vậy việc tiếp tục hoàn thiện quy định pháp luật về hoạt động bảo hành công trình xây dựng là điều vô cùng cần thiết.
2.3.2. Định hướng hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bảo hành công trình xây dựng
Hoàn thiện pháp luật Việt Nam nói chung, pháp luật xây dựng về bảo hành công trình xây dựng nói riêng trong thời gian tới cần phải xác định rõ theo những định hướng sau:
Thứ nhất, đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ giữa các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan khác.
Cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần xem xét, rà soát lại các quy định pháp luật hiện hành để phát hiện những mâu thuẫn, chồng chéo để từ đó kịp thời sửa đổi, bổ sung cho phù hợp. Đồng thời, tiếp tục nghiên cứu ban hành và hoàn thiện hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về lĩnh vực xây dựng về bảo hành công trình xây. Đây là yếu tố then chốt để ngành xây dựng có được những quy chuẩn cho hoạt động bảo hành công trình xây dựng rõ ràng và minh bạch. Ngoài ra, cần rà soát, sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến việc thời hạn bảo hành công trình xây dựng, bảo đảm bảo hành và xử lý vi phạm trong hoạt đọng bảo hành công trình xây dựng như trong Luật Nhà ở năm 2023, Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023 và các văn bản hướng dẫn có liên quan. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo hành công trình xây dựng.
Thứ hai, pháp luật về bảo hành công trình xây là cần đảm bảo đảm hài hòa giữa quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia vào hoạt động bảo hành cũng như bảo đảm cho công trình được an toàn và hoạt động xây dựng diễn ra thuận lợi.
Để hoạt động xây dựng diễn ra thuận lơi, các hoạt động bảo hành công trình xây dựng được đảm báo đúng tiến độ, an toàn thì pháp luật cần bảo đảm vai trò của mình trong việc tạo lập cơ sở pháp lý vững chắc cho việc bảo đảm quyền lợi của các bên khi tham gia vào hoạt động bảo hành. Cụ thể cần có những quy định phân chia rõ trách nhiệm và vai trò của các bên khi tham gia vào hoạt động, các chế tài nghiêm khắc đối với một bên không thực hiện đúng, đầy đủ. Quy định chi tiết về các nội dung được bảo hành và nội dung được miễn trừ trách nhiệm bảo hành. Bên cạnh đó, pháp luật cần tạo lập cơ sở pháp lý để phục vụ cho hoạt động tư pháp và thực thi pháp luật.
Thứ ba, các thay đổi, cập nhật của pháp luật cần phù hợp với đặc điểm, trình độ phát triển kinh tế trong thời đại hội nhập khu vực và thế giới.
Một trong những trở ngại lớn nhất trong hoạt động ngành xây dựng chính là thủ tục giao dịch giấy tờ, xin cấp phép, các hoạt động liên quan đến quá trình nghiệm thu hoàn thành công trình. Tất các các hoạt động trong lĩnh vự xây dựng được thực hiện trên giấy tờ, biên bản là chủ yếu. Để thích ứng với thời đại công nghệ số, dữ liệu số, ngành xây dựng cần phải thay đổi để nâng cấp phương pháp quản lý cũng như quản lý dữ liệu công trình, dự án tốt hơn và phù hợp hơn với xu thế của thế giới. Việc xác nhận chất lượng công trình, hoàn thiện nghiệm thu, hoàn thành bảo hành. Bên cạnh đó, pháp luật cần phải ban hành văn bản hướng dẫn để các bên tham gia vào hoạt động bảo hành áp dụng kịp thời, tương ứng với từng giai đoạn cụ thể. Do đó, khi ban hành quy định pháp luật cần phải dự liệu để điều chỉnh những quan hệ xã hội mới phát sinh liên quan đến hoạt động bảo hành công trình xây dựng phù hợp với xu thế của thời đại.
2.3.3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bảo hành công trình xây dựng Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo hành công trình xây dựng.
Hoạt động bảo hành công trình xây dựng cần gắn liền xuyên suốt của một dự án công trình vì tính chất, mức độ an toàn của công trình do đó cần đòi hỏi nhà nước phải ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đầy đủ để điều chỉnh kịp thời các phát sinh tranh chấp trong hoạt đồng này. Trong quá trình nghiên cứu, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về hoạt động bảo hành công trình xây dựng như sau:
2.3.3.1. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về hoạt động bảo hành công trình xây dựng
Thứ nhất, cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần rà soát các quy định pháp luật hiện hành liên quan đến hoạt động bảo hành công trình xây dựng, qua đó phát hiện và sửa đổi những quy định còn chồng chéo, mâu thuẫn hoặc không phù hợp. Đồng thời, thực hiện nhất quán nội dung liên quan đến hoạt động bảo hành trong các văn bản quy phạm pháp luật như Luật Nhà ở năm 2023, Luật Kinh doanh bất động sản năm 2023. Cụ thể là mặc dù quy định thời hạn bảo hành theo Luật Nhà ở năm 2023 là phù hợp với tính chất Luật chuyên ngành, tuy nhiên giữa Luật Nhà ở năm 2023 và Luật Xây dựng năm 2014 được sửa đổi, bổ sung năm 2020 nên được điều chỉnh thời hạn bảo hành đảm bảo thống nhất giữa các văn bản pháp luật liên quan về một vấn đề, để dễ dàng quản lý trong việc phân cấp dự án xây dựng cũng như đối tượng chịu trách nhiệm trong công tác bảo hành vì đến cuối cùng người thực hiện trực tiếp các công việc bảo hành vẫn là bên nhận thầu dưới dự giám sát, quản lý chất lượng của bên giao thầu. Điều này sẽ giúp giảm thiểu các phát sinh, tranh chấp trong quá trình thực hiện giao kết hợp đồng của các bên.
Thứ hai, về thời hạn bảo hành công trình xây dựng. Cần rà soát và sửa đổi khoản 5 Điều 28 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP theo hướng là thời hạn bảo hành công trình xây dựng được phân theo cấp và dành cho mọi loại vốn chứ không chỉ riêng cho những dự án chỉ sử dụng vốn đầu tư công hoặc vốn nhà nước ngoài đầu tư công cụ thể như sau:
“Thời hạn bảo hành đối với hạng mục công trình, công trình xây dựng mới hoặc cải tạo, nâng cấp được tính kể từ khi được chủ đầu tư nghiệm thu theo quy định và được quy định như sau:
- Không ít hơn 24 tháng đối với công trình cấp đặc biệt và cấp I;
- Không ít hơn 12 tháng đối với các công trình cấp còn lại”
Bên cạnh đó, về thời hạn bảo hành bảo công trình xây dựng nên thống nhất thời gian bảo hành công trình nhà ở tại Luật Nhà ở năm 2023 và theo hướng thống nhất chung về thời hạn bảo hành với Luật Xây dựng năm 2014 sửa đổi, bổ sung năm 2020. Bởi hiện nay Luật Xây dựng hiện hành đang dựa trên phân cấp công trình xây dựng với tiêu chí đánh giá cho thời hạn bảo hành khá đầy đủ. Các bên tham gia vào quá trình bảo hành có thể dễ dàng phân định trách nhiệm trong công tác thực hiện. Bên nhận thầu có thể nắm rõ trách nhiệm của mình trong công tác bảo hành để từ đó thực hiện nghiêm chỉnh từ khâu đấu thầu đến xây dựng và hoàn thiện dự án. Nếu lấy thời hạn bảo hành của Luật Xây dựng cho hoạt động bảo hành áp dụng cho công trình nhà ở thì hoàn toàn hợp lý và việc này tránh được các phát sinh, tranh chấp trên thực tế.
Thứ ba, đối với bảo đảm bảo hành. Cần nghiên cứu và quy định về điều kiện chung trong mẫu thư bảo đảm bảo hành, bên cạnh đó cần có quy định về thời hạn cho bảo đảm bảo hành và giá trị tạm giữ bảo hành. Cụ thể tại khoản 7 Điều 28 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP nên được sửa theo hướng dành cho tất cả công trình chứ không riêng công trình sử dụng vốn đầu tư công hoặc vốn nhà nước ngoài đầu tư công như sau: Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo hành công trình xây dựng.
- Mức tiền bảo hành tối thiểu được quy định như sau:
- 3% giá trị hợp đồng đối với công trình xây dựng cấp đặc biệt và cấp I;
- 5% giá trị hợp đồng đối với công trình xây dựng cấp còn lại;
Thứ tư, đối với xử lý vi phạm nên bổ sung biện pháp khắc phục hậu quả do hành vi “Xác định thời gian bảo hành công trình không đủ theo thời gian quy định của pháp luật” tại điểm a khoản 1 Điều 20 Nghị định số 16/2022/NĐ-CP theo hướng như sau: “Buộc bên vi phạm ngay lập tức điều chỉnh lại thỏa thuận về thời hạn bảo hành công trình theo đúng theo quy định”. Bên cạnh đó, nên bổ sung chế tài đối với những trường hợp bảo hành nhưng không đạt yêu cầu, chất lượng, các trường hợp tái phạm, tái phạm nhiều lần để sức răn đe các bên khi tham gia vào hoạt động bảo hành cũng như nâng cao quản lý hoạt động xây dựng và bảo hành công trình trên thực tế.
Thứ năm, cần nghiên cứu, rà soát, bổ sung ban hành Thông tư quy định về nội dung quản lý chất lượng, thi công xây dựng gắn liền với nội dung bảo hành công trình xây dựng. Quy định một cách chi tiết về quyền, nghĩa vụ, các trường hợp miễn trừ trách nhiệm trong công tác bảo hành. Điều này giúp cho các bên khi tham gia vào quan hệ hợp đồng xây dựng dễ dàng nắm được phần công việc cũng như trách nhiệm của mình đối với phần công việc mà mình thực hiện.
2.3.3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về hoạt động bảo hành công trình xây dựng
Để thực hiện tốt công tác bảo hành công trình xây dựng không chỉ dựa vào năng lực thực hiện của bên nhận thầu, năng lực kiểm tra và vận hành của bên giao thầu, điều quan trọng chính là sự phát hiện kịp thời đối với các sự cố, hỏng hóc, khiếm khuyết. Nhờ phát hiện sớm sẽ giúp cho công trình được vận hành tốt, các bên sẽ giảm thiểu tranh chấp và hạn chế chi phí thời gian, việc phát hiện các hư hỏng sẽ được thực hiện tốt hơn thông qua mô hình quản lý thông tin, công nghệ cảm biến và phần mềm giám sát trực tuyến. Các phần mềm quản lý bảo hành công trình có thể được thiết kế để theo dõi và quản lý tất cả các yêu cầu bảo hành, từ việc tiếp nhận yêu cầu, kiểm tra và đánh giá tình trạng công trình, đến việc xử lý và giải quyết các vấn đề phát sinh.
Công nghệ cũng có thể được sử dụng để cải thiện quy trình thanh tra và giám sát hoạt động bảo hành. Việc ứng dụng công nghệ cảm biến và hệ thống giám sát trực tuyến có thể giúp theo dõi tình trạng của công trình và phát hiện sớm các vấn đề cần bảo hành. Các cảm biến có thể được lắp đặt trong các công trình để giám sát các yếu tố như độ ẩm, nhiệt độ, và các chỉ số kỹ thuật khác, từ đó cung cấp dữ liệu chính xác về tình trạng của công trình. Dữ liệu này có thể được sử dụng để đưa ra các quyết định bảo hành kịp thời và hiệu quả hơn. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo hành công trình xây dựng.
Ngoài ra, việc áp dụng các mô hình quản lý hiện đại cũng là một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về bảo hành. Một trong những mô hình quản lý hiện đại có thể áp dụng là mô hình quản lý dựa trên dữ liệu (Data-Driven Management). Mô hình này sử dụng dữ liệu để đưa ra các quyết định quản lý và giám sát, giúp cải thiện hiệu quả và độ chính xác của các quyết định liên quan đến bảo hành công trình. Việc thu thập và phân tích dữ liệu liên quan đến tình trạng công trình và yêu cầu bảo hành có thể giúp phát hiện sớm các vấn đề, dự đoán các rủi ro và đưa ra các biện pháp xử lý hiệu quả hơn.
Một mô hình quản lý hiện đại khác là mô hình quản lý chất lượng tổng thể (Total Quality Management – TQM). Mô hình này tập trung vào việc cải thiện chất lượng và hiệu quả của các quy trình thông qua việc áp dụng các nguyên tắc quản lý chất lượng và sự tham gia của tất cả các bên liên quan. Trong hoạt động bảo hành công trình xây dựng, việc áp dụng TQM có thể giúp nâng cao chất lượng dịch vụ bảo hành, cải thiện sự hài lòng của khách hàng và giảm thiểu các vấn đề phát sinh liên quan đến bảo hành.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, việc học hỏi và áp dụng các mô hình quản lý và công nghệ từ các quốc gia phát triển cũng rất quan trọng, “ngành xây dựng cần tăng cường hợp tác quốc tế về các luồng dữ liệu, bảo mật” cũng như áp dụng các giải pháp công nghệ tiên tiến và mô hình quản lý hiện đại để nâng cao hiệu quả bảo hành công trình xây dựng. Việc áp dụng các giải pháp này có thể giúp Việt Nam cải thiện hiệu quả thực thi pháp luật trong hoạt động bảo hành công trình xây dựng và nâng cao chất lượng dịch vụ bảo hành.
Tiếp đến các cơ quan chức năng cần xây dựng và thực hiện các chính sách và quy định phù hợp, đồng thời đẩy mạnh công tác thanh tra và giám sát. Các tổ chức chuyên môn cần cung cấp các dịch vụ đào tạo và tư vấn để nâng cao nhận thức và kỹ năng của các bên liên quan. Các bên liên quan, bao gồm bên nhận thầu, bên giao thầu và người sử dụng công trình, cần tích cực tham gia vào quy trình bảo hành và tuân thủ các quy định pháp luật. Ngoài ra cần xây dựng quy chế phối hợp giữa các cơ quan hữu quan trong việc bảo vệ dữ liệu thông tin trong lĩnh vực xây dựng nói chung và bảo hành công trình xây dựng nói riêng như Bộ Xây dựng, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Tài nguyên và Môi trường. Để đạt được mục tiêu này, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng, tổ chức chuyên môn và các bên liên quan, cùng với việc học hỏi và áp dụng các mô hình quản lý và công nghệ từ các quốc gia phát triển. Những nỗ lực này sẽ góp phần xây dựng một môi trường xây dựng bền vững và hiệu quả hơn, phù hợp với xu hướng toàn cầu hóa hiện nay.
Tóm lại, việc nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật trong hoạt động bảo hành công trình xây dựng tại Việt Nam đòi hỏi sự kết hợp của nhiều giải pháp và ứng dụng công nghệ hiện đại. Việc áp dụng công nghệ thông tin, phần mềm quản lý, mô hình quản lý hiện đại và tiêu chuẩn quốc tế sẽ giúp cải thiện quy trình bảo hành, nâng cao chất lượng dịch vụ và bảo vệ quyền lợi của các bên liên quan.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo hành công trình xây dựng.
Thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo hành công trình xây dựng phản ánh những thách thức, khó khăn trong việc áp dụng các quy định pháp lý vào thực tiễn. Việc hiểu rõ các quy định pháp luật không chỉ giúp các bên liên quan nắm bắt được các vấn đề tranh chấp phổ biến mà còn tìm ra giải pháp phù hợp để cải thiện quy trình bảo hành và đảm bảo quyền lợi của mình. Trong thời gian qua, việc thực hiện pháp luật về bảo hành công trình xây dựng thời gian qua đã được chú trọng và quan tâm, vấn đề này không chỉ là trách nhiệm của cơ quan nhà nước mà còn của các bên tham gia vào hoạt động bảo hành. Thực hiện pháp luật về bảo hành công trình xây dựng không chỉ đảm bảo quyền, lợi ích các bên mà còn góp phần ổn định, đảm bảo an toàn trong hoạt động xây dựng. Mặc dù quy định pháp luật đã điều chỉnh một số khía cạnh của bảo hành, tuy nhiên, các hạn chế liên quan đến các quy định pháp luật điều chỉnh về hoạt động bảo hành công trình xây dựng như đề cập trên cần được rà soát và chỉnh sửa, bổ sung trong thời gian tới.
Trong chương này, ngoài việc phân tích thực trạng, thực tiễn tác giả còn đưa ra những định hướng và đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật về bảo hành công trình xây dựng. Cụ thể:
i) Rà soát, sửa đổi các quy định còn chồng chéo; ban hành và bổ sung các quy định pháp luật mới nhằm điều chỉnh các quan hệ pháp luật về bảo hành công trình xây dựng phù hợp với xu thế của thế giới và bảo đảm quyền của các chủ thể có liên quan trong quan hệ này.
Kiến nghị một số giải pháp về hoàn thiện pháp luật như thống nhất thời hạn bảo hành trong Luật Xây dựng, Luật Nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản; phân chia trách nhiệm bảo hành giữa các bên cũng như các vấn đề về bảo đảm bảo hành và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật bảo hành công trình xây dựng ở Việt Nam.
KẾT LUẬN Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo hành công trình xây dựng.
Trong bối cảnh hiện nay, với sự gia tăng của các dự án xây dựng quy mô lớn và phức tạp, việc thực hiện bảo hành công trình ngày càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Bảo hành công trình xây dựng là một yếu tố không thể thiếu trong ngành xây dựng hiện đại, nó giúp đảm bảo rằng công trình xây dựng đáp ứng các tiêu chuẩn chất lượng và an toàn. Việc thực hiện bảo hành không chỉ là một nghĩa vụ pháp lý mà còn là một phần không thể thiếu trong việc đảm bảo sự thành công và bền vững của công trình. Để đảm bảo rằng hệ thống bảo hành hoạt động hiệu quả, cần có sự đồng bộ và minh bạch trong các quy định pháp lý, cũng như sự hợp tác chặt chẽ giữa các bên liên quan, các cơ quan quản lý và các bên liên quan cần phải làm việc cùng nhau để cải thiện quy trình bảo hành, từ việc nâng cao quy định pháp lý cho đến việc đảm bảo thực hiện nghiêm túc các cam kết bảo hành.
Thông qua quá trình nghiên cứu, tác giả đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo hành công trình xây dựng ở Việt Nam, cụ thể:
Thứ nhất, luận giải một số vấn đề lý luận về bảo hành công trình xây dựng ở Việt Nam.
Thứ hai, phân tích thực trạng pháp luật, thực tiễn thực hiện pháp luật về hoạt động bảo hành công trình xây dựng của các bên tham gia vào quan hệ này từ đó xác định những thách thức, khó khăn những bất cập, hạn chế chưa phù hợp của pháp luật Việt Nam.
Thứ ba, đề xuất kiến nghị hoàn thiện pháp luật, giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bảo hành công trình ở Việt Nam trong bối cảnh hiện nay. Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo hành công trình xây dựng.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Bảo hành công trình xây dựng theo pháp luật Việt Nam

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

