Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Bảo hành công trình xây dựng theo pháp luật Việt Nam hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Bảo hành công trình xây dựng theo pháp luật Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Tiêu đề: Bảo hành công trình xây dựng theo pháp luật Việt Nam.
Từ khoá: Bảo hành, công trình xây dựng
Bảo hành công trình xây dựng là điều kiện cần thiết để công trình có thể tiếp tục sử dụng, hoạt động hiệu quả, đảm bảo quá trình sinh sống, hoạt động sản xuất kinh doanh không bị gián đoạn. Công tác bảo hành trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, đầu tiên là việc xác định về lỗi trong công trình xây dựng, tiếp theo là phân định trách nhiệm khắc phục lỗi đó và cuối cùng là tiến hành xử lý và khắc phục các hư hỏng trong công trình xây dựng. Thời gian qua, dù hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động xây dựng nói chung và bảo hành công trình xây dựng nói riêng đã không ngừng được sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện. Song, thực tiễn vẫn còn những vướng mắc liên quan đến hoạt động này. Chẳng hạn như xác định thời hạn bảo hành, phân chia trách nhiệm của các bên trong bảo hành công trình, quyền và nghĩa vụ trong xác nhận hoàn thành bảo hành giữa ben giao thầu và bên nhận thầu, bảo đảm bảo hành và. xử lý vi phạm về bảo hành công trình em viết 1 vài vướng mắc của em vào đây.
Do đó, bảo hành công trình xây dựng vẫn là nội dung cần thiết để nghiên cứu. Tác giả đã lựa chọn nghiên cứu đề tài này nhằm tiếp tục phát hiện những hạn chế, bất cập; những khó khăn, vướng mắc; từ đó xác định phương hướng, đề xuất những kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bảo hành công trình xây dựng ở Việt Nam.
ABSTRACT
Title: Construction works warranty according to Vietnamese law.
Keywords: Warranty, construction works Luận văn: Bảo hành công trình xây dựng theo pháp luật Việt Nam.
Construction warranty is a necessary condition for ensuring that a building can continue to be used and operate effectively, ensuring that daily living and business activities are not disrupted. The warranty process goes through several stages, starting with identifying defects in the construction, followed by determining the responsibility for fixing those defects, and finally proceeding with repairs and rectifications of the building’s damages. Although the legal framework governing construction activities in general, and construction warranties in particular, has been continuously amended and improved, there are still practical challenges related to this area. For instance, issues arise in determining the warranty period, allocating responsibilities among parties involved in the warranty process, and the rights and obligations related to warranty completion verification between the contractor and the client, as well as ensuring warranty compliance and handling warranty violations.
Therefore, the issue of construction warranties remains an essential topic for further study. The author has chosen this topic to identify existing limitations, difficulties, and challenges, with the aim of proposing solutions to improve the legal framework and enhance the effectiveness of implementing construction warranty laws in Vietnam.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Giới thiệu
1.1 Đặt vấn đề
Một trong những biện pháp bảo đảm lòng tin của người tiêu dùng khi họ mua sắm một sản phẩm hay dịch vụ nào đó chính là sự cam kết đến từ chất lượng sản phẩm của nhà sản xuất hoặc người bán. Để thực hiện cam kết này người bán hoặc nhà sản xuất sẽ phát hành phiếu bảo hành cho các sản phẩm, dịch vụ của mình. Bảo hành không chỉ là sự cam kết về chất lượng mà nó còn thể hiện trách nhiệm của người bán, nhà sản xuất trong suốt quá trình người tiêu dùng sử dụng dịch vụ, hàng hóa đó. Để hoạt động bảo hành này được thực thi theo đúng cam kết thì cần phải quy định chi tiết trách nhiệm bảo hành của nhà sản xuất hay người bán và các chính sách mà khách hàng cần phải tuân thủ trong quá trình sử dụng để tránh các phát sinh cũng như các tranh chấp liên quan đến việc bảo hành cho cả hai bên.
Công trình xây dựng là một sản phẩm được tạo ra để phục vụ trong đời sống sinh hoạt, sản xuất của con người. Công trình xây dựng bao gồm ở nhiều khía cạnh khác nhau như công trình dân dụng, công trình giao thông đường bộ, công trình công nghiệp, công trình về năng lượng, thủy điện. Mọi hoạt động trong đời sống, sản xuất kinh doanh đều gắn với công trình xây dựng. Chính vì vậy mà việc quản lý chất lượng công trình vô cùng quan trọng vì nó tác động trực tiếp đến kết quả, hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh. Như vậy, khi xây dựng công trình cũng như khi đưa công trình vào sử dụng cần chú ý quản lý để công trình luôn bảo đảm chất lượng. Luận văn: Bảo hành công trình xây dựng theo pháp luật Việt Nam.
Trong luận văn này, tác giả đề cập đến quy định của pháp luật hiện hành về bảo hành công trình xây dựng từ đó đưa ra những đánh giá về những tích cực cũng như những tồn tại, hạn chế, bất cập trong việc thực hiện bảo hành các công trình xây dựng tại Việt Nam, trên cơ sở đó luận văn đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật về bảo hành công trình xây dựng trong thời gian tới.
1.2 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, mặc dù nền kinh tế Việt Nam phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức, chịu sự tác động không nhỏ của suy thoái kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành của Chính phủ, các Bộ, ngành và địa phương, sự tin tưởng và ủng hộ tích cực của doanh nghiệp và nhân dân, tình hình chính trị – xã hội của nước ta luôn ổn định, kinh tế tăng trưởng khá cao, lạm phát được kiểm soát, việc làm và thu nhập của người lao động được tăng cường. “Trong mức tăng trưởng tích cực của cả giai đoạn, ngành xây dựng đã đóng góp không nhỏ đối với việc tạo lập, tăng cường, củng cố cơ sở hạ tầng và năng lực sản xuất của toàn bộ các ngành trong nền kinh tế và các địa phương trên cả nước”. Có thể thấy, Đảng và Nhà nước đã tạo điều kiện và đưa ra những đường lối, chính sách đúng đắn nhằm tạo cơ hội để ngành xây dựng phát triển mạnh mẽ. Bên cạnh đó, cùng với sự gia tăng dân số và tốc độ phát triển kinh tế xã hội ngày càng cao thì nhu cầu về cơ sở hạ tầng, chỗ ở cũng là một vấn đề cần được quan tâm. Để đáp ứng nhu cầu đó, thì hàng loạt các dự án về chung cư, trung tâm thương mại, nhà ở thương mại, các cơ sở hạ tầng và giao thông đường bộ được chú trọng đầu tư xây dựng. Theo Niên giám thống kê 2022 thì “diện tích sàn xây dựng nhà ở hoàn thành năm 2021 đạt hơn 101,7 triệu m2, diện tích nhà chung cư đạt 2,4 triệu m2 và chiếm 2,3% tổng diện tích sàn xây dựng nhà ở hoàn thành, trong đó chủ yếu là chung cư cao tầng (từ 21-25 tầng chiếm 53,8%). Diện tích nhà ở riêng lẻ đạt 99,3 triệu m2 và chiếm 97,7% tổng diện tích sàn xây dựng nhà ở hoàn thành”. Bên cạnh đó, theo Thông cáo số 04/TC-BXD của Bộ xây dựng ban hành ngày 12 tháng 01 năm 2024 về nhà ở và thị trường bất động sản quý IV năm 2023 và cả năm 2023 thì “nhà ở hình thành trong tương lai có 67 dự án được cấp phép mới với quy mô khoảng 24.993 căn; có 71 dự án hoàn thành xây dựng với quy mô khoảng 29.612 căn; có 197 dự án đủ điều kiện bán nhà ở hình thành trong tương lai” Ngoài ra, trong năm 2023 thì ngành xây dựng đã đạt được các chỉ tiêu kế hoạch tại Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 01/NQ-CP của Chính phủ ban hành ngày 06 tháng 01 năm 2023 như “nhà ở thương mại hoàn thành 42 dự án với khoảng 15.966 căn, dự án du lịch nghỉ dưỡng và văn phòng kết hợp lưu trú hoàn thành 17 dự án, diện tích nhà ở bình quân cả nước là 26m2 sàn/người”. Có thể thấy ngành xây dựng đang phát triển rất mạnh mẽ, để thực hiện được các dự án xây dựng thì giữa bên giao thầu và bên nhận thầu thường ký kết các hợp đồng xây dựng với nhau. Việc ký kết các hợp đồng này nhằm quy định rõ quyền và nghĩa vụ các bên trong việc thực hiện đúng, đầy đủ các cam kết điều khoản hợp đồng. Một trong những nội dung trong hợp đồng xây dựng chính là điều khoản bảo hành giữa các bên thông qua các dự án mà bên nhận phụ trách xây dựng. “Việc bảo đảm bảo hành thuộc trách nhiệm của nhà thầu, việc thanh toán hợp đồng thuộc trách nhiệm của bên giao thầu”. Quá trình vận hành, sử dụng sau thời gian nghiệm thu bàn giao sẽ khó tránh khỏi những hư hỏng, sự cố phát sinh đối với chất lượng công trình. Do đó, trong một thời hạn nhất định, thì bên nhận thầu phải có trách nhiệm trong việc thi công, sửa chữa các lỗi tại các công trình mà mình phụ trách thi công. Việc bảo hành công trình xây dựng là điều kiện cần thiết để công trình có thể tiếp tục sử dụng, hoạt động hiệu quả, đảm bảo quá trình sinh sống, hoạt động sản xuất kinh doanh không bị gián đoạn. Công tác bảo hành trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, đầu tiên là việc xác định về lỗi trong công trình xây dựng, tiếp theo là phân định trách nhiệm khắc phục lỗi đó và cuối cùng là tiến hành xử lý và khắc phục các hư hỏng trong công trình xây dựng. Khi xác định về lỗi thì đồng nghĩa xác định về trách nhiệm về khắc phụ hậu quả này do ai chịu. Nếu “trường hợp khi công trình bị hư hỏng, khiếm khuyết phát sinh do lỗi của nhà thầu mà nhà thầu không thực hiện bảo hành thì chủ đầu tư có quyền sử dụng tiền bảo hành để thuê tổ chức, cá nhân khác thực hiện bảo hành”. Nhưng nếu việc hư hại và khắc phục hậu quả đó vượt quá số tiền bảo hành thì ai sẽ gánh chịu. Hoặc trong quá trình bảo hành thì sẽ phát sinh những phần lỗi không thể xác định được từ phía nào hoặc có những tranh chấp, vướng mắc mà các bên không thể xác định được trách nhiệm của nhau, các bên từ chối thực hiện trách nhiệm của mình như bên nhận thầu “không sửa chữa, khắc phục các sai sót, hư hỏng của hạng mục theo yêu cầu của Chủ đầu tư và Nhà tư vấn giám sát” hay không thực hiện nghĩa vụ bảo hành sửa chữa các hư hỏng, khuyết tật, tồn tại của hạng mục thì những trường hợp nêu trên sẽ được xử lý như thế nào? Do đó, cần phải có sự điều chỉnh của pháp luật về vấn đề này để giải quyết các tranh chấp và phát sinh một cách rõ ràng, minh bạch và hiệu quả hơn.
Đối với bảo hành công trình xây dựng thì Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ban hành ngày 26 tháng 01 năm 2021 quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng (Nghị định số 06/2021/NĐ-CP) và Nghị định số 35/2023/NĐ-CP ban hành ngày 20 tháng 6 năm 2023 sửa đổi, bổ sung một số điều của nghị định thuộc lĩnh vực quản lý nhà nước của Bộ Xây dựng (Nghị định số 35/2023/NĐ-CP) Luận văn: Bảo hành công trình xây dựng theo pháp luật Việt Nam.
Tuỳ theo quy mô, tính chất của dự án mà có những thời hạn bảo hành khác nhau. Đối với các công trình sử dụng vốn đầu tư công hoặc vốn nhà nước ngoài đầu tư công thì thời hạn bảo hành được quy định cụ thể tại Nghị định số 06/2021/NĐ-CP là “không ít hơn 24 tháng đối với công trình cấp đặc biệt và cấp I” và “không ít hơn tháng đối với các công trình cấp còn lại”. Tuy nhiên, đối với các dự án sử dụng vốn khác thì nhà làm luật lại cho các bên tham khảo theo các công trình sử dụng vốn đầu tư công hoặc vốn nhà nước ngoài đầu tư công, điều này chưa thực sự hợp lý và dễ gây bất lợi cho một bên khi tham gia ký kết hợp đồng về điều khoản bảo hành đặc biệt là bất lợi cho bên nhận thầu với những gói thầu có quy mô nhỏ. Do đó, việc bảo hành công trình xây dựng đóng vai trò quan trọng không chỉ trong việc thể hiện năng lực, uy tín của bên nhận thầu đối với bên giao thầu mà còn thể hiện được trách nhiệm của các bên trong việc phối hợp thực hiện công tác bảo hành công trình xây dựng khi có sự cố xảy ra.
Mặc dù hệ thống VBQPPL đã tương đối đầy đủ để điều chỉnh hoạt động bảo hành công trình xây dựng nhưng vẫn chưa đáp ứng kịp thời với những yêu cầu thực tiễn. Chẳng hạn, theo quy định của Luật Nhà ở năm 2023 việc bảo hành nhà ở tối thiểu từ 24 tháng hoặc tối thiểu 60 tháng tùy vào từng loại nhà ở, trong khi đó thì theo Nghị định số 06/2021/NĐ-CP quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng thì việc cam kết bảo hành các công trình xây dựng giữa bên giao thầu và bên nhận thầu là tối thiểu 12 tháng hoặc tối thiểu 24 tháng tùy loại cấp công trình. Có thể thấy, thực tế các điều kiện về thời hạn bảo hành mặc dù có tồn tại quy định riêng, nhưng nếu bên giao thầu áp điều khoản thời hạn bảo hành theo Luật Nhà ở năm 2023 như trên là một điều kiện đủ trong đấu thầu công trình xây dựng thì sẽ gây bất lợi cho bên nhận thầu và bên nhận thầu thường phải chấp nhận để được trúng thầu, khó mà đàm phán rút ngắn được thời hạn. Do đó, bảo hành công trình xây dựng vẫn là nội dung vẫn rất cần thiết để nghiên cứu và hoàn thiện trong thời gian sắp tới.
Nhận thấy tầm quan trọng của việc nghiên cứu liên quan đến bảo hành công trình xây dựng, tác giả đã lựa chọn đề tài “Bảo hành công trình xây dựng theo pháp luật Việt Nam” làm luận văn của mình.
2. Mục tiêu của đề tài Luận văn: Bảo hành công trình xây dựng theo pháp luật Việt Nam.
2.1. Mục tiêu tổng quát
Luận văn được nghiên cứu với mục tiêu là làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về bảo hành công trình xây dựng, phân tích, đánh giá một số quy định pháp luật và tình hình thực hiện pháp luật về bảo hành công trình xây dựng tại Việt Nam; đề xuất các kiến nghị, hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về hoạt động này ở Việt Nam.
2.2. Mục tiêu cụ thể
Luận văn tập trung thực hiện các mục tiêu nghiên cứu sau:
Một là, làm rõ một số vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật bảo hành công trình xây dựng ở Việt Nam.
Hai là, phân tích, so sánh, đánh giá những quy định pháp luật liên quan đến thực hiện pháp luật về bảo hành công trình xây dựng theo quy định của pháp luật Việt Nam trong sự so sánh với pháp luật một số nước trên thế giới.
Ba là, phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo hành công trình xây dựng ở Việt Nam. Qua đó, phát hiện những hạn chế, bất cập; những khó khăn, vướng mắc; từ đó xác định phương hướng, đề xuất những kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về bảo hành công trình xây dựng ở Việt Nam.
3. Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu chung: Luận văn “Bảo hành công trình xây dựng theo pháp luật Việt Nam” được tiến hành để trả lời cho câu hỏi: Pháp luật xây dựng cần phải sửa đổi, bổ sung như thế nào để các chủ thể liên quan bảo đảm thực hiện pháp luật về bảo hành công trình xây dựng?
Câu hỏi nghiên cứu cụ thể:
- Pháp luật hiện hành có tạo điều kiện để đảm bảo thực hiện pháp luật trong hoạt động bảo hành công trình xây dựng hay không? Luận văn: Bảo hành công trình xây dựng theo pháp luật Việt Nam.
- Thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo hành công trình xây dựng ở Việt Nam làm phát sinh những vướng mắc, bất cập gì?
- Pháp luật hiện hành cần phải bổ sung những quy định gì để góp phần đảm bảo việc thực hiện pháp luật và nâng cao hiệu quả việc thực hiện pháp luật về bảo hành công trình xây dựng ở Việt Nam?
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
- Các quy định của pháp luật để điều chỉnh hoạt động bảo hành công trình xây dựng ở Việt Nam và một số nước trên thế giới.
- Thực tiễn thực hiện liên quan đến hoạt động bảo hành công trình xây dựng tại Việt Nam.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong luận văn này, tác giả tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật về bảo hành công trình xây dựng trong các hợp đồng xây dựng mà chủ thể tham gia giao kết là chủ thể kinh doanh. Trong hợp đồng xây dựng này thể hiện sự thỏa thuận bằng văn bản giữa bên giao thầu và bên nhận thầu để thực hiện một phần hay toàn bộ công việc trong hoạt động đầu tư xây dựng. Bên cạnh đó, trong luận văn này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu trong phạm vi các công trình dân dụng sử dụng vốn khác, không đề cập đến các công trình có sử dụng vốn đầu tư công hoặc vốn nhà nước ngoài đầu tư công.
Ngoài ra, tác giả tập trung nghiên cứu quy định pháp luật về bảo công trình xây dựng ở Việt Nam, chủ yếu là quy định của pháp luật hiện hành về bảo hành công trình xây dựng tại Luật Xây dựng năm 2014 (được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 62/2020/QH14 ngày 17/06/2020), các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan đến đề tài này. Đồng thời, trong quá trình nghiên cứu, tác giả cũng tham khảo một số khái niệm cũng như quy định pháp luật của các quốc gia khác. Việc tham khảo kinh nghiệm pháp luật của một số nước trên thế giới về vấn đề này chỉ nhằm củng cố quan điểm của tác giả trong việc góp phần đề xuất hoàn thiện quy định về bảo hành các công trình xây dựng ở Việt Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, luận văn sử dụng các phương pháp sau:
5.1. Phương pháp phân tích
Đây là phương pháp quan trọng được áp dụng xuyên suốt trong nội dung Luận văn, được áp dụng để phân tích các quy phạm pháp luật có liên quan đến đề tài. Phương pháp này sử dụng để phân tích các quy định của pháp luật trong hoạt động bảo hành công trình xây dựng, đi sâu làm rõ trách nhiệm của các bên trong quá trình thực hiện hoạt động này.
5.2. Phương pháp tổng hợp Luận văn: Bảo hành công trình xây dựng theo pháp luật Việt Nam.
Từ những vấn đề được phân tích, phương pháp tổng hợp được dùng trong tất cả các chương của Luận văn để tổng hợp các quan điểm khác nhau về nhận thức khoa học xung quanh các khái niệm, quy phạm pháp luật liên quan đến pháp luật, rút ra các kết luận, đề xuất các kiến nghị hoàn hiện pháp luật, các kiến nghị thực hiện về bảo hành công trình xây dựng ở Việt Nam.
5.3. Phương pháp so sánh Luật học
Nhằm góp phần đánh giá được những điểm tiến bộ của pháp luật cũng như sự phù hợp của pháp luật về bảo hành công trình xây dựng ở Việt Nam hiện nay, tác giả sử dụng phương pháp này chủ yếu ở Chương 1 và Chương 2 để đối chiếu các quy định pháp luật qua các thời kỳ, đồng thời so sánh với quy định của pháp luật quốc tế để làm rõ bản chất của vấn đề được đề cập tới. Thông qua đó sẽ có cái nhìn nhiều chiều hơn để có thể nhận diện những điểm còn thiết xót, những khoảng trống pháp lý và xây dựng hoàn thiện hơn.
Trong luận văn của mình, tác giả sử dụng các phương pháp đan xen để chỉ ra rõ các nội dung cần nghiên cứu, việc cụ thể hóa từng phương pháp chỉ mang tính chất tương đối.
6. Nội dung nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo hành công trình xây dựng ở Việt Nam để từ đó làm rõ các quy định của pháp luật hiện hành liên quan đến thực hiện pháp luật về bảo hành công trình xây dựng; đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật.
7. Đóng góp của đề tài
7.1 Ý nghĩa khoa học
Luận văn làm sâu sắc hơn những lý luận về bảo hành công trình xây dựng và pháp luật về bảo hành công trình xây dựng ở Việt Nam như: Khái niệm, đặc điểm của bảo hành công trình xây dựng và ý nghĩa của bảo hành công trình xây dựng; làm rõ sự cần thiết, những yếu tố tác động đến bảo hành công trình xây dựng ở Việt Nam. Đề tài là công trình nghiên cứu tương đối hệ thống và toàn diện lý luận về bảo hành
công trình xây dựng, làm cơ sở cho việc luận giải những điểm hạn chế và vướng mắc của pháp luật về bảo hành công trình xây dựng ở Việt Nam, đưa ra kiến nghị hoàn thiện một cách thuyết phục và đáng tin cậy.
7.2 Ý nghĩa thực tiễn Luận văn: Bảo hành công trình xây dựng theo pháp luật Việt Nam.
Đề tài phân tích được thực trạng thực hiện pháp luật về bảo hành công trình xây dựng tại Việt Nam. Tham khảo những kinh nghiệm nước ngoài, đề tài chỉ ra được những ưu điểm và hạn chế của pháp luật Việt Nam và tiếp thu những kinh nghiệm có giá trị và vận dụng vào thực tiễn thực hiện pháp luật tại Việt Nam trong vấn đề bảo hành công trình xây dựng.
Đề tài mang lại giá trị tham khảo cho các cơ quan lập pháp trong quá trình nghiên cứu và hoàn thiện những quy định pháp luật về bảo hành công trình xây dựng; các tổ chức thực hiện pháp luật về bảo hành công trình xây dựng; và là nguồn tài liệu phục vụ cho quá trình dạy, học, các hoạt động nghiên cứu pháp luật về bảo hành công trình xây dựng.
8. Tổng quan về lĩnh vực nghiên cứu
Trong quá trình tìm hiểu nghiên cứu về bảo hành công trình xây dựng theo pháp luật Việt Nam, tác giả cũng đã tìm hiểu và nhận thấy có một số công trình nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực này như sau:
Nguyễn Thị Bích Thu (2022). “Pháp luật về bảo hành công trình xây dựng tại Việt Nam”, Luận văn thạc sỹ trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh cũng đã nghiên cứu về vấn đề này. Luận văn đã có một số điểm phân tích sâu sắc và chi tiết hơn các công trình nghiên cứu trước đó như là đi sâu nghiên cứu về pháp luật quy định thời hạn, sự phân chia trách nhiệm, xử lý vi phạm hành chính và việc bảo đảm vấn đề bảo hành công trình nhưng ở luận văn này tác giả chỉ mới đề cập sâu sắc trách nhiệm của dự án có nhiều nhà thầu tham gia, chưa làm nổi bật được trách nhiệm của chủ đầu tư trong lĩnh vực này. Vì thực tế một số yếu tố lỗi là do việc chủ đầu tư sử dụng không đúng theo hướng dẫn gây nên. Nên phạm vi trách nhiệm ở chủ đầu tư chưa thật sự được phân định rõ. Một số nội dung trong viết này cũng được tác giả luận văn tham khảo để đánh giá và phân tích kỹ hơn về trách nhiệm của bên nhận thầu trong việc bảo hành công trình tại Chương 2.
Lê Viết Kỳ (2021). “Trách nhiệm bảo hành nhà chung cư của chủ đầu tư theo pháp luật Việt Nam hiện nay”, Luận văn Thạc sỹ Viện Hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam. Ở luận văn này tác giả đi sâu phân tích trách nhiệm của chủ đầu tư (bên bán) trong việc bảo hành sản phẩm là nhà chung cư cho bên mua, thuê mua hoặc bên thuê trong thời hạn sử dụng, các điều kiện bảo hành theo quy định của pháp luật cũng như thủ tục, chi phí bảo hành đối với nhà chung cư. Luận văn cũng chỉ ra một số điểm bất cập trong quy định về đối tượng được bảo hành như là việc thiếu quy định về bảo hành đối với hệ thống phòng cháy chữa cháy cũng như là hệ thống khuôn viên của chung cư để từ đó đưa ra một số kiến nghị phù hợp đáp ứng như cầu thực tế hiện nay tại các chung cư. Đây là những nội dung sẽ được tác giả luận văn tham khảo khi đề cập đến trách nhiệm của các bên trong việc bảo hành các công trình xây dựng ở Chương 2. Luận văn: Bảo hành công trình xây dựng theo pháp luật Việt Nam.
Trương Nhật Quang và Phạm Hoài Huấn (2019). “Phạt vi phạm trong hợp đồng xây dựng”, tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 24 tháng 12 năm 2019. Bài viết nêu rõ về bản chất của hợp đồng xây dựng, nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật trong quan hệ hợp đồng xây dựng và đề cập về các mức phạt đối với lĩnh vực này. Với bài viết này tác giả luận văn tham khảo một số ý kiến về các mức phạt khi các chủ thể vi phạm các điều khoản trong hợp đồng cho Chương 2 và hoàn thiện kiến nghị ở Chương 3 trong Luận văn của mình.
Tăng Thị Bích Diễm (2020). “Một số vấn đề pháp lý về phí bảo trì nhà chung cư- Bất cập và kiến nghị hoàn thiện”, Tạp chí pháp luật và thực tiễn, số 44/2020,13-22. Bài báo cho thấy được việc bảo trì chung cư là điều thiết yếu và được diễn ra xuyên suốt thời gian sở hữu căn hộ. Bài viết cũng đưa ra được những bất cập về việc thu phí bảo trì của chung cư cũng như chủ thể chịu trách nhiệm quản lý và sử dụng phí trong công tác bảo trì định kỳ. Thông qua đó tác giả cũng đưa ra một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về việc thực hiện thu phí phù hợp theo thời điểm nào và quy trách nhiệm cụ thể cho chủ thể thu phí và quản lý dịch vụ bảo trì chung cư cho phù hợp với thực tiễn. Kết quả của bài viết có giá trị tham khảo được tác giả vận dụng khi nghiên cứu các nội dung tại Chương 3 của luận văn.
Vũ Thị Lan Hương (2017). “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra- dưới góc nhìn so sánh”, Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 18, tháng 9 năm 2017. Bài viết này tập trung phân tích chi tiết về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra tại Anh, Đức, Pháp, để từ đó dẫn chiếu và so sánh đến pháp luật Việt Nam. Tác giả chỉ tập trung nghiên cứu về chủ thể chịu trách nhiệm cũng như các điều kiện làm phát sinh trách nhiệm, chưa đề cập sâu vào vấn đề bảo hành cho các công trình xây dựng. Tuy nhiên dưới góc nhìn so sánh, tác giả luận văn có thể thu thập thêm thông tin về trách nhiệm bồi thường khi thi công xây dựng ảnh hưởng đến các đối tượng khác ở Chương 2.
- Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã:
Khai thác từng khía cạnh của pháp luật liên quan đến vấn đề bảo hành công trình xây dựng và cũng đã giải quyết được một số vấn đề liên quan đến trách nhiệm của các các chủ thể tham gia hoạt động này.
Một số nghiên cứu cũng đưa ra các quy định của pháp luật để khẳng định rằng các quy định này sẽ tác động và điều chỉnh quan hệ giữa các bên trong quá trình thực hiện bảo hành công trình xây dựng là cần thiết. Thông qua việc quy định về thời
Đã có công trình nghiên cứu một cách có hệ thống những nội dung liên hạn, quyền, nghĩa vụ của các bên từ đó sẽ giúp phận định rõ ràng hơn cho các chủ thể trong quá trình thực hiện công tác bảo hành.
quan đến bảo đảm để thực hiện bảo hành công trình xây dựng cũng như đã tập trung nghiên cứu về phân chia trách nhiệm bảo hành và xử lý vi phạm hành chính về bảo hành trong công trình xây dựng.
Thứ hai, phân tích, đánh giá về thực tiễn thực hiện quy định về bảo hành công trình xây dựng ở Việt Nam.
Thứ ba, đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định về pháp luật về bảo hành công trình xây dựng ở Việt Nam.
9. Bố cục tổng quát của luận văn Luận văn: Bảo hành công trình xây dựng theo pháp luật Việt Nam.
Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu bằng 02 chương, với các nội dung chính sau đây:
- Chương 1. Những vấn đề lý luận về bảo hành công trình xây dựng và pháp luật về bảo hành công trình xây dựng
- Chương 2. Thực trạng pháp luật, thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo hành công trình xây dựng ở Việt Nam và kiến nghị hoàn thiện
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BẢO HÀNH CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO HÀNH CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG
Công trình xây dựng không chỉ thể hiện được sự sáng tạo đối với thẩm mỹ, vẻ ngoài mà còn thể hiện được sự tài ba, trí tuệ trong việc nghiên cứu và sáng tạo của con người. Để công trình xây dựng tồn tại và kéo dài tuổi thọ thì không thể không kể đến quá trình bảo hành công trình đó. Công tác bảo hành công trình xây dựng phụ thuộc vào nhiều yếu tố bởi hoạt động bảo hành này mang nhiều đặc điểm riêng có khác với hoạt động bảo hành các sản phẩm khác. Ngoài ra, việc thực hiện bảo hành là góp phần củng cố, chỉnh sửa các khiếm khuyết nhằm mục đích đưa công trình xây dựng lại hoạt động bình thường đảm bảo mức độ an toàn cho người sử dụng. Chương này sẽ tập trung nghiên cứu một số vấn đề sau:
- Làm rõ nội hàm của bảo hành công trình xây dựng;
- Xác định nội dung thực hiện pháp luật về bảo hành công trình xây dựng;
- Phân tích sự cần thiết phải bảo hành công trình xây dựng và xác định những yếu tố tác động đến hoạt động bảo hành công trình xây dựng.
1.1. Khái quát về bảo hành công trình xây dựng Luận văn: Bảo hành công trình xây dựng theo pháp luật Việt Nam.
1.1.1. Khái niệm bảo hành công trình xây dựng
Không giống các loại hàng hóa thông thường là được sản xuất hàng loạt với số lượng lớn đáp ứng nhu cầu của thị trường. “Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của nhiều người với nhiều khâu, nhiều công đoạn khác nhau”. Công trình xây dựng là một loại hàng hóa đặc biệt, tùy vào nhu cầu sử dụng, điều kiện mặt bằng mà tạo ra các công trình khác, bên cạnh đó, “sản phẩm là những công trình xây dựng được hoàn thành với sự tham gia của các đơn vị liên quan“. Theo Fidic Điều kiện hợp đồng-Thiết bị công trình và thiết kế xây dựng xuất bản lần thứ 2 năm 2017 có nêu một số định nghĩa về công trình, theo đó “Công trình vĩnh cữu là công trình có tính vĩnh cửu được thực hiện bởi nhà thầu theo hợp đồng“, “Công trình tạm là tất cả công trình tạm các loại ngoài các thiết bị của nhà thầu cần phải có trên công trình để thực hiện công trình” và “Công trình là các công trình vĩnh cửu và công trình tạm hoặc một trong hai loại công trình này tùy từng trường hợp“.
Dưới góc độ pháp lý, luật pháp các quốc gia chẳng hạn như Singapore định nghĩa về công trình trong Đạo luật xây dựng và cơ quan xây dựng 1999 đươc sửa đổi bổ sung 2020 có hiệu lực từ 31 tháng 12 năm 2021 trong phần 1 khi đề cập về công trình xây dựng thì có gắn liền với dịch vụ xây dựng như sau “bao gồm tất cả các khía cạnh của công trình và dịch vụ kiến trúc, kỹ thuật, phát triển và xây dựng, bao gồm các công việc và dịch vụ sản xuất, thiết kế và tư vấn có liên quan khác dẫn đến việc xây dựng, bảo trì, trang bị thêm, sửa chữa hoặc di dời tất cả các loại công trình và cơ sở hạ tầng” . Hay theo Điều kiện tiêu chuẩn của Hợp đồng xây dựng do Cơ quan thi công và xây dựng Singapore ban hành thì “Công trình xây dựng bao gồm công trình tạm và công trình vĩnh viễn”. Theo đó, “công trình tạm có nghĩa là tất cả các công trình có tính chất tạm thời thuộc mọi loại (trừ Thiết bị Xây dựng) được yêu cầu hoặc cung cấp trong hoặc về việc thi công Công trình và việc khắc phục mọi khiếm khuyết trong đó” và “công trình vĩnh viễn nghĩa là những công trình có tính chất lâu dài (bao gồm cả Nhà máy) được thực hiện theo đúng Hợp đồng“. Ngoài ra, theo Quy tắc thực hành về công trình xây dựng của cơ quan chính sách Safe Work của Úc thì “Công trình xây dựng được định nghĩa là bất kỳ công việc nào được thực hiện liên quan đến xây dựng, thay đổi, chuyển đổi, lắp đặt, vận hành thử, cải tạo, sửa chữa, bảo trì và tân trang, phá hủy, ngừng hoạt động hoặc tháo dỡ một công trình”. Hay theo Thông cáo số 17 của Ủy ban dữ liệu xây dựng Canada thì bảo hành công trình xây dựng là việc “Nhà thầu có trách nhiệm khắc phục bằng chi phí riêng của mình, những khiếm khuyết hoặc thiếu sót xuất hiện trong công trình trong thời hạn bảo hành một năm.
Việt Nam, khái niệm công trình xây dựng được quy định tại khoản 10 điều 3 Luật Xây dựng số 50/2014/QH13 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật Xây số 62/2020/QH14 (Luật Xây dựng năm 2014 sửa đổi, bổ sung năm 2020) “Công trình xây dựng là sản phẩm được xây dựng theo thiết kế, tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước.
Có thể nhận thấy, các khái niệm trên có điểm chung: công trình xây dựng là sản phẩm phục vụ các nhu cầu hoạt động đời sống hằng ngày với những mục đích sử dụng khác nhau và mỗi công trình xây dựng sẽ có những thiết kế, kết cấu, đặc điểm, tính chất, khác nhau. Luận văn: Bảo hành công trình xây dựng theo pháp luật Việt Nam.
Tóm lại, có thể đưa ra khái niệm công trình xây dựng như sau: Công trình xây dựng là sản phẩm do con người tạo ra bằng cách liên kết các vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào trong đất để tạo thành một thể thống nhất nhằm đáp ứng các mục đích sử dụng khác nhau.
Liên quan đến khái niệm bảo hành, từ điển Cambridge định nghĩa như sau: “Bảo hành là một bản cam kết của một công ty về việc sửa chữa hoặc thay thế một sản phẩm bị lỗi trong một khoảng thời gian cụ thể hoặc thực hiện lại một phần công việc nếu nó không đạt yêu cầu“.
Dưới góc độ pháp lý, luật pháp của Trung Quốc có đề cập đến vấn đề bảo hành tại Điều 3 Lệnh số 80 “Các biện pháp bảo hành chất lượng công trình xây dựng nhà ở” của Bộ Xây dựng Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ban hành ngày 26/6/2000 cũng đề cập “bảo hành chất lượng công trình xây dựng nhà ở là việc sửa chữa các khiếm khuyết về chất lượng phát sinh trong thời hạn bảo hành sau khi công trình xây dựng nhà ở được hoàn thành và nghiệm thu“. Hoặc theo Ủy ban dữ liệu Xây dựng Canada (CCDC) định nghĩa bảo hành là “một thỏa thuận giữa hai bên, sự thỏa thuận này cung cấp sự đảm bảo bởi người bán“.
Tại Việt Nam, thuật ngữ bảo hành cũng được ghi nhận trong một số văn bản như: Bộ luật dân sự năm 2015 tại Điều 446, theo đó bảo hành là “Bên bán có nghĩa vụ bảo hành đối với vật mua bán trong một thời hạn, gọi là thời hạn bảo hành, nếu việc bảo hành do các bên thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định“. Như vậy, trong thời hạn bảo hành bên bán phải có trách nhiệm thay thế, sữa chữa các khiếm khuyết, hỏng hóc của sản phẩm. Đối với mỗi sản phẩm khác nhau thì thời hạn bảo hành sẽ khác nhau, hoặc có thể theo quy định của nhà sản xuất hoặc theo thảo thuận giữa người mua và người bán hoặc theo quy định của pháp luật. Hay ở Luật Thương mại năm 2005 sửa đổi bổ sung năm 2017, 2019 tại khoản 1 điều 49 thì bảo hành được quy định là “Trường hợp hàng hóa mua bán có bảo hành thì bên bán phải chịu trách nhiệm bảo hành hàng hóa đó theo nội dung và thời hạn đã thỏa thuận.” Qua quy định của hai luật trên, có thể hiểu rằng bảo hành là sự cam kết của bên bán đối với khách hàng về các sản phẩm bán ra có đủ các tiêu chuẩn chất lượng hoặc có đủ các đặc tính đã cam kết trong một thời hạn nhất định và nội dung cụ thể của việc bảo hành có thể do các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định cụ thể đối với từng sản phẩm, hàng hóa.
Luật Xây dựng năm 2014 sửa đổi, bổ sung năm 2020 tại Điều 125 đã quy định cụ thể về bảo hành đối với các công trình xây dựng, theo đó “Nhà thầu thi công xây dựng có trách nhiệm bảo hành công trình do mình thi công. Nhà thầu cung ứng thiết bị công trình, thiết bị công nghệ có trách nhiệm bảo hành thiết bị do mình cung cấp.” Và nội dung bảo hành công trình xây dựng bao gồm “khắc phục, sửa chữa, thay thế thiết bị hư hỏng, khiếm khuyết do lỗi của nhà thầu gây ra.” Có thể thấy rằng, pháp luật xây dựng hiện hành đã quy định rõ ràng về nội dung bảo hành cho công trình xây dựng, điều này giúp cho các bên xác định rõ hơn về nội dung công việc cũng như trách nhiệm của mình đối với từng dự án tham gia. Ngoài ra, theo Nghị định số 06/2021/NĐ-CP tại khoản 17 Điều 2 thì “Bảo hành công trình xây dựng là sự cam kết của nhà thầu về trách nhiệm khắc phục, sửa chữa trong một thời gian nhất định các hư hỏng, khiếm khuyết có thể xảy ra trong quá trình khai thác, sử dụng công trình xây dựng.
Thông qua các khái niệm trên có thể thấy rằng, giữa pháp luật Việt Nam và pháp luật quốc tế có những điểm giống nhau, cụ thể đều thể hiện: bảo hành công trình xây dựng chính là trách nhiệm của nhà thầu trong việc khắc phục các khiếm khuyết, thiếu sót, hư hỏng xảy ra trong quá trình sử dụng trong một thời hạn nhất định. Luận văn: Bảo hành công trình xây dựng theo pháp luật Việt Nam.
Trên thực tế, ngoài khái niệm bảo hành công trình xây dựng theo quy định của pháp luật như đã đề cập, khi các bên ký kết hợp đồng với nhau thì công việc bảo hành sẽ được mở rộng và chi tiết hóa hơn như việc liệt kê chi tiết các hạng mục bảo hành, phạm vi bảo hành, thời hạn bảo hành cũng như các trường hợp không được bảo hành. Điều này giúp cho các bên nắm rõ quyền, nghĩa vụ của mình khi phát hiện ra những khiếm khuyết, sai sót, hư hỏng đối với công trình mà các bên đã ký kết thực hiện. Chẳng hạn: i) Phạm vi bảo hành công trình xây dựng: có thể giới hạn ở những nội dung như là trong thời hạn bảo hành, nếu công trình có sai sót, hư hỏng, khiếm khuyết do lỗi của bên nhà thầu, thì phía nhà thầu phải tự sửa chữa, thay thế các hư hỏng, khiếm khuyết và không được thanh toán bất cứ khoản tiền phát sinh do việc hư hỏng, khiếm khuyết, sai sót này gây ra. Và bên nhận thầu cũng sẽ được loại trừ trách nhiệm đối với các công trình xây dựng do những nguyên nhân sử dụng không đúng cách, lỗi thay thế, sửa chữa do bên thứ ba lắp đặt sai sau khi bên nhận thầu đã lắp đặt ban đầu. ii) Hạn mục bảo hành: việc bảo hành không bao gồm thay thế vật tư do hao mòn tự nhiên, sử dụng bình thường hoặc với cường độ cao và gỉ sét vật liệu tự nhiên như gỗ hoặc đá. Thiệt hại do các vết trầy xước, đốm, ố vàng, mẻ, lồi lõm và các thiệt hại khác gây ra bởi người sử dụng, trẻ em và vật nuôi. Hay các hạng mục bên giao thầu tự ý thay đổi, khác với các yêu cầu được quy định tại hợp đồng và các bản vẽ thi công đã được phê duyệt.
Có thể thấy rằng, việc quy định chi tiết nội dung của bảo hành công trình xây dựng trong hợp đồng hoặc được thực hiện bởi một cam kết đính kèm hợp đồng sẽ giúp cho các bên hiểu rõ hơn về vai trò, trách nhiệm của mình và khi phát sinh tranh chấp về bảo hành thì có thể dựa trên sự cam kết này để phân định rõ trách nhiệm của từng bên trong bảo hành công trình xây dựng.
Như vậy, từ những phân tích trên có thể rút ra định nghĩa về bảo hành công trình xây dựng như sau: Bảo hành công trình xây dựng được hiểu là sự bảo đảm công trình được sử dụng một cách ổn định, hạn chế tối đa các sai sót trong quá trình vận hành, sử dụng thông qua việc tuân thủ cam kết của nhà thầu trong việc thực hiện trách nhiệm sửa chữa các sai sót, khiếm khuyết phát sinh, và trách nhiệm bảo hành được thực hiện trong một khoảng thời gian nhất định như cam kết.
1.1.2. Đặc điểm bảo hành công trình xây dựng Luận văn: Bảo hành công trình xây dựng theo pháp luật Việt Nam.
Bảo hành công trình xây dựng vừa mang đặc trưng chung của yếu tố bảo hành, lại vừa mang đặc trưng riêng chỉ có ở sản phẩm công trình xây dựng, do vậy, bảo hành công trình xây dựng có những đặc điểm khá đặc biệt, cụ thể như sau:
Một là, về chủ thể của bảo hành công trình xây dựng. Đây là bên nhận thầu, cụ thể hơn là nhà thầu thi công công trình, nhà thầu cung ứng thiết bị cho chính công trình xây dựng đó. Nhìn từ khái niệm của bảo hành nói chung và bảo hành công trình xây dựng nói riêng thì đó chính là bên cung ứng sản phẩm, là bên bán, là chủ thể sẽ chịu trách nhiệm bảo hành cho chính sản phẩm mình cung ứng hoặc bán.
Theo khoản 2 Điều 2 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP thì “Nhà thầu thi công xây dựng, nhà thầu cung ứng thiết bị thực hiện bảo hành phần công việc do mình thực hiện sau khi nhận được thông báo yêu cầu bảo hành của chủ đầu tư, chủ sở hữu hoặc người quản lý, sử dụng công trình đối với các hư hỏng phát sinh trong thời gian bảo hành và phải chịu mọi chi phí liên quan đến thực hiện bảo hành.
Bên nhận thầu là chủ thể được bên giao thầu tin tưởng và đồng ý giao công trình để thực hiện dự án, do vậy bên nhận thầu là đơn vị sẽ thực hiện các công việc tiếp nhận và quản lý mặt bằng xây dựng, quản lý giám sát công trường từ lúc khởi công cho đến khi nghiệm thu bàn giao dự án cho bên giao thầu. Mặc dù sau khi hoàn thiện công trình và thực hiện bàn giao cho bên giao thầu nhưng bên nhận thầu vẫn có trách nhiệm trong việc duy trì, bảo đảm cho công trình hoạt động theo đúng công năng, mục đích sử dụng và thực hiện một số biện pháp sửa chữa, thay thế, các khiếm huyết, hư hỏng trong quá trình vận hành và sử dụng.
Ngoài ra, bên nhận thầu có thể giao, thuê một đơn vị thứ ba để thực hiện hoạt động bảo hành công trình do mình thực hiện. Trên thực tế bên thứ ba được đề cập có thể là đơn vị được bên giao thầu thuê để thực hiện mà ở đây thường được gọi với tư cách là nhà thầu phụ. Với một dự án quy mô lớn, có nhiều hạng mục xây dựng thì bên nhận thầu (có thể gọi là tổng thầu) có thể giao cho một số hạng mục cho nhà thầu phụ thực hiện. Bên tổng thầu vẫn là đơn vị trực tiếp chịu trách nhiệm với bên giao thầu về các vấn đề sự cố liên quan đến bảo hành với bên giao thầu. Mặc dù các sự cố là tổng thầu chịu trách nhiệm nhưng việc thực hiện sửa chữa trực tiếp do chính các nhà thầu phụ thực hiện. Khi xảy ra khiếm khuyết, hư hỏng trong quá trình thi công, vận hành và sử dụng thì nhà thầu phụ có thể đại diện cho tổng thầu thực hiện các công việc bổ sung để khắc phục và đưa công trình xây dựng hoạt động bình thường theo cam kết đã ký trước đó. Tuy nhiên, tổng thầu vẫn phải có “trách nhiệm tổ chức quản lý chất lượng, chịu trách nhiệm đối với phần việc do tổng thầu và nhà thầu phụ (nếu có) đảm nhận“. Chẳng hạn, hợp đồng Fidic 2017 quyển đỏ đã có quy định: “Nhà thầu phải chịu trách nhiệm cho công việc của tất cả các nhà thầu phụ, quản ký và điều phối tất cả các công việc của nhà thầu phụ, và hành động hoặc lỗi của bất kì nhà thầu phụ nào, các đại diện hoặc nhân viên của bất kì nhà thầu phụ nào, như thể đó là hành động hoặc lỗi của nhà thầu. Luận văn: Bảo hành công trình xây dựng theo pháp luật Việt Nam.
Hai là, về đối tượng được bảo hành trong công trình xây dựng. Đây chính là hàng hóa. Vì công trình xây dựng là sản phẩm được xây dựng theo thiết kế, tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất do đó công trình xây dựng chính là một hàng hóa. Đặc trưng của hàng hóa cần được bảo hành đó chính là việc xảy ra hỏng hóc, các khuyết điểm có thể nhìn thấy được như là trầy, xước, không hoạt động, hay đối với công trình có thể dễ dàng nhìn thấy như là nghiêng, đổ, vỡ, sụt lún hay tường bị thấm mốc. Vì thế công trình xây dựng cần được bảo hành giống như quy định pháp luật về trách nhiệm đối với hàng hóa. Mà ở đây trách nhiệm chính là nhà thầu xây dựng, người phải chịu trách nhiệm trực tiếp, toàn diện về chất lượng và an toàn đối với các công việc do mình thực hiện.
Ba là, về giới hạn bảo hành công trình xây dựng. Bảo hành công trình xây dựng là hoạt động có phạm vi loại trừ, giới hạn trách nhiệm của bên có trách nhiệm. Cụ thể:
Giới hạn về phạm vi trách nhiệm. Khi ký các bản cam kết bảo hành hoặc ghi nhận điều khoản bảo hành trong hợp đồng, thông thường các nhà thầu sẽ liệt kê một cách chi tiết các công việc mà nhà thầu sẽ bảo hành cũng như liệt kê các hư hỏng, khiếm khuyết mà nhà thầu sẽ không chịu trách nhiệm bảo hành kèm với đó là những hướng dẫn sử dụng của các trang thiết bị do nhà thầu cung cấp. Việc sử dụng sản phẩm hư hao nhanh, độ bền lâu hay không phụ thuộc vào người sử dụng. Nếu trong quá trình sử dụng, người dùng phát hiện ra những khiếm khuyết, lỗi của sản phẩm mà những lỗi này thuộc lỗi của nhà sản xuất hoặc do phía bên nhận thầu thực hiện thì nhà sản xuất hoặc bên thầu phải có trách nhiệm thay thế, sửa chữa các hư hỏng của sản phẩm hàng hóa đó. Còn nếu những hư hỏng này xuất phát từ lỗi của người dùng do sử dụng không đúng cách thì người dùng phải chịu trách nhiệm đối với phần lỗi này. Bên cạnh đó, theo Điều 146 khoản 3 Luật Xây dựng năm 2014 sửa đổi, bổ sung năm 2020 thì bên nhận thầu phải bồi thường thiệt hại cho bên giao thầu do lỗi của bên nhận thầu dẫn tới gây thiệt hại cho người và tài sản trong thời hạn bảo hành. Như vậy, có thể thấy ngoài việc phải chịu trách nhiệm bảo hành công trình xây dựng, bên nhận thầu phải chịu trách nhiệm bồi thường do khuyết điểm của công trình gây ra. Luận văn: Bảo hành công trình xây dựng theo pháp luật Việt Nam.
Giới hạn về thời gian bảo hành của sản phẩm, hàng hóa. Việc bảo hành hàng hóa, sản phẩm trang thiết bị theo yêu cầu của nhà sản xuất thì công trình xây dựng được quy định chi tiết bảo hành theo cấp công trình. Theo đó, “a) Không ít hơn 24 tháng đối với công trình cấp đặc biệt và cấp I sử dụng vốn đầu tư công hoặc vốn nhà nước ngoài đầu tư công;b) Không ít hơn 12 tháng đối với các công trình cấp còn lại sử dụng vốn đầu tư công hoặc vốn nhà nước ngoài đầu tư công;c) Thời hạn bảo hành đối với công trình sử dụng vốn khác có thể tham khảo quy định tại điểm a, điểm b khoản này để áp dụng”. Ngoài ra, “Thời hạn bảo hành đối với các thiết bị công trình, thiết bị công nghệ được xác định theo hợp đồng xây dựng nhưng không ngắn hơn thời gian bảo hành theo quy định của nhà sản xuất và được tính kể từ khi nghiệm thu hoàn thành công tác lắp đặt, vận hành thiết bị.” Thời hạn bảo hành đối với các thiết bị công trình, thiết bị công nghệ được xác định theo hợp đồng xây dựng nhưng không ngắn hơn thời gian bảo hành theo quy định của nhà sản xuất và được tính kể từ khi nghiệm thu hoàn thành công tác lắp đặt, vận hành thiết bị.
Bốn là, về tính chất của hoạt động bảo hành công trình xây dựng. Đây là hoạt động mang tính chất bắt buộc. Có thể thấy rằng, bảo hành công trình xây dựng là một nội dung không thể thiếu trong hợp đồng xây dựng. Điều này được minh định tại điểm p khoản 1 Điều Luật Xây dựng năm 2014 sửa đổi, bổ sung năm 2020 và trong khoản 2 Điều 28 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP ngày 20 tháng 6 năm 2023 quy định chi tiết một số nội dung về quản lý chất lượng, thi công xây dựng và bảo trì công trình xây dựng. Các công trình được xây dựng cho các mục đích sử dụng khác nhau, để đảm bảo hiệu quả cho hoạt động sản xuất kinh doanh, thương mại, giải trí, sinh hoạt của con người thì các công trình này phải đảm bảo chất lượng, ổn định và an toàn trong quá trình khai thác, sử dụng. Vì vậy nên việc bảo hành chính là công việc bắt buộc cần phải đưa vào khi thiết lập hợp đồng xây dựng. Trong quá trình sử dụng, nếu không phát hiện kịp thời những sai sót, khiếm khuyết, lỗi của công trình, các thiết bị lắp đặt trong công trình thì có thể gây nên những tổn thất về người và tài sản do đó công tác bảo hành đóng vai trò quan trọng trong việc khai thác và sử dụng công trình. Việc bảo hành sẽ giúp giảm thiểu các rủi ro, tránh được các hư hỏng nghiêm trọng hơn và có thể kéo dài tuổi thọ của công trình.
1.1.3. Ý nghĩa của việc bảo hành công trình xây dựng
Việc bảo hành công trình xây dựng không những mang lại nhiều lợi ích cho bên giao thầu, khách hàng và cho cả bên nhận thầu. Do đó, việc xác lập điều khoản bảo hành mang ý nghĩa vô cùng quan trọng cho các bên khi xác định ký kết hợp đồng xây dựng với nhau. Cụ thể: Luận văn: Bảo hành công trình xây dựng theo pháp luật Việt Nam.
Thứ nhất, việc bảo hành công trình giúp hạn chế rủi ro về mặt tài chính cho các bên liên quan. Trước hết là giảm thiểu tài chính cho bên giao thầu, việc có một khoảng thời gian bảo hành cụ thể cho công trình giúp đảm bảo rằng các chi phí sửa chữa do lỗi kỹ thuật sẽ được chịu bởi bên nhận thầu, không phải là bên giao thầu hay người sử dụng. Điều này có thể được thể hiện qua việc phát hành thư bảo lãnh hoặc giữ giá trị bảo hành của dự án khi hoàn thiện và đưa công trình vào hoạt động sử dụng. Bằng các chi phí của mình, bên nhận thầu sẽ phải trực tiếp tiến hành các hoạt động bảo hành để công trình có thể hoạt động bình thường. Hơn thế nữa, việc thực hiện bảo hành sớm khi phát hiện sự cố sẽ giúp cho nhà thầu hạn chế tổn thất lớn về mặt tài chính trước khi công trình bị hư hại nặng nề cần bỏ ra nguồn tiền lớn để hoàn thiện.
Thứ hai, bảo hành cũng là sự đảm bảo uy tín của bên nhận thầu, góp phần xây dựng mối quan hệ bền vững lâu dài với đối tác. Thực vậy, bảo hành là sự cam kết của người bán, nhà sản xuất đối với chất lượng của sản phẩm mà mình cung cấp, công trình xây dựng cũng là một loại hàng hóa do nhà thầu cung cấp. Khi một nhà thầu cam kết bảo hành, họ đang thể hiện sự tự tin vào khả năng của mình và sẵn lòng chịu trách nhiệm với sản phẩm mà họ cung cấp. Điều này không chỉ tạo ra sự an tâm cho khách hàng về chất lượng của công trình mà còn thể hiện sự chuyên nghiệp và đạo đức trong kinh doanh của bên nhân thầu. Thông qua việc bảo hành, nhà thầu tạo niềm tin của khách hàng bởi dịch vụ của mình từ đó gia tăng sự tin tưởng, uy tín. Nếu có bất kỳ vấn đề nào xảy ra sau khi công trình đưa vào nghiệm thu bàn giao sử dụng, việc nhà thầu tiếp tục hỗ trợ và giải quyết thông qua bảo hành không chỉ giữ cho khách hàng hài lòng mà còn tạo ra cơ hội để xây dựng lòng tin và danh tiếng tích cực cho bên nhận thầu trong cộng đồng.
Tóm lại, bảo hành công trình xây dựng không chỉ là một cam kết về chất lượng mà còn là một cách hiệu quả để nâng cao uy tín và địa vị của bên nhận thầu trong ngành công nghiệp xây dựng. Ngoài ra, chính sách bảo hành tốt cũng tạo ra một điểm khác biệt cạnh tranh trên thị trường, điều này không chỉ giúp bên nhận thầu tạo ra điểm khác biệt so với đối thủ mà còn làm tăng giá trị dịch vụ của họ “trong mắt” khách hàng, mà còn giúp bên nhận thầu có nhiều cơ hội tương tác và duy trì mối quan hệ với khách hàng sau khi dự án hoàn thành, từ đó tạo các cơ hội kinh doanh lâu dài cho các dự án bất động sản và xây dựng trong tương lai.
Thứ ba, bảo hành giúp đảm bảo tính ổn định lâu dài và an toàn của công trình. Khi xuất hiện các khiếm khuyết, sai sót nhỏ thì việc bảo hành nếu phát hiện sớm sẽ giúp cho công trình duy trì được tuổi thọ vốn có của nó, kéo dài thời gian sử dụng hơn. Khi có vấn đề phát sinh, chính sách bảo hành đảm bảo rằng nhà thầu sẽ tiến hành sửa chữa theo đúng tiêu chuẩn. Việc này giúp giữ cho công trình luôn trong tình trạng tốt nhất và ngăn chặn sự suy giảm chất lượng về lâu dài và hạn chế các rủi ro đối với người sử dụng. Như vậy, bảo hành công trình không chỉ giúp giữ cho công trình trong tình trạng tốt nhất mà còn làm tăng tuổi thọ của nó thông qua việc kiểm tra định kỳ, sửa chữa, đảm bảo hoàn thiện. Luận văn: Bảo hành công trình xây dựng theo pháp luật Việt Nam.
Thứ tư, bảo hành công trình giúp các bên đàm phán xác lập hợp đồng tốt hơn. Thông thường bảo hành công trình đóng vai trò quan trọng trong việc đàm phán và xác lập hợp đồng xây dựng, bởi vì điều khoản bảo hành không chỉ là một cam kết chất lượng từ bên nhận thầu mà còn là một yếu tố quyết định giúp các bên liên quan đạt được sự đồng thuận và hiểu biết rõ ràng hơn về trách nhiệm và quyền lợi của mình. Khi bên nhận thầu đồng ý cung cấp bảo hành cho công trình, điều này chứng tỏ họ có sự tự tin vào chất lượng công việc của mình và sẵn sàng chịu trách nhiệm nếu có vấn đề phát sinh sau khi công trình được hoàn tất. Đây là một yếu tố then chốt giúp tạo dựng niềm tin giữa bên giao thầu và bên nhận thầu. Ngoài ra khi các điều khoản bảo hành được quy định rõ ràng trong hợp đồng, như thời gian bảo hành, phạm vi bảo hành, và các quy trình yêu cầu bảo hành, điều này giúp giảm thiểu sự mơ hồ và tránh những tranh chấp tiềm ẩn. Bên giao thầu có thể yên tâm rằng nếu có sự cố xảy ra sau khi công trình hoàn tất, họ sẽ không phải chịu thêm chi phí sửa chữa ngoài những gì đã được cam kết. Đưa vào các điều khoản bảo hành trong hợp đồng giúp định rõ trách nhiệm của các bên. Bên nhận thầu có nghĩa vụ phải khắc phục các lỗi hoặc sự cố phát sinh trong thời gian bảo hành, trong khi bên giao thầu biết rõ quyền lợi của mình. Sự minh bạch này góp phần làm cho quá trình đàm phán và thực hiện hợp đồng trở nên rõ ràng và công bằng hơn. Điều này không chỉ bảo vệ quyền lợi của các bên mà còn thúc đẩy một môi trường hợp tác tích cực, làm tăng hiệu quả và sự hài lòng trong toàn bộ quá trình xây dựng.
Thứ năm, bảo hành công trình giúp cho bên nhận thầu cải thiện cũng như nâng cao trình độ chuyên môn hơn. Đầu tiên, khi nhận phản hồi về sự cố công trình từ khách hàng thì từ các phản hồi này có thể giúp bên nhận thầu hiểu được những điểm mạnh và điểm yếu của mình từ đó bên nhận thầu sẽ thu thập được nhiều thông tin, góp phần đổi mới và nâng cao chất lượng dịch vụ cũng như trình độ chuyên môn của mình. Bên cạnh đó, thông qua việc khảo sát trực tiếp với công trình đã hoàn thành thì bên nhận thầu có cơ hội đánh giá lại công việc của mình, phát hiện và rút kinh nghiệm từ những sai sót hoặc vấn đề phát sinh, và nâng cao kỹ năng trong các dự án tương lai.
1.1.4. Những yếu tố tác động đến bảo hành công trình xây dựng Luận văn: Bảo hành công trình xây dựng theo pháp luật Việt Nam.
Bất kỳ hoạt động ở lĩnh vực nào cũng sẽ bị chi phối bởi các yếu tố khác nhau và bảo hành công trình cũng vậy. Quá trình bảo hành công trình xây dựng sẽ bị tác động bởi một số yếu tố sau:
Thứ nhất, hành lang pháp lý rõ ràng, minh bạch và trách nhiệm của chủ thể quản lý nhà nước
Xuất phát từ đặc điểm của pháp luật là tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức thì việc quy định bảo hành công trình xây dựng cũng được thể hiện rõ trong các văn bản quy phạm pháp luật. Việc ban hành các văn bản càng cụ thể và chi tiết thì việc kiểm tra, giám sát thực hiện sẽ mang lại hiệu quả cao, tránh phát sinh các tranh chấp trong quá trình thực hiện. Yếu tố pháp luật có thể nói là một trong những yếu tố quan trọng trong việc xác lập thỏa thuận hợp đồng xây dựng nói chung và xác lập các điều khoản bảo hành trong công trình xây dựng nói riêng. Hiện nay có rất nhiều tranh chấp liên quan đến vấn đề bảo hành công trình xây dựng như việc bên giao thầu không hoàn tất nghĩa vụ thanh toán cho bên nhận thầu sau khi đã ký nghiệm thu hết thời gian bảo hành công trình với lí do “ngày hết hạn bảo hành phải kể từ ngày chủ đầu tư bàn giao cho đơn vị quản lý sử dụng” hay bên nhận thầu từ chối công việc bảo hành khi vẫn đang trong thời hạn bảo hành. Một trong những lý do dẫn đến tranh chấp có thể kể đến là các bên chưa thực sự hiểu rõ các quy định của pháp luật dẫn đến việc soạn thảo các điều kiện hợp đồng chưa thực sự hợp lý, gây bất lợi cho một bên khi xảy ra tranh chấp. Khi đó thì việc áp dụng đúng các điều khoản pháp luật vào các tình huống này để xử lý các vấn đề phát sinh, tranh chấp là cần thiết. Bên cạnh đó, tùy vào tình hình thực tế của sự phát triển kinh tế xã hội mà nhà nước ban hành các văn bản quy phạm pháp luật theo từng giai đoạn. Vậy nên, khi thực hiện ký kết các hợp đồng thì bên giao thầu và bên nhận thầu cần xác định pháp luật điều chỉnh hợp lý tránh xảy ra tranh chấp về sau.
Hơn thế nữa hệ thống pháp luật sẽ điều chỉnh hành vi của các chủ thể khi tham gia vào hoạt động bảo hành công trình xây dựng. Các quy định của văn bản quy phạm pháp luật không chỉ điều chỉnh về hành vi các chủ thể tham gia như quyền và nghĩa vụ của các bên mà còn điều chỉnh về “thời hạn bảo hành công trình xây dựng, thiết bị công trình, thiết bị công nghệ; biện pháp, hình thức bảo hành; giá trị bảo hành; việc lưu giữ, sử dụng, hoàn trả tiền bảo hành”. Các bên tham gia cần thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình trong hoạt động bảo hành để để đảm bảo cho hợp đồng được thực thi một cách tối đa và quá trình bảo hành được thực hiện một cách có hiệu quả. Luận văn: Bảo hành công trình xây dựng theo pháp luật Việt Nam.
Do vậy, Nhà nước cần siết chặt việc quản lý và ban hành các văn bản pháp luật cũng như tạo hành lang pháp lý công khai, minh bạch để từ đó giúp cho các chủ thể tham gia vào hoạt động bảo hành công trình xây dựng dễ dàng tiếp cận và thực hiện tốt trách nhiệm của mình bởi vì đây là một trong những yếu tố quan trọng có tác động trực tiếp đến hoạt động bảo hành công trình xây dựng. Khi yếu tố này thay đổi thì hoạt động bảo hành công trình cũng sẽ bị ảnh hưởng theo.
Thứ hai, nhận thức, trách nhiệm của chủ thể tham gia quan hệ pháp luật bảo hành công trình xây dựng
Trong Nghị định số 06/2021/NĐ-CP có nêu rõ tại khoản 17 Điều 2 là “Bảo hành công trình xây dựng là sự cam kết của nhà thầu về trách nhiệm khắc phục, sửa chữa trong một thời gian nhất định các hư hỏng, khiếm khuyết có thể xảy ra trong quá trình khai thác, sử dụng công trình xây dựng.”Với khái niệm này thì công việc bảo hành công trình xây dựng phải do chủ thể là bên nhận thầu thực hiện. Đây không chỉ là sự cam kết mà còn là trách nhiệm của bên nhận thầu phải “thực hiện bảo hành phần công việc do mình thực hiện sau khi nhận được thông báo yêu cầu bảo hành của chủ đầu tư, chủ sở hữu hoặc người quản lý, sử dụng công trình đối với các hư hỏng phát sinh trong thời gian bảo hành và phải chịu mọi chi phí liên quan đến thực hiện bảo hành.
Một là, đối với trách nhiệm của bên nhận thầu. Công trình xây dựng khó tránh khỏi các khiếm khuyết hỏng hóc, tuy nhiên không phải bất kỳ khiếm khuyết hư hỏng xảy ra của công trình đều là do lỗi của bên nhận thầu. Bên nhận thầu “có quyền từ chối bảo hành trong các trường hợp hư hỏng, khiếm khuyết phát sinh không phải do lỗi của nhà thầu gây ra“. Trên thực tế việc xác định các khiếm khuyết hư hỏng do lỗi của chủ thể nào rất khó xác định. Như bên nhận thầu thực hiện thi công theo đúng bản vẽ thiết kế nhưng các vật liệu lại do bên giao thầu cấp thì trường hợp này nếu công trình có chất lượng không ổn định thì trách nhiệm thuộc về ai hoặc “sau khi hết thời hạn bảo hành công trình mới sử dụng đúng tải theo thiết kế và xảy ra sự cố nứt, việc xác định trách nhiệm thuộc về ai cũng có thể xảy ra tranh chấp”. Với những tình huống này “để phán quyết “ai là người có lỗi”, tùy theo mức độ của các vi phạm mà cần thời gian, không gian và cả kinh phí để công tác điều tra tìm được căn cứ khoa học thuyết phục”, có thể bởi các đơn vị kiểm định chất lượng có năng lực. Kết quả kiểm định sẽ xác định được mức độ vi phạm về chất lượng, cũng như đưa ra được yếu tố lỗi xuất phát từ đâu nhưng điều này sẽ tốn nhiều thời gian và chi phí cho các bên.
Bên cạnh đó, với một dự án công trình nếu được thực hiện bởi nhiều nhà thầu thì khi phát hiện một hư hỏng, khiếm khuyết thì việc xác định nghĩa vụ thực hiện bảo hành cũng phức tạp bởi các nhà thầu thường đẩy trách nhiệm cho nhau. Việc xác định chủ thể chịu trách nhiệm bảo hành các khiếm khuyết sẽ khó khăn nếu khi ký biên bản nghiệm thu đưa vào sử dụng không ghi rõ phần nội dung công vệc và phạm vi bảo hành từng hạng mục của các nhà thầu. Do vậy, bên giao thầu cần phải rõ ràng trong việc ký nghiệm thu khối lượng và đánh giá chất lượng đối với các nhà thầu thi công ở những hạng mục khác nhau khi đưa vào hoạt động sử dụng để trách tình trạng xảy ra tranh chấp khi xảy ra sự cố chất lượng.
Ngoài ra, chất lượng công trình không chỉ bị ảnh hưởng bởi chất lượng của vật liệu thi công, hay mặt kĩ thuật của thiết kế mà nó còn bị ảnh hưởng bởi năng lực của bên nhận thầu vì “năng lực của nhà thầu biểu hiện rất cụ thể (lượng hóa được) là con người, thiết bị, năng lực tổ chức thực hiện. Việc lựa chọn đúng nhà thầu sẽ có quyết định rất lớn đến tiến độ thi công cũng như chất lượng của dự án. Đội ngũ kĩ sư phải có đầy đủ năng lực chuyên môn cũng như các chứng chỉ hành nghề, công nhân có tay nghề cao, có máy móc thiết bị hiện đại đáp ứng được nhu cầu của các công trình có quy mô lớn, phức tạp. Bên nhận thầu không những cần có năng lực chuyên môn trình độ kỹ thuật mà cần cả về văn hóa ứng xử và thái độ làm việc chuyên nghiệp khi có sự cố phát sinh cuta công trình. Luận văn: Bảo hành công trình xây dựng theo pháp luật Việt Nam.
Hai là, trách nhiệm của bên giao thầu. Chất lượng công trình xây dựng cũng sẽ bị ảnh hưởng bởi khả năng giám sát, quản lý cả trong quá trình thi công và đưa vào sử dụng của bên giao thầu. Bên giao thầu cần có “công tác kiểm soát và kiểm tra công trường dựa vào tiêu chuẩn kỹ thuật và quy trình đã được lập. Sử dụng các thiết bị gia công, lắp đặt, các thiết bị thí nghiệm để kiểm soát các công việc thi công. Quy trình và biện pháp thi công cần được bên giao thầu phê duyệt trước khi thực hiện“. Việc kiểm tra giám sát của bên giao thầu sẽ giúp kiểm soát và quản lý tốt chất lượng cũng như tiến độ của dự án, hạn chế các rủi ro phát sinh trong quá trình thi công hoặc đã đưa vào sử dụng.
Tóm lại, các chủ thể có mối liên hệ với nhau trong việc thực hiện bảo hành, yếu tố chủ thể đóng vai trò quan trọng và là điều kiện tiên quyết để thực hiện các hoạt động bảo hành công trình xây dựng.
Thứ ba, sự phát triển khoa học kỹ thuật
Để đáp ứng nhu cầu thực hiện quản lý dự án, thi công công trình xây dựng cũng như công tác bảo hành được thực hiện một cách nhanh chóng và dễ dàng thì không thể thiếu đi các công cụ quản lý trong ngành xây dựng. Các công cụ quản lý này sẽ giúp cho hoạt động xây dựng công trình nói chung, hoạt động bảo hành nói riêng được thực hiện dễ dàng, các bên có thể nắm rõ thông tin để xử lý nếu có bất kỳ sự thay đổi, sự cố xảy ra trong quá trình vận hành và sử dụng. Một trong các công cụ có thể kể đến chính là hệ thống thông tin công trình (BIM). BIM có thể hiểu là một tiến trình tạo dựng và sử dụng mô hình kĩ thuật số cho công việc thiết kế, thi công, nghiệm thu bàn giao công trình và cả vận hành, bảo hành bảo trì. Việc đưa hệ thống quản lý thông tin cũng đã được đề cập trong Luật Xây dựng năm 2014 được sửa đổi bổ sung năm 2020 tại khoản 3 Điều 4 như sau: “Ứng dụng khoa học và công nghệ, áp dụng hệ thống thông tin công trình trong hoạt động đầu tư xây dựng“. Trong thời gian qua, việc áp dụng công cụ quản lý và khoa học công nghệ đã giúp cho quá trình lập báo cáo nghiên cứu khả thi, thiết kế, thi công xây dựng, quản lý chất lượng, quản lý dự án, quản lý khai thác vận hành công trình đã mang lại những lợi ích, hiệu quả rõ rệt. Do đó, Thủ tướng Chính phủ cũng ban hành Quyết định 258/QĐ-TTg ngày 17 tháng 3 năm 2023 “Phê duyệt lộ trình áp dụng mô hình thông tin công trình (BIM) trong hoạt động xây dựng”. Với Quyết định này thì “từ năm 2023, áp dụng BIM bắt buộc đối với các công trình cấp I, cấp đặc biệt của các dự án đầu tư xây dựng mới sử dụng vốn đầu tư công, vốn nhà nước ngoài đầu tư công và đầu tư theo phương thức đối tác công tư bắt đầu thực hiện các công việc chuẩn bị dự án. Theo đó, việc áp dụng mô hình BIM cũng sẽ đưa ra phương án tổ chức thi công cho các bên, quản lý nguồn lực trong quá trình xây dựng, kiểm soát chất lượng bàn giao đưa công trình vào sử dụng nhằm phục vụ cho giai đoạn quản lý, vận hành công trình. Việc áp dụng mô hình này trong giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2021 cũng đã “tiết kiệm chi phí dự án đến 12%, rút ngắn thời gian thi công xây dựng từ 12-15% so với tiến độ được duyệt., “100% số dự án đánh giá BIM góp phần giảm chi phí dự án và giảm thiểu sự làm lại, chỉnh sửa và 75% số dự án đánh giá nhận thấy BIM giúp tiết kiệm tới 5 – 12% nguyên vật liệu.
Với mô hình này thì tại các nước phát triển đã dược áp dụng từ lâu và xem đây là công cụ quản lý cho vòng đời của một công trình. Như tại Mỹ thì “72% các công ty xây dựng được cho là đang sử dụng công nghệ BIM để tiết kiệm chi phí đáng kể cho các dự án”. Khi công trình được xây dựng dựa trên mô hình BIM, các thông tin về vật liệu, kết cấu, hệ thống điện nước, vv., được quản lý một cách hợp lý và dễ dàng truy cập sau này trong quá trình bảo hành. Chính vì những ưu điểm vượt trội như vậy nên “chính phủ Anh đang triển khai tầm nhìn tiếp theo cho việc áp dụng BIM, đó là song sinh số (digital twin), đây là cơ sở để tích hợp các giải pháp công nghệ số khác như IoT (Internet of Things), quét laser vào BIM, qua đó khai thác tối đa hiệu quả của BIM.
Bên cạnh mô hình thông tin công trình (BIM) được đưa vào triển khai thực hiện thì các công nghệ xây dựng thông minh như IoT (Internet of Things), AI (Artificial Intelligence), và big data trong xây dựng giúp tối ưu hóa hoạt động trong quá trình vận hành sử dụng công trình. Các công cụ này cho phép các thiết bị trong công trình xây dựng được kết nối và thu thập dữ liệu liên tục về một trung tâm điều khiển với các thông số như nhiệt độ, độ ẩm, áp suất, dòng điện, hệ thống an ninh. Nhờ vào khả năng giám sát và phản hồi nhanh chóng thông qua hệ thống theo dõi định kỳ, các sự cố hoặc hư hỏng có thể được phát hiện sớm, giúp giảm thiểu các vấn đề phát sinh sau khi công trình đã hoàn thành, từ đó bên nhận thầu có thể cung cấp dịch vụ bảo hành hiệu quả hơn. Việc cải thiện chất lượng dịch vụ này không chỉ tạo niềm tin cho khách hàng mà còn giảm thiểu chi phí vận hành, bảo hành về sau.
Vậy nên ứng dụng công cụ quản lý và khoa học công nghệ thật sự cần thiết không chỉ giúp cho quá trình xây dựng, vận hành công trình được hiệu quả mà cả giai đoạn bảo hành, bảo trì cũng sẽ được thực hiện một cách dễ dàng, giúp cho các bên sự tham gia vào dự án nắm bắt được thông tin nhanh chóng và đưa ra các phương án tối ưu nếu có xảy ra sự cố, hư hỏng. Các công cụ quản lý dự án, khoa học công nghệ cũng là một trong những yếu tố có ảnh hưởng lơn đến quá trình bảo hành công trình xây dựng khi bên giao thầu và bên nhận thầu thảo thuận ký kết hợp đồng.
1.2. Tổng quan pháp luật về bảo hành công trình xây dựng Luận văn: Bảo hành công trình xây dựng theo pháp luật Việt Nam.
1.2.1. Sự cần thiết của việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với bảo hành công trình xây dựng
Một là, xuất phát từ tầm quan trọng của ngành xây dựng đối với nền kinh tế của quốc gia. Đây là một trong những ngành có vai trò quan trọng trong việc góp phần cải thiện và nâng cao phát triển nền kinh tế do đó nhà nước cần phải ban hành các quy định pháp luật để quản lý đồng bộ và thống nhất và bảo hành công trình xây dựng cũng là một nội dung trong lĩnh vực này. Có thể thấy rằng, trong thời gian qua, ngành xây dựng có những chuyển biến tích cực và cũng đạt được một số các chỉ tiêu kế hoạch đã đặt ra, như tổng sản phẩm trong nước (GDP) đạt từ 7,3-7,5%, tỷ lệ đô thị hóa cả nước đạt 53,9% hay diện tích nhà ở bình quân cả nước là 26m2 sàn/người. Bên cạnh đó, năm 2023 ngành xây dựng cũng thu hút vốn đầu tư của nước ngoài với 47 dự án với số vốn đăng ký là 192,405 triệu USD và 22,454 triệu USD phần vốn mua cổ phần. Trước tình hình đó, chính phủ cần phải ban hành và quản lý tốt các hoạt động đầu tư xây dựng, tạo hành lang pháp lý vững chắc, phù hợp với tình hình kinh tế xã hội của đất nước cũng như các quy định, thông lệ của quốc tế mà Việt Nam có tham gia.
Hai là, tạo dựng khuôn khổ pháp lý đồng bộ nhằm thực hiện đồng bộ, hiệu quả chức năng quản lý nhà nước về hoạt động đầu tư xây dựng; phát triển đô thị; hạ tầng kỹ thuật; nhà ở. Thực vậy, việc bảo hành công trình xây dựng là nhằm ngăn chặn, giám sát, quản lý chất lượng công trình, tránh để xảy ra các tổn thất về người và tài sản. Để các công trình được đưa vào hoạt động theo đúng tiêu chuẩn, chất lượng thì chính phủ cần phải ban hành các tiêu chuẩn kỹ thuật, biện pháp thi công, kiểm tra đánh giá, và giám sát việc thực hiện các biện pháp bảo hành công trình. Các tiêu chuẩn kỹ thuật này phải phù hợp với từng loại công trình, cấp công trình khác nhau. Việc có một hệ thống quản lý bảo hành chuyên nghiệp và hiệu quả từ nhà nước cũng góp phần tạo ra niềm tin và tin tưởng từ phía công chúng về hệ thống pháp luật hơn.
Ba là, để đáp ứng nhu cầu hoạt động sinh sống, sản xuất, kinh doanh của xã hội thì cần xây dựng thêm nhiều dự án công trình. Xuất phát từ việc nhà nước cần quản lý việc khai thác vật liệu xây dựng một cách chặt chẽ hơn, đặt ra các tiêu chuẩn cao về hiệu suất năng lượng, ban hành các quy định pháp luật về việc khai thác nguồn tài nguyên phục vụ cho hoạt động xây dựng, chính sách khuyến khích tìm kiếm các nguồn tài nguyên bền vững có chất lượng tốt nhằm thúc đẩy phát triển công nghiệp xây dựng, kiểm soát chi phí và tài nguyên quốc gia đóng góp vào mục tiêu phát triển bền vững.
Tóm lại, việc điều chỉnh bằng pháp luật đối với bảo hành công trình xây dựng thật sự cần thiết nhằm tạo ra khuôn khổ pháp lý cần thiết, minh bạch góp phần định hướng hành vi của các chủ thể tham gia vào quan hệ xây dựng và bảo hành công trình theo hướng ngày một tốt hơn, hạn chế tối đa các tổn thất liên quan trong quá trình vận hành các công trình xây dựng.
1.2.2. Nội dung pháp luật về bảo hành công trình xây dựng Luận văn: Bảo hành công trình xây dựng theo pháp luật Việt Nam.
Pháp luật được định nghĩa như sau: “Pháp luật là hệ thống quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của nhân dân, được nhà nước đảm bảo thực hiện bằng những cách thức nhất định trong đó có cưỡng chế nhà nước nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội để bảo vệ, bảo đảm các quyền, tự do của con người và sự phát triển của xã hội” Mục tiêu của pháp luật là duy trì trật tự xã hội, bảo vệ quyền lợi và nghĩa vụ của công dân, cũng như đảm bảo công bằng và ổn định trong quan hệ xã hội. Pháp luật và nhà nước luôn song hành cùng nhau, pháp luật được nhà nước ban hành do đó pháp luật có một số đặc trưng cơ bản như i) tính phổ biến; ii) tính bắt buộc chung; iii) tính xác định chặt chẽ về mặt hình thức; iv) tính đảm bảo thực hiện bằng nhà nước. Pháp luật chính là công cụ hiệu quả nhất để nhà nước quản lý các lĩnh vực của đời sống xã hội. Trong giai đoạn hiện nay, việc phát triển các cơ sở vật chất, cơ sở hạ tầng để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, sản xuất kinh doanh của người dân ngày càng tăng thì việc các chủ thể phối hợp thực hiện các dự án xây dựng cũng tăng theo. Pháp luật về bảo hành công trình xây dựng cũng từ đây mà được hình thành và điều chỉnh cho phù hợp với thực tiễn của xã hội. Pháp luật về bảo hành công trình xây dựng quy định chi tiết các nội dung để chủ thể tham gia vào quan hệ bảo hành công trình xây dựng tự do thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình; đồng thời pháp luật về bảo hành công trình xây dựng cũng dự liệu cách thức xử lý các tình huống pháp lý, các tranh chấp hoặc vi phạm pháp luật xâm phạm đến các quan hệ bảo hành công trình xây dựng, cả các biện pháp nhằm ngăn chặn (phòng ngừa), các chế tài từ thấp đến cao để áp dụng đối với những chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật bảo hành công trình xây dựng. Luận văn: Bảo hành công trình xây dựng theo pháp luật Việt Nam.
Cũng như các quan hệ pháp luật khác, pháp luật về bảo hành công trình xây dựng bao gồm ba yếu tố cơ bản: (i) chủ thể tham gia bảo hành công trình xây dựng; đối tượng bảo hành công trình xây dựng và (iii) nội dung quan hệ pháp luật về bảo hành công trình xây dựng. Cụ thể:
Chủ thể: Chủ thể tham gia quan hệ pháp luật về bảo hành công trình xây dựng bao gồm bên giao thầu và bên nhận thầu. Bên nhận thầu có thể là nhà thầu thi công, nhà thầu cung ứng thiết bị cho chính công trình xây dựng. Vì là chủ thể trực tiếp thực hiện dự án, là đơn vị sẽ đưa ra các biện pháp kiểm tra, kiểm soát chất lượng vật liệu, sản phẩm, cấu kiện, thiết bị được sử dụng cho công trình nên bên nhận thầu sẽ nắm rõ được kĩ thuật của công trình, có đầy đủ nhân lực về trình độ chuyên môn, máy móc thiết bị để từ đó có thể thực hiện các công việc bảo hành khi có xảy ra sự cố, hỏng hóc.
Khi thực hiện trách nhiệm bảo hành, liệu bên nhận thầu là đơn vị trực tiếp thực hiện công việc bảo hành hay có thể ủy quyền cho bên thứ ba thực hiện công việc này. Về nội dung này, có thể lý giải như sau: “bản thân hợp đồng xây dựng là một loại hợp đồng đặc thù thuộc lĩnh vực chuyên ngành về đầu tư xây dựng” và theo quy định tại khoản 1 điều 18 Luật Xây dựng năm 2014 sửa đổi, bổ sung năm 2020 “Hợp đồng xây dựng là hợp đồng dân sự được thỏa thuận bằng văn bản giữa bên giao thầu và bên nhận thầu để thực hiện một phần hay toàn bộ công việc trong hoạt động đầu tư xây dựng“. Bên cạnh đó, tại khoản 1 Điều 12 của Luật Doanh nghiệp năm 2020 thì “Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp là cá nhân đại diện cho doanh nghiệp thực hiện các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch của doanh nghiệp, đại diện cho doanh nghiệp với tư cách người yêu cầu giải quyết việc dân sự”. Tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì “pháp nhân có thể uỷ quyền cho cá nhân, pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự “. Như vậy những người được ủy quyền cũng có thể trở thành các bên trong quan hệ bảo hành công trình xây dựng. Đồng thời, pháp luật về bảo hành hàng hóa nói chung cũng không loại trừ việc những người đại diện có thể tham gia quan hệ này. Cụ thể, theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 30 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2023 thì các tổ chức, cá nhân kinh doanh phải “chịu trách nhiệm về việc bảo hành sản phẩm, hàng hóa, linh kiện, phụ kiện cho người tiêu dùng cả trong trường hợp ủy quyền hoặc thuê tổ chức, cá nhân khác thực hiện việc bảo hành”. Hiện nay, theo pháp luật xây dựng thì công việc bảo hành chỉ quy định trách nhiệm cho bên nhận thầu, không có quy định là cấm nhà thầu giao cho bên thứ ba thực hiện, trừ các trường hợp bên giao thầu và bên nhận thầu có thỏa thuận riêng trong hợp đồng. Việc bên nhận thầu trực tiếp thực hiện công tác bảo hành hoặc bên nhận thầu giao lại cho một đơn vị khác thực hiện thì trường hợp này cũng không làm giảm đi hay loại trừ đi trách nhiệm chính của bên nhận thầu, miễn việc ủy quyền theo đúng quy định của pháp luật và không thuộc các trường hợp không được phép ủy quyền. Luận văn: Bảo hành công trình xây dựng theo pháp luật Việt Nam.
Đối tượng: Mỗi chủ thể tham gia vào hoạt động bảo hành công trình xây dựng có những mục đích khác nhau như chủ thể là bên giao thầu sẽ giám sát việc thực hiện công tác bảo hành của bên nhận thầu và bên nhận thầu thì có trách nhiệm sửa chữa những khiếm khuyết, hư hỏng của công trình do chính mình thi công. Cả hai chủ thể đều có mối quan hệ với nhau là dựa trên quyền và nghĩa vụ các bên để thực hiện hoạt động bảo hành. Mục đích chung cả hai chủ thể muốn hướng tới của công việc bảo hành này là mang lại hoạt động bình thường, ổn định của công trình xây dựng và đảm bảo bảo an toàn cho người sử dụng.
Nội dung: Để điều chỉnh một quan hệ xã hội bằng phương pháp luật, nội dung của pháp luật đó sẽ được thể hiện qua các quy phạm pháp luật quy định về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia. Tương tự, nội dung của pháp luật về bảo hành công trình xây dựng là những quy định điều chỉnh các quyền lợi và nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể tham gia quan hệ pháp luật trong hoạt động bảo hành công trình xây dựng.
Pháp luật về bảo hành công trình xây dựng quy định chi tiết các nội dung mà các chủ thể phải tuân thủ khi thỏa thuận ký kết các hợp đồng xây dựng. Các nội dung bao gồm:
Một là, quy định về điều kiện bảo hành. Không phải bất kỳ hư hỏng, hỏng hóc nào xảy ra trong thời hạn bảo hành cũng được bên nhận thầu bảo hành nếu phần lỗi đó không thuộc lỗi của bên nhận thầu. Điều này đã được quy định rõ ràng tại khoản điều 29 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP “Nhà thầu thi công xây dựng công trình, nhà thầu cung ứng thiết bị có quyền từ chối bảo hành trong các trường hợp hư hỏng, khiếm khuyết phát sinh không phải do lỗi của nhà thầu gây ra.” Đối với điều khoản này thì các bên cần phải liệt kê chi tiết về phần lỗi có thể xảy ra, cũng như liệt kê các điều kiện có thể gây thiệt hại hư hóc, khiếm khuyết trong quá trình vận hành và sử dụng để có thể xem xét trách nhiệm cho bên nào. Pháp luật chỉ đưa ra nội dung khái quát về loại trừ trách nhiệm của bên nhận thầu khi công trình xảy ra khiếm khuyết chứ không đưa ra chi tiết các trường hợp có thể loại trừ trách nhiệm, do đo các bên cần lưu ý khi soạn thảo hợp đồng tại điều kiện bảo hành. Thỏa thuận về điều kiện bảo hành dựa trên ý chí của các bên, việc thiết lập các điều kiện chi tiết giúp các bên giảm thiểu được tranh chấp, tiết kiệm được thời gian khi phát hiện hư hỏng cũng như xác định được phần chi phí trong việc sửa chữa do bên nào gánh vác.
Hai là, quy định thời hạn bảo hành công trình xây dựng. Theo Điều 5 Luật Xây dựng năm 2014 sửa đổi, bổ sung năm 2020 thì công trình được phân thành nhiều loại, cấp khác nhau. Do đó, thời hạn bảo hành ở các cấp công trình cũng sẽ được quy định khác nhau cụ thể tại khoản 5 Điều 28 Nghị định số 06/2021/NĐ-CP quy định chi tiết về thời hạn bảo hành cho các cấp công trình khác nhau với “Không ít hơn 24 tháng đối với công trình cấp đặc biệt và cấp I sử dụng vốn đầu tư công hoặc vốn nhà nước ngoài đầu tư công. Không ít hơn 12 tháng đối với các công trình cấp còn lại sử dụng vốn đầu tư công hoặc vốn nhà nước ngoài đầu tư công. Thời hạn bảo hành đối với công trình sử dụng vốn khác có thể tham khảo quy định tại điểm a, điểm b khoản này để áp dụng.” Việc quy định thời hạn bảo hành tại các văn bản quy phạm pháp luật chính là ghi nhận tối đa quyền của bên giao thầu là sẽ được đảm bảo bảo hành công trình xây dựng của mình và nghĩa vụ của bên giao thầu chính là thực hiện công tác bảo hành đó trong thời hạn được quy định trong hợp đồng để đảm bảo quan hệ của các bên. Tuy nhiên, pháp luật cũng để cho các bên tự thỏa thuận về “thời hạn bảo hành riêng cho một hoặc một số hạng mục công trình hoặc gói thầu thi công xây dựng, lắp đặt thiết bị ngoài thời gian bảo hành chung. Luận văn: Bảo hành công trình xây dựng theo pháp luật Việt Nam.
Ba là, quy định về thủ tục và chi phí bảo hành. Đầu tiên, là đối với công trình xây dựng khi phát hiện sự cố, khiếm khuyết vẫn nằm trong thời hạn bảo hành thì bên giao thầu cần phải thông báo cho bên nhận thầu khắc phục sự cố nếu nguyên nhân gây ra xuất phát từ việc thi công của bên nhận thầu. Bên nhận thầu tiếp nhận thông tin và bằng năng lực và tài chính của mình để thực hiện giải quyết các khiếm khuyết, sự cố đó. “Trường hợp hư hỏng, khiếm khuyết phát sinh do lỗi của nhà thầu mà nhà thầu không thực hiện bảo hành thì chủ đầu tư có quyền sử dụng tiền bảo hành để thuê tổ chức, cá nhân khác thực hiện bảo hành. Đối với một công trình xây dựng sau khi hết thời hạn bảo hành thì bên nhận thầu cần phải xác lập báo cáo gửi cho bên giao thầu và bên giao thầu phải có trách nhiệm xác nhận hoàn thành bảo hành bằng văn bản và hoàn trả lại số tiền giữ bảo hành nếu các bên có thỏa thuận trước đó. Bên cạnh đó, trong một số trường hợp thì khi có khiếm khuyết phát sinh do lỗi của nhà thầu mà nhà thầu không thực hiện bảo hành thì bên giao thầu có quyền sử dụng tiền bảo hành để thuê tổ chức, cá nhân khác thực hiện bảo hành.
Bốn là, quy định về xử phạt khi không chấp hành bảo hành công trình xây dựng. Theo như khoản 1 và khoản 3 Điều 38 Nghị định 16/2022/NĐ-CP ban hành ngày 28/01/2022 thì bên nhận thầu sẽ bị phạt tiền từ 20,000,000 đến 30,000,000 đồng khi không lập không lập báo cáo hoàn thành công tác bảo hành công trình gửi cho bên nhận thầu và chịu mức phạt tiền từ 40.000.000 đồng đến 60.000.000 đồng đối với hành vi không thực hiện trách nhiệm bảo hành theo quy định. Bên cạnh đó, khoản 2 Điều 20 của Nghị định này thì nếu bên giao thầu không không xác nhận đã hoàn thành trách nhiệm bảo hành của nhà thầu sẽ bị phạt từ 30,000,000 đến 40,000,000 đồng
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Luận văn: Bảo hành công trình xây dựng theo pháp luật Việt Nam.
Thông qua các phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp luật học so sánh tại chương 1 tác giả đã làm rõ những vấn đề lý luận về bảo hành công trình xây dựng. Các kết quả nghiên cứu cụ thể sau đây:
Thứ nhất, làm rõ về những vấn đề lý luận như về khái niệm cũng như đặc điểm, ý nghĩa của bảo hành công trình xây dựng.
Thứ hai, làm rõ nội dung pháp luật về bảo hành công trình xây dựng như: chủ thể tham gia bảo hành công trình xây dựng, cũng như cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ trong hoạt động bảo hành công trình giữa các chủ thể; đối tượng bảo hành công trình xây dựng và nội dung quan hệ pháp luật về bảo hành công trình xây dựng như: điều kiện bảo hành, thời hạn bảo hành, thủ tục và chi phí bảo hành.
Thứ ba, xác định sự cần thiết phải tiếp tục điều chỉnh pháp luật đối với bảo hành công trình xây dựng và các yếu tố có thể tác động đến bảo hành công trình xây dựng.
Những phân tích và nhận định trên sẽ là nền tảng để tiếp tục phân tích thực trạng pháp luật, thực tiễn thực hiện pháp luật về bảo hành công trình xây dựng, từ đó đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật pháp luật về bảo hành công trình xây dựng tại chương 2 của luận văn. Luận văn: Bảo hành công trình xây dựng theo pháp luật Việt Nam.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng pháp luật về bảo hành công trình xây dựng
