Luận văn: Thực trạng kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Hóa

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Hóa hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng về quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT môn Hóa học lớp 10 tại các trường trung học phổ thông thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Đặc điểm các trường THPT tại thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận

2.1.1 Sự hình thành, phát triển, mục tiêu, nhiệm vụ, qui mô đào tạo của Trường THPT Tháp Chàm

Trường THPT Tháp Chàm được thành lập theo quyết định số 779-QĐ/UB-NT ngày 5/8/1993 của chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Thuận, địa điểm tại 540- đường 21 tháng 8- Phường Bảo An, thành phố Phan Rang Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận. Trường tọa lạc trên diện tích 2 hecta thuộc địa bàn phường Bảo An có nhiệm vụ giảng dạy cho con em nhân dân thành phố Phan Rang- Tháp Chàm và các huyện Ninh Sơn, Ninh Phước. Trong 30 năm qua, ngành GD&ĐT đầu tư hàng chục tỉ đồng kết hợp nguồn lực đóng góp của phụ huynh và cựu học sinh chăm lo xây dựng Trường THPT Tháp Chàm khang trang với nhiều thiết bị hiện đại đáp ứng tốt nhu cầu dạy và học.

  • Đặc điểm tình hình:

Đội ngũ cán bộ, giáo viên và nhân viên.

  • Đội ngũ cán bộ, giáo viên, công nhân viên: 106 cán bộ giáo viên (BGH: 02, Hành chính: 06, Giáo viên: 98), 04 lao động hợp đồng (gồm 03 bảo vệ, 01 tạp vụ).
  • Về chất lượng đội ngũ: 100% đạt chuẩn đào tạo, trong đó có 11 thạc sĩ.

Học sinh, chất lượng đào tạo

  • Tổng số lớp hiện nay: 45.
  • Tổng số học sinh: 1824
  • Đa số các em thuộc khu vực giáp ranh thành phố PRTC.

Cơ sở vật chất

  • Diện tích đất: 2 hecta
  • Xây dựng cụ thể:

Phòng học: 34; Phòng thực hành: 06; Phòng Thư viện: 01; Phòng tin học: 02; Nhà đa năng: 01; Phòng làm việc: 13 (Ban giám hiệu, Công đoàn, Đoàn Thanh niên, y tế học đường, giáo vụ, phòng họp hội đồng, phòng tiếp dân…)

  • Thiết bị dạy học: Các thiết bị dạy học các bộ môn cho các khối lớp, mỗi khối 03 bộ.
  • Thiết bị văn phòng phục vụ công tác quản lý, dạy học: Máy phô tô 02, máy tính 12, máy in 06….

2.1.2 Sự hình thành, phát triển, mục tiêu, nhiệm vụ, qui mô đào tạo của Trường THPT Chu Văn An Luận văn: Thực trạng kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Hóa.

Trường THPT Chu Văn An- Ninh Thuận được thành lập trên cơ sở hợp nhất trường Học Sinh Giỏi của tỉnh và học sinh của các lớp THPT Phân ban của trường THPT Nguyễn Trãi, quyết định: 1899/1998/QĐ-CT của UBND tỉnh Ninh Thuận vào ngày 01/9/1998. Với hơn 18 năm sau thành lập, trường THPT Chu Văn An đã sớm khẳng định là một trong những ngôi trường có chất lượng giáo dục hàng đầu của tỉnh nhà, góp phần đào tạo nguồn nhân lực cho sự phát triển kinh tế của địa phương và đất nước ta.

  • Đặc điểm tình hình:

Đội ngũ cán bộ, giáo viên và nhân viên.

  • Đội ngũ cán bộ, giáo viên, công nhân viên: 95 cán bộ giáo viên (BGH: 03, Hành chính: 06, Giáo viên: 86), 04 lao động hợp đồng (gồm 03 bảo vệ, 01 tạp vụ).
  • Về chất lượng đội ngũ:100% đạt chuẩn đào tạo, trong đó có 8 thạc sĩ.

Học sinh, chất lượng đào tạo

  • Tổng số lớp hiện nay: 45.
  • Tổng số học sinh: 1890
  • Đa số các em thuộc khu vực thành phố PRTC.

Cơ sở vật chất

Khối phòng học: Bao gồm khối nhà kiên cố cấp I, ba đơn nguyên , một tầng trệt và 3 tầng lầu. Trường có 26 phòng học với trang bị đầy đủ điện, máy quạt, đồng hồ treo tường lớp học. Mỗi lớp đều được trang bị máy chiếu, màn hình hoặc máy vi tính và tivi 52 in có kết nối internet, giúp giáo viên ứng dụng CNTT trong phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá

Có khối phòng thí nghiệm, thực hành và phòng học bộ môn: Trường THPT Chu Văn An có 3 phòng thí nghiệm vật lý, hóa học, sinh học được trang bị đầy đủ, có 04 phòng học môn tin học trang bị máy vi tính kết nối Internet và 02 phòng học bộ môn tiếng anh. Phòng LAB và phòng MIMIOLAB trang bị hiện đại, 01 thư viện với đầy đủ sách nghiệp vụ và sách tham khảo.

Khối Hoạt động TDTT: có khu vực học môn thể dục – Quốc phòng rộng 5000 m2, trường có một nhà thi đấu đa năng, một sân đá bóng cỏ nhân tạo, một phòng đánh bóng bàn, một câu lạc bộ cầu lông hoạt động vào buổi tối và buổi sáng.

Khối Văn phòng: Trường THPT Chu Văn An có phòng làm việc ban giám hiệu, văn phòng, phòng học vụ, phòng thiết bị, phòng y tế, phòng hội đồng, phòng làm việc ban nề nếp, hội trường.

2.1.3 Sự hình thành, phát triển, mục tiêu, nhiệm vụ, qui mô đào tạo của Trường THPT Nguyễn Trãi

Vào năm 1954, Trường Trung học Duy Tân – tiền thân của trường THPT Nguyễn Trãi (Ninh Thuận) được thành lập. Trong hơn 20 năm, Trường Trung học Duy Tân đã đào tạo ra cho cả nước đông đảo trí thức và học vấn tham gia vào nhiều lĩnh vực.

Sau năm 1975, ngôi trường Trung học Duy Tân bước vào chặng đường mới: Trường THPT Nguyễn Trãi. Năm đầu tiên thành lập, nhà trường chỉ có 31 giáo viên, giảng dạy 25 lớp, với 1.242 học sinh.

Cùng với sự phát triển của đất nước, Trường THPT Nguyễn Trãi đã không ngừng trưởng thành với những bước đột phá mới, mang lại diện mạo mới đáng tự hào cho nền giáo dục tỉnh Ninh Thuận.

  • Đặc điểm tình hình: Luận văn: Thực trạng kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Hóa.

Đội ngũ cán bộ, giáo viên và nhân viên.

  • Đội ngũ cán bộ, giáo viên, công nhân viên: 108 cán bộ giáo viên (BGH: 04, Hành chính: 05, Giáo viên: 95), 04 lao động hợp đồng (gồm 02 bảo vệ, 02 tạp vụ).
  • Về chất lượng đội ngũ:100% đạt chuẩn đào tạo, trong đó có 13 thạc sĩ.

Học sinh, chất lượng đào tạo

  • Tổng số lớp hiện nay: 45.
  • Tổng số học sinh: 1842
  • Đa số các em thuộc khu vực thành phố PRTC.

Cơ sở vật chất

Năm học 2023-2024 Trường THPT Nguyễn Trãi được xây mới hoàn toàn và đi vào hoạt động từ năm học 2022-2023; được trang bị gần như đầy đủ các trang thiết bị phục vụ cho công tác quản lý, dạy và học. Cụ thể:

  • Khối phòng học: 32 phòng (được trang bị TV, loa, amply và micro).
  • Khối phòng phục vụ học tập: 14 phòng (02 phòng Tin học, 02 phòng Ngoại ngữ, 02 phòng học bộ môn, 06 phòng thí nghiệm Lý-Hóa-Sinh, 01 phòng thư viện, 01 phòng in sao đề, 02 phòng Mỹ thuật.
  • Khối phòng hành chính: 24 phòng (trong đó 01 phòng Y tế, 01phòng Hội đồng, 01 phòng họp, 01phòng truyền thống, 01 phòng Học vụ, 01 phòng Tài vụ, 02 phòng nghỉ GV, 01 phòng Công đoàn, 01 phòng tiếp dân, 01 phòng đoàn, 02 phòng làm kho chứa đồ, 01 phòng Thiết bị, 01 phòng SH chuyên môn, 04 phòng kỹ thuật nhỏ, 04 phòng Lãnh đạo, 01 phòng bảo vệ.
  • Khu vệ sinh: 16 nhà vệ sinh cho học sinh, 02 nhà vệ sinh cho HS khuyết tật, 08 nhà vệ sinh cho giáo viên.
  • Khu để xe: 01 khu để xe cho giáo viên, 03 khu để xe cho học

2.1.4 Sự hình thành, phát triển, mục tiêu, nhiệm vụ, qui mô đào tạo của Trường THPT DTNT tỉnh Ninh Thuận Luận văn: Thực trạng kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Hóa.

Trường THPT DTNT tỉnh Ninh Thuận được thành lập năm 1991; trực thuộc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Ninh Thuận, được đổi tên thành Trường PT DTNT THPT Ninh Thuận vào tháng 12/2021. Trường tọa lạc trung tâm Tp. Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận. Tổng diện tích 17.897,3 m2, cơ sở vật chất được xây dựng tương đối đầy đủ, đáp ứng yêu cầu cơ bản cho các hoạt động giáo dục.

Trường PT DTNT THPT Ninh Thuận có vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội và củng cố an ninh, quốc phòng ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số; là loại hình trường chuyên biệt mang tính chất phổ thông, dân tộc và nội trú.

  • Đặc điểm tình hình:

Đội ngũ cán bộ, giáo viên và nhân viên.

  • Đội ngũ cán bộ, giáo viên, công nhân viên: 36 cán bộ giáo viên (BGH: 03, Hành chính: 03, Giáo viên: 26), 04 lao động hợp đồng (gồm 02 bảo vệ, 02 tạp vụ).
  • Về chất lượng đội ngũ:100% đạt chuẩn đào tạo, trong đó có 4 thạc sĩ.

Học sinh, chất lượng đào tạo

  • Tổng số lớp hiện nay: 8.
  • Tổng số học sinh: 280
  • Đa số các em từ các huyện khác nhau của tỉnh Ninh Thuận.

Cơ sở vật chất

  • Năm học 2022-2023, đầu tư 01 phòng học Tin học và 01 phòng học Ngoại ngữ. Tu sửa phòng học, phòng ở học sinh nội trú.
  • Năm học 2023-2024, cải tạo phòng luyện tập, nhà đa năng theo hướng hiện đại. Xây mới nhà công vụ cho đội ngũ giáo viên có quy mô 6 phòng.
  • Năm học 2024-2025, xây dựng phòng truyền thống; mua sắm các nhạc cụ, trang phục đặc trưng. (Kế hoạch chiến lược của trường)
  • Năm học 2025-2026, sửa chữa, đầu tư bếp ăn học sinh. (Kế hoạch chiến lược của trường)

Thiết bị dạy học

  • Năm học 2022-2023, trang bị 20 máy vi tính phục vụ chuyển đổi số.
  • Năm học 2023-2024, trang bị mới cho tất cả các phòng học Tivi thông minh.

2.2. Khái quát về tổ chức khảo sát thực trạng Luận văn: Thực trạng kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Hóa.

2.2.1 Mục đích nghiên cứu

Thông qua hoạt động khảo sát để phân tích, đánh giá thực trạng về kiểm tra, đánh giá KQHT và quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT môn Hóa học lớp 10 của học sinh tại các trường THPT tạo cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất quy trình, phương pháp và kỹ thuật kiểm tra, đánh giá KQHT môn Hóa học lớp 10 tại các trường THPT tại thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

2.2.2 Nội dung nghiên cứu

Khảo sát thực trạng hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT và thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT môn Hóa học lớp 10 của HS tại các trường THPT thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận;

Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của HS: Các yếu tố khách quan và yếu tố chủ quan.

2.2.3 Phương pháp nghiên cứu

Tác giả sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi để khảo sát thực trạng.

Mục đích: Thu thập các thông tin của đối tượng về thực trạng hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT và quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của HS tại các trường THPT thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

Nội dung: Đề tài sử dụng bảng hỏi bằng phiếu trưng cầu ý kiến dành cho các đối tượng là CBQL, tổ tưởng/tổ phó chuyên môn, GV môn Hóa học và HS.

  • Cách thức tiến hành: Luận văn: Thực trạng kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Hóa.

Thiết kế bảng hỏi dựa trên những nghiên cứu cơ sở lý luận chương 1 để hoàn thiện bảng hỏi.

Liên hệ các trường THPT trên địa bàn thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận. để cung cấp cho các GV môn Hóa học, CBQL và HS phiếu trưng cầu ý kiến, đồng thời hướng dẫn HS, GV, CBQL điền các thông tin vào phiếu trực tiếp bằng bảng giấy.

Thu phiếu trưng cầu ý kiến và xử lý số liệu theo yêu cầu của đề tài.

Công cụ khảo sát bằng bảng hỏi là các phiếu trưng cầu ý kiến kết hợp sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu

Mục đích: Để nắm bắt thêm về thực trạng hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT và quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của HS tại các trường THPT thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận. Đồng thời nắm bắt thêm những khó khăn, thuận lợi cũng như các yếu tố ảnh hưởng trong hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của HS.

Đối tượng: CBQL, GV môn Hóa học và HS 04 trường tại địa bàn thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

  • Cách thức tiến hành:

Hệ thống các câu hỏi nhằm đạt được mục đích đề ra. Đặt câu hỏi, lắng nghe, ghi chép và xử lý thông tin.

Khi phỏng vấn, gửi câu hỏi để những người được phỏng vấn chuẩn bị nội dung trả lời. Sau khi phỏng vấn, thực hiện ghi chép nội dung trả lời của người được phỏng vấn để nghiên cứu, phân tích tổng hợp, rút ra nhận xét, đánh giá.

Công cụ khảo sát là hệ thống câu hỏi, phương tiện ghi chép Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động.

Mục đích: Sử dụng phương pháp này để thu thập bổ sung thêm các thông tin của đối tượng khảo sát về các nội dung liên quan đến hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT và quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của HS tại các trường THPT thành phố Phan Rang -Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

Đối tượng: Sản phẩm hoạt động của CBQL, GV môn Hóa học và ý kiến HS

Cách thức tiến hành: Tiến hành nghiên cứu, phân tích các hồ sơ quản lý như: kế hoạch; bảng điểm của học sinh; báo cáo sơ kết, tổng kết năm học và các sản phẩm khác của CBQL, GV và HS có liên quan đến hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của HS.

Công cụ khảo sát là sổ ghi chép, quan sát, kế hoạch, báo cáo…

Như vậy, sau khi thu thập các phiếu thăm dò ý kiến, dựa vào kết quả điều tra, tác giả sử dụng phần mềm SPSS để xử lý số liệu, tính điểm trung bình (ĐTB), độ lệch chuẩn (ĐLC), thứ bậc, kiểm định thống kê các số liệu thu được.

2.2.4 Mẫu khảo sát Luận văn: Thực trạng kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Hóa.

Để tổ chức điều tra, khảo sát thực trạng, tác giả tiến hành khảo sát thông qua phiếu trưng cầu ý kiến CBQL, GV, HS tại 04 trường THPT thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận, bao gồm: 01 bảng hỏi, 01 phiếu phỏng vấn dành cho CBQL, 01 bảng hỏi dành cho GV Hóa học, 01 bảng hỏi dành cho HS. Đề tài lựa chọn các trường THPT thuộc thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận:

Tiến hành khảo sát thực trạng hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT và quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT môn Hóa học lớp 10, tác giả đã hỏi ý kiến CBQL, GV và HS 04 trường THPT thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận với số lượng như sau:

  • Bảng 2.1. Số lượng CBQL, GV Hóa học, HS được khảo sát

Chúng tôi tiến hành khảo sát ý kiến 20 CBQL bao gồm 04 Hiệu trưởng, 09 Phó Hiệu trưởng, 07 Tổ trưởng/tổ phó chuyên môn, 19 GV dạy môn Hóa học và 205 HS. Đặc điểm các đối tượng được khảo sát trình bày ở bảng 2.2 như sau:

  • Bảng 2.2. Đặc điểm CBQL, GV được khảo sát

Theo số liệu Bảng 2.2 cho thấy, đối tượng khảo sát là 20 CBQL và 19 GV: về giới tính đối với CBQL có 85,0% là nam và 15,0% là nữ, đối với GV có 36,8% là nam, 63,2% là nữ; về độ tuổi khá đa dạng, độ tuổi của GV khảo sát tập trung khoảng từ 30 – 40 tuổi, chiếm tỷ lệ 78,9%, dưới 30 tuổi chiếm 10,5%, độ tuổi từ 40 – 50 tuổi với CBQL chiếm 70,0%, trên 50 tuổi chiếm 25,0%; trình độ đào tạo đạt chuẩn với CBQL chiếm 80%, trên chuẩn chiếm 20,0% ; với GV trình độ đạt chuẩn chiếm 68,4%, trên chuẩn chiếm 31,6%; về thâm niên công tác với CBQL có tỉ lệ: dưới 5 năm chiếm 0%, từ 5 – 10 năm chiếm 0%, từ 11 – 15 năm chiếm 5,0%, trên 15 năm chiếm 95,0%. Trong 20 CBQL có 15,0% có thâm niên quản lý dưới 5 năm, 30,0% CBQL có thâm niên quản lý từ 5 đến 10 năm và thâm niên quản lý từ 11 – 15 năm chiếm tỷ lệ 35,0%, trên 15 năm chiếm tỷ lệ 20,0%.

Qua số liệu phân tích ở trên, đối tượng khảo sát là CBQL, GV dạy môn Hóa học ở các trường THPT thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận đa dạng, phong phú về giới tính, độ tuổi, trình độ chuyên môn, thâm niên công tác, thâm niên quản lý. Vì vậy, tác giả đề tài luận văn có thể thu được những thông tin, phản hồi phản ánh về các nội dung mang tính đa chiều, toàn diện và khách quan về thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của HS các trường THPT thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận.

Tác giả tiến hành thăm dò ý kiến của 18,6% (205/1104) học sinh lớp 10 có học môn Hóa Học của 04 trường THPT trên địa bàn thành phố Phan Rang – Tháp Chàm để tìm hiểu thực trạng hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT môn Hóa học. Đặc điểm của đối tượng khảo sát như sau: Luận văn: Thực trạng kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Hóa.

  • Bảng 2.3. Đặc điểm học sinh được khảo sát

2.2.5 Xây dựng thang đo

Trong mỗi nội dung của phiếu trưng cầu ý kiến đều có 5 lựa chọn khác nhau và được quy ước bằng các mức điểm thang đo tương ứng. Dựa vào đó để phân tích kết quả khảo sát thực trạng, để đánh giá và phân tích số liệu từ phiếu trưng cầu ý kiến thuận lợi hơn, các thông tin thu thập được quy ước dựa vào giá trị trung bình trong thang đo Likert với 5 mức giá trị khoảng cách = (Max – Min)/n = (5 – 1)/5 = 0,8. Từ định khoảng là 0,8 quy ước đánh giá các mức độ của từng yếu tố dựa vào giá trị điểm trung bình lần lượt tương ứng theo bảng 2.4 như sau:

  • Bảng 2.4. Quy ước thang đo

Việc xử lý kết quả từ các phiếu trưng cầu ý kiến dựa vào phương pháp thống kê định lượng kết quả nghiên cứu. Đề tài sử dụng hai phương pháp đánh giá là: đánh giá định lượng theo tỷ lệ % và phương pháp cho điểm.

2.2.6 Kiểm tra độ tin cậy của thang đo trong công cụ điều tra, khảo sát

Để xử lý các kết quả định lượng thu được từ cuộc khảo sát làm cơ sở để biện luận kết quả nghiên cứu. Tác giả thống kê mô tả: tính tổng, điểm trung bình, tỷ lệ phần trăm…, so sánh kết quả giữa các nhóm khách thể, các mặt khác nhau trong cùng một chỉ báo nghiên cứu. Sử dụng phần mềm thống kê toán học SPSS để xử lý các dữ kiện thu được phục vụ cho việc phân tích số liệu trong quá trình nghiên cứu.

Từ số liệu điều tra thu được, tác giả tiến hành xử lý số liệu phiếu trên phần mềm SPSS 20.0. Từng mục của cột kháo sát ý kiến của CBQL, GV, HS tác giả quy ước bằng những điểm số tương ứng. Tất cả các câu hỏi ở phần nội dung đều thuộc dạng câu hỏi đánh giá trên 5 mức độ được gợi ý sẵn. Để thuận tiện cho việc đánh giá, phân tích số liệu hợp lý và khoa học, các thông tin thu thập được từ phiếu khảo sát thực trạng được qui ước dựa vào giá trị trung bình trong thang đo Likert với 5 mức giá trị khoảng cách = (Maximum – Minimum)/n = (5–1)/5 = 0.8.

2.3. Thực trạng về hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Hóa học lớp 10 tại các trường trung học Phổ thông Thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận

2.3.1. Thực trạng nhận thức của GV và HS về vai trò của hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT môn Hóa lớp 10 tại các trường THPT thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận

Để tìm hiểu thực trạng nhận thức của GV, HS về vai trò của hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của HS tại các trường THPT thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận, tác giả tiến hành khảo sát ý kiến của 19 GV dạy môn Hóa học, 205 HS tại các trường THPT thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận. Kết quả thu được trình bày ở bảng 2.5; 2.6 như sau:

  • Bảng 2.5. Ý kiến của GV về vai trò của hoạt động Kiểm tra, đánh giá KQHT môn Hóa Học lớp 10 tại các trường THPT thành phố Phan Rang- Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận Luận văn: Thực trạng kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Hóa.

Qua kết quả khảo sát ở bảng 2.5, ý kiến của GV dạy môn Hóa học cho rằng: Hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT môn Hóa học lớp 10 tại các trường THPT thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận là đồng ý với điểm TBC là 3,82. Trong đó:

Theo GV dạy môn Hóa học cho rằng “Kiểm tra, đánh giá KQHT là HĐ thường xuyên trong quá trình dạy học kể từ lúc bắt đầu cho đến kết thúc” được là quan trọng nhất với ĐTB = 4,26; nội dung “Kiểm tra, đánh giá KQHT của HS là điều kiện đủ để hoàn thành mục tiêu và nâng cao hiệu quả của quá trình dạy học” được đánh giá với ĐTB thấp nhất là 3,26. Các nội dung còn lại với điểm ĐTB từ lượt là 3,47 đến 4,05 đều tương ứng với mức độ Đồng ý.

Độ lệch chuẩn của các nội dung từ 0,806 đến 0,933 cho thấy có sự khác biệt lớn giữa các nhận định của những GV dạy môn Hóa học.

Từ kết quả khảo sát trên có thể nhận thấy GV dạy môn Hóa học có nhận thức đúng về vai trò của hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của HS tại các trường THPT là hoạt động cần thiết và có vai trò quan trọng trong các hoạt động giáo dục nói chung và hoạt động dạy học nói riêng của nhà trường.

  • Bảng 2.6. Ý kiến của HS về vai trò của hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT môn Hóa học lớp 10 tại các trường THPT thành phố Phan Rang- Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận

Qua kết quả khảo sát ở bảng 2.6, ý kiến của HS lớp 10 cho rằng hoạt động Kiểm tra, đánh giá KQHT môn Hóa Học tại các trường THPT thành phố Phan Rang- Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận là đồng ý với điểm TBC là 3,95. Trong đó:

Theo HS cho rằng “Kiểm tra, đánh giá có vai trò rất to lớn đến việc nâng cao chất lượng dạy học. Kết quả của kiểm tra, đánh giá là cơ sở để điều chỉnh hoạt động dạy của GV và hoạt động học của HS” được là quan trọng nhất với ĐTB = 4,2; nội dung “Kiểm tra, đánh giá có vai trò quan trọng trong việc tạo động cơ, thái độ học tập tích cực cho HS, hoàn thiện quá trình dạy học” được đánh giá với ĐTB thấp nhất là 3,7. Các nội dung còn lại đều được đánh giá với mức độ Đồng ý.

ĐLC của các nội dung từ 0,72 đến 0,908 cho thấy có sự khác biệt lớn giữa các nhận định của HS học môn Hóa học lớp 10.

2.3.2. Thực trạng về thực hiện mục tiêu kiểm tra, đánh giá KQHT môn Hóa Học lớp 10 tại các trường THPT thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận Luận văn: Thực trạng kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Hóa.

Đề tài tiến hành khảo sát ý kiến của GV và HS tại các trường THPT thành phố Phan Rang- Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận để tìm hiểu thực trạng nhận thức của CBQL, GV về mục tiêu hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của HS, kết quả thu được trình bày ở bảng 2.7 như sau:

  • Bảng 2.7. Nhận thức của GV về mục tiêu của hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của HS

Kết quả bảng 2.7 điểm TBC của GV dạy môn Hóa học là 3,17 tương ứng với mức độ Đồng ý một phần, cho thấy GV đã nhận định đúng phần nào về mục tiêu của hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của HS. Tuy nhiên, kết quả thu được cho thấy mức độ đồng ý các mục tiêu của hoạt động kiểm tra, đánh giá là khác nhau.

Mục tiêu được GV dạy môn Hóa học đánh giá cao nhất là mục tiêu “Mục tiêu của kiểm tra, đánh giá KQHT nhằm tác động tích cực tới HS: Tác động của kiểm tra, đánh giá KQHT thường xuyên sẽ kích thích hoạt động học tập, cung cấp cho HS những thông tin phản hồi về quá trình học tập” với ĐTB là 4,11; mục tiêu đánh giá thấp nhất với ĐTB = 3,42 là “Mục tiêu của kiểm tra đánh giá KQHT nhằm tác động tích cực đến CBQL giáo dục: Thông qua Kiểm tra đánh giá KQHT đã cung cấp được những thông tin cơ bản về thực trạng việc dạy và học trong nhà trường, qua đó có những biện pháp chỉ đạo kịp thời, phù hợp”. Các mục tiêu còn lại đều được đánh giá với mức độ Đồng ý.

ĐLC của các nội dung từ 0,749 đến 0,848 cho thấy có sự khác biệt lớn giữa các nhận định của GV dạy môn Hóa học.

Thực trạng về thực hiện nội dung kiểm tra, đánh giá KQHT môn Hóa Học lớp 10 tại các trường THPT thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận Tác giả khảo sát ý kiến của GV dạy Hóa học tại các trường THPT thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận về thực trạng thực hiện nội dung hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của HS, kết quả thu được ở bảng 2.8 như sau:

  • Bảng 2.8. Ý kiến của GV về thực trạng thực hiện nội dung hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của HS

Kết quả bảng 2.8 điểm TBC của GV dạy môn Hóa học là 3,55 tương ứng với mức độ Đồng ý, cho thấy GV đã nhận định đúng phần nào về nội dung của hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của HS. Tuy nhiên, kết quả thu được cho thấy mức độ đồng ý các nội dung của hoạt động kiểm tra, đánh giá là khác nhau.

Nội dung được GV dạy môn Hóa học đánh giá cao nhất là nội dung “Kiểm tra, đánh giá mức độ nắm vững kiến thức: Nhận biết, Vận dụng kiến thức vào các tình huống cụ thể, vận dụng kiến thức vào thực tế một cách sâu sắc và làm chủ kiến thức” với ĐTB là 3,95; nội dung đánh giá thấp nhất với ĐTB = 2,89 là “Ghi nhận xét vào phiếu, vở, sản phẩm học tập của HS về những kết quả đã làm được, chưa làm được, mức độ hiểu và năng lực vận dụng kiến thức, mức độ thành thạo các thao tác, kỹ năng cần thiết”. Các nội dung còn lại đều được đánh giá với mức độ Đồng ý. Luận văn: Thực trạng kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Hóa.

ĐLC của các nội dung từ 0,749 đến 1,032 cho thấy có sự khác biệt lớn giữa các nhận định của GV dạy môn Hóa học.

2.3.4. Thực trạng về thực hiện phương pháp kiểm tra, đánh giá KQHT môn Hóa Học lớp 10 tại các trường THPT thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận

  • Bảng 2.9. Ý kiến của GV về thực trạng thực hiện phương pháp kiểm tra, đánh giá KQHT của HS

Kết quả bảng 2.9 điểm TBC của GV dạy môn Hóa học là 3,86 tương ứng với mức độ Đồng ý, cho thấy GV đã nhận định đúng phần nào về thực trạng thực hiện phương pháp kiểm tra, đánh giá KQHT của HS; Nội dung được GV dạy môn Hóa học đánh giá cao nhất là nội dung “Phương pháp trắc nghiệm khách quan kết hợp tự luận” với ĐTB là 4,32; nội dung đánh giá thấp nhất với ĐTB = 3,21 là “Phương pháp thực hành”. Các nội dung còn lại đều được đánh giá với mức độ Đồng ý.

ĐLC của các nội dung từ 0,602 đến 0,809 cho thấy có sự khác biệt lớn giữa các nhận định của GV dạy môn Hóa học.

  • Bảng 2.10. Ý kiến của HS về thực trạng thực hiện phương pháp kiểm tra, đánh giá KQHT của HS

Kết quả bảng 2.10 điểm TBC của HS học môn Hóa học là 3,65 tương ứng với mức độ Đồng ý, cho thấy HS đã nhận định đúng phần nào về thực trạng thực hiện phương pháp kiểm tra, đánh giá KQHT của HS. Nội dung được HS học môn Hóa học đánh giá cao nhất là nội dung “Phương pháp trắc nghiệm khách quan kết hợp tự luận” với ĐTB là 4,25; nội dung đánh giá thấp nhất với ĐTB = 2,98 là “Phương pháp quan sát”. Các nội dung khác đều được đánh giá với mức độ Đồng ý.

ĐLC của các nội dung từ 0,793 đến 1,043 cho thấy có sự khác biệt lớn giữa các nhận định của HS học môn Hóa học.

2.3.5 Thực trạng về thực hiện hình thức kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Hóa Học lớp 10 tại các trường trung học phổ thông thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận

Bảng 2.11. Ý kiến của GV về thực trạng thực hiện hình thức kiểm tra, đánh giá KQHT của HS

Kết quả bảng 2.11 điểm TBC của GV dạy môn Hóa học là 4,37 tương ứng với mức độ Rất đồng ý, cho thấy GV đã nhận định đúng về thực trạng thực hiện thực hiện hình thức kiểm tra, đánh giá KQHT của HS. Hình thức được GV dạy môn Hóa học đánh giá cao nhất là “Hình thức kiểm tra, đánh giá định kỳ được tiến hành sau một giai đoạn học tập: KT giữa kỳ, KT cuối một học kỳ để xác định KQHT của HS” với ĐTB là 4,47; nội dung đánh giá thấp hơn với ĐTB = 4,26 đều tương ứng với mức độ Rất đồng ý.

ĐLC của các nội dung từ 0,697 đến 0,733 cho thấy không có sự khác biệt lớn giữa các nhận định của GV dạy môn Hóa học.

  • Bảng 2.12. Ý kiến của HS về thực trạng thực hiện hình thức kiểm tra, đánh giá KQHT của HS

Kết quả bảng 2.12 điểm TBC của HS học môn Hóa học là 4,29 tương ứng với mức độ Rất đồng ý, cho thấy HS đã nhận định đúng về thực trạng thực hiện thực hiện hình thức kiểm tra, đánh giá KQHT của HS. Hình thức được HS học môn Hóa học đánh giá cao nhất là “Hình thức kiểm tra, đánh giá thường xuyên: GV cho các bài kiểm tra viết, bài kiểm tra trắc nghiệm trong thời gian ngắn hoặc giao dự án nhỏ về nhà thực hiện để nhận xét việc thực hiện nhiệm vụ của HS; sự tiến bộ, ưu điểm nổi bật, hạn chế chủ yếu của người học” với ĐTB là 4,35; nội dung đánh giá thấp hơn với ĐTB = 4,23 đều tương ứng với mức độ Rất đồng ý.

ĐLC của các nội dung từ 0,722 đến 0,761 cho thấy không có sự khác biệt lớn giữa các nhận định của HS học môn Hóa học.

2.3.6. Thực trạng về các điều kiện thực hiện hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT môn Hóa Học lớp 10 tại các trường THPT thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận Luận văn: Thực trạng kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Hóa.

  • Bảng 2.13. Ý kiến của GV về thực trạng điều kiện thực hiện hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của HS

Kết quả bảng 2.13 điểm TBC của GV dạy môn Hóa học là 4,16 tương ứng với mức độ Đồng ý, cho thấy GV đã nhận định đúng về thực trạng thực hiện điều kiện thực hiện hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của HS. Điều kiện được GV dạy môn Hóa học đánh giá cao nhất là “Điều kiện về tài chính: Cân đối các khoản trong nhà trường cũng như từ các nguồn xã hội hóa để đảm bảo kinh phí cho kiểm tra đánh giá KQHT của HS” với ĐTB là 4,37; nội dung đánh giá thấp hơn với ĐTB = 3,95 là “Cơ sở vật chất và thiết bị: đánh giá thực trạng CSVC, thiết bị trường học hiện có, …” nội dung với ĐTB = 4,16 là “Điều kiện về nguồn nhân lực: cần đảm bảo nguồn nhân lực đủ về số lượng CBQL, GV đảm bảo đúng vị trí việc làm;…” tương ứng với mức độ lần lượt là Rất đồng ý và Đồng ý.

ĐLC của các nội dung từ 0,684 đến 1,026 cho thấy có sự khác biệt lớn giữa các nhận định của GV dạy môn Hóa học.

2.4. Thực trạng về quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Hóa học lớp 10 tại các trường trung học phổ thông thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận

2.4.1. Thực trạng nhận thức về tầm quan trọng của quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Hóa học lớp 10 tại các trường trung học phổ thông thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận

  • Bảng 2.14. Ý kiến của CBQL về tầm quan trọng của hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT môn Hóa học lớp 10 tại các trường THPT thành phố Phan Rang- Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận

Qua kết quả khảo sát ở bảng 2.14, ý kiến của CBQL cho rằng vai trò của hoạt động hoạt động Kiểm tra, đánh giá KQHT môn Hóa Học lớp 10 tại các trường THPT thành phố Phan Rang- Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận là Rất đồng ý với điểm TBC là 4,28. Trong đó:

Theo CBQL cho rằng “Quản lý HĐ kiểm tra, đánh giá KQHT của HS chính là các HĐ do lãnh đạo nhà trường trực tiếp chỉ đạo…” là quan trọng nhất với ĐTB = 4,55; nội dung “Quản lý HĐ kiểm tra, đánh giá KQHT của HS là nhằm mục đích đánh giá chính xác, khách quan…” được đánh giá với ĐTB thấp nhất là 3,95. Các nội dung còn lại đều được đánh giá với mức độ Đồng ý và Rất đồng ý.

ĐLC của các nội dung từ 0,605 đến 0,988 cho thấy có sự khác biệt lớn giữa các nhận định của những CBQL.

Tác giả kết hợp phỏng vấn CBQL, GV về vai trò và sự cần thiết của hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT môn Hóa học lớp 10 của HS nhận được các câu trả lời như sau: Luận văn: Thực trạng kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Hóa.

CBQL01: kiểm tra, đánh giá theo chương trình giáo dục mới là một hoạt động bắt buộc trong hoạt động giáo dục nhằm phát triển năng lực HS, nhà trường thực hiện kiểm tra, đánh giá theo quy định của Bộ GD&ĐT, kiểm tra, đánh giá dựa vào Thông tư 58 và Thông tư 22.

CBQL03: Dựa vào kết quả của hoạt động kiểm tra, đánh giá giúp BGH nắm bắt được khả năng, năng lực dạy học theo ướng phát triển năng lực HS của mỗi GV, HS của mình nổi trội về những năng lực nào và năng lực nào còn hạn chế, từ đó có thể khai thác tốt các điểm mạnh trong học tập của HS và đưa ra hướng khắc phục những hạn chế của các em.

CBQL04: Từ kết quả của hoạt động kiểm tra, đánh giá giúp CBQL biết được mức độ đạt được của HS so với yêu cầu cần đạt của chương trình học. Bên cạnh đó, kiểm tra, đánh giá còn phản ánh năng lực giảng dạy của GV, phương pháp dạy học phù hợp hay không? Qua đó, giúp bản thân CBQL góp ý để GV hoàn thiện hơn về chuyên môn, nâng cao năng lực sư phạm để theo kịp sự thay đổi, tiếp cận cái mới phù hợp đổi mới giáo dục hiện nay.

Qua kết quả khảo sát và phỏng vấn cho thấy nhận thức của CBQL về hoạt động kiểm tra, đánh giá là đúng đắn. Hoạt động kiểm tra, đánh giá phản ảnh kết quả học tập và giáo dục ở các giai đoạn, cung cấp thông tin để CBQL, GV và HS cải tiến quá trình học tập và giáo dục hiệu quả hơn trong thời gian tới.

2.4.2. Thực trạng về lập kế hoạch kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Hóa học lớp 10 tại các trường trung học phổ thông thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận

  • Bảng 2.15. Ý kiến của CBQL về thực trạng lập kế hoạch kiểm tra, đánh giá KQHT của HS

Theo kết quả khảo sát, các nội dung xây dựng kế hoạch quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của HS được thực hiện như sau:

Về mức độ thực hiện: Nội dung Thường xuyên thực hiện nhất là “Hình thành kế hoạch kiểm tra, đánh giá môn học;…” ĐTB là 4,2 và nội dung “Nghiên cứu định hướng, yêu cầu đổi mới kiểm tra, đánh giá, qui chế đánh giá, xếp loại theo chương trình môn học” có ĐTB thấp nhất là 3,45. Các nội dung còn lại đều được đánh giá với mức độ thực hiện Thường xuyên.

ĐLC từ 0,745 đến 1,146 ở mỗi mức độ thực hiện thể hiện sự không đồng lòng trong đánh giá của CBQL. Như vậy, việc xác định mục tiêu, tiêu chí cho kế hoạch kiểm tra, đánh giá được CBQL chú trọng, GV xây dựng kế hoạch KT, ĐG để định hướng phương pháp, kỹ thuật dạy học để nâng cao hiệu quả dạy học. Việc đầu tư trang thiết bị, tu sửa cơ sở vật chất cũng được quan tâm nhưng còn phụ thuộc vào nguồn kinh phí từ cấp trên và xã hội hóa.

Qua phỏng vấn, một số CBQL cho rằng: Việc lập kế hoạch kiểm tra, đánh giá của nhà trường dựa trên cơ sở kế hoạch chung của Sở GD&ĐT và dựa trên Thông tư của Bộ GD&ĐT, thông tư hiện hành là Thông tư số 22/2021/TT-BGDĐT Quy định về đánh giá học sinh trung học cơ sở và học sinh trung học phổ thông (CBQL05).

Kết quả trên cho thấy, việc xây dựng kế hoạch hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của HS đã được thực hiện ở các trường THPT thành phố Phan Rang- Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận. Qua nghiên cứu và tìm kiếm tài liệu liên quan đến hoạt động kiểm tra, đánh giá tác giả nhận thấy kế hoạch kiểm tra, đánh giá được xây dựng chung trong kế hoạch hoạt động của nhà trường và chưa có văn bản về kế hoạch, quy định và hướng dẫn thực hiện riêng biệt. Các đơn vị thực hiện xây dựng kế hoạch kiểm tra, đánh giá trong kế hoạch chuyên môn dựa trên kế hoạch năm học của Sở GD&ĐT và thông tư quy định về kiểm tra, đánh giá của Bộ GD&ĐT. Luận văn: Thực trạng kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Hóa.

2.4.3. Thực trạng về tổ chức hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Hóa học lớp 10 tại các trường trung học phổ thông thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận

  • Bảng 2.16. Ý kiến của CBQL về thực trạng tổ chức kiểm tra, đánh giá KQHT môn Hóa học lớp 10 của HS

Từ kết quả ở Bảng 2.16 thấy được mức độ thực hiện của việc tổ chức thực hiện quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của HS có điểm TBC = 3,74 tương ứng với mức độ thực hiện Thường xuyên. Tuy mức độ thực hiện là Thường xuyên nhưng điểm TBC tương đối thấp cao, cho thấy các nội dung thực hiện khá thường xuyên.

Về mức độ thực hiện: Nhóm nội dung được thường xuyên tổ chức thực hiện bao gồm nội dung“Tổ chức quán triệt nội dung kế hoạch kiểm tra, đánh giá tới toàn thể CBQL, GV, nhân viên, HS toàn trường” có ĐTB cao nhất là 4,25 tương ứng với mức độ thực hiện Rất thường xuyên; Nội dung “Tổ chức sắp xếp, phân bổ nhân lực cho hoạt động kiểm tra, đánh giá: Thành lập hội đồng kiểm tra,…” có ĐTB = 3,85 tương ứng với mức độ thực hiện thường xuyên; Các nội dung còn lại đều tương ứng với mức độ thực hiện thường xuyên.

2.4.4. Thực trạng về chỉ đạo kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Hóa Học lớp 10 tại các trường trung học phổ thông thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận

  • Bảng 2.17. Ý kiến của CBQL về thực trạng chỉ đạo kiểm tra, đánh giá KQHT môn Hóa học lớp 10 của HS

Từ kết quả ở bảng 2.17 cho thấy CBQL các trường THPT thành phố Phan Rang- Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận đã chỉ đạo thực hiện quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của HS một cách Thường xuyên với điểm TBC là 4,02

Về mức độ thực hiện: Ba nội dung Thường xuyên nhất với ĐTB là 4,2; 4,15 và 4,15 lần lượt là nội dung “Chỉ đạo lựa chọn phương án tối ưu …”; “Chỉ đạo các tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch kiểm tra, đánh giá…” và nội dung “Chỉ đạo tăng cường công tác kiểm tra, giám sát; xử lý nghiêm những vi phạm trong kiểm tra, đánh giá, …”. Các nội dung còn lại có ĐTB từ 3,8 đến 3,95 đều tương ứng mới mức độ thực hiện Thường xuyên.

2.4.5. Thực trạng về kiểm tra, đánh giá hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Hóa học lớp 10 tại các trường trung học phổ thông thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận Luận văn: Thực trạng kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Hóa.

  • Bảng 2.18. Ý kiến của CBQL về thực trạng kiểm tra, đánh giá hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT môn Hóa học lớp 10 của HS

Từ kết quả thu được, nhận thấy CBQL đã thực hiện công tác kiểm tra, đánh giá quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của HS tại các trường THPT trên địa bàn thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận một cách Thường xuyên với điểm TBC là 3,69

Về mức độ thực hiện: nội dung được kiểm tra, đánh giá Thường xuyên nhất với ĐTB là 4,25 là nội dung “Xác định hình thức kiểm tra, đánh giá hoạt động kiểm tra đánh giá KQHT của HS…”, đây là nội dung không thể thiếu trong công tác quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của HS. Nội dung “Xác định mục đích, nội dung HĐ kiểm tra đánh giá KQHT của HS…” được thực hiện Thường xuyên với ĐTB là 4,2; Nội dung “Xây dựng và phổ biến các tiêu chí đánh giá…” có ĐTB là 3,95; Nội dung “Nhận xét, tổng kết và rút kinh nghiệm tổ chức HĐ kiểm tra, đánh giá KQHT của HS sau mỗi kỳ kiểm tra” tương ứng với mức độ thực hiện Thường xuyên. Các nội dung còn lại bao gồm nội dung “Thực hiện kiểm tra định kỳ, kiểm tra đột xuất…”; nội dung “Khen thưởng cá nhân và tập thể có thành tích tốt…” có ĐTB lần lượt là 3,2 và 3,1 được thực hiện ít thường xuyên nhất. Có thể lý giải do CBQL ít có thời gian tham dự các tiết dạy của tất cả GV nên việc kiểm tra năng lực về việc thực hiện kiểm tra định kỳ, đột xuất chưa được thực hiện thường xuyên và lý do nguồn lực tài chính eo hẹp nên việc kịp thời khen thưởng GV có thành tích tốt phần nào bị hạn chế.

Qua phỏng vấn, CBQL cho rằng việc kiểm tra, đánh giá quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của HS được nhà trường thực hiện thông qua việc kiểm tra hồ sơ sổ sách thường kỳ, tổ chuyên môn kiểm tra 1 tháng/1 lần, BGH kiểm tra, kí duyệt 1 học kỳ/1 lần. Hàng tháng kiểm tra sư phạm một số GV ở các tổ để đánh giá năng lực chuyên môn, năng lực sư phạm của giáo viên. CBQL sơ kết, tổng kết kết quả kiểm tra, đánh giá qua sinh hoạt tổ chuyên môn, họp Liên tịch, họp BGH để rút kinh nghiệm trong quá trình thực hiện.

Ở mỗi học kỳ, kiểm tra, đánh giá định kỳ được tổ chức 2 lần, Tổ chuyên và BGH duyệt đề, theo dõi, kiểm tra công tác kiểm tra, chấm bài và nhập điểm. Sau mỗi đợt kiểm tra, đánh giá định kỳ, CBQL sẽ đánh giá những điểm làm được và chưa làm được để phát huy điểm mạnh, khắc phục điểm yếu trong thời gian tới.

2.5. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Hóa học lớp 10 tại các trường trung học phổ thông thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận

2.5.1. Các yếu tố khách quan

Để phân tích, đánh giá đúng về những yếu tố khách quan ảnh hưởng đến quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT môn Hóa học lớp 10 tại các trường THPT thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận, tác giả tiến hành khảo sát ý kiến của CBQL các trường. Kết quả khảo sát được trình bày ở dạng biểu đồ 2.1 như sau:

  • Biểu đồ 2.1. Thực trạng các yếu tố khách quan ảnh hưởng đến quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của HS

Từ biểu đồ 2.1 cho thấy các yếu tố khách quan đều Ảnh hưởng nhiều đến quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của HS. Trong đó, yếu tố “Chế độ chính sách dành cho hoạt động kiểm tra, đánh giá” ảnh hướng nhiều nhất với ĐTB là 4,35, yếu tố “CSVC và các điều kiện phục vụ hoạt động kiểm tra, đánh giá” có ĐTB là 4,25 và yếu tố “Các văn bản pháp lý quy định về kiểm tra, đánh giá” có ĐTB là 4,2, yếu tố “Sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận có liên quan đến hoạt động kiểm tra, đánh giá” có ĐTB thấp nhất là 3,85.

Qua phỏng vấn, CBQL cho biết: Quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của HS phụ thuộc chủ yếu vào quy định của ngành. Để thực hiện các chức năng quản lý cần xây dựng kế hoạch dựa trên các văn bản pháp lý của Bộ GD&ĐT và kế hoạch năm học của Sở GD&ĐT Ninh Thuận. Điều kiện CSVC, trang thiết bị của nhà trường cũng ảnh hưởng không nhỏ đến việc triển khai hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của HS và công tác quản lý hoạt động của CBQL. Từ kết quả khảo sát và phỏng vấn, cho thấy các yếu tố khách quan ảnh hưởng nhiều đến quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của HS.

2.5.2. Các yếu tố chủ quan Luận văn: Thực trạng kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Hóa.

Để đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan đến quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT môn Hóa học lớp 10 tại các trường THPT thành phố Phan Rang- Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận, tác giả đã tiến hành khảo sát CBQL trên địa bàn và thu được kết quả được trình bày ở dạng biểu đồ 2.2 như sau:

  • Biểu đồ 2.2. Thực trạng các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của HS

Qua biểu đồ 2.2, cho thấy: Kết quả khảo sát ý kiến của CBQL về các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT môn Hóa học lớp 10 là Ảnh hưởng nhiều và Ảnh hưởng rất nhiều. Trong đó, hai yếu tố “Nhận thức của CBQL, GV và HS về hoạt động kiểm tra, đánh giá” và yếu tố “Phẩm chất, năng lực của GV thực hiện hoạt động kiểm tra, đánh giá” có ĐTB là 4,2 Ảnh hưởng nhiều đến quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của HS. Yếu tố “Trách nhiệm, tính chủ động, tích cực của CBQL, GV và các bộ phận liên quan” cũng có Ảnh hưởng nhiều đến quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của HS nhưng có ĐTB thấp hơn 2 yếu tố trên (ĐTB là 4.1).

Tiến hành phỏng vấn, CBQL cho rằng: Chất lượng các hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của HS phụ thuộc nhiều vào năng lực quản lý của CBQL, năng lực sư phạm của GV và trình độ nhận thức của HS, năng lực sư phạm của GV đóng vai trò quan trọng trong quá trình giáo dục. Trước mục tiêu đổi mới giáo dục, đổi mới theo Chương trình GDPT 2018, quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT môn Hóa học lớp 10 ở các trường THPT trên địa bàn thành phố Phan Rang – Tháp Chàm cần có sự thay đổi nhiều. Để đảm bảo sự đổi mới trong quản lý giáo dục rất cần những CBQL có năng lực, năng động, đổi mới tư duy, đổi mới cách thức quản lý nhằm đáp ứng mục tiêu giáo dục theo chương trình đổi mới hiện nay.

2.6. Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Hóa lớp 10 tại các trường trung học phổ thông thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận

2.6.1. Những ưu điểm

Qua nghiên cứu và khảo sát lấy ý kiến về các nội dung quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT môn Hóa học lớp 10 cho thấy công tác quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của HS được CBQL và GV các trường THPT trên địa bàn thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận đang được quan tâm và thực hiện.

Đa số CBQL và GV đã có nhận thức đúng đắn về vai trò, mục tiêu, tầm quan trọng của hoạt động kiểm tra, đánh giá và công tác quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT môn Hóa học lớp 10 của HS.

Cán bộ quản lý các trường đã triển khai thực hiện quá trình dạy học và kiểm tra, đánh giá, GV nắm bắt được phương pháp, hình thức và mục tiêu kiểm tra, đánh giá KQHT của HS. Từ đó, GV thực hiện được đa dạng hóa các hình thực hoạt động kiểm tra, đánh giá phù hợp với năng lực, lứa tuổi và điều kiện của nhà trường.

Cán bộ quản lý đã thực hiện thường xuyên công tác xây dựng kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo thực hiện và kiểm tra đánh giá hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của HS. Luận văn: Thực trạng kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Hóa.

2.6.2. Những hạn chế

Ngoài những kết quả đạt được, quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT môm Hóa học lớp 10 của HS trên địa bàn thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận vẫn còn nhiều hạn chế cần khắc phục như:

Cán bộ quản lý một số trường chưa xây dựng văn bản cụ thể và riêng biệt về hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của HS mà hoạt động này chủ yếu được xây dựng lồng ghép với kế hoạch năm học, kế hoạch chuyên môn của nhà trường. Chưa có hệ thống các quy định, quy chế hướng dẫn GV thực hiện kiểm tra, đánh giá quá trình học tập của HS.

Công tác tổ chức thực hiện quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá thực hiện không thường xuyên nên hiệu quả chưa cao. Việc tổ chức bồi dưỡng nâng cao năng lực sư phạm về kiểm tra, đánh giá cho đội ngũ GV chưa được chú trọng nên GV chưa mạnh dạn thực hiện các hình thức, phương pháp kiểm tra, đánh giá, còn mơ hồ trong việc sử dụng các công cụ kiểm tra, đánh giá theo phương pháp mới.

Công tác giám sát, thu thập thông tin quá trình thực hiện hoạt động chưa sâu sát và chưa đạt hiệu quả. Chưa có sự khích lệ, động viên và tạo động lực để GV thực hiện tốt hoạt động kiểm tra, đánh giá.

Công tác kiểm tra, đánh giá hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của HS còn hạn chế, kết quả thực hiện các nội dung chưa cao. Việc kiểm tra sự phối hợp thực hiện của các cá nhân, bộ phận tham gia vào hoạt động kiểm tra, đánh giá chưa đạt hiệu quả cao.

Điều kiện về CSVC, các nguồn lực để phục vụ công tác quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT cho HS chưa đầy đủ.

2.6.3. Nguyên nhân

Từ kết quả khảo sát, phỏng vấn CBQL, GV và khảo sát HS các trường cho thấy có nhiều nguyên nhân khác nhau ảnh hưởng đến quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của HS tại các trường THPT trên địa bàn thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận:

Hoạt động kiểm tra, đánh giá theo Chương trình GDPT 2018 là hoạt động tương đối mới. Năm học 2022 – 2023 chỉ áp dụng kiểm tra, đánh giá ở khối lớp 10, chưa đồng bộ ở tất cả các khối lớp nên việc lập kế hoạch kiểm tra, đánh giá theo hướng phát triển năng lực HS chưa cụ thể và rõ ràng, chỉ dừng ở mức độ kiểm tra, đánh giá chung. Chưa xây dựng hệ thống các quy chế, quy định cụ thể và chưa có văn bản hướng dẫn GV thực hiện quá trình kiểm tra, đánh giá theo hướng phát triển năng lực HS.

Chương trình GDPT 2018 được triển khai rộng rãi đến GV các trường THPT tại tỉnh Ninh Thuận bắt đầu từ năm 2021 qua hình thức tập huấn các Mô đun học tập. Trong giai đoạn từ năm 2021 đến nay, tình hình dịch bệnh Covid-19 phức tạp nên hoạt động dạy học của thầy trò và kế hoạch bồi dưỡng chuyên môn GV đều sử dụng hình thức trực tuyến đã ảnh hưởng nhiều đến chất lượng triển khai, bồi dưỡng nâng cao năng lực cho CBQL và GV về Chương trình GDPT 2018.

Công tác kiểm tra, đánh giá quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá chưa xuyên suốt trong quá trình thực hiện hoạt động từ khâu xây dựng kế hoạch cho đến khâu tổ chức, chỉ đạo thực hiện. Vì vậy, các trường chưa chỉ ra những điểm làm được và chưa làm được của quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá năng lực HS để cải tiến hoạt động quản lý của nhà trường.

Tiểu kết chương 2 Luận văn: Thực trạng kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Hóa.

Công tác quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của HS tại các trường THPT trên địa bàn thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận đang được quan tâm và thực hiện theo mục tiêu của Chương trình GDPT 2018.

Đề tài luận văn đã sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: điều tra bằng bảng hỏi, phỏng vấn đối với 39 CBQL, GV dạy Hóa học và 205 HS tại 04 trường THPT trên địa bàn thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận để tìm hiểu thực trạng của hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của HS và thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của HS.

Công tác quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT của HS tại các trường THPT trên địa bàn thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận về xây dựng kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo và kiểm tra, đánh giá được triển khai thực hiện trong các nhà trường nhưng mức độ thực hiện và kết quả thực hiện còn hạn chế. Các trường cần chú trọng hơn trong việc xây dựng kế hoạch riêng cho hoạt động kiểm tra, đánh giá cần có sự phân công cụ thể và hướng dẫn thực hiện để triển khai rộng rãi đến các tổ chuyên môn, GV và các bộ phận liên quan để tổ chức thực hiện hiệu quả hơn.

Việc chỉ đạo thực hiện hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT môn Hóa học lớp 10 tại các trường THPT trên địa bàn thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận còn có những hạn chế nhất định, nhiều nội dung chưa được chú trọng thực hiện nên chưa phát huy được hết khả năng chỉ đạo trong công tác quản lý. Việc bồi dưỡng nâng cao năng lực chuyên môn về hoạt động động kiểm tra, đánh giá chưa hiệu quả, GV chưa linh hoạt và chưa tự tin trong việc sử dụng các hình thức và phương pháp kiểm tra, đánh giá KQHT môn Hóa học lớp 10.

Hoạt động kiểm tra, đánh giá là cơ sở tin cậy cho việc điều chỉnh kế hoạch, tổ chức và chỉ đạo công tác quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT môn Hóa học lớp 10. Tuy nhiên, hoạt động kiểm tra, đánh giá chưa đảm bảo và chưa xuyên suốt trong quá trình thực hiện, đánh giá chỉ còn mang tính hình thức. Vì vậy, các trường cần tập trung nhiều hơn nữa hoạt động kiểm tra, đánh giá quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT môn Hóa học lớp 10, thực hiện chức năng này đảm bảo tính chuyên nghiệp, hiệu quả môn Hóa học lớp 10.

Do vậy, cần phải có biện pháp thực hiện phát huy tốt chức năng tổ chức thực hiện và chức năng kiểm tra đánh giá trong quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá KQHT môn Hóa học lớp 10 tại các trường THPT trên địa bàn thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận. Luận văn: Thực trạng kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Hóa.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Hóa

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537