Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Agribank hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Nông Nghiệp Và Phát Triển Nông Thôn Việt Nam – Chi Nhánh Huyện Lệ Thuỷ Tỉnh Quảng Bình dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM CHI NHÁNH HUYỆN LỆ THỦY TỈNH QUẢNG BÌNH.
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển
Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh huyện Lệ Thuỷ, tên viết tắt là Agribank huyện Lệ Thuỷ là một trong 6 chi nhánh Ngân hàng cấp 2 trực thuộc Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông Tỉnh Quảng Bình.
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Lệ Thủy ra đời trước đây trong cơ chế kế hoạch hóa tập trung, là ngân hàng trực thuộc Ngân hàng nhà nước Việt Nam. Trước năm 1988, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Lệ Thủy có tên là Ngân hàng Nhà nước huyện Lệ Ninh . Đến năm 1988, Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam được thành lập theo Nghị định số 53/HĐBT ngày 26/3/1988 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ). Khi đó, Ngân hàng phát triển nông nghiệp Lệ Ninh cũng được thành lập. Tổng số cán bộ công nhân viên của Ngân hàng lúc này là 120 người hoạt động trên toàn địa bàn huyện Lệ Ninh. Sự ra đời của Ngân hàng là một yêu cầu bức thiết nhằm đáp ứng nhu cầu vốn của dân cư và các tổ chức, doanh nghiệp trong huyện cũng như cho nhu cầu xuất khẩu, từ đó đời sống của dân cư được cải thiện hơn, chất lượng cuộc sống được nâng lên, tình hình kinh tế xã hội của huyện lúc này cũng được khởi sắc hơn nhờ sử dụng có hiệu quả nguồn vốn trong xã hội.
Đến năm 1992 cùng với việc tách huyện Lệ Ninh thành 2 huyện Quảng Ninh và Lệ Thuỷ, Ngân hàng phát triển nông nghiệp Lệ Ninh cũng được tách ra thành 2 ngân hàng hoạt động trên 2 huyện. Ngày 22/12/1992, Thống đốc Ngân hàng nhà nước ký Quyết định số 603NH-QĐ về việc thành lập chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp các tỉnh thành phố trực thuộc Ngân hàng Nông nghiệp gồm có 3 Sở giao dịch, 43 chi nhánh ngân hàng nông nghiệp tỉnh, thành phố. Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp quận, huyện, thị xã có 475 chi nhánh trong đó có Ngân hàng Nông nghiệp Lệ Thủy.Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Lệ Thuỷ được hình thành từ đó. Luận văn: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Agribank.
Tính đến năm 1994, mạng lưới hoạt động của ngân hàng trên địa bàn huyện gồm có 1 Ngân hàng cấp 3 là hội sở trung tâm và 5 ngân hàng cấp 4 trực thuộc. Tuy nhiên, đến năm 1996, do một số ngân hàng cấp 4 hoạt động kém hiệu quả nên đã bị giải thể. Từ đó, Ngân hàng chỉ còn lại 2 chi nhánh ngân hàng cấp 4 trực thuộc là Ngân hàng cấp 4 chợ Trạm và Ngân hàng cấp 4 Mỹ Đức hoạt động cùng với hội sở chính là Ngân hàng cấp 3 của huyện. Và khi đó, ngân hàng phục vụ người nghèo ra đời trực thuộc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Lệ Thủy. Lúc này, bên cạnh hoạt động kinh doanh tiền tệ và các dịch vụ ngân hàng, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thuỷ còn thực hiện cho vay xoá đói giảm nghèo, phục vụ nhu cầu cho đa số hộ nghèo trên địa bàn, góp phần cải thiện đời sống của bà con tại địa phương. Năm 2003, Ngân hàng người nghèo chính thức tách riêng hoạt động với tên gọi Ngân hàng Chính sách xã hội.Ngân hàng Chính sách xã hội ra đời nhằm cung cấp tín dụng cho người nghèo và giảm bớt gánh nặng cho NHNo&PTNT. Đến cuối năm 2004, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Lệ Thuỷ đã bàn giao hết vốn ngân sách cho Ngân hàng Chính sách xã hội.Như vậy, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Lệ Thuỷ được trả về đúng vị trí, vai trò kinh doanh tiền tệ của mình.
Cho đến nay, mạng lưới hoạt động của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Lệ Thuỷ trên địa bàn gồm có hội sở chính đặt tại Xuân Hồi, Liên Thủy và 3 Phòng Giao dịch trực thuộc đặt tại Thị Trấn Kiến Giang, chợ Trạm, Mỹ Thủy và tại Mỹ Đức, Sơn Thủy.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
===>>> Nhận Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Tài Chính Ngân Hàng
2.1.2. Cơ cấu bộ máy tổ chức
Căn cứ vào mô hình tổ chức Ngân hàng nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam và tình hình kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thủy, cơ cấu tổ chức tổ chức theo kiểu trực tuyến chức năng được trình bày như ở hình sau: Luận văn: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Agribank.
Hình 2.1. Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thủy
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn chi nhánh huyện Lệ Thủy bao gồm 42 người, được sắp xếp và bố trí như sau:
- Ban Giám đốc: Gồm Giám đốc và Phó Giám đốc.
- Giám đốc: Là người lãnh đạo cao nhất và phụ trách chung về các hoạt động tín dụng của ngân hàng và một số khách hàng lớn, công tác chi tiêu tài chính, nhận sự. Là người chỉ đạo trực tiếp có nhiệm vụ tổ chức điều hành và chịu trách nhiệm về mọi công việc của Ngân hàng, chỉ đạo thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch do Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Tỉnh giao.
- Phó Giám đốc: phụ trách hoạt động nghiệp vụ tín dụng của ngân hàng, trực tiếp chỉ đạo phòng kế hoạch kinh doanh.
- Các phòng chuyên môn nghiệp vụ: chi nhánh có 2 phòng chuyên môn nghiệp vụ: Phòng kế hoạch kinh doanh và phòng kế toán – ngân quỹ tại hội sở và 3 phòng giao dịch sau: Chợ Trạm, Mỹ Đức, Thị trấn Kiến Giang.
2.1.3. Kết quả kinh doanh của Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam– chi nhánh huyện Lệ Thuỷ tỉnh Quảng Bình giai đoạn 2021-2023
2.1.3.1. Hoạt động tín dụng
Dư nợ tín dụng và chất lượng tín dụng là chỉ tiêu vô cùng quan trọng để đánh giá kết quả kinh doanh. Tình hình dư nợ tín dụng và chất lượng tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thủy qua 3 năm 2021- 2023 được trình bày ở bảng sau.
- Bảng 2.1: Tình hình dư nợ tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thủyqua 3 năm 2021- 2023
- Biều đồ 2.1: Tổng dư nợ tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thủy qua 3 năm 2021- 2023 Luận văn: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Agribank.
Qua Bảng 1và Biểu đồ 1 cho thấy, tổng dư nợ tín dụng của chi nhánh liên tục tăng lên trong thời gian qua. Cụ thể, năm 2022 dư nợ tín dụng tăng 25,3% so với năm 2021 và đến năm 2023 dư nợ tín dụng tăng 21.2% so với năm 2022. Điều đó chứng tỏ hoạt động cho vay của chi nhánh tăng lên qua từng năm. Tuy nhiên phần dư nợ tín dụng năm 2021 chủ yếu là các khoản tín dụng ngắn hạn thì đến năm 2022, 2023 các khoản tín dụng trung và dài hạn gần xấp xỉ với các khoản tín dụng ngắn hạn.Qua số liệu có thể thấy năm 2022 mức nợ tín dụng trung và dài hạn tăng đến 51.1% so với năm 2021, con số đó tiếp tục tăng mạnh trọng năm 2023 khi đạt mức 635,290 (triệu đồng), tức là tăng 47.9% so với 2022
Biều đồ 2.2: Tình hình dư nợ tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thủy theo thành phần kinh tế qua 3 năm 2021- 2023
Phân theo thành phần kinh chủ yếu là hoạt động cho vay đối với hộ gia đình, cá nhân là tăng mạnh nhất. So với năm 2021, cho vay của hộ gia đình và cá nhân tăng 29% vào năm 2022 và tăng thêm 21.8% vào năm 2023. Ngược lại, cho vay doanh nghiệp, tổ chức kinh tế tăng trưởng thấp và một vài thành phần có xu hướng giảm.Sự thay đổi rõ rệt thể hiện ở cho vay ở các Doanh nghiệp tư nhân (giảm 62.7%) và Công ty cổ phần (giảm 26.1%) trong năm 2022. Nguyên nhân của sự tăng trưởng đối lập này do chi nhánh tuân thủ đúng chủ trương, định hướng phát triển của ngành là giảm dần tăng trưởng cho vay doanh nghiệp, tổ chức kinh tế để giảm thiểu rủi ro cho toàn hệ thống, ngoài ra cá nhân không còn thông qua hợp tác xã để vay vốn mà có thể linh hoạt trực tiếp đến phòng giao dịch của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Lệ Thủy gần nhất để thực hiện các hoạt động tín dụng.
Biều đồ 2.3: Tình hình dư nợ tín dụng tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thủy theo ngành kinh tế qua 3 năm 2021- 2023 Luận văn: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Agribank.
Nếu phân theo phân ngành kinh tế thì hoạt động cho vay của ngân hàng chủ yếu phục vụ cho ngành nông lâm thủy hải sản và phục vụ nhu cầu đời sống.
Huyện Lệ Thủy phát triển kinh tế chủ yếu dựa vào ngành nông nghiệp, chính vì vậy mà tỷ trọng vay vốn phân theo ngành này rất lớn và tăng trưởng qua các năm. Nếu so sánh tỷ lệ giữa các năm, số vốn vay của năm 2022 đạt 33.1% so với 2021, năm 2023 đạt 13.1% so với 2022. Có thể thấy đây là ngành có tính quyết định cao nhất về các hoạt động tín dụng phân theo ngành kinh tế. Cũng chính vì phát triển chính từ ngành nông nghiệp nên ngành công nghiệp ở huyện còn chưa được chú trọng và phát triển, chính vì vậy tỷ trọng vay vốn của ngành này là thấp nhất. Tuy nhiên các xí nghiệp cũng dần hình thành nên số vốn vay cũng tăng dần, năm 2022 tăng 25.7% so với 2021 và năm 2023 tăng 53.5% so với 2022.
Cho vay phục vụ đời sống tăng nhanh nhất trong tổng dư nợ. Năm 2022, dư nợ cho vay lĩnh vực này có sự giảm nhẹ so với 2021 (-8.6%) và năm 2023 số lượng vay tăng vượt bậc từ 55,370 (triệu đồng) lên đến 132,997 (triệu đồng), chiếm 140.2% so với năm 2022. Cho vay thương mại và dịch vụ chiếm tỷ trọng thứ 2 sau cho vay Nông lâm thủy hải sản và tăng trưởng ổn định, năm 2022 tăng 33.1% so với năm 2021 và năm 2023 tăng 13.1% so với năm 2022.Cho vay xây dựng không ổn định, có sự tăng giảm biến động qua các năm. Cụ thể, năm 2022 dư nợ cho vay lĩnh vực xây dựng chỉ giảm 10.6% so với năm 2021 nhưng đến năm 2023 lại tăng 16.7% so với năm 2023. Nguyên nhân của sự tăng trưởng bất ổn này là do năm 2022 tình hình kinh tế khó khăn, các dự án phát triển cơ sở hạ tầng chưa được đưa vào triển khai, nhưng đến năm 2023, nhiều khu dân cư mới được mở rộng, cầu đường được nâng cấp. Luận văn: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Agribank.
Biều đồ 2.4: Tỷ lệ nợ xấu tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thủy qua 3 năm 2021- 2023
Về chất lượng tín dụng cho thấy, các nhóm nợ xấu biến động rõ rệt qua các năm tuy nhiên vẫn ở mức thấp hơn quy định của nhà nước, cụ thể năm 2022 tỷ lệ nợ xấu giảm 8.3% so với năm 2021 và chỉ chiếm tỷ trọng 0,44%. Tuy nhiên, năm 2023 nợ xấu xấu tăng 304.5% so với năm 2022 và chiếm 1,78% tổng dư nợ(quy định của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam là nhỏ hơn 2%). Mặc dù thấp hơn mức tối đa quy định của ngành nhưng với tỷ lệ nợ xấu của năm 2023 có thể khằng định rằng đây là một năm đầy khó khăn và thách thức của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thủy.
2.1.3.2. Hoạt động kinh doanh
Qua báo cáo tổng kết năm cũng như đánh giá tình hình sử dụng vốn và huy động vốn, ta có thể nhận thấy tình hình kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thủy tương đối ổn định. Mặc dù có nhiều khó khăn, nhưng nhờ có định hướng đúng với thực tế kinh doanh trên địa bàn và được sự hổ trợ của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh Quảng Bình, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thủy đã đạt được kết quả đáng khả quan và được thể hiện trên bảng Kết quả hoạt động kinh doanh từ 2021 đến 2023 dưới đây:
Bảng 2.2. Kết quả hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thủy qua 3 năm 2021 – 2023
Biều đồ 2.5: Tổng thu nhập của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thủy qua 3 năm 2021- 2023
Về thu nhập: Năm 2021, tổng thu nhập của Ngân hàng là 140,676(triệu đồng), đến năm 2022 tổng thu nhập của Ngân hàng đạt 162,613(triệu đồng), tăng so với năm 2021 là 21,937(triệu đồng), tương ứng 15.6%. Năm 2023, tổng thu nhập của ngân hàng đạt 196,677 (triệu đồng), tăng so với năm 2022 là 34,064 (triệu đồng), tương ứng tăng 20.9%. Trong tổng thu nhập thì thu nhập từ hoạt động tín dụng chiếm tỷ trọng cao.Thu từ hoạt động tín dụng là nguồn thu chủ yếu và lớn nhất, Chi nhánh luôn chú trọng việc tìm kiếm khách hàng; không ngừng hoàn thiện, phát huy những mặt tích cực trong công tác khách hàng, đặc biệt là chính sách lãi suất để thu hút khách hàng và giữ vững khách hàng truyền thống, tăng cường đầu tư các phương tiện kỹ thuật để phục vụ khách hàng một cách nhanh nhất, đa dạng hoá các loại hình dịch vụ ngân hàng cung cấp. Nhờ vậy, thu từ hoạt động tín dụng không ngừng tăng lên: năm 2021 đạt 134,671 (triệu đồng), đến năm 2022 đạt 156,990 (triệu đồng) và đến năm 2023 là 190,884 (triệu đồng). Thu từ hoạt động tín dụng trong qua 3 năm 2020-2022 chiếm trên 90% tổng thu nhập của chi nhánh.
Biều đồ 2.6: Tổng chi phí của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thủy qua 3 năm 2021- 2023
Về chi phí, năm 2021 là 98,037 (triệu đồng), năm 2022 là 120,466 (triệu đồng), tăng so với năm 2021 là 22,429 (triệu đồng), tương ứng tăng 22.9 %.Năm 2023, tổng chi phí là 137,368 (triệu đồng), tăng so với năm 2022 là 16,902 (triệu đồng), tương ứng tăng 14%. Luận văn: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Agribank.
Trong tổng chi phí thì chi phí cho hoạt động tín dụng chiếm tỷ trọng cao, trên 50% tổng chi phí, cụ thể: năm 2021 là 50,897 (triệu đồng) chiếm 51.9%, năm 2022 là 63,041 (triệu đồng), chiếm tỷ trọng 52.3% và đến năm 2023 là 74,237 (triệu đồng) chiếm tỷ trọng 54%. Ngoài các khoản chi về huy động vốn thì các khoản chi phí khác như chi nộp các khoản phí, chi nộp thuế , chi phí cho hoạt động quản lý: chi lương và các khoản phụ cấp cho CBCNV, chi đào tạo, chi huấn luyện, chi tuyên truyền, quảng cáo, chi văn phòng phẩm, chi thuê mua tài sản, công cụ dụng cụ.., chi dự phòng rủi ro…Tuy nhiên theo chủ trương của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, các nguồn chi đều có xu hướng giảm dần qua các năm.
Biều đồ 2.7: Lợi nhuận của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thủy qua 3 năm 2021- 2023
Về lợi nhuận: các khoản thu tăng lên qua các năm, các khoản chi phí có xu hướng giảm do đó lợi nhuận của chi nhánh ổn định và tăng lên đáng kể trong năm 2023. Năm 2021 lợi nhuận đạt 42,639 (triệu đồng), năm 2022 là 42,147 (triệu đồng), giảm 492 (triệu đồng) tương ứng với 1.2% so với 2021. Năm 2023, lợi nhuận lên đến 59,309 (triệu đồng), tăng 17.162 (triệu đồng) tương ứng với 40.7% so với năm 2022. Đây là kết quả sự nỗ lực của toàn bộ cán bộ công nhân viên ngân hàng và sự đổi mới trong cơ chế chính sách, ngân hàng đã xác định chiến lược kinh doanh hợp lý mặc dù địa bàn kinh doanh còn gặp nhiều khó khăn, nhưng ngân hàng đã biết tận dụng và phát huy sức mạnh từ nhiều mũi kinh doanh như quan tâm công tác huy động vốn nhằm góp phần giảm lãi suất đầu vào hợp lý, cho vay sử dụng vốn có hiệu quả, hạn chế thất thoát, tăng cường thực hiện các dịch vụ chuyển tiền điện tử, làm tốt công tác dịch vụ hộ nghèo, sự quan tâm của Ngân hàng nông nghiệp Trung ương về đơn giá. Chính vì thế mà năm 2023 ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thủy đã đạt và vượt kế hoạch tài chính, lợi nhuận tăng cao,thu nhập của cán bộ công nhân viên được đảm bảo, và góp phần không nhỏ vào nghĩa vụ đóng góp ngân sách Nhà nước.
Từ kết quả phân tích trên đây cho thấy, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thủy là một chi nhánh vững mạnh và có uy tín.Ngân hàng đã có những chuyển biến tích cực trong hoạt động kinh doanh. Đạt được kết quả trên là do sự cố gắng không ngừng của Ban Lãnh đạo và toàn thể cán bộ công nhân viên.
2.2. THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN – CHI NHÁNH HUYỆN LỆ THỦY TỈNH QUẢNG BÌNH. Luận văn: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Agribank.
Thực hiện phương châm huy động vốn của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn: “Ở đâu có nguồn vốn nhàn rỗi ở đó có sự hiện diện của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn với sản phẩm dịch vụ có chất lượng với phong cách phục vụ tận tình, chuyên nghiệp và tin cậy”. Với nhiều hình thức huy động, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thủy đã triệt để khai thác các nguồn vốn khác nhau từ các khoản tiết kiệm nhỏ lẻ của dân cư cho tới các khoản tiền gửi thanh toán lớn của các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp trên địa bàn. Chủ động tìm kiếm nguồn vốn kết hợp với ban quản lý các dự án, trung tâm phát triển quỹ đất để thu hút nguồn tiền đền bù, giải phóng mặt bằng. Ngoài ra, chi nhánh còn tích cực thu hút khách hàng mở tài khoản tiền gửi và thu hút nguồn tiền gửi của các tổ chức kinh tế trên địa bàn thông qua các hình thức thu hộ, chi hộ như: Thu nộp NSNN, thu hộ hóa đơn điện sáng, hóa đơn VNPT, chi hộ tiền đền bù giải phóng mặt bằng… Cơ cấu nguồn vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thủy qua 3 năm 2021-2023 được trình bày ở bảng sau:
Bảng 2.3. Cơ cấu nguồn vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thủy
Qua Bảng 2.3,cho thấy nguồn huy động vốn của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thủy có sự tăng trưởng khá cao qua các năm, cụ thể năm 2022 tăng 192,170 (triệu đồng) so với năm 2021, tương ứng với tỷ lệ tăng trưởng 17.97%, năm 2023 tăng 229,118 (triệu đồng), tương ứng tăng 18.16%
2.3. ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH HUYỆN LỆ THỦY TỈNH QUẢNG BÌNH THEO CÁC TIÊU CHÍ.
2.3.1. Chỉ tiêu định lượng
2.3.1.1. Quy mô và tốc độ tăng trưởng vốn huy động
Từ khi thành lập đến nay, ngân hàng Agribank chi nhánh Lệ Thủy đã rất chú trọng đến công tác huy động vốn thông qua việc sử dụng rất nhiều hình thức và biện pháp tích cực, chủ động nhằm thu hút nguồn vốn nhàn rỗi từ khách hàng nên ngân hàng luôn có tốc độ tăng trưởng nguồn vốn ổn định qua các năm. Luận văn: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Agribank.
Trong điều kiện tình hình kinh tế có nhiều thay đổi, lãi suất huy động vốn trên thị trường luôn biến động, nhưng hoạt động huy động vốn của chi nhánh vẫn tăng ổn định qua các năm. Để tăng trưởng nguồn vốn theo hướng ổn định, tích cực, phù hợp với yêu cầu kinh doanh, Agribank huyện Lệ Thủy đã thực hiện triển khai đa dạng và phong phú các hình thức huy động vốn. Mỗi hình thức có thế mạnh riêng phù hợp với những đối tượng và điều kiện riêng từng vùng, từng thành phần kinh tế.
Bảng 2.4: Nguồn vốn huy động tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thủy
Năm 2021 tổng nguồn vốn đạt 1,069,458 (triệu đồng), năm 2022 con số này đã tăng lên là 1,261,628 (triệu đồng) tức 17.97%, đến năm 2023, tổng nguồn vốn tiếp tục tăng và đạt 1,490,746 (triệu đồng), tăng 18.16% so với năm 2022 . Sự tăng trưởng này đánh dấu bởi sự tăng trưởng của tiền gửi của khách hàng. Để đạt được kết quả trên, chi nhánh đã không ngừng nỗ lực trong việc thực hiện tuyên truyền, quảng bá sản phẩm, theo dõi diễn biến thị trường lãi suất, tạo mối quan hệ thân thiết với khách hàng,…để có những sản phẩm phù hợp.
Năm 2022, từ ngày 09/8/2022 đến ngày 06/11/2022, Agribank mở đợt huy động Tiết kiệm dự thưởng “Quà tặng tưng bừng – Chào mừng Quốc khánh”. Năm 2023, trong chuỗi các chương trình khuyến mại tri ân khách hàng nhân dịp kỷ niệm 30 năm thành lập Agribank (26/3/1988 – 26/3/2023), chương trình huy động tiết kiệm dự thưởng “Kỷ niệm 30 năm thành lập Agribank – May mắn nhân đôi” được Agribank triển khai từ ngày 16/01/2023 đến hết ngày 15/4/2023 nhằm đa dạng hóa sản phẩm cũng là tăng nguồn huy động trong dân, khuyến khích khách hàng mang tiền đến gửi.
Bảng 2.5: Vốn huy động trên tổng nguồn vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thủy
Tỷ trọng vốn huy động trên tổng nguồn vốn qua các năm đều chiếm tỷ lệ cao (>99%). Đây cũng là thế mạnh Agribank huyện Lệ Thủy được khẳng định trên thương trường và ngày càng phát triển, nâng cao trong thời gian vừa qua.Tuy nhiên, tỷ lệ này quá cao sẽ dẫn đến việc ngân hàng phải bỏ ra một nguồn chi phí trả lãi cao tương ứng. Do đó, để giảm nguồn chi phí này thì ngân hàng bắt buộc phải có những động thái tích cực được đưa ra nhằm vừa tăng nguồn nhưng vẫn không làm gia tăng chi phí trả lãi. Thực hiện đề án thanh toán không dùng tiền mặt của thủ tướng chính phủ giai đoạn 2006 – 2015 và định hướng đến năm 2020 theo chỉ thị 20/2007/CT- TTg ngày 24/08/2007 của Thủ tướng chính phủ về việc trả lương qua tài khoản của các đối tượng hưởng lương qua ngân sách. Nhờ đó, số dư trên tài khoản tiền gửi cá nhân đã không ngừng tăng và xu hướng sẽ tăng mạnh đã giúp cho nguồn vốn của Ngân hàng tăng trưởng rõ rệt.
2.3.1.2. Cơ cấu vốn huy động Luận văn: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Agribank.
Như đã phân tích ở trên, nguồn vốn huy động từ tiền gửi dân cư là nguồn vốn chủ đạo và quan trọng nhất trong tổng nguồn huy động của chi nhánh (luôn chiếm trên 90% của tổng nguồn). Do đó công tác huy động vốn từ dân cư luôn được xem là hoạt động quan trọng nhất trong công tác huy động vốn.
- Cơ cấu theo đối tượng huy động
Nguồn tiền gửi của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn được hình thành từ 3 nguồn chính: Nguồn tiền gửi của Tổ chức tín dụng (cụ thể là từ Ngân hàng chính sách huyện Lệ Thủy), nguồn tiền gửi từ các tổ chức kinh tế, xã hội trên địa bàn và nguồn vốn huy động từ tiền gửi dân cư.
- Tiền gửi dân cư
Nguồn vốn huy động từ dân cư luôn được Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thủy xác định là nguồn vốn quan trọng nhất, có tính ổn định và tăng trưởng bền vững nhất. Ngoại trừ một phần tiền gửi thanh toán thường xuyên biến động (gồm tiền gửi thanh toán không kỳ hạn và tiền lương chi trả qua ATM), tiền gửi của nhóm khách hàng cá nhân chủ yếu là tiền gửi tiết kiệm và GTCG có tính ổn định cao, đây là một lợi thế cho chi nhánh trong việc cân đối nguồn vốn cho kinh doanh.
Nhìn chung, nguồn vốn huy động từ tiền gửi dân cư và tổ chức đã đạt được mức tăng trưởng nhanh và ổn định. Có được kết quả như vậy là nhờ một số nguyên nhân sau: Luận văn: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Agribank.
- Một là, chi nhánh đã có những động thái tích cực trong việc điều chỉnh lãi suất huy động phù hợp với sự biến động của nền kinh tế. Do vậy đã thu hút được một lượng lớn tiền gửi dân cư và tổ chức vào hệ thống.
- Hai là, chi nhánh đã chú trọng, quan tâm đến công tác tuyên truyền, quảng cáo qua các phương tiện truyền thông với nhiều hình thức khuyến mãi đa dạng, hấp dẫn.
- Ba là, cùng với việc xây dựng trụ sở làm việc mới khang trang và đổi mới phong cách giao dịch của nhân viên nên đã tạo được ấn tượng tốt với khách hàng khi họ đến giao dịch tại chi nhánh.
Biều đồ 2.8: Vốn huy động theo thành phần kinh tế của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thủy qua 3 năm 2021- 2023
Nguồn tiền gửi của dân cư chiếm tỷ trọng lớn nhất, cụ thể: năm 2021 đạt 1,013,655 (triệu đồng), chiếm 94.78% tổng nguồn vốn, năm 2022 đạt 1,217,296 (triệu đồng), chiếm 96.49% và năm 2023 đạt 1,397,876 (triệu đồng), chiếm tỷ trọng 93.77%. Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn huy động từ tiền gửi dân cư của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thủy năm 2022 tăng 20.09% so với 2021, năm 2023 tăng 14.83% so với 2022.Có thể khẳng định Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thủy thực hiện rất tốt công tác huy động vốn. Đây là điều đáng mừng cho chi nhánh vì nguồn tiền gửi này có tính ổn định cao nên nó sẽ là nhân tố quan trọng giúp chi nhánh có thể cân đối, mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, một hạn chế có thể thấy là lượng tiền gửi dân cư thường nhỏ lẻ nên chi phí huy động lớn và bộ phận khách hàng này thường rất nhạy cảm với sự biến động của lãi suất.
Mặc dù khối lượng tiền gửi dân cư tại chi nhánh đã tăng lên đáng kể nhưng nhìn chung vẫn còn thấp so với tiềm năng hiện có tại địa phương. Hiện tại tỷ lệ tiền gửi dân cư vào chi nhánh chỉ chiếm khoảng từ 40-50% lượng tiền nhàn rỗi trong dân cư. Do đó, vấn đề đặt ra là phải tăng cường huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong dân cư để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng của dư nợ. Vì trước tình hình giá vàng có nhiều biến động như hiện nay thì người dân ít nghĩ tới việc đem gửi tiền vào ngân hàng mà tâm lý chung là thích giữ vàng để đầu cơ. Vì vậy, nhiệm vụ đầu tiên mà chi nhánh cần thực hiện là làm sao tạo cho người dân có thói quen gửi tiền vào ngân hàng khi có nguồn vốn nhàn rỗi mà không phải chạy sang các kênh đầu tư khác. Làm được điều này thì chi nhánh mới có thể áp dụng được dễ dàng các biện pháp để đẩy nhanh quá trình huy động vốn từ tiền gửi dân cư và góp phần giải quyết đầu ra cho chi nhánh. Luận văn: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Agribank.
- Tiền gửi tổ chức
Theo số liệu ở Bảng 2.3, mặc dù đạt tốc độ tăng cao trong năm 2023 nhưng tỷ trọng nguồn vốn này trong cơ cấu tổng nguồn vốn huy động của chi nhánh vẫn thấp hơn nhiều so với tiền gửi dân cư. Năm 2021, Tiền gửi Tổ chức tín dụng (NHCS) đạt 740 (triệu đồng), chiếm 0.07% tổng nguồn vốn, Tiền gửi TCKT, TCXH đạt 55,063 (triệu đồng), chiếm 5.14% tổng nguồn vốn . Năm 2022, tiền gửi của các tổ chức có dấu hiệu giảm mạnh, đây là thời điểm các ngân hàng khác bắt đầu mở rộng quy mô ở huyện Lệ Thủy như: Ngân hàng Liên Việt Postbank, Ngân hàng Vietcombank…, vì vậy mà mức Tiền gửi Tổ chức tín dụng (NHCS) chỉ đạt 407 (triệu đồng), giảm 45% và Tiền gửi TCKT, TCXH chỉ đạt 43,925 (triệu đồng), giảm 20.23% trên tổng vốn huy động. Năm 2023, nhờ việc đẩy mạnh các công tác huy động mà Tiền gửi Tổ chức tín dụng (NHCS) đạt 644 (triệu đồng), tăng 58.23% và Tiền gửi TCKT, TCXH đạt 92,226 (triệu đồng), tăng 109.96%.
Điều này được lý giải là do trên địa bàn huyện Lệ Thủy, các tổ chức thường là các đơn vị ngoài quốc doanh có vốn tự có còn thấp và đang trong giai đoạn tìm kiếm thị trường nên các doanh nghiệp gửi tiền vào ngân hàng chủ yếu là để thực hiện các giao dịch thanh toán qua ngân hàng. Trong khi đó, vào những năm gần đây chi nhánh chưa chú ý nhiều đến công tác huy động vốn từ các tổ chức nên lượng tiền gửi của nhóm khách hàng này vào chi nhánh còn rất hạn chế. Tuy nhiên, tiền gửi của các tổ chức lại đạt tốc độ tăng trưởng khá cao trong năm 2023 cho thấy chi nhánh đã rất cố gắng trong việc đề ra và thực hiện tốt các dịch vụ thanh toán qua ngân hàng.
- Cơ cấu theo đối tượng huy động
Tình hình huy động vốn từ tiền gửi dân cư tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thủy qua 3 năm 2021-2023 được trình bày ở bảng sau. Luận văn: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Agribank.
Bảng 2.6. Cơ cấu nguồn vốn huy động tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thủy qua 3 năm 2021-2023
- Tiền gửi không kỳ hạn:
Qua Bảng 2.6, nguồn tiền gửi không kỳ hạn hay còn gọi là nguồn tiền gửi thanh toán luôn chiếm tỷ trọng nhỏ từ 7 đến 10% trong tổng nguồn huy động của chi nhánh.
Biều đồ 2.9: Nguồn tiền gửi không kỳ hạn của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thủy qua 3 năm 2021 – 2023
Nguồn tiền gửi không kỳ hạn là nguồn huy động có chi phí thấp nhất vì lãi suất huy động thấp và thông qua việc huy động khách hàng mở và sử dụng tài khoản thanh toán, Ngân hàng vừa huy động được vốn vừa thu được phí dịch vụ: phí quản lý tài khoản, phí thường niên, phí phát hành thẻ, phí chuyển tiền… Tiện ích của sản phẩm tiền gửi không kỳ hạn là khách hàng linh hoạt thực hiện các dịch vụ về tài khoản, thủ tục đơn giản, chuyển khoản dễ dàng sang các sản phẩm tiền gửi khác và ngược lại, thanh toán quốc tế, tín dụng, quản lý chi lương trên tài khoản cho các doanh nghiệp, thực hiện các giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt: Séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu,…, thấu chi, phát hành thẻ, gửi nhiều nơi, rút nhiều nơi…
Năm 2021 đạt 99,132 (triệu đồng), chiếm 9.3% tổng nguồn vốn huy động.Năm 2022 đạt 96,909 (triệu đồng), chiếm 7.7% tổng nguồn vốn huy động. Tốc độ tăng trưởng năm 2022 thấp hơn năm 2021 là do từ tháng 9 năm 2022 lãi suất tiền gửi không kỳ hạn được điều chỉnh giảm từ 1% /năm xuống còn 0,3%/năm trong lúc đó lãi suất tiền gửi có kỳ hạn gần như không thay đổi do đó kéo giãn khoảng cách chênh lệch lãi suất giữa tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn 1, 2 tháng. Vì vậy một số đông khách hàng có tiền gửi ổn định hơn chuyển tiền tiền gửi thanh toán sang tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn 1 hoặc 2 tháng. Năm 2023 tiền gửi không kỳ hạn này đạt 159,182 (triệu đồng), chiếm tỷ trọng 10.7% tổng nguồn vốn huy động, tăng 62,273 (triệu đồng) so với năm 2022, tương ứng tốc độ tăng trưởng là 64.3%.Nguồn vốn này tăng cho thấy nhu cầu thanh toán, chi trả, mở tài khoản tiền gửi thanh toán của các cá nhân, tổ chức tại chi nhánh ngày càng tăng, đồng thời cũng chứng tỏ công tác chuyển tiền, thanh toán các dịch vụ qua ngân hàng của chi nhánh luôn được phát triển tốt, thu hút được một lượng lớn khách hàng đến giao dịch vì những khách hàng gửi tiền không kỳ hạn vào ngân hàng thường với mục đích chính là để sử dụng các dịch vụ thanh toán qua ngân hàng chứ không vì mục tiêu sinh lời, vì lãi suất của loại tiền gửi này thường được trả rất thấp. Tuy nhiên xét về lợi ích kinh tế thì nguồn vốn này có tính ổn định không cao nên chi nhánh rất khó khăn trong việc cân đối vốn kinh doanh. Vì vậy chi nhánh cần triển khai đồng bộ các giải pháp huy động có hiệu quả. Luận văn: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Agribank.
- Tiền gửi có kỳ hạn:
Nguồn tiền gửi có kỳ hạn (hay còn gọi là nguồn tiền gửi tiết kiệm), đây là nguồn tiền gửi lớn nhất trong tổng nguồn huy động, chiếm tỷ trọng từ 89-93% trong tổng nguồn tiền gửi dân cư, cụ thể năm 2021 huy động được 970,326 (triệu đồng), chiếm tỷ trọng 90.7%; năm 2022 là 1,164,719 (triệu đồng), chiếm tỷ trọng 92.3%, tăng so với năm 2021 là 194,392 (triệu đồng) tương ứng với 20%; năm 2023 là 1,331,564 (triệu đồng), chiếm tỷ trọng 89.3%, tăng so với năm 2022 là 166,845 triệu đồng, tương ứng 14.3%.
Cơ cấu nguồn tiền gửi có kỳ hạn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thủy qua 3 năm 2021-2023 được trình bày ở bảng sau.
Bảng 2.7. Cơ cấu tiền gửi tiết kiệm theo kỳ hạn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thủy qua 3 năm 2021-2023
Qua Bảng 2.7, cho thấy qua 3 năm 2021-2023 thì tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn dưới 12 tháng và kỳ hạn từ 12 tháng đến dưới 24 tháng luôn chiếm tỷ trọng cao nhất và chiếm tỷ trọng từ 98 đến 99% tổng nguồn tiền gửi tiết kiệm từ dân cư.
Biều đồ 2.10: Cơ cấu tiền gửi tiết kiệm theo kỳ hạn của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thủy qua 3 năm 2021 – 2023 Luận văn: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Agribank.
Năm 2021, tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn dưới 12 tháng là 545,323 (triệu đồng), chiếm tỷ lệ 56.2%, tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn từ 12 đến dưới 24 tháng là 413,359 (triệu đồng), chiếm tỷ lệ 42.6%, tiền gửi tiết kiệm từ 24 tháng trở lên chiếm tỷ lệ nhỏ 1.2%.
Năm 2022 tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn dưới 12 tháng là 588,183 (triệu đồng), chiếm tỷ lệ 50.5%, tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn từ 12 đến dưới 24 tháng là 564,889 (triệu đồng), chiếm tỷ lệ 48.5%, tiết kiệm từ 24 tháng trở lên chiếm tỷ lệ rất nhỏ, tương ứng 1%.
Năm 2023 tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn dưới 12 tháng là 585,888 (triệu đồng), chiếm tỷ lệ 44%, tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn từ 12 đến dưới 24 tháng là 732,360 (triệu đồng), chiếm tỷ lệ 55%, tiền gửi tiết kiệm từ 24 tháng trở lên chiếm tỷ lệ rất nhỏ, tương ứng 1%.
Nguyên nhân của tình trạng trên do nhu cầu của khách hàng và chế độ lãi suất huy động của tháng, chủ yếu là tập trung các kỳ hạn: 1,2,3,4 và 6 tháng, đây là những kỳ hạn có lãi suất thấp hơn nhưng lại thích hợp với những đối tiền khách hàng có nguồn tiền nhàn rỗi ngắn hạn. Đối với nguồn tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn từ đến dưới 24 tháng, chủ yếu tập trung ở kỳ hạn gửi tiền 12,13 tháng vì đây là 2 kỳ hạn có lãi suất tiền nguồn tiền nhàn rỗi lâu dài và mục đích của việc gửi tiền tiết kiệm lấy lãi. Nguồn tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn dưới 12 tháng có tỷ trọng giảm dần so với nguồn tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn từ 12 đến dưới 24 tháng, năm 2021 chiếm 56.2% , năm 2022 chiếm tỷ trọng 50.5% và năm 2023 chiếm tỷ trọng 44%. Nguồn tiền gửi này có xu hướng giảm là hợp lý vì việc duy trì nguồn vốn này quá nhiều sẽ không tốt vì tính ổn định của nó chưa cao, đặc biệt khi chi nhánh cần tài trợ các dự án lớn trung và dài hạn thì khả năng đáp ứng của nguồn vốn này còn nhiều hạn chế. Tuy vậy nguồn vốn này có giá vốn rẽ nên mặt khác cũng tạo điều kiện tăng khả năng cạnh tranh trong cho vay ngắn hạn và góp phần tăng lợi nhuận cho ngân hàng.
Từ thực tế tăng trưởng nguồn vốn huy động của Agribank huyện Lệ Thủy phụ thuộc nhiều vào sự tăng trưởng của nguồn huy động tiết kiệm ngắn hạn. Xét về lâu dài, khi điều kiện kinh tế của Lệ Thủy ngày càng phát triển nhu cầu gửi tiền của dân cư ngày càng cao, các Tổ chức tín dụng cũng không ngừng cạnh tranh về nguồn vốn và mong muốn lôi kéo, giữ chân khách hàng gửi vào kỳ hạn trung và dài hạn nhằm tăng tính ổn định của vốn.
- Cơ cấu theo loại tiền gửi Luận văn: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Agribank.
Biều đồ 2.11: Vốn huy động nội tệ của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thủy qua 3 năm 2021- 2023
Nguồn huy động vốn nội tệ qua 3 năm đạt trên 99% tổng nguồn vốn, cụ thể: năm 2022 tăng so với năm 2021 là 192,570 (triệu đồng), năm 2023 tăng so với năm 2022 là 229,237 (triệu đồng), tương ứng 18.24%. Đây là kết quả của sự chuyển biến tích cực trong việc thực hiện chương trình tái cơ cấu, thể hiện trên một số khía cạnh như: Đa dạng hoá sản phẩm, tận dụng ưu thế về công nghệ, mở rộng mạng lưới nhất là hệ thống các chi nhánh, phòng giao dịch; Chú trọng hơn đến phát triển hoạt động bán lẻ như tăng giờ giao dịch, đổi mới thái độ phục vụ; Đổi mới khá toàn diện trong công tác quản trị vốn và điều hành lãi suất linh hoạt tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn nói chung và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thủy nói riêng. Tuy nhiên, nguồn huy động ngoại tệ có xu hướng ngược lại, được thể hiện rõ qua biểu đồ dưới đây:
Biều đồ 2.12: Vốn huy động ngoại tệ của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thủy qua 3 năm 2021- 2023
Nguồn ngoại tệ USD huy động được chủ yếu từ tiền gửi tiết kiệm dân cư. Nguyên nhân của sự sụt giảm trên là do thực hiện chính sách tiền tệ của Chính phủ, ngay từ đầu năm 2022 lãi suất huy động vốn của đồng Đô la Mỹ là 0% trên tất cả các kỳ hạn gửi tiền, cộng thêm sự ổn định tỷ giá qua các năm làm cho người dân thấy rằng việc cất giữ đồng Đô la Mỹ không có lợi bằng việc cất giữ VNĐ (Lãi suất thu được từ tiền gửi VNĐ luôn cao hơn lãi suất thu được thu được từ tiền gửi USD và tiền chênh lệch tỷ giá). Bên cạnh đó, tiền gửi của các tổ chức nước ngoài, tổ chức phi Chính phủ hoạt động trên địa bàn chiếm tỷ trọng rất nhỏ. Đây là một hạn chế của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thủy trong việc tiếp cận, thu hút nguồn ngoại tệ này so với Vietinbank và Vietcombank trên cùng địa bàn. Với tỷ trọng nhỏ lại không đẩy mạnh được cho vay ngoại tệ nên nguồn vốn ngoại tệ không mang lại nhiều lợi ích về mặt kinh tế cho chi nhánh.
Theo sản phẩm huy động: Cơ cấu nguồn vốn huy động từ dân cư theo sản phẩm huy động vốn qua 3 năm 2020-2022 được trình bày ở bảng sau. Luận văn: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Agribank.
Bảng 2.8. Cơ cấu tiền gửi tiết kiệm theo loại hình huy động tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thủy qua 3 năm 2021-2023
- Tiền gửi tiết kiệm:
Đây là khoản tiền tạm thời nhàn rỗi của dân cư chưa sử dụng đến đem gửi vào ngân hàng gọi là tiền gửi tiết kiệm.Có thể nói đây là hình thức huy động vốn truyền thống của ngân hàng, được người dân rất quen dùng. Đặc biệt đối với hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn thì sự lựa chọn hình thức này đã trở thành tập quán của đại bộ phận dân cư khi có nhu cầu gửi tiền vào ngân hàng để hưởng lãi hoặc tiết kiệm cho chi tiêu trong tương lai.
Nguồn vốn này thường chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn huy động và tăng dần qua các năm mặc dù xu hướng lãi suất tiền gửi tiết kiệm luôn giảm xuống. Đây là nguồn vốn ổn định, đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Sự biến động của nguồn vốn này phụ thuộc nhiều vào sự biến động của tình hình giá cả thị trường, cơ chế lãi suất, chất lượng sản phẩm dịch vụ, yếu tố tâm lý xã hội, sự tín nhiệm của khách hàng đối với ngân hàng.
Biều đồ 2.13: Cơ cấu tiền gửi tiết kiệm của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thủy qua 3 năm 2021 – 2023 Luận văn: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Agribank.
Qua số liệu ở Bảng 6 cho thấy, nguồn tiền gửi tiết kiệm tăng liên tục qua các năm. Năm 2021 huy động vốn từ tiền gửi tiết kiệm đạt 809,473 (triệu đồng), chiếm tỷ trọng 75,69%; năm 2022 đạt 1,017,503 (triệu đồng), chiếm 80,65%; năm 2023 đạt 1,200,349 (triệu đồng), chiếm 80,52%, tăng thêm 182,846 (triệu đồng) so với năm 2022 tương ứng với tỷ lệ tăng 18%. Sở dĩ có được kết quả như vậy, ngoài việc giữ được uy tín với khách hàng và duy trì các hình thức huy động vốn truyền thống thì chi nhánh đã luôn cố gắng trong công tác tuyên truyền, quảng bá các sản phẩm tiền gửi tiết kiệm mới và thường xuyên có những chương trình khuyến mãi lớn như tiết kiệm dự thưởng, tặng quà cho khách hàng… đã giúp cho khách hàng có thêm cơ hội lựa chọn trong điều kiện nhiều kênh huy động vốn cạnh tranh trên thị trường.
Bên cạnh những ưu điểm của tiền gửi tiết kiệm mang đến cho khách hàng như gửi vào thuận tiện rút ra dễ dàng, được vay cầm cố hoặc thừa kế, chuyển nhượng theo luật định…thì cũng còn những hạn chế nhất định như không được chuyển khoản trực tiếp sang tài khoản thanh toán, không được sử dụng các dịch vụ ngân hàng từ số dư tiền gửi này, định kỳ ngân hàng phải tính và nhập lãi vào gốc cho khách hàng… Đây là những vấn đề đặt ra cho những người hoạch định chính sách chế độ của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn xem xét và từng bước cải tiến sản phẩm trong tiến trình hội nhập kinh tế thế giới.
Về giấy tờ có giá (GTCG): Năm 2021 chi nhánh phát hành GTCG (bao gồm kỳ phiếu và chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn) có tham gia chương trình dự thưởng nên số dư tăng khá, đạt 46,628 (triệu đồng), chiếm tỷ trọng 4,36%/tổng nguồn huy động. Đến năm 2022 giảm xuống còn 3,154 (triệu đồng)và chỉ còn 1,044 (triệu đồng) trong năm 2023, chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng vốn huy động(0,07%)
- Tiền gửi thanh toán: Luận văn: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Agribank.
Đây chủ yếu là nguồn vốn tiền gửi của cá nhân qua tài khoản tiền gửi và tài khoản thẻ ATM, số dư tăng khá qua các năm và chiếm xấp xỉ 6-7%/tổng nguồn huy động. Năm 2021 đạt 73,365 (triệu đồng), chiếm tỷ trọng 6,86% trong tổng nguồn vốn huy động, đến năm 2022 nguồn vốn huy động từ loại tiền gửi này tăng lên 79,230 (triệu đồng), tức là tăng lên 8% so với năm 2021, tới năm 2023, con số đã được tăng mạnh lên đến 106,439 (triệu đồng) tương đương với tỷ lệ tăng là 34.3%.
Biều đồ 2.14: Cơ cấu tiền gửi thanh toán của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thủy qua 3 năm 2021 – 2023
Tỷ lệ này tăng cao chứng tỏ nhu cầu thanh toán của các cá nhân qua hệ thống ngân hàng là rất tốt. Đặc biệt là trong những năm trở lại đây, các dịch vụ thanh toán qua ngân hàng ngày càng phát triển như ủy nhiệm thu, ủy nhiệm chi, các dịch vụ thu hộ tiền điện, nước, chi trả lương qua thẻ ATM…đã mang lại nhiều tiện ích cho khách hàng. Các dịch vụ này cũng đã đem về cho chi nhánh một lượng vốn tương đối lớn. Tuy tiền gửi thanh toán có tính chất không ổn định nhưng điều đặc biệt là với nguồn vốn này, bên cạnh việc tận dụng được nguồn vốn có chi phí rẽ thì chi nhánh còn nhận được phí từ việc cung cấp các dịch vụ qua ngân hàng. Bên cạnh đó còn giúp chi nhánh có thể mở rộng nghiệp vụ huy động vốn và tăng tính cạnh tranh với các Ngân hàng thương mại khác trên cùng địa bàn.
Tiền gửi các TCKT, TC khác: Là các khoản tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn của các TCKT, TCTC lớn như Bảo hiểm xã hội, Kho bạc Nhà nước… Tỷ trọng nguồn vốn này có xu hướng giảm dần qua các năm. Nếu như năm 2021 nguồn vốn này chiếm tỷ trọng 13.09% thì sang năm 2022 còn 12.82% và đến năm 2023 chiếm tỷ trọng 12.27% trong tổng nguồn vốn huy động. Đặc điểm của nguồn vốn này thường có lãi suất thấp nên đã góp phần quan trọng trong việc giảm tỷ lệ lãi suất đầu vào. Tuy nhiên, nguồn vốn này không ổn định, thường được tăng trưởng số dư vào cuối tháng nên việc điều hành kế hoạch kinh doanh của chi nhánh dễ bị động.
Theo lãi suất: Cơ cấu nguồn tiền gửi theo lãi suất huy động tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thủy qua 3 năm 2021-2023 được trình bày ở bảng sau. Luận văn: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Agribank.
Bảng 2.9. Cơ cấu nguồn tiền gửi dân cư theo lãi suất huy động tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thủy qua 3 năm 2021-2023
Qua Bảng 2.9, cho thấy nguồn tiền gửi dân cư ở mức lãi suất không kỳ hạn (Nguồn tiền gửi từ hệ thống tài khoản thanh toán) hầu như không có sự biến động và chiếm tỷ lệ nhỏ, từ 4,0% đến 5,0% trên tổng nguồn huy động.
Biều đồ 2.15: Cơ cấu nguồn tiền gửi dân cư theo lãi suất huy động tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thủy qua 3 năm 2021-2023
Mức lãi suất từ 4,0% đến 4,8%/năm là mức lãi suất của các kỳ hạn từ 1 đến 3 tháng, với mức lãi suất này, nguồn vốn huy động từ dân cư chiếm tỷ lệ khá nhỏ cụ thể năm 2021 huy động được 171,113(triệu đồng), chiếm tỷ lệ 16% tổng nguồn, năm 2022 huy động được 177,890 (triệu đồng), chiếm tỷ lệ 14% tổng nguồn, năm 2023 huy động được 333,927(triệu đồng), chiếm tỷ lệ 22% tổng nguồn huy động từ dân cư (Năm 2023 kỳ hạn 1 đến 3 tháng có sự tăng trưởng vượt bậc so với các năm trước do năm 2023 lãi suất của kỳ hạn 3 tháng có sự tăng nhẹ (từ 4,5% lên 4,8% thậm chí có giai đoạn 5,2%).
Mức lãi suất từ 5% đến 5,3% là mức lãi suất bình quân của các kỳ hạn từ 4 đến 6 tháng, với mức lãi suất này nguồn vốn huy động chiếm tỷ lệ khá cao, cụ thể: năm 2021 huy động được 190,364 (triệu đồng), chiếm tỷ lệ 18,0%, năm 2022 huy động được 315,407 (triệu đồng), chiếm tỷ lệ 25,0%, năm 2023 huy động được 131,186 (triệu đồng), chiếm tỷ lệ 9,0% tổng nguồn huy động từ dân cư (Năm 2023 huy động vốn với mức lãi suất này giảm hơn so với các năm trước do lãi suất giữa kỳ hạn 3 tháng với kỳ hạn 4 đến 6 tháng ít có sự chênh lệch nên khách hàng có xu hướng gửi kỳ hạn 3 tháng nhiều hơn).
Mức lãi suất có nguồn huy động chiếm tỷ lệ cao nhất là mức từ 6 đến 8% (tương ứng với kỳ hạn gửi tiền là 12, 13 tháng), cụ thể: năm 2021 huy động được 436,339 (triệu đồng), chiếm tỷ lệ 54,0%, năm 2022 huy động được 566,471 (triệu đồng), chiếm tỷ lệ 45,0%, năm 2023 huy động được 776,679 (triệu đồng), chiếm tỷ lệ 52% trên tổng nguồn huy động từ dân cư. Từ kết quả phân tích trên, cho thấy mức lãi suất huy động cao luôn chiếm tỷ trọng cao trong tổng nguồn huy động.
- Theo địa bàn hoạt động Luận văn: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Agribank.
Là một tỉnh nằm trên tuyến hành lang kinh tế Đông – Tây và trục giao thông Bắc Nam với 75% diện tích và 73% dân số là nông nghiệp và nông thôn. Trên địa bàn huyện hiện có 3 phòng giao dịch ở Chợ Trạm, Mỹ Đức, Kiến Giang và 1 hội sở trung tâm thị trấn Kiến Giang. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thủy luôn xác định dù địa bàn trung tâm thị trấn hay các xã thì cũng cần tìm hiểu nhu cầu của người dân và phải thoả mãn những nhu cầu của họ để đảm bảo cho việc tăng trưởng nguồn vốn huy động được diễn ra đồng đều ở tất cả khu vực.
Bảng 2.10: Cơ cấu nguồn vốn huy động theo địa bàn của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thủy giai đoạn 2021-2023
Khu vực trung tâm thị trấn: là hội sở của ngân hàng Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thủy. Trong môi trường cạnh tranh gay gắt ở nhiều khía cạnh, đặc biệt là lãi suất nhưng chi nhánh vẫn duy trì được mức tăng trưởng ổn định và chiếm tỷ trọng ở mức khá cao, trên 40% tổng nguồn vốn huy động của chi nhánh. Nguồn vốn huy động đến 31/12/2023 đạt 688,128 (triệu đồng)chiếm tỷ trọng 46,16%/tổng nguồn huy động. Đây là tín hiệu đáng mừng nhưng cũng là thách thức của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thủy trong việc mở rộng đối tượng và địa bàn phục vụ để thu hút thêm nguồn vốn, phát triển kinh doanh dịch vụ hiện đại, chiếm lĩnh thị phần ngoại phạm vi thị trường và sản phẩm truyền thống của mình.
Khu vực xã: Bao gồm phòng giao dịch Chợ Trạm thuộc xã Mỹ Thủy , phòng giao dịch Mỹ Đức thuộc thị trấn Lệ Ninh, phòng giao dịch Kiến Giang thuộc xã Cam Thủy. Thời gian gần đây nhiều Tổ chức tín dụng cũng đã mở rộng tầm hoạt động nhằm thâm nhập vào thị trường làm cho mức độ cạnh tranh tăng lên. Do vậy, vốn huy động ở khu vực này tuy tăng trưởng tương đối khá về số tuyệt đối nhưng tỷ trọng lại có xu hướng giảm và duy trì ở mức ổn định (chiếm trên 50% trong tổng nguồn vốn huy động). Tổng nguồn vốn huy động đến 31/12/2023 tại khu vực xã đạt 802,618 triệu đồng, tăng thêm 112,381 (triệu đồng) so với năm 2022, chiếm tỷ trọng 53,84%/tổng nguồn vốn huy động. Huy động vốn trong dân nói chung và nhất là huy động vốn tại địa bàn xã nói riêng tạo nên nguồn vốn có tính ổn định vững chắc.
2.3.1.3. Đánh giá về thị phần nguồn vốn huy động Luận văn: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Agribank.
Đến 31/12/2023 trên địa bàn huyện Lệ Thủy có 4 Ngân hàng thương mại cùng hoạt động (không kể hệ thống quỹ Tín dụng Nhân dân, Ngân hàng Chính sách và Xã hội, Ngân hàng Phát triển). Các Ngân hàng thương mại đều có thời gian và mạng lưới hoạt động huyện Lệ Thủy khá ổn định và phát triển trong nhiều năm trở lại đây, nhưng với thế mạnh là ngân hàng đầu tiên trong các Ngân hàng thương mại trên địa bàn, thị phần về nguồn vốn của chi nhánh vẫn luôn được giữ vững và chiếm tỷ lệ cao (chiếm 48.2% toàn địa bàn vào năm 2023). Ngoài ra Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thủy là Ngân hàng thương mại lớn luôn dẫn đầu về mạng lưới hoạt động và quy mô hoạt động.
Bảng 2.11. Thị phần huy động vốn từ tiền gửi tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thủy qua 3 năm 2021-2023
Qua Bảng 2.9 cho thấy, thị phần huy động vốn từ dân cư của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn luôn chiếm tỷ trọng cao, hơn 40% trên tổng nguồn huy động của địa bàn, cụ thể: năm 2021 chiếm 58.6% thị phần, năm 2022 chiếm 50.4% thị phần và năm 2023 chiếm 48,2% thị phần.
Biều đồ 2.16: Thị phần huy động vốn từ tiền gửi tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thủy qua 3 năm 2021-2023 Luận văn: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Agribank.
Nguyên nhân của sự chiếm lĩnh thị trường trên là do Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn là ngân hàng thương mại đầu tiên trên địa bàn, sự ra đời và phát triển của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thủy luôn gắn liền với sự phát triển kinh tế- xã hội của địa bàn. Với bề dày truyền thống, uy tín của ngành cũng như sự nỗ lực phấn đấu của toàn thể cán bộ chi nhánh đã gây dựng, phát triển và giữ vững được một hệ thống khách hàng truyền thống rất hùng hậu, mặc dù địa bàn nhỏ hẹp nhưng số lượng khách hàng của chi nhánh luôn ổn định ở mức cao. Tuy nhiên nhìn vào bảng trên ta cũng thấy rằng, thị phẩn của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn mặc dù chiếm tỷ trọng lớn nhưng có xu hướng ngày càng bị thu hẹp, trong lúc đó thị phần các ngân hàng TMCP khác ngày càng được mở rộng, điều này đòi hỏi toàn thể cán bộ nhân viên của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thủy phải nỗ lực hơn rất nhiều trong việc giữ vững thị phần và phát triển, tăng cường công tác huy động vốn.
- Các công cụ hỗ trợ huy động vốn
Chính sách khoán: Từ năm 2018 chi nhánh đã thực hiện cơ chế khoán huy động vốn đến người lao động. Mức khoán được căn cứ vào kế hoạch tăng trưởng hàng năm, tùy theo đặc thù hoạt động của địa bàn (Thành phố Đông Hà, Huyện miền núi Đakrông, các địa bàn khác) để áp dụng giao khoán phù hợp, từng bước thay đổi nhận thức về trách nhiệm, nghĩa vụ của CBCNV với hoạt động kinh doanh của đơn vị. Nhờ vậy số dư bình quân huy động vốn trên mỗi cán bộ có sự gia tăng qua các năm, từ 11,0256 tỷ (năm 2018) lên 15,396 tỷ (năm 2020), góp phần tăng trưởng nguồn tiền gửi dân cư có tính ổn định cao cho chi nhánh.
Chính sách thi đua, khen thưởng: Ngoài chính sách khoán huy động vốn gắn với việc xét lương kinh doanh V2 theo quy định, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn còn áp dụng cơ chế thi đua, khen thưởng khuyến khích trong công tác huy động vốn, xem đây là một công cụ quan trọng trong điều hành kinh doanh. Chính sách thi đua, khen thưởng được điều chỉnh hàng năm theo tình hình thực tiễn của hoạt động kinh doanh.
Chính sách đào tạo nâng cao trình độ nghiệp vụ cho cán bộ: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thủy thường xuyên quan tâm đến công tác đào tạo nâng cao trình độ nghiệp vụ về mọi mặt cho CBCNVC, đặc biệt là đội ngũ giao dịch viên trực tiếp phục vụ khách hàng. Ngoài việc cử cán bộ tham gia các khóa học do ngành tổ chức, Ban lãnh đạo chi nhánh đã liên hệ mời các giảng viên giàu kinh nghiệm của các trường Đại học, Học viện trong nước để đào tạo kỹ năng giao tiếp, đàm phán với khách hàng, kỹ năng đọc và phân tích báo cáo tài chính doanh nghiệp… Nhờ vậy trình độ nhận thức và kỹ năng nghề nghiệp của cán bộ ngày càng được nâng cao, cán bộ ngày càng tâm huyết gắn bó với công việc của mình.
2.3.1.4. Hiệu quả huy động vốn Luận văn: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Agribank.
Bảng 2.12:Dư nợ trên vốn huy động
Theo quy định thì tỷ lệ sử dụng vốn cho phép là dưới 80%, bảng số liệu trên cho thấy, Agribank huyện Lệ Thủy đã sử dụng khoảng 86% ~ 94% phần vốn huy động để cho vay khách hàng, đây là một tỷ lệ không an toàn phản ánh được phần nào kết quả sử dụng vốn của chi nhánh không được tốt. Điều quan trọng là hoạt động huy động vốn có đáp ứng kịp thời với quá trình sử dụng vốn hay không và tính cân đối giữa các kỳ hạn huy động vốn và sử dụng vốn có bảo đảm không. Nếu huy động nhiều vốn ngắn hạn để cho vay dài hạn sẽ gây rủi ro mất khả năng thanh toán, hơn nữa về mặt kinh tế sẽ không hiệu quả vì huy động ngắn hạn phải kèm theo dự trữ bắt buộc không sinh lời trong khi vốn huy động trung dài hạn không phải kèm theo dự trữ bắt buộc nên có thể sử dụng hết để đầu tư. Tuy nhiên, phần lớn vốn huy động của Agribank huyện Lệ Thủy được dùng để đầu tư cho tín dụng trong ngắn hạn. Điều đó có nghĩa là khả năng rủi ro về lãi suất lớn, doanh thu. thấp kéo theo lợi nhuận của chi nhánh cũng không thể tăng trưởng.
2.3.1.5. Chi phí huy động vốn từ tiền gửi dân cư
Chi phí huy động vốn của Agribank huyện Lệ Thủy được đánh giá là khá cao so với các chi nhánh trong hệ thống. Như đã phân tích ở phần cơ cấu huy động theo thời gian và theo lãi suất chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy nguồn vốn huy động của chi nhánh chiếm hơn 50% ở các kỳ hạn dưới 24 tháng( chủ yếu là từ 12-13 tháng) tương ứng với các mốc lãi suất cao nhất: từ 6-8%/năm. Bởi vì chi phí huy động vốn cao nên Agribank huyện Lệ Thủy là đơn vị có chênh lệch lãi suất đầu vào, đầu ra thấp nhất trong hệ thống Agribank Tỉnh cũng như trong toàn hệ thống, đây là một vấn đề đặt ra cho chi nhánh trong việc tính toán hiệu quả,chất lượng công việc hơn là tính chỉ tiêu số lượng. Chênh lệch lãi suất đầu vào, đầu ra của Agribank huyện Lệ Thủy so với hệ thống Agribank tỉnh Quảng Bình được trình bày ở bảng sau:
Bảng 2.13. Chênh lệch lãi suất đầu vào, đầu ra của Agribank huyện Lệ Thủy so với hệ thống Agribank tỉnh Quảng Bình qua 3 năm 2021-2023 Luận văn: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Agribank.
Các hình thức, sản phẩm huy động vốn từ dân cư chưa đa dạng và phong phú, chủ yếu vẫn là những hình thức mang tính chất cổ truyền như là tiền gửi tiết kiệm với các sản phẩm chính như đã nêu ở phần trên, mở tài khoản thanh toán cá nhân, tài khoản ATM. Các hình thức khác như: phát hành trái phiếu, gửi tiết kiệm rút gốc linh hoạt,tiết kiệm bậc thang, sử dụng séc cá nhân, thẻ tín dụng,các dịch vụ Internet Banking chưa được chi nhánh triển khai và thực hiện đồng bộ. Diễn biến chi phí huy động vốn qua 3 năm 2021-2023 được trình bày ở bảng sau.
Bảng 2.14: Chi phí huy động vốn/quy mô huy động vốn tại Agribank huyện Lệ Thủy qua 3 năm 2021-2023
Qua Bảng 2.14, cho thấy lãi suất huy động vốn phản ánh giá cả đầu vào hay chi phí phải trả cho nguồn vốn huy động. Các khoản phí này càng thấp thì càng giúp ngân hàng tăng mức chênh lệch lãi suất đầu ra, đầu vào. Với cùng một lượng vốn huy động được, chi phí phải trả càng thấp thì nguồn vốn huy động được càng hiệu quả. Qua Bảng 2.18, cho thấy tỷ lệ chi phí huy động vốn của Agribank huyện Lệ Thủy có sự biến động, cụ thể: Tỷ lệ chi phí huy động vốn bình quân năm 2021 là 4.76%, sau đó lên mức còn 5% năm 2022 và giảm xuống 4.98% năm 2023. Sở dĩ “giá” vốn huy động của ngân hàng có tăng lên là do trong giai đoạn này chi nhánh phải đối mặt với các cuộc chạy đua nâng lãi suất và để duy trì thanh khoản buộc ngân hàng cũng phải nâng lãi suất huy động nguồn.
2.3.1.6. Tính sát thực của kế hoạch huy động vốn từ tiền gửi dân cư Luận văn: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Agribank.
Để phân tích hoạt động huy động vốn tại Agribank huyện Lệ Thủy, căn cứ vào chỉ tiêu tỷ lệ hoàn thành kế hoạch huy động vốn. Tỷ lệ hoàn thành kế hoạch huy động vốn qua 3 năm 2021-2023 được trình bày ở bảng sau.
Bảng 2.15. Tình hình thực hiện huy động vốn từ tiền gửi dân cư theo kế hoạch tại Agribank huyện Lệ Thủy qua 3 năm 2021-2023
Qua Bảng 2.15, cho thấy qua 3 năm 2021-2023 tỷ lệ hoàn thành kế hoạch huy động vốn đạt mức khá cao. Năm 2021, đạt tỷ lệ 89.22%; năm 2022 đạt tỷ lệ 95.82%, tức là tỷ lệ hoàn thành công tác huy động vốn theo kế hoạch đạt trên 90%. Năm 2023, tỷ lệ này đạt 92.27%. Tuy đã có nhiều cố gắng trong việc thực hiện công tác huy động vốn bằng việc đa dạng hoá các hình thức, các biện pháp, các kênh huy động vốn từ mọi nguồn trong mọi thành phần nhưng do biến động của thị trường cộng với kế hoạch cao nên kết quả lượng vốn huy động luôn nhỏ hơn kế hoạch đề ra. Với tỷ lệ hoàn thành kế hoạch như vậy, cho thấy công tác lập kế hoạch nguồn vốn đã dự báo khá chính xác lượng vốn có thể huy động của Agribank huyện Lệ Thủy và lượng vốn huy động đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn của ngân hàng qua 3 năm 2021-2023. Chi nhánh đã coi trọng công tác huy động vốn trong thời gian qua, coi vốn là yếu tố đầu tiên của hoạt động và cũng là yếu tố quyết định đến sự tồn tại và phát triển của ngân hàng.Khi nguồn vốn huy động được có cơ cấu hợp lý, chi phí huy động thấp sẽ góp phần thúc đẩy hoạt động huy động vốn của ngân hàng.
2.3.1.7. Tính hợp lý trong công tác chỉ đạo, tổ chức thực hiện huy động vốn từ tiền gửi dân cư
Năng suất huy động tại Agribank huyện Lệ Thủy qua 3 năm 2021-2023 được trình bày ở bảng sau.
Bảng 2.16. Năng suất huy động tại Agribank huyện Lệ Thủy qua 3 năm 2021-2023
Qua Bảng 2.16, cho thấy năng suất huy động vốn của Agribank thị xã Quảng Trị có sự tăng lên liên tục qua 3 năm 2021-2023. Cụ thể, năm 2021 năng suất huy động vốn của ngân hàng đạt mức 30,556 triệu đồng/người, năm 2022 đạt mức 31,541 triệu đồng/người; năm 2023 đạt 35,494 triệu đồng /người Luận văn: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Agribank.
2.3.2. Chỉ tiêu định tính
Sau khi tiến hành điều tra 300 khách hàng đến giao dịch trực tiếp dịch vụ huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thủy đã có phiếu phản hồi. Kết quả thu được như sau:
2.3.2.1. Đối tượng
Biều đồ 2.17: Mức độ quan tâm theo đối tượng của khách hàng đối với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Lệ Thủy
Trong 200 khách hàng có 153 đối tượng là cá nhân chiếm 76.5% và 47 khách hàng là doanh nghiệp chiếm 23.5%. Điều này đúng với thực tế của huyện Lệ Thủy, khi mà lượng doanh nghiệp khá ít và có quy mô nhỏ, đa số là tự phát và có nguồn vốn sẵn có.Cá nhân thì có nhu cầu lớn hơn rất nhiều, vì vậy mức độ quan tâm của nhóm đối tượng này cũng lớn hơn.
2.3.2.2. Yếu tố quyết định gửi tiền vào Ngân hàng
Có rất nhiều yếu tố mang tính quyết định khi khách hàng lựa chọn gửi tiền vào ngân hàng.
Biều đồ 2.18: Yếu tố quyết định gửi tiền vào ngân hàng của khách hàng.
Yếu tố khách hàng quan tâm khi quyết định gửi tiền vào ngân hàng:
Trong tổng số 200 khách hàng được điều tra có 27% đối tượng quan tâm lãi suất và phí, việc ngày càng có nhiều ngân hàng thành lập ở huyện khiến khách hàng sẽ có sự so sánh và cân nhắc để chọn lựa:
- 5% khách hàng quan tâm đến chính sách sản phẩm để quyết định gửi tiền.
- 5% quan tâm đội ngũ nhân viên thông qua tác phong làm việc và tư vấn nhiệt tình cho khách hàng
- 8% quan tâm cơ sở vật chất, khách hàng luôn mong muốn có không gian giao dịch thoải mái, dễ chịu, có khu vực để đợi giao dịch hay trao đổi riêng với các cán bộ ngân hàng.
- 5% quan tâm mạng lưới giao dịch. Huyện Lệ Thủy rất rộng nhưng đa phần các ngân hàng đều tâp trung ở trung tâm thị trấn Kiến Giang, vì vậy rất khó khăn cho các khách hàng ở các xã vùng ven, vì vậy mà hệ thống phòng giao dịch và cột ATM sẽ là một yếu tố quyết định chính đến lựa chọn của khách hàng.
- 5% quan tâm uy tín thương hiệu khi quyết định gửi tiền vào ngân hàng để hạn chế những rủi ro không đáng có.
Điều này chứng tỏ, lãi suất và phí là yếu tố quan tâm hàng đầu của khách hàng khi đến gửi tiền tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thủy, cần phải có chính sách điều hành lãi suất và phí linh động, có tính cạnh tranh cao để thu hút khách hàng gửi tiền. Bên cạnh đó, mạng lưới giao dịch, uy tín thương hiệu cũng là một trong những yếu tố quan trọng, đóng vai trò quyết định không nhỏ khi khách hàng gửi tiền vào ngân hàng. Luận văn: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Agribank.
2.3.2.3. Đánh giá chất lượng sản phẩm huy động vốn của Ngân hàng:
Qua bảng kết quả khảo sát 200 khách hàng ta có thể thấy chất lượng sản phẩm huy động vốn của Ngân hàng qua từng chỉ tiêu sau:
- Đánh giá về uy tín, thương hiệu
Kết quả của cuộc khảo sát cho thấy lượng khách hàng đồng ý với uy tín và thương hiệu mà Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn mang lại là rất lớn. Là ngân hàng đầu tiên và gắn liền với sự phát triển của huyện Lệ Thủy, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn luôn được xem là ngân hàng uy tín nhất tính đến thời điểm hiện tại. Mạng lưới giao dịch của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn trên khắp cả nước cũng rất nhiều, thuận tiện cho khách hàng dù ở bất cứ vùng miền nào. Mọi thông tin của khách hàng luôn được bảo mật tuyệt đối, các kênh cung cấp thông tin cũng dễ tiếp cận và đa dạng.
Biều đồ 2.19: Đánh giá của khách hàng về uy tính và thương hiệu Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Yếu tố đánh giá về uy tín, thương hiệu, qua khảo sát ta có thể thấy khách hàng khá đồng ý về kênh cung cấp thông tin của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn là đa dạng và dể tiếp cận, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn bảo mật tốt thông tin của khách hàng, mạng lưới giao dịch của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn rộng và bố trí hợp lý, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn là ngân hàng có thương hiệu nổi tiếng. Đây là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định gửi tiền tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.
- Công tác quản lý trang thiết bị, cơ sở vật chất Luận văn: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Agribank.
Về Công tác quản lý trang thiết bị, cơ sở vật chất, khách hàng đánh giá địa điểm giao dịch khá thuận tiện, cơ sở vật chất và phương tiện vật chất khá tốt, không gian giao dịch thoải mái và dể chịu, hệ thống ATM ngày càng được mở rộng và linh động hơn.
Trong những năm qua, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đã thành công trong việc thay đổi Chi nhánh theo hướng thân thiện, hiện đại và đơn giản giúp khách hàng dễ dàng giao dịch và tiếp cận sản phẩm dịch vụ mới. Tuy nhiên số lượng khách hàng ngày càng đông, khách hàng càng ngày càng có nhu cầu có thêm hệ thống cột ATM cũng như phòng giao dịch
Biều đồ 2.20: Đánh giá của khách hàng về trang thiết bị, cơ sở vật chất Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
- Chất lượng sản phẩm dịch vụ huy động vốn
Qua 5 tiêu chí về chất lượng sản phẩm dịch vụ huy động vốn ta thấy rằng:
Về chất lượng sản phẩm dịch vụ, 63% khách hàng được khảo sát bày tỏ là khá đa dạng, chỉ có 4% khách hàng cho rằng không đa dạng. Kết quả khảo sát cho thấy chất lượng sản phẩm dịch vụ của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn mang tính hiệu quả, thỏa mãn nhu cầu đại đa số khách hàng gửi tiền.
Đối với mẫu biểu của sản phẩm dịch vụ, 66% khách hàng được khảo sát cho rằng các mẫu biểu đơn giản và dể hiểu, chỉ có 25% khách hàng cho rằng các mẫu biểu tương đối đơn giản dể hiểu.
Về phí giao dịch, 74% khách hàng được khảo sát tương đối đồng ý rằng phí giao dịch hợp lý, thay đổi phù hợp và kịp thời nhưng chỉ có 16% khách hàng khá đồng ý phí giao dịch là hợp lý. Luận văn: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Agribank.
Đối với lãi suất huy động, 15% khách hàng được khảo sát cho rằng lãi suất tiền gửi của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tương đối linh hoạt và tương đối có tính cạnh tranh, 72% khách hàng đánh giá lãi suất tiền gửi của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn linh hoạt và mang tính cạnh tranh cao.
Về những chương trình khuyến mại, kết quả khảo sát ta có thể thấy đa phần khách hàng cho rằng những chương trình khuyến mại, ưu đãi quà tặng ….đi kèm các sản phẩm tiền gửi của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn khá thường xuyên. Tuy nhiên sự canh tranh mạnh mẽ của các ngân hàng khác để mở rộng thị phần khiến càng ngày càng nhiều chương trình sản phẩm ưu đãi thu hút khách hàng.Điều này cho thấy ngân hàng phải chú trọng đổi mới, đa dạng hóa các chức năng, tiện ích sản phẩm dịch vụ kèm quà tặng hấp dẫn để đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. Đây chính là những gợi ý quan trọng để ngân hàng có thể tham khảo và xây dựng những chính sách khuyến mại phù hợp đối với khách hàng của mình.
Biều đồ 2.21: Đánh giá của khách hàng về chất lượng sản phẩm Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
- Tác phong của nhân viên
Đối thái độ nhân viên Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn với khách hàng, thông qua ý kiến đánh giá của các khách hàng được khảo sát, có thể thấy thái độ nhân viên giao dịch với khách hàng khá niềm nở, thân thiện, phong cách làm việc chuyên nghiệp. Ngoài ra nhân viên còn hướng dẫn thủ tục cho khách hàng khá đầy đủ và dể hiểu. Về phần xử lý nghiệp vụ và giải quyết khiếu nại nhân viên Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn khá xử lý nhanh chóng, chính xác và hợp lý, điều này cũng dễ hiểu vì yếu tố chuyên nghiệp vụ của nhân viên luôn luôn được nâng cao và hoàn thiện theo thời gian.
Biều đồ 2.22: Đánh giá của khách hàng tác phong đội ngũ nhân viên Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Trong 200 khách hàng tham gia khảo sát, vẫn có một số khách hàng đánh giá về tác phong làm việc của nhân viên không được tốt, có những nhân viên khi giao dịch rất chậm, thái độ giao dịch với khách hàng không tốt, giải đáp thắc mắc cho khách hàng không rõ ràng, còn mập mờ, không thỏa đáng, đây là điều nên khắc phục và dần hoàn thiện để mang đến cho khách hàng sự hài lòng cao nhất. Luận văn: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Agribank.
- Mức độ tình cảm của khách hàng đối với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
Qua kết quả khảo sát về mức độ tình cảm của khách hàng đối với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cho thấy 74% khách hàng được khảo sát sẽ tiếp tục giao dịch với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và không đồng ý chỉ có 13%. Đối với chất lượng dịch vụ được khảo sát có hài lòng hay không thì thấy rằng có 64% khá hài lòng với chất lượng dịch vụ của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Và phần lớn ý kiến khảo sát cho thấy họ sẽ giới thiệu bạn bè với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
2.4. KẾT QUẢ VÀ HẠN CHẾ, NGUYÊN NHÂN HẠN CHẾ TRONG CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN VIỆT NAM – CHI NHÁNH HUYỆN LỆ THỦY TỈNH QUẢNG BÌNH. Luận văn: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Agribank.
2.4.1. Những kết quả đạt được
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thủy đã tạo ra được nguồn tiền gửi có sự tăng trưởng ổn định và liên tục, là một trong những chi nhánh có công tác huy động vốn tốt nhất trong hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Quảng Bình cũng như trong hệ thống các Ngân hàng thương mại tại địa bàn tỉnh Quảng Bình. Điều này được thể hiện qua số dư tiền gửi tăng lên qua 3 năm 2021-2023 và tăng ở hầu hết các kỳ hạn. Mặc dù nền kinh tế trong thời gian qua luôn có nhiều biến động phức tạp và sự cạnh tranh giữa các Ngân hàng thương mại ngày càng gay gắt nhưng hoạt động huy động vốn của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thủy vẫn đạt được những thành công đáng kể.
Chi nhánh chấp hành nghiêm túc chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước và quy định của Ngân hàng Nhà nước, của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Xây dựng mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với chính quyền địa phương tạo điều kiện cho chi nhánh thực hiện cơ chế điều hành linh hoạt, đạt được hiệu quả cao.
Thực hiện nghiêm túc cơ chế lãi suất theo quy định của Ngân hàng nhà nước và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn. Điều hành lãi suất linh hoạt phù hợp với tín hiệu thị trường, và quản lý của Ngân hàng nhà nước và của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.
Quan tâm đầu tư cơ sở vật chất đáp ứng yêu cầu kinh doanh: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn là Ngân hàng thương mại có mạng lưới hoạt động rộng khắp từ tỉnh đến các huyện, thị, thành phố, xã, phường, thị trấn. Cơ sở vật chất của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn tỉnh và các chi nhánh, phòng giao dịch thường xuyên được nâng cấp, cải tạo khang trang sạch đẹp, tạo cảm giác an tâm, an toàn và thoải mái cho khách hàng khi đến giao dịch.
Doanh số huy động vốn ngày càng tăng và đạt tốc độ tăng trưởng nhanh đã đáp ứng nhu cầu thanh toán và nhu cầu vốn cho hoạt động kinh doanh của các tổ chức, cá nhân trên địa bàn tỉnh.
Bên cạnh sự tăng trưởng mạnh về vốn huy động, sự thay đổi mạnh mẽ trong cơ cấu nguồn vốn của chi nhánh như nguồn vốn huy động từ tiền gửi trong dân cư không ngừng tăng lên, xu hướng gia tăng tỷ trọng nguồn tiền gửi của các TCKT, TC khác đã tạo điều kiện cho chi nhánh có thể mở rộng hoạt động cho vay trên địa bàn.
Nhờ theo dõi và nắm bắt kịp thời những biến động trên thị trường nên chi nhánh đã có sự linh hoạt trong công tác xây dựng và thực hiện chính sách huy động vốn hiệu quả: Luận văn: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Agribank.
Chi nhánh đã áp dụng hình thức giao khoán chỉ tiêu huy động vốn cho các cán bộ chuyên trách, hình thành các tổ tiếp thị huy động vốn và phát triển khách hàng để tăng tính cạnh tranh trong công tác huy động vốn.
Ngoài ra, chi nhánh cũng đã triển khai khá thành công các đợt huy động vốn do Hội sở phát động như: Các chương trình tiết kiệm dự thưởng, tiết kiệm bậc thang, tiết kiệm rút gốc linh hoạt… nên đã thu hút được một lượng vốn khá lớn từ dân cư và các tổ chức kinh tế, tạo điều kiện để nguồn vốn huy động của chi nhánh tăng trưởng nhanh, đồng thời góp phần làm đa dạng hoá các hình thức huy động vốn tại chi nhánh.
2.4.2. Những tồn tại, hạn chế
Bên cạnh những kết quả đạt được, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thủy còn bộc lộ một số tồn tại hạn chế trong công tác huy động vốn như sau:
Thứ nhất, nguồn vốn huy động của chi nhánh luôn chiếm lĩnh gần 50% thị phần của địa bàn, tuy nhiên như đã phân tích ở trên, thị phần của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ngày càng bị thu hẹp trong lúc đó thị phần của các Ngân hàng thương mại cổ phần khác ngày càng được mở rộng, Năng suất huy động vốn năm 2021 là 1,069,458 (triệu đồng) chiếm 58.6%, trong khi đó Viecombank là 204,402 (triệu đồng) chiếm 11.2% và Vietinbank là 551,154 (triệu đồng) chiếm 30.2%. Đến năm 2023, mặc dù năng suất huy động có tăng lên, nhưng thị phần của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Lệ Thủy lại có dấu hiệu giảm, chỉ chiếm 48.2% tổng nguồn vốn của huyện, trong khi đó, Vietcombank là 13.3%, Vietinbank là 34.6% và sự xuất hiện của ngân hàng Liên Việt Postbank chiếm 3.9%. Điều này đặt ra cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thủy nhiều khó khăn và thách thức trong việc giữ vững và phát triển thị phần.
Thứ hai,các hình thức, sản phẩm, dịch vụ huy động vốn chưa đa dạng và phong phú, chủ yếu là hình thức mang tính truyền thống như là tiền gửi tiết kiệm với các sản phẩm chính như đã nêu ở phần trên, mở tài khoản thanh toán cá nhân, tài khoản ATM. Luận văn: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Agribank.
Dịch vụ thanh toán: tốc độ xử lý các giao dịch khác hệ thống và quốc tế còn chậm, ngân hàng vẫn chưa chú trọng quảng bá, giới thiệu dịch vụ chuyển tiền quốc tế đến khách hàng.
Dịch vụ thẻ: Thẻ thanh toán của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Lệ Thủy chỉ thanh toán được trong nước và mới chỉ cung cấp cho khách hàng các dịch vụ tiện ích cơ bản, chưa có các dịch vụ gia tăng đặc thù, nổi trội để thu hút khách hàng.
Hoạt động marketing của ngân hàng chưa thực sự được chú trọng. Hầu như, ngân hàng đang chờ khách hàng đến chứ chưa chủ động tìm kiếm khách hàng. Chưa đưa các thông tin phổ biến rộng rãi đến từng khu dân cư. Trong lúc đó, các Ngân hàng thương mại trên địa bàn thực sự rất mạnh về vấn đề marketing ngân hàng. Bên cạnh đó định vị về thương hiệu ngân hàng cũng là một yếu tố cần được ngân hàng quan tâm hơn nữa.
Tại chi nhánh chưa tổ chức được công tác phân tích, dự báo thị trường và nắm bắt thông tin, thực hiện chính sách đối với khách hàng. Do đó, chi nhánh vẫn chưa chủ động, linh hoạt trong áp dụng lãi suất và điều hành hoạt động huy động vốn mà còn trông chờ vào các chương trình, giải pháp của Trụ sở chính.
Thứ ba, Cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin còn nhiều hạn chế. Tình trạng nghẽn mạch, rớt mạng trong xử lý giao dịch với khách hàng còn xảy ra thường xuyên đặc biệt là vào những lúc cao điểm như các ngày đầu tuần hoặc sau các ngày nghỉ lễ…điều này không những làm khách hàng không hài lòng mà còn có thể gây ra rủi ro tác nghiệp đối với ngân hàng. Thủ tục giấy tờ chưa thực sự đơn giản, cách thức giao dịch chưa chuyên nghiệp: Công nghệ khoa học Ngân hàng áp dụng trong việc cung ứng các dịch vụ cho khách hàng là một vấn đề đòi hỏi chúng ta phải quan tâm nhất, trong khi công nghệ thông tin hiện nay của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn khá vượt trội, song các thủ tục giấy tờ giao dịch vẫn còn khá rườm rà. Trình độ cán bộ chưa đồng đều, sự phối hợp giữa các bộ phận nghiệp vụ chưa thường xuyên, thông suốt không thể phát huy được khả năng hoạt động kinh doanh nói chung, hoạt động huy động vốn nói riêng của Ngân hàng.
Thứ tư, hoạt động huy động vốn chưa gắn chặt chẽ với sử dụng vốn hiệu quả. Mặc dù, lượng vốn huy động của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn huyện Lệ Thủy là khá lớn, lượng tiền gửi có kỳ hạn của dân cư là khá cao nhưng tổng dư nợ cho vay của Chi nhánh còn thấp so với lượng vốn huy động được. Do đó, một lượng vốn huy động được của Chi nhánh được chuyển về quỹ điều hoà của chi nhánh mẹ. Trong lúc đó lãi suất đầu vào (lãi suất huy động vốn) và lãi điều vốn chi nhánh không tự quyết được mà phụ thuộc vào quy định của cấp trên do đó hiệu quả của công tác huy động vốn và sử dụng vốn của chi nhánh không chủ được và đạt kết quả không cao.
2.4.3. Nguyên nhân hạn chế Luận văn: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Agribank.
Thứ nhất, công tác quảng cáo, marketing đạt hiệu quả chưa cao, nguyên nhân là chi nhánh chỉ chú trọng đến hình thức nhưng chưa quan tâm đến chất lượng. Công tác chăm sóc khách hàng của chi nhánh chưa được chú trọng, việc chăm sóc khách hàng thường chỉ được chú trọng đối với những đối tượng số ít khách hàng VIP, còn đối với số đông các đối tượng khách hàng tiềm năng chưa được quan tâm, mặc dù trên chương trình chăm sóc khách hàng khách hàng có nhiều đối tượng khách hàng đã đạt điểm để nhận quà nhưng do kinh phí dành cho quảng cáo, tiếp thị của chi nhánh bị hạn chế nên chi nhánh chưa thực hiện chính sách quan tâm chăm sóc và tặng quà đối với số đông đối tượng khách hàng này.Sự cạnh tranh gay gắt giữa các Ngân hàng thương mại về khả năng cung ứng dịch vụ mới, lãi suất huy động, lãi suất cho vay ngày càng diễn ra quyết liệt phần nào gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh của chi nhánh. Vì khi chi nhánh tăng lãi suất huy động thì buộc phải tăng lãi suất cho vay, khi lãi suất huy động và lãi suất cho vay không có bước gia tăng tương ứng thì ngân hàng phải chấp nhận giảm lợi nhuận.
Thứ hai, chất lượng sản phẩm dịch vụ chưa cao, một số sản phẩm dịch vụ có hiệu ích chưa cao so với các Ngân hàng thương mại khác trên địa bàn, như Vietcombank, BIDV, Sacombank…cho nên chưa tạo ra được sự gắn kết lâu dài của khách hàng với sản phẩm dịch vụ. Việc áp dụng công nghệ mới, trang thiết bị máy móc hiện đại và tốc độ phát triển công nghệ thanh toán không dùng tiền mặt… chưa thực sự tương xứng với nhu cầu của người dân trên địa bàn và quy mô phát triển của chi nhánh.
Ngoài ra, hạ tầng cơ sở thông tin viễn thông nước ta còn kém phát triển, thiếu sự đồng bộ kết nối giữa các ngân hàng trong khi đó các sản phẩm hiện đại của ngân hàng lại phụ thuộc vào cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin. Các ngân hàng khó kết nối với nhau đó là điều tất yếu bởi trên thực tế việc ứng dụng các công nghệ hiện nay còn nhiều bất cập, mặt bằng trình độ công nghệ của các ngân hàng còn ở mức thấp, khoảng chênh lệch trình độ công nghệ giữa các ngân hàng khá xa nhau dẫn đến hai tình trạng trái ngược nhau: hoặc là chỉ có thể ứng dụng công nghệ ở mức độ thấp do hạn chế về vốn hoặc chưa khai thác sử dụng hết tính năng công nghệ hiện đại do một số quy trình, chuẩn mực nghiệp vụ chưa được ban hành đầy đủ.
Thứ ba, công tác giao khoán huy động vốn và phát triển sản phẩm dịch vụ chưa khuyến khích, động viên toàn thể cán bộ của chi nhánh nỗ lực hết mình để tăng trưởng huy động vốn, cán bộ chủ yếu chú trọng về số lượng nhưng chưa thực sự chú trọng về chất lượng, hiệu quả đem lại cho chi nhánh. Luận văn: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Agribank.
Thứ tư, các hình thức huy động còn đơn giản và chưa đa dạng, cụ thể tiền gửi tiết kiệm mới chỉ có các loại hình truyền thống và chỉ phân loại về kỳ hạn. Chưa có nhiều các loại hình tiết kiệm phù hợp với các nhu cầu người dân và mục đích tiền gửi tiết kiệm, chủ yếu dùng công cụ lãi suất để huy động là chính, thể thức gửi và gửi và lĩnh còn thủ công, khó mua bán, chuyển nhượng… Do sản phẩm huy động vốn chưa thực sự phong phú, hấp dẫn nên không thu hút được triệt để các đối tượng khách hàng.
TÓM TẮT CHƯƠNG 2
Tóm lại, qua phân tích hoạt động huy động vốn của Agribank Chi nhánh huyện Lệ Thủy Quảng Bình đã cho chúng ta cái nhìn bao quát về thực trạng huy động vốn.Nguồn vốn của chi nhánh vẫn luôn tăng trưởng, các sản phẩm huy động và công tác chăm sóc khách hàng ngày càng được cải thiện góp phần gia tăng nguồn vốn huy động, góp phần thực hiện chỉ tiêu kinh doanh.
Bên cạnh những kết quả đạt được, Agribank Chi nhánh huyện Lệ Thủy Quảng Bình vẫn còn nhiều bất cập cần được giải quyết nhằm phát triển hơn nữa hoạt động huy động vốn trong thời gian tới, đó là: Cần mở rộng hơn nữa mạng lưới giao dịch; cần chú trọng nhiều hơn đến mảng dịch vụ ngân hàng; nâng cao chất lượng phục vụ thực hiện chính sách về lãi suất và khuyến mại linh hoạt; nâng cao chất lượng đội ngũ nhân viên hơn nữa, các dịch vụ về thẻ và dịch vụ ngân hàng thanh toán online chưa được khai thác sử dụng, các công tác thanh kiểm tra nội bộ…
Tất cả những vấn đề nêu trên sẽ được giải quyết trong chương 3 nhằm phát triển hoạt động huy động vốn tại Agribank Chi nhánh Lệ Thủy Quảng Bình. Luận văn: Thực trạng huy động vốn tại ngân hàng Agribank.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Giải pháp hoạt động huy động vốn tại Agribank
