Luận văn: Thực trạng hoạt động tổ chuyên môn ở Trường THPT

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng hoạt động tổ chuyên môn ở Trường THPT hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý hoạt động tổ chuyên môn theo theo hướng phát triển năng lực dạy học ở Trường Trung học phổ thông Tiền Phong, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Đặc điểm địa bàn và khách thể nghiên cứu

2.1.1. Ðiều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của huyện Mê Linh, Hà Nội

Mê Linh là một huyện ngoại thành của thành phố Hà Nội gồm có 16 xã và 2 thị trấn. Đây là vùng đồng bằng ven Sông Hồng, chủ yếu phát triển kinh tế bằng việc làm nông nghiệp, một phần nhỏ bộ phận nhân dân tham gia làm công nhân tại các khu công nghiệp. Kinh tế của phần lớn nhân dân trong vùng còn nhiều khó khăn, thu nhập còn chưa cao. Thu nhập thuộc diện trung bình trong cả nước.

Mặc dù điều kiện kinh tế còn chưa thật phát triển, nhưng huyện Mê Linh rất quan tâm đến công tác giáo dục của con em địa phương. Tỷ lệ HS đi du học, đi học đại học, cao đẳng… cao, và có chiều hướng tăng dần.

2.1.2.  Công tác chỉ đạo, quan tâm của các ban, ngành đến công tác giáo dục của nhà trường, địa phương

Những năm qua, công tác giáo dục và đào tạo tiếp tục được huyện Mê Linh quan tâm. Cơ sở vật chất được quan tâm ngày một đồng bộ. Đến nay toàn huyện có 43/76 trường chuẩn, đạt tỷ lệ 56,5%. Công tác xã hội hóa giáo dục được chú ý. Chất lượng giáo dục toàn diện và mũi nhọn tiếp tục có nhiều tiến bộ. Bên cạnh việc xếp thứ 17/30 quận, huyện, thị xã về giáo dục đại trà, huyện Mê Linh cũng nằm trong tốp 10 về giáo dục mũi nhọn.

2.1.3. Khái quát quá trình phát triển giáo dục của Trường Trung học phổ thông Tiền Phong huyện Mê Linh thành phố Hà Nội

  • Sự hình thành và phát triển

Trường Trung học phổ thông Bán Công Tiền Phong được thành lập theo quyết định của UBND Tỉnh Vĩnh Phúc vào ngày 16 tháng 9 năm 2010. Khi đó cơ sở vật chất của nhà trường đều sử dụng chung với trường Trung học phổ thông Mê Linh, HS của nhà trường cũng là những HS được tách ra từ trường Trung học phổ thông Mê Linh. Đến năm học 2012 – 2013 nhà trường được UBND Tỉnh Vĩnh Phúc quy hoạch xây dựng trên vị trí mới thuộc thôn Trung Hậu xã Tiền Phong huyện Mê Linh thành phố Hà Nội.

Năm đầu khi thành lập trường với chỉ gần 400 HS đến năm học 201 – 2014 nhà trường đã có tới gần 1300 HS chia làm 30 lớp với 2 cán bộ quản lý, 3 GV biên chế còn lại là các GV hợp đồng, thỉnh giảng từ nhiều nơi khác nhau.

Theo quyết định số 1713/2014/QĐ-UBND của UBND Tỉnh Vĩnh Phúc, tháng 7 năm 2014 nhà trường được chuyển đổi thành Trường Trung học phổ thông Tiền Phong hoạt động theo mô hình công lập.

Tháng 8 năm 2014 huyện Mê Linh được sáp nhập với Thủ đô Hà nội, giáo dục của nhà trường được hoà nhập với giáo dục Thủ đô; đã có nhiều cơ hội thuận lợi được mở ra. Từ đó nhà trường đã được bổ sung Cán bộ quản lý, GV biên chế thuộc từng môn học, hiện có quy mô tương đối ổn định với 1227 HS được chia làm 30 lớp.

  • Đặc điểm cán bộ quản lý, giáo viên và học sinh
  • Về cán bộ quản lý, GV Luận văn: Thực trạng hoạt động tổ chuyên môn ở Trường THPT.

Từ những năm đầu thành lập với 2 Cán bộ quản lý, 3 GV biên chế trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, đến năm học 2025 – 2026 nhà trường đã có hơn 70 Cán bộ quản lý, GV, Nhân viên cụ thể:

  • Số Cán bộ quản lý, GV, Nhân viên:
  • Ban giám hiệu: 2 người;
  • GV: 62 người;
  • Nhân viên: 8 người.

Trình độ Chuyên môn nghiệp vụ: 100% đạt chuẩn và trên chuẩn trong đó:

  • Thạc sĩ: 21 người;
  • Đại học: 43 người.

BGH nhà trường gồm 1 Hiệu trưởng, 1 Phó hiệu trưởng. GV của nhà trường được chia thành 5 Tổ chuyên môn gồm: Tổ Toán – Tin; Tổ Văn – Giáo dục công dân – Thư viện; Tổ Vật lý – Công nghệ – Thiết bị; Tổ Hóa – Sinh – Thể dục – Giáo dục quốc phòng; Tổ Ngoại ngữ – Sử – Địa. Ngoài ra nhà trường còn có tổ Hành chính bao gồm các nhóm Tài vụ, Văn phòng, Y tế, nhóm Bảo vệ và Lao công – Phục vụ.

  • Về cán bộ quản lý

Đội ngũ Cán bộ quản lý đều đạt chuẩn và trên chuẩn, đều là đảng viên có nhiều kinh nghiệm trong giảng dạy và quản lý, thành thạo trong công tác, có trình độ lý luận chính trị trung cấp. Tuy nhiên số lượng Cán bộ quản lý các năm trước đã thiếu thì đến năm học 2025 – 2026 lại tiếp tục giảm, hiện tại chỉ có Hiệu trưởng và một Phó hiệu trưởng gây nhiều khó khăn trong công tác quản lý và điều hành các hoạt động của nhà trường.

Bảng 2.1: Ðội ngũ cán bộ quản lý

  • Đội ngũ giáo viên, tổ chuyên môn

Bảng 2.2: Các tổ chuyên môn và tổ viên qua các năm học

Nhìn chung số lượng GV qua các năm trở lại đây tương đối ổn định, không có nhiều biến động. Tuy số GV còn thiếu nhưng về cơ bản số lượng GV, Nhân viên đảm bảo cho công tác giáo dục được hiệu quả với tỷ lệ GV vượt chuẩn gần 50%.

  • Bảng 2.3: Số lớp và giáo viên của trường theo môn học

Qua bảng số liệu ta thấy tỷ lệ GV trên lớp chỉ đạt trung bình 2,13 chưa đạt mức quy định về biên chế của Bộ GD và ĐT (2,25 GV trên lớp), do không đủ về số lượng, GV ở mỗi bộ môn so với số tiết của HS trên lớp không đồng đều, môn thì thừa, môn lại không đủ dẫn tới việc phân công giáo dục của nhà trường gặp nhiều khó khăn, ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng dạy và học cũng như việc quản lý Chuyên môn. Luận văn: Thực trạng hoạt động tổ chuyên môn ở Trường THPT.

  • Về học sinh

Trong những năm đầu mới thành lập, là một trường Trung học phổ thông Bán Công nguồn HS tuyển vào là các em thi không đỗ vào trường Trung học phổ thông Mê Linh nên chất lượng giáo dục của nhà trường còn nhiều yếu kém: HS giỏi hầu như không có, HS khá ở mỗi lớp chỉ một vài em; kết thúc mỗi năm học toàn trường số lượng HS thi lại, rèn luyện hè tới cả trăm em. Sau thi lại HS lưu ban bằng cả một lớp. Mọi hoạt động giáo dục của nhà trường chưa thực sự được chú trọng, các em hầu như không được tham gia các hoạt động giáo dục kỹ năng sống, hoạt động hướng nghiệp, hoạt động tham quan dã ngoại,…

Khi huyện Mê Linh được sáp nhập về Thủ đô Hà Nội cùng với sự chuyển đổi mô hình thành trường công lập và sự hoà nhập với giáo dục Thủ đô nhà trường đã được tự chủ tuyển sinh đầu vào bằng hình thức thi tuyển theo cơ chế chung của thành phố. HS dự thi vào trường được mở rộng sang nhiều khu vực. Đến nay hàng năm nhà trường đã tuyển được nhiều HS có chất lượng đầu vào ổn định. Điểm xét tuyển năm sau về cơ bản đều cao hơn năm trước phần lớn các em có học lực trung bình và khá. Ý thức rèn luyện tu dưỡng đã có nhiều chuyển biến tích cực các em đã chăm ngoan hơn, tự giác hơn tính độc lập tự chủ và tinh thần tự quản đã dần trở thành ý thức trong mỗi HS và trong mọi hoạt động giáo dục. Nhà trường nhiều năm liền được xếp loại trường tiên tiến; tổ chức Công đoàn, Đoàn thanh niên vững mạnh. Nhiều thầy cô giáo tham gia thi GV giỏi cấp thành phố đạt giải nhì, giải ba; đã có hàng trăm lượt các thầy cô giáo được Giám đốc Sở GD&ĐT Hà Nội tặng danh hiệu chiến sĩ thi đua cấp cơ sở. Kết quả thi tốt nghiệp luôn đứng ở mức cao so với các trường trong huyện và so với mặt bằng chung của Thành phố; nhiều HS thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng.

2.2. Tổ chức và phương pháp nghiên cứu thực trạng Luận văn: Thực trạng hoạt động tổ chuyên môn ở Trường THPT.

2.2.1. Mục đích khảo sát

Khảo sát thực trạng quản lý hoạt động Chuyên môn theo hướng phát triển NLDH cho GV ở Trường Trung học phổ thông Tiền Phong nhằm chỉ ra những ưu điểm, tồn tại trong công tác quản lý GV ở mức độ Tổ chuyên môn. Từ đó đưa ra những giải pháp nhằm phát huy những ưu điểm, khắc phục những tồn tại nhằm phát triển công tác quản lý hoạt động của Tổ chuyên môn theo đúng tinh thần đổi mới giáo dục của nước ta hiện nay.

2.2.2. Nội dung khảo sát

Tìm hiểu Năng lực dạy học của GV trong nhà trường. Công tác quản lý hoạt động Tổ chuyên môn theo hướng phát triển Năng lực dạy học cho GV. Hoạt động quản lý và hiệu quả của các biện pháp quản lý hoạt động TCM của HT và Tổ trưởng chuyên môn. Điều kiện để Tổ chuyên môn hoạt động hiệu quả, khả năng Tổ chuyên môn giúp GV đáp ứng yêu cầu đổi mới dạy học. Những thuận lợi, khó khăn khi tổ chức hoạt động Tổ chuyên môn và vấn đề quản lý hoạt động Tổ chuyên môn đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.

2.2.3. Ðối tượng khảo sát

  • Hiệu trưởng: 01 người; Phó Hiệu trưởng: 01 người;
  • Tổ trưởng chuyên môn: 04 người; Giáo viên: 56 người.

2.2.4. Phương pháp khảo sát Luận văn: Thực trạng hoạt động tổ chuyên môn ở Trường THPT.

Để nghiên cứu và khảo sát thực trạng về công tác quản lý của Tổ chuyên môn đối với việc dạy và học hiện nay, tôi sử dụng nhiều phương pháp khác nhau:

Phiếu hỏi

  • Tìm hiểu Năng lực dạy học của GV trong nhà trường.
  • Thực trạng quản lý hoạt động Tổ chuyên môn theo hướng phát triển Năng lực dạy học cho GV.
  • Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động Tổ chuyên môn theo hướng phát triển Năng lực dạy học đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.
  • Phỏng vấn: các ý kiến của người phỏng vấn được ghi chép, phân tích và làm căn cứ, minh chứng trong nhận xét, đánh giá.
  • Quan sát: các hình thức thể hiện quản lý hoạt động Tổ chuyên môn tại nhà trường.
  • Nghiên cứu thông tin thứ hạng: tập trung nghiên cứu các nội dung thông tin từ kế hoạch giáo dục, báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ, các sáng kiến kinh nghiệm, giải pháp công tác…
  • Tổng kết kinh nghiệm, phương pháp chuyên gia: tổng kết kinh nghiệm, đánh giá dựa trên thông tin thứ hạng kết hợp với tham khảo ý kiến của các HT về hiệu quả các giải pháp.

2.2.5. Thang đánh giá

Kết quả khảo sát được đánh giá theo 4 mức độ và tính điểm như sau:

  • Tốt/Rất thường xuyên/Rất ảnh hưởng/Rất cấp thiết/Rất khả thi: 4 điểm
  • Khá/Thường xuyên/Ảnh hưởng/Cấp thiết/Khả thi: 3 điểm
  • Trung bình/Ít khi/Ít ảnh hưởng/Ít cấp thiết/Ít khả thi: 2 điểm
  • Yếu/Không bao giờ/Không ảnh hưởng/Không cấp thiết/Không khả thi: 1 điểm.

Điểm trung bình tính theo công thức: X = å Xi Ki  = å Xi Ki

  • Trong đó X : điểm trung bình; X : điểm ở mức độ X ; K : số người cho điểm ở mức X và n: số người tham gia đánh giá.
  • Giá trị khoảng cách = ( Xmax – Xmin ) / n = (4 – 1)/4 = 0,75

Đánh giá mức độ của X như sau: Luận văn: Thực trạng hoạt động tổ chuyên môn ở Trường THPT.

  • Tốt/Rất thường xuyên/Rất ảnh hưởng/Rất cấp thiết/Rất khả thi: Từ 3,25 đến 4,0
  • Khá/Thường xuyên/Ảnh hưởng/Cấp thiết/Khả thi: Từ 2,5 đến dưới 3,25
  • Trung bình/Ít khi/Ít ảnh hưởng/Ít cấp thiết/Ít khả thi: Từ 1,75 đến dưới 2,5
  • Yếu/Không bao giờ/Không ảnh hưởng/Không cấp thiết/Không khả thi: Từ 1,0 đến dưới 1,75.

Sử dụng hàm RANK trong bảng tính Excel để tính thứ bậc..

  • Tổng hợp thông tin, tỉ lệ các câu trả lời trong phiếu hỏi và phân tích kết quả.
  • Phân tích năng lực của đội ngũ Cán bộ, GV và hoạt động Tổ chuyên môn với nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động Tổ chuyên môn theo hướng phát triển Năng lực dạy học.

2.3. Thực trạng năng lực dạy học của giáo viên Trường Trung học phổ thông Tiền Phong, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội

2.3.1. Thực trạng năng lực xây dựng kế hoạch dạy học của giáo viên

  • Bảng 2.4: Kết quả khảo sát thực trạng năng lực xây dựng kế hoạch dạy học của GV

Khảo sát về việc xây dựng kế hoạch dạy học dựa theo kế hoạch hoạt động của Tổ chuyên môn, kế hoạch năm học của nhà trường đa phần được thực hiện tốt và khá. Bên cạnh đó vẫn còn những đánh giá cho rằng việc thực hiện nội dung này trung bình. Điều đó cho thấy rằng nhà trường đã xây dựng và đưa ra các kế hoạch hoạt động nhưng vẫn có thể còn tồn tại những nội dung chưa hợp lý. Ở đâu đó có thể còn những GV chưa thật tập trung, chú trọng xây dựng KHDH dựa theo kế hoạch của Tổ chuyên môn, của nhà trường. Luận văn: Thực trạng hoạt động tổ chuyên môn ở Trường THPT.

  • Xây dựng KHDH thể hiện rõ mục tiêu, nội dung, Phương pháp dạy học bộ môn và chuẩn kiến thức, kỹ năng của môn học.

Việc xác định đúng mục tiêu dạy học với chuẩn kiến thức, kĩ năng, thái độ, đồng thời thông qua kiến thức, kĩ năng đó đã hình thành được năng lực gì, phẩm chất gì cho HS, … được hầu hết Cán bộ, GV đánh giá tốt và khá với gần 90% chứng tỏ đa phần GV đã xây dựng được KHDH phù hợp, đúng quy định. Khi xây dựng KHDH đa phần GV đã thể hiện được mục tiêu, nội dung, Phương pháp dạy học theo đúng chuẩn kiến thức, kỹ năng của từng môn học. Tuy nhiên vẫn còn 11% đánh giá nội dung này ở mức trung bình, vì vậy Ban giám hiệu nhà trường, Tổ chuyên môn cần quan tâm, rà soát, chỉ đạo sát sao hơn nữa trong công tác này.

Xây dựng KHDH theo hướng tích hợp dạy học với giáo dục thể hiện rõ mục tiêu, nội dung, phương pháp phù hợp với trình độ nhận thức, phong cách học tập, đặc điểm HS và môi trường giáo dục chủ yếu được đánh giá ở mức tốt chứng tỏ rằng việc dạy học tích hợp với giáo dục của nhà trường đã đạt hiệu quả, được đa phần Cán bộ, GV ghi nhận có hiệu quả. Tuy nhiên vẫn còn hơn 16% được đánh giá thực hiện ở mức trung bình, có thể thấy rằng việc xây dựng KHDH này vẫn còn những điểm chưa tốt có thể do GV chưa thật bám sát theo đặc điểm, phong cách học tập, khả năng nhận thức và hoàn cảnh, môi trường giáo dục của học sinh. Dẫn đến, một bộ phận giáo viên chưa xây dựng được KHDH tích hợp với giáo dục phù hợp đạt hiệu quả cao trong từng lớp học, bộ môn cụ thể.

Việc xây dựng KHDH thể hiện sự phối hợp hoạt động học với hoạt động dạy theo hướng phát huy tính tích cực nhận thức của HS được đánh giá với 3,40 điểm, với gần 90% đánh giá tốt và khá chứng tỏ rằng đa phần các GV đều có ý thức xây dựng KHDH phát huy tính tích cực nhận thức của HS. Các buổi hướng dẫn, tập huấn chuyên môn của Tổ chuyên môn, của nhà trường, của Sở đều đã đem lại được nhiều những hiệu quả cho công tác này. Bên cạnh đó vẫn còn những đánh giá trung bình về nội dung này. Nhà trường vẫn cần thường xuyên tổ chức các hoạt động nâng cao nhận thức, năng lực cho GV.

2.3.2. Thực trạng năng lực đảm bảo kiến thức, chương trình môn học Luận văn: Thực trạng hoạt động tổ chuyên môn ở Trường THPT.

  • Bảng 2.5: Kết quả khảo sát năng lực đảm bảo kiến thức, chương trình môn học của GV

Qua bản khảo sát ta có thể thấy đa phần giáo viên đều đảm bảo kiến thức, chương trình môn học. Các tiêu chí đều được đánh giá ở mức tốt và khá trên 80% với điểm trung bình đều trên 3,37 điểm. Chứng tỏ rằng giáo viên trong nhà trường đa phần đều có thể đảm bảo tốt kiến thức, chương trình môn học.

Tuy nhiên, bên cạnh việc thực hiện tốt việc đảm bảo kiến thức, chương trình môn học theo yêu cầu vẫn còn có 14% đánh giá ở mức trung bình, chứng tỏ vẫn còn GV được đánh giá làm chưa tốt công tác này. Việc vận dụng linh hoạt, hợp lý các kiến thức liên môn đòi hỏi GV khi giảng dạy cần chuẩn bị, đầu tư chi tiết, cụ thể, tâm huyết từng nội dung kiến thức, từng tiết dạy, từng bài giảng. Tổ chuyên môn cùng nhà trường cần thường xuyên hơn nữa chỉ đạo, bồi dưỡng, tập huấn công tác này.

Việc thực hiện nội dung dạy học theo đúng chuẩn kiến thức, kỹ năng và yêu cầu về thái độ trong chương trình môn học được đánh giá với 3,56 điểm. Tuy nhiên, vẫn còn tới hơn 10% đánh giá cho rằng việc thực hiện này chỉ dừng lại ở mức trung bình. Cho thấy rằng vẫn còn GV dạy thực hiện việc dạy học theo chuẩn kiến thức, kỹ năng và yêu cầu về thái độ trong chương trình môn học chưa được đánh giá cao. Việc này đòi hỏi người GV ngay từ khi xây dựng KHDH cho đến khi thực hiện kế hoạch này cần phải thực hiện đúng đắn, đồng bộ hơn nữa. Thường xuyên bám sát KHDH và kịp thời có những điều chỉnh, bổ sung, thay đổi Phương pháp dạy học sao cho đúng chuẩn kiến thức, kỹ năng, nhưng vẫn tạo hứng thú, kích lệ, động viên, khuyến khích học sinh học tập, rèn luyện, sáng tạo không ngừng.

2.3.3 Thực trạng năng lực sử dụng các phương tiện, vận dụng các phương pháp dạy học

Bảng 2.6: Kết quả khảo sát năng lực sử dụng các phương tiện, vận dụng các phương pháp dạy học của GV

Bản khảo sát năng lực sử dụng phương tiện, vận dụng các Phương pháp dạy học được đánh giá 3,33 điểm cho thấy gần như toàn bộ GV sử dụng phương tiện, thiết bị dạy học đã được đông đảo GV thực hiện tốt và khá.

Tuy nhiên, việc vận dụng linh hoạt các Phương pháp dạy học và sử dụng các Phương pháp dạy học này để phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh nhằm phát triển năng lực HS được đánh giá thấp nhất trong những nội dung khảo sát, có trên 16% đánh giá trung bình các nội dung này. Chứng tỏ GV cần chú trọng hơn đến tính hiệu quả của việc sử dụng các Phương pháp dạy học sao cho có thể phát huy được những ưu điểm tích cực động thời hạn chế những khuyết điểm, cũng như việc sử dụng các Phương pháp dạy học khác nhau cần phải dẫn đến làm tăng, đẩy mạnh việc phát triển năng lực học sinh chứ không chỉ để thay đổi Phương pháp dạy học. Luận văn: Thực trạng hoạt động tổ chuyên môn ở Trường THPT.

2.3.4. Thực trạng năng lực xây dựng môi trường học tập của giáo viên

  • Bảng 2.7: Kết quả khảo sát thực trạng năng lực xây dựng môi trường học tập của giáo viên

Thông qua bảng thực trạng xây dựng môi trường học tập của GV ở trên, ta thấy rằng đội ngũ tập thể Cán bộ, GV nhà trường cần quan tâm nhiều hơn nữa đến vấn đề này. Môi trường học tập có ý nghĩa rất lớn và quan trọng đến việc học tập và rèn luyện của HS.

Với khoản gần 20% đánh giá trung bình cho tất cả 4 tiêu chí trong bảng số liệu. Có thể thấy rằng vẫn còn một bộ phận giáo viên chưa thật sự thân thiện với cả đồng nghiệp lẫn học sinh; chưa có kỹ năng tốt trong học tác, cộng tác, chia sẽ chưa làm tất cả vì sự tiến bộ của học sinh … đặc biệt có những đánh giá cho rằng vẫn còn GV chưa có ý thức trong việc tạo lập môi trường học tập dân chủ, thân thiện, thuận lợi, an toàn và lành mạnh. Một số GV còn chưa thực hiện việc không ngừng học tập, nghiên cứu và lan tỏa đến các đối tượng khác.

Như vậy có thể thấy rằng về cơ bản môi trường học tập của nhà trường đã có ở mức đánh giá là tốt và khá. Tuy nhiên nhà trường cần cố gắng tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa, xây dựng các hoạt động, tạo dựng các cơ sở cho đội ngũ Cán bộ, GV, HS một môi trường học tập tốt hơn để không ngừng nâng cao hiệu quả, chất lượng dạy và học của nhà trường.

2.3.5. Thực trạng năng lực quản lý hồ sơ dạy học của giáo viên

  • Bảng 2.8: Kết quả khảo sát thực trạng năng lực quản hồ dạy học của GV

Qua bảng đánh giá cho thấy gần như toàn bộ GV đều có năng lực quản lý hồ sơ dạy học tốt và khá với điểm trung bình rất cao 3,72. Bên cạnh đó vẫn còn 6,5% đánh giá cho rằng hồ sơ dạy học tuy đã tốt nhưng chưa thực sự phản ánh được thực tế hoạt động dạy học tại đơn vị.

Qua đó, thấy rằng nhà trường ngoài việc thường xuyên, định kỳ hoặc đột xuất kiểm tra hồ sơ dạy học của GV còn cần thêm việc hướng dẫn, động viên, khích lệ giáo viên xây dựng hồ sơ dạy học đầy đủ, phản ánh đúng thực tế tại đơn vị thì mới có thể nâng cao chất lượng dạy và học của nhà trường.

2.3.6. Thực trạng năng lực kiểm tra đánh giá Luận văn: Thực trạng hoạt động tổ chuyên môn ở Trường THPT.

  • Năng lực kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của giáo viên với học sinh
  • Bảng 2.9: Kết quả khảo sát năng lực kiểm tra, đánh giá kết quả học tập

Việc đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển Năng lực hiện nay không quá coi trọng việc kiểm tra khả năng tái hiện lại kiến thức đã học, mà tập trung đánh giá khả năng vận dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống cụ thể. Đánh giá kết quả học tập với các môn học và hoạt động giáo dục ở mỗi lớp và sau các cấp học chủ yếu để xác định mức độ thực hiện mục tiêu dạy học, cải thiện kết quả học tập của HS. Cụ thể hơn, có thể thấy rằng đánh giá theo Năng lực là đánh giá kiến thức, kỹ năng và thái độ trong bối tình huống cụ thể

Trong bảng thống kê trên cho thấy năng lực đánh giá của GV với HS đạt kết khá cao, đáp ứng được yêu cầu đổi mới kiểm tra, đánh giá trong giai đoạn hiện nay. Với điểm trung bình là 3,59. Xét về cơ bản thì việc đánh giá đã đánh giá được nhận thức, năng lực của HS qua việc học tập ở trường, ở nhà, và xã hội. Đánh giá năng lực không chỉ ở kiến thức, kỹ năng, mà là đánh giá năng lực là tổng hòa, kết tinh kiến thức, kỹ năng, thái độ, tình cảm, giá trị, chuẩn mực đạo đức, … được hình thành từ nhiều lĩnh vực từ tự nhiên, gia đình và xã hội của một con người.

2.3.7 Thực trạng năng lực của giáo viên trong việc đánh giá học sinh theo định hướng phát triển năng lực.

  • Bảng 2.10: Kết quả khảo sát thực trạng năng lực đánh giá học sinh theo định hướng phát triển năng lực

Kiểm tra, đánh giá là một phần không thể thiếu của quá trình dạy học. Mục tiêu cơ bản phải kể đến là đánh giá vì sự tiến bộ của HS, nghĩa là quá trình này phải cung cấp những thông tin phản hồi giúp HS biết mình tiến bộ đến đâu, kiến thức, kĩ năng nào có sự tiến bộ hay còn yếu để điều chỉnh lại quá trình dạy và học. Khi nói đến đánh giá là vì sự tiến bộ của HS thì phải thực hiện làm sao để HS thấy được sự tôn trọng, không bị sợ hãi, thương tổn để thúc đẩy HS nỗ lực, phấn đấu. Muốn vậy, đánh giá phải diễn ra trong toàn bộ quá trình dạy học, giúp HS so sánh, phát hiện sự thay đổi của cá nhân trên con đường đạt mục tiêu học tập đã đặt ra. Luận văn: Thực trạng hoạt động tổ chuyên môn ở Trường THPT.

Trong khảo sát trên, điểm trung bình các tiêu chí là 3,40. Đây là điểm số cao, điều đó cho thấy Năng lực đánh giá của giáo viên theo định hướng phát triển Năng lực đã được phát huy tốt. Giáo viên đã nhận thức được đánh giá là một quá trình học tập, đánh giá diễn ra trong suốt quá trình dạy và học. Không chỉ GV biết đánh giá HS, mà HS phải biết đánh giá lẫn nhau, đánh giá chính mình theo cách của. Khi đó HS mới tự nhận thức được bản thân, đối chiếu với yêu cầu, mục tiêu để tự hoàn thiện minh. Với cách đánh giá ấy sẽ giúp hình thành Năng lực của HS, cái mà chúng ta đang rất mong muốn. Đánh giá phải chính xác, khách quan, chỉ ra được của HS so với mục tiêu, chuẩn đã đề ra. Tổ chức đánh giá HS sau khi kết thúc giai đoạn học tập để GV biết HS mình dạy đã chiếm lĩnh được những gì, ở phần nào và phần nào còn hổng…

Qua việc khảo sát có thể thấy Năng lực của GV đã đáp ứng được mục tiêu của kiểm tra, đánh giá là:

  • Công khai hóa nhận định về Năng lực và kết quả học tập của mỗi HS, nhóm HS và tập thể lớp, tạo cơ hội cho HS phát triển kĩ năng tự đánh giá, giúp HS nhận ra sự tiến bộ của mình, khuyến khích động viên việc học tập.
  • Giáo viên có cơ sở thực tế để nhìn nhận những điểm mạnh và điểm yếu của bản thân, không ngừng phấn đấu phát triển Năng lực dạy học đáp ứng yêu cầu giáo dục

Đây là một trong những điểm mạnh cần phát huy trong việc nâng cao chất lượng dạy và học theo định hướng phát triển Năng lực cho học sinh.

2.4. Thực trạng hoạt động tổ chuyên môn ở Trường trung học phổ thông Tiền Phong, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội Luận văn: Thực trạng hoạt động tổ chuyên môn ở Trường THPT.

2.4.1. Thực trạng mức độ thực hiện các hoạt động của tổ chuyên môn theo hướng phát triển năng lực dạy học ở Trường trung học phổ thông Tiền Phong, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội

Khi được hỏi về việc thực hiện hoạt động Tổ chuyên môn theo hướng phát triển Năng lực dạy học của đơn vị thầy T cho biết: “Nhà trường luôn quan tâm đến việc nâng cao chất lượng đội ngũ GV, thông qua việc tổ chức và thực hiện các hoạt động giáo dục như tổ chức các chuyên đề, hội giảng, các tiết thao giảng, các hoạt động bồi dưỡng Chuyên môn, đổi mới sinh hoạt Chuyên môn đã làm cho Năng lực dạy học của GV ngày càng được phát triển, đáp ứng yêu cầu giáo dục”.

  • Bảng 2.11: Kết quả khảo sát mức độ thực hiện các hoạt động chuyên môn theo hướng phát triển năng lực dạy học

Nghiên cứu về thực trạng thực hiện các hoạt động của Tổ chuyên môn theo hướng phát triển Năng lực dạy học ở Trường Trung học phổ thông Tiền Phong chỉ ra một số vấn đề cụ thể sau đây về mặt Phương pháp dạy học:

  • Phương pháp thuyết trình của GV vẫn là được sử dụng quá nhiều, làm giảm tính chủ động tích cực của HS;
  • Việc sử dụng phối hợp các Phương pháp dạy học cũng như sử dụng các Phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo còn ở mức độ hạn chế;
  • Chưa gắn được phát triển nội dung dạy học với tình huống thực tiễn; chưa đưa các tình huống thực tiễn vào dạy học theo các hoạt động.
  • Việc sử dụng phương tiện dạy học mới, công nghệ thông tin chỉ bước đầu thực hiện ở một số giáo viên;
  • Việc rèn luyện khả năng vận dụng tri thức liên môn để giải quyết các chủ đề phức hợp gắn với thực tiễn chưa được chú ý đúng mức; Luận văn: Thực trạng hoạt động tổ chuyên môn ở Trường THPT.

Hoạt động bồi dưỡng GV, đổi mới Phương pháp dạy học đã được chú ý nhưng chưa mang lại hiệu quả như mong đợi, ở đâu đó vẫn dừng lại ở việc hình thức, chưa có kết quả tốt thực sự. Qua đó, có thể thấy rằng để đổi mới Phương pháp dạy học thì cần hoạt động bồi dưỡng GV và đầu tư trang thiết bị DH. Tuy nhiên, đầu tư như vậy không phải là tất cả, vẫn còn những vấn đề cần tiếp tục giải quyết, đặc biệt là hoạt động DH nhằm phát triển Năng lực học sinh. Bằng các Phương pháp dạy học tích cực đã dẫn đến các hoạt động nhận thức của HS được cải thiện nhưng mới tập trung ở hình thức, còn tích cực các hoạt động giải quyết vấn đề đặc biệt vấn đề thực tiễn vẫn còn nhiều khó khăn.

Việc đổi mới đánh giá, kiểm tra và đổi mới thi cử còn chưa tốt, điều này tác động khó khăn rất lớn trong việc đổi mới dạy học theo hướng phát triển năng lực của học sinh.

Qua thực trạng có thể hình thành bộ phận HS có tính thụ động cao, khả năng sáng tạo và vận dụng tri thức đã học để giải quyết các tình huống thực tiễn cuộc sống chưa thật tốt. Qua đó, có thể thấy rằng chưa đạt được mục tiêu giáo dục là “giúp HS phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng động và sáng tạo…” [22].

Xuất phát từ những vấn đề thực tiễn trên đây, việc cải cách toàn diện giáo dục Trung học phổ thông và đổi mới Phương pháp dạy học mà cấp thực hiện là đổi mới trong quản lý Tổ chuyên môn theo hướng phát triển Năng lực dạy học là một yêu cầu cấp thiết nhằm đạt mục tiêu giáo dục phổ thông tại trường Trung học phổ thông Tiền Phong trong giai đoạn hiện nay.

2.4.2. Thực trạng những thuận lợi và khó khăn khi tổ chức hoạt động tổ chuyên môn theo hướng phát triển năng lực dạy học ở Trường Trung học phổ thông Tiền Phong, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội

Khi tổ chức các hoạt động của Tổ chuyên môn theo hướng phát triển NLDH ở trường Trung học phổ thông Tiền Phong luôn được đánh giá khá tốt, thể hiện qua các mặt:

  • Chi bộ đảng, Ban giám hiệu nhà trường rất quan tâm về công tác giáo dục của trường và việc thực hiện đổi mới công tác quản lý Tổ chuyên môn theo hướng phát triển Năng lực dạy học cho GV nhà trường.
  • Giáo viên trường Trung học phổ thông Tiền Phong đa phần là GV trẻ nên rất nhiệt tình trong công tác, rất thuận lợi cho việc bồi dưỡng để đổi mới phương pháp giáo dục, Kiểm tra đánh giá.
  • Nhà trường luôn tạo điều kiện cho GV đi học hỏi kinh nghiệm ở các trường bạn trong các huyện Mê Linh, Sóc sơn. Tổ chức Hội giảng, trao đổi chuyên môn và các cuộc tập huấn khác của cấp trên.
  • Nhà trường đang được nhà nước đầu tư xây dựng hoàn thiện cơ sở vật chất để phục vụ việc dạy và học của nhà trường.

Để có cái nhìn tổng quát hơn cũng như đưa ra những giải pháp hiệu quả khi tổ chức các hoạt động chuyên môn theo hướng phát triển năng lực. Tôi đã khảo sát các yếu tố ảnh hưởng thuận lợi và khó khăn để đánh giá sự khó khăn khi thực hiện việc đổi mới Phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực. Luận văn: Thực trạng hoạt động tổ chuyên môn ở Trường THPT.

  • Bảng 2.12: Những yếu tố ảnh hưởng khi tổ chức hoạt động chuyên môn theo hướng phát triển năng lực dạy học

Trong bảng phân tích thực trạng trên 3,18 là điểm trung bình cho các tiêu chí. Điều đó cho thấy rằng trong việc quản lý, đổi mới Tổ chuyên môn mà cụ thể là GV, người quyết định đến sự thành công của việc đổi mới Phương pháp dạy học bị ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tố.

Thói quen dạy học truyền thống đã lâu, và ý thức đổi mới phương pháp dạy học còn trì trệ, chưa đảm bảo yêu cầu. Vẫn còn một bộ phận giáo viên ngại phải thay đổi, không tự giác học tập, nghiên cứu đổi mới phương pháp dạy học hướng phát triển Năng lực dạy học.

Mức độ, nội dung, cho các tiết học còn nhiều, nặng về kiến thức mà thực hiện trong thời gian hạn chế cũng ảnh hưởng đến các hoạt động của giáo viên và học sinh. Giáo viên vẫn phải làm sao đó để thực hiện hết các nội dung kiến thức mà không có thời gian để thực đổi mới phương pháp dạy học.

Điều kiện cơ sở vật chất của trường Trung học phổ thông Tiền Phong đã nhiều năm trong tình trạng đang xây dựng dở và phải dừng lại. Vì thế cơ sở vật chất thực sự là vấn đề cản trở rất lớn đến quyết tâm, hiệu quả đổi mới của thầy và trò trường Trung học phổ thông Tiền Phong.

Điều kiện sống của giáo viên nói chung hiện nay về cơ bản đã được cải thiện, đủ trang trải cho cuộc sống tối thiểu. Tuy nhiên còn gặp rất nhiều khó khăn khi đứng trong xã hội. Vì vậy giáo viên phải đi làm thêm các nghề phụ để thêm thu nhập. Điều đó khiến cho giáo viên chưa thực sự tập trung toàn lực vào nghiên cứu và thực hiện đổi mới theo tinh thần đổi mới giáo dục căn bản và toàn diện.

Và điều hạn chế nữa là cơ chế, chính sách cho giáo viên, cơ chế thi cử hiện nay cũng là một bước tác động ngược lại ảnh hưởng không tốt đến việc đổi mới phương pháp, phát triển năng lực dạy và học. Vì tâm lý chung của cả giáo viên, học sinh và phụ huynh vẫn là học để thi cử.

Trên đây là một số thuận lợi và khó khăn trong quá trình đổi mới Năng lực dạy học cho GV. Để có thể đổi mới Phương pháp dạy học thì cần những điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị DH. Ngoài ra, đổi mới Phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực còn mang tính chủ quan. Mỗi GV cần xác định những phương pháp, cách thức riêng phù hợp để không ngừng phát triển Năng lực dạy học. Luận văn: Thực trạng hoạt động tổ chuyên môn ở Trường THPT.

2.5. Thực trạng quản lý hoạt động tổ chuyên môn theo hướng phát triển năng lực dạy học ở Trường Trung học phổ thông Tiền Phong, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội

2.5.1 Thực trạng xây dựng kế hoạch hoạt động chuyên môn của tổ chuyên môn theo hướng phát triển năng lực dạy học ở Trường Trung học phổ thông Tiền Phong, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội

  • Bảng 2.13: Kết quả khảo sát về công tác lập kế hoạch hoạt động Tổ chuyên môn theo hướng phát triển năng lực dạy học

Công tác lập kế hoạch hoạt động Chuyên môn của Tổ chuyên môn được chỉ đạo và xây dựng khá tốt, điểm trung bình các tiêu chí đạt 3,46 cho thấy đây là các hoạt động được diễn ra thường xuyên, liên tục, đã trở thành nề nếp của nhà trường. Kế hoạch thực hiện các công tác như quán triệt các văn bản chỉ đạo,

xây dựng các loại kế hoạch như: kế hoạch dạy học, dạy bù, bồi dưỡng HS giỏi, phụ đạo HS yếu, kiểm tra, đánh giá, trải nghiệm sáng tạo… đều được tiến hành thực hiện ở các Tổ chuyên môn, đã và đang đem lại những hiệu quả nhất định.

Bên cạnh các tiêu chí có điểm số khá đồng đều thì có hai tiêu chí có điểm số chưa thật cao, đó là tiêu chí 5 với 3,16 điểm và tiêu chí 7 với 3,32 điểm. Qua đó ta thấy rằng việc đổi mới sinh hoạt tổ, nhóm Chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học đã có kết quả nhưng chưa thật sự cao, chưa đáp ứng được yêu cầu dẫn đến các kế hoạch hoạt động đổi mới mục tiêu, hình thức tổ chức, Phương pháp dạy học, Kiểm tra đánh giá theo hướng tiếp cận năng lực học sinh chưa đạt kỳ vọng của đa số Cán bộ, GV trong nhà trường. Luận văn: Thực trạng hoạt động tổ chuyên môn ở Trường THPT.

2.5.2 Thực trạng tổ chức thực hiện hoạt động tổ chuyên môn theo hướng phát triển năng lực dạy học ở Trường Trung học phổ thông Tiền Phong, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội

  • Bảng 2.14: Kết quả khảo sát về công tác tổ chức hoạt động tổ chuyên môn theo hướng phát triển năng lực dạy học

Trong các hoạt động Chuyên môn của Tổ chuyên môn được thực hiện khá tốt, các tiêu chí đều đạt trên 3 điểm và có điểm trung bình đạt 3,43. Riêng hoạt động được đánh giá ở mức độ thực hiện chưa thật tốt gồm tổ chức các hoạt động bồi dưỡng Chuyên môn cho GV và tổ chức đổi mới hình thức tổ chức và nội dung sinh hoạt Chuyên môn dựa trên nghiên cứu bài học. Có thể thấy ở đây hoạt động bồi dưỡng chuyên môn đã được quan tâm, có kế hoạch nhưng sự hiệu quả, tính thiết thực chưa đem lại nhiều giá trị cho hoạt động giáo dục của nhà trường. Cùng với đó là việc đổi mới sinh hoạt chuyên môn ở đâu đó còn mang nhiều tính thủ tục, hình thức.

Hoạt động tổ chức đổi mới hình thức tổ chức và nội dung sinh hoạt Chuyên môn dựa trên nghiên cứu bài học, nghiên cứu các chuyên đề ở các Tổ chuyên môn được đánh giá thấp chỉ đạt 3,18 điểm. Khi thực tập dự giờ vẫn còn tồn tại GV nặng về truyền thụ đủ kiến thức, nội dung của bài học, người dự giờ đánh giá lại chủ yếu quan sát các hoạt động dạy của GV, những hạn chế, thiếu sót của GV mà không đặt vào từng tình huống đối, đối tượng học sinh cụ thể để đánh giá giờ dạy. Qua đó cho thấy công tác bồi dưỡng, tập huấn chuyên môn chưa đồng bộ, hiệu quả chưa thiết thực thậm chí có môn không được tập huấn và do thời gian làm việc của giáo viên khá nhiều, GV còn né tránh trong nhận xét đồng nghiệp, cơ chế quản lý chưa tạo được sức ép đối với các giáo viên.

Thực trạng cũng thể hiện việc sinh hoạt Chuyên môn của các Tổ chuyên môn đã duy trì số lượng đầy đủ sinh hoạt hai tuần một lần song còn nặng về hình thức, những đổi mới sinh hoạt tổ nhóm chưa thực sự hiệu quả, những vấn đề nảy sinh được nêu ra nhưng chưa có nhiều lựa chọn, phương án giải quyết

Việc xây dựng một tập thể tích cực, mở rộng liên kết, nâng cao chất lượng, tạo bầu không khí hòa đồng, tin cậy, tạo môi trường chia sẻ, học hỏi được đánh giá rất tốt.

2.5.3. Thực trạng chỉ đạo thực hiện các hoạt động của tổ chuyên môn theo hướng phát triển năng lực dạy học ở Trường Trung học phổ thông Tiền Phong, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội Luận văn: Thực trạng hoạt động tổ chuyên môn ở Trường THPT.

  • Bảng 2.15: Kết quả khảo sát công tác chỉ đạo thực hiện các hoạt động của tổ chuyên môn theo hướng phát triển năng lực dạy học của Ban giám hiệu và Tổ trưởng chuyên môn

Nhìn vào bảng ta thấy điểm trung bình các tiêu chí đạt 3,46 cho thấy việc xây dựng kế hoạch hoạt động Chuyên môn của các Tổ chuyên môn đã trở thành nề nếp trong hoạt động Chuyên môn của nhà trường.

Bên cạnh các hoạt động có điểm trung bình tương đối đồng đều thì vẫn còn hoạt những hoạt động được đánh giá chưa cao đó là việc việc chỉ đạo, giám sát, kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch Chuyên môn của Tổ chuyên môn, kế hoạch cá nhân GV được thực hiện chưa được cao dẫn đến việc hiện thực hóa các kế hoạch của đơn vị chưa đạt mong muốn. Để các kế hoạch thực sự hữu ích cho mọi giáo viên, nhân viên và hoạt động của nhà trường thì từ Ban giám hiệu tới các TT Chuyên môn, Nhóm trưởng Chuyên môn phải chủ động lập kế hoạch trước, cụ thể hóa các văn bản chỉ đạo của cấp trên thành hoạt động với thời gian và kết quả dự kiến, có kiểm tra và đánh giá để không còn tình trạng viết bản kế hoạch mang tính hình thức, đối phó và không hiệu quả.

2.5.4. Thực trạng kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch hoạt động tổ chuyên môn theo hướng phát triển năng lực dạy học ở Trường Trung học phổ thông Tiền Phong, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội

Khi được hỏi về thực trạng kiểm tra, đánh giá kế hoạch hoạt động Tổ chuyên môn, thầy K cho biết: “Nhà trường tiến hành xây dựng các kế hoạch hoạt động và triển khai thực hiện đến các Tổ chuyên môn và GV ngay từ đầu năm học, sau đó kiểm tra, đánh giá các hoạt động vào mỗi cuối học kỳ và cuối năm học. Việc đánh giá hoạt động Tổ chuyên môn được sử dụng để đánh giá phân loại đồng thời lấy đó để làm tiêu chí thi đua, khen thưởng GV, Tổ chuyên môn”.

  • Bảng 2.16: Kết quả khảo sát công tác kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch hoạt động tổ chuyên môn theo hướng phát triển năng lực dạy học

Qua bảng khảo sát có thể thấy việc Kiểm tra đánh giá việc thực hiện kế hoạch chuyên môn của Tổ chuyên môn của nhà trường đã được tiến hành một cách đồng bộ, thường xuyên tương đối tốt.

BGH nhà trường tiến hành kiểm tra việc xây dựng và thực hiện kế hoạch Chuyên môn của các Tổ chuyên môn, việc thực hiện kế hoạch dạy học, Kiểm tra đánh giá được quan tâm thực hiện theo lịch định kỳ cũng như kiểm tra đột xuất. Tuy nhiên việc đổi mới các nội đổi mới mục tiêu, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học, Kiểm tra đánh giá lại được đánh giá chưa cao. Qua đó có thể thấy rằng nhà trường đã có kế hoạch Kiểm tra đánh giá các hoạt động nhưng mới chỉ dừng lại ở mức kiểm tra hành chính, liệt kê nội dung mà chưa thật sự đi sâu vào chi tiết, cụ thể hóa các hoạt động,.

Việc sử dụng kết quả Kiểm tra đánh giá GV được đánh giá là tốt. Tuy nhiên việc xử lý những trường hợp vi phạm về kiểm tra, đánh giá quản lý điểm lại không cao qua đó được mâu thuẫn trong hoạt động này. Chứng tỏ rằng việc đánh giá GV còn mang nhiều tính hình thức, cả nể, cào bằng. Luận văn: Thực trạng hoạt động tổ chuyên môn ở Trường THPT.

2.6. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động tổ chuyên môn theo hướng phát triển năng lực dạy học của giáo viên ở Trường Trung học phổ thông Tiền Phong, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội

2.6.1. Trình độ, năng lực quản lý của Hiệu trưởng

Hiệu trưởng Trường Trung học phổ thông Tiền Phong là người quản lý có hơn 30 năm công trong ngành giáo dục với hơn 20 năm làm Cán bộ quản lý. Trưởng thành từ trường Đại học Sư phạm Hà Nội với Chuyên môn giảng dạy toán học, ông đã giảng dạy ở nhiều cơ sở giáo dục, có những HS đạt được nhiều thành tích cao, trở thành thạc sĩ, tiến sĩ, giáo sư. Ông từng làm cán bộ quản lý tại nhiều trường Trung học phổ thông đã đạt được nhiều thành tích đáng kể. Được bổ nhiệm giữ cương vị Hiệu trưởng tại Trường Trung học phổ thông Tiền Phong từ năm 2018 đến nay luôn là tấm gương đạo đức cho GV và HS noi theo.

Hiệu trưởng cố gắng nỗ lực, tạo điểm kiện thuận lợi trong công tác Chuyên môn, lựa chọn và xây dựng đội ngũ Tổ trưởng chuyên môn có Chuyên môn vững, có khả năng quản lý điều hành công việc của tổ hiệu quả. Chú trọng cơ sở vật chất, thiết bị DH để đảm bảo cho hoạt động dạy và học của GV và HS được thuận lợi.

2.6.2. Năng lực chuyên môn, năng lực quản lý của tổ trưởng chuyên môn

Nhà trường tổ chức 5 Tổ chuyên môn với đội ngũ Tổ trưởng chuyên môn đều là những GV cốt cán của bộ môn, có thâm niên trong công tác giáo dục, có bề dày kinh nghiệm giảng dạy, nhiệt tình trong công tác và luôn cố gắng phấn đấu hoàn thành thật tốt nhiệm vụ được giao.

TTCM đều nhà những GV giảng dạy các môn học có thời lượng nhiều trong chương trình, là GV các môn như: ngữ văn, toán, tiếng anh, lý, hóa. Đều là những người có phẩm chất đạo đức tốt; có năng lực, trình độ, Chuyên môn vững vàng; khả năng quản lý tương đối tốt.

Theo thầy T: “muốn QL hoạt động Tổ chuyên môn một cách hiệu quả thì cần đặc biệt chú trọng đến việc lựa chọn, xây dựng, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ Tổ trưởng chuyên môn. Khi người Tổ trưởng chuyên môn có đầy đủ năng lực chuyên môn và Năng lực quản lý hoạt động Tổ chuyên môn thì việc thực hiện các hoạt động giáo dục của nhà trường sẽ diễn ra thuận lợi”.

2.6.3. Năng lực chuyên môn và sự ủng hộ của các giáo viên trong tổ chuyên môn Luận văn: Thực trạng hoạt động tổ chuyên môn ở Trường THPT.

Đa số các thành viên trong các Tổ chuyên môn đều có độ tuổi từ 30 đến 45, đã trải qua công tác giảng dạy được nhiều năm có lòng nhiệt tình, tâm huyết, khả năng sư phạm, bản lĩnh chính trị vững vàng tác phong đúng mực.

Trước những yêu cầu đổi mới giáo dục, có những GV tự giác, chủ động, không ngừng nâng cao Năng lực dạy học, thực hiện các yêu cầu đổi mới, ý thức vận dụng các Phương pháp dạy học tích cực đáp ứng yêu cầu trong tình hình mới.

Bên cạnh đó vẫn còn bộ phận GV chưa thật sự chú trọng đến các hoạt động đổi mới giáo dục hiện nay, chưa có ý thức tự giác cao trong học tập, nghiên cứu, sáng tạo, còn thực hiện nhiều công việc mang nhiều tính hình thức, thủ tục. Các Tổ chuyên môn đâu đó còn hoạt động cầm chừng, chưa chú trọng phát huy năng lực của mỗi cá nhân, chưa phát huy được sức mạnh tập thể, tinh thần đoàn kết, học hỏi, phê và tự phê bình chưa thật tốt.

2.6.4. Ðiều kiện cơ sở vật chất và thiết bị trường học

Sau khi được chuyển thành trường Trung học phổ thông công lập từ năm 2014, nhà trường đã các cấp ban ngành thiết kế quy hoạch khang trang rộng rãi. Tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa giải phóng được đủ mặt bằng, chưa thực hiện được đúng quy hoạch trước đây. Hiện tại nhà trường có được 2 dãy nhà với 18 phòng học chính, một dãy nhà điều hành và tổ chức các phòng học chức năng, phòng thư viện, thiết bị dạy học … với 30 lớp và trên 1000 HS nên việc phân công và tổ chức học tập cho HS còn gặp nhiều khó khăn. Thiếu diện tích mặt bằng nên sân chơi, bãi tập cho HS chưa được đảm bảo, việc tổ chức các hoạt động trong nhà trường bị hạn chế nhiều.

Việc mua sắm các thiết bị dạy học, thiết bị thực hành, tài liệu tham khảo còn nhiều hạn chế, sách cho thư viện và thiết bị dạy học nhà trường đã được bổ sung nhưng chưa thật đầy đủ, còn thiếu tranh, ảnh, bản đồ, đài, đĩa CD, nghèo nàn về đầu sách từ đó ảnh hưởng đến chất lượng dạy học trong nhà trường.

BGH nhà trường luôn cố gắng tạo mọi điều kiện thuận lợi cho công tác Chuyên môn, các Tổ chuyên môn đều có phòng sinh hoạt Chuyên môn riêng, được trang bị đồ dùng, máy tính kết nối internet… tạo điều kiện thuận lợi về cơ sở vật chất cho các Tổ chuyên môn.

2.7. Đánh giá chung về thực trạng Luận văn: Thực trạng hoạt động tổ chuyên môn ở Trường THPT.

2.7.1. Ðiểm mạnh

BGH nhà trường chủ động chỉ đạo và kiểm tra việc nắm bắt, điều chỉnh và thay đổi Phương pháp dạy học của GV cũng như cách học của HS theo hướng tiếp cận năng lực dựa trên chương trình học tập hiện nay.

BGH chỉ đạo các Tổ chuyên môn lập các kế hoạch hoạt động khá đầy đủ, cụ thể.

Hoạt động của Tổ chuyên môn được GV, Tổ chuyên môn, Ban giám hiệu quan tâm và tạo điều kiện cho GV bồi dưỡng Chuyên môn thường xuyên góp phần thúc đẩy nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo của nhà trường.

BGH chỉ đạo các Tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch dạy học ngày từ đầu năm học, tổ chức cho GV thực hiện đầy đủ, đúng theo đúng kế hoạch đã được duyệt, trong trường hợp GV muốn thay đổi, điều chỉnh phải được tổ xác nhận và Ban giám hiệu phê duyệt đồng thời quán triệt việc vận dụng đổi mới các Phương pháp dạy học, sử dụng phương tiện dạy học, chủ động tổ chức các hình thức dạy học… sao cho phù hợp và hiệu quả tới từng đối tượng HS.

Các văn bản quy định về hồ sơ của tổ, nhóm Chuyên môn, hồ sơ Chuyên môn của GV được quy định đầy đủ ngay từ đầu năm học

Việc thành lập các ban kiểm tra, hội đồng khoa học kiểm tra, chấm các đề tài nghiên cứu khoa học, sáng kiến kinh nghiệm, chuyên đề Chuyên môn xếp loại cấp trường được thực hiện đầy đủ, nghiêm túc, có hiệu quả.

Việc tổ chức sinh hoạt chuyên đề theo từng chủ đề, chủ điểm, từng tháng, được diễn ra thường xuyên, liên tục. Các Tổ chuyên môn, các GV đã đăng ký tên chuyên đề ngay từ đầu mỗi năm học và thực hiện theo kế hoạch.

Việc Kiểm tra đánh giá các hoạt động Chuyên môn của Tổ chuyên môn, của GV được Tổ trưởng chuyên môn, Ban giám hiệu thực hiện đầy đủ.

2.7.2. Ðiểm yếu Luận văn: Thực trạng hoạt động tổ chuyên môn ở Trường THPT.

Việc chủ động đổi mới giáo dục theo hướng phát triển Năng lực dạy học nhằm tiếp cận phát triển Năng lực HS thực hiện chưa thực sự tốt, một số GV thực hiện còn mang tính hình thức, chiếu lệ.

Các hoạt động: đổi mới Phương pháp dạy học; đổi mới sinh hoạt Chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học; DH tích hợp, liên môn; viết Sáng kiến kinh nghiệm; nghiên cứu khoa học của GV và HS; xây dựng một môi trường học tập, một tổ chức biết học hỏi, một tập thể sư phạm đoàn kết; đổi mới Kiểm tra đánh giá theo hướng tiếp cận Năng lực HS… đã thực hiện, nhưng còn mang nhiều tính hình thức mà chưa đi sâu vào từng nội dung, từng vấn đề. Việc thực hiện các hoạt động chủ yếu thông qua các hoạt động thao giảng, thi GV dạy giỏi các cấp, báo cáo các chuyên đề hiệu quả chưa thực sự cao, một số GV không thực sự làm.

BGH chỉ đạo Tổ chuyên môn, GV kiểm tra, đánh giá HS theo quá trình, đánh giá theo sự tiến bộ của HS chưa thật sự hiệu quả, GV vẫn kiểm tra và đánh giá theo từng bài kiểm tra riêng biệt trong những ma trận dùng chung được xây dựng từ trước mà không đánh giá được sự tiến bộ của HS. Việc sinh hoạt Chuyên môn theo hướng nghiên cứu bài học, sinh hoạt Chuyên môn qua internet, thực hiện các tiết dạy thí điểm, tiết dạy mẫu còn nặng hình thức và né tránh thực tế. Việc quản lý hoạt động đổi mới kiểm tra, đánh giá đáp ứng phát triển năng lực HS, đánh giá thái độ, phẩm chất của HS trong cả quá trình học tập, dạy học tích hợp liên môn chưa thực sự sát sao, hiệu quả không được như kỳ vọng.

Kết luận chương 2

Thông qua khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động Tổ chuyên môn ở Trường Trung học phổ thông Tiền Phong, tác giả thấy rằng việc quản lý hoạt động Tổ chuyên môn của nhà trường đã có nhiều ưu điểm, hiệu quả về cơ bản đáp ứng yêu cầu giáo dục. Nhà trường đã thực hiện và triển khai có hiệu quả một số biện pháp quản lý hoạt động Tổ chuyên môn, các biện pháp này cần tiếp tục phát huy và tiếp tục hoàn thiện.

Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn nhiều điểm chưa làm được, hạn chế như việc tổ chức các hoạt động: các chuyên đề phát triển Năng lực dạy học, đổi mới Phương pháp dạy học, dạy tích hợp liên môn, đổi mới Kiểm tra đánh giá theo hướng tiếp cận năng lực HS, đổi mới sinh hoạt Chuyên môn dựa trên nghiên cứu bài học, nghiên cứu khoa học của GV và HS xây dựng một môi trường học tập, một tổ chức biết học hỏi, tập thể sư phạm đoàn kết, … các hoạt động này còn mang nhiều tính hình thức và mới chỉ dừng lại ở việc triển khai và thực hiện với mục đích khuyến khích nên hiệu quả chưa cao … Hoạt động thực tiễn hiện nay đặt ra vấn đề cần có những biện pháp tăng cường quản lý hoạt động Tổ chuyên môn ở Trường Trung học phổ thông Tiền Phong, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội theo hướng phát triển Năng lực dạy học để tiếp tục đưa nhà trường phát triển ngày càng đi lên đáp ứng yêu cầu về giáo dục trong giai đoạn hiện nay.

Trên cơ sở đánh giá thực trạng ở chương 2, những đề xuất khuyến nghị nhằm tăng cường quản lý hoạt động Tổ chuyên môn theo hướng phát triển năng lực dạy học ở Trường Trung học phổ thông Tiền Phong, huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội sẽ được làm rõ trong nội dung chương 3. Luận văn: Thực trạng hoạt động tổ chuyên môn ở Trường THPT.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp hoạt động tổ chuyên môn ở Trường THPT

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537