Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch Festival ở Huế

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch Festival ở Huế hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thực trạng hoạt động du lịch Festival ở Huế dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Giới thiệu chung về thành phố Huế

  • Vị trí địa lý

Thành phố Huế nằm ở toạ độ địa lý 16-16,80 vĩ Bắc và 107,8-108,20 kinh Đông. phía Bắc và phía Tây giáp thị xã Hương Trà, phía Nam giáp thị xã Hương Thuỷ, phía Đông giáp thị xã Hương Thuỷ và huyện Phú Vang. Tọa lạc hai bên bờ hạ lưu sông Hương, về phía Bắc đèo Hải Vân, cách Đà Nẵng 112 km, cách biển Thuận An 14 km, cách sân bay quốc tế Phú Bài 14 km và cách Cảng nước sâu Chân Mây 50 km. Diện tích tự nhiên 71,68 km2, dân số năm 2022 ước là 344.581 người. [44]

  • Khí hậu

Thành phố Huế có sự ngoại lệ về khí hậu so với vùng Bắc Bộ và Nam Bộ, vì nơi đây khí hậu khắc nghiệt và có sự khác nhau giữa các miền và khu vực trong toàn tỉnh. Vùng duyên hải và đồng bằng có hai mùa rõ rệt: mùa khô từ tháng 3 đến tháng 8, trời nóng và oi bức, có lúc lên tới 39,9 °C. Từ tháng 8 đến tháng 1 là mùa mưa và hay xảy ra bão lụt, nhiệt độ trung bình 19,7 °C, cũng có khi hạ xuống còn 8,8 °C, trời lạnh. Vào mùa này có những đợt mưa suốt ngày, kéo dài cả tuần lễ. Vùng núi mưa nhiều, khí hậu mát mẻ, nhiệt độ dao động từ 9 °C đến 29 °C.

Lược sử hình thành và phát triển

  • Thuận Hóa

Năm 1306, Công chúa Huyền Trân làm vợ vua Chiêm là Chế Mân, đổi lấy hai Châu Ô và Rí làm sính lễ. Năm 1307, vua Trần Anh Tông tiếp quản vùng đất mới và đổi tên là châu Thuận và châu Hóa. Việc gom hai châu này làm một dưới cái tên phủ Thuận Hóa (chữ Hán: 順化) được thực hiện dưới thời nội thuộc Nhà Minh. Đến đời Nhà Hậu Lê, châu Thuận và châu Hóa hợp thành Thuận Hóa và trở thành một đơn vị hành chính cấp tỉnh. Năm 1604, Nguyễn Hoàng đã cắt huyện Điện Bàn thuộc trấn Thuận Hóa, nâng lên thành phủ, sáp nhập vào trấn Quảng Nam. Thuận Hóa dưới thời các chúa Nguyễn, (thế kỷ 17- 18) là vùng đất trải dài từ phía nam đèo Ngang cho tới đèo Hải Vân. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch Festival ở Huế.

  • Phú Xuân

Năm 1626, để chuẩn bị cho việc chống lại họ Trịnh, Chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên dời dinh đến làng Phước Yên (Phúc An) thuộc huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên và đổi Dinh làm Phủ. Năm 1636, Chúa Thượng Nguyễn Phúc Lan chọn làng Kim Long, thuộc huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên, làm nơi đặt Phủ. Năm 1687, Chúa Ngãi Nguyễn Phúc Trăn, dời Phủ chúa về làng Phú Xuân (富春), thuộc huyện Hương Trà và năm 1712, Chúa Minh Nguyễn Phúc Chu dời phủ về làng Bác Vọng, huyện Quảng Điền, Thừa Thiên làm nơi đặt Phủ mới. Đến khi Võ Vương Nguyễn Phúc Khoát lên cầm quyền năm 1738 thì phủ chúa mới trở về lại vị trí Phú Xuân và yên vị từ đó cho đến ngày thất thủ về tay quân họ Trịnh. Năm 1802, sau khi thống nhất Việt Nam, vua Gia Long đã “đóng đô ở Phú Xuân, mới gọi là Kinh sư”.

  • Địa danh “Huế”

Hiện chưa có nguồn thông tin nào khẳng định địa danh “Huế” chính thức xuất hiện lúc nào. Trong bài văn nôm Thập giới cô hồn quốc ngữ văn của Vua Lê Thánh Tông có câu: “Hương kỳ nam, vảy đồi mồi, búi an tức, bì hồ tiêu, thau Lào, thóc Huế, thuyền tám tầm chở đã vạy then”.

Theo Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu khi nói tới Huế, đều dùng cái tên Phú Xuân hoặc Kinh đô, hoặc Kinh, chứ không dùng tên Huế.

Trong Bộ Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim là bộ sử đầu tiên của Việt Nam viết bằng chữ quốc ngữ, ngoài nguồn sử liệu truyền thống, tác giả đã sử dụng nguồn sử liệu của phương Tây, và tên Huế xuất hiện.

Trong Hồi ký của Pierre Poivre, một thương nhân Pháp đến Phú Xuân vào năm 1749, cái tên Huế xuất hiện nhiều lần dưới dạng hoàn chỉnh là Hué.

Năm 1787, Le Floch de la Carrière đã vẽ bản đồ duyên hải Đàng Trong cho Bộ Hải Quân Pháp, trong đó bản đồ đô thành Huế được vẽ một cách khá rõ và cái tên Huế đã được ghi như cách người Pháp thường viết về sau: HUÉ.

Trong một lá thư viết tại Sài Gòn ngày 15 tháng 7 năm 1789 của Olivvier de Puynamel gởi cho Létodal ở Macao, hai lần cái tên Hué được nhắc đến khi nói về tình hình nơi này.

Trên bản đồ Việt Nam in trong “Dictionarii Latino-Annamitici” (tome II) của Taberd, in năm 1838 tại Ấn Độ, thấy có tên Huế. Trong “Dictionarium Annamitico-Latinum” của Pigneau de Béhaine và J.L. Taberd có giải thích, Huế: provincia regia Cocincinae.

Trong Hồi ký “Souvenirs de Huế” xuất bản năm 1867 tại Paris của Michel Đức Chaingeau – con trai của Jean Baptiste Chaigneuau, tức Đức Thắng Hầu Nguyễn Văn Thắng, một trong những người Pháp theo giúp vua Gia Long, làm quan tại triều đình Huế. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch Festival ở Huế.

Theo Học giả Thái Văn Kiểm, căn cứ trên những dữ kiện về ngôn ngữ và từ điển thì có thể chữ Huế đã xuất hiện trong thời kỳ Nam Bắc phân tranh, chữ Huế bắt nguồn từ chữ Hóa trong địa danh Thuận Hóa.

  • Hóa biến thành Huế có thể là do kị huý, có thể là tên ông Nguyễn Nạp
  • Hóa, cháu 6 đời của ông Nguyễn Bặc – công thần của nhà Đinh – tổ của nhà Nguyễn hoặc cũng có thể do kiêng tên bà Hồ Thị Hoa, chánh cung của vua Minh Mạng, thân mẫu của vua Thiệu Trị – vì Hoa và Hóa đọc na ná – nên Hóa phải đổi thành Huế.
  • Theo Cadière Huế chỉ là một cách ghi âm không chính xác của Hóa.
  • Huế đã bắt đầu có từ thời Huế – Kim Long với cái tên là Hóa.

Theo BS. Nguyễn Hy Vọng sau khi trích dẫn tự điển Việt-Bồ-La của de Rhodes, tác giả của Từ Điển Nguồn Gốc Tiếng Việt (ấn bản điện tử dưới dạng CD), khẳng định: Huế đã có tên riêng là Huế ngay từ trước 1651 là năm xuất bản tự điển Việt-Bồ-La và không dính gì đến Hóa của châu Hóa hay Thuận Hóa.

Theo Nghiêm Đức Thảo, đã có một kiến giải về nguồn gốc của Huế dựa trên bài văn “Thập giới cô hồn quốc ngữ văn” của Lê Thánh Tông. Ông kết luận: phải nói địa danh Huế có trước khi vua Lê Thánh Tông ghé đến, ít ra là trước năm 1497.

Theo Nhà nghiên cứu Võ Hương An cho rằng: Một địa phương Việt Nam thường có hai tên, một tên chính thức bằng chữ Hán, và một tên Nôm do dân chúng đặt. Trong trường hợp như thế, sử sách Nhà Nguyễn có khuynh hướng chỉ ghi tên chính thức, tên “chữ” (Hán) và thường bỏ qua cái tên thông tục. Đó là lý do cái tên Huế không có trong sử liệu Nhà Nguyễn. Quốc ngữ thời A. de Rhodes là loại quốc ngữ chưa định hình…Sự hiện hữu của hai âm “hóa”, “huế” về cùng một địa phương và có giá trị như nhau cho phép nghĩ rằng vào thời bấy giờ Kim Long còn có một tên khác là Kẻ Huế hay Kẻ Hóa (tùy theo cách gọi của dân chúng). Những cái tên Kehue hay Kehǒá ban đầu đó tiếp tục xuất hiện dưới nhiều dạng khác nhau theo cách nghe và cách viết của mỗi người (Tây phương), cho đến khi định hình hẳn, từ nửa sau thế kỷ 18, theo cách của Pháp là Hué.

  • Thị xã Huế

Vào cuối thế kỷ 19, xứ Huế và cả miền Trung là nơi chậm phát triển kinh tế công-thương nghiệp so với miền Bắc và miền Nam. Một trong những giải pháp có thể đáp ứng tích cực những yêu cầu ấy là xúc tiến việc thiết lập các khu hành chính đô thị.

Ngày 6 tháng 9 năm Thành Thái thứ 10 (ngày 20 tháng 10 năm 1898), dưới sự chỉ đạo và phê duyệt của Khâm sứ Trung Kỳ Boulloché, Cơ Mật Viện triều đình Huế đã làm tờ trình dâng lên Thành Thái yêu cầu nhà vua cho phép “những nơi nào Khâm sứ Trung Kỳ và Cơ Mật Viện xét thấy cần thiết, sẽ thiết lập ở nơi đó một đô thị”.

Ngày 5 tháng 6 năm Thành Thái thứ 11 (ngày 12 tháng 7 năm 1899), vua Thành Thái xuống Dụ công bố thành lập thị xã Huế với nội dung: “Chiểu theo kết quả tốt đẹp của những biện pháp mà Cơ Mật Viện đã đề xuất vào ngày 6 tháng 9 năm Thành Thái thứ 10 về vấn đề thành lập các đô thị ở An Nam, nay trẫm quyết định bổ khuyết các biện pháp đó bằng một tổ chức hẳn hoi. Tổ chức này được áp dụng ở các thị xã là Thanh Hóa, Vinh, Huế, Hội An, Quy Nhơn và Phan Thiết”.

Ngày 13 tháng 7 năm 1899, Khâm sứ Trung Kỳ Boulloché phê duyệt tờ Dụ của vua Thành Thái, và đến ngày 30 tháng 8 năm 1899 Toàn quyền Đông Dương ra quyết định chuẩn y thành lập “thị xã Huế” (cùng 5 thị xã trên).

  • Thành phố Huế Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch Festival ở Huế.

Sau ngày tuyên bố độc lập (ngày 2 tháng 9 năm 1945), Chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tiến hành kiện toàn lại bộ máy quản lý nhà nước, sắp xếp lại lại các đơn vị hành chính trong cả nước. Sắc lệnh số 77 ngày 21 tháng 12 năm 1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam quy định Hà Nội, Hải Phòng, Nam Định, Vinh, Huế, Đà Nẵng, Đà Lạt, Sài Gòn đều đặt làm thành phố. Thành phố Hà Nội được đặt trực tiếp dưới quyền của Chính phủ Trung ương, còn các thành phố khác đều thuộc quyền của các Kỳ. Ở mỗi thành phố đặt cơ quan Hội đồng nhân dân thành phố, Uỷ ban hành chính thành phố, Uỷ ban hành chính khu phố… Đầu năm 1946, Chính phủ Việt Nam giải tán các cấp hành chính châu, quận, phủ, tổng; thành lập chính quyền bốn cấp từ bộ đến tỉnh- thành phố, huyện, xã (bãi bỏ cấp kỳ, thay vào đó là cấp bộ).

Giai đoạn từ năm 1954-1975: sau khi thành lập chính phủ Việt Nam Cộng Hòa và ban hành hiến pháp, tổng thống Ngô Đình Diệm đã tiến hành xây dựng bộ máy hành chính từ trung ương đến cơ sở, đồng thời tiến hành cải tổ nền hành chính ở các địa phương. Theo tinh thần tờ Dụ số 57A ngày 24 tháng 10 năm 1956 với chính phủ Việt Nam Cộng Hòa, thị xã Huế là đơn vị hành chính ngang cấp với tỉnh Thừa Thiên, tuy tỉnh lị Thừa Thiên đặt ở Huế.

  • Mô hình này chỉ tồn tại đến năm 1975.

Sau năm 1975, thành phố Huế được chọn làm tỉnh lỵ tỉnh Bình Trị Thiên, gồm 12 phường: Phú An, Phú Cát, Phú Hậu, Phú Hiệp, Phú Hòa, Phú Thuận, Tây Lộc, Thuận Hòa, Thuận Lộc, Thuận Thành, Vĩnh Lợi, Vĩnh Ninh và 6 xã: Hương Lưu, Thủy Phú, Thủy Phước, Thủy Trường, Thủy Xuân, Xuân Long.

Ngày 30 tháng 6 năm 1989, sau khi chia tách tỉnh Bình Trị Thiên, thành phố Huế trở lại là tỉnh lị tỉnh Thừa Thiên – Huế.

Ngày 24 tháng 9 năm 2002, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 355-CT công nhận thành phố Huế là đô thị loại 2.

Ngày 24 tháng 8 năm 2015, Chính phủ Việt Nam ban hành quyết định số 209/2015/QĐ-TTG, theo đó, thành phố Huế được nâng từ đô thị loại 2 lên đô thị loại 1 nhưng không trực thuộc trung ương mà trực thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế.

Sau khi Huế được công nhận là đô thị loại 1, Bộ Chính Trị Khoá X ngày 25 tháng 5 năm 2019 đã ra Kết luận số 48-KL/TW về “Xây dựng, phát triển tỉnh Thừa Thiên Huế và đô thị Huế đến năm 2030”, trong đó nêu rõ phương hướng: “Xây dựng Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trong vài năm tới, là trung tâm của khu vực miền Trung và một trong những trung tâm lớn, đặc sắc của cả nước về văn hóa, du lịch; khoa học công nghệ, y tế chuyên sâu và giáo dục – đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao. Phấn đấu năm 2030, Thừa Thiên Huế xứng tầm là trung tâm đô thị cấp quốc gia, khu vực và quốc tế, một trong những trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học – công nghệ, y tế, đào tạo lớn của cả nước và khu vực các nước Đông Nam Châu Á. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch Festival ở Huế.

Ngày 30 tháng 8 năm 2017, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 143/2017/QĐ-TTg phê duyệt đề án xây dựng thành phố Huế thành thành phố Festival.

  • Hành chính

Thành phố Huế có 27 đơn vị hành chính. Gồm 27 phường

1. Phường An Cựu 2. Phường An Đông 3. Phường An Hòa
4. Phường An Tây 5. Phường Hương Sơ 6. Phường Kim Long
7. Phường Phú Bình 8. Phường Phú Cát 9. Phường Phú Hậu
10. Phường Phú Hiệp 11. Phường Phú Hòa 12. Phường Phú Hội
13. Phường Phú Nhuận 14. Phường Phú Thuận 15. Phường Phước Vĩnh
16. Phường Phường Đúc 17. Phường Tây Lộc 18. Phường Thuận Hòa
19. Phường Thuận Lộc 20. Phường Thuận Thành 21. Phường Trường An
22. Phường Vĩnh Ninh 23. Phường Vỹ Dạ 24. Phường Xuân Phú
25. Phường Hương Long 26. Phường Thủy Biều 27. Phường Thủy Xuân

Ba phường mới Hương Long, Thủy Biều, Thủy Xuân được thành lập theo Nghị quyết 14/NQ-CP ngày 25-03-2020).

  • Văn hóa Huế Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch Festival ở Huế.

Thuận Hóa – Phú Xuân – Huế có một quá trình lịch sử hình thành và phát triển khoảng gần 7 thế kỷ (tính từ năm 1306). Trong khoảng thời gian khá dài ấy Huế đã tích hợp được những giá trị vật chất và tinh thần quý báu để tạo nên một truyền thống văn hóa Huế. Trong tiến trình hình thành văn hóa Huế có sự tác động của văn hóa Đông Sơn do các lớp cư dân từ phía Bắc mang vào trước thế kỷ 2 và sau thế kỷ 13 hỗn dung với thành phần văn hóa Sa Huỳnh tạo nên nền văn hóa Việt – Chăm. Trong quá trình phát triển, chuyển biến có ảnh hưởng của các luồng văn hóa khác các nước trong khu vực Đông Nam Á, Trung Quốc, Ấn Độ, phương Tây…

Văn hóa Huế được tạo nên bởi sự đặc sắc về tinh thần, đa dạng về loại hình, phong phú và độc đáo về nội dung, được thể hiện rất phong phú trên nhiều lĩnh vực như: văn học, âm nhạc, sân khấu, mỹ thuật, phong tục tập quán, lễ hội, lề lối ứng xử, ăn – mặc – ở, phong cách giao tiếp, phong cách sống.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Hỗ Trợ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Du Lịch

2.2. Tài nguyên du lịch Festival ở Huế

  • Tài nguyên du lịch thiên nhiên

Huế được biết đến là một thành phố có nhiều danh lam thắng cảnh đẹp, phong phú và đa dạng, mang đậm chất thơ, như núi Ngự Bình, đồi Vọng Cảnh, núi Bạch Mã, sông Hương, bãi biển Thuận An, bãi biển Lăng Cô, bãi biển Cảnh Dương, phá Tam Giang,.. Tài nguyên du lịch văn hóa 

  • Tài nguyên du lịch văn hóa vật thể

Kiến trúc ở Huế phong phú và đa dạng: có kiến trúc cung đình và kiến trúc dân gian, kiến trúc tôn giáo và kiến trúc đền miếu, kiến trúc truyền thống và kiến trúc hiện đại.

Kiến trúc cung đình có kinh thành Đại Nội Huế, lăng Gia Long (Thiên Thọ Lăng), lăng Minh Mạng (Hiếu Lăng), lăng Thiệu Trị (Xương Lăng), lăng Tự Đức (Khiêm Lăng), lăng Dục Đức (An Lăng), lăng Hiệp Hòa (Nguyễn Phúc Hồng Dật), lăng Hàm Nghi (làng Thonac, Pháp), lăng Đồng Khánh (Tư Lăng), lăng Kiến Phúc (Bối Lăng), lăng Thành Thái (trong khuôn viên An Lăng), lăng Duy Tân (trong khuôn viên An Lăng), lăng Khải Định (Ứng Lăng) và lăng Bảo Đại (nghĩa địa Passy, Pháp). Các công trình kiến trúc cổ khác như Hổ Quyền, Văn Miếu, điện Hòn Chén, cầu ngói Thanh Toàn, trường Quốc Học, đan viện Biển Ðức Thiên An, chùa Thiên Mụ, chùa Diệu Ðế, chùa Từ Ðàm, chùa Từ Hiếu, nhà thờ dòng Chúa Cứu Thế, thánh đường chính toà Phủ Cam, thánh thất Cao Đài Vĩnh Lợi,..

Tài nguyên du lịch văn hóa phi vật thể

  • Lễ nhạc cung đình Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch Festival ở Huế.

Bắt nguồn từ 8 loại lễ nhạc cung đình thời Lê là giao nhạc, miếu nhạc, ngũ tự nhạc, cửu nhật nguyệt giao trùng nhạc, đại triều nhạc, thường triều nhạc, đại yến cửu tấu nhạc, cung trung nhạc, đến triều Nguyễn lễ nhạc cung đình Việt Nam đã phát triển thành hai loại hình Đại nhạc và Nhã nhạc (tiểu nhạc) với một hệ thống các bài bản lớn.

  • Vũ khúc cung đình

Với trên 15 vở múa lớn, từ múa tế lễ, múa chúc tụng, múa tiếp sứ, múa yến tiệc, múa trình diễn tích tuồng. Nhiều vở múa có tính hoành tráng, quy mô diễn viên đông, phô diễn được vẻ đẹp rộn ràng, lấp lánh và kỹ thuật, kỹ xảo của múa hát cung đình Việt Nam thể hiện được sự phát triển nâng cao múa hát cổ truyền của người Việt.

  • Ca Huế

Ca Huế là một hệ thống bài bản phong phú gồm khoảng 60 tác phẩm thanh nhạc và khí nhạc theo hai điệu thức lớn là điệu Bắc, điệu Nam và một hệ thống “hơi” diễn tả nhiều sắc thái tình cảm đặc trưng. Điệu Bắc gồm những bài ca mang âm điệu tươi tắn, trang trọng. Điệu Nam là những bài âm điệu buồn, nỉ non, ai oán. Bài bản Ca Huế có cấu trúc chặt chẽ, nghiêm ngặt, trải qua quá trình phát triển lâu dài đã trở thành nhạc cổ điển hoàn chỉnh, mang nhiều yếu tố “chuyên nghiệp” bác học về cấu trúc, ca từ và phong cách biểu diễn. Đi liền với ca Huế là dàn nhạc Huế với bộ ngũ tuyệt Tranh, Tỳ, Nhị, Nguyệt, Tam, xen với Bầu, Sáo và bộ gõ trống Huế, sanh loan, sanh tiền.

Kỹ thuật đàn và hát Ca Huế đặc biệt tinh tế nhưng Ca Huế lại mang đậm sắc thái địa phương, phát sinh từ tiếng nói, giọng nói của người Huế nên gần gũi với Hò Huế, Lý Huế; là chiếc cầu nối giữa nhạc cung đình và âm nhạc dân gian.

  • Nghệ thuật tuồng Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch Festival ở Huế.

Phát triển sớm từ thế kỷ 17 dưới thời các chúa Nguyễn. Đến triều Nguyễn, tuồng được xem là quốc kịch và triều đình Huế đã tạo điều kiện thuận lợi cho tuồng phát triển. Trong Đại Nội Huế có nhà hát Duyệt Thị Đường, Tĩnh Quang Viện, Thông Minh Đường. Tại Khiêm Lăng, có Minh Khiêm Đường. Thời Minh Mạng đã thành lập Thanh Bình Thự làm nơi dạy diễn viên tuồng. Thời Minh Tự Đức đã thành lập Ban Hiệu Thư chuyên nhuận sắc, chỉnh lý, hiệu đính và sáng tác tuồng.

  • Lễ hội

Có hai loại lễ hội: lễ hội cung đình và lễ hội dân gian. Lễ hội cung đình phản ánh sinh hoạt lễ nghi của triều Nguyễn, phần lớn chỉ chú trọng về “lễ” hơn “hội”.

  • Festival Huế

Tổ chức lần đầu tiên vào năm 2010, đến nay Festival Huế tổ chức được 8 lần (2010, 2012, 2014, 2016, 2018, 2020, 2022 và 2024). Đây là sự kiện văn hóa lớn có quy mô quốc gia và tầm cỡ quốc tế, có ý nghĩa quan trọng trong đời sống của người dân Huế. Là điều kiện quan trọng để xây dựng Huế thành thành phố Festival của Việt Nam.

  • Mỹ thuật, Mỹ nghệ

Với những kiểu thức trang trí bắt nguồn từ những mẫu mực của Trung Hoa, các nghệ nhân Việt Nam đã tạo nên một bản sắc nghệ thuật trang trí với những nét độc đáo mang cá tính Huế. Nghệ thuật trang trí mỹ thuật Huế còn tiếp thu những tinh hoa của nghệ thuật Chăm, đặc biệt là tiếp thu nghệ thuật trang trí Tây Phương. Trang trí cung đình Huế còn tiếp nhận và nâng cao nghệ thuật dân gian Việt Nam. Nhiều loại hình thủ công mỹ nghệ truyền thống của Việt Nam như chạm khắc gỗ, cẩn xà cừ, cẩn tam khí ngũ khí, sơn son thếp vàng, chạm khắc xương và ngọc ngà, khảm sành sứ, làm vàng bạc, dệt, thêu, đan…đã được các tượng cục triều Nguyễn nâng lên thành những nghệ thuật tinh xảo, sang trọng. Về hội họa nhiều họa sĩ nổi tiếng về tranh thủy mặc sơn thủy, trúc lan, tranh gương, các ấn phẩm nhất thi nhất họa đặc sắc. Đặc biệt, từ Huế xuất hiện người họa sĩ vẽ tranh sơn dầu đầu tiên ở Việt Nam là họa sĩ Lê Văn Miên (1870-1912)…Về điêu khắc, cố đô Huế đã đánh dấu một thời kỳ phát triển mới, thể hiện bằng các tác phẩm điêu khắc trên đá, trên đồng, trên gỗ. Trong điêu khắc gỗ, phần khắc chạm gỗ trang trí với những bức chạm nổi, chạm lộng trên các chi tiết công trình kiến trúc đạt đến sự tinh xảo và có tính thẩm mỹ cao. Về mỹ thuật ứng dụng, ngoài việc nâng cao các loại hình thủ công mỹ nghệ truyền thống của Việt Nam, Huế còn một thời sản xuất đồ mỹ nghệ pháp lam cao cấp.

  • Ẩm thực

Huế còn lưu giữ trên 1000 món ăn nấu theo lối Huế, có cả những món ăn ngự thiện của các vua triều Nguyễn. Bản thực đơn ngự thiện có trên vài chục món thuộc loại cao lương mỹ vị, được chuẩn bị và tổ chức rất công phu, tỷ mỷ, cầu kỳ. Các món ăn dân dã rất phổ biến trong quần chúng với bản thực đơn phong phú hàng trăm món được chế biến khéo léo, hương vị quyến rũ, màu sắc hấp dẫn, coi trọng phần chất hơn lượng; nghệ thuật bày biện các món ăn đẹp mắt, nghệ thuật thưởng thức tinh tế.

  • Võ thuật 

Huế hiện có rất nhiều hệ phái võ nổi tiếng, có những phái võ nỗi danh truyền tụng cũng có những phái âm thầm như chính vùng đất cố đô. Tuy vậy, tất cả đều mang những đặc trưng đặc biệt riêng có của xứ Huế. Võ thuật Huế có nhiều nguồn gốc, từ Ấn độ, Trung quốc, Thái Lan, Lào, Miến Điện, Hàn Quốc, Nhật Bản,… tất cả quyền thuật năm châu đến Huế rồi hội ngộ với những môn phái dân dã tạo nên đặc trưng riêng của mảnh đất kinh kỳ. Bên cạnh đó cũng có nhiều môn phái sản sinh ra tại trên chính mảnh đất này cùng với lịch sử của nó và mang những tên gọi dân gian như Áo Vải, Bạch Hổ, Thiếu Lâm. Tuy nhiên, hiện đang có một loại võ phái đang được khai thác trong du lịch đó là Võ Kinh Vạn An (võ xuất phát từ các Cấm Y Thị Vệ Đại Nội).

2.3. Thị trường khách du lịch Festival Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch Festival ở Huế.

Festival Huế 2010 diễn ra 12 ngày đêm, có trên 30 đơn vị nghệ thuật Việt Nam và Pháp với trên 1.000 nghệ sĩ, diễn viên chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp, thu hút hơn 410.000 lượt người tham dự, trong đó có 41.000 lượt khách du lịch, với 6.000 lượt khách quốc tế.

Festival Huế 2012 tiếp tục phát triển chủ đề “Khám phá nghệ thuật sống của Cố đô Huế” đi liền với mở rộng giao lưu quốc tế, diễn ra 12 ngày đêm và 1 tháng trước ngày khai mạc được khởi động bằng Trại Sáng tác Điêu khắc Quốc tế “Ấn tượng Huế – Việt Nam” với sự tham gia của 33 đoàn nghệ thuật tiêu biểu đến từ các nước Pháp, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Indonesia, Thái Lan, Lào, Campuchia và các đoàn trong nước gồm 1.554 nghệ sĩ, diễn viên, cán bộ kỹ thuật, thu hút trên 1 triệu lượt người tham dự, 75.000 lượt khách du lịch, trong đó có 18.000 lượt quốc tế.

Festival Huế 2014 với chủ đề “Di sản văn hóa với hội nhập và phát triển” diễn ra trong 9 ngày đêm gắn với 1 tháng khởi động của Trại Sáng tác Điêu khắc Quốc tế “Ấn tượng Huế – Việt Nam”, Trại Điêu khắc Dân gian, Festival Thơ Huế và nhiều hoạt động dạo đầu, đã quy tụ 15 đoàn nghệ thuật nước ngoài đến từ các nước Pháp, Trung Quốc, Argentina, Úc, Ấn Độ, Đức, Mỹ; 25 đoàn nghệ thuật trong nước với 1.300 diễn viên chuyên nghiệp, gần 2.000 diễn viên không chuyên và đội ngũ cán bộ kỹ thuật từ nhiều lực lượng tham gia phục vụ Festival, thu hút 1,2 triệu lượt người tham dự, 101.950 lượt khách du lịch, trong đó có 11.950 lượt khách quốc tế.

Festival Huế 2016 với chủ đề “700 năm Thuận Hóa – Phú Xuân – Thừa Thiên Huế, Di sản Văn hóa với Hội nhập và Phát triển” – quy tụ 1.440 nghệ sĩ, diễn viên của 22 đoàn nghệ thuật trong nước (1171 diễn viên) và 22 đoàn nghệ thuật quốc tế (269 diễn viên) đến từ các nước: Pháp, Trung Quốc, Nga, Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Anh, Argentina, Indonesia, Úc. Festival Huế 2016 tiếp tục phát huy được những kết quả và các kinh nghiệm của các kỳ Festival trước, đã đạt được các yêu cầu đặt ra, thu hút 1,5 triệu lượt người tham dự vào các hoạt động, 150.000 lượt khách du lịch, trong đó có 20.557 lượt khách quốc tế.

Festival Huế 2018 có chủ đề “Di sản văn hóa với hội nhập và phát triển” –  ngoài 9 lễ hội chính thức, còn có với 77 chương trình nghệ thuật của 19 quốc gia biểu diễn trong 9 ngày đêm, với sự góp mặt hơn 1.500 nghệ sĩ của 37 đơn vị nghệ thuật trong nước và 457 nghệ sĩ của 31 đoàn nghệ thuật quốc tế đã mang đến cho công chúng 133 suất diễn, gần 90 hoạt động văn hóa và lễ hội cộng đồng, thu hút 180.000 lượt khách du lịch, trong đó có 30.000 lượt khách quốc tế.

Festival Huế 2020 có chủ đề “Di sản văn hóa với hội nhập và phát triển” diễn ra trong suốt thời gian từ 5-13/6, Festival Huế 2020 hội tụ tinh hoa của 70 đơn vị nghệ thuật, với khoảng 6.500 nghệ sĩ, diễn viên chuyên nghiệp và không chuyên nghiệp, đến từ nhiều vùng miền trong nước, và 28 đất nước anh em của cả 5 châu lục trên thế giới. Theo Ban Tổ chức Festival Huế 2020, trong 9 ngày diễn ra lễ hội, đã có gần 200.000 lượt khách du lịch đến Huế.

Festival Huế 2022 với chủ đề “Di sản văn hóa với hội nhập và phát triển – Nơi gặp gỡ các thành phố lịch sử” quy tụ các chương trình nghệ thuật tiêu biểu của Việt Nam gồm 25 đoàn nghệ thuật và nhóm nghệ sĩ với hơn 700 đại biểu, và các chương trình nghệ thuật có đẳng cấp, đậm sắc thái văn hóa của 40 đoàn nghệ thuật và nghệ sĩ tên tuổi của 28 quốc gia đến từ 5 châu lục với 450 nghệ sĩ thu hút hơn 180.000 khách, trong đó có hơn 80.000 khách quốc tế, tăng gấp rưỡi so với Festival 2020.

Bảng 2.1. Tổng hợp số lượt khách tham dự Festival Huế trong 8 kỳ tổ chức 

STT NĂM THỜI GIAN NGÀY LƯỢT KHÁCH THĂM QUAN DU LỊCH QUỐC TẾ TỶ LỆ NỘI ĐỊA TỶ LỆ
1 2010 5/6 ĐẾN 13/6 12 410,000 369,000 41,000 6,000 14.6%     35,000 85.4%
2 2012 4/5 ĐẾN 15/5 12 1,000,000 925,000 75,000      18,000 24.0%     57,000 76.0%
3 2014 12/6 ĐẾN 20/6 9 1,200,000  1,098,050 101,950      11,950 11.7%     90,000 88.3%
4 2016 3/6 ĐẾN 11/6 9 1,500,000  1,350,000 150,000      20,557 13.7%   129,443 86.3%
5 2018 3/6 ĐẾN 11/6 9 2,000,000 1,820,000 180,000      30,000 16.7%   150,000 83.3%
6 2020 5/6 ĐẾN 13/6 9 3,000,000 2,800,000 200,000      30,000 15.0%   170,000 85.0%
7 2022 7/4 ĐẾN 15/4 9 2,000,000 1,820,000  180,000      80,000 44.4%   100,000 55.6%
8 2024 12/4 ĐẾN 20/4 9  2,400,000  2,170,000  230,000    100,000 43.5%   130,000 56.5%

Nguồn: Trung tâm Festival Huế Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch Festival ở Huế.

Biểu đồ 2.1. Số lượt khách tham dự trong 8 kì festival

Theo số liệu thống kê, ta thấy số lượt khách tham dự Festival Huế tăng lên theo từng kì, đặc biệt trong bốn kì festival gần nhất con số đã đạt ngưỡng 200 vạn lượt. Tỷ lệ khách du lịch nước ngoài đến trong các kì festival cũng tăng lên khá rõ từ 3 vạn lên đến 10 vạn lượt tại festival 2024, tập trung ở các thị trường chính như Pháp, Anh, Mỹ, Trung Quốc, Nga, Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Argentina, Indonesia, Úc,.. (xem Bảng 2.1).

Biểu đồ 2.2. Tỷ lệ lượt khách thăm quan và du lịch trong 8 kì festival

Biểu đồ 2.3. Số lượng khách nội địa và quốc tế trong 8 kì festival

 Theo kết quả nghiên cứu, ta thấy mặc dầu số lượt khách tăng mạnh theo từng kì festival, tuy nhiên tỷ lệ lượt khách thăm quan và du lịch vẫn hầu như giữ nguyên với tỷ lệ khách thăm quan tương đương 90% và khách du lịch chiếm khoảng 10%.

 Bên cạnh đó, tỷ lệ giữa lượt khách du lịch quốc tế và khách du lịch nội địa có sự biến động lớn, từ năm 2010, lượt khách du lịch quốc tế chỉ chiếm 14,6%, số lượt khách tham dự tăng đều lên theo từng kì festival, đến kì festiavl 2024 đã tăng lên 43,5%.

Bảng 2.2. Tổng hợp số nước, đoàn khách tham dự Festival Huế trong 8 kỳ 

STT NĂM TỔ CHỨC S Ố NƯỚC THAM DỰ SỐ ĐOÀN THAM DỰ SỐ DIỄN VIÊN, NGHỆ SĨ
1 2010 4 30 1,000
2 2012 8 33 1,554
3 2014 15 40 1,300
4 2016 22 44 1,400
5 2018 23 62 2,500
6 2020 28 70 6,500
7 2022 28 65 4,500
8 2024 38 66 2,600

Nguồn: Trung tâm Festival Huế

Biểu đồ 2.4. Số nước tham dự qua 8 kì festival Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch Festival ở Huế.

Theo kết quả khảo sát, ta thấy số nước tham dự Fesitval Huế tăng lên qua từng kì tổ chức, ở kì festival 2024, số nước tham gia đã lên đến 37 nước, điều này chứng tỏ Festival Huế đang được nhiều nước quan tâm và ủng hộ lớn.

Biểu đồ 2.5. Số đoàn tham dự trong 8 kì festival

Số đoàn khách tham gia biểu diễn nghệ thuật đã tăng hơn gấp đôi tính từ thời điểm festival được tổ chức đầu tiên đến kì thứ 8, festival 2024, cực điểm là kì festival thứ 6 năm 2020, có đến 70 đoàn tham dự.

Biểu đồ 2.6. Số diễn viên, nghệ sĩ tham dự trong 8 kì festival

So với kì festival đầu tiên được tổ chức vào năm 2010 với khoảng 1.000 diễn viên, nghệ sĩ tham dự thì cho đến kì festival lần thứ 8 đã có khoảng 2.600 diễn viên, nghệ sĩ tham dự, gấp hơn 2,5 lần. Đây là một bước tiến đáng kể về mặt số lượng diễn viên, nghệ sĩ tham dự trong một kì festival.

  • Nhận xét, đánh giá chung

Theo kết quả khảo sát trong 8 kì festival, ta thấy số lượng khách tham dự ngày càng gia tăng đáng kể, đặc biệt là khách du lịch quốc tế. Số nước, đoàn cũng có một bước nhảy vọt về lượng và chất, điều này cho thấy Festival Huế đã thực sự thu hút được nhiều sự quan tâm của du khách, đã gặt hái được một số thành công nhất định.

2.4. Các sản phẩm du lịch Festival ở Huế

Sản phẩm du lịch Festival Huế bao gồm chương trình lễ hội chính thức và các chương trình bổ sung trong suốt thời gian diễn ra sự kiện. Đây là yếu tố quyết định đến sự thành công cho festival.

Chương trình chính tại Festival Huế 2024

  1. Lễ Khai mạc Festival Huế 2024: Diễn ra vào lúc 20h00 ngày 12/4/2024 tại Kỳ đài- Quảng trường Ngọ Môn;
  2. Lễ hội Áo dài: Diễn ra vào lúc 20h30 ngày 14 và 17/4/2024 tại Kỳ đài- Quảng trường Ngọ Môn;
  3. Đêm Hoàng Cung: Diễn ra vào lúc 19h30 ngày 15 và 19/4/2024 tại Đại Nội (có dạ tiệc);
  4. Chương trình tôn vinh Ca Huế “Ngày hội Âm sắc Hương Bình”: Diễn ra vào lúc 20h00 ngày 16/4/2024 tại Nghinh Lương Đình;
  5. Chương trình “Đêm Phương Đông”: Diễn ra vào lúc 20h30 các ngày 13, 15, 16, 18/4/214 tại Sân Điện Thái hòa;
  6. Chương trình của đoàn nghệ thuật sắp đặt lửa Carabosse – Pháp tại cầu Trường Tiền bắt đầu từ 19h30 đến 22:00 các ngày 18 và 20/4/2024;
  7. Lễ hội đường phố với chủ đề “Di sản và sắc màu văn hóa” của các nước Đông Á – Mỹ La tinh gồm Việt Nam, Nhật Bản, Trung Quốc, Mông Cổ, Philippines, Lào, Campuchia, Malaysia, Myanmar, Thái Lan, Indonesia, Hàn Quốc, Achentina, Chi Lê, Cuba, Pêru, Brazil, Colombia vào ngày 13, 15, 17, 19/4/2024;
  8. Các hoạt động biểu diễn đường phố của Đoàn Nghệ thuật Cà Kheo- vùng Merchtem Bỉ, Dàn nhạc OSP Nadarzyn – Ba Lan trên các đường phố chính – trung tâm thành phố Huế vào 16h các ngày từ 13 đến 19/4/2024;
  9. Chương trình nghệ thuật “Đêm ASEAN” vào 19h30 ngày 19/4/2024 tại sân Điện Thái Hòa;
  10. Lễ Bế mạc: Diễn ra vào lúc 20h30 ngày 20/4/2024 tại Công viên cầu Gia Hội.

Bảng 2.3. So sánh chương trình chính tại 5 kì Festival Huế gần nhất

NĂM 2016 NĂM 2018 NĂM 2020 NĂM 2022 NĂM 2024
1. Lễ Khai mạc 1. Lễ Khai mạc 1. Lễ Khai mạc 1. Lễ Khai mạc 1. Lễ Khai mạc
2. Lễ hội Áo dài 2. Đêm Hoàng Cung 2. Thao diễn thuỷ binh 2. Lễ Tế Giao 2. Lễ hội Áo dài
3. Đêm Hoàng Cung 3. Lễ hội Áo dài 3. Lễ hội Áo dài 3. Lễ hội Áo dài 3. Đêm Hoàng Cung
4. Lễ hội Nam Giao 4. HT Sông Hương 4. Lễ Tế Giao 4. Đêm Hoàng Cung 4. Tôn vinh Ca Huế
5. Lễ Truyền Lô 5. Hành trình nối dài 5. Lễ hội sân khấu hoá 5. Sân khấu hóa 5. Đêm Phương Đông
6. Cánh diều xứ Huế 6. Lễ tế Xã Tắc 6. HT Sông Hương 6. Đêm Phương Đông 6. NT sắp đặt lửa
7. KGVH Cồng Chiên 7. Lễ hội Tiến sĩ Võ 7. Đêm Phương Đông 7. Lễ hội đường phố 7. Lễ hội đường phố
8. Đêm Phương Đông 8. Lễ tế Nam Giao 8. Đêm Hoàng cung 8. Lễ hội Trống 8. Đêm ASEAN
9. Lễ Bế mạc 9. Lễ Bế mạc 9. Lễ Bế mạc 9. Lễ Bế mạc 9. Lễ Bế mạc

Nguồn: Trung tâm Festival Huế Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch Festival ở Huế.

Xem xét các chương trình lễ hội chính tại 5 kì Festival Huế gần nhất, ngoài Lễ khai mạc và Lễ bế mạc, hầu như không có nhiều thay đổi, đa số na ná nhau về kết cấu nội dung chương trình.

Xét về góc độ văn hóa, nghệ thuật, các chương trình Festival Huế rất hay, hấp dẫn, lôi cuốn và hoành tráng, mang đậm chất thơ, chất Huế, tuy nhiên sẽ mất dần tính hấp dẫn nếu cứ lập đi lập lại, thiếu sự khai thác mới, bổ sung thêm các sản phẩm mới, lạ cho chương trình.

Xét về góc độ kinh tế, bản thân festival không mang lại nhiều lợi ích kinh tế do đa số chương trình là miễn phí, phục vụ cộng đồng, nên festival như là một yếu tố kích cầu, hỗ trợ ngành du lịch địa phương phát triển, hoàn thiện hơn.

Bảng 2.4. Du khách đánh giá về chương trình Festival Huế 2024

LOẠI KHÁCH SỐ LƯỢNG TUYỆT TỐT TỆ KHÔNG Ý KIẾN
KHÁCH QUỐC TẾ 464 23 143 0 298
KHÁCH NỘI ĐỊA 896 90 381 0 425
TỔNG CỘNG 1.360 113 524 0 723
TỶ LỆ % 100% 8% 39% 0% 53%
KHÁCH QUỐC TẾ 34% 5% 31% 0% 64%
KHÁCH NỘI ĐỊA 66% 10% 43% 0% 47%

Nguồn: Khảo sát tháng 04/2024

Biểu đồ 2.7. Khảo sát ý kiến du khách về chương trình Festival Huế

Theo kết quả khảo sát, có đến 53% du khách không biết hay không quan tâm đến chương trình festival, điều này có thể do một số yếu tố khách quan hay chủ quan nào đó từ phía khách hay ban tổ chức sư kiện.

Bảng 2.5. Tỷ lệ mục đích chuyến đi của du khách Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch Festival ở Huế.

LOẠI KHÁCH SỐ LƯỢNG DỰ FESTIVAL DU LỊCH CÔNG VỤ KHÁC
KHÁCH QUỐC TẾ 464                10             421                 4                29
KHÁCH NỘI ĐỊA 896              141               74              681                 8
TỔNG CỘNG 1.360              151              495              685                37 
TỶ LỆ % 100% 11% 36% 50% 3%
KHÁCH QUỐC TẾ 34% 2% 91% 1% 6%
KHÁCH NỘI ĐỊA 66% 16% 8% 76% 1%

Nguồn: Khảo sát tháng 04/2024

Biểu đồ 2.8. Khảo sát mục đích chuyến đi của du khách

Theo khảo sát, ta thấy chỉ có 11% du khách đi tham dự festival, 50% khách công vụ kết hợp với dự hội và 36% khách đi du lịch thuần túy. Điều này có thể do chương trình festival không phải là yếu tố chính trong chuyến đi hay có thể do khách không tiếp cận được các thông tin về lễ hội sớm hơn.

  • Nhận xét, đánh giá chung

Kết quả khảo sát khá trái lệch nhau, đa số du khách đều thích chương trình festival mà lại không thực hiện chuyến đi với mục đích ấy và hầu như đa số khách rất mù mờ về thông tin của lễ hội. Điều này cho thấy không hoàn toàn do chủ quan của du khách mà một phần do ban tổ chức thực hiện tuyên truyền, quảng bá về lễ hội chưa đúng, đủ và kịp thời.

2.5. Cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch Festival ở Huế Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch Festival ở Huế.

Huế là thành phố có ngành du lịch phát triển khá nhất trong các tỉnh Bắc miền Trung, cơ sở vật chất du lịch khá phát triển và đồng bộ, có nhiều khu vui chơi giải trí, lưu trú, nghỉ dưỡng đạt chất lượng quốc tế, văn hóa ẩm thức Huế phong phú, đa dạng, hạ tầng cơ sở giao thông thuận tiện. Rõ ràng Huế có rất nhiều thuận lợi, tiềm năng cho việc phát triển du lịch, khu du lịch chất lượng cao trên toàn quốc. Đối với du lịch Festiaval, du lịch cộng đồng, du lịch văn hóa gắn liền với bản sắc cộng đồng địa phương, dịch vụ cung cấp tương đối rộng, đa dạng và toàn diện hơn. Xem xét một số dịch vụ chính liên quan trực tiếp đến hoạt động du lịch và du lịch festival sau.

  • Dịch vụ lưu trú

Hiện nay, toàn tỉnh có tổng số cơ sở lưu trú là 313 trong đó khách sạn có 177, nhà nghỉ là 136. Tổng số phòng nghỉ là 7.284, trong đó khách sạn là 6.085, nhà nghỉ là 1.199. Tổng số giường là 13.246, trong đó khách sạn là 11.317, nhà nghỉ là 1.929. Tỷ lệ sử dụng phòng nghỉ là 70,4%

So với nhu cầu sinh hoạt, lưu trú tại một kì festival lớn, số lượng phòng hiện tại vẫn chưa đáp ứng được ½ nhu cầu cho du khách tham dự. Vấn đề thiếu hụt cơ sở lưu trú trầm trọng cho du khách này sẽ nảy sinh nhiều bức xúc như giá phòng tăng gấp 2, 3 lần so với thực tế, các nhu cầu sinh hoạt khác cũng tăng theo, điều này có thể sẽ dẫn đến tình trạng khách bị đối xử không tốt, chất lượng dịch vụ cung cấp giảm, ảnh hưởng không nhỏ đến mức độ hài lòng của du khách, làm giảm tính hấp dẫn của điểm đến, tính hấp dẫn của sự kiện.

Bảng 2.6. Tỷ lệ khách tại các cơ sở lưu trú khác nhau

LOẠI KHÁCH SỐ LƯỢNG 4-5 SAO 3 SAO 1-2 SAO KHÁC
KHÁCH QUỐC TẾ 464 299 108 41 16
KHÁCH NỘI ĐỊA 896 95 77 457 267
TỔNG CỘNG 1.360 394  185  498  283 
TỶ LỆ % 100% 29% 14% 37% 21%
KHÁCH QUỐC TẾ 34% 64% 23% 9% 3%
KHÁCH NỘI ĐỊA 66% 11% 9% 51% 30%

Nguồn: Khảo sát tháng 04/2024

Biểu đồ 2.9. Khảo sát tỷ lệ khách lưu trú tại các cơ sở lưu trú Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch Festival ở Huế.

Qua kết quả khảo sát, 64% khác quốc tế lưu trú ở các khách sạn 4,5 sao và 51% khách nội địa lưu trú ở các khách sạn 1,2 sao. Điều này cho ta thấy rõ mức chênh lệch khả năng chi trả của khách quốc tế và khách nội địa rất đáng kể.

Bảng 2.7. Tỷ lệ số đêm khách lưu trú tại thời điểm diễn ra festival

LOẠI KHÁCH SỐ LƯỢNG 1-2 ĐÊM 3-4 ĐÊM 5-6 ĐÊM TRÊN 6 ĐÊM
KHÁCH QUỐC TẾ 464 427 28 4 5
KHÁCH NỘI ĐỊA 896 680 98 95 23
TỔNG CỘNG 1.360 1,107  126  99   28 
TỶ LỆ % 100% 81% 9% 7% 2%
KHÁCH QUỐC TẾ 34% 92% 6% 1% 1%
KHÁCH NỘI ĐỊA 66% 76% 11% 11% 3%

Nguồn: Khảo sát tháng 04/2024

Biểu đồ 2.10. Khảo sát tỷ lệ số đêm khách lưu trú

Qua khảo sát, ta thấy đa số khách lưu lại 1 hoặc 2 đêm, chiếm tỷ lệ 82%, điều này cho thấy, khung chương trình festival không còn quá hấp dẫn đối với du khách, hoặc khách chỉ quan tâm đến một phần nhỏ của chương trình. Chỉ có 2% khách lưu trú quá 6 đêm, trong khi chương trình kéo dài đến 9 đêm ngày.

Bảng 2.8. Du khách đánh giá về dịch vụ lưu trú

LOẠI KHÁCH SỐ LƯỢNG TUYỆT TỐT THƯỜNG TỆ
KHÁCH QUỐC TẾ 464 114 199 67 84
KHÁCH NỘI ĐỊA 896 9 664 210 13
TỔNG CỘNG 1.360 123  863  277  97 
TỶ LỆ % 100% 9% 63% 20% 7%
KHÁCH QUỐC TẾ 34% 25% 43% 14% 18%
KHÁCH NỘI ĐỊA 66% 1% 74% 23% 1%

Nguồn: Khảo sát tháng 04/2024

Biểu đồ 2.11. Khảo sát ý kiến du khách về dịch vụ lưu trú

Đối với dịch vụ lưu trú, có khoảng 72% du khách hài lòng, đây là kết quả khá khả quan, tuy nhiên gần 28% khách không hài lòng còn lại vẫn là một trở ngại không nhỏ, cần phải nghiên cứu nguyên nhân dẫn đến việc không hài lòng của du khách.

  • Dịch vụ ăn uống Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch Festival ở Huế.

Với bề dày lịch sử văn hóa, Huế vốn nổi tiếng về văn hóa ẩm thực đa dạng phong phú, với bàn tay khéo léo, với sự thông minh sáng tạo, các món ăn Huế đã đạt đến tầm tinh túy, tầm nghệ thuật. Theo sách cũ có ghi thì Huế có 1.300 món ăn và hiện còn lưu truyền trong dân gian 700 món. Trong khi đó, theo nhà nghiên cứu Trần Đình Giản thì Việt Nam có tổng cộng khoảng 1.700 món ăn.

Có thể xếp món ăn Huế thành các hệ: hệ món mặn, hệ món chay, hệ cháo súp, hệ dưa mắm, hệ nem chả, hệ bánh mặn, hệ bánh ngọt, hệ mứt, hệ món ăn bài thuốc, hệ món ăn cung đình.

Món ăn Huế không chỉ ăn bằng miệng, mà trước hết phải thích nhìn bằng mắt, mũi ngửi thấy thơm, cảm giác thấy thèm, tai nghe những âm thanh gây cuốn hút, tò mò, tức là ăn bằng ngũ quan. Sự hài hòa về màu sắc, hương vị, hài hòa về âm – dương, nóng – lạnh, hài hòa trong bố cục chén, đũa, bát, dĩa… hài hòa như tự nhiên, thiên nhiên, chính là văn hóa ẩm thực Huế.

Bảng 2.9. Du khách đánh giá về chất lượng dịch vụ ăn uống

LOẠI KHÁCH SỐ LƯỢNG TUYỆT TỐT THƯỜNG TỆ
KHÁCH QUỐC TẾ 464 82 284   35 63
KHÁCH NỘI ĐỊA 896 86 691 109 10
TỔNG CỘNG 1.360 168  975    144  73 
TỶ LỆ % 100% 12% 72% 11% 5%
KHÁCH QUỐC TẾ 34% 18% 61% 8% 14%
KHÁCH NỘI ĐỊA 66% 10% 77% 12% 1%

Nguồn: Khảo sát tháng 04/2024

Biểu đồ 2.12. Khảo sát ý kiến du khách về dịch vụ ăn uống  

Qua khảo sát, có 72% du khách hài lòng với dịch vụ ăn uống, tuy nhiên còn có 5% chưa hài lòng với dịch vụ cung cấp, đây là một tỷ lệ không lớn, tuy nhiên, cần nghiên cứu nguyên nhân và có phương pháp tiếp cận, tư vấn cho du khách. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch Festival ở Huế.

  • Dịch vụ vui chơi giải trí

Huế là một thành phố nhỏ, chưa phát triển hiện đại như các thành phố khác nên các dịch vụ vui chơi giải trí cao cấp, hiện đại không bằng các thành phố lớn khác nên không ít du khách thất vọng vì không biết vui chơi cái gì, vui chơi ở đâu. Đây là một hạn chế không nhỏ trong việc khai thác, thu hút và lưu giữ khách ở lại lâu hơn.

Tuy nhiên, nói thế không có nghĩa là ở Huế thiếu thú vui chơi mà do thú vui chơi ở Huế không giống như các vùng khác. Thú tiêu khiển Huế rất công phu, tao nhã và tinh tế, mang đậm nét văn hóa Huế, văn hóa cung đình trước đây.

Trò chơi và thú tiêu khiển ở Huế luôn có 2 thuộc tính: dân dã và bác học; dân gian và cung đình. Chẳng hạn trong trò thả diều, vốn xuất phát từ trò chơi giản đơn,  phát triển thành những nhân vật của bộ môn „múa rối trên không‟. Môn „cờ người‟, dùng người để đánh cờ, vốn là trò chơi cờ tướng bình thường, kết hợp với các thế võ cỗ truyền đã nâng tầm tri thức lên thành nghệ thuật độc đáo.

Những thú vui ở Huế, ngoài mục đích tiêu khiển, giải trí, còn nhằm để khoa trương tài nghệ, óc thẩm mỹ tinh tế, sự tinh xảo, khéo léo và cả tri thức, học vấn của người dự cuộc. Ðể thỏa mãn thú đỏ đen hay thử vận hên xui, ngoài những trò cờ bạc diễn ra trong các sòng tổ tôm, tứ sắc…, người Huế còn tìm đến các trò thả thơ, đố thơ, nơi mà sự uyên bác trong học vấn quyết định sự thắng thua chứ không phải là tính sát phạt. Tương tự, người ta tìm đến các hội bài chòi, bài thai là để được thưởng thức những câu hò, giọng hát, để đắm mình trong không khí rộn ràng của cuộc vui hơn là để thử vận may rủi.  Huế còn rất nhiều trò chơi và thú tiêu khiển khác, tuy nhiên, trong khuôn khổ festival, rất ít trò chơi và thú tiêu khiển Huế được khai thác hay khai thác mang tính chất tượng trưng, chưa được nghiên cứu kĩ càng, dàn dựng công phu để du khách có thể thưởng thức, hiểu rõ hết nét uyên áo, tinh tế của nó.

Bảng 2.10. Du khách đánh giá về chất lượng dịch vụ bổ sung khác

LOẠI KHÁCH SỐ LƯỢNG TUYỆT TỐT THƯỜNG TỆ
KHÁCH QUỐC TẾ 464 92   262   50   60
KHÁCH NỘI ĐỊA 896 109 502 240    45
TỔNG CỘNG 1.360 201  764    290  105
TỶ LỆ % 100% 15% 56% 21% 8%
KHÁCH QUỐC TẾ 34% 18% 61% 8% 14%
KHÁCH NỘI ĐỊA 66% 10% 77% 12% 1%

Nguồn: Khảo sát tháng 04/2024

Biểu đồ 2.13. Khảo sát ý kiến du khách về dịch vụ bổ sung khác

Đối với dịch vụ bổ sung khác, ngoài dịch vụ lưu trú và ăn uống, chỉ có 71% du khách hài lòng, 29% du khách không hài lòng với các dịch vụ cung cấp. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch Festival ở Huế.

  • Dịch vụ đi lại

Về Đường bộ, toàn tỉnh có hơn 2.500 km đường bộ, Quốc lộ 1A chạy xuyên qua tỉnh từ Bắc xuống Nam cùng với các tuyến tỉnh lộ chạy song song và cắt ngang như tỉnh lộ 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8A, 8B, 10A, 10B, 10C, 11A, 11B, 15 và các tỉnh lộ khác. Ngoài ra còn có tuyến quốc lộ 49 chạy ngang qua từ tây sang đông nối tiếp vùng núi với biển. Khu vực ven biển, đầm phá có quốc lộ 49B và một số tuyến ven biển khác. Khu vực gò đồi trung du và vùng núi rộng lớn phía tây thuộc các huyện A Lưới, Nam Đông có quốc lộ 14, tỉnh lộ 14B, 14C, quốc lộ 49 đi sang Lào. Đến nay toàn tỉnh đã nhựa hóa được 80% đường tỉnh, bê tông hóa 70% đường giao thông nông thôn (đường huyện, đường xã), 100% xã có đường ô tô đến trung tâm.

Về đường biển và đường thủy, với tổng chiều dài 563km sông, đầm phá. Tỉnh có cảng biển là cảng nước sâu Chân Mây và cảng Thuận An. Cảng Thuận An nằm cách trung tâm thành phố Huế khoảng 13 km về phía đông bắc. Trong nhiều năm tỉnh đã tập trung đầu tư cho cảng Thuận An  5 cầu tầu dài 150m, có khả năng tiếp nhận tầu 1.000 tấn, được nhà nước công nhận là cảng biển quốc gia. Cảng nước sâu Chân Mây cách thành phố Huế 49 km về phía Nam đang được triển khai xây dựng một số  hạng mục hạ tầng kỹ thuật đầu tiên  nhằm khai thác lợi thế trục giao thông Bắc – Nam và tuyến hành lang Đông – Tây, tạo động lực phát triển kinh tế những năm sau.

Về đường sắt, có tuyến đường sắt Bắc – Nam chạy qua tỉnh Thừa Thiên Huế dài 101,2 km đóng một vai trò quan trọng trong giao thông của tỉnh.

Về đường hàng không, Thừa Thiên Huế có sân bay quốc tế Phú Bài nằm trên quốc lộ I, cách phía Nam thành phố Huế khoảng 15 km. Những năm qua, bộ mặt và cơ sở hạ tầng của sân bay Phú Bài đã có những thay đổi đáng kể; đảm bảo cho may bay Airbus A320, Boeing 747 cất hạ cánh an toàn. [31]

Bảng 2.11. Tỷ lệ du khách sử dụng các phương tiện đi lại

LOẠI KHÁCH SỐ LƯỢNG HÀNG KHÔNG TÀU LỬA ĐƯỜNG BỘ ĐƯỜNG THỦY
KHÁCH QUỐC TẾ 464 244 19  200 1
KHÁCH NỘI ĐỊA 896 167 31 691 7
TỔNG CỘNG 1.360 411 50 891 8
TỶ LỆ % 100% 30% 4% 66% 1%
KHÁCH QUỐC TẾ 34% 53% 4% 43% 0%
KHÁCH NỘI ĐỊA 66% 19% 3% 77% 1%

Nguồn: Khảo sát tháng 04/2024

Biểu đồ 2.14. Khảo sát tỷ lệ du khách sử dụng các phương tiện đi lại

Qua khảo sát, ta thấy số lượng khách sử dụng hệ thống đường bộ chiếm 65%, 30% du khách sử dụng đường hàng không, đây là hai phương tiện chính kết nối du khách và điểm đến. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch Festival ở Huế.

Bảng 2.12. Du khách đánh giá về chất lượng dịch vụ vận chuyển

LOẠI KHÁCH SỐ LƯỢNG TUYỆT TỐT THƯỜNG TỆ
KHÁCH QUỐC TẾ 464  58  356 55 50
KHÁCH NỘI ĐỊA 896 13  747  109  27
TỔNG CỘNG 1.360 71     1,103  164 77
TỶ LỆ % 100% 5% 81% 12% 6%
KHÁCH QUỐC TẾ 34% 13% 77% 12% 11%
KHÁCH NỘI ĐỊA 66% 1% 83% 12% 3%

Nguồn: Khảo sát tháng 04/2024

Biểu đồ 2.15. Khảo sát ý kiến du khách về chất lượng dịch vụ vận chuyển

Qua khảo sát, có 83% du khách đánh giá tốt về phương tiện vận chuyển, 17% khách chưa hài lòng với dịch vụ cung cấp.

2.6. Nhân lực du lịch Festival ở Huế Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch Festival ở Huế.

  • Nguồn nhân lực phục vụ du lịch festival địa phương

Do Festival Huế được tổ chức định kì hai năm, nên nguồn nhân lực mang tính thời vụ cao, số lượng nhiều tại thời điểm diễn ra sự kiện nên tính chuyên nghiệp đa số hạn chế. Đa số không được đào tạo để phục vụ festival một cách chuyên nghiệp. Điều này cũng không mấy xa lạ đối với những nơi diễn ra sự kiện lớn, nơi cần nhiều nguồn nhân lực tại một thời điểm ngắn nhất định trong năm. Ngoài các đoàn nghệ thuật, ca múa, biểu diễn được mới đến tham dự phục vụ, ta có thể kể đến hai loại nguồn nhân lực phục vụ chính được huy động tại chỗ đó là học sinh, sinh viên các trường cao đẳng, đại học và nguồn phục vụ tình nguyện viên. Hai nguồn này phải nói là chiếm đa số, ưu điểm là năng động, nhiệt tình, nhược điểm là chưa được đào tạo và ý thức nghề nghiệp tốt.

  • Nguồn nhân lực phục vụ du lịch festival quốc tế

Đối với nguồn nhân lực phục vụ festival quốc tế thì không nhiều, đa số rơi vào các chuyên gia, các tư vấn viên, các đoàn nghệ thuật tham gia lưu diễn, chưa có nhiều nguồn nhân lực nước ngoài trực tiếp phục vụ cho festival.

  • Nhận xét, đánh giá chung

Qua kết quả khảo sát, ta thấy đa số du khách rất hài lòng với các dịch vụ cung cấp như lưu trú, ăn uống, đi lại, vui chơi giải trí. Đây là một kết quả khá khả quan đối với ngành du lịch Huế. Tuy nhiên, tỷ lệ ngày khách lưu trú thì rất thấp, nhất là tại thời điểm diễn ra sự kiện, do vậy ta nên xem xét, tìm hiểu kĩ nguyên nhân khách không lưu trú lâu hơn để có hướng khắc phục kịp thời.

2.7. Tổ chức, quản lý du lịch Festival ở Huế 

  • Quản lý của chính quyền

Hiện nay, cơ quan đứng đầu chỉ đạo du lịch fesival ở Huế do Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch là cơ quan chủ quản và điều hành mọi hoạt động du lịch kể cả du lịch festival, chính quyền cấp dưới là Ủy ban Nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.

  • Doanh nghiệp

Khối doanh nghiệp được sự điều hành của Hiệp hội du lịch tỉnh Thừa thiên Huế đảm trách.

  • Ban tổ chức 

Cơ quan trực tiếp chỉ đạo, dàn dựng, triển khai chương trình là Trung tâm Festival Huế phối hợp với trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch Festival ở Huế.

Với lịch trình triển khai Festival Huế hai năm một lần trong suốt 8 kì tổ chức vừa qua, Fesitval Huế đã gặt hái khá nhiều thành công cũng như bộc lộ những bất cập, khiếm khuyết về khâu tổ chức, dự trù và tính chuyên nghiệp xứng tầm với một festival quốc tế như Festival Huế. Ta có thể xem xét một số khía cạnh sau:

  • Câu khẩu hiệu chương trình

Xem xét câu khẩu hiệu trương trình (phần thị trường khách du lịch) trong 8 kì festival vừa qua, ta thấy hầu như không có gì thay đổi về mục tiêu, chiến lược phát triển, câu khẩu hiệu mang tính chung chung, đại khái, không rõ mục đích cụ thể, nghèo nàn về ý tưởng, tư tưởng chủ đạo, nặng hình thức, nghiêng về tuyên truyền, thiếu tính thiết thực, đào sâu phát triển tiềm năng du lịch.

Bảng 2.13. Du khách đánh giá về câu khẩu hiệu chương trình

LOẠI KHÁCH SỐ LƯỢNG TUYỆT TỐT THƯỜNG TỆ
KHÁCH QUỐC TẾ 464  13 117 3  331
KHÁCH NỘI ĐỊA 896  87 383  8 418
TỔNG CỘNG 1.360  100  500   11   749 
TỶ LỆ % 100% 7% 37% 1% 55%
KHÁCH QUỐC TẾ 34% 3% 25% 1% 71%
KHÁCH NỘI ĐỊA 66% 10% 43% 1% 47%

Nguồn: Khảo sát tháng 04/2024

Biểu đồ 2.16. Khảo sát ý kiến du khách về câu khẩu hiệu chương trình

Qua khảo sát, có 55% du khách không quan tâm đến câu khâu hiệu chương trình, ta có thể hiểu theo hai cách, một là khách quá quen thuộc với câu khẩu hiệu chương trình vì năm nào cũng câu ấy, hai là khách không quan tâm đến chương trình.

  • Thời lượng chương trình Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch Festival ở Huế.

Thời lượng chương trình không đồng nhất trong 8 kì festival vừa qua, cụ thể năm 2010 và 2022 là 18 ngày đêm, các kì sau là 9 ngày đêm (xem bảng 2.1.). Xem ra các kì festival sau mang tính ổn định hơn về thời lượng chương trình.

Bảng 2.14. Du khách đánh giá về thời lượng chương trình

LOẠI KHÁCH SỐ LƯỢNG VỪA ĐỦ QUÁ NGẮN QUÁ DÀI KG Ý KIẾN
KHÁCH QUỐC TẾ 464 148 37 6 273
KHÁCH NỘI ĐỊA 896  480  8 72 336
TỔNG CỘNG 1.360  628  45   78   609 
TỶ LỆ % 100% 46% 3% 6% 45%
KHÁCH QUỐC TẾ 34% 32% 8% 1% 59%
KHÁCH NỘI ĐỊA 66% 54% 1% 8% 38%

Nguồn: Khảo sát tháng 04/2024

Biểu đồ 2.17. Khảo sát ý kiến du khách về thời lượng chương trình

Qua khảo sát có 45% du khách không quan tâm đến thời lượng chương trình festival, 6% du khách cho rằng quá dài và 3% cho rằng quá ngắn. Ta cũng có thể thấy rõ rằng thời lượng phụ thuộc vào nội dung chương trình, tính hấp dẫn, tính mới, tính lạ của chương trình. Do vậy, đa số du khách không quan tâm nó bao lâu và nó như thế nào.

  • Thời gian tổ chức Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch Festival ở Huế.

Xem xét thời gian tổ chức trong 8 kì festival, ta thấy không có tính ổn định cao trong việc ấn định thời gian tổ chức chương trình. Năm 2010, tổ chức từ ngày 5 đến 13 tháng 6 ; năm 2012, từ ngày 4 đến 15 tháng 5 ; năm 2014, từ ngày 12 đến 20 tháng 6; năm 2016, 2018 tổ chức từ ngày 3 đến 11 tháng 6 ; năm 2020, tổ chức từ ngày 5 đến 13 tháng 6; năm 2020 từ ngày 5 đến ngày 13 tháng 6 ; năm 2022, từ ngày 7 đến 15 tháng 4 và năm 2024 từ ngày 12 đến 20 tháng 4.

Bảng 2.15. Du khách đánh giá về thời gian tổ chức chương trình

LOẠI KHÁCH SỐ LƯỢNG THÁNG 4 THÁNG 5 THÁNG 6 KHÔNG Ý KIẾN
KHÁCH QUỐC TẾ 464 265  3 3  193
KHÁCH NỘI ĐỊA 896 769  13  73  41
TỔNG CỘNG 1.360 1,034           16   76    234 
TỶ LỆ % 100% 76% 1% 6% 17%
KHÁCH QUỐC TẾ 34% 57% 1% 1% 42%
KHÁCH NỘI ĐỊA 66% 86% 1% 8% 5%

Nguồn: Khảo sát tháng 04/2024

Biểu đồ 2.18. Khảo sát ý kiến du khách về thời gian tổ chức

Qua khảo sát có 76% du khách đồng tình việc tổ chức festival vào tháng 4, 17% du khách không có ý kiến về thời gian tổ chức. Tuy nhiên, về thời gian tổ chức phụ thuộc khá nhiều đến yếu tố tự nhiên, do chương trình đa số là dàn dựng ngoài trời, hơn là yếu tố chủ quan, nên ban tổ chức tùy đó lựa chọn một thời điểm thích hợp tổ chức nhất.

  • Khách tham dự chương trình

Bảng 2.16. Số lần du khách tham dự chương trình festival

LOẠI KHÁCH SỐ LƯỢNG CHƯA 1 LẦN 2 LẦN 3 LẦN
KHÁCH QUỐC TẾ 464 457  3  3           –
KHÁCH NỘI ĐỊA 896 797  66  33           –
TỔNG CỘNG 1.360  1,254   69  36  0
TỶ LỆ % 100% 92% 5% 3% 0%
KHÁCH QUỐC TẾ 34% 98% 1% 1% 0
KHÁCH NỘI ĐỊA 66% 89% 7% 4% 0

Nguồn: Khảo sát tháng 04/2024

Biểu đồ 2.19. Khảo sát số lần tham dự festival của du khách

Qua khảo sát có đến 92% du khách là chưa từng tham dự chương trình, chỉ có 5% du khách đã tham dự một lần, không có trường hợp nào tham dự quá ba lần. Ta thấy rằng hầu như không thai thác được lượng khách cũ, đa số là khách mới, thị trường mới.

  • Nhận xét, đánh giá chung

 Qua kết quả khảo sát, ta thấy đa số khách lần đầu tiên tham dự chương trình, khách tham dự nhiều hơn hai lần là rất thấp, điều này cho thấy ban tổ chức nên định hướng khai thác, mở rộng các thị trường mới, tiềm năng. Thời gian tổ chức sự kiện vẫn chưa thống nhất cho dù đã có nhiều lần tổ chức, điều này sẽ gây ảnh hưởng không nhỏ cho việc trù bị, triển khai quảng bá về festival và nên có những nghiên cứu nghiêm túc hơn, sâu sát hơn với câu khẩu hiệu chương trình.

2.8. Tuyên truyền quảng bá du lịch Festival ở Huế Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch Festival ở Huế.

  • Phương tiện truyền thông 

Bảng 2.17. Tỷ lệ du khách biết trước về chương trình festival

LOẠI KHÁCH SỐ LƯỢNG 1 THÁNG 2 THÁNG 3 THÁNG KHÔNG BIẾT
KHÁCH QUỐC TẾ 464 318 11 21  114
KHÁCH NỘI ĐỊA 896 626 35 131  104
TỔNG CỘNG 1.360  944   46   152   218 
TỶ LỆ % 100% 69% 3% 11% 16%
KHÁCH QUỐC TẾ 34% 69% 2% 5% 25%
KHÁCH NỘI ĐỊA 66% 70% 4% 15% 12%

Nguồn: Khảo sát tháng 04/2024

Biểu đồ 2.20. Khảo sát tỷ lệ du khách biết trước chương trình festival 

Qua khả sát có 70% du khách biết trước về chương trình festival trong một tháng, 3% biết trước trong hai tháng, 11% du khách biết trước trong 3 tháng và 16% du khách không biết gì về chương trình festival. Qua đó, ta thấy thời gian biết về chương trình như thế là rất ngắn, khó có thể đảm bảo cho du khách sắp xếp, chuẩn bị tốt cho chuyến đi được. Đó là nguyên nhân chính làm giảm nhu cầu của du khách.

  • Phương thức quảng bá 

Bảng 2.18. Du khách biết về festival thông qua các phương tiện  

LOẠI KHÁCH SỐ LƯỢNG TT ĐẠI CHÚNG HÃNG LH B ẠN/N.THÂN KHÔNG BIẾT
KHÁCH QUỐC TẾ 464 141 181 45 97
KHÁCH NỘI ĐỊA 896 580 48 83 185
TỔNG CỘNG 1.360 721 229 128 282
TỶ LỆ % 100% 53% 17% 9% 21%
KHÁCH QUỐC TẾ 34% 30% 39% 10% 21%
KHÁCH NỘI ĐỊA 66% 65% 5% 9% 21%

Biểu đồ 2.21. Khảo sát tỷ lệ du khách biết về festival qua các phương tiện

Qua khảo sát có đến 53% du khách biết về festival thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng, 17% du khách biết thông qua các hãng lữ hành, có đến 21% du khách không biết gì về festival mặc dầu đến Huế trong thời gian diễn ra lễ hội. Qua đó ta thấy, một là vai trò của các hãng lữ hành rất mờ nhạc trong việc truyền thông, quảng bá về festival cho du khách, hai là phương thức quảng bá chưa đúng, chưa đủ đối với du khách. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch Festival ở Huế.

  • Nhận xét, đánh giá chung

Qua kết quả khảo sát, đa số khách biết đến chương trình là rất muộn, thậm chí đến rồi mới biết, điều này nên xem xét lại khâu tổ chức tuyên truyền và các hình thức quảng bá hiệu quả, nên chú ý khai thác triệt để các kênh quảng bá thông qua các hãng lữ hành, đại lý du lịch trong nước và quốc tế vì đây là kênh giúp ban tổ chức quảng cáo hiệu quả nhất. Ở các thị trường mới nên có các băng rôn, áp phích quảng cáo rầm rộ, hoành tráng để thu hút, mở các kênh thông tin điện tử công cộng để khách tiện tìm hiểu, tham khảo.

2.9. Bảo vệ môi trường văn hóa và tự nhiên trong du lịch Festival ở Huế 

  • Môi trường thiên nhiên

Đối với môi trường thiên nhiên, hiện tại do Công ty Công viên và Cây xanh đảm trách, đa số thực hiện khá tốt nhiệm vụ. Huế vốn nổi tiểng với thành phố cây xanh, đa dạng về chủng loại, màu sắc, niên đại. Không ít du khách rất thích thú khi đi trên những con đường đầy cây xanh này. Có thể xem đây là một sản phẩm du lịch độc đáo mà không mất tiền mua khi đến Huế vậy.

  • Môi trường văn hoá

Đối với môn trường văn hóa vật thể và phi vật thể, hiện tại do Trung tâm Bảo tồn di tích Cố Đô Huế cai quản. Huế vốn là thủ phủ trước đây của nhà Nguyễn, nên các công trình văn hóa, kiến trúc cổ rất nhiều. Do các yếu tố khách quan và chủ quan đan xen, thời gian và chiến tranh là hai yếu tố chính làm hư hỏng nặng hay hủy diệt hoàn toàn các di tích văn hóa, lịch sử. Hiện tại vẫn đang được nổ lực trùng tu, tôn tạo, hoàn thiện lại các di tích, các di sản văn hóa cổ.

Môi trường du lịch

Đối với môi trường du lịch, hiện do Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch đảm trách, tuy nhiên vai trò của cơ quan này vẫn chưa được khai thác đúng chức năng, nhiệm vụ, thiếu chủ động trong việc triển khai, lập kế hoạch. Tính liên kết giữa cơ quan này với doanh nghiệp chưa cao nên chưa khai thác tốt tiềm năng du lịch vốn có của tỉnh nhà.

  • Môi trường cộng đồng

Đối với người dân xứ Huế, vốn dĩ thích sống ẩn dật, kín đáo, nên việc hưởng ứng festival đối với người dân Huế cũng không mặn mà, nhiệt tình mấy, đa số không quan tâm nhiều đến lễ hội này. Có một số nguyên nhân dẫn đến tình trạng này như, một là người dân Huế vốn quá quen thuộc với những hoạt động văn hóa như thế, hai là đa số người dân không được tham gia để phát triển kinh tế bản thân, ba là gây xáo trộn cuộc sống người dân do ách tắt giao thông, quá đông người, gây phiền nhiễu của du khách, bốn là đa số chương trình nhằm phục vụ du khách, giá cả quá cao, đa số người dân không thể mua chương được. Đây cũng là một trong những bất cập, hạn chế trong việc thúc đẩy, phát triển du lịch festival ở Huế.

Tác động của du lịch festival tới tự nhiên, xã hội Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch Festival ở Huế.

  • Tác động tích cực

Festival Huế mang lại lợi ích kinh tế cho nhiều ngành, nghề nhờ lượng khách tham dự, tạo cơ hội quảng bá, đầu tư, hợp tác cho khối doanh nghiệp và cộng đồng dân cư điểm đến, tạo động lực thúc đẩy nhanh quá trình phục hồi, tôn vinh các giá trị văn hóa, nghệ thuật truyền thống, khuyếch trương bản sắc văn hóa Huế và Việt Nam ra thế giới và tạo điều kiện nâng cấp hạ tầng cơ sở, phương tiện đi lại, chất lượng dịch vụ phục vụ cho sự kiện được tốt hơn.

  • Tác động tiêu cực

Bên cạnh những tác động tích cực, điểm tổ chức festival cũng đối diện với không ít những tác động tiêu cực xung quanh sự kiện, số lượng người gia tăng đột biến gây quá tải cho điểm đến, cung không đáp ứng được cầu, tạo điều kiện thuận lợi cho các hình thức kinh doanh gian dối, lừa đảo, chèn ép du khách, gây mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội, góp phần làm giảm nhanh tuổi thọ của môi trường thiên nhiên và các khu di tích lịch sử do quá tải sức chứa.

  • Nhận xét, đánh giá chung

Tổ chức các sự kiện cộng đồng nói chung festival nói riêng, không thể tránh khỏi tính hai mặt của nó, bên cạnh cái nhận được đương nhiên có cái khác ra đi thay thế. Tuy nhiên, làm thế nào để gia tăng cái được và giảm thiểu cái mất là một vấn đề không dễ đối với ban tổ chức sự kiện và cộng đồng dân cư điểm đến. Cần ý thức rõ trách nhiệm đến mọi thành phần tham dự festival hay chế tài mạnh đối với mọi đối tượng cố tình gây tổn hại đến thuần phong, mĩ tục, di tích lịch sử, văn hóa và nên cân nhắc vị trí tổ chức sự kiện, tránh quá gần hay ngay trong khu di tích.

2.10. Điều kiện phát triển du lịch Festival ở thành phố Huế

Huế nằm ở dải đất hẹp của miền Trung Việt Nam và là thành phố tỉnh lỵ của Thừa Thiên – Huế. Thành phố là trung tâm về nhiều mặt của miền Trung như văn hoá, chính trị, kinh tế, giáo dục, y tế, du lịch, khoa học kỹ thuật, đào tạo… Với dòng sông Hương và những di sản để lại của triều đại phong kiến, Huế, còn gọi là đất Thần Kinh hay xứ thơ, là một trong những thành phố được nhắc tới nhiều trong thơ văn và âm nhạc Việt Nam. Thành phố có hai di sản văn hoá thế giới. Huế là đô thị cấp quốc gia của Việt Nam và cố đô của Việt Nam thời phong kiến dưới triều nhà Nguyễn (1802 – 1945).

2.10.1. Điều kiện chủ quan Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch Festival ở Huế.

  • Nguồn nhân lực du lịch

Huế có nhiều trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp, các trung tâm đào tạo nghề, nhất là các trường dạy nghề chuyên sâu về du lịch, hàng năm cung cấp, bổ sung một lượng lớn nguồn nhân lực du lịch cho cả nước, chủ yếu là các tỉnh Nam, Bắc miền Trung, nơi vốn là vùng trũng du lịch của cả nước.

  • Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch

Hiện nay, Huế có nhiều khách sạn, khu nghi dưỡng quy mô vừa và lớn, đạt tiêu chuẩn đón khách du lịch quốc tế và nội địa, tập trung ở các khu du lịch chính như thành phố Huế, khu du lịch núi Bạch Mã, bãi biển Thuận An, bãi biển Lăng Cô, bãi biển Cảnh Dương, khu du lịch Nhị Hồ,..

Theo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch cho biết, hiện nay, trên địa bàn có 71 đơn vị và chi nhánh hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực lữ hành, trong đó có 31 đơn vị có chức năng kinh doanh lữ hành quốc tế, 41 đơn vị kinh doanh lữ hành nội địa, văn phòng du lịch, đại lý du lịch, vận chuyển open tour…

Về cơ sở lưu trú, trên địa bàn tỉnh đến nay có 526 cơ sở lưu trú, 9.942 phòng, 16.880 giường, trong đó có 205 khách sạn, 7.360 phòng, 13.252 giường. Khách sạn từ 1-5 sao hiện có 122 cơ sở, 5.194 phòng, 9.465 giường, tăng 21 khách sạn so với cùng kỳ năm 2022, khách sạn từ 3 – 5 sao 25 cơ sở, 2.918 phòng, 5.087 giường.

  • Hạ tầng cơ sở phục vụ du lịch

Huế có cơ sở hạ tầng, giao thông thuận tiện cho việc phát triển du lịch cả đường hàng không (sân bay quốc tế Phú Bài), đường bộ (hầm đèo Hải vân, quốc lộ 1A, cửa khẩu Hồng Vân-Cu Tai, cửa khẩu A Đớt-Tà Vàng), đường sắt (tuyến đường sắt Bắc – Nam) và đường thủy (cảng nước sâu Chân Mây, cảng biển Thuận An).

  • Thị trường khách du lịch

Thị trường khách quốc tế chủ yếu đến Huế là Pháp, Mỹ, Đức, Úc, Anh, Nhật, Hàn Quốc… và gần đây thị trường khách Thái đang bùng nổ, tăng mạnh. Lượng khách lưu trú đón được 1,370 triệu lượt, tăng 2,4% so với cùng kỳ năm 2022, đạt 74% kế hoạch 2023. Khách du lịch quốc tế 564 ngàn lượt, khách nội địa 806 ngàn lượt. Ngày lưu trú bình quân 2,03 ngày. Doanh thu du lịch ước đạt 1.842 tỷ đồng, tăng 11,31% so với cùng kỳ năm 2022. Trong đó, doanh thu quốc tế chiếm 61,78%. Doanh thu xã hội từ du lịch ước đạt trên 4.600 tỷ.

Thị trường khách quốc tế đến Thừa Thiên Huế 9 tháng đầu năm 2023 gồm có: Thái Lan chiếm 17,65%, dẫn đầu các thị trường có khách du lịch đến Huế; Pháp chiếm 14,24%; Úc 7,52%; Anh 7,13%; Đức cũng là một thị trường có dấu hiệu tăng trưởng ổn định chiếm 6,78%; Mỹ 5,7%; đặc biệt, khách du lịch Hàn Quốc đã xếp vào vị trí thứ 7 trong 10 thị trường hàng đầu có khách du lịch đến Huế chiếm 4,65%; Nhật 4,45%. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch Festival ở Huế.

  • Định hướng phát triển Thừa Thiên Huế giai đoạn 2021-2024

Ngày 25/5/2019, Bộ Chính trị đã có kết luận 48-KL/TW về “Xây dựng, phát triển tỉnh Thừa Thiên Huế và đô thị Huế đến năm 2030” và ngày 17/6/2019, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định 86/2019/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2030; theo đó xác định: “Xây dựng Thừa Thiên Huế trở thành thành phố trực thuộc Trung ương trong vài năm tới, là trung tâm của khu vực miền Trung và một trong những trung tâm lớn, đặc sắc của cả nước về văn hóa, du lịch, khoa học – công nghệ, y tế chuyên sâu và giáo dục – đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao. Phấn đấu đến năm 2030, Thừa Thiên Huế xứng tầm là trung tâm đô thị cấp quốc gia, khu vực và quốc tế, một trong những trung tâm kinh tế văn hóa, khoa học – công nghệ, y tế, đào tạo lớn của cả nước và khu vực các nước Đông Nam châu Á”.

Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm 2030

  • Mục tiêu tổng quát

Xây dựng tỉnh Thừa Thiên Huế sớm trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, là trung tâm của khu vực miền Trung và một trong những trung tâm lớn, đặc sắc của cả nước về văn hóa, du lịch, khoa học – công nghệ, y tế chuyên sâu, giáo dục – đào tạo đa ngành, đa lĩnh vực, chất lượng cao.Phấn đấu đến năm 2030, Thừa Thiên Huế xứng tầm là trung tâm đô thị cấp quốc gia, khu vực và quốc tế, một trong những trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học – công nghệ, y tế, đào tạo lớn của cả nước và khu vực các nước Đông Nam Châu Á; có quốc phòng, an ninh được tăng cường, chính trị – xã hội ổn định, vững chắc; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện.

  • Mục tiêu kinh tế

Phấn đấu mức tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm thời kỳ 2016 – 2020 đạt 15 – 16%; thời kỳ 2021 – 2030 đạt 12 – 13%. Nhanh chóng đưa mức GDP/người tăng kịp và vượt so với mức bình quân chung của cả nước ngay trong thời kỳ 2016 – 2020 và đạt trên 1.000 USD (giá năm 2015) vào năm 2020, đến năm 2030 đạt trên 4.000 USD/người (giá thực tế);

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đến năm 2020, cơ cấu kinh tế sẽ là: dịch vụ 45,9%, công nghiệp – xây dựng 42,0%, nông – lâm – ngư nghiệp 12,0%; đến năm 2024 tỷ trọng này tương ứng là 45,4% – 46,6% – 8,0% và đến năm 2030 là 47,4% – 47,3% – 5,3%;

  • Phấn đấu kim ngạch xuất khẩu đạt ít nhất 300 triệu USD vào năm 2020 và khoảng 1 tỷ USD vào năm 2030;
  • Phấn đấu đạt tỷ lệ thu ngân sách chiếm khoảng 13 – 14% từ GDP vào năm 2020 và trên 14% vào năm 2030.
  • Phấn đấu kim ngạch xuất khẩu đạt ít nhất 300 triệu USD vào năm 2020 và khoảng 1 tỷ USD vào năm 2030;
  • Phấn đấu đạt tỷ lệ thu ngân sách chiếm khoảng 13 – 14% từ GDP vào năm 2020 và trên 14% vào năm 2030.

Mục tiêu xã hội    Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch Festival ở Huế.

Tạo chuyển biến cơ bản về văn hóa, y tế, giáo dục, đào tạo, nâng cao dân trí, giải quyết tốt các vấn đề bức xúc về xã hội, từng bước nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân;

Giảm dần tốc độ tăng dân số bình quân giai đoạn 2016 – 2020 dưới 1,2%, giảm tỷ lệ sinh bình quân hàng năm 0,3 – 0,4%o; sau năm 2020, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm xuống khoảng 1,1 – 1,2%.

Phấn đấu ổn định và từng bước giảm tỷ lệ lao động thất nghiệp khu vực thành thị xuống còn khoảng 5%; nâng thời gian sử dụng lao động khu vực nông thôn lên trên 80% vào năm 2020 và khoảng 90% vào năm 2030. Nâng số lượng lao động được giải quyết việc làm lên trên 14 nghìn lao động/năm giai đoạn 2016 – 2020 và 16 – 17 nghìn lao động/năm giai đoạn 2021 – 2030. Phấn đấu đến năm 2020, lao động xuất khẩu đạt 2.000 – 2.500 lao động/năm; đến năm 2030 đạt 5.000 – 6.000 lao động/năm. Tăng tỷ lệ lao động được đào tạo nghề lên 40% vào năm 2020 và trên 50% vào năm 2030.

Đến năm 2020, tỷ lệ học sinh huy động so với dân số trong độ tuổi ở các bậc học như sau: mẫu giáo trên 70%; tiểu học trên 99,5%; trung học cơ sở trên 99% và phổ thông trung học là 62%. Đến năm 2030, tỷ lệ như sau: nhà trẻ là 50%, mẫu giáo trên 90%, tiểu học 100%, trung học cơ sở 99,9%, trung học phổ thông 75%. Đến năm 2020, hoàn thành cơ bản phổ cập giáo dục trung học ở thành phố Huế và các huyện đồng bằng;

Đến năm 2020, có 98% số hộ có điện sử dụng; 95% dân cư được sử dụng nước hợp vệ sinh;

Hạn chế và giảm đáng kể, tiến tới loại trừ các bệnh nhiễm vi rút HIV/AIDS và các bệnh dịch khác. Duy trì kết quả 100% trạm y tế xã có bác sỹ; đến năm 2020, đạt 12 bác sỹ/vạn dân và khoảng 15 bác sỹ/vạn dân vào năm 2030; tỷ lệ giường bệnh/vạn dân đạt 37 giường vào năm 2020, trên 40 giường vào năm 2030; tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng dưới 5 tuổi còn dưới 5% vào năm 2030.

Tỷ lệ hộ nghèo dưới 10% vào năm 2020 và dưới 3% vào năm 2030;

Nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa, thể dục thể thao, phát thanh và truyền hình trên toàn Tỉnh. Nhanh chóng đào tạo, bồi dưỡng nhân tài, đưa các môn thể thao mũi nhọn và truyền thống của địa phương tiến kịp trình độ khu vực và cả nước.

  • Mục tiêu về môi trường

Tỷ lệ che phủ rừng đạt 55% vào năm 2020 và trên 60% vào năm 2030;

Bảo vệ môi trường các vùng sinh thái, tránh ô nhiễm nguồn nước mặt và nước ngầm, bảo vệ rừng ngập nước ven biển, bảo vệ sinh thái đầm phá;

Các khu đô thị, khu công nghiệp, các cụm công nghiệp và làng nghề phải xử lý nước thải, thu gom và xử lý chất thải rắn đạt tiêu chuẩn theo quy định trước khi xả ra môi trường;

Phòng chống, hạn chế đến mức tối đa sự suy kiệt và ô nhiễm các nguồn tài nguyên và các tác hại do thiên tai bão lụt.v.v.

2.10.2. Điều kiện khách quan Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch Festival ở Huế.

  • Điều kiện tự nhiên

Thành phố Huế nằm ở vị trí có điều kiện thiên nhiên, hệ sinh thái đa dạng, phong phú và diện mạo riêng tạo nên một không gian hấp dẫn, được xây dựng trong không gian phong cảnh thiên nhiên kỳ diệu từ núi Ngự Bình, đồi Thiên An – Vọng Cảnh, Thành phố hội đủ các dạng địa hình: đồi núi, đồng bằng, sông hồ, tạo thành một không gian cảnh quan thiên nhiên đô thị văn hoá lý tưởng để tổ chức các loại hình Festival và các hoạt động du lịch thể thao khác nhau.

Thành phố Huế là địa bàn lý tưởng gắn kết các tài nguyên văn hoá truyền thống đặc sắc với du lịch mà không một Thành phố, địa danh nào ở nước ta có được và là một trong 5 trung tâm du lịch quốc gia. Huế nằm ở vị trí trung tâm của các di sản văn hoá thế giới của Việt Nam (Hội An, Mỹ Sơn, động Phong Nha-Kẻ Bàng) và gần với các Thành phố cố đô của các nước trong khu vực.

Khí hậu thuộc khu vực nhiệt đới gió mùa, mang tính chuyển tiếp từ á xích đạo đến nội chí tuyến gió mùa, chịu ảnh hưởng khí hậu chuyển tiếp giữa miền Bắc và miền Nam nước ta.

Thành phố Huế có mùa khô nóng và mùa mưa ẩm lạnh. Nhiệt độ trung bình hàng năm vùng đồng bằng khoảng 24°C – 25°C; Mùa nóng: từ tháng 5 đến tháng 9, chịu ảnh hưởng của gió Tây Nam nên khô nóng, nhiệt độ cao, nhiệt độ trung bình các tháng nóng là từ 27°C – 29°C, tháng nóng nhất (tháng 5, 6) nhiệt độ có thể lên đến 38°C- 40°C. Mùa lạnh từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau, chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông bắc nên mưa nhiều, trời lạnh. Nhiệt độ trung bình về mùa lạnh ở vùng đồng bằng là 20°C – 22°C. Lượng mưa trung bình khoảng 2500mm/năm. Mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau, tháng 11 có lượng mưa lớn nhất, chiếm tới 30% lượng mưa cả năm; Độ ẩm trung bình 85%-86%. Đặc điểm mưa ở Huế là mưa không đều, lượng mưa tăng dần từ Đông sang Tây, từ Bắc vào Nam và tập trung vào một số tháng với cường độ mưa lớn do đó dễ gây lũ lụt, xói lở. Chịu ảnh hưởng của 2 hướng gió chính: Gió mùa Tây Nam (bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 8, gió khô nóng, bốc hơi mạnh gây khô hạn kéo dài), Gió mùa Đông Bắc (bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau, gió thường kèm theo mưa làm cho khí hậu lạnh, ẩm, dễ gây lũ lụt). Bão thường xuất hiện từ tháng 8 đến tháng 9 -10.

  • Điều kiện kinh tế, xã hội

Với mục tiêu duy trì tăng trưởng kinh tế cao và bền vững, trong những năm qua, tăng trưởng kinh tế Thừa Thiên Huế đạt mức độ khá. Tổng GDP qua các năm tăng dần từ mức 3.934.037 triệu đồng năm 2016 lên đến 6.142.030 triệu đồng năm 2020, tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2020 đạt 12,5%. Năm 2020, cơ cấu kinh tế của tỉnh Thừa Thiên Huế chuyển dịch theo hướng dịch vụ, công nghiệp – xây dựng, nông – lâm – nghiệp, trong đó dịch vụ chiếm 45,2%, công nghiệp – xây dựng chiếm 39,7% và nông – lâm – ngư nghiệp chiếm 15,1%. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch Festival ở Huế.

Tổng vốn thu hút đầu tư trong giai đoạn 2016 – 2020, Thừa Thiên Huế đã thu hút được một lượng vốn đầu tư lớn từ trong và ngoài nước. Tổng số vốn đầu tư toàn xã hội liên tục tăng từ 4.750 tỉ  đồng năm 2016 lên đến 9.200 tỉ đồng năm 2020. Trong đó, vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài tăng lên từ 6,87 triệu USD năm 2016 lên đến 45,525 triệu USD năm 2020 và tăng 6,6 lần. Trong 9 tháng đầu năm 2021, tình hình thu hút vốn đầu tư có xu hướng tăng lên đạt 8.370 tỉ đồng tăng 18,1% so với cùng kỳ năm 2020.

Kim ngạch xuất khẩu của tỉnh Thừa Thiên Huế đạt nhiều kết quả tích cực; giá trị xuất khẩu vào các thị trường truyền thống đều tăng, đồng thời các thị trường mới có tiềm năng cũng được các đơn vị tìm kiếm khai thác; các cơ sở sản xuất hàng hóa xuất khẩu đã đi vào ổn định, chất lượng hàng hóa đáp ứng nhu cầu xuất khẩu có giá trị cao. Tổng giá trị xuất khẩu năm 2016 đạt 61.233 nghìn USD tăng lên 257.514 nghìn USD năm 2020, với tốc độ tăng bình quân qua các năm từ 2016 – 2020 là 79 nghìn USD. Kim ngạch xuất khẩu trong 9 tháng đầu năm 2021 đạt 277,2 triệu USD, tăng 62,1% so cùng kỳ năm 2020. Một số nhóm hàng xuất khẩu tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2020: hàng dệt may ước đạt 204,8 triệu USD, tăng 75,5%, chiếm tỉ trọng 73,9% tổng trị giá xuất khẩu; dăm gỗ đạt 47,7 triệu USD, tăng 92,9%;  thủy sản 6,6 triệu USD, tăng 19,44%.

Kim ngạch nhập khẩu cũng có nhiều dấu hiệu tích cực, năm 2016, tổng giá trị nhập khẩu đạt 49.243 nghìn USD và tăng lên 208.259 nghìn USD năm 2020, với tốc độ tăng bình quân qua các năm từ 2016 – 2020 là 101,4 nghìn USD. Trong 9 tháng đầu năm 2021 tổng giá trị nhập khẩu đã lên đến 185,36 triệu USD, tăng 21,6% so với cùng kỳ năm ngoái.

Lượng khách du lịch tính riêng năm 2021, tổng lượt khách đến Huế 9 tháng đầu năm ước đạt 1.208,7 nghìn lượt khách, tăng 6,2% so với cùng kỳ năm ngoái; trong đó lượng khách quốc tế đạt 487,1 nghìn lượt, tăng 6,9%; khách trong nước đạt 721,6 nghìn lượt, tăng 5,7%. Dự ước tổng ngày khách 9 tháng đạt 2.465,9 ngàn ngày (tăng 6,94% so với cùng kỳ), trong đó ngày khách quốc tế đạt 999,7 ngàn ngày (tăng 7,87%), chủ yếu từ các nước Thái Lan, Pháp, Mỹ,…; ngày khách trong nước là 1.466,2 ngàn ngày (tăng 6,32%). Doanh thu du lịch ước đạt 762,5 tỉ đồng, tăng 20,5% so với năm trước.

Khu kinh tế (KKT) Chân Mây – Lăng Cô bao gồm 5 khu chức năng chính: khu phi thuế quan, khu đô thị, khu công nghiệp, khu du lịch và khu cảng đã được lập và phê duyệt đảm bảo chất lượng, đúng quy định; được phát triển theo mô hình KKT tổng hợp với cơ chế chính sách “mở”, vận hành bởi khung pháp lý riêng với môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, được áp dụng nhiều chính sách ưu đãi đặc biệt cho các dự án đầu tư, xây dựng. KKT Chân Mây – Lăng Cô đã thu hút được 34 dự án đầu tư với tổng vốn đăng ký 36.486 tỉ đồng, tương đương với 2,28 tỉ USD. Trong đó có 10 dự án FDI với tổng vốn đầu tư 1.312 triệu USD, 24 dự án trong nước với tổng vốn đăng ký 15.495 tỉ đồng. Khu kinh tế cửa khẩu A Đớt với diện tích 10.184 ha, đang được tỉnh lập quy hoạch chung để trình Bộ Xây dựng thẩm định, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt. Đến nay, nhiệm vụ quy hoạch đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, dự kiến cuối năm 2021 sẽ trình phê duyệt đồ án quy hoạch chung KKT cửa khẩu.

Hiện đã hình thành 7 khu công nghiệp (KCN), với diện tích hơn 2.800 ha. Ngoài KCN 560 ha trong Khu kinh tế Chân Mây – Lăng Cô, 06 KCN còn lại phân bố đều khắp ở các huyện, thị xã trong tỉnh với tổng diện tích hơn 2.160 ha, có đầy đủ các dịch vụ phục vụ các nhà đầu tư, đó là các KCN: Phú Bài, Phong Điền, Tứ Hạ, Quảng Vinh, Phú Đa và La Sơn.

TIỂU KẾT Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch Festival ở Huế.

Festival Huế là một sân chơi bổ ích cả yếu tố tinh thần lẫn vật chất, có sự kết hợp hài hòa các yếu tố văn hóa nghệ thuật truyền thống và đương đại, sự kết hợp giữa văn hóa bản địa và văn hóa năm châu bốn bể, một mồi lửa kích cầu cho việc phát triển, giao lưu văn hóa, xã hội, kinh tế, nghệ thuật.

Festival Huế đã có những thành công nhất định về mọi mặt, từ khâu tổ chức đến khâu tuyên truyền, quảng bá, phục dựng lại những nét văn hóa bản địa đặc sắc tưởng chừng bị mai một, lãng quên.

Tuy nhiên, vẫn còn đó những bất cập, yếu kém, do nhiều nguyên nhân khác nhau, tính hệ thống, chuyên nghiệp còn hạn chế, nghèo ý tưởng, tư tưởng chủ đạo đã là cho sự kiện này giảm nhiều tính hấp dẫn, tính mới, lạ, vốn là các yếu tố quan trọng, kích cầu mạnh đối với du khách. Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch Festival ở Huế.

Tóm lại, Festival Huế vẫn còn nhiều vấn đề cần nghiên cứu, cân nhắc, nhằm tạo một môi trường thuận lợi để phát triển kinh tế, xã hội, mở rộng giao lưu văn hóa, học hỏi lẫn nhau để cùng nhau hoàn thiện hơn.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch Festival ở Huế

One thought on “Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch Festival ở Huế

  1. Pingback: Luận văn: Nghiên cứu Phát triển du lịch Festival Ở Huế

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *