Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Nghiên cứu Phát triển du lịch Festival Ở Huế hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Nghiên cứu Phát triển du lịch Festival Ở Huế dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ở Việt Nam, từ Festival xuất hiện lần đầu là ở Festival Huế đầu tiên có tên là Festival Việt-Pháp được tổ chức năm 2002, cho đến năm 2010 thì đổi tên là Festival Huế, tại thời điểm diễn ra sự kiện mọi người vẫn còn xa lạ với thuật ngữ này, sau đó người ta thường xuyên sử dụng, dần dà quên mất xuất xứ của nó và sử dụng như một từ thuần Việt. Tuy nhiên, không ít người đồng nhất khái niệm „Festival‟ và „Lễ hội‟ hay „Liên hoan‟ mặc dầu ý nghĩa của chúng không hoàn toàn giống nhau. Theo các nhà ngôn ngữ học, từ „festival‟ là một từ cổ xuất hiện khá sớm trong lịch sử loài người.
Nói đến Lễ hội người ta thường nghĩ đến những hoạt động văn hóa cộng đồng địa phương, do địa phương tổ chức nhằm tôn kính, tôn vinh các vị thần, những người công lao to lớn trong việc giúp đỡ, khai canh, khai cư hay phản ánh những ước mơ, nguyện vọng chính đáng của chính họ. Các lễ hội truyền thống ở Việt Nam có thể phân thành một số loại như: Lễ hội dan gian, lễ hội lịch sử, lễ hội tôn giáo, thường được tổ chức hầu như đầy đủ các tháng trong năm, từ tháng Giêng ta có Lễ Tết Nguyên Đáng đến tháng Chạp ta có Lễ tiễn Ông Táo về trời.
Du lịch lễ hội ở Việt Nam là một loại hình hoạt động văn hóa luôn song hành với người dân Việt, nó ăn sâu vào tiềm thức của mỗi một chúng ta từ đời này sang đời khác, từ cổ chí kim, ở đâu có người Việt, ở đó có lễ hội, là một hoạt động văn hóa cộng đồng không thể thiếu trong đời sống tinh thần, vật chất của mỗi người, lâu lâu phải đi xem Lễ để nhớ về nguồn cội, lâu lâu phải đi trẩy Hội để giao lưu, du hí. Luận văn: Nghiên cứu Phát triển du lịch Festival Ở Huế.
Festival Huế được tổ chức hai năm một lần, là một sự kiện văn hóa lớn được tổ chức tại Huế vào các năm chẵn nhằm mục đích tôn vinh các di sản văn hóa Huế. Đến nay đã tổ chức được 8 kì, có những kì thành công và những kì chưa được thành công mĩ mãn do nhiều nguyên nhân khác nhau. Tuy nhiên, không thể phủ nhận một điều là Festival Huế đã trở thành một điểm hội tụ các di sản văn hóa năm châu bốn bể đáng ghi nhớ cho khách du lịch.
Với câu khẩu hiệu Du lịch di sản văn hóa và hội nhập Festival Huế là điểm hội tụ của nhiều di sản văn hóa quốc gia và quốc tế, nó mang đầy đủ tính kế thừa, tôn tạo, phát triển giữa các nền văn hóa đặc sắc khác nhau trên thế giới, là một điểm đến lí tưởng cho du khách muốn tìm hiểu, phám phá những nét văn hóa đặc thù, những di sản văn hóa thế giới độc đáo còn lưu lại đến hôm nay và trên hết khách du lịch Fesitval Huế sẽ có một cơ hội quý báu để tận hưởng những nét văn hóa đặc thù của xứ Huế, xứ Thần Kinh trước đây của Việt Nam.
Trước những tiềm năng du lịch to lớn, tài nguyên du lịch phong phú, dồi dào, Festival Huế đang được nhiều nước bạn quan tâm, giúp đỡ, được đa số du khách ủng hộ, tham gia, du lịch Festival đã trở thành một phần không thể thiếu trong chiến lược phát triển du lịch của tỉnh nhà và quốc gia.
Tuy nhiên, hoạt động du lịch Festival là một loại hình du lịch khá non trẻ và mới mẻ tại Việt Nam, hiện chưa có nhiều chuyên gia đầu ngành nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực này, đa số chương trình được cóp nhặt, chỉnh sửa từ kinh nghiệm của các nước bạn, nên đâu đó vẫn còn những bất cập, tính ứng dụng và khả thi chưa cao, hẳn nhiên chưa khai thác, tận dụng tối đa tiềm năng phát triển du lịch Festival vốn có của nó.
Do vậy, nhằm khai thác tốt hơn du lịch festival, hoàn thiện hơn chất lượng dịch vụ, chương trình lễ hội, tăng sức hấp dẫn, lôi cuốn cho điểm đến, tác giả chọn đề tài này để nghiên cứu nhằm góp chút công sức cho sự nghiệp phát triển Festival Huế nói riêng và các loại hình Festival khác nói chung ở Việt Nam.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Đã có một số công trình nghiên cứu về Festival Huế nhìn từ nhiều góc độ khác nhau của sự kiện này, xét về góc độ Festival Huế nói chung và du lịch Festival Huế nói riêng.
Công trình đầu tiên có thể kể đến là các đánh giá chính thức của các nhà tổ chức Festival Huế, do Ủy ban Nhân dân tỉnh chủ trì. Đây là những báo cáo đánh giá của bản thân các nhà tổ chức sau mỗi kỳ festival, chủ yếu mang tính chất tổng kết công tác và đề ra phương hướng cho các kỳ tổ chức festival sau. Chẳng hạn như: Báo cáo tổng kết Festival 2010, 2014, 2016, 2018, 2020 của Ủy ban Nhân dân tỉnh Thừa Thiên- Huế, Báo cáo tổng kết năm 2010, 2011, 2012, 2013, 2014, 2015, 2016, 2017, 2018, 2019, 2020 của Sở Du lịch Thừa Thiên Huế. Tiếp đến là Trần Thị Mai (2012), Những tác động tích cực của Festival Huế – Xét ở góc độ du lịch, Kỷ yếu hội thảo Du lịch Lễ hội và Sự kiện, Đại học Kinh tế Huế; Vũ Hoài Phương với Luận văn Thạc sĩ Khoa học Kinh tế bảo vệ năm 2015 với tiêu đề Đánh giá tác động kinh tế của Festivai Huế 2014 đối với khác sạn nhà hàng tại thành phố Huế, Báo cáo đánh giá Festival Huế- Câu chuyện hội nhập và phát triển văn hóa của Trung tâm nghiên cứu, hỗ trợ và phát triển văn hóa do Nhà xuất bản ĐHQG Hà Nội ấn hành năm 2019. Luận văn thạc sĩ của Hồ Thị Diệu Trang, năm 2021, “Truyền thông sự kiện Festival Huế định kỳ trên báo Thừa Thiên-Huế, VietnamNet, VnExpress (khảo sát các năm 2010, 2012, 2014, 2016, 2018, 2020)”,.. Luận văn: Nghiên cứu Phát triển du lịch Festival Ở Huế.
Xem xét các công trình nghiên cứu trước đây, ta có thể tóm lược lại những vấn đề đã được nghiên cứu như sau:
- Các báo cáo tổng kết, đánh giá toàn bộ hoạt động Festival Huế qua từng kì, nghiên cứu đúc rút thực tiễn, nhận định những ưu, khuyết và khắc phục cho những kì festival sau.
- Những tác động tích cực của Festival Huế xét từ góc nhìn du lịch, nghiên cứu tập trung đánh giá các mặt tích cực của sự kiện này.
- Kỷ yếu hội thảo Du lịch Lễ hội và Sự kiện, nghiên cứu các khái niệm, tính vĩ mô và vi mô về du lịch lễ hội, du lịch sự kiện.
- Đánh giá tác động kinh tế của Festival Huế 2014 đối với khác sạn nhà hàng tại thành phố Huế, nghiên cứu nhằm đánh giá các tác động về kinh tế đối với các sơ sở lưu trú, ăn uống và dịch vụ bổ sung khác.
- Báo cáo đánh giá Festival Huế – Câu chuyện hội nhập và phát triển văn hóa, nghiên cứu này vẽ nên một hình ảnh khái quát nhất về du lịch festival ở Huế.
- Truyền thông sự kiện Festival Huế định kỳ trên báo Thừa Thiên-Huế, VietnamNet, VnExpress, nghiên cứu này tập trung về các phương tiện truyền thông, nghe nhìn, tuyên truyền, quảng bá sự kiện.
Qua đó, ta có thể thấy còn một số vấn đề còn chưa được khai thác, nghiên cứu như:
- Nghiên cứu các tác động tiêu cực của Festival Huế về các vấn đề: du lịch, dịch vụ, kinh tế, xã hội, văn học, nghệ thuật,..
- Nghiên cứu các giá trị đích thực của Festival Huế đối với: kinh tế, xã hội, du lịch, văn hóa, nghệ thuật, đời sống,..
- Nghiên cứu tác động của Festival Huế đến các yếu tố như: công trình kiến trúc cổ, các di tích lịch sử, văn hóa, đời sống tinh thần, vật chất của cư dân Huế, văn hóa Huế,..
- Nghiên cứu phát triển bền vững du lịch Festival Huế.
- Nghiên cứu phương thức đầu tư bền vững cho Festival Huế,…
3. Mục đích nghiên cứu
- Mục đích
Phát triển du lịch song song đi kèm với phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, nghệ thuật, mỗi một khía cạnh muốn phát triển phải dựa trên cơ sở phát triển các lãnh vực khác của xã hội, thế nên ta không thể tách rời các yếu tố cấu thành một xã hội được. Đối với ngành du lịch Thừa Thiên Huế cũng không ngoại lệ, muốn phát triển phải có động lực, có cột mốc ghi nhận sự trưởng thành và phát triển. Tác giả là một người Huế đích thực, đã sinh trưởng, sống và làm việc tại Huế cũng khá nhiều năm, đã chứng kiến những bước đi thăng trầm của tỉnh nhà, nhất là đối với ngành du lịch.
Trước đây, khi chưa có Festival Huế, trước năm 2010, ngành du lịch Huế là một vùng trũng du lịch của cả nước, ít được nhiều người biết đến, ngay cả trong nước, không nhiều người biết Huế, đến Huế và hiểu Huế ngoại trừ một số thị trường truyền thống đó là Pháp và một số nước Tây Âu. Tuy nhiên, cơ hội đến, hiểu và nhìn nhận Huế một cách đúng đắn thì không nhiều, vì một điều đơn giản, không ai giới thiệu, không có hoạt động văn hóa, nghệ thuật có chất lượng, xứng với tiềm năng du lịch vốn có của nó. Luận văn: Nghiên cứu Phát triển du lịch Festival Ở Huế.
Câu chuyện đã trở nên khác hẳn từ khi có Festival Huế đầu tiên, năm 2010, nhiều người biết đến Huế hơn, nhiều thị trường khách mới đến Huế hơn, ngành du lịch thực sự khởi sắc khi có Festival Huế, thực sự thay da đổi thịt từ khi có sự kiện này. Ngành du lịch Huế trở nên năng động hơn, tích cực hơn. Những ai đã từng đến Huế trước năm 2010 và quay trở lại Huế những năm sau đều có chung một nhận định, Huế đã khác trước, đã chuyển mình, vươn lên, tươi tắn hơn, mảnh liệt hơn.
Từng Fesitval Huế là một cột mốc để Huế tự nhìn lại mình trong những năm qua, từ điểm đến có thị trường khách du lịch nghèo nàn, hạn chế, đến một thị trường khách du lịch phong phú, đa dạng, cả về lượng và chất.
Tóm lại, ta có thể xem xét các khía cạnh đổi mới và phát triển sau khi có Festival Huế như sau:
- Cơ sở vật chất hạ tầng du lịch phát triển mạnh, nhiều nhà đầu tư quan tâm đến Huế hơn, nhiều dự án xây dựng các cơ sở phục vụ du lịch có chất lượng hơn.
- Các công trình công cộng như điện, đường, trường, trạm được quan tâm đầu tư nhiều hơn, hoàn thiện hơn qua từng kì festival.
- Các cơ sở đào tạo nghề, thực hành nghề du lịch được quan tâm hơn, đầu tư nhiều hơn nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của du khách. – Ý thức cộng đồng, tuyên truyền, cổ động của chính quyền và dân cư được cải thiện nhiều hơn.
- Đời sống kinh tế, xã hội được cải thiện rõ rệt, thu nhập người dân tăng cao, tạo nhiều công ăn, việc làm hơn.
- Các chương trình du lịch, lễ hội, các dự án bảo tồn, tôn tạo các di tích văn hóa, nghệ thuật cung đình và dân gian được phục dựng kỉ càng hơn, nghiêm túc hơn, xác thực hơn.
Qua đó, ta có thể nói rằng Festival Huế như là một mồi lửa không thể thiếu để kích thích, hâm nóng và kích cầu nhằm phát triển kinh tế, xã hội và nhất là ngành du lịch tỉnh nhà.
- Nhiệm vụ
Nhằm áp dụng thực tiễn, đánh giá lại tiềm năng phát triển du lịch Festival ở Huế và thực trạng khai thác, đưa ra các giải pháp, cụm giải pháp thúc đẩy phát triển du lịch Festival Huế tốt hơn.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng
Luận văn tập trung nghiên cứu Festival Huế các năm chẵn, từ Festival Huế 2010 đến 2024.
- Phạm vi
Phạm vi nghiên cứu tập trung các hoạt động của lễ hội Festival Huế và các hoạt động du lịch lễ hội Festival Huế.
Thời gian
Khảo sát tại thời điểm diễn ra sự kiện lễ hội Festival Huế 2024.
- Không gian
Chủ yếu tập trung ở nội thành phố Huế, các điểm thăm quan du lịch, và các địa bàn lân cận thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế, nơi có hoạt động thuộc Festival Huế diễn ra.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục đích đã nêu, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp phân tích số liệu;
- Phương pháp hệ thống số liệu;
- Phương pháp điều tra xã hội học;
- Phương pháp mô tả;
6. Bố cục luận văn
Ngoài Phần mở đầu, Phần kết luận, Mục lục và Tài liệu tham khảo, Luận văn bao gồm ba chương:
- Chương 1. Tổng quan về du lịch Festival và điều kiện phát triển du lịch Festival ở Huế
- Chương 2. Thực trạng hoạt động du lịch Festival ở Huế
- Chương 3. Một số giải pháp phát triển du lịch Festival ở Huế
7. Đóng góp mới của luận văn Luận văn: Nghiên cứu Phát triển du lịch Festival Ở Huế.
Luận văn này nhằm giúp các nhà tổ chức, các nhà nghiên cứu chuyên sâu về Festival Huế có cái nhìn tổng thể, khái quát hơn về thực trạng khai thác Festival Huế qua từng thời kì, đặc biệt tập trung khảo sát Festival Huế 2024.
Qua đó, các nhà chức trách, các cơ quan hữu quan cùng khối doanh nghiệp đánh giá chính xác hơn về festival và có những giải pháp, cụm giải pháp tích cực, thiết thực hơn giúp Festival Huế phát triển đúng với tiềm năng vốn có của nó.
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH FESTIVAL VÀ ĐIỀU KIỆN PHÁT TRIỂN DU LỊCH FESTIVAL Ở HUẾ
1.1. Tổng quan về du lịch Festival
1.1.1. Festival và du lịch Festival
- Festival
Festival là một từ gốc tiếng Anh, có nghĩa là Lễ hội, Đại hội, Liên hoan, Yến tiệc. Theo từ điển bách khoa toàn thư mở Wikipedia, Festival dùng thay thế với Gala, chỉ một sự kiện văn hóa, thường được tổ chức bởi cộng đồng địa phương nhằm kỉ niệm hay tưởng niệm những nét văn hóa độc đáo của cộng đồng và đặc trưng của Lễ hội đó.
Ngoài ra một số nguồn khác có khái niệm như: Festival: Thuộc ngày hội. Ngày hội; đại hội liên hoan; hội diễn; Festival (danh từ): (ngày hoặc thời gian) lễ hội tôn giáo hoặc hội hè khác; ngày hội; đại hội liên hoan; Festival: ngày hội có tính chất quốc gia hay quốc tế, giới thiệu những thành tựu nghệ thuật âm nhạc, sân khấu, điện ảnh,..
Đối với một số tôn giáo, Festival còn mang nghĩa như bữa tiệc (Feast) được cộng đồng địa phương tổ chức nhằm vinh danh một hay các vị thần (God hay Gods).
- Festival và Lễ hội Luận văn: Nghiên cứu Phát triển du lịch Festival Ở Huế.
Lễ hội là hình thức sinh hoạt tổng hợp bao gồm nhiều thành tố: nghi lễ, tín ngưỡng, tôn giáo, trang trí, điêu khắc, ca hát, âm nhạc, múa, trò diễn sân khấu, trò chơi, thể thao, thi tài, trưng bày hiện vật, thưởng ngoạn phong cảnh…
Lễ hội Việt Nam là sự kiện văn hóa được tổ chức mang tính cộng đồng. “Lễ” là hệ thống những hành vi, động tác nhằm biểu hiện sự tôn kính của con người với thần linh, phản ánh những ước mơ chính đáng của con người đối với cuộc sống mà bản thân họ chưa có khả năng thực hiện. “Hội” là sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, nghệ thuật của cộng đồng, xuất phát từ nhu cầu cuộc sống.
Theo thống kê 2019, hiện cả nước Việt Nam có 7.966 lễ hội; trong đó có 7.039 lễ hội dân gian (chiếm 88,36%), 332 lễ hội lịch sử (chiếm 4,16%), 544 lễ hội tôn giáo (chiếm 6,28%), 10 lễ hội du nhập từ nước ngoài (chiếm 0,12%), còn lại là lễ hội khác (chiếm 0,5%). Các địa phương có nhiều lễ hội là Hà Nội, Bắc Ninh, Thái Bình, Hải Dương và Phú Thọ.
Theo giáo sư Trần Lâm Biền “Lễ không phải là cúng bái, cúng bái và tế chỉ là một phần của lễ mà thôi. Hội là gì? Hội không phải là trò chơi. Hội trước hết là sự tập hợp một cộng đồng người nhất định để thực hiện những điều về lễ. Cho nên lễ và hội là một cặp phạm trù tương hỗ, không thể tách rời. Vì rằng, trong các trò chơi cũng chỉ là một phần của lễ hội. Nhưng khi nó vào trong không gian thiêng, thời gian thiêng thì tự nhiên nó mang ý nghĩa thiêng liêng. Trong ý nghĩa thiêng liêng ấy nó mang giá trị biểu tượng”.
Từ những quan điểm trên, ta thấy rằng Festival và Lễ hội có những nét tương đồng và khác biệt cơ bản sau:
Một là, cả Festival và Lễ hội đều có cả phần “Lễ” và phần “Hội”, tuy nhiên, Festival chú trọng phần “Hội” còn Lễ hội chú trọng phần “Lễ”.
Hai là, Festival và Lễ hội đều được tổ chức tại một địa bàn nhất định tại một khoảng thời gian nhất định trong năm.
Ba là, Festival là một hoạt động văn hóa, nghệ thuật, tín ngưỡng mang tính quốc tế còn Lễ hội được tổ chức dựa trên cơ sở văn hóa, tín ngưỡng dân gian của cộng đồng, mang tính địa phương hơn.
Bốn là, Lễ hội truyền thống chỉ được tổ chức tại một thời điểm và một khoảng thời gian nhất định trong năm theo truyền thống, văn hóa, sáng lập ra lễ hội đó quy định. Còn Festival thì có thể tổ chức bất kì lúc nào tùy theo ban tổ chức quy định phù hợp với tình hình thực tiễn.
Năm là, Lễ hội chỉ tổ chức một hình thái lễ và hội chặt chẽ, theo đúng tập tục, truyền thống văn hóa dân gian nhất định, còn Festival có thể tổ chức nhiều hoạt động lễ hội phối hợp và cho phép tái hiện lại các sự kiện văn hóa, lịch sử, nghệ thuật, tín ngưỡng dân gian mà không phải tuân thủ hoàn toàn một mô típ truyền thống nhất định nào tùy thuộc vào mục đích, ý nghĩa và tình hình thực tế để ban tổ chức festival dàn dựng.
Sáu là, đối với Lễ hội, phần Hội là một phần của Lễ còn Festival thì ngược lại phần Lễ là một phần của Hội.
- Phân loại Festival Luận văn: Nghiên cứu Phát triển du lịch Festival Ở Huế.
Hiện nay vẫn chưa có tài liệu nào phân loại Festival một cách rõ ràng, tuy nhiên, theo công trình nghiên cứu của TS. Trần Thị Mai, dựa trên quy mô, đặc điểm thực tế, có thể phân làm hai nhóm lớn: Festival tổng hợp và Festival chuyên đề. [10]
Festival tổng hợp thường được tổ chức theo quy mô lớn, phạm vi không gian rộng (thành phố, tỉnh, quốc gia), với nhiều hoạt động văn hóa, nghệ thuật, tín ngưỡng được tổ chức tại nhiều địa điểm khác nhau, được điều hành chung bởi một ban tổ chức. Thế giới có những festival lớn như, Festival d‟Avignon (Pháp, thường niên) Festival Ottawa (Canada, thường niên),..
- Festival Huế thuộc nhóm này.
Festival chuyên đề thường được tổ chức trên phạm vị nhỏ hơn, thường theo chuyên đề cụ thể như, Festival Trà (Thái Nguyên), Festival Hoa (Đà Lạt), Festival Biển (Nha Trang), Festival Pháo Hoa (Đà Nẵng). Huế cũng có một Festival chuyên đề đó là Festival Làng Nghề (được tổ chức 2 năm 1 lần, vào các năm lẻ).
Du lịch Festival
- Khái niệm
Du lịch festival hay còn gọi là „lễ hội du lịch‟ hay „liên hoan du lịch‟… của các địa phương, vùng, quốc gia, quốc tế, là một hoạt động nhằm gắn kết các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể thao, hội nghị, hội thảo, triển lãm, ẩm thực.. với hoạt động du lịch nhằm giới thiệu sâu rộng với người dân, với khách du lịch trong và ngoài nước về tiềm năng du lịch của địa phương, vùng hay quốc gia đó, tạo cơ hội kinh doanh, hợp tác du lịch giữa các quốc gia, các doanh nghiệp, các tổ chức du lịch.. góp phần thúc đẩy hoạt động du lịch phát triển.
Du lịch lễ hội là loại hình du lịch trong đó du khách thực hiện chuyến đi vì mục đích tham quan, tham gia vào các lễ hội ở điểm đến. Ở đây, lễ hội là yếu tố hấp dẫn đặc biệt lôi kéo du khách từ phương xa đến. Lạ lẫm, náo nhiệt, lễ hội giúp du khách cảm nhận được nhiều nhất trong khoảng thời gian hạn chế những tinh hoa văn hóa của một cộng đồng người. Đồng thời, du khách được hòa mình trong không khí tưng bừng của các cuộc biểu dương tình đoàn kết cộng đồng, trãi nghiệm bản thân trong một môi trường xã hội mới mẻ, trong một không gian và thời gian tập trung cao độ những tinh hoa của hoạt động sống của cư dân địa phương.
Qua những khái niệm trên, ta có thể hiểu rằng du lịch lễ hội là một hình thức, hình thái, hay một loại hình du lịch ăn theo lễ hội, dựa vào lễ hội để mở rộng quy mô, dựa vào lễ hội để quảng bá, để phát triển du lịch. Bên cạnh đó, lễ hội lại dựa vào du lịch để phát triển kinh tế địa phương, dựa vào du lịch để bảo tồn, tôn tạo cho lễ hội thêm đậm đà, thêm phần hồn, phần tính. Đối với du lịch festival mà nói thì quy mô này lớn hơn, hoành tráng hơn, bởi lẽ festival không bị lệ thuộc hoàn toàn vào lễ hội mà xem lễ hội là một phần trong chương trình festival. Chính vì lẽ đó mà nhiều tỉnh thành trong cả nước đã và đang xây dựng cho mình một kì festival riêng, một tiếng nói riêng, một tâm hồn riêng, một chiến lược phát triển du lịch riêng như chúng ta đã thấy.
- Đặc điểm Luận văn: Nghiên cứu Phát triển du lịch Festival Ở Huế.
Ở Việt Nam, các lễ hội du lịch được tổ chức dưới nhiều quy mô khác nhau, với các tên gọi khác nhau như festival du lịch, lễ hội du lịch, hội du lịch, liên hoan du lịch, năm du lịch, tuần lễ du lịch,.. Những tên gọi khác nhau đó thể hiện sự khác nhau về quy mô, cách thức tổ chức, nội dung tổ chức, được chú trọng và thể hiện nét đặc trưng riêng của từng địa phương.
Gọi là Lễ hội du lịch khi lễ hội đó chủ yếu nhằm mục đích kỉ niệm một ngày lễ hay một sự kiện đặc biệt nào đó gắn liền với địa phương tổ chức, đa phần mang yếu tố lịch sử như: Lễ hội 100 năm du lịch Sa Pa, Lễ hội du lịch kỷ niệm Khánh Hòa 350 năm.
Gọi là Liên hoan du lịch khi hoạt động này tổ chức theo phong cách Việt Nam, mang tính chất lễ hội, chào mừng, kỉ niệm các sự kiện chung, có thể hoặc không gắn liền với địa phương tổ chức như: Liên hoan du lịch Hà Nội, Liên hoan du lịch Gặp gỡ Đất Phương Nam.
Gọi là Năm du lịch nhưng các chương trình trọng tâm được tập trung vào một hay một số thời điểm trong năm. Năm du lịch có thể là một festival lớn, có thể bao gồm nhiều sự kiện, nhiều lễ hội, trong đó có những Tháng du lịch, Tuần du lịch như: Năm du lịch Việt Nam 2010, Tuần lễ du lịch Hội An.
Riêng với Festival Huế chúng ta giữ nguyên thuật ngữ „Festival‟ mà không dịch sang một từ tương đương tiếng Việt do Festival Huế đã tiếp thu công nghệ tổ chức festival quốc tế (các chương trình IN/OFF), có quy mô lớn hơn, thời gian tương đối dài, có nhiều hoạt động tập trung, mang đậm tính lịch sử, văn hóa-nghệ thuật dân tộc và quốc tế và không chỉ phục vụ cho ngành du lịch. Tuy nhiên, ta vẫn coi Festival Huế là một lễ hội du lịch đặc biệt.
- Khách du lịch
Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ tường hợp đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến.
Khách du lịch bao gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế.
Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch; công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch.
- Khách du lịch Festival
Khách du lịch festival là khách du lịch, khách được mời và cộng đồng dân cư địa phương tham dự festival trong thời gian diễn ra festival. Luận văn: Nghiên cứu Phát triển du lịch Festival Ở Huế.
1.1.2. Những yếu tố ảnh hưởng đến du lịch Festival
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quyết định thực hiện chuyến đi du lịch của du khách nói chung và đi du lịch festival nói riêng, ở đây ta có thể xem xét một số yếu tố ảnh hưởng cơ bản như: vị trí địa lý, tài nguyên du lịch, an ninh an toàn du lịch, hạ tầng cơ sở du lịch, thời gian diễn ra festival, chương trình festival, truyền thông, quảng bá sự kiện,..
- Vị trí địa lý
Đặc điểm vị trí địa lý của vùng, miền nào sẽ tạo nên nét đặc trưng của vùng, miền ấy, chính sự đa dạng của điều kiện sống tự nhiên ấy tạo nên sự khác biệt đời sống xã hội, tạo nên sức hấp dẫn và tiềm năng du lịch của điểm đến du lịch nói chung, địa điểm tổ chức du lịch festival nói riêng.
- Tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch thiên nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa. Tài nguyên du lịch thiên nhiên là điều kiện kiện sống tự nhiên của một xã hội, là nét đặc trưng của địa hình, địa vật, thời tiết, khí hậu như đã nêu; tài nguyên du lịch văn hóa là những nét văn hóa đặc trưng do xã hội tạo ra trong quá trình sống, lao động, lịch sử hình thành và phát triển của của xã hội ấy. Có hai loại tài nguyên văn hóa đó là tài nguyên văn hóa vật thể và tài nguyên văn hóa phi vật thể. Đối với du lịch festival, việc khai thác tài nguyên du lịch văn hóa được chú trọng hơn.
- An ninh an toàn du lịch
Một yếu tố ảnh hưởng gần như tuyệt đối tác động đến quyết định thực hiện chuyến đi của du khách đó chính là an toàn và an ninh tại điểm đến du lịch. Đa số du khách sẽ không ngần ngại hủy chuyến đi nếu điểm đến có sự bất ổn chính trị, kinh tế, xã hội, hay điểm đến thiếu an toàn, an ninh du lịch.
Địa điểm diễn ra sự kiện festival nên chú trọng đến yếu tố này.
- Hạ tầng cơ sở du lịch
Nơi ăn, chốn ở, địa điểm vui chơi, giải trí luôn là vấn đề được chú trọng đối với du khách, đặc biệt điểm đến du lịch festival, tình trạng thiếu hụt cơ sở vật chất du lịch, tình trạng quá tải điểm đến tại thời điểm diễn ra sự kiện, tình trạng tiêu cực kinh tế, xã hội, đa số tồn tại ở những nơi tổ chức du lịch festival
trong nước cũng như quốc tế sẽ gây ảnh hưởng không nhỏ đến sức hấp dẫn của sự kiện. Vì vậy, ban tổ chức sự kiện du lịch festival nên xem xét, tính toán kĩ vấn đề này.
- Thời gian diễn ra festival
Đây là yếu tố quan trọng quyết định sự thành công hay thất bại của du lịch festival. Thời gian và thời lượng của sự kiện du lịch festival phải phù hợp với thời gian rảnh của thị trường khách du lịch festival mục tiêu mà sự kiện hướng đến. Do vậy, việc điều tra, khảo sát thị trường nên được cân nhắc kĩ. Luận văn: Nghiên cứu Phát triển du lịch Festival Ở Huế.
- Chương trình du lịch festival
Nội dung chương trình du lịch festival luôn là vấn đề gây nhiều khó khăn cho ban tổ chức sự kiện. Nên đưa nội dung nào, chương trình nào, thời lượng chương trình ra sao là một bàn toán không dễ. Đa số điểm tổ chức sự kiện du lịch festival, trong nước cũng như quốc tế, thường đưa những nội dung mà mình có, chứ chưa chú trọng đến những nội dung mà khách du lịch festival mong muốn. Nội dung chương trình rập khuôn, trùng lắp nhiều qua từng kì festival, phần nào làm giảm đi tính hấp dẫn, tính mới lạ của sự kiện, vốn dĩ là yếu tố quyết định đến chuyến đi du lịch của khách.
- Truyền thông, quảng bá sự kiện
Chắc chắn, việc truyền thông, quảng bá cho sự kiện du lịch festival là quan trọng, là yếu tố kích cầu, yếu tố tăng tính hấp dẫn cho sự kiện. Tuy nhiên, đa số việc truyền thông, quảng bá thường nhiều hơn sự thực, hay không có thực. Việc này, thực tế sẽ làm giảm sự hài lòng, thỏa mãn hay không thỏa mãn nhu cầu của du khách do tạo cho du khách quá nhiều mong đợi. Quảng cáo đúng, đủ, cho khách nhiều hơn cảm nhận trước chuyến đi và cho khách những gì khách không nghĩ là mình có thể nhận được sau chuyến đi sẽ dễ làm hài lòng khách hơn.
1.1.3. Những nguyên tắc phát triển du lịch Festival
Theo bộ luật du lịch, Điều 5, có sáu nguyên tắc phát triển du lịch
Phát triển du lịch bền vững, theo quy hoạch, kế hoạch, bảo đảm hài hoà giữa kinh tế, xã hội và môi trường; phát triển có trọng tâm, trọng điểm theo hướng du lịch văn hoá – lịch sử, du lịch sinh thái; bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị của tài nguyên du lịch; 2. Bảo đảm chủ quyền quốc gia, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội; 3. Bảo đảm lợi ích quốc gia, lợi ích cộng đồng, lợi ích chính đáng và an ninh, an toàn cho khách du lịch, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân kinh doanh du lịch; 4. Bảo đảm sự tham gia của mọi thành phần kinh tế, mọi tầng lớp dân cư trong phát triển du lịch; 5. Góp phần mở rộng quan hệ đối ngoại và giao lưu quốc tế để quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam; 6. Phát triển đồng thời du lịch trong nước và du lịch quốc tế, tăng cường thu hút ngày càng nhiều khách du lịch nước ngoài vào Việt Nam.
Du lịch festival là loại hình du lịch mang tính cộng đồng cao, cần nhiều nguồn nhân lực và nguồn lực kinh tế để phát triển. Vì vậy, việc phát triển du lịch hay du lịch festival nói riêng không nằm ngoài sáu nguyên tắc trong bộ luật du lịch đã nêu.
1.2 Những bài học kinh nghiệm về phát triển du lịch Festival Luận văn: Nghiên cứu Phát triển du lịch Festival Ở Huế.
Trong những năm gần đây, nhận thấy tầm quan trọng của việc phát triển du lịch trong chiến lược phát triển kinh tế, xã hội, tăng cường hợp tác, quảng bá, giao lưu văn hóa giữa các nước trong khu vực và quốc tế, theo sự chỉ đạo của chính phủ, một số tỉnh, thành phố đã chú trọng phát triển du lịch festival. Tuy nhiên, đây là một loại hình du lịch mới, kinh nghiệm tổ chức, thực tiễn chưa nhiều, tính chuyên nghiệp còn hạn chế, cần tập trung nghiên cứu, học hỏi nhiều ở những nơi, những nước có nhiều kinh nghiệm tổ chức, phát triển du lịch festival hơn.
1.2.1. Kinh nghiệm quốc tế
- Festival d‟Avignon
Được mệnh danh là thành phố của nghệ thuật, là trái tim của miền Provence, Avignon quanh năm rộn ràng lễ hội. Nhờ lưu giữ nhiều công trình kiến trúc độc đáo và nét văn hóa đặc trưng miền nam nước Pháp, thành phố cổ kính bên bờ sông Rhône này hằng năm thu hút hàng triệu du khách tham quan.
Nằm trong đồng bằng rộng lớn của sông Rhône, nét cổ kính của thành phố Avignon đặc biệt thu hút sự chú ý của các du khách trên hành trình xuôi tàu theo sông Rhône hướng về phía biển Địa Trung Hải. Ở nơi hợp lưu giữa hai con sông Rhône và Durance, Avignon là thủ phủ của tỉnh Vaucluse, nơi từng là trung tâm giao thương và trung tâm văn hóa lớn nhất của vùng Provence-Alpes-Côte d‟Azur, miền Nam nước Pháp.
Mùa lễ hội Avignon bắt đầu bằng Festival nghệ thuật sân khấu quốc tế (còn gọi là Festival d‟Avignon), được tổ chức vào tháng Bảy hằng năm. Đây được xem là lễ hội lớn nhất và cũng nổi tiếng nhất của Avignon. Khởi đầu từ ý tưởng của đạo diễn Pháp nổi tiếng Jean Villar, festival d‟Avignon được tổ chức lần đầu vào năm 1947 và là một trong những festival nghệ thuật được đánh giá cao tại châu Âu. Trong thời gian này, Avignon dường như trở thành một sân khấu lớn nhất thế giới, với hàng trăm buổi biểu diễn nghệ thuật truyền thống như diễn kịch, múa rối, ca nhạc kịch, kịch câm, múa đương đại mỗi ngày… Hằng năm, Festival d‟Avignon thu hút khoảng 8.000 nghệ sĩ, hàng trăm màn trình diễn đêm ngày và hơn 70.000 du khách từ khắp nơi trên thế giới đến tham dự. Luận văn: Nghiên cứu Phát triển du lịch Festival Ở Huế.
Là thủ phủ của thương hiệu rượu vang Côte-du-Rhône nổi tiếng, Avignon lưu giữ rất nhiều lễ hội truyền thống, trong đó có lễ hội rượu vang nổi tiếng, diễn ra cuối tháng 8 hằng năm. Ngay từ giữa tháng 8, người dân và du khách đã có thể thưởng thức miễn phí rượu vang trên các phố cổ ngay trong phiên chợ nông dân cuối tuần dọc phố Teinturiers. Đến ngày thứ bảy cuối cùng của tháng 8, thời điểm diễn ra lễ hội, tất cả các vườn nho trong vùng đều mở cửa để đón du khách tham quan, thưởng thức nho và rượu miễn phí. Lễ hội rượu vang mang theo hy vọng của nông dân Pháp về những thùng rượu vang thượng hạng. Và nước nho ép, vang hồng, vang đỏ là những đồ uống không thể thiếu của những nông dân tham gia lễ diễu hành trên phố và nhảy múa thâu đêm trong buổi dạ hội khiêu vũ được tổ chức tại quảng trường trước Cung điện các giáo hoàng.
Bên cạnh các lễ hội truyền thống, Avignon còn được ví như “Roma thứ hai” của châu Âu với các công trình lịch sử cổ kính. Đây là một trong số ít những những thành phố của Pháp còn giữ nguyên vẹn đoạn tường thành dài hơn 4.000 m được xây dựng từ thế kỷ thứ 14. Tường thành cổ cao hơn 20 m, chạm trổ công phu, được xem là “ranh giới lịch sử”, chia thành phố Avignon thành hai khu vực, khu thành cổ bên trong với đường hẹp lát đá và khu vực đô thị mới, hiện đại hơn, phía ngoài. Năm 2005, quần thể kiến trúc nằm trong khu trung tâm lịch sử Avignon (gồm Cung điện Giáo hoàng, Tòa nhà giám mục, cầu Saint-Bénezet) này được Tổ chức Khoa học, Giáo dục và Văn hóa của LHQ (UNESCO) công nhận là di sản văn hóa của nhân loại.
Đến Avignon vào mùa hội, đi bộ dọc những con đường lát đá hẹp trong thành cổ, dường như ai cũng chọn ngồi thưởng thức một tách cà-phê buổi sáng kèm theo vài chiếc bánh papelines, được làm từ chocolate, đường và rượu oregano hảo hạng chỉ có trong vùng, vừa tận hưởng nhịp sống chậm rãi, vừa chiêm ngưỡng toàn cảnh trước khi mua vé vào tham quan Cung điện Giáo hoàng. Sẽ phải mất gần bốn giờ để xếp hàng mua vé, đi thăm hết và chiêm ngưỡng những kiệt tác hội họa và điêu khắc trong hơn 20 căn phòng được mở cửa, là các phòng nghi lễ và nơi ở của các giáo hoàng thời Trung cổ. Tòa lâu đài theo kiểu kiến trúc gothique có tổng diện tích khoảng 11.000 m², lớn nhất châu Âu, được xây dựng từ năm 1309, thời điểm Avignon được Giáo hoàng Clement V (Pháp) lựa chọn làm nơi ở sau này. Do được chọn là nơi ở của các vị giáo hoàng hơn một thế kỷ (từ 1309-1423) nên, thời kỳ đó, Avignon được mệnh danh là “Kinh đô của các Giáo Hoàng”.
Nhưng điểm nhấn của một trong những thành phố đẹp nhất nước Pháp này lại chính là cây cầu “nghỉ ngơi” Saint-Bénezet, một trong những biểu tượng của Avignon. Chỉ cần men theo các đoạn tường thành cũ, sẽ không khó để thấy cây cầu gẫy, lửng lơ giữa nhánh “sông Rhône bé”. Từng là một trong những công trình kiến trúc độc đáo của thế kỷ 12, cầu Saint-Bénezet (còn được gọi là cầu Avignon) được xây bằng đá, gồm 22 nhịp, dài 920 m bắc qua hai nhánh Rhône, nối liền thành cổ Avignon và khu vực Villeneuve-lèsAvignon. Qua nhiều lần sửa chữa, xây dựng, do liên tục bị lũ lụt phá hủy, năm 1668, chính quyền thành phố Avignon quyết định bảo tồn cây cầu, lúc này chỉ còn bốn nhịp. Người dân Avignon coi đây là một di tích ghi dấu sự tàn phá của thời gian và những lần thịnh nộ của sông Rhône, tưởng như luôn xanh biếc và thơ mộng.
Và, ở bên kia của những lễ hội huyên náo, những khối đá xa lạ và sừng sững từ thành cổ Avignon giống một tiếng thở buồn lặng lẽ thả vào không gian trong buổi chiều tà nhìn từ đảo Barthelasse, phía cây cầu Saint-Bénezet không nối nhịp. Như thể thành phố này, dù qua bao nhiêu biến động, vẫn khư khư lưu giữ vinh quang của quá khứ xưa cũ.
Avignon, vì thế, trở thành địa điểm không thể bỏ qua trên hành trình xuôi về phía Nam nước Pháp, chiêm ngưỡng những cánh đồng oải hương tím ngát trong nắng hè rực rỡ và tận hưởng không khí lễ hội rộn ràng đặc trưng của miền biển Địa Trung Hải.
Festival Huế chính là một bản sao của thành phố lễ hội này, tuy nhiên, do nhiều yếu tố khách quan lẫn chủ quan mà Festival Huế vẫn chưa hấp thụ hết những tinh hoa, kinh nghiệm tổ chức fesitval của họ.
- Festival Tulip Ottawa Luận văn: Nghiên cứu Phát triển du lịch Festival Ở Huế.
Đến hẹn lại lên, mỗi dịp tháng 5, hoa tulip rực rỡ có mặt ở khắp Ottawa, thủ đô xinh đẹp của xứ sở lá phong lại chào đón hàng trăm ngàn du khách tham dự hội hoa Tulip. Nhưng quy mô nhất vẫn luôn là công viên Commissioners bên bờ hồ Dows.
Lễ hội hoa Tulip Canada khởi nguồn từ món quà của công nương Hà Lan Juliana khi bà tặng cho đất nước Canada 100.000 bông hoa tulip vào năm 1948 để cảm ơn công lao của những chiến binh Canada trong công cuộc giải phóng Hà Lan hồi Thế chiến thứ Hai.
Đến năm 1953, nhiếp ảnh gia nổi tiếng Malak Karsh đã gợi ý về việc thành lập một lễ hội hoa tulip vào mỗi dịp tháng 5 khi loài hoa này bung nở rực rỡ nhất. Và cũng từ đó, đã liên tiếp hơn sáu thập niên, Canadian Tulip Festival được tổ chức bài bản, hoành tráng với ý nghĩa về sự đón chào mùa xuân cũng như tưởng nhớ quá khứ chiến tranh.
Mỗi năm, hội hoa quy tụ nhiều tổ chức, tình nguyện viên, các nghệ sĩ, ca sĩ, diễn viên, đặc biệt hơn 500.000 khách du lịch trong nước và quốc tế tới tham quan. Cũng nhờ thế, Canadian Tulip Festival được xem là sự kiện báo hiệu mỗi khi mùa xuân về, được nhiều người biết tới cũng như yêu thích nhất khu vực Bắc Mỹ.
Quy mô và sức thu hút của lễ hội hoa có được từ việc tổ chức bài bản và chuyên nghiệp. Hằng năm, Ủy ban NCC của thủ đô Ottawa (National Capital Commission) với một đội ngũ làm vườn chuyên nghiệp nhất thành phố được giao trách nhiệm thiết kế, trồng và chăm sóc các hình ảnh trưng bày của hội hoa.
Ngoài trưng bày hoa Tulip và đón khách thưởng ngoạn hoa, lễ hội năm nay còn có các chương trình biểu diễn, trò chơi tập thể cũng như đêm pháo hoa (các đêm 9, 14 và 17-5). Suốt mười ngày lễ hội, từ 9 giờ-21 giờ hằng ngày, du khách cũng có thể tham gia các hoạt động vui chơi giải trí ở nhiều khu phố trung tâm cạnh nơi tổ chức lễ hội.
Đặc biệt, triển lãm “Ấn tượng Tulip” (Tulip Explosion) được tổ chức với phần trưng bày về các tác phẩm nghệ thuật liên quan đến hoa Tulip như những thiết kế, trang phục, tranh ảnh của các nghệ sĩ nổi tiếng từ khắp thế giới.
Canadian Tulip Festival được mệnh danh là hội hoa Tulip lớn nhất thế giới, tổ chức thường niên trong 10 ngày tháng 5. Lần thứ 62 được tổ chức trên xứ sở Bắc Mỹ, lễ hội quy tụ gần 300.000 búp hoa Tulip với 60 loại trong 30 luống.
Ngoài ra, trên thế giới có hàng trăm loại festival độc đáo khác nhau tác giả không tiện trích dẫn thêm vào luận văn. Tuy nhiên, mỗi một festival đều mang một nét đặc thù riêng, độc đáo riêng, cuốn hút riêng theo lịch sử, phong hóa, tập quán đặc thù của nơi tổ chức đó. Luận văn: Nghiên cứu Phát triển du lịch Festival Ở Huế.
1.2.2. Kinh nghiệm trong nước
Hiện nay, trong phạm vi cả nước có một mô hình festival đặc thù theo vùng miền như Festival Trà Thái Nguyên, Fesival Pháo Hoa Quốc Tế Đà Nẵng, Festival Biển Nha Trang, Festival Thuyền Buồm Quốc Tế Mũi Né, Festival Hoa Đà Lạt,.. Ta có thể học hỏi được từ những festival mà các tỉnh tổ chức thường niên hoặc định kỳ các mô hình, phương thức tổ chức, quản lý, quảng bá cho một kỳ festival, từ đó rút tỉa kinh nghiệm cho mình.
- Festival Trà Thái Nguyên
Vị ngọt đậm đà cùng với hương thơm đặc trưng đã mang lại cho trà Thái Nguyên một dấu ấn trong lòng nhiều người. Ngày nay, sự hội nhập quốc tế đã đưa thương hiệu trà Thái Nguyên vươn xa hơn thông qua Festival Trà quốc tế thường được tổ chức vào khoảng thời gian từ ngày 09/11 -15/11 tại Khu du lịch Hồ Núi Cốc. Tham dự Festival Trà quốc tế là dịp để du khách lắng lòng cảm nhận sự tinh tế cũng như tìm hiểu nghệ thuật dùng trà – môt món quà thiên nhiên đã ban tặng cho con người thông qua lễ hội văn hoá Trà, hội thảo quốc tế về cây chè, cuộc thi Người đẹp xứ Trà, triển lãm giới thiệu về đất nước và con người Việt Nam cùng một số hoạt động khác: chợ quê ẩm thực, hoạt động đua thuyền, biểu diễn võ thuật, cờ người…
Dù chỉ mới được tổ chức lần thứ 2, mỗi năm 1 lần, tuy nhiên ban tổ chức đã biết khai thác triệt để các công dụng của trà từ một thức uống dân dã nâng lên tầm nghệ thuật và đào sâu nghiên cứu các công dụng chữa bệnh từ trà một cách nghiêm túc. Điều này mang lại nhiều lợi ích kinh tế thiết thực và khẳng định vị thế của mình trên thị trường trà quốc tế.
- Fesival Pháo Hoa Quốc Tế Đà Nẵng Luận văn: Nghiên cứu Phát triển du lịch Festival Ở Huế.
Tọa lạc tại vị trí trung tâm của ba di sản văn hóa thế giới, Đà Nẵng nổi bật bởi vẻ đẹp hài hòa của sông ngòi, biển cả, cao nguyên. Điều đang ghi nhận là Đà Nẵng chưa bao giờ bằng lòng với những gì thiên nhiên ban tặng mà luôn tìm cách mời gọi ngày càng nhiều du khách bằng các sự kiện hấp dẫn. Một trong những thương hiệu của du lịch Đà Nẵng là Cuộc thi Trình diễn Pháo hoa quốc tế vào những ngày cuối tháng 4 hàng năm đánh dấu sự tham gia thi đấu của 4 đội quốc tế và đội chủ nhà Việt Nam. Bầu trời Đà Nẵng được tô điểm bằng muôn vàn đóa hoa khổng lồ mở màn bằng một dòng nhạc êm dịu, ánh sáng bắt đầu nhấp nháy trên mặt sông rồi bừng lên đưa người xem đi qua một hành trình cảm xúc nhiều trải nghiệm, từng loạt pháo hoa trẩy hội trên sông Hàn lúc chầm chậm, nhẹ nhàng, lãng mạn khi bùng lên dữ dội…ánh sáng và âm thanh hòa quyện vào nhau chiếm lĩnh cả lòng người.
Phải nói cuộc thi bắn pháo hoa Đà Nẵng là một ý tưởng tuyệt vời, vừa khôi phục được nét văn hóa truyền thống của làng nghề làm pháo Nam Ô vốn nổi tiếng khắp nước, nhưng từ khi chính phủ cấm hoàn toàn việc đốt pháo thì gần như đã làm mất luôn một làng nghề truyền thống. Nhờ cuộc thi mà đã khôi phục và phát triển thêm một tầm cao mới – pháo hoa, vừa mang lại lợi ích kinh tế cho tỉnh nhà và làm cho nhiều du khách kinh ngạc về nghệ thuật làm pháo của Việt Nam.
- Festival Biển Nha Trang
Cứ hai năm một lần, vào trung tuần tháng sáu, hàng nghìn lượt khách theo chân nhau đến thành phố Nha Trang, Khánh Hòa, nơi diễn ra Festival Biển với quy mô mang tầm quốc tế. Với hơn 60 hoạt động đặc sắc như lễ hội đường phố, giới thiệu 100 điểm đến thú vị của Nha Trang và Khánh Hòa, triển lãm di sản văn hóa biển, các lễ hội yến sào, thủy sản, XQ Nha Trang, Hoa quả sơn, biểu diễn dù bay quốc tế, hội thi kinh khí cầu châu Á, liên hoan nghệ thuật điêu khắc cát quốc tế, liên hoan ẩm thực các vùng miền, hội thi bơi thúng – lắc thúng trên biển…
Với lợi thế về đa dạng sinh học, sinh vật biển và các bãi biển, nơi vốn là một điểm dừng chân lý tưởng cho du khách, nhất là khối Đông Âu. Ban tổ chức Festival Biển Nha Trang tập trung khai thác triệt các loại hình du lịch biển, ẩm thực biển, thể thao biển, được xem là các sản phẩm độc đáo, qua festival, Nha Trang trở thành một trong những điểm đến tiềm năng nhất lôi kéo đầu từ nước ngoài.
- Festival Thuyền Buồm Quốc Tế Mũi Né
Đối với những ai yêu thích thuyền buồm thì sẽ không thể bỏ qua Festival Thuyền buồm tầm cỡ thế giới được tổ chức tại Mũi Né từ ngày 20 – 24/10 hàng năm. Festival Thuyền buồm Quốc tế Mũi Né hàng năm thu hút sự tham gia của khoảng 20 đội tuyển thuyền buồm quốc tế, hơn 100 tập đoàn sản xuất thuyền buồm trên thế giới, các nhà đầu tư, doanh nhân nước ngoài, các đoàn nghệ thuật và nghệ sĩ nổi tiếng đến từ nhiều quốc gia Mỹ, Hàn Quốc, Nga, Pháp, Hy Lạp, Úc… Các hoạt động của Festival xoay quanh chương trình trình diễn và triển lãm thuyền buồm quốc tế với hơn 200 chiếc, Gala Âm nhạc quốc tế ngoài trời lôi cuốn cùng chương trình nhạc Pop & Rock diễn ra liên tục tại sân khấu đồi cát bay, triển lãm ảnh nghệ thuật quốc tế ngoài trời khổ lớn chất lượng cao. Luận văn: Nghiên cứu Phát triển du lịch Festival Ở Huế.
Trong thời gian diễn ra Festival, nhiều hội thảo quốc tế về điều hành, sản xuất, tiếp thị và thương mại thuyền buồm tại thị trường châu Á cũng được tổ chức nơi đây. Nhiều chuyên gia cùng nhiều tập đoàn hàng đầu thế giới của ngành công nghiệp sản xuất thuyền buồm đến giới thiệu sản phẩm và dịch vụ đi kèm. Song song là hội thảo chuyên đề xây dựng thương hiệu du lịch biển
Việt Nam, trong đó có bàn giải pháp nâng tầm thương hiệu cho Mũi Né… Theo ông George Dvorak- Tổng Giám đốc Công ty Kinh doanh & Giải trí Thuyền buồm Quốc tế- Cố vấn Festival lần này thì Mũi Né hội tụ rất nhiều yếu tố thiên nhiên để xây dựng ngành giải trí thuyền buồm. Và Festival thuyền buồm quốc tế tại đây có thể trở thành một thương hiệu du lịch đặc biệt cho Mũi Né- Bình Thuận- Việt Nam để giới thiệu ra thế giới…
- Festival Hoa Đà Lạt
Thường được tổ chức vào cuối tháng 12 hàng năm tại thành phố Đà Lạt, Lâm Đồng. Festival là cơ hội giới thiệu, quảng bá những sản vật địa phương như nghề trồng rau và hoa danh tiếng cũng như nghề sản xuất rượu vang Đà Lạt truyền thống.
Vào những ngày diễn ra festival, Đà Lạt chìm ngập trong hàng trăm loài hoa rực rỡ, xe hoa diễu hành suốt đêm trong ánh sáng pháo hoa lung linh, trình diễn carnaval thời trang hoa, trưng bày những loài hoa ôn đới độc đáo riêng có của Đà Lạt, các loài hoa địa phương từ nhiều vùng miền trong cả nước và một số quốc gia lân cận. Đặc biệt, không gian nghệ thuật âm nhạc thu hút du khách với những dòng nhạc lắng đọng nhẹ nhàng, những bản tình ca bất hủ, âm nhạc Rock và nhạc DJ sôi nổi.
Xem xét các festival trong nước và quốc tế, ta có thể đúc kết lại một số điểm như sau:
- Nghiên cứu chuyên sâu và khai thác triệt để nguồn tài nguyên du lịch văn hóa và thiên nhiên tại điểm tổ chức sự kiện.
- Tận dụng tốt mọi ưu điểm, khai thác tốt nhất các tiềm năng du lịch festival tại điểm đến.
- Tổ chức, quy hoạch tổng thể một cách chuyên nghiệp mọi hoạt động liên quan đến festival.
- Tuyên truyền, vận động, nâng cao nhận thức của cư dân địa phương, khuyến khích mọi tầng lớp tham gia.
- Gắn lợi ích kinh tế của cộng đồng dân cư với lợi ích mà sự kiện mang lại, hướng tới phát triển du lịch bền vững.
- Phát triển đội ngũ chuyên gia trong nước và quốc tế chuyên trách, xây dựng đội ngũ cộng tác viên và nhân viên phục vụ festival chuyên nghiệp.
- Tổ chức sự kiện thường xuyên (hàng năm), cố định lịch trình, thời gian diễn ra sự kiện, địa điểm tổ chức để du khách, cư dân địa phương biết trước.
- Gia tăng các tiết mục biểu diễn cộng đồng, gần gũi với người dân địa phương, khuyến kích các chương trình phục vụ miễn phí, hạn chế những chương trình đình đám, tốn kém, gây xáo trộn đời sống địa phương…
TIỂU KẾT Luận văn: Nghiên cứu Phát triển du lịch Festival Ở Huế.
- Du lịch Festival
Du lịch festival – một trào lưu đi du lịch mới trong nước và trên thế giới, điểm đến của sự kết tinh hội tụ nhiều nền văn hóa khác nhau mang đậm nét đặc trưng vùng miền các sắc tộc, nơi cùng nhau khoe sắc, khoe hương, một cơ hội để du khách có thể tận hưởng được nhiều món ăn tinh thần đặc sắc trên thế giới, là dịp để khách có thể giao lưu, trãi nghiệm nhiều nhất trong một chuyến đi.
- Điều kiện phát triển du lịch festival ở Huế
Huế – một trong những điểm đến di sản văn hóa miền Trung, nơi có cả di sản văn hóa thế giới vật thể và phi vật thể, từng là trung tâm giao lưu kinh tế, chính trị, văn hóa của Việt Nam thời phong kiến, một điểm đến mang đậm tính lịch sử, văn hóa các nước khu vực Đông Dương, một trong những thành phố có ngành du lịch phát triển khu vực miền Trung, cả về lượng và chất, cung cấp dịch vụ du lịch chất lượng cao, là một nơi có đầy đủ điều kiện để phát triển loại hình du lịch đang thịnh hành trên thế giới, du lịch festival. Luận văn: Nghiên cứu Phát triển du lịch Festival Ở Huế.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng hoạt động du lịch Festival ở Huế

Pingback: Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch Festival ở Huế