Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng múa cho học sinh mầm non

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng múa cho học sinh mầm non hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng múa cho học sinh tại các trường mầm non công lập huyện Ba Vì dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Khái quát về địa bàn nghiên cứu và quá trình tổ chức khảo sát

2.1.1 Khái quát về kinh tế – xã hội, giáo dục mầm non huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội

2.1.1.1 Tình hình kinh tế – xã hội huyện Ba Vì

Ba Vì là huyện tận cùng phía Tây Bắc của Hà Nội, trên địa bàn huyện có một phần lớn của dãy núi Ba Vì chạy qua phía Nam huyện, phía Đông giáp thị xã Sơn Tây, phía Đông Nam giáp huyện Thạch Thất. Phía Nam giáp các huyện Lương Sơn (về phía Đông Nam huyện) và Kỳ Sơn của Hòa Bình (về phía Tây Nam huyện). Phía Bắc giáp thành phố Việt Trì, Phú Thọ, với ranh giới là sông Hồng (sông Thao) nằm ở phía Bắc. Phía Tây giáp các huyện Lâm Thao, Tam Nông, Thanh Thủy của Phú Thọ. Phía Đông Bắc giáp huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Phúc, ranh giới là sông Hồng [38].

Huyện Ba Vì là một huyện bán sơn địa, diện tích tự nhiên là 428,0 km², lớn nhất Thủ đô Hà Nội. Huyện có hai hồ khá lớn là hồ Suối Hai, và hồ Đồng Mô (tại khu du lịch Đồng Mô). Các hồ này đều là hồ nhân tạo và nằm ở đầu nguồn sông Tích, chảy sang thị xã Sơn Tây, và một số huyện phía Tây Hà Nội, rồi đổ nước vào sông Đáy [38]. Trên địa bàn huyện có vườn quốc gia Ba Vì. Ở ranh giới của huyện với tỉnh Phú

Thọ có hai ngã ba sông là: ngã ba Trung Hà giữa sông Đà và sông Hồng (tại xã Phong Vân) và ngã ba Bạch Hạc giữa sông Hồng và sông Lô (tại xã Tản Hồng, đối diện với thành phố Việt Trì) [38].

Trong giai đoạn 2023 đến tháng 6/2027, Ba Vì đã có sự phát triển vượt bậc về kinh tế, xã hội. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt trên 15%/năm. Cơ cấu kinh tế chuyển biến tích cực: giá trị sản xuất ngành dịch vụ – du lịch tăng nhanh, chiếm 40,6%. Ngành nông, lâm nghiệp giảm dần còn 37,8%; Công nghiệp, Tiểu thủ công nghiệp, xây dựng có bước phát triển mạnh, chiếm 21,6 %; Chăn nuôi được đẩy mạnh, nhất là đàn bò sữa, đến nay đã có 8.000 con. Duy trì phát huy giá tṛi thương hiệu sản phẩm Sữa Ba Vì, Chè Ba Vì, Miến dong Minh Hồng, Khoai lang Đồng Thái, gà đồi Ba Vì, Thuốc nam đồng bào dân tộc Dao… [38]

Đặc biệt, công tác xóa đói giảm nghèo đạt được nhiều thành tích rất ấn tượng. Từ một huyện có tỷ lệ đói nghèo cao, đến nay tỷ lệ hộ nghèo ở Ba Vì giảm hàng năm từ 2,5 – 3%, đào tạo nghề theo Quyết đ̣inh 1956 của Chính phủ, được triển khai tích cực, góp phần đưa số lao động của huyện qua đào tạo đạt 34,2%, hàng năm tạo việc làm mới cho trên 3.700 lao động [38].

2.1.1.2 Tình hình giáo dục mầm non huyện Ba Vì Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng múa cho học sinh mầm non.

Năm học năm 2026 – 2027, huyện Ba Vì có 113 trường học, trong đó bậc mầm non có 43 trường; tiểu học 35 trường; phổ thông cơ sở có 35 trường… Tổng số có 1.997 nhóm lớp với hơn 64.300 học sinh [32].

Với giáo dục mầm non, 100% nhà trường tổ chức ăn bán trú cho trẻ; tỷ lệ tham gia uống sữa học đường đạt 98%. Tỷ lệ suy dinh dưỡng, nhẹ cân đều giảm, nhà trẻ còn 2,5%, mẫu giáo còn 3,4%. Bên cạnh việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học; tuyên truyền, động viên cha mẹ có con ở độ tuổi mầm non đưa các bé ra lớp, các trường Mầm non trong Huyện cũng không ngừng chú ý nâng cao chất lượng học tập của các bé… [32]

Tỷ lệ các cháu nhà trẻ đến với cấp học mầm non còn thấp so với mặt bằng chung của thành phố; tình trạng mất cân đối và thiếu giáo viên cục bộ trong các trường học vẫn tồn tại; một bộ phận cán bộ quản lý còn hạn chế về năng lực, thụ động trong công việc nên chưa theo kịp được tiến trình đổi mới, quản lý giáo dục… Nhiều trường còn thiếu phòng học chức năng, phòng học bộ môn, phòng đồ dùng thiết bị dạy học; tỷ lệ trường chuẩn quốc gia trên địa bàn còn thấp; phòng học còn thiếu, vẫn còn không ít phòng học cấp 4 và đặc biệt vẫn còn lớp học tạm…

  • Bảng 2.1. Thực trạng các trường mầm non và học sinh mầm non trên địa bàn huyện Ba Vì năm học 2026 – 2027

Trong những năm qua, ngành giáo dục huyện Ba Vì đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm học, “bội thu” những thành tích. Quy mô của ngành giáo dục tiếp tục phát triển, chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ tại các trường mầm non, chất lượng giáo dục đại trà và mũi nhọn ở bậc tiểu học, trung học cơ sở được giữ vững. Việc thực hiện các cuộc vận động và phong trào thi đua tiếp tục được đẩy mạnh, nâng cao. Ngành giáo dục luôn chú trọng đến chất lượng dạy và học, bên cạnh đó cũng đề cao các chương trình giáo dục ngoại khóa, giao lưu quốc tế nhằm giúp trẻ phát triển toàn diện. Đó là cách “dạy chữ, dạy người” mà thầy trò ngành giáo dục Cầu Giấy đã làm rất hiệu quả nhiều năm nay. Chính sự ủng hộ và tâm huyết của lãnh đạo huyện Ba Vì trong đầu tư kinh phí, cơ sở vật chất, sự tham mưu của phòng giáo dục và sự vào cuộc của các trường trên địa bàn là những yếu tố quyết định cho những bước thành công ban đầu của ngành giáo dục Cầu Giấy.

2.1.2 Khái quát về quá trình tổ chức khảo sát Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng múa cho học sinh mầm non.

2.1.2.1 Mục đích khảo sát

Mục đích khảo sát nhằm đánh giá thực trạng giáo dục và quản lý giáo dục kỹ năng múa cho trẻ tại các trường mầm non huyện Ba Vì; làm rõ hạn chế và nguyên nhân hạn chế; đề xuất các biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng múa cho trẻ tại các trường mầm non huyện Ba Vì đạt hiệu quả tối ưu.

2.1.2.2 Nội dung khảo sát

  • Khảo sát thực trạng giáo dục kỹ năng múa cho trẻ tại các trường mầm non huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.
  • Khảo sát thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng múa cho trẻ tại các trường mầm non huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.

2.1.2.3 Đối tượng khảo sát

Để thực hiện nghiên cứu đề tài liên quan đến quản lý giáo dục kỹ năng múa cho trẻ mầm non, đề tài cần thực hiện khảo sát ở tất cả các lực lượng tham gia vào quá trình thực hiện việc quản lý này. Bao gồm: 20 CBQL giáo dục ở trường mầm non, chuyên viên của Phòng GD&ĐT huyện Ba Vì; 70 giáo viên tại các trường mầm non và 100 cha, mẹ trẻ.

2.1.2.4 Phương pháp khảo sát

  • Phương pháp trưng cầu ý kiến bằng phiếu hỏi
  • Phương pháp trao đổi, phỏng vấn
  • Phương pháp nghiên cứu sản phẩm giáo dục

2.1.2.5 Địa bàn, thời gian khảo sát

Tác giả tiến hành khảo sát 10 trường mầm non của huyện Ba Vì, đó là: Trường mầm non Cổ Đô; Trường mầm non Cầm Lĩnh A; Trường mầm non Minh Quang A; Trường mầm non Phú Châu; Trường mầm non Phú Sơn; Trường mầm non Tây Đằng; Trường mầm non Vân Hòa A; Trường mầm non Vạn Thắng; Trường mầm non Vật Lại; Trường mầm non Yên Bài A. Thời gian khảo sát: từ tháng 02 đến tháng 4 năm 2027.

2.2. Thực trạng hoạt động giáo dục kỹ năng múa cho học sinh các trường mầm non công lập huyện Ba Vì Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng múa cho học sinh mầm non.

2.2.1 Nhận thức của cán bộ, giáo viên và phụ huynh về vai trò của giáo dục kỹ năng múa cho học sinh các trường mầm non công lập huyện Ba Vì

Nhận thức về vai trò của giáo dục kỹ năng múa cho trẻ là rất quan trọng, đặc biệt với những người làm công tác quản lý giáo dục ở nhà trường nói chung, trường mầm non nói riêng. Nếu CBQL giáo dục, giáo viên, phụ huynh có nhận thức đúng đắn về hoạt động giáo dục kỹ năng múa thì đó chính là điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức, tiến hành các hoạt dộng giáo dục ở nhà trường và gia đình và xã hội có liên quan đến giáo dục kỹ năng múa cho trẻ tại các trường mầm non hiện nay.

Qua khảo sát và xử lý kết quả điều tra về nhận thức của CBQL giáo dục, giáo viên, phụ huynh về vai trò của giáo dục kỹ năng múa cho trẻ tại các trường mầm non, được biểu hiện cụ thể ở bảng 2.2.

  • Bảng 2.2. Ý kiến CBQL giáo dục, giáo viên, phụ huynh về vai trò của giáo dục kỹ năng múa cho trẻ

Kết quả điều tra bằng phiếu hỏi ở bảng 2.2 cho thấy, CBQL giáo dục, giáo viên và phụ huynh của trẻ tại các trường mầm non huyện Ba Vì hầu hết đều có nhận thức đúng, khá đầy đủ về vị trí, vai trò của giáo dục kỹ năng múa đối với sự hình thành và phát triển nhân cách của trẻ. Cụ thể như sau:

  • Một là, đánh giá của CBQL giáo dục tại các trường mầm non

CBQL giáo dục tại các trường mầm non đánh giá cao vai trò của giáo dục kỹ năng múa trong quá trình giáo dục, giáo dục kỹ năng múa là điều kiện quan trọng để rèn luyện hành vi, kỹ năng cho trẻ, phát huy được tính tích cực chủ động, rèn luyện và phát triển kỹ năng giao tiếp, ứng xử của trẻ trong các tình huống khác nhau, đồng thời giúp trẻ vui vẻ hòa đồng, sống khỏe, hiệu quả hơn. Cụ thể khi được hỏi về “Hoạt động giáo dục kỹ năng múa góp phần hình thành và phát triển toàn diện nhân cách cho trẻ”, đã có 100% CBQL giáo dục tại các trường mầm non khẳng định “rất cần thiết” vì thông qua giáo dục kỹ năng múa sẽ giúp cho trẻ hình thành, phát triển nhân cách một cách toàn diện; 90% CBQL giáo dục cho rằng “Giáo dục kỹ năng múa giúp trẻ phát triển trí tuệ, thể chất và năng lực thẩm mỹ” có vai trò “rất cần thiết” và nó là cách tốt nhất để tiến hành giáo dục nhằm từng bước hình thành tư duy thẩm mỹ. Giáo dục kỹ năng múa cho trẻ tại các trường mầm non là một trong các hoạt động góp phần xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực. Cô giáo T. T. H. M., Hiệu trưởng một trường mầm non huyện Ba Vì trao đổi “Hoạt động giáo dục kỹ năng múa không những có tác dụng thu hút trẻ tới lớp, tới trường, đem lại niềm vui, phấn khởi cho trẻ, làm cho trẻ từng bước tự tin trong giao tiếp, giảm bớt sự căng thẳng, mệt mỏi và củng cố, khắc sâu, mở rộng nội dung học tập của trẻ”. Tuy nhiên, vẫn còn ý kiến của một số chuyên viên giáo dục cho rằng các hoạt giáo dục hiện nay của các trường mầm non vẫn chủ yếu tập trung vào giáo dục văn hoá, chưa đặt giáo dục kỹ năng múa vào đúng vị trí quan trọng trong nội dung chương trình giáo dục của trường. Từ đó dẫn đến nội dung giáo dục kỹ năng múa cho trẻ chưa được quan tâm tại các trường mầm non.

  • Hai là, đánh giá của giáo viên Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng múa cho học sinh mầm non.

Đa số giáo viên đều khẳng định vai trò của giáo dục kỹ năng múa trong việc hình thành và từng bước phát triển đạo đức nhân cách của trẻ mầm non, chính vì vậy có 82.8% số giáo viên được hỏi khẳng định “Hoạt động giáo dục kỹ năng múa góp phần hình thành, phát triển các hành vi ứng xử có văn hoá” là “rất cần thiết”; trong khi đó “Giáo dục kỹ năng múa giúp trẻ sống chủ động, tính tích cực, tự tin hơn” có đến 90,1% giáo viên khẳng định là “rất cần thiết”. Tuy nhiên, vẫn còn 4.3% giáo viên cho rằng “Giáo dục kỹ năng múa giúp trẻ phát triển trí tuệ, thể chất và năng lực thẩm mỹ” là “không cần thiết”.

  • Ba là, đánh giá của phụ huynh học sinh

Kết quả điều tra (bảng 2.2) đã cho thấy đại đa số phụ huynh đều nhận thức được vai trò to lớn của hoạt động giáo dục kỹ năng múa cho trẻ, chính vì vậy có tới hơn 84% ý kiến được hỏi đánh giá đúng về mức độ quan trọng của các nội dung trong hoạt động giáo dục kỹ năng múa cho trẻ, cụ thể là “Giáo dục kỹ năng múa giúp trẻ sống chủ động, tính tích cực, tự tin hơn”. Tuy nhiên, vẫn còn một bộ phận phụ huynh học sinh chưa nhận thức hết được vai trò giáo dục to lớn của các hoạt động giáo dục kỹ năng múa đối với việc phát triển kỹ năng ứng xử, giao tiếp cho trẻ tại các trường mầm non, chính vì vậy vẫn còn 17.0% ý kiến cho rằng việc: “Giáo dục kỹ năng múa nhằm giúp trẻ hình thành, phát triển hành vi ứng xử có văn hóa” là “không quan trọng”. Để làm rõ lý do, tác giả tiếp tục phỏng vấn một số phụ huynh với câu hỏi: “theo ông/bà giáo dục kỹ năng múa có vai trò như nào đối với việc hình thành, phát triển nhân cách, đạo đức lối sống cho trẻ”, khi được hỏi một số phụ huynh vẫn khẳng định là các cháu khi đến lớp, đến trường mầm non, chỉ cần các cô giáo thường xuyên chăm sóc ăn, uống, ngủ nghỉ, dạy các cháu các trò chơi và cách giao tiếp với mọi người là đủ và mong muốn nhà trường, cô giáo tổ chức hoạt động cả tuần để giúp phụ huynh quản lý con cái, để phụ huynh yên tâm lao động, công tác (tập trung ở những phụ huynh bận công việc) và một số phụ huynh cũng thấy được việc cho trẻ tham gia các hoạt động giáo dục kỹ năng múa ở nhà trường, lớp là giúp trẻ từng bước hòa nhập vào cuộc sống chung với mọi người, tạo cho trẻ sự mạnh dạn, tự tin, chứ không phải vì hoạt động này có tác dụng hình thành, phát triển khả năng sống an toàn, khoẻ mạnh, thành công. Còn lại là các phụ huynh cho rằng việc giáo dục kỹ năng múa cho trẻ chủ yếu là trách nhiệm của giáo viên, nhà trường nên không có ý kiến tham gia.

Như vậy, CBQL, giáo viên và phụ huynh có con gửi tại các trường mầm non đều nhận thức đúng về vai trò, tầm quan trọng của giáo dục kỹ năng múa cho trẻ. Bên cạnh đó, vẫn còn một số giáo viên, phụ huynh nhận thức chưa thật toàn diện về vai trò của giáo dục kỹ năng múa, nên ảnh hưởng đến hiệu quả giáo dục kỹ năng múa cho trẻ. Từ việc nhận thức của CBQL giáo dục, giáo viên, phụ huynh học sinh về vị trí, tầm quan trọng của hoạt động giáo dục kỹ năng múa đối với sự phát triển, hoàn thiện nhân cách của trẻ tại các trường mầm non là không đồng đều, đặc biệt là nhận thức của các chủ thể trực tiếp tham gia vào hoạt động quản lý và tổ chức giáo dục kỹ năng múa cho trẻ, từ đó dẫn đến việc thực hiện các nội dung giáo dục kỹ năng múa cho trẻ không được toàn diện và không đạt hiệu quả như mục tiêu đã định. Để thấy rõ được điều này tác giả tiếp tục nghiên cứu, tìm hiểu về nội dung giáo dục kỹ năng múa cho trẻ tại các trường mầm non huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội.

2.2.2 Thực trạng nội dung giáo dục kỹ năng múa cho học sinh các trường mầm non công lập huyện Ba Vì Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng múa cho học sinh mầm non.

Hiện nay, nội dung giáo dục phát triển theo hướng nâng cao khả năng sáng tạo của trẻ, năng lực hợp tác, tính tập thể, sự độc lập trong suy nghĩ, kỹ năng thực hành, vận dụng thực tiễn… Những nội dung giáo dục kỹ năng múa cho trẻ tại các trường mầm non hiện nay còn có nhiều ý kiến khác nhau, trong phạm vi đề tài, tác giả chỉ tập trung khảo sát 5 nhóm kỹ năng múa giáo dục cho trẻ là: kỹ năng về bản thân; kỹ năng quan hệ xã hội, kỹ năng giao tiếp; kỹ năng thực hiện công việc và kỹ năng ứng phó với thay đổi.

  • Bảng 2.3. Ý kiến của cán bộ, giáo viên về nội dung giáo dục kỹ năng múa

Kết quả điều tra cho thấy hầu hết CBQL giáo dục, giáo viên của các trường mầm non huyện Ba Vì đều quan tâm đến các nội dung giáo dục kỹ năng múa cho trẻ, tuy nhiên cách thức vận dụng, lồng ghép nội dung giáo dục kỹ năng múa vào giờ dạy, lồng ghép vào các giờ vui chơi của trẻ một cách cụ thể thì nhận thức của một số CBQL giáo dục, giáo viên chưa đồng đều và chưa thực sự quan tâm đúng mức trong giáo dục kỹ năng múa cho trẻ tại các trường mầm non. Một số kỹ năng múa quan trọng chưa được CBQL chỉ đạo cho giáo viên và chính giáo viên cũng chưa mạnh dạn tích hợp vào nội dung dạy trẻ một cách thường xuyên.

Nhóm kỹ năng xoay vẫn còn tới 10.0% ý kiến cán bộ và 12.8% ý kiến giáo viên cho biết là chưa được thực hiện trong quá trình giáo dục cho trẻ. Lý giải cho điều này, theo quan sát của tác giả, việc giáo dục kỹ năng múa cho trẻ mầm non trên địa bàn huyện Ba Vì vẫn chưa được thực hiện đồng bộ và thường xuyên tại các trường mầm non.

Quá trình nghiên cứu cụ thể đối với từng nhóm kỹ năng múa giáo dục cho trẻ, kết quả cho thấy: đối với kỹ năng mô phỏng và kỹ năng khống chế thường xuyên được các giáo viên đưa vào giảng dạy giúp học sinh hình thành kỹ năng múa. Theo kết quả trao đổi trực tiếp với giáo viên thì nhóm kỹ năng về mô phỏng, được giáo viên dạy nhiều nhất cho trẻ. Điều này nói lên sự thống nhất giữa kết quả nghiên cứu lý luận và thực tiễn khảo sát.

2.2.3 Thực trạng sử dụng các hình thức, phương pháp giáo dục kỹ năng múa cho học sinh các trường mầm non công lập huyện Ba Vì

Để hiểu rõ hơn về các phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục kỹ năng múa cho học sinh tại các trường mầm non công lập trên địa bàn huyện Ba Vì, đề tài tổ chức khảo sát đánh giá của CBQL và giáo viên về vấn đề này, kết quả như sau:

  • Bảng 2.4. Ý kiến của CBQL, giáo viên về phương pháp và hình thức giáo dục kỹ năng múa cho học sinh

Qua bảng số liệu điều tra ở bảng 2.4, đã cho thấy, CBQL giáo dục và giáo viên đều có những nhận xét khá tương đồng về việc sử dụng các phương pháp giáo dục kỹ năng múa cho trẻ. Cụ thể là 85.0% CBQL, 85.7% giáo viên được điều tra khẳng định là trong quá trình giáo dục kỹ năng múa cho trẻ mầm non, giáo viên đã “sử dụng phương pháp thực hành” để tuyên truyền, giáo dục kỹ năng múa cho trẻ; với “phương pháp thuyết trình”, có 35.0% CBQL và 8.0% giáo viên khẳng định đã từng sử dụng phương pháp này để giáo dục kỹ năng múa cho trẻ. Như vậy, việc sử dụng các phương pháp giáo dục kỹ năng múa cho trẻ đã được CBQL và giáo viên quan tâm sử dụng, tuy nhiên vẫn có phương pháp chưa được sử dụng để rèn luyện kỹ năng múa cho trẻ như “phương pháp nghiên cứu tình huống”. Trao đổi với CBQL giáo dục và giáo viên trường mầm non Vật Lại về vấn đề này, tác giả được biết thêm nguyên nhân mà giáo viên chưa mạnh dạn sử dụng một số phương pháp giáo dục kỹ năng múa cho trẻ là do giáo viên phải làm nhiều việc đối với trẻ trong một ngày và chưa có nhiều kinh nghiệm để vận dụng phương pháp dạy học vào giáo dục kỹ năng múa cho trẻ. Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng múa cho học sinh mầm non.

Kết quả khảo sát ở bảng 2.4 cho thấy các hình thức giáo dục kỹ năng múa qua hoạt động có chủ đích chưa thực sự được giáo viên quan tâm một cách thường xuyên, liên tục, có 65.0% CBQL giáo dục và 57.1% ý kiến của giáo viên đánh giá là “chưa thường xuyên” sử dụng. Khi phỏng vấn CBQL giáo dục ở một số trường mầm non của huyện Ba Vì, cho thấy hình thức giáo dục kỹ năng múa cho trẻ “qua chế độ sinh hoạt trong ngày của trẻ ở trường” là được sử dụng thường xuyên nhất có 75.0% cán bộ và 78,6% giáo viên khẳng định là thường xuyên vận dụng, trong khi đó có 10.0% cán bộ và 12.8% giáo viên được hỏi cho là chưa thực hiện. Như vậy, hình thức giáo dục kỹ năng múa cho trẻ tại các trường mầm non huyện Ba Vì hiện nay thì nhiều hình thức chưa được đưa vào sử dụng như “qua tổ chức các hoạt động ngoài nhà trường” chưa được giáo viên thực hiện thường xuyên, nên có ảnh hưởng nhất định đến kết quả giáo dục kỹ năng múa cho trẻ.

Ngày nay, hoạt động giáo dục kỹ năng múa cho trẻ ngày càng phổ biến và trường mầm non cũng không ngoại lệ. Các trường có nhiều hình thức tổ chức giáo dục kỹ năng múa cho trẻ khác nhau. Tuy nhiên, tùy theo tình hình thực tế, điều kiện của mỗi trường và nhận thức của CBQL giáo dục, giáo viên mà công tác giáo dục kỹ năng múa cho trẻ mầm non, cần có sự linh hoạt trong cách thức tổ chức. Qua tìm hiểu thực tế, cho thấy các trường mầm non huyện Ba Vì chủ yếu giáo dục kỹ năng múa thông qua qua chế độ sinh hoạt trong ngày của trẻ ở trường.

2.3. Thực trạng quản lý giáo giáo dục kỹ năng múa cho học sinh các trường mầm non công lập huyện Ba Vì Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng múa cho học sinh mầm non.

2.3.1 Quản lý xây dựng kế hoạch giáo dục kỹ năng múa cho học sinh tại các trường mầm non

Quản lý việc xây dựng, thực hiện kế hoạch giáo dục kỹ năng múa cho trẻ tại các trường mầm non được thực hiện trên cơ sở nhiệm vụ năm học và phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương, của trường mầm non. Song trên thực tế việc quản lý xây dựng, tổ chức kế hoạch giáo dục kỹ năng múa cho trẻ chưa được quan tâm một cách đầy đủ. Điều đó được thể hiện ở những nội dung sau:

  • Bảng 2.5. Đánh giá của CBQL, giáo viên về quản lý xây dựng, tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục kỹ năng múa cho trẻ

Với kết quả xử lý phiếu điều tra CBQL giáo dục, giáo viên được trình bày ở bảng 2.5 cho thấy việc quản lý xây dựng, tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục kỹ năng múa cho trẻ các trường mầm non huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội đã được các cấp quản lý giáo dục quan tâm tổ chức thực hiện, song ở từng nội dung quản lý cụ thể thì mức độ quan tâm có sự khác nhau trong nhận định đánh giá của cán bộ, giáo viên. Cụ thể như:

Ngay khi kết thúc năm học, các trường mầm non đã chủ động xây dựng, tổ chức thực hiện kế hoạch bồi dưỡng hè cho giáo viên trong đó có kế hoạch bồi dưỡng, tập huấn cho giáo viên về nội dung giáo dục kỹ năng múa cho trẻ. Khi được hỏi về nội dung “Xây dựng, thực hiện kế hoạch tổ chức các hoạt động theo chủ đề về giáo dục kỹ năng múa”, đã có 85.0% CBQL giáo dục và 78.6% giáo viên khẳng định đã được thực hiện “thường xuyên”. Tuy nhiên, kế hoạch giáo dục kỹ năng múa cho trẻ của các trường mầm non hầu như chậm được triển khai ngay từ đầu năm học bởi vì chưa có sự chỉ đạo của cấp trên, các trường chỉ xây dựng được kế hoạch hoạt động theo từng học kỳ và theo chuyên đề dạy học. Thậm chí kế hoạch được xây dựng nhưng mang tính hình thức, dẫn đến khó khăn cho việc triển khai các hoạt động, hiệu quả quản lý giáo dục kỹ năng múa cho trẻ không cao.

Qua điều tra về việc “Xây dựng, thực hiện kế hoạch sử dụng các phương pháp dạy học để giáo dục kỹ năng múa cho trẻ”, có tới 80.0% cán bộ và 82.9% giáo viên khẳng định là “chưa thực hiện”. Việc “Xây dựng, thực hiện kế hoạch phối hợp các lực lượng để tổ chức giáo dục kỹ năng múa cho trẻ”, có 90.0% cán bộ, 78.6% giáo viên khẳng định thực hiện “thường xuyên”. Đối với việc “Xây dựng, thực hiện kế hoạch kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục kỹ năng múa cho trẻ” cũng nhận được 70.0% và 51.2% giáo viên đánh giá là thực hiện “thường xuyên”. Nhưng khi hỏi về “Xây dựng, thực hiện kế hoạch sử dụng các phương pháp dạy học để giáo dục kỹ năng múa cho trẻ”, đã có 65.0% cán bộ và 57.1% giáo viên được hỏi trả lời là “thỉnh thoảng” mới xây dựng được kế hoạch, song tuỳ theo từng nội dung giáo dục kỹ năng múa cho trẻ để đưa ra kế hoạch sử dụng phương pháp cho phù hợp.

Mặt khác, giáo viên cũng không có kế hoạch hoạt động cũng như kế hoạch giáo dục kỹ năng múa cho trẻ ở từng hoạt động cụ thể. Nguyên nhân chủ yếu là do CBQL giáo dục ở các trường, cán bộ phụ trách chuyên môn mới tập trung chủ yếu vào việc quản lý chuyên môn, chưa chú ý quản lý giáo dục kỹ năng múa cho trẻ thông qua các hoạt động. Qua điều tra cho thấy việc “Xây dựng, thực hiện kế hoạch lồng ghép nội dung giáo dục kỹ năng múa cho trẻ vào các nội dung giáo dục khác” có tới 75.0% CBQL và 67.1% giáo viên thừa nhận là “chưa thực hiện”. Vì vậy, việc quản lý xây dựng, thực hiện kế hoạch giáo dục kỹ năng múa cho trẻ tại các trường mầm non là chưa chuyên sâu, thậm chí có nội dung còn bị coi nhẹ.

2.3.2 Chỉ đạo thực hiện giáo dục kỹ năng múa cho học sinh tại các trường mầm non

2.3.2.1 Về nội dung chương trình Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng múa cho học sinh mầm non.

Kết quả xử lý số liệu điều tra ở bảng 2.7, cho thấy trong số 6 nội dung quản lý việc thực hiện nội dung, chương trình giáo dục kỹ năng múa cho trẻ tại các trường mầm non huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội thì có 2 nội dung được cả CBQL giáo dục và giáo viên đánh giá thực hiện ở mức độ “tốt” là nội dung “Quản lý nội dung giáo dục kỹ năng múa cho trẻ thông qua hoạt động vui chơi” và nội dung “Thực hiện việc kiểm tra, đôn đốc, nhắc nhở giáo viên trong thực hiện nội dung giáo dục kỹ năng múa cho trẻ”. Đây là kết quả phản ánh đúng thực trạng công tác quản lý nội dung giáo dục kỹ năng múa cho trẻ đang được thực hiện tại các trường mầm non huyện Ba Vì hiện nay.

Riêng nội dung “Quản lý việc bồi dưỡng giáo viên về tích hợp giáo dục kỹ năng múa qua hoạt động dạy học” tuy có chút khác biệt khi so sánh các số liệu giữa các mức độ tốt, khá và chưa làm, song nhìn chung được CBQL và giáo viên đã thống nhất đánh giá nội dung quản lý này đạt ở mức “khá” với trên 80% số ý kiến của CBQL, giáo viên trả lời. Để khẳng định thêm sự chính xác kết quả điều tra, tác giả đã xin phép Ban giám hiệu các trường mầm non và tham gia cùng CBQL nghiên cứu giáo án của giáo viên dạy “xếp hình” và “vẽ và tô màu” thì thấy rõ những nội dung giáo dục các kỹ năng múa cần thiết cho trẻ được lồng ghép bằng những tình huống, những ví dụ cụ thể để trẻ tự nghiên cứu, giải quyết từ đó hình thành kỹ năng, kỹ xảo ứng xử phù hợp.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được trong thực hiện nội dung, chương trình giáo dục kỹ năng múa cho trẻ, vẫn còn 15% ý kiến CBQL và 26,8% ý kiến giáo viên đánh giá nội dung “Có cơ chế phối hợp giữa giáo viên và CBQL về xây dựng nội dung giáo dục kỹ năng múa cho trẻ” thực hiện ở mức độ yếu; với nội dung “Quản lý nội dung giáo dục kỹ năng múa cho trẻ thông qua hoạt động vui chơi”, có 5.0% cán bộ CBQL cùng với 12.8% giáo viên cho rằng việc thực hiện còn “yếu”, hay nội dung “Quản lý nội dung chương trình giáo dục kỹ năng múa cho trẻ thông qua các giờ lên lớp theo chủ đề xác định” với 5.0% ý kiến cán bộ và 7.1% ý kiến giáo viên đánh giá thực hiện ở mức “yếu”. Đây là những ý kiến đánh giá, đặt ra cho các cơ quan hữu quan, các nhà quản lý giáo dục ở nhà trường phải suy nghĩ để tìm ra giải pháp khắc phục những điểm còn hạn chế, để thúc đẩy việc quản lý thực hiện nội dung giáo dục kỹ năng múa cho trẻ tại các trường mầm non đạt hiệu quả tốt nhất.

  • Bảng 2.6. Đánh giá của CBQL, giáo viên về tổ chức thực hiện nội dung, chương trình giáo dục kỹ năng múa cho trẻ

Như vậy, quản lý nội dung, chương trình giáo dục kỹ năng múa cho trẻ tại các trường mầm non huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội được thực hiện một cách khá đầy đủ và đạt được ở mức “khá” trở lên đều đạt trên 70.0%, các ý kiến của CBQL và giáo viên đánh giá, đây là điều kiện thuận lợi để các cấp quản lý và giáo viên thực hiện tốt các nội dung, chương trình giáo dục kỹ năng múa cho trẻ thông qua dạy học, tổ chức vui chơi, dã ngoại cho trẻ. Tuy nhiên, cũng từ kết quả khảo sát cho thấy quản lý nội dung, chương trình giáo dục kỹ năng múa cho trẻ tại các trường mầm non huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội vẫn còn có nội dung quản lý chưa được CBQL giáo dục, giáo viên quan tâm một cách đầy đủ, nên có tới 15.0% cán bộ và 25.7% giáo viên đánh giá việc thực hiện quản lý “Thực hiện nghiêm kế hoạch khen thưởng, kỷ luật trong thực hiện nội dung giáo dục kỹ năng múa cho trẻ” còn “yếu”. Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng múa cho học sinh mầm non.

2.3.2.2 Quản lý cơ sở vật chật đảm bảo hoạt động giáo dục kỹ năng múa có học sinh các trường mầm non

  • Bảng 2.7. Đánh giá của CBQL giáo dục, giáo viên về quản lý cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ giáo dục kỹ năng múa cho trẻ

Kết quả điều tra ở bảng 2.7 cho thấy việc quản lý cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ giáo dục kỹ năng múa cho trẻ tại các trường mầm non huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội được quản lý khá chặt chẽ và sử dụng có hiệu quả. Với tinh thần lấy trẻ làm trung tâm, các trường đã làm tốt việc “Phát động phong trào tự làm đồ dùng dạy học phục vụ cho giáo dục kỹ năng múa cho trẻ” với 75.0% CBQL giáo dục và 78.6% giáo viên đánh giá việc thực hiện ở mức độ “tốt”; công tác “Mua sắm tài liệu, đồ dùng học cụ, đồ chơi và phương tiện phục vụ cho giáo dục kỹ năng múa cho trẻ” cũng nhận được 80.0% ý kiến CBQL giáo dục và 67.1% ý kiến giáo viên đánh giá ở mức “tốt”.

Tuy nhiên, khi được hỏi về việc “Sử dụng có hiệu quả kinh phí phục vụ hoạt động giáo dục kỹ năng múa cho trẻ”, vẫn còn 5.0% ý kiến CBQL giáo dục và 12.8% giáo viên đánh giá việc thực hiện ở mức “yếu”. Sở dĩ có đánh giá như vậy là do CBQL giáo dục khi đưa ra những quyết định chi tiêu nhằm bảo đảm cho các hoạt động vui chơi, dã ngoại để giáo dục kỹ năng múa cho trẻ chưa nhận được sự đồng thuận cao của một số cán bộ, giáo viên; cùng với đó là mức độ thường xuyên và hiệu quả thực hiện “Phát động phong trào tự làm đồ dùng dạy học, đồ chơi để phục vụ giáo dục kỹ năng múa cho trẻ”, chưa được thực hiện nghiêm túc, chưa có hiệu quả thiết thực, nên vẫn còn 5.0% ý kiến CBQL giáo dục và 7.1% ý kiến của giáo viên đánh giá việc quản lý này còn “yếu”.

Tóm lại, ngoài đội ngũ giáo viên trực tiếp giáo dục kỹ năng múa cho trẻ thì các yếu tố khác như cơ sở vật chất, trang thiết bị, tài liệu, đồ chơi là những yếu tố góp phần không nhỏ đến việc nâng cao hiệu quả giáo dục kỹ năng múa cho trẻ tại các trường mầm non huyện Ba Vì hiện nay. Do đó, việc quản lý tốt các cơ sở vật chất kỹ thuật, phương tiện dạy học, đồ chơi của trẻ sẽ có tác động lớn đến hiệu quả giáo dục kỹ năng múa cho trẻ tại các trường mầm non.

Việc quản lý cơ sở vật chất, kỹ thuật hỗ trợ thực hiện giáo dục kỹ năng múa cho trẻ đạt được những thành công bước đầu và phục vụ được cho việc dạy kỹ năng tại các trường mầm non, nhưng vấn đề kinh phí hỗ trợ giáo dục kỹ năng múa cho trẻ tại các trường mầm non hiện nay vẫn còn những tồn tại nhất định đòi hỏi các nhà quản lý cần quan tâm xem xét để tìm ra hướng giải quyết nhằm đảm bảo cho giáo dục và quản lý giáo dục kỹ năng múa cho trẻ trường mầm non huyện Ba Vì đạt hiệu quả tốt nhất.

2.3.3 Quản lý việc kiểm tra, đánh giá thực hiện giáo dục kỹ năng múa cho học sinh tại các trường mầm non Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng múa cho học sinh mầm non.

Thực hiện tốt chức năng kiểm tra giúp cho CBQL giáo dục ở nhà trường đánh giá đúng chất lượng, hiệu quả hoạt động, tạo động lực thúc đẩy và điều chỉnh hoạt động của đối tượng quản lý và điều chỉnh ngay cả tác động quản lý của chủ thể. Khi nghiên cứu về công tác kiểm tra giáo dục kỹ năng múa cho trẻ tại các trường mầm non huyện Ba Vì cho thấy, nếu CBQL không thường xuyên làm tốt việc kiểm tra thực hiện nhiệm vụ của cơ quan, giáo viên, sẽ dẫn đến tình trạng “làm ít báo cáo nhiều”, báo cáo có tính đối phó trong hoạt động.

Cách thức xếp loại được xác định là: xếp loại tốt là những trường tiến hành kiểm tra thường xuyên, đánh giá chính xác việc tổ chức giáo dục kỹ năng múa cho trẻ và rút kinh nghiệm kịp thời; xếp loại khá là những trường có kiểm tra, đánh giá như các trường xếp loại tốt nhưng việc rút kinh nghiệm chưa thật tốt; xếp loại trung bình là những trường có kiểm tra đánh giá, rút kinh nghiệm nhưng còn mang tính hình thức; xếp loại yếu là những trường rất ít kiểm tra đánh giá rút kinh nghiệm, thậm chí chưa làm công việc này.

  • Bảng 2.8. Đánh giá của CBQL giáo dục, giáo viên về kết quả kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục kỹ năng múa cho trẻ

Qua thống kê kết quả điều tra ở bảng 2.8 cho thấy các nội dung kiểm tra việc thực hiện tích hợp giáo dục kỹ năng múa cho trẻ thông qua dạy học tại các trường mầm non huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội bước đầu đã đạt được một số kết quả thiết thực, có nội dung kiểm tra đã đi vào nền nếp như kiểm tra việc “Chuẩn bị bài giảng của giáo viên”, được 95.0% cán bộ và 97.1% giáo viên được hỏi đánh giá ở mức “khá” trở lên; nội dung kiểm tra về “Kế hoạch tổ chức các hoạt động vui chơi, dạy học để giáo dục kỹ năng múa cho trẻ”, cũng được cán bộ, giáo viên các trường đánh giá khá cao, với tỷ lệ 85.0% cán bộ và 78.6% giáo viên được hỏi trả lời là “tốt”. Bên cạnh đó, còn một số nội dung kiểm tra chưa được các cấp quản lý và chính mỗi giáo viên quan tâm đúng mức như kiểm tra “Sổ dự giờ của CBQL và giáo viên”, có tới 75.0% cán bộ và 67.1% giáo viên đánh giá hoạt động kiểm tra này đạt mức độ “trung bình”; kiểm tra việc ra “Kiểm tra kết quả giáo dục kỹ năng múa cho trẻ”, có tới 60.0% cán bộ và 51.2% giáo viên đánh giá ở mức “trung bình”; với nội dung kiểm tra việc “Chuẩn bị giáo án giáo dục kỹ năng múa thông qua chế độ sinh hoạt hàng ngày của trẻ”, đã có tới 90.0% CBQL và 78.6% giáo viên khẳng định kết quả đạt được ở mức độ “trung bình”. Điều này cho thấy sự lúng túng của CBQL giáo dục, giáo viên trực tiếp giáo dục kỹ năng múa cho trẻ trong lựa chọn, chuẩn bị nội dung giáo dục kỹ năng múa cho trẻ, chính vì vậy mà việc kiểm tra giáo án về nội dung này còn bỏ ngỏ, chỉ kiểm tra khi có tình huống xảy ra và mang tính hình thức. Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng múa cho học sinh mầm non.

Như vậy, các nội dung kiểm tra, đánh giá giáo dục kỹ năng múa cho trẻ tại các trường mầm non huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội trong thời gian vừa qua đã có những chuyển biến tích cực, có nội dung kiểm tra, đánh giá được duy trì thường xuyên song cũng có nội dung kiểm tra, đánh giá chỉ làm mang tính chiếu lệ, thậm chí mang tính hình thức, làm cho xong, cho có, điều này trực tiếp ảnh hướng đến hiệu quả quản lý giáo dục kỹ năng múa cho trẻ vì nội dung giáo dục kỹ năng múa không được biên soạn thành sách giáo khoa cụ thể, không có môn học riêng mà chỉ được lồng ghép vào các hoạt động có chủ đích, chế độ sinh hoạt hàng ngày của trẻ, Do vậy, việc kiểm tra, đánh giá đầy đủ, chính xác các nội dung quản lý sẽ tạo ra động lực thúc đẩy tính tích cực của giáo viên trong chuẩn bị và thực hành giáo dục kỹ năng múa cho trẻ.

2.4. Đánh giá chung về thực trạng quản lý giáo dục kỹ năng múa cho học sinh các trường mầm non công lập huyện Ba Vì

2.4.1 Những kết quả đạt được

Một là, giáo dục kỹ năng múa cho trẻ tại các trường mầm non huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội luôn nhận được sự quan tâm của các cấp ủy đảng, chính quyền địa phương, sự chỉ đạo trực tiếp về chuyên môn ngành giáo dục huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội, giúp cho các CBQL giáo dục, giáo viên xác định tốt ý thức trách nhiệm trong quản lý, giáo dục kỹ năng múa cho trẻ.

Hai là, cấp uỷ, chi bộ và ban giám hiệu của các trường mầm non luôn có chương trình, kế hoạch với nội dung, biện pháp lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ giáo dục nói chung, giáo dục kỹ năng múa cho trẻ nói riêng.

Ba là, các tổ chức đoàn thể của trường mầm non đã phối hợp với cơ quan chức năng của địa phương để tham mưu, phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ trong xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục kỹ năng múa cho trẻ phù hợp với độ tuổi, khả năng nhận thức, đặc điểm tâm sinh lý của trẻ ở từng độ tuổi.

Bốn là, đội ngũ CBQL, giáo viên luôn quán triệt, nhận thức đúng đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nhà nước, nhiệm vụ giáo dục của nhà trường, luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, đoàn kết thống nhất, khắc phục khó khăn trong quản lý và giáo dục kỹ năng múa cho trẻ.

2.4.2 Hạn chế và nguyên nhân Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng múa cho học sinh mầm non.

2.4.2.1 Hạn chế

Nhận thức của CBQL và giáo viên các trường mầm non huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội về nội dung quản lý giáo dục kỹ năng múa cho trẻ là tương đối cao, song công tác tuyên truyền để giáo viên và phụ huynh hiểu về vị trí, vai trò, tác dụng của giáo dục kỹ năng múa đối với sự phát triển toàn diện của trẻ thì chưa được làm tốt. Chính vì vậy, đã dẫn đến tình trạng có sự nhận thức chưa đầy đủ của giáo viên, sự hạn chế trong nhận thức của cha, mẹ trẻ đối với vai trò của giáo dục kỹ năng múa. Một số CBQL giáo dục tại các trường mầm non huyện Ba Vì còn đặt việc quản lý giáo dục kỹ năng múa cho trẻ vào vị trí thứ yếu, chỉ lồng ghép vào các hoạt động là chủ yếu, chưa quan tâm đến việc tích hợp giáo dục kỹ năng múa thông qua dạy học, tổ chức các trò chơi, hoạt động ngoại khóa, nên dẫn đến chưa có biện pháp chỉ đạo thường xuyên đối với giáo viên trong giáo dục kỹ năng múa trẻ.

Một số CBQL ở một số trường mầm non huyện Ba Vì chưa chủ động xây dựng chương trình, kế hoạch chi tiết cho hoạt động giáo dục kỹ năng múa cho trẻ, còn biểu hiện làm qua loa đại khái, mang nặng tính hình thức. Việc bồi dưỡng nghiệp vụ giáo dục kỹ năng múa cho giáo viên chưa tốt, vì có CBQL giáo dục cho việc bồi dưỡng kiến thức về giáo dục kỹ năng múa là không cần thiết, do coi giáo dục kỹ năng múa là thứ yếu nên việc kiểm tra đánh giá của người quản lý chỉ là hình thức, chưa đánh giá thực chất để rút kinh nghiệm cho các hoạt động sau làm tốt hơn.

Trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ giáo dục kỹ năng múa cho trẻ, một số giáo viên chưa đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu về nội dung, hình thức tổ chức giáo dục cho phù hợp với sự đổi mới của xã hội hiện nay. Công tác quản lý giáo dục kỹ năng múa của một số cán bộ còn thể hiện sự gò bó, chưa có sự sáng tạo, đổi mới, chưa phù hợp tình hình thực tiễn của nhà trường và đặc điểm, tâm lý của trẻ mầm non.

Mặc dù công tác quản lý giáo dục kỹ năng múa cho trẻ đã được các trường và cơ quan chuyên trách về giáo dục của địa phương chú trọng, CBQL giáo dục, giáo viên đã sử dụng nhiều biện pháp quản lý song cơ sở vật chất cũng như nguồn tài chính bảo đảm cho hoạt động giáo dục kỹ năng múa cho trẻ mầm non còn hạn chế nên hiệu quả giáo dục kỹ năng múa chưa đạt được kết quả như kỳ vọng của các cấp quản lý giáo dục và phụ huynh học sinh.

2.4.2.2. Nguyên nhân Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng múa cho học sinh mầm non.

Một số CBQL giáo dục ở trường mầm non, giáo viên, cha mẹ trẻ chưa thật sự nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của giáo dục kỹ năng múa cho trẻ. Kế hoạch dạy học, giáo dục của một số trường mầm non chưa thể hiện rõ, đầy đủ từng nội dung giáo dục kỹ năng múa cho trẻ ở từng giai đoạn phát triển của trẻ. Một số giáo viên thiếu sự năng động, tìm tòi sáng tạo trong các hoạt động giáo dục kỹ năng múa cho trẻ. Quá trình giáo dục kỹ năng múa cho trẻ của giáo viên mới chỉ dừng lại ở mức độ nhất định, chưa thấy được vai trò tích hợp của việc tổ chức các hoạt động vui chơi, dã ngoại để giáo dục, rèn luyện kỹ năng múa cho trẻ.

Hoạt động giáo dục kỹ năng múa cho trẻ tại các trường mầm non huyện Ba Vì chưa được đầu tư đúng mức về nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức giáo dục, chưa phát huy hết vai trò của các lực lượng giáo dục trong nhà trường để giáo dục, rèn luyện kỹ năng múa cho trẻ. Bên cạnh đó, có hoạt động giáo dục kỹ năng múa cho trẻ còn chạy theo phong trào, thiếu đầu tư và mục đích tổ chức nên chưa phát huy hiệu quả.

Công tác quản lý giáo dục kỹ năng múa cho trẻ tại các trường mầm non huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội vẫn còn mang tính hình thức, thiếu kế hoạch chiến lược. Công tác kiểm tra, đánh giá chưa đảm bảo tính thường xuyên nên những tồn tại, thiếu sót không được kịp thời khắc phục.

Năng lực của giáo viên, nhân viên trực tiếp giáo dục kỹ năng múa cho trẻ tại các trường mầm non còn có mặt yếu kém, thực hiện giáo dục kỹ năng múa cho trẻ còn mang tính kinh nghiệm, vốn sống, tự phát nên hiệu quả giáo dục kỹ năng múa cho trẻ chưa cao.

Công tác tuyên truyền về tầm quan trọng, tính cấp thiết của việc giáo dục kỹ năng múa cho trẻ chưa sâu rộng đến từng gia đình, phụ huynh của trẻ nên việc phối hợp giáo dục kỹ năng múa cho trẻ còn gặp nhiều bất cập và thiếu sự hợp tác.

Tiểu kết chương

Trong chương 2, tác giả đã tiến hành khảo sát thực trạng giáo dục kỹ năng múa và quản lý giáo dục kỹ năng múa cho trẻ tại các trường mầm non huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội. Kết quả nghiên cứu cho thấy, công tác giáo dục kỹ năng múa cho trẻ tại các trường mầm non huyện Ba Vì, bước đầu đã được cơ quan chức năng, CBQL nhà trường, giáo viên và cha, mẹ của trẻ quan tâm một cách nghiêm túc. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân cả về chủ quan lẫn khách quan nên việc quản lý giáo dục kỹ năng múa cho trẻ chưa đồng bộ và chưa đạt được hiệu quả cao. Hiện nay, sự quan tâm giáo dục kỹ năng múa cho trẻ tại các trường mầm non huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội vẫn chưa đầy đủ, toàn diện trên tất cả các nội dung, dẫn đến công tác quản lý giáo dục kỹ năng múa cho trẻ còn hạn chế, các biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng múa cho trẻ chưa thiết thực, chưa mang tính khả thi. Do vậy, để khắc phục tình trạng này đòi hỏi CBQL giáo dục của nhà trường phải nghiên cứu để tìm ra những biện pháp mang tính khoa học, đồng bộ, có tính khả thi để quản lý có chất lượng giáo dục kỹ năng múa cho trẻ. Từ nghiên cứu cơ sở lý luận và phân tích thực trạng giáo dục kỹ năng múa cho trẻ và quản lý giáo dục kỹ năng múa cho trẻ tại các trường mầm non huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội là cơ sở để tác giả xây dựng các biện pháp quản lý giáo dục kỹ năng múa cho trẻ tại các trường mầm non huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội một cách cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục kỹ năng múa cho trẻ tại các trường mầm non trong những năm tới. Đây là nội dung được trình bày ở chương 3. Luận văn: Thực trạng giáo dục kỹ năng múa cho học sinh mầm non.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Biện pháp giáo dục kỹ năng múa cho học sinh mầm non

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537