Luận văn: Thực trạng giám sát rủi ro tín dụng tại Ngân hàng VIB

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng giám sát rủi ro tín dụng tại Ngân hàng VIB hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thực trạng giám sát rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Quốc Tế Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1 GIỚI THIỆU VỀ NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM

2.1.1 Giới thiệu về Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam

Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam, tên viết tắt là Ngân hàng Quốc tế (VIB) được thành lập và hoạt động theo Giấy phép Số 95/GP-NHNN ngày 28.09.2020 (thay thế Giấy phép hoạt động số 0060/NH-GP cấp ngày 25.01.1996) được sử đổi bởi các các Quyết định số 2017/QĐ-NHNN ngày 16/10/2020, Quyết định số 2240/QĐ-NHNN ngày 14.11.2020, Quyết định số 1313/QĐ-NHNN ngày 06.08.2023. Hiện tại, trụ sở VIB đặt tại 16 Phan Chu Trinh, Q. Hoàn Kiếm, Hà Nội.

Tính đến 31.12.2023, VIB đã trở thành một trong những ngân hàng TMCP hàng đầu Việt Nam với vốn điều lệ 15.531 tỷ đồng bao gồm 1 Hội sở chính, 166 đơn vị kinh doanh gồm 01 Hội sở chính, 52 chi nhánh, 113 phòng giao dịch tại các tỉnh, thành phố trên cả nước và 01 công ty con. Trong đó, số lượng cán bộ nhân viên VIB đạt 10.000 người.

2.1.2 Sơ đồ tổ chức tại Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam

Sơ đồ tổ chức tại Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam đứng đầu bộ máy quản trị và kiểm soát là Đại hội đồng cổ đông. Ngoài ra, VIB có một công ty con 100% vốn sở hữu là công ty TNHH Quản lý nợ và khai thác tài sản – Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam (VIB AMC)

Hình 2.1: Sơ đồ tổ chức

2.1.3 Kết quả kinh doanh của Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam Tổng tài sản

Biểu đồ 2.1: Tổng tài sản giai đoạn 12/2020 – 06/2024

Tổng tài sản tại thời điểm 31/12/2023 đạt 309.517 tỷ đồng, tăng trưởng 26.5% so với năm 2022 là 244.676 tỷ đồng. Trong đó, tài sản Có sinh lời tăng 26.5%. Vốn chủ sở hữu đạt 24.291 tỷ đồng, chủ yếu tăng từ nguồn vốn điều lệ.

Trong giai đoạn 2020 – 06/2024, các hoạt động chuyển đổi chiến lược và phát triển kinh doanh tập trung đã cho thấy tính hiệu quả, điều đó thể hiện quan tổng tài sản của ngân hàng tăng thêm 208.857 tỷ đồng. Tổng tài sản của ngân hàng được xem như là tổng sản phẩm nội địa (GDP -Gross Domestic Product) của một quốc gia. Bởi nó phản ánh một cách đầy đủ tất cả các giá trị của ngân hàng bao gồm và quan trọng hơn hết đó chính là khách hàng và thị phần. Ngân hàng có thể giảm lợi nhuận trong ngắn hạn, nhưng nếu để mất khách hàng và thị phần thì bước thụt lùi này sẽ ảnh hưởng mang tính lâu dài và rất khó để ngân hàng có thể khôi phục lại tình trạng ban đầu Luận văn: Thực trạng giám sát rủi ro tín dụng tại Ngân hàng VIB.

2.1.3.1 Hoạt động huy động vốn

Biểu đồ 2.2: Tổng nguồn vốn huy động giai đoạn 12/2020 – 06/2024

Tổng nguồn vốn huy động của VIB tại thời điểm 30/06/2024 đạt 313.191 tỷ đồng, trong đó huy động từ Tổ chức kinh tế và dân cư đạt 197.169 tỷ đồng chiếm tỷ lệ 62.95% so với đầu năm (bao gồm huy động từ khối cá nhân đạt 128.283 tỷ đồng chiếm 65.06% và huy động từ khối doanh nghiệp đạt 68.886 tỷ đồng chiếm 34.94% tỷ trọng). Tỷ lệ CASA (Current Account Savings Account), tăng từ 11.89% (năm 2022) lên 16.1%, thuộc nhóm các ngân hàng niêm yết có tỷ lệ CASA cao, góp phần nâng cao hiệu quả kinh doanh. Trong giai đoạn vừa qua, VIB luôn tạo được hình ảnh, sự uy tín và trách nhiệm trong việc truyền tải những giá trị, chất lượng dịch vụ để mang đến sự hài lòng tuyệt đối cho khách hàng khi giao dịch tại VIB, thu hút rất nhiều nguồn vốn huy động từ cá nhân cho đến tổ chức. Minh chứng cho điều này đó chính là tổng nguồn vốn huy động liên tục tăng trong giai đoạn 2020–06/2024 từ 125.288 tỷ đồng lên 313.191 tỷ đồng.

Cũng theo chiến lược chuyển đổi, huy động tiền gửi của khách hàng cá nhân là động lực chính với số dư tăng gần gấp 4 lần, tăng trưởng kép gần 30%/năm. Hiện số dư tiền gửi cửa khách hàng cá nhân chiếm hơn 66% tiền gửi khách hàng tại VIB. Tiền gửi không kỳ hạn ghi dấu ấn tích cực với mức tăng 54% trong năm 2023, trong đó tiền gửi không kỳ hạn của khách hàng cá nhân tăng trưởng tốt, đạt 63% so với đầu năm. Kết quả này đến từ việc gia tăng nhanh chóng lượng khách hàng tham gia Ngân hàng số MyVIB và nhóm khách hàng trả lương qua tài khoản trong năm vừa qua.

2.1.3.2 Hoạt động tín dụng

Biểu đồ 2.3 : Dư nợ tín dụng giai đoạn 12/2020 – 06/2024

Dư nợ tín dụng đạt 201.517 tỷ đồng tại thời điểm 31/12/2023, tăng 31.997 tỷ đồng (18.87%) so với đầu năm. Tăng tỷ trọng ở các phân khúc có hiệu quả sinh lời cao và an toàn: tăng 50.57% tỷ trọng cho vay ngắn hạn, giảm 14.5% tỷ trọng cho vay trung hạn. Tăng trưởng tín dụng vẫn đang phát triển mạnh mẽ và tập trung chủ yếu vào khách hàng. Đóng góp trong tỷ trọng dư nợ vay toàn hàng của VIB thì khối cá nhân vẫn chiếm tỷ trọng cao, đạt 174.771 tỷ đồng chiếm 86.73% và khối doanh nghiệp chiếm 13,27% đạt hơn 26.745 tỷ đồng.Trong giai đoạn 2020 –2023, dư nợ tín dụng của VIB tăng đều qua các năm, bình quân mỗi năm tăng 148.874 tỷ đồng. Điều này cũng cho thấy, khách hàng luôn tin tưởng và lựa chọn VIB làm nhà cung cấp vốn cho mình.

Tính đến tháng 06/2024, dư nợ tín dụng đạt 221.720 tỷ, tăng 20.203 tỷ đồng (10.02%) so với đầu năm. Hoạt động cho vay ngắn hạn đang mang lại hiệu quả cao và an toàn tăng 15.35%, hoạt động cho vay kinh doanh bất động sản không được tập trung nhiều và đang cho thấy sự sụt giảm khi chỉ tăng 1.73%, giảm 7.73% hoạt động cho vay trung hạn.

Từ khi đại dịch Covid-19 xuất hiện tại Việt Nam, VIB là một trong các ngân hàng đàu tiên đưa ra gói hỗ trợ cho cả khoản vay hiện hữu và khoản vay mới, với các mức lãi suất hỗ trợ lên đến 2,0%. Tính đến cuối năm 2023, VIB thực hiện cơ cấu cho gần 25 nghìn khách hàng, đạt tỷ lệ 98% tính trên tổng số đơn đề nghị cơ cấu nợ của khách hàng. Ngân hàng thực hiện giảm lãi suất đối với dư nợ hiện hữu cho 17 nghìn khách hàng chịu ảnh hưởng bởi dịch, mức giảm lãi suất từ 0,5% đến 2%.

Từ năm 2023 đến tháng 06/2024, tỷ lệ tăng trưởng kép mảng tín dụng khoảng 25%/năm, quy mô tăng gấp 3 lần. Trong đó, theo định hướng và chiến lược chuyển đổi, tỷ lệ cho vay bán lẻ có sự dịch chuyển ấn tương từ khoảng 20% tổng danh mục đầu năm 2018 lên tới gần 90% tính đến thời điểm cuối năm 2023. Về quy mô, số dư cho vay bán lẻ đã tăng hơn 6.5 lần.

Hiện tại, VIB đang là ngân hàng có tỷ lệ cho vay bán lẻ cao nhất và có tỷ lệ tăng trưởng mạnh mẽ nhất trong top 5 các ngân hàng TMCP tư nhân đang niêm yết, tuy nhiên hiện tại tỷ trọng dư nợ cá nhân trung dài hạn vẫn chiếm tỷ lệ cao. Trong tình hình kinh tế đang có nhiều biến động thì tỷ trọng cho vay trung dài hạn chiếm tỷ lệ cao sẽ ảnh hưởng đến khả năng thu hồi nợ của ngân hàng. Việc cơ cấu tín dụng tập trung vào khách hàng cá nhân, dẫn đến công tác giám sát rủi ro tín dụng sẽ không đạt được hiệu quả vì bị chi phối nhiều bởi một hệ khách hàng nhất định khi tỷ trọng đóng góp sinh lời của hệ khách hàng này quá lớn vào lợi nhuận tổng của ngân hàng.Từ đó sẽ phát sinh lỗ hỏng trong công tác quản trị rủi ro tín dụng với lý do tạo mọi điều kiện nhằm giữ chân khách hàng. Luận văn: Thực trạng giám sát rủi ro tín dụng tại Ngân hàng VIB.

2.1.3.3 Lợi nhuận trước thuế

Biểu đồ 2.4: Lợi nhuận trước thuế giai đoạn 12/2020 – 06/2024

Năm 2023, một năm với nhiều biến động khi kinh tế chỉ mới bước vào giai đoạn phục hồi sau đại dịch Covid -19, lợi nhuận trước thuế vượt kế hoạch đề ra đạt 8.011 tỷ đồng, tương đương 106.67% so với kế hoạch và tăng 38% so với năm 2022. Chỉ số hiệu suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu, ROE đạt hơn 30.6%, tăng 0,6% so với năm trước. Trong đó, tổng thu nhập hoạt động đạt gần 15.000 tỷ đồng, tăng 33% so với năm trước. Thu nhập lãi thuần đạt 12.000 tỷ đồng, tăng mạnh 39% nhờ biên lãi ròng (NIM) được nới rộng lên 4,4% thông qua tối ưu hóa chi phí sử dụng vốn, giảm đến 1,1% so với năm 2022. Bên cạnh đó, với thị phần hàng đầu trong nhiều mảng sản phẩm dịch vụ như bancassurance và thẻ, tỷ trọng thu nhập từ phí của VIB luôn trong nhóm đầu ngành, đóng góp gần 20% trong tổng thu nhập hoạt động.

2.1.3.4 Nợ xấu

Biểu đồ 2.5: Tỷ lệ nợ xấu giai đoạn 12/2020 – tháng 06/2024

Nợ xấu là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng tín dụng của các ngân hàng, từ đó có thể thấy được sức khỏe tài chính, kỹ năng quản trị rủi ro… của ngân hàng đó. Việc tăng trưởng tín dụng mạnh mẽ từ năm 2020 – 2023 dẫn đến nợ xấu cũng đang gia tăng theo từng năm. Trong năm 2023, nợ xấu gia tăng từ 2.957 tỷ đồng – 4.670 tỷ đồng, tăng 57.93% so với đầu năm. Điều này cho thấy chất lượng tín dụng tại ngân hàng cần phải được giám sát và quan tâm nhiều hơn nữa. Bởi những rủi ro không lường trước khi tình hình kinh tế xảy ra biến động thì nợ xấu sẽ còn gia tăng mạnh.

Ngoài ra, phải thấy rằng nợ cần chú ý (nợ nhóm 2) gia tăng từ mức 2.528 tỷ đồng lên 5.289 tỷ đồng, tăng mạnh 109.21% so với đầu năm, một con số đáng báo động về tình trạng nợ quá hạn. Tính đến tháng 06/2024, nợ cần chú ý đạt mức 6.237 tỷ đồng. Bên cạnh đó, nợ xấu có khả năng mất vốn (nợ nhóm 5) của năm  2023 đạt mức 1.319 tỷ đồng, giảm 17.25% so với đầu năm chứng tỏ công tác thu hồi nợ đang được ngân hàng đẩy mạnh. Tính đến tháng 6/2024, nợ nhóm 5 đạt mức 2.210 tỷ đồng.

Việc nợ xấu tiếp tục gia tăng khiến ngân hàng phải tăng tỷ lệ trích lập dự phòng. Năm 2023, tỷ lệ bao nợ xấu đạt mức 2.400 tỷ đồng, tăng 37.3% so với đầu năm. Đến tháng 06/2024, mức dự phòng rủi ro của VIB đã tăng lên 2.935 tỷ đồng.

Thực trạng này cho thấy, trước những biến động của kinh tế thế giới, tình hình vĩ mô trong nước cũng đang gặp nhiều khó khăn thì ngân hàng đang phải đối mặt với việc gia tăng nợ xấu. Do đó, điều cần thiết lúc này là phải tăng cường giám sát chất lượng tín dụng để giảm thiểu rủi ro cũng như tránh cho lợi nhuận bị bào mòn bởi các khoản trích lập dự phòng.

2.2 THỰC TRẠNG GIÁM SÁT RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN GÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM. Luận văn: Thực trạng giám sát rủi ro tín dụng tại Ngân hàng VIB.

VIB thiết lập hệ thống quản lý rủi ro theo mô hình 03 tuyến bảo vệ, tuân thủ theo Thông tư 13/2020/TT-NHNN quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng thương mại, chi nhánh, ngân hàng nước ngoài (Thông tư 13)

 Tuyến bảo vệ thứ nhất có chức năng nhận dạng, kiểm soát và giảm thiểu rủi ro trong các hoạt động, quy trình tác nghiệp hàng ngày do các bộ phận sau thực hiện: (i) Khối Ngân hàng bán lẻ, Khối Khách hàng doanh nghiệp, Khối Nguồn vốn và ngoại hối, Khối Dịch vụ vận hành, Khối Dịch vụ công nghệ ngân hàng, Trung tâm chuyển đổi số, Khối dịch vụ nội bộ, Ban nhân sự, Ban dịch vụ tài chính.

  • Trách nhiệm cụ thể:

Phân bổ hạn mức rủi ro đối với từng loại hình giao dịch, hoạt động kinh doanh, nghiệp vụ cụ thể trên cơ sở tuân thủ khẩu vị rủi ro, chiến lược quản lý rủi ro do Hội đồng quản trị phê duyệt và nhận dạng, theo dõi, kiểm soát rủi ro phát sinh theo từng hạn mức rủi ro đã được phân bổ.

Thực hiện phát hiện, giám sát rủi ro thông qua việc tiếp nhận các dấu hiệu tiềm ẩn rủi ro từ nguồn nội bộ, giám sát từ xa, kiểm tra trực tiếp (nếu cần thiết), phối hợp với Tuyến bảo vệ thứ hai để tối ưu hóa nguồn lực.

Báo cáo sự cố và điểm yếu kiểm soát, phân tích nguyên nhân, đề xuất và theo dõi các hành động giảm thiểu rủi ro.

Tiếp nhận thông tin các sự cố vi phạm từ Tuyến bảo vệ thứ hai, Tuyến bảo vệ thứ ba và nội bộ Khối/Ban, phân tích nguyên nhân, làm việc trực tiếp tại đơn vị nếu cần, áp dụng chế tài kỷ luật các cán bộ vi phạm, theo dõi hành động khắc phục.

Thực hiện quy trình tự đánh giá rủi ro chốt kiểm soát (RCSA), giám sát các chỉ số rủi ro trọng yếu (KRIs) và đề xuất hành động phù hợp

Thực hiện các báo cáo quản lý RRHĐ và báo cáo kiểm soát nội bộ theo yêu cầu của Tuyến bảo vệ thứ hai và Tuyến bảo vệ thứ ba theo định kỳ và đột xuất (nếu có) Luận văn: Thực trạng giám sát rủi ro tín dụng tại Ngân hàng VIB.

Các bộ phận thực hiện hoạt động tư vấn pháp luật thuộc GC thực hiện hoạt động tư vấn theo quy định về Chức năng nhiệm vụ của GC và các văn bản sửa đổi, thay thế hoặc bổ sung (nếu có).

Tuyến bảo vệ thứ hai có chức năng xây dựng chính sách quản lý rủi ro, quy định nội bộ về quản trị rủi ro, đo lường, theo dõi rủi ro và giám sát tuân thủ quy định pháp luật do các bộ phận sau đây thực hiện: các phòng ban liên quan thuộc Khối quản trị rủi ro (Kiểm soát tuân thủ, Chính sách tín dụng), Phòng Quản lý Tuân thủ và các bộ phận thực hiện chức năng xây dựng/ thẩm định chính sách, quy định nội bộ thuộc Ban Pháp chế và quản trị doanh nghiệp.

Khối Quản trị rủi ro có chức năng:Xác định khẩu vị rủi ro, hạn mức rủi ro, đồng thời hỗ trợ HĐQT giám sát việc tuân thủ các hạn mức rủi ro này; phân tích, nhận biết sớm rủi ro và nguy cơ vi phạm hạn mức rủi ro, đề xuất điều chỉnh hạn mức rủi đưa ra những cảnh báo về mức độ an toàn của ngân hàng trước những nguy cơ, tiềm ẩn rủi ro có thể ảnh hưởng và biện pháp xử lý, phòng ngừa đối với các rủi ro này trong ngắn hạn cũng như dài hạn làm cơ sở để Tuyến bảo vệ thứ nhất thực hiện

Phòng Quản lý Tuân thủ với chức năng chính tư vấn pháp lý cho tất cả các đơn vị trong hệ thống VIB. Bao gồm 4 bộ phận: bộ pháp pháp lý lập quy; pháp lý tư vấn; pháp lý nước ngoài; phòng chống rửa tiền.

Ban Kiểm tra nội bộ: thực hiện việc theo dõi, giám sát tính tuân thủ quy định nội bộ đối các đơn vị Chi nhánh/PGD toàn hệ thống VIB trong công tác cấp tín dụng và kế toán

Tuyến bảo vệ thứ ba có chức năng kiểm toán nội bộ do Trung tâm kiểm toán nội bộ (KTNB) thuộc Ban Kiểm soát (BKS) sẽ kiểm tra, đánh giá một cách độc lập, khách quan về việc thực thi các quy định quản lý rủi ro của các bộ phận có liên quan theo quy định về kiểm toán nội bộ do Ban Kiểm soát của VIB ban hành và thông tư 13/2020/TT-NHNN và các văn bản sửa đổi, thay thế hoặc bổ sung (nếu có).

Hoạt động của hệ thống kiểm soát – kiểm toán nội bộ phát huy hiệu quả nhờ việc tăng cường về nguồn lực, hoàn thiện cơ chế để có thể đáp ứng được các yêu cầu về quản trị và giám sát toàn diện các hoạt động kinh doanh, hoạt động quản trị và điều hành. VIB chú trọng nâng cao chất lượng trên cơ sở áp dụng hệ thống công nghệ ngân hàng hiện đại, nhằm phát hiện những rủi ro tiềm ẩn và biện pháp ngăn chặn kịp thời. Luận văn: Thực trạng giám sát rủi ro tín dụng tại Ngân hàng VIB.

Theo báo cáo thường niên năm 2023, VIB luôn chấp hành và thực hiện nghiêm túc 17 nguyên tắc để tăng cường thực hiện giám sát rủi ro tín dụng, đồng bộ, nhất quán theo Thông tư 13/2020/TT-NHNN thông qua việc vận hành theo mô hình 3 tuyến bảo vệ. Rủi ro được quản trị theo tiêu chuẩn Basel nhằm giám sát và báo cáo kịp thời. Thực hiện phân bổ, đo lường, giám sát rủi ro đối với từng loại hình giao dịch, hoạt động kinh doanh, nghiệp vụ cụ thể trên cơ sở tuân thủ khẩu vị rủi ro, chiến lược quản lý rủi ro. Tùy vào từng giai đoạn và chu kỳ kinh tế mà Ban lãnh đạo sẽ đề xuất phương án cũng như ban hành các văn bản về chính sách tín dụng nhằm đáp ứng định hướng quả trị rủi ro hiệu quả và phát triển kinh doanh bền vững tại VIB. VIB cần chú trọng xây dựng và nâng cấp mô hình chấm điểm để định lượng rủi ro của khách hàng trong quá trình chọn lọc khách hàng tốt từ đầu vào và quản lý khách hàng sau khi giải ngân. VIB thường xuyên rà soát và điều chỉnh thẩm quyền phê duyệt tín dụng đảm bảo quản trị tốt chất lượng tín dụng và phù hợp với thực tế nô hình hoạt động kinh doanh của từng khối. Tuy nhiên, việc cấp hạn mức phê duyệt tín dụng tại Đơn vị kinh doanh trong giai đoạn đẩy mạnh hoạt động tín dụng điều này dẫn đến nhiều hồ sơ không đủ điều kiện (khách hàng không có nguồn thu nhập ổn định, tài sản được đánh giá thanh khoản kém, …) vẫn được các Đơn vị kinh doanh đồng ý thông qua dẫn đến nhiều rủi ro tiềm tàng có thể phát sinh trong tương lai.

2.2.1 Các quy định liên quan giám sát rủi ro tín dụng của Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam

2.2.1.1 Cơ sở pháp lý xây dựng chiến lược quản trị rủi ro tín dụng bao gồm giám sát rủi ro tín dụng

NHNN thực hiện tiến hành đề án tái cấu trúc hệ thống ngân hàng trong với định hướng quản trị rủi ro tín dụng theo hướng tiếp  cận với Basel  II, bao  gồm: Thông tư 02/2015/TT-NHNN “qui định về phân loại tài sản có, mức trích và sử  dụng dự phòng RRTD trong  hoạt động  của các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài”; Thông tư 19/2015/TT-NHNN “qui định về việc mua bán và xử lý nợ xấu của Công ty quản lý tài sản của các TCTD Việt nam”; Thông tư 09/2016/TTNHNN “sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 02/2015/NHNN; Thông tư 22/2021/TT-NHNN về quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; Thông tư số 41/2018/TTNHNN  ngày  30  tháng 12 năm 2018 của  Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài…Những văn bản pháp lý được ban hành đã giúp cho các NHTM tăng cường nhận thức về tầm quan trọng của quản trị rủi ro tín dụng, từ đó, áp dụng các phương pháp quản trị rủi ro tín dụng trong quá trình hoạt động của mình.

2.2.1.2 Nội dung cơ bản trong chiến lược quản trị rủi ro tín dụng bao gồm giám sát rủi ro tín dụng của VIB

VIB với định hướng chiến lược kinh doanh trở thành Ngân hàng bán lẻ hàng đầu, luôn xây dựng chính sách phát triển phù hợp với từng giai đoạn, nhằm tạo ra chiến lược cạnh tranh có tính dài hạn và đặt khách hàng là trọng tâm. Nhận thức được đặc điểm hoạt động và tập trung chủ yếu vào mảng kinh doanh bán lẻ cốt lõi. Năm 2023, bán lẻ tiếp tục là động lực phát triển chính với mức tăng trưởng tín dụng đạt 24% so với đầu năm, đóng góp gần 90% danh mục tín dụng (95% có tài sản đảm bảo). Nhờ đó, VIB tiếp tục khẳng định vị thế ngân hàng có tỷ trọng bán lẻ thuộc top đầu thị trường với danh mục chất lượng cao và tăng trưởng mạnh mẽ. Trong đó, vay mua ô tô, bảo hiểm, thẻ tín dụng là những sản phẩm dịch vụ chủ lực của Ngân hàng, hiện giữ thị phần đáng kể. Bên cạnh đó, VIB còn ban hành văn bản nội bộ về định hướng phát triển theo hướng ngân hàng bán lẻ. Dựa trên định hướng đó, VIB xây dựng chiến lược quản trị RRTD theo hướng đồng bộ, có chiều sâu trên toàn ngân hàng VIB. Việc xây dựng chiến lược quản trị  RRTD do hội đồng quản trị ban hành theo định kỳ hoặc khi có biến động thị trường. Cơ sở để xây dựng chiến lược quản  trị RRTD là dựa trên chiến lược hoạt động kinh doanh, đề xuất của Tổng giám đốc. Chiến lược quản trị RRTD, được ban hành theo nội dung văn bản nội bộ số 0045.RSK về quy định đảm bảo tín dụng, quy định 1046.RSK (2024) về điều kiện nhận và tỷ lệ cấp tín dụng tối đa trên giá trị Tài sản bảo đảm cho khách hàng thuộc Khối ngân hàng bán lẻ, giúp các chi nhánh nắm được khẩu vị rủi ro cũng như định hướng phát triển hoạt động tín dụng để giám sát RRTD theo đúng các mục tiêu đề ra trong từng giai đoạn, từng thời kỳ phát triển của NH. VIB củng cố và ban hành quy chế về quản lý RRTD nhằm đảm  bảo  tính  thống  nhất  về quản  trị RRTD  trong  toàn  hệ thống VIB. Dấu mốc quan trọng của VIB trong việc chú trọng đến quản trị rủi ro nói chung và quản trị RRTD nói riêng. Trên cơ sở những thay đổi trong quy định pháp luật, môi trường kinh doanh, đặc biệt là nâng cao dần năng lực quản trị rủi ro theo thông lệ quốc tế Basel II, VIB luôn có những điều chỉnh bổ sung quy chế về quản lý RRTD cho thấy mức độ cập nhật thường xuyên trong quy chế quản lý RRTD của mình. Luận văn: Thực trạng giám sát rủi ro tín dụng tại Ngân hàng VIB.

Về nội dung, quy chế ban hành có đầy đủ các nội dung về quy định chung, cơ cấu tổ chức quản lý RRTD với trách nhiệm của từng bộ phận liên quan từ cấp Hội sở đến chi nhánh. Đồng thời, quy chế này cũng trình bày chi tiết, cụ thể nội dung liên quan đến quản trị RRTD và cuối cùng là các điều khoản thi hành. Đặc biệt, quy chế quy định rõ thẩm quyền phán quyết tín dụng theo từng cấp đơn vị kinh doanh, các tiêu chí cấp tín dụng, giới hạn cấp tín dụng, XHTNNB, bảo đảm tín dụng và giám sát RRTD trong quá trình cấp tín dụng cho từng khách hàng và quản trị danh mục tín dụng chung. Ngoài ra, quy chế cũng quy định các nội dung về tái thẩm định tín dụng, phân loại nợ, trích lập dự phòng RRTD, cách thức xử lý nợ có vấn đề và cơ sở hệ thống thông tin quản lý. XHTNNB được đề cập trong quy chế quản lý RRTD đồng thời còn ban hành văn bản nội bộ hướng dẫn chi tiết các nội dung trong XHTNNB tại VIB. Đây là nội dung quan trọng giúp cho các đơn vị kinh doanh đo lường mức độ rủi ro của khách hàng từ đó, ra quyết định, xác định các biện pháp hạn chế rủi ro và giám sát tín dụng. Trong văn bản hướng dẫn XHTNNB,  VIB  phân  chia  khách  hàng  thành  3  nhóm  khác nhau gồm nhóm khách hàng doanh nghiệp, nhóm khách hàng cá nhân và nhóm khách hàng là các định chế tài chính. Tùy theo đặc điểm của mỗi nhóm khách hàng, VIB xây dựng các tiêu chí đánh giá phù hợp. Các tiêu chí bao gồm các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính nhằm đo lường RRTD của khách hàng. Mỗi tiêu chí được xác định trọng số tương ứng nhằm thể hiện mức độ quan trọng của các chỉ tiêu trong quá trình chấm điểm XHTNNB. Đối với khách hàng doanh nghiệp được xây dựng hệ thống XHTNNB theo ngành nghề và quy mô. Đối với khách hàng cá nhân thì có 1 hệ thống XHTNNB chung dựa trên các tiêu chí được xây dựng liên quan đến đặc điểm của khách hàng cá nhân như tuổi, tình trạng hôn nhân, kinh nghiệm làm việc, thu nhập…Căn cứ vào tổng số điểm đạt được mà khách hàng sẽ được phân loại vào một trong 5 mức xếp hàng từ mức thấp nhất D đến mức cao nhất AAA. Sự phân hàng này về cơ bản phù hợp với cách thức phân hạng theo quy định của NHNN cũng như hướng đến phù hợp với thông lệ quốc tế. Việc xây dựng chi tiết hệ thống XHTNNB đã giúp VIB nâng cao được hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng, chủ động hơn trong việc xử lý các khoản nợ có vấn đề để đảm bảo chất lượng tín dụng theo mục tiêu xác định. Quy trình xếp hạng cũng được xây dựng chặt chẽ với việc phân quyền theo từng cấp người sử dụng (user) và có chuẩn thời gian thực hiện cho hồ sơ thông thường là 02 tiếng. Kết quả xếp hạng tín dụng được trình bày trong báo cáo đánh giá khách hàng của Phòng Quan hệ khách hàng kết hợp với báo cáo thẩm định của Phòng Thẩm định sẽ giúp cho cấp có thẩm quyền ra quyết định tín dụng phù hợp với chính sách tín dụng cũng như chính sách quản lý rủi ro tín dụng từng thời kì. Các bước trong quy trình tín dụng của VIB đầy đủ 6 bước từ khi tiếp nhận hồ sơ đề nghị cấp tín dụng cho đến khi thanh lý tín dụng. Trong từng bước, VIB quy định rõ công việc, quyền hạn, nhiệm vụ của từng vị trí công việc, từng bộ phận tham gia vào hoạt động tín dụng.

Hệ thống phê duyệt tín dụng tại VIB được phân thành nhiều cấp, trong đó, cấp thấp nhất là giám đốc chi nhánh và cao nhất là HĐQT trong một số trường hợp đặc biệt được quy định cụ thể. Mỗi món vay, ngân hàng sẽ tiến hành thẩm định các yếu tố định tính và định lượng, kết hợp với chấm điểm xếp hạng tín dụng nội bộ trước khi ra quyết định tín dụng.Hiện nay những khách hàng được cấp tín dụng khi có kết quả xếp hạng từ BB trở lên và được đề xuất cấp tín dụng. Sau khi có quyết định tín dụng, bộ phận hỗ trợ tín dụng phụ trách soạn thảo văn bản pháp lý liên quan và thực hiện các thủ tục theo quy định. Nhân viên tín dụng sẽ xử lý các nghiệp vụ phát sinh khi khách có nhu cầu giải ngân sau khi ký hợp đồng tín dụng, bộ phận ngân quỹ sẽ thực hiện giải ngân cho khách hàng. Quá trình giám sát khoản vay sau giải ngân cũng do nhân viên tín dụng phụ trách. Như vậy, VIB đã ban hành khá đầy đủ các quy định nội bộ liên quan đến hoạt động quản trị RRTD, bao gồm giám sát RRTD để chuẩn hóa các hoạt động tín dụng, nhằm kiểm soát RRTD ở mục tiêu đã đề ra, đáp ứng yêu cầu của NHNN cũng như dần tiếp cận với việc quản lý rủi ro theo tiêu chuẩn Basel II

2.2.2 Tổ chức bộ máy giám sát rủi ro tín dụng của VIB Luận văn: Thực trạng giám sát rủi ro tín dụng tại Ngân hàng VIB.

VIB tổ chức quản trị rủi ro theo mô hình tập trung với các phòng quản trị rủi ro ở Hội sở. Các chi nhánh chỉ là đơn vị kinh doanh, chú trọng đến việc tìm kiếm khách hàng. Cơ cấu tổ chức quản lý rủi ro tín dụng của VIB ở Trụ sở chính được thể hiện. Trong đó:

HĐQT chịu trách nhiệm phê duyệt chiến lược và các chính sách về quản trị rủi ro tín dụng, trực tiếp chỉ đạo Ủy ban Quản lý rủi ro giám sát hoạt động quản lý rủi ro tín dụng của Ban điều hành.

Ban Kiểm soát gồm Phòng kiểm toán nội bộ thực hiện đánh giá các hoạt động quản lý rủi ro tín dụng, kịp thời báo cáo lên cấp trên những đánh giá và đề xuất, kiến nghị cần thiết để hoàn thiện khung quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng.

Tổng Giám đốc chỉ đạo xây dựng và khung quản lý rủi ro tín dụng sau khi được HĐQT phê duyệt đồng thời triển khai cơ cấu cũng như điều hành, chỉ đạo và định kì thực hiện báo cáo về các vấn đề về quản trị rủi ro tín dụng.

Khối quản lý rủi ro được chia thành 3 phần gồm Phòng quản lý RRTD, Phòng quản lý rủi ro phi tín dụng và Phòng pháp lý và tuân thủ. Đây là Khối phụ trách hoạt động quản lý RRTD, tham mưu cho cấp lãnh đạo trong việc ban hành các quy định liên quan đến việc hạn chế rủi ro trong hoạt động của toàn ngân hàng VIB. Như vậy, VIB thực hiện mô hình quản trị RRTD tập trung, các chi nhánh chỉ thực hiện nhiệm vụ kinh doanh. Hoạt động giám sát RRTD được thực hiện lồng ghép trong nhiệm vụ của từng vị trí ở chi nhánh. Còn toàn bộ hoạt động quản trị RRTD được tập trung về trụ sở chính

2.2.3 Mô hình tổ chức giám sát rủi ro tín dụng ở Đơn vị kinh doanh

Ở cấp độ Đơn vị kinh doanh, nhân viên tín dụng phụ trách nhiệm vụ tìm kiếm khách hàng, đánh giá thẩm định tín dụng để làm cơ sở đề xuất cho cấp có thẩm quyền quyết định tín dụng. Công tác giám sát nhận diện rủi ro của bộ phận kinh doanh sẽ thông qua các cách sau: xác minh thực tế khách hàng, nhận diện qua các chứng từ khách hàng cung cấp và cán bộ tín dụng tự thu thập được.

Xác minh thực tế khách hàng: đánh giá thiện chí trả nợ khi tiếp xúc với khách hàng trong công tác thu thập hồ sơ vay; khảo sát thực tế cơ sở sản xuất kinh doanh của khách hàng (nếu có), nơi làm việc để đánh giá nguồn tài chính; khảo sát thực tế vị trí tài sản đảm bảo của khách hàng, tra thông tin tài sản trên các ứng dụng quy hoạch tại các tỉnh/ thành phố trực thuộc trung ương để có cơ sở định giá tài sản đảm bảo; xác minh địa chỉ hộ khẩu thường trú, tạm trú của khách hàng.

Công tác thu thập hồ sơ vay phải đầy đủ, đảm bảo phải đối chiếu được bản chính (bản gốc) hoặc thu thập các bản sao y công chứng còn thời hạn (không quá 06 tháng) thì độ an toàn cao hơn: hồ sơ pháp lý bao gồm giấy tờ tuỳ nhân (chứng minh nhân dân, căn cước công dân, hộ chiếu), sổ hộ khẩu, sổ tạm trú, giấy xác nhận tình trạng hôn nhân; hồ sơ tài sản bao gồm sổ đất, thông báo lệ phí trước bạ, giấy chứng nhận sở hữu công trình, giấy xác nhận hiện trạng bất động sản có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền nơi tài sản toạ lạc (nếu là bất động sản).

Giấy chứng nhận sở hữu xe, bảo hiểm xe…(nếu là động sản). Tất cả các hồ sơ pháp lý về tài sản thì ngân hàng phải giữ bản chính và bảo quản tại kho quỹ sau khi giải ngân cho khách hàng; hồ sơ tài chính bao gồm sao kê lương/xác nhận lương (bản chính), hợp đồng lao động, giấy chứng nhận doanh nghiệp, các báo cáo tài chính, báo cáo tình hình hoạt động của cơ sở (áp dụng cho đối tượng cá nhân), tờ khai thuế phải đầy chữ ký, mộc dấu, biên bản họp (bản chính) nếu là công ty cổ phần hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, các hợp đồng kinh tế,phương án kinh doanh của doanh nghiệp; hồ sơ tín dụng bao gồm giấy đề nghị vay vốn (bản chính).

Công tác thẩm định tín dụng: trên cơ sở việc xác minh thực tế và thu thập đầy đủ các chứng từ cần thiết. Chuyên viên tín dụng tiến hành phân tích số liệu thủ công như tính toán các chỉ số tài chính doanh nghiệp như ROE, ROA, tài sản, nguồn vốn, doanh thu…để xem phương án kinh doanh của doanh nghiệp có hiệu quả không. Nếu là cá nhân vay vốn thì đánh giá tỷ lệ khoản nợ (bao gồm gốc và lãi) phải trả cho ngân hàng trên tổng thu nhập xem hợp lý hay không (số tiền trả ngân hàng mỗi tháng không quá 70% tổng thu nhập là hợp lý). Định giá tài sản đảm bảo theo phương pháp so sánh với các tài sản tương đồng (tương đồng về chủng loại, về diện tích, về vị trí toạ lạc, về mục đích sử dụng…). Để đảm bảo có lợi cho ngân hàng, nên chỉ định giá khoảng 90% giá trị thị trường. Nhận diện rủi ro của bộ phận hỗ trợ kinh doanh sẽ thông qua hình thức: rà soát lại những chứng từ mà bộ phận kinh doanh thu nhập để thiết lập các nội dung, điều khoản hợp đồng tín dụng, hợp đồng thế chấp, phiếu yêu cầu đăng ký thế chấp tài sản đảm bảo phù hợp với quy định nội bộ VIB theo chính sách tín dụng và phù hợp với quy định pháp luật. Trong quá trình thiết lập hồ sơ công chứng để đảm bảo tính chuẩn xác cần liên hệ các phòng ban để được hướng dẫn cụ thể.

2.2.4 Quy trình thực hiện giám sát rủi ro tín dụng Luận văn: Thực trạng giám sát rủi ro tín dụng tại Ngân hàng VIB.

Việc giám sát RRTD được đi từ việc kiểm soát trước khi cấp tín dụng, trong khi giám sát tín dụng là khâu cuối cùng sau khi cấp tín dụng. Nhân viên tín dụng sẽ chịu trực tiếp trong việc tư vấn, tiếp nhận hồ sơ đề nghị cấp tín dụng của khách hàng. Sau khi thu thập hồ sơ, nhân viên tín dụng thực hiện thẩm định và ra đề xuất cấp tín dụng. Trong quá trình này, nhân viên tín dụng sử dụng kết hợp mô hình 6C và XHTNNB để nhận diện và đo lường RRTD của khách hàng.Việc áp dụng trên giúp nhân viên tín dụng đánh giá rủi ro tiềm tàng của khách hàng và đề xuất từ chối cấp tín dụng. Nguyên nhân chủ yếu vì dòng tiền trả nợ không ổn định, ngành nghề kinh doanh có nhiều rủi ro và khách hàng chưa có nhiều kinh nghiệm trong quản lý, điều hành kinh doanh. Các hồ sơ bị đề nghị từ chối cấp tín dụng bên cạnh phân tích 6C cho thấy rủi ro liên quan đến khoản vay và kết quả XHTNNB cũng nằm trong phần đề nghị hạn chế cấp tín dụng. Điều này cho thấy nhân viên tại các chi nhánh cũng nhận thức được ý nghĩa quan trọng của hoạt động quản trị RRTD nên thực hiện đánh giá khách hàng khách quan nhằm có được đề xuất phù hợp. Bên cạnh đó, hệ thống XHTNNB cũng là kết quả củng cố, lượng hóa hơn mức độ rủi ro của khách hàng. Sự kết hợp giữa hai mô hình trong đo lường RRTD của các chi nhánh theo quy định của VIB là cần thiết và hiệu quả bởi giúp cho kết quả đánh giá về khoản vay trở nên đầy đủ, khách quan hơn. Giám sát RRTD trong khi cho vay được thể hiện ở thực trạng quyết định tín dụng, giải ngân. Theo báo cáo kiểm soát nội bộ của VIB, không xảy ra tình trạng phê duyệt tín dụng vượt cấp. Các chi nhánh tuân thủ nghiêm quy định về phân quyền phán quyết tín dụng. Các khoản vay có giá trị lớn đều được chuyển lên Hội sở để thực hiện tái thẩm định và quyết định cấp tín dụng theo từng cấp tương ứng. Sau khi có quyết định cấp tín dụng, các chi nhánh triển khai ký kết các thủ tục pháp lý với khách hàng. Các thủ tục liên quan đến giấy tờ trong quá trình giải ngân đầy đủ. Điều này góp phần không nhỏ trong việc giám sát RRTD, hạn chế những tổn thất, thiệt hại, tranh chấp với khách hàng trong quá trình cấp tín dụng. Quá trình giải ngân được thực hiện nghiêm túc. Khách hàng phải cung cấp đầy đủ giấy tờ chứng minh mục đích sử dụng vốn phù hợp với mục đích sử dụng vốn trong hợp đồng tín dụng..Đến bước sau khi cho vay, nhân viên tín dụng thực hiện các nội dung quy định trong giám sát tín dụng và thanh lý tín dụng theo quy định. Ngoài nhiệm vụ theo dõi, nhắc nhở khách hàng trả nợ, nhân viên tín dụng còn phải thực hiện kiểm tra định kỳ, kiểm tra đột xuất nhằm đánh giá thiện chí và khả năng trả nợ của khách hàng vay trong quá trình sử dụng vốn của ngân hàng. Báo cáo kiểm toán nội bộ cho thấy trong giai đoạn nghiên cứu số lượng hồ sơ thiếu biên bản kiểm tra mục đích sử dụng vốn của các chi nhánh. Đối với các khoản vay nhận diên ra có vấn đề, VIB có thể áp dụng biện pháp khai thác, cũng như áp dụng cơ sở pháp lý, kinh tế đã thiết lập để thanh lý bắt buộc khoản nợ.

Đối với toàn bộ danh mục, nhằm kiểm soát rủi ro tín dụng, VIB thực hiện mua bán nợ, cụ thể là bán các khoản nợ xấu cho VAMC, cũng như chủ động trong việc xử lý các khoản nợ ở từng chi nhánh nhằm điều chỉnh chất lượng danh mục tín dụng theo định hướng ban đầu

2.3 KẾT QUẢ TĂNG CƯỜNG GIÁM SÁT RỦI RO TÍN DỤNG THÔNG QUA CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ CỦA NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM

2.3.1 Các chỉ tiêu định tính Luận văn: Thực trạng giám sát rủi ro tín dụng tại Ngân hàng VIB.

Quá trình phân tích thực trạng giám sát tín dụng cho thấy VIB đề cao chú trọng đến hoạt động giám sát RRTD. Điều này được thể hiện qua:

2.3.1.1 Chiến lược kinh doanh

VIB đã xây dựng chiến lược hoạt động cụ thể, rõ ràng với các chỉ tiêu định hướng theo từng thời kỳ và từng năm. Với định hướng trở thành ngân hàng bán lẻ hàng đầu Việt Nam, VIB xác định lấy đối tượng khách hàng cá nhân làm khách hàng mục tiêu. Đồng thời cũng ban hành các nội dung liên quan đến khẩu vị rủi ro, tỷ trọng định hướng phát triển tín dụng trong hoạt động ngân hàng…Tổng hợp báo cáo thường niên của VIB trong giai đoan nghiên cứu cho thấy rõ việc xác định khách hàng cá nhân làm đối tượng khách hàng mục tiêu của ngân hàng. Việc lựa chọn phân khúc này phù hợp với đặc điểm dân số Việt Nam -quốc gia đang ở thời kỳ dân số vàng. Nhu cầu của nhóm khách hàng cá nhân đa dạng, phong phú nên đây là thị trường nhiều tiềm năng cho VIB. Trong phân khúc khách hàng cá nhân, VIB đang chú trọng tập trung vào nhóm đối tượng khách hàng có thu nhập trung bình trở lên trong nền kinh tế bởi theo thống kê, đây là nhóm khách hàng có nhu cầu đa dạng phong phú và chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu dân số. Ngoài ra, việc tập trung vào phân khúc khách hàng cá nhân cũng phù hợp với năng lực hoạt động của ngân hàng khi mạng lưới kinh doanh với 166 chi nhánh/PGD đã phủ khắp các tỉnh, thành phố trên cả nước. Chiến lược kinh doanh cũng định hướng rõ mục tiêu hoạt động phát triển. Điều này thể hiện rõ trong báo cáo thường niên mà ngân hàng đăng tải trên website. Trong báo cáo thường niên hàng năm cũng trình bày chi tiết, đầy đủ các mục tiêu về tốc độ tăng trưởng tín dụng, tỷ lệ nợ quá hạn, tỷ lệ nợ xấu, tốc độ tăng trưởng thu nhập từ lãi, tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn…Trước khi đưa ra mục tiêu cụ thể, VIB đã trình bày đầy đủ chi tiết các nội dung liên quan đến sự thay đổi môi trường vĩ mô cũng như những cơ sở đặc điểm thuộc về bên trong nhằm đưa ra kế hoạch hoạt động phù hợp. Điều nay cho thấy chiến lược kinh doanh được ban hành đầy đủ các nội dung về thị trường mục tiêu, định hướng phát triển hoạt động tín dụng…Đây là yếu tố quan trọng để xây dựng chính sách cũng như xác định mô hình cơ cấu tổ chức giám sát RRTD phù hợp

2.3.1.2 Cơ cấu tổ chức

Công tác quản lý và giám sát rủi ro tín dụng tại VIB vẫn được triển khai một cách liên tục bằng nhiều hình thức: giám sát từ xa hoặc thực hiện kiểm tra thực tế tại điểm giao dịch Chi nhánh và PGD trực thuộc. Kiểm toán nội bộ và Ban Kiểm tra nội bộ là hai đơn vị tại Hội sở sẽ thực hiện công tác kiểm tra tín dụng toàn diện tại các điểm giao dịch theo kế hoạch được Ban Kiểm soát và Tổng Giám đốc ký ban hành hàng năm. Bên cạnh đó, các Tổ kiểm tra của từng Khu vực cũng thực hiện triển khai nhiều báo cáo giám sát hoạt động tín dụng của các đơn vị theo định kỳ hàng tháng: báo cáo các khoản tín dụng hạn mức cao, báo cáo kiểm tra hồ sơ tín dụng mới giải ngân trong tháng…

Việc quản lý tín dụng phải đảm bảo các yêu cầu sau: quy định cụ thể trách nhiệm, thẩm quyền của cá nhân, bộ phận trong việc lập, lưu trữ hồ sơ tín dụng bảo đảm các hồ sơ tín dụng đầy đủ theo quy định của pháp luật; giải ngân phù hợp với mục đích sử dụng vốn, loại hình cấp tín dụng. Luận văn: Thực trạng giám sát rủi ro tín dụng tại Ngân hàng VIB.

Giám sát các khoản cấp tín dụng sau khi được giải ngân phải đảm bảo theo nguyên tắc: kiểm tra việc sử dụng vốn vay và thực hiện các điều khoản khác trong hợp đồng cấp tín dụng của khách hàng cũng như định kỳ kiểm tra giám sát vốn vay căn cứ vào mức độ rủi ro và đặc điểm của khoản vay; đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng; thực hiện quản lý tài sản đảm bảo theo quy định; theo dõi lịch trả nợ, nhắc nhở khách hàng thực hiện nghĩa vụ trả nợ khi đến hạn, báo cáo kịp thời cho các cấp có thẩm quyền khi khách hàng có nguy cơ không thực hiện hoặc chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ.

Các biện pháp giảm thiểu RRTD tại VIB đang được triển khai áp dụng theo các chính sách, quy định nội bộ:

Định hướng danh mục tín dụng: VIB xác định định hướng danh mục cấp tín dụng định kỳ hàng năm, trong đó bao gồm danh mục tập trung tăng cường, danh mục duy trì và danh mục hạn chế phát triển.

Cải tiến quy chế cấp tín dụng: quy chế cấp tín dụng cần được rà soát, đánh giá định kỳ hàng năm để có những cải tiến kịp thời nhằm tăng cường hiệu quả công tác cấp tín dụng và hạn chế rủi ro phát sinh.

Rà soát, đánh giá các sản phẩm tín dụng:sản phẩm cần được rà soát, đánh giá trong quá trình triển khai để phát hiện sớm rủi ro, phát triển các giải pháp phòng ngừa rủi ro.

Sự hỗ trợ của các hệ thống công nghệ: VIB định hướng ứng dụng hiệu quả các mô hình, hệ thống công nghệ trong công tác kiểm soát tín dụng như: hệ thống khởi tạo, phê duyệt và quản lý cấp tín dụng; mô hình lượng hoá rủi ro tín dụng; hệ thống cảnh báo sớm nợ có vấn đề; hệ thống quản lý thu hồi và xử lý nợ

Tài sản đảm bảo:chấp nhận các tài sản có thanh khoản cao trong công tác nhận tài sản thế chấp, tỷ lệ cấp tín dụng trên giá trị tài sản theo đúng quy định tránh cấp tín dụng vượt giá trị tài sản gây phát sinh rủi ro về sau.

Kiểm tra, giám sát khoản cấp tín dụng:thường xuyên duy trì việc kiểm tra, giám sát khách hàng được cấp tín dụng nhằm có thể sớm cảnh báo và xử lý các tình huống xấu có thể xảy ra làm ảnh hưởng đến việc trả nợ của khách hàng

2.3.1.3 Chính sách tín dụng

Trước tác động tiêu cực của dịch bệnh Covid -19 trong năm 2023, khẩu vị rủi ro tín dụng và các văn bản về chính sách tín dụng được cập nhật thường xuyên để đáp ứng yêu cầu định hướng kinh doanh phù hợp với bối cảnh tác động của dịch Covid -19 lên các hoạt động của VIB và khách hàng.

Các chính sách cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn giảm lãi, phí và giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng vượt qua khó khăn do tác động của dịch Covid19 cũng đã được VIB triển khai đồng bộ theo định hướng của NHNN.

Chiến lược quản lý rủi ro tín dụng các năm gần đây được VIB triển khai nhất quán, đồng bộ với chủ trương tập trung chủ yếu vào phân khúc khách hàng cá nhân tốt, có tài sản đảm bảo. Đối với phân khúc khách hàng doanh nghiệp, VIB không cấp hoặc hạn chế cấp tín dụng vào các ngành hàng/ lĩnh vực rủi ro cao như bất động sản, chứng khoán, tài trợ máy bay, đóng tàu, dự án BOT và BT nên các khách hàng của VIB chỉ gặp khó khăn tạm thời trước tác động của dịch Covid-19. Điều đó thể hiện qua việc gần 70% khách hàng được VIB cơ cấu lại thời hạn trả nợ đã thanh toán trước thời hạn đối với số dư nợ được cơ cấu từ khi Chính phủ nới lỏng các biện pháp giãn cách xã hội. Luận văn: Thực trạng giám sát rủi ro tín dụng tại Ngân hàng VIB.

Để chọn lọc khách hàng tốt từ đầu, VIB xây dựng, rà soát thường xuyên các thẩm quyền phê duyệt tín dụng phù hợp với thực tế hoạt động kinh doanh của từng khối kinh doanh, theo từng sản phẩm cụ thể nhằm quản trị tốt rủi ro và trong năm 2023. VIB đã ứng dụng các mô hình chấm điểm để định lượng rủi ro của khách hàng vào quá trình phê duyệt thẻ và quản lý khách hàng sau khi mở thẻ tại VIB.

Các chính sách về nhận tài sản đảm bảo (TSĐB) và quản trị chất lượng TSĐB tại VIB được thực hiện thông quan việc hoàn thiện hệ thống văn bản, quy định liên quan đến TSĐB (bao gồm: tiêu chí nhận TSĐB, tỷ lệ giải ngân trên TSĐB, thẩm quyền định giá, thẩm định & định giá …) và cơ chế triển khai hậu kiểm sau giải ngân.

2.3.1.4 Quy trình tín dụng

Quy trình tín dụng được ban hành gồm có 6 bước nhằm đảm bảo hạn chế rủi ro trong quá trình cấp tín dụng. Mỗi bước đều được trình bày chi tiết, cụ thể, chỉ rõ trách nhiệm của từng vị trí, bộ phận có liên quan đến quy trình tín dụng. Điều này đảm bảo về mặt quy định khó có khe hở để dẫn đến rủi ro trong quá trình cấp tín dụng từ quá trình tác nghiệp của nhân viên. Các bước trong quy trình tín dụng đều có thời hạn giải quyết tối đa cũng như quy định sự phối hợp giữa các phòng ban bộ phận giúp đảm bảo thời gian cấp tín dụng một cách nhanh chóng mà vẫn đảm bảo hạn chế rủi ro trong quá trình cấp tín dụng

Hình 2.2: Sơ đồ quy trình tín dụng

2.3.2 Các chỉ tiêu định lượng

2.3.2.1 Chỉ tiêu hệ số rủi ro tín dụng

Chỉ tiêu hệ số rủi ro tài chính cho thấy tỷ trọng của hoạt động tín dụng trên toàn bộ danh mục tài sản có của ngân hàng. Kết quả tính toán chỉ tiêu hệ số rủi ro tín dụng ở biểu đồ 2.6.

Biểu đồ 2.6: Chỉ số rủi ro tín dụng giai đoạn 12/2020 – 06/2024

Biểu đồ 2.6 cho thấy VIB tiếp tục duy trì phát triển hoạt động tín dụng của mình trong giai đoạn nghiên cứu ở mức trên 60% tổng tài sản. VIB đặt ra chiến lược quản trị rủi ro tín dụng là kiểm soát nợ xấu, nâng cao dần chất lượng danh mục tín dụng. Do đó, ngân hàng bên cạnh việc mở rộng hoạt động tín dụng phải đi cùng với đảm bảo chất lượng tín dụng nên lúc này chỉ tiêu hệ số rủi ro tín dụng chỉ là 68%. Nói cách khác, dư nợ cho vay khách hàng chỉ chiếm 68% trong danh mục tài sản của ngân hàng trong năm 2020. Sau khi kiểm soát lại được chất lượng tín dụng cũng như mục tiêu, ngân hàng mới chú trọng đến việc phát triển quy mô tín dụng, nâng cao dần tỷ trọng này trong giai đoạn tiếp theo tương ứng với chiến lược phát triển của ngân hàng trong từng mỗi thời kỳ. Trong đó, hệ số rủi ro tín dụng từ năm 2020 – 2023 lần lượt là 69%, 70%, 70% và 65%. Kết quả này cho thấy tài sản là dư nợ tín dụng đang chiếm tỷ trọng cao trong tổng tài sản của VIB. Đây cũng phù hợp với định hướng trở thành ngân hàng bán lẻ hàng đầu đi kèm quá trinh phát triển với tín dụng là hoạt động chủ yếu. Chi tiêu này cho thấy mức độ RRTD của các chi nhánh này ngày càng tăng lên. Do đó, hoat động giám sát RRTD của các chi nhánh cần phải được chú trọng.

2.3.2.2 Chỉ tiêu dư nợ cho vay so với nguồn vốn huy động Luận văn: Thực trạng giám sát rủi ro tín dụng tại Ngân hàng VIB.

Trong chiến lược kinh doanh, chiến lược quản trị RRTD nói riêng, các chi nhánh luôn chu trọng đảm bảo cân đối giữa vốn huy động và hoạt động cho vay nhằm hạn chế rủi ro xảy ra. Đây cũng là chỉ tiêu giúp đánh giá thực trạng giám sát RRTD của các chi nhánh. Nếu các chi nhánh có chỉ tiêu dư nợ/nguồn vốn huy động phù hợp với kế hoạch kinh doanh đề ra, đảm bảo an toàn cho hoạt động thì đây là dấu hiệu cho thấy hoạt động giám sát RRTD hiệu quả. Chỉ tiêu này được thể hiện trong biểu đồ 2.2, luôn duy trì ở mức cao trong giai đoạn nghiên cứu từ 76% năm 2020 và giảm nhẹ còn 72% năm 2023. Tính đến tháng 06/2024, tỷ lệ này đạt mức 71%, việc đảm bảo mức duy trì trên 70%, kết hợp với việc so sánh với chiến lược hoạt động trong từng thời kỳ ở chỉ tiêu này cho thấy VIB đã kiểm soát tốt dư nợ tín dụng theo đúng mục tiêu đề ra.

Biểu đồ 2.7: Chỉ tiêu dư nợ vay/vốn huy động giai đoạn 12/2020 – 06/2024

2.3.2.3 Tỷ lệ nợ quá hạn/Tổng dư nợ và tỷ lệ nợ xấu/tổng dư nợ

Kết quả hoạt động giám sát RRTD của VIB trong giai đoạn nghiên cứu được phản ánh một phần thông qua chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn/tổng dư nợ cho vay và tỷ lệ nợ xấu/ tổng dư nợ

Biểu đồ 2.8: Chỉ tiêu nợ quá hạn/Tổng dư nợ và Tỷ lệ nợ xấu/Tổng dư nợ 12/2020 – 06/2024

Nhìn vào biểu đồ 2.3, ta có thể thấy tỷ lệ nợ chú ý được kiểm soát tốt dưới mức 5% trong giai đoạn nghiên từ 2020 – 2023. Kết quả như vậy là nhờ VIB đã không ngừng hoàn thiện các nội dung liên quan đến hoạt động quản trị rủi ro tín dụng như ban hành chiến lược, xác định khẩu vị rủi ro, hoàn thiện các chính sách có liên quan, xây dựng mô hình quản lý rủi ro tín dụng hợp lý. Đồng thời, các đơn vị kinh doanh cũng triển khai tổ chức thực hiện nghiêm túc các quy định ban hành. Tuy nhiên đến tháng 06/2024 thì tỷ lệ nợ chú ý vượt mức 5%, điều này cho thấy chất lượng tín dụng đang thực sự báo động tại ngân hàng. Điều mà VIB cần đặc biệt chú ý và nhìn nhận lại nhằm kiểm soát tỷ lệ cũng như giảm về mức thấp hơn nữa mặc dù không thể loại trừ hoàn toàn.

Đối với nợ xấu, trong giai đoạn nghiên cứu, tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ được kiểm soát trong mức giới hạn cho phép dưới 3%. Mặc dù vậy, số liệu cho thấy tỷ lệ này tăng lên nhẹ trong năm 2023 so với 2022 giữ ở mức 2.32% trong và đến tháng 06/2024 có nhích nhẹ lên 2.45% . Điều này có thể lý giải khi hoạt động tín dụng được các đơn vị kinh doanh đẩy mạnh trở lại trong thời điểm kinh tế phục hồi sau dịch Covid-19 thì  các khoản nợ xấu của các chi nhánh chủ yếu liên quan đến các khoản cho vay kinh doanh cá thể. Các cá nhân, hộ gia đình vay vốn sử dụng vốn không hiệu quả nên ảnh huởng đến khả năng trả nợ. Môt số khoản vay cá nhân do khách hàng thất nghiệp, sử dụng vốn sai mục đích so với lúc xin vay vốn ban đầu,… dẫn đến không trả được nợ theo thỏa thuận trong hợp đồng. Tuy nhiên các chi nhánh vẫn đảm bảo chất lượng tín dụng trong mức độ cho phép được đánh giá là kết quả khả quan trong hoạt động giám sát tín dụng của các chi nhánh.

Biểu đồ 2.9: Tỷ số lãi, phí phải thu/ tổng dư nợ 12/2020 – 06/2024

Bên cạnh đó, cũng cần lưu ý đến tỷ số lãi, phí phải thu/ tổng dư nợ đang có xu hướng tăng khi đến tháng 06/2024 đạt 2.104 tỷ đồng, bởi đây là những khoản vay đến hạn thanh toán lãi nhưng khách hàng vẫn chưa thanh toán đúng hạn. Khi tỷ lệ này càng cao cho thấy chất lượng hoạt động tín dụng tại ngân hàng đó càng thấp, chứng tỏ mức độ rủi ro tín dụng tại ngân hàng đó càng cao.

2.3.2.4 Tỷ số dự phòng tổn thất tín dụng hàng năm so với dư nợ cho vay

Việc trích lập dự phòng tổn thất tín dụng được NHNN quy định chặt chẽ nhằm bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng. Ngân hàng VIB luôn đề cao và tuân thủ quy định  trích  lập  của NHNN cũng như thực tế rủi ro các khoản tín dụng  tại VIB. Theo quy định, số tiền trích lập dự phòng chung được xác định bằng 0.75% tổng số dư các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4 trừ tiền gửi tại các tổ chức tín dụng khác và các khoản cho vay, mua có kỳ hạn giấy tờ có giá đối với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài khác tại Việt Nam. Bên cạnh trích lập dự phòng chung, ngân hàng phải thực hiện trích lập dự phòng cụ thể theo từng nhóm nợ từ nhóm 1 tới nhóm 5 theo tỷ lệ trích lập tương ứng là 0%, 5%, 20%, 50%, 100%. Ngân hàng VIB luôn tuân thủ chặt chẽ quy định về việc trích lập dự phòng rủi ro tín dụng theo quy định của NHNN trong giai đoạn nghiên cứu. Biểu đồ 2.10 cho thấy tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tổn thất tín dụng của ngân hàng ở mức khá thấp, phần nào phản ánh mức độ tổn thất tín dụng của ngân hàng VIB không cao.

Nói cách khác, rủi ro tín dụng được xem xét không cao nên việc trích lập không ảnh hưởng nhiều đến thu nhập của ngân hàng.

Biểu đồ 2.10: Tỷ số dự phòng rủi ro tín dụng hàng năm so với dư nợ cho vay trong giai đoạn 12/2020 – 06/2023

Biểu đồ 2.11 cho thấy mức trích lập dự phòng chung luôn cao hơn so với mức dự phòng cụ thể. Tính đến tháng 06/2024, mức dự phòng rủi ro đã tăng lên 535trđ so với đầu năm, trong đó đến từ mức dự phòng cụ thể tăng. Việc tăng dự phòng cụ thể đến từ các khoản dư nợ cần chú ý tăng lên. Tuy nhiên, VIB khẳng định việc tuân thủ quy định về trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của NHNN nhằm đảm bảo an toàn cho hoạt động của ngân hàng khi rủi ro xảy ra.

Biểu đồ 2.11: Trích lập dự phòng rủi ro tín dụng giai đoạn 12/2020 -06/2024

2.3.2.5 Cơ cấu dư nợ tín dụng theo ngành Luận văn: Thực trạng giám sát rủi ro tín dụng tại Ngân hàng VIB.

Nhìn vào cơ cấu dư nợ tín dụng theo ngành của VIB tại bảng 2.5 có thể thấy ngân hàng đang tập trung vào chủ yếu khu vực cá nhân và các ngành nghề khác khi tỷ trọng của ngành này là 74.75% năm 2020 và đến năm 2023 đạt 82.32%, điều này phù hợp với định hướng phát triển và chiến lược của ngân hàng giai đoạn vừa qua và trong thời gian tới.

Bảng 2.1: Cơ cấu dư nợ tín dụng giai đoạn 2020 – 2023

2020 2021 2022 2023
Nông lâm nghiệp, thủy sản 1.66 1.5 1.20 0.76
Thương mại, sản xuất và chế biến 17.49 16.93 16.90 14.47
Xây dựng 2.69 1.24 1.03 1.50
Kho bãi vận tải và thông tin liên lạc 3.41 1.96 1.07 0.95
Cá nhân và các ngành nghề khác 74.75 78.37 79.80 82.32
Tổng cộng 100 100 100 100

2.4 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ GIÁM SÁT RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG TMCP QUỐC TẾ VIỆT NAM Luận văn: Thực trạng giám sát rủi ro tín dụng tại Ngân hàng VIB.

2.4.1 Kết quả đạt được

Thứ nhất, giữ vững vị thế đầu ngành về hiệu quả kinh doanh

  • Năm 2023, VIB đạt hơn 8000 tỷ đồng về lợi nhuận trước thuế, tăng trưởng 38% so với năm 2022, tiếp tục nằm trong top đầu thị trường về hiệu quả hoạt động với tỷ lệ ROE đạt 31%.
  • Tại ngày 31.12.2023, tổng tài sản VIB ghi nhận gần 310.000 tỷ đồng, tăng 27% so với đầu năm. Trong đó, dư nợ tín dụng đạt 200.000 tỷ đồng, tăng 19%. Tổng nguồn vốn huy động đạt 280.000 tỷ đồng, tăng 27% . Riêng tiền gửi CASA tăng trưởng bứt phá 55%, chiếm tỷ trọng trên 16% tiền gửi khách hàng.
  • Chất lượng tín dụng phản ánh thông qua tỷ lệ nợ quá hạn, tỷ lệ nợ xấu luôn được duy trì trong giới hạn cho phép. Điều này cho thấy sự cố gắng của các chi nhánh trong việc giám sát RRTD.
  • Hệ số dư nợ cho vay trên vốn huy động thấp hơn 85% theo quy định. Điều này chứng tỏ VIB luôn chú trọng đến việc đảm bảo an toàn cho quá trình hoạt động.

Đạt được những kết quả trên là nhờ

  • Thứ nhất, ban hành đầy đủ các nội dung cần thiết phục vụ cho hoạt động quản trị RRTD  nói  chung  và  giám  sát  RRTD  nói  riêng.  Chiến lược  hoạt động  kinh doanh, chiến lược quản trị RRTD, chính sách tín dụng, quy trình tín dụng, XHTNNB đều được xây dựng chi tiết làm cơ sở cho việc giám sát RRTD trong hoạt động tín dụng. Đây được xem là định hướng cho hoạt động quản trị rủi ro tín dụng với các mục tiêu được xây dựng cụ thể rõ ràng và được truyền tải đến từng nhân viên liên quan trong ngân hàng để hoạt động quản trị RRTD trở thành một trong những nhiệm vụ quan trọng của nhân viên.
  • Thứ hai, lãnh đạo các chi nhánh/PGD luôn chú trọng đến quản trị RRTD nói chung, giám sát RRTD nói riêng. Lãnh đạo các chi nhánh/PGD luôn quán triệt và nâng cao ý thức về quản trị rủi ro cho nhân viên. Đồng thời cũng thường xuyên kiểm tra, đánh giá quá trình giám sát RRTD trước, trong và sau khi cho vay.
  • Thứ ba, việc sử dụng kết hợp mô hình 6C và XHTNNB theo quy định giúp cho các ngân hàng đo lường và đánh giá rủi ro của khoản vay tương đối hiệu quả. Điều này thể hiện rõ qua việc tỷ lệ nợ quá hạn, tỷ lệ nợ xấu được duy trì trong giới hạn cho phép.
  • Thứ năm, các bước nhận diện, đo lường, phòng ngừa và xử lý rủi ro cũng được thực hiện trên toàn bộ danh mục tín dụng của ngân hàng. Trong chiến lược quản trị rủi ro tín dụng, các chi nhánh/PGD hàng năm đều có kế hoạch hoạt động kinh doanh cụ thể.

2.4.2 Hạn chế Luận văn: Thực trạng giám sát rủi ro tín dụng tại Ngân hàng VIB.

Hoạt động giám sát rủi ro tín dụng tại VIB trong giai đoạn 12/2020 – 06/2024 đã đạt những kết quả nhất định. Tuy nhiên vẫn còn tồn động nhiều khiếm khuyết cần được tháo gỡ để hệ thống cũng như quy trình giám sát rủi ro được hoàn thiện nhất.

  • Hoạt động giám sát rủi ro tín dụng trước giải ngân

Thứ nhất, mặc dù chiến lược, chính sách, quy trình tín dụng ban hành chặt chẽ nhưng vẫn còn tồn tại một số hạn chế. Cụ thể, việc xác định khách hàng cá nhân làm đối tượng khách hàng mục tiêu nhưng trong xây dựng hệ thống XHTNNB chưa có tách bạch mục tiêu vay vốn tiêu dùng và vay vốn sản xuất của khách hàng cá nhân làm ảnh hưởng đến việc nhận diện và đo lường rủi ro tín dụng. Tính chặt chẽ, sự phối hợp trong quy trình tín dụng tại VIB chưa được quy định cụ thể có thể dẫn đến những rủi ro trong quá trình cấp tín dụng và quản trị RRTD. Nhiều hồ sơ không có biên bản kiểm tra sử dụng vốn sau giải ngân, thiếu tái thẩm định giá tài sản bảo đảm hoặc thiếu biên bản xếp hạng tín nhiệm nội bộ định kỳ.

Thứ hai, công tác thẩm định tín dụng đối với khách hàng còn bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như chỉ tiêu, mối quan hệ, hoa hồng cho hồ sơ…. Dẫn đến hiện trạng nợ xấu và nợ quá có thể phát sinh khi kinh tế chỉ mới bước vào trong giai đoạn phục hồi sau dịch bệnh Covid-19,… minh chứng bằng việc tỷ lệ nợ xấu có sự bật tăng trong năm 2023 với 2.32% .Nói cách khác, với các khoản nợ này việc thu hồi nợ của VIB đang gặp khó khăn. Cũng cần chú ý thêm, tỷ lệ nợ chú ý mặc dù thấp hơn so với mức giới hạn 5% nhưng lại đang có xu hướng tăng trong năm 2023.

Thứ ba, quy trình thẩm định, phê duyệt cấp tín dụng cho khách hàng được nhiều phòng ban/bộ phận hỗ trợ xuyên suốt. Mặc dù vậy nhưng việc trao đổi thông tin giữa các phòng ban với nhau chưa tận dụng hoá công nghệ thông tin nên còn mất khá nhiều thời gian, không đảm bảo chất lượng thông tin khi được tiếp nhận xử lý, từ đó dẫn đến chất lượng tín dụng không tốt.

  • Hoạt động giám sát trong cho vay.

Thứ tư, hệ thống văn bản lập quy, văn thư để cán bộ nhân viên truy vấn còn cồng kềnh và chồng chéo lẫn nhau biểu hiện ở việc một quy định có quá nhiều sửa đổi, bổ sung mà chưa tổng hợp lại để đưa ra một văn bản hoàn thiện giúp người truy vấn dễ dàng tìm kiếm và khai thác thông tin phục vụ cho công việc.

Thứ năm, hồ sơ thuộc thẩm quyền tại Đơn vị kinh doanh phê duyệt còn nhiều chứng từ giải ngân và pháp lý chưa được cung cấp đầy đủ trước khi giải ngân.

Thứ sáu, chứng từ liên quan đến hồ sơ chưa được lưu kho theo quy định do các nguyên nhân như thời gian trả hồ sơ trễ nên không kịp về lưu kho,…

  • Hoạt động giám sát sau cho vay

Thứ bảy,công tác giám sát sau cho vay được thực hiện theo cách đối phó, không thực sự chú trọng. Từ đó Ban Lãnh đạo không nắm được tình hình nguồn thu thập của khách hàng, tính thanh khoản của tài sản bảo đảm cũng như những thay đổi thông tin của khách hàng vay dễ dẫn đến rủi ro phát sinh.

Thứ tám, hoạt động chăm sóc khách hàng, chủ động nhắc nợ, thu nợ khi đến hạn chưa được chuyên viên làm thường xuyên chỉ khi được thông báo khoản vay quá hạn của khách hàng thì mới chủ động thúc ép để thu nợ.

Thứ năm,công tác triển khai, đào tạo về kiến thức nghiệp vụ hay thông tin về sản phẩm dịch vụ mới chưa được tổ chức thường xuyên và liên tục. Từ đó dẫn đến việc nhân sự của ngân hàng chưa hiểu hết tường tận nghiệp vụ, thông tin sản phẩm…có thể tư vấn sai cho khách hàng, rủi ro cũng dễ phát sinh trong giai đoạn tiếp cận này.

2.4.3 Nguyên nhân dẫn đến hạn chế Luận văn: Thực trạng giám sát rủi ro tín dụng tại Ngân hàng VIB.

Thứ nhất, một số quy định trong cơ chế, chính sách có liên quan đến giám sát RRTD của ngân hàng vẫn chưa rõ ràng, đặc biệt là ở các quy định liên quan đến sự phối hợp giữa các phòng ban, chi nhánh với nhau. Ví dụ như việc phối hợp giữa phòng quan hệ khách hàng, phòng thẩm định và phòng hỗ trợ tín dụng đôi khi vẫn còn chậm trễ làm ảnh hưởng đến khách hàng. Hoặc sự phối kết giữa các đơn vị kinh doanh với nhau trong việc cung cấp thông tin chưa nhanh chóng, kịp thời do thiếu cơ chế quản lý cũng như chưa khai thác hết thế mạnh về hệ thống công nghệ thông tin trong việc truy xuất, sao lưu thông tin.

Thứ hai, mặc dù chủ động ban hành các cơ sở pháp lý cho hoạt động giám sát RRTD tại ngân hàng nhưng còn một số chi nhánh/PGD vẫn chưa chú trọng vào việc hoàn thiện các quy định này nhằm đáp ứng kịp thời những thay đổi của luật cũng như tình hình hoạt động thực tế tại Đơn vị.

Thứ ba, kết quả nhận diện, đo lường, phòng ngừa và xử lý rủi ro tín dụng tại VIB đôi khi còn chưa thực sự khách quan, chủ yếu dựa vào chuyên viên phụ trách hoạt động tín dụng. Yếu tố về đạo đức nghề nghiệp là một trong những tiêu chuẩn mà một nhân viên ngân hàng cần có bao gồm cán bộ tín dụng đến các cấp quản lý, kiểm soát. Bởi ngành ngân hàng là một lĩnh vực hết sức nhạy cảm và đầy rủi ro. Vì tính thông thạo, am hiểu các qui định, chính sách của ngân hàng nên cán bộ ngân hàng có thể cùng khách hàng trực lợi bằng cách làm giả hồ sơ vay ví dụ như nâng giá trị tài sản, tạo giả chứng từ thu nhập của khách hàng… Trình độ nghiệp vụ chuyên môn của cán bộ ngân hàng yếu kém cũng là nguyên nhân gây nên rủi ro cho hệ thống tổ chức tín dụng này, khách hàng có thể lợi dụng khuyết điểm này để qua mặt cán bộ tín dụng qua đó dễ dàng chiếm dụng vốn vay.

Thứ tư, công tác tra cứu văn bản lập quy còn khá cồng kềnh bởi một quy định chính mà có rất nhiều các quyết định sửa đổi, bổ sung đi kèm theo tạo cảm giác văn bản không có tính liên tục gây rối cho người tra cứu cũng như gây mất nhiều thời gian.

Thứ năm, quy trình kiểm tra sau cho vay không được thắt chặt và thực hiện thường xuyên theo hình thức định kỳ hay kiểm tra đột xuất. Đa phần các ngân hàng chỉ tập trung vào công tác trước và trong khi giải ngân cho khách hàng mà lơ là công tác kiểm tra sau cho vay để kiểm tra xem: khách hàng có sử dụng vốn đúng mục đích hay không, tình trạng tài sản đảm bảo như thế nào, nguồn thu thập của khách hàng có ổn định hay gặp vấn đề gì không…công việc giám sát sau cho vay thật sự rất quan trọng và cần thiết.

Kết luận Chương 2 Luận văn: Thực trạng giám sát rủi ro tín dụng tại Ngân hàng VIB.

Chương 2 của luận văn tập trung phân tích thực trạng công tác cấp phát tín dụng cũng như giám sát RRTD tại VIB giai đoạn tháng 12/2020 –06/2024, đánh giá được những mặt tích cực và mặt hạn chế của quy trình. Hoạt động tín dụng và giám sát RRTD thời gian qua có những bước chuyển mình tích cực. Quy mô và chất lượng của nghiệp vụ tín dụng được cải thiện rõ rệt. Tỷ lệ nợ xấu được duy trì ở mức thấp. Nhiều phần mềm, hệ thống hữu ích cho công tác tín dụng và quản trị RRTD đã được triển khai áp dụng toàn hệ thống VIB, tạo tính đồng bộ, nhất quán trong quy trình.Những phân tích và nhìn nhận thực trạng tại chương 2 sẽ là cơ sở để tác giả đề xuất các giải pháp tăng cường hiệu quả công tác giám sát RRTD ở chương 3. Luận văn: Thực trạng giám sát rủi ro tín dụng tại Ngân hàng VIB.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Giải pháp giám sát rủi ro tín dụng tại Ngân hàng VIB

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537