Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng khu vực VQG Cát Tiên hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Tiềm năng và thực trạng du lịch và du lịch cộng đồng khu vực Vườn quốc gia Cát Tiên- Đồng Nai dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1 Khái quát về đặc điểm tự nhiên, dân cư kinh tế xã hội khu vực VQG Cát Tiên – Đồng Nai
2.1.1 Đặc điểm tự nhiên
2.1.1.1. Vị trí địa lý
VQG Cát Tiên nằm trên địa phận các huyện Cát Tiên, Bảo Lâm (tỉnh Lâm Đồng) Vĩnh Cửu, Tân Phú (tỉnh Đồng Nai) và Bù Đăng (tỉnh Bình Phước), cách Thành phố Hồ Chí Minh 150 km về phía bắc. Vườn quốc gia Cát Tiên có toạ độ địa lý từ 11o20’50” đến 11o50’20” độ vĩ bắc và từ 107o09’05” đến 107o35’20” độ kinh đông.
Hình 2.1. Bản đồ ranh giới Vườn quốc gia Cát Tiên
2.1.1.2. Ranh giới
VQG Cát Tiên có ranh giới phía bắc và tây bắc giáp tỉnh Đắk Nông và tỉnh Bình Phước, phía nam giáp Công ty Lâm nghiệp La Ngà tỉnh Đồng Nai, phía tây giáp Lâm trường Vĩnh An tỉnh Đồng Nai, phía đông giáp tỉnh Lâm Đồng.
2.1.1.3. Quá trình hình thành và phát triển
Những năm đất nước còn chiến tranh, khu rừng Cát Tiên là một phần căn cứ địa cách mạng trong chiến khu D.
Sau khi hòa bình, rừng Cát Tiên được lực lượng quân đội (sư đoàn 600) thuộc Bộ quốc phòng quản lý để tăng gia sản xuất, làm kinh tế sau chiến tranh. Đây là khu rừng có tính Đa dạng sinh học cao nên Chính phủ đã chuyển khu rừng này thành khu rừng đặc dụng theo Quyết định số 360/TTg, ký ngày 07/07/1978 với tên gọi là Khu Rừng Cấm Nam Bãi Cát Tiên, có diện tích 38.100 ha, nằm trong địa phận hành chánh của huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. Chi Cục Kiểm lâm tỉnh Đồng Nai có trách nhiệm tổ chức lực lượng để bảo vệ khu rừng quý hiếm này. Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng khu vực VQG Cát Tiên.
Ngày 13/01/1992, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 08/CT, về việc thành lập Vườn quốc gia Cát Tiên (VQGCT) trên cơ sở diện tích của Khu rừng cấm Nam Bãi Cát Tiên thuộc tỉnh Đồng Nai và mở rộng diện tích về phía tỉnh Lâm Đồng và Bình Phước.
Ngày 16/02/1998, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 38 – 1998/QĐ – TTg, về việc chuyển giao Vườn quốc gia CT cho Bộ NN & PTNT quản lý.
Tháng 12/1998, Vườn quốc gia CT được Chính phủ cho phép mở rộng trên địa bàn ba tỉnh Đồng Nai, Bình Phước và Lâm Đồng.
Ngày 10/11/2012 Vườn quốc gia CT được ủy ban UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thứ 411 của thế giới và là khu dự trữ sinh quyển thứ 2 của Việt Nam. Ngày 29/6/2022, Khu dự trữ sinh quyển Cát Tiên được mở rộng về phía Khu Bảo tồn thiên nhiên và Văn hóa tỉnh Đồng Nai, gọi là Khu Dự trữ sinh quyển Đồng Nai.
Ngày 04/08/2016 Ban Thư ký Công ước Ramsar đã công nhận hệ đất ngập nước Bàu Sấu vào danh sách các vùng đất ngập nước quan trọng thứ 1.499 của thế giới.
Ngày 27/9/2023, Thủ tướng Chính phủ công nhận Vườn quốc giaCT là Khu di tích quốc gia đặc biệt (Quyết định số 1419/QĐ-Ttg).
Hiện nay Vườn quốc giaCT đang lập hồ sơ trình UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới.
2.1.1.4. Đặc điểm địa hình
VQG Cát Tiên nằm trong vùng địa hình chuyển tiếp từ cao nguyên cực nam Trung bộ đến đồng bằng nam bộ, bao gồm các kiểu địa hình đặc trưng của phần cuối dãy Trường Sơn và địa hình vùng đông nam bộ, có 5 kiểu chính:
Kiểu địa hình núi cao, sườn dốc: chủ yếu ở phía bắc Vườn quốc gia Cát Tiên. Độ cao so với mặt nước biển từ 200m – 600m, độ dốc 15°- 20o. Địa hình là các dạng sườn dốc, phân bố giữa thung lũng sông, suối và dạng đỉnh bằng phẳng. Mức độ chia cắt phức tạp và cũng là đầu nguồn của các suối nhỏ chảy ra sông Đồng Nai.
Kiểu địa hình trung bình sườn dốc: ở phía tây nam Vườn quốc gia Cát Tiên, độ cao từ 200m – 300m so với mặt nước biển, độ dốc 15°- 20o, độ chia cắt cao. Những suối lớn như Đắc Lua, Đa Tapok được tạo nên từ vùng đồi trung du và đổ ra sông Đồng Nai. Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng khu vực VQG Cát Tiên.
Kiểu địa hình đồi thấp và bằng phẳng: ở đông nam Vườn quốc gia Cát Tiên, độ cao từ 130m – 150m so với mặt biển, dốc thoải từ 5° – 7o, độ chia cắt thưa.
Kiểu địa hình bậc thềm sông Đồng Nai và dạng đồi bát úp tiếp giáp đầm lầy: ở phía tây nam Vườn quốc gia Cát Tiên, độ cao trung bình của vùng khoảng 130m so với mặt nước biển.
Kiểu địa hình thềm suối xen kẽ với hồ đầm: bao gồm những suối nhỏ, những khu đất ngập nước phân tán, những hồ, ao ở khu vực nhánh của suối Đắc Lua và ở trung tâm phía bắc vườn. Vùng này thường thiếu nước trong mùa khô nhưng lại bị ngập úng trong mùa mưa, trong mùa khô nước chỉ còn ở những vùng đất lầy rộng lớn như khu Bàu Sấu, Bàu Chim, Bàu Cá, … Độ cao của vùng này thường dưới 130m so với mặt biển.
VQG thấp dần từ bắc xuống nam và từ tây sang đông, độ cao so với mặt nước biển cao nhất là 626m ở Lộc Bắc và thấp là 115m ở Núi Tượng.
2.1.1.5. Khí hậu
VQG Cát Tiên nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, có 2 mùa rõ rệt: mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 và mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10.
Bảng 2.1: Đặc điểm khí hậu Vườn quốc gia Nam Cát Tiên
2.1.1.6. Điều kiện thủy văn
Hệ thống thủy văn ở Vườn quốc gia Cát Tiên bao gồm sông suối, thác, ghềnh, bàu đầm lầy và các vùng bán ngập nước. Sự đa dạng của các yếu tố thủy văn đã làm tăng thêm giá trị về tính Đa dạng sinh học và cảnh quan thiên nhiên của Vườn quốc gia Cát Tiên. Sông Đồng Nai chạy theo ranh giới phía bắc, phía tây và phía đông VQG Cát Tiên với chiều dài khoảng 90 km. Sông rộng trung bình khoảng 100m, lưu lượng nước bình quân khoảng 405m3/giây. Mực nước sông lúc cao nhất 8,03m, mực nước trung bình 5m và mực nước mùa kiệt xuống còn 2m – 3m. Nhìn chung, giao thông thủy có thể thực hiện được trên phần lớn chiều dài dòng sông.
Hệ thống suối chính thường có nước vào mùa khô, còn phần thượng nguồn và các suối nhánh, một số suối nhỏ ngắn thường khô hạn. Mùa mưa nước dâng cao trong các chân núi và thung lũng ở khu vực Cát Lộc và ngập tràn trên diện tích khá bằng phẳng tương đối lớn ở khu vực Nam Cát Tiên. Hệ thống bàu có diện tích ngập nước khoảng 2.500ha vào mùa mưa và thu hẹp lại khoảng 100 – 150 ha vào mùa khô. Các bàu sâu nhất vào mùa mưa là: Bàu Sấu, Bàu Chim, Bàu Cá.
2.1.1.7. Điều kiện thổ nhưỡng Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng khu vực VQG Cát Tiên.
Nền địa chất của Vườn quốc gia Cát Tiên nguyên là sa phiến thạch, quá trình hoạt động của núi lửa thuộc vùng cao nguyên mà những phần thấp của khu vực đã bị phủ lấp của lớp đá bọt núi lửa. Cùng với quá trình phun trào phủ lấp là quá trình bào mòn, bồi tụ đã tạo nên một lớp phù sa suối, phù sa sông, quá trình diễn biến niên đại tiếp theo đã tạo ra địa hình Nam Cát Tiên ngày nay.
Từ nền địa chất với 3 kiến tạo chính là: Trầm tích, Bazan và Sa phiến thạch đã phát triển thành 4 loại đất chính của Vườn quốc gia Cát Tiên như:
- Đất feralit phát triển trên đá bazan (Fk): loại đất này có diện tích lớn nhất chiếm khoảng 60% diện tích tự nhiên của Vườn, phân bố ở khu vực phía Nam. Ở trên đất này rừng phát triển tốt có nhiều loài cây gỗ quý và khả năng phục hồi của rừng cũng nhanh.
- Đất feralit phát triển trên đá cát (sa phiến thạch) (Fq): chiếm diện tích lớn thứ 2 của Vườn quốc gia Cát Tiên, khoảng 20% phân bố chủ yếu ở phía bắc của vườn (khu Cát Lộc), dọc thượng nguồn sông Đồng Nai. Một số tài liệu gọi đất này là đất xám bạc màu trên đá axit hoặc đá cát, nhưng do rừng chưa bị tàn phá nhiều nên đất vẫn còn tốt.
- Đất feralit phát triển trên phù sa cổ (đất xám bạc màu trên phù sa cổ) (Fo): gồm các loại đất được bồi tụ ven suối, ven sông Đồng Nai chiếm diện tích khoảng 12% tổng diện tích vườn, chủ yếu phía bắc và phía đông nam của Vườn quốc gia Cát Tiên. Các loại đất này thường phân bố trên các vùng địa hình khá bằng phẳng và những vùng trũng bị ngập nước vào mùa mưa.
- Đất feralit phát triển trên đất sét (Fs): có diện tích không lớn chiếm khoảng 8% diện tích của vườn, phân bố tập trung chủ yếu ở khu vực phía nam xen kẽ các vạt đất Bazan. Loại này tuy có độ phì khá, nhưng nhược điểm là thành phần cơ giới nặng nên khi mất rừng thì đất dễ bị thoái hoá một cách nhanh chóng.
2.1.1.8. Động thực vật rừng
VQG Cát Tiên nằm giữa 2 vùng sinh học địa lý từ vùng cao nguyên Trường Sơn xuống vùng đồng bằng Nam Bộ, do vậy hội tụ được các luồng hệ thực vật, hệ động vật phong phú, đa dạng. Đặc trưng là các kiểu rừng lá rộng thường xanh mưa ẩm nhiệt đới với thành phần các loài cây gỗ chủ yếu thuộc họ Sao Dầu (Dipterocarpaceae) và họ Đậu (Fabaceae), đại diện cho các kiểu rừng, thảm thực vật, thành phần các loài thực vật, động vật miền Đông Nam Bộ- Việt Nam.
Hệ thực vật
Danh mục thực vật Vườn quốc gia Cát Tiên đã thống kê được 1.610 loài thực vật bậc cao có mạch của 75 bộ, 162 họ, 724 chi. Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng khu vực VQG Cát Tiên.
Các nhóm thực vật gồm cây gỗ lớn 176 loài (11% tổng số loài đã biết); Cây gỗ nhỏ 335 loài (20,7%); Cây tiểu mộc (bụi) 345 loài (21,3%); Thảm tươi 318 loài (19,7%); Dây leo 238 loài (14,7%); Thực vật phụ sinh, ký sinh 143 loài (8,8%); Khuyết thực vật 62 loài (3,8%). Các loài cây quý hiếm (nguồn gen quý hiếm) 38 loài thuộc 13 họ. Nguồn gen đặc hữu và cây đặc hữu bản địa 20 loài thuộc 11 họ.
VQG Cát Tiên có nhiều kiểu rừng và kiểu rừng phụ khác nhau.
Rừng lá rộng thường xanh: tập trung phía Tây Bắc và Tây Nam khu Cát Lộc, phía Tây Nam và Đông khu Nam Cát Tiên. Rừng gồm 2 tầng cây gỗ như tầng trên chiều cao hơn 20m với ưu thế là các loài cây gỗ thuộc họ Dầu (Dipterocarpaceae) và họ Đậu (Fabaceae), Sao đen (Hopea odorata), Cẩm lai Bà Rịa (Dalbergia bariensis), Cẩm lai vú (D. mamosa), Gõ đỏ (Afzelia xylocarpa), Giáng hương (Pterocarpus pedatus), .v.v. Tầng cây gỗ cao 10 – 20m có Bình linh (Vitex pubescens), Vắp (Mesua ferrea), Trám (Canariumsp.). Tầng cây bụi hoặc gỗ nhỏ cao dưới 10 m: Ô rô (Acanthus ilicifolius), Duối (Streblus asper), .v.v.
Rừng lá rộng thường xanh nửa rụng lá, gọi tắt là rừng nửa rụng lá: ở phía Đông Bắc khu Nam Cát Tiên, gần sông Đồng Nai. Thành phần loài hầu hết là các loài cây gỗ rụng lá trong mùa khô. Rừng gồm 2 tầng cây gỗ trong đó tầng trên cao hơn 20 m gồm các loài đặc trưng là Bằng lăng (Lagestroemia spp.), Tung (Tetrameles nudiflora) và Râm (Anogeisus acuminata). Tầng cây gỗ cao 10 -20 m gồm các loài như Trâm (Sterculia lanceolata), Lòng mang (Pterospermum diversifolium), Căm xe (Xylia lolabriiformis), Sống rắn (Albizia chinensis), .v.v. Tầng cây gỗ nhỏ hay cây bụi cao dưới 10m gồm các loài Bồ an (Colona sp.) và Thành ngạnh (Cratoxylon polyanthum).
Rừng hỗn giao gỗ, tre nứa phân bố ở phía Đông và Nam Vườn quốc gia Cát Tiên. Đây là kiểu phụ thứ sinh nhân tác của rừng thường xanh và rừng nửa rụng lá, do bị lửa rừng, khai thác quá mạnh, rừng bị mở tán và tre nứa xen vào. Thành phần cây gỗ phức tạp, thường gặp là Vắp, Bằng lăng, Căm xe (Xylia sp.), hai loài tre chủ yếu là lồ ô (Bambusa balcosa) và mum (Bambusa sp.) Rừng tre nứa cũng là kiểu phụ thứ sinh nhân tác, sau khi rừng bị phá làm nương rẫy rồi bỏ hóa, các loài tre nứa xâm nhập và phát triển. Hai loài tre phổ biến là lồ ô (Bambusa balcoa, B. procera) và mum (Bambusa sp.), chúng tạo thành các rừng lớn, những nơi ngập nước chỉ có tre La ngà (Bambusa bambos) tồn tại.
Thảm thực vật đầm lầy, Vườn quốc gia Cát Tiên có diện tích đầm lầy lớn. Trong mùa mưa nước sông tràn lên làm ngập một diện tích lớn. Mùa khô rút đi để lại nhiều bàu, đầm lầy trong khu trung tâm vùng Nam Cát Tiên, như Bàu Sấu, Bàu Chim, Bàu Cá. Thực vật ưu thế là các loài cây gỗ chịu nước như Đại phong tử (Hydnocarpus anthelmintica), Lộc vừng (Barringtonia acutagula), Săng đá (Xanthophyllum colubrinum), xen lẫn với Lau, Lách (Saccharum spontaneum), Cỏ đế (Sacchanum arundinaceum), Lau sậy (Neyraudia arumdinaceae). Bao quanh đầm lầy có tre La ngà (Bambusa bambos) tồn tại và chịu ngập trong mùa mưa.
Hệ động vật Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng khu vực VQG Cát Tiên.
Khu hệ động vật của Vườn quốc gia Cát Tiên có những nét đặc trưng của khu hệ động vật vùng bình nguyên Đông Trường Sơn, có quan hệ chặt chẽ với Tây nguyên, nổi bật là thành phần của Bộ Móng Guốc với 06 loài chiếm ưu thế là Heo rừng (Sus scrofa), Cheo Cheo (Tragulus javanicus), Hoẵng (Muntiacus muntjak), Bò Gaur (Bos gaurus), Bò Banten (Bos banteng) và Nai (Cervus unicolor) và là một trong những vùng của Việt Nam có thể quan sát được nhiều đại diện của họ Bò (Bovidae).
Chim: gồm 348 loài thuộc 64 họ của 18 bộ. Trong đó có 31 loài quí hiếm đã được phát hiện và có tên trong Sách Đỏ Việt Nam. Các loài chim thuộc loài hiếm như Hạc cổ trắng (Ciconia episcopus), Công (Pavomuticus), Mỏ rộng đen (Corydon sumatranus), Già đẩy Java (Leptoptilos javanicus), Cò lao Ấn Độ(Mycterialeucocephala), Le khoang cổ(Nettapuscoromandelianus), Gà lôi hông tía (Lophura diardi), Gà tiền mặt đỏ (Polyplectron germaini), Dù dì phương đông (Ketupa zeylonensis), Yến hàng (Aerodramus fuciphagus), Sả mỏ rộng (Pelargosis capennis), Hồng hoàng (Buceros bicornis), Mỏ rộng xanh (Psarisomus dalhousiae), Đuôi cụt bụng vằn (Pitta elliotti), Cú lợn rừng (Phodinus badius), Niệc mỏ vằn (Rhyticeros undulatus), Cò Á Châu (Ephippiorhynchus asiaticus), Gà so cổ hung (Arborophiliadavidi), Cò quắm cánh xanh (Pseudibis davisoni), Ngan cánh trắng (Cairina scutulata). Các loài chim trong họ Trĩ (Phasianidae) là đối tượng rất được thế giới quan tâm bảo vệ, có số lượng loài và số cá thể đáng kể hiện còn ở Vườn quốc gia Cát Tiên. Các loài chim ăn thịt đã ghi nhận được hơn 30 loài như Ó cá (Pandion haliaetus), Diều hâu (Milvus migrans), Diều đầu trắng (Circus spilonotus), Cắt nhỏ bụng hung (Microhierax caerulescens), Đại bàng bụng hung (Hieraeatus kienerii).
Các loài chim nước đã thống kê được hơn 60 loài trong khu vực này, đặc biệt là hàng năm các loài chim di trú (bao gồm các loài di trú vào mùa đông; loài bay qua khu vực trong lúc di cư và loài đến sinh sản trong mùa sinh sản) tập trung về ngày càng nhiều.
Thú gồm 103 loài thuộc 29 họ, 11 bộ, trong đó có 39 loài có tên trong Sách Đỏ Việt Nam. Các loài thú quý hiếm như Bò Banten (Bos banteng), Bò Gaur (Bos gaurus), Hổ (Felis tigris), Gấu chó (Helarctos malayanus), Gấu ngựa (Selenarctos thibetanus), Voi (Elephas maximus), Báo hoa mai (Panthera pardus), Báo lửa (Felis temmincki), Cầy mực (Arctictisbinturon), Chó sói (Cuon alpinus), Voọc chân đen (Pygathrix nigripes), Sóc bay lớn (Petaurista petaurista). Đặc biệt Vườn quốc gia Cát Tiên còn tồn tại một quần thể nhỏ loài Tê giác Việt Nam (Rhinoceros sondaicus annamiticus) với số lượng 7- 8 cá thể đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng rất gần. Đây là loài phụ của loài Tê giác Java, là loài đặc hữu và quý hiếm không chỉ đối với Việt Nam mà còn cả đối với Thế giới, cần phải quan tâm bảo vệ đặc biệt.
Cá gồm trên 150 loài, thuộc 21 họ, có nhiều loài phổ biến và có giá trị kinh tế như Cá Lăng bò (Bagarius spp.), Cá Lăng nha (Mystus nemurus), Cá Lóc bông (Channa micropeltes), .v.v. Trong đó có loài cá rồng (Scleropages formosus) được xếp vào nhóm (E). Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng khu vực VQG Cát Tiên.
Bò sát, ếch nhái gồm 120 loài thuộc 23 họ và 6 bộ, trong đó 79 loài bò sát thuộc 17 họ, 4 bộ; 41 loài ếch nhái thuộc 6 họ và 2 bộ. Các loài bò sát ếch nhái quý hiếm có 23 loài như Cá Sấu Xiêm (Crocodylus siamensis), Trăn gấm (Python reticulatus), Trăn đen (Python molurus). Các loài đặc hữu có 3 loài như Thạch sùng ngón vằn lưng (Cyrtodactylus irregularis), Cóc mắt trung gian (Megophyrys intermedius), Nhái bầu Trung bộ (Microhyla annamensis). Đợt khảo sát thực địa năm 2010 để tìm kiếm loài này đã không phát hiện bất cứ bằng chứng nào về sự tồn tại của Cá sấu nước ngọt ở Vườn quốc gia Cát Tiên. Tuy nhiên với sự trợ giúp của Dự án Quỹ bảo tồn động vật hoang dã (WWF), 30 cá thể Cá sấu nước ngọt sinh sản nhân tạo đã được thả tại khu vực Bàu Sấu trong Vườn quốc gia.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2.1.2. Đặc điểm dân cư và kinh tế xã hội
2.1.2.1. Đặc điểm dân cư
Dân số 6 xã vùng ven Vườn quốc gia Cát Tiên là: 29.243 người; Số lao động: 14.891 người, ngoài ra còn xã Gia Viễn có một phần đất trong địa giới hành chính của Vườn quốc gia, nhưng hiện không còn dân sinh sống.
Bảng: 2.2. Dân số của các xã sống ven Vườn quốc gia Cát Tiên
Trong 6 xã trên, có 21 thôn có ranh giới trong vườn và tiếp giáp với VQG, với kết quả theo dõi nhiều năm của Hạt kiểm lâm thì đây là những thôn có nhiều hoạt động trực tiếp gây ảnh hưởng đến rừng và công tác bảo tồn, những đặc điểm về kinh tế – xã hội của 21 thôn như sau:
Bảng: 2.3. Thông tin về các xã trong vùng dự án
Tổng số thôn 21 thôn; Số hộ gia đình 2.345 hộ; Số nhân khẩu 10.534 người; Số lao động 5.858 người. (xem bảng 2.4)
Bảng: 2.4. Dân số các thôn liên quan đến các hoạt động của Vườn quốc gia Cát Tiên
Số thôn có ảnh hưởng đến công tác bảo vệ tài nguyên rừng gồm 17 thôn: – Tỉnh Đồng Nai: Thôn 4, 5, 7 (xã Tà Lài), Ấp 4, 7 (xã Đắk Lua ), – Tỉnh Bình Phước: Thôn 1, 2, 3 (xã Đăng Hà). – Tỉnh Lâm Đồng: Toàn bộ 5 Buôn của xã Đồng Nai Thượng, thôn 4, 5 (xã Phước Cát 2); Thôn 3, 6 (xã Tiên Hoàng).
2.1.2.2. Đặc điểm kinh tế – xã hội Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng khu vực VQG Cát Tiên.
Sản xuất nông nghiệp là ngành sản xuất chính của các thôn, bản là sản xuất nông nghiệp, do đặc điểm của vùng đồi, địa hình cao, không chủ động được nước tưới nên cây trồng chính là cây công nghiệp dài ngày như cao su, điều, cây ăn quả, cây hoa màu, diện tích trồng cây lương thực không đáng kể. Về chăn nuôi: Các vật nuôi chính là chăn nuôi gia súc, gia cầm theo quy mô hộ gia đình, trong những năm vừa qua hàng loạt các loại dịch bệnh đối với gia súc, gia cầm như: Lở mồm, long móng (đối với heo, trâu, bò), dịch heo tai xanh, cúm gia cầm…đã hạn chế các hộ gia đình đầu tư phát triển chăn nuôi vì rủi ro quá lớn, giá thức ăn gia súc cao, khả năng phòng trừ dịch bệnh ở vùng này còn nhiều hạn chế, diện tích đất chăn thả trâu bò ngày càng giảm, lợi nhuận thu được chăn nuôi cũng giảm do ít lợi thế cạnh tranh về giá cả, quy mô nhỏ…
Về công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ: Trong các xã nằm sát ranh giới Vườn quốc gia Cát Tiên không có các khu công nghiệp, cơ sở gia công, chế biến lớn có khả năng thu hút lao động địa phương, nông nhàn, đây là khó khăn lớn để chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm của các địa phương theo hướng nông – công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ.
Về văn hóa, giáo dục: Hệ thống các trường học (tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông) đã đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh trong độ tuổi đi học bậc tiểu học, trung học cơ sở. Ở bậc học trung học phổ thông thì số học sinh phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện kinh tế của từng hộ gia đình. Do trường xa, học phí và các khoản chi cho học tập nhiều nên những hộ cha mẹ quan tâm đến việc học tập của con em, hộ có đủ kinh phí trang trải cho việc học tập của các em thì các em mới có điều kiện học hết chương trình phổ thông trung học.
Về y tế: Trong những năm gần đây được cải thiện rất nhiều, các xã đã có trạm y tế xã, có đội ngũ y, bác sỹ khám, chữa bệnh thông thường, tiêm chủng mở rộng các loại vắcxin phòng ngừa dịch tả, những bệnh nhân hiểm nghèo được chuyển lên các tuyến trên cứu chữa kịp thời.
Về bưu chính, viễn thông: việc thông tin liên lạc đã được phủ sóng 100% dưới 2 hình thức là các mạng điện thoại cố định (để bàn), di động.
Các nội dung khác
- Tất cả các xã đều có hệ thống phát thanh, truyền hình của trung ương và địa phương.
- Trên 80% số hộ sử dụng điện lưới quốc gia phục vụ sản xuất và sinh hoạt.
- Khoảng gần 80% sử dụng nước giếng khoan, giếng đào phục vụ sinh hoạt (xã Đăng Hà trên 46%).
Thu nhập và đời sống Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng khu vực VQG Cát Tiên.
Các xã nêu trên thu nhập từ sản xuất nông nghiệp chiếm từ 60 – 80% tổng thu nhập, trong khi đất nông nghiệp hạn chế, phương thức canh tác lạc hậu. Nhiều hộ đồng bào dân tộc chỉ độc canh cây điều như ở xã Đồng Nai Thượng, thôn 4 xã Phước Cát 2. Mặc dù diện tích cây điều ở đây khá lớn nhưng năng suất thấp bình quân khoảng 200 kg/ha, giá trị khoảng 15 đến 20 triệu đồng/ha. Do giá nông sản trong gần đây thất thường, giảm mạnh nên đời sống kinh tế của người dân ở đây rất khó khăn, thiếu đói thường xuyên.
Theo số liệu từ UBND các xã tháng 1 năm 2021, thu nhập bình quân đầu người thấp và thay đổi tùy theo vùng, ở Đồng Nai Thượng, chỉ đạt 375.000 đồng/tháng, tại Tiên Hoàng là 376.833 đồng/tháng, ở Tà Lài là 516.667 đồng/tháng, Phước Cát 2 có mức thu nhập cao hơn nhưng cũng chỉ đạt khoảng 589.000 đồng/tháng. Tuy nhiên đây là mức thu nhập bình quân, trong các xã ngoài một bộ phận người dân có kế hoạch và kỹ thuật canh tác cao, cũng còn nhiều hộ có mức sống thấp, nhiều hộ dân (nhất là đồng bào thiểu số) bị thiếu đói thường xuyên, phải trông chờ vào trợ cấp của Nhà nước.
Tỷ lệ hộ nghèo trong vùng còn cao: Xã Đồng Nai Thượng còn tới 52% hộ nghèo, xã Tà Lài 33,9% và Phước Cát 2 là 26,6%. Đây những xã có nhiều đồng bào dân tộc thiểu số cư trú.
Bảng: 2.5. Thu nhập và tỷ lệ đói nghèo.
Theo điều tra Participatory Rural Appraisal (PRA) tháng 1 năm 2021:
- + Nhóm hộ nghèo ( < 200.000 đ/người/tháng): 36 %
- + Nhóm hộ cận nghèo (>200.000 – 417.000 đ/người/tháng): 18 %
- + Nhóm hộ trung bình (> 840.000đ/người/tháng): 38 %
- + Nhóm hộ khá (< 1.200.000đ/người/tháng): 4 %
- + Nhóm hộ cao (>1.200.000đ/người/tháng): 4 %
(Theo chuẩn nghèo quốc gia, vùng nông thôn: thu nhập đầu người/tháng < 200.000 đồng).
Thực tế so với mặt bằng giá cả hiện nay, thu nhập dưới mức 500.000đ/người/tháng vẫn sống khó khăn, trong khu vực các xã này có tới trên 54% dân số có cuộc sống khó khăn.
2.2. Tiềm năng của các nguồn Tài nguyên du lịch khu vực Vườn quốc gia Cát Tiên Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng khu vực VQG Cát Tiên.
VQG Cát Tiên có nguồn Tài nguyên du lịch phong phú và đa dạng trên cả 2 mặt: tự nhiên và nhân văn, tạo sức hấp dẫn cao đối với du khách, phục vụ các nhu cầu tham quan, học tập, nghiên cứu và vui chơi giải trí.
2.2.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên
VQG Cát Tiên được thành lập dựa trên cơ sở sáp nhập Khu rừng cấm Nam Cát Tiên, Khu Bảo tồn thiên nhiên Tây Cát Tiên và Khu Bảo tồn tê giác Cát Lộc, nằm trên địa bàn của 3 tỉnh Bình Phước, Đồng Nai và Lâm Đồng.
Tổng diện tích của vườn là 71.920 ha, trong đó, 39.627ha thuộc địa phận tỉnh Đồng Nai, 27.850ha thuộc địa phận tỉnh Lâm Đồng và 4.443ha thuộc địa phận tỉnh Bình Phước.
VQG Cát Tiên có các sinh cảnh rừng nguyên sinh, rừng giàu, rừng non, rừng hỗn giao giữa cây gỗ và lồ ô, rừng lồ ô thuần loại. Các sinh cảnh rừng này phân bố xen kẽ nhau tạo nên những khoảng không gian đóng, mở luôn tạo sự mới mẻ cho du khách.
Các trảng cỏ của khu vực Núi Tượng, Tà Lài, vùng bán ngập là những nơi có nhiều loài thú ăn cỏ, động vật móng guốc, các loài thú ăn thịt nhỏ ra kiếm ăn, tạo thành những điểm xem thú về đêm nổi tiếng ở Vườn quốc gia Cát Tiên mà ít nơi có.
Vùng đất ngập nước khu vực Bàu Sấu có cảnh quan thiên nhiên nổi tiếng trong và ngoài nước về tính hoang sơ, với nhiều loài động, thực vật và thủy sinh vật sinh sống. Năm 2016, khu đất ngập nước Bàu Sấu được Công ước Ramsar công nhận là vùng đất ngập nuớc có tầm quan trọng Quốc tế thứ 1.449 của thế giới, điều này càng tạo thêm sự hấp dẫn cho du khách.
Môi trường trong sạch, thiên nhiên hấp dẫn, cơ sở hạ tầng, dịch vụ phục vụ phát triển Du lịch sinh thái bước đầu đã đáp ứng được các nhu cầu hoạt động của du khách. Vườn quốc gia Cát Tiên đã và đang là điểm đến cho phát triển du lịch bền vững.
VQG Cát Tiên là khu vực hiện bảo tồn được nhiều loại động, thực vật quý hiếm; là vùng quan trọng để duy trì hệ sinh thái rừng thường xanh lá rộng – môi trường sống duy nhất của loài tê giác một sừng ở Việt Nam, khu vực Đông Dương cũng như trên thế giới. Độ che phủ của rừng tự nhiên trong khu vực này lên tới 80%, với hệ sinh thái đa dạng: rừng thường xanh ẩm, đồng cỏ và ngập nước. Địa hình tự nhiên xen kẽ các bàu, đầm, suối, cộng với hơn 90km sông Đồng Nai đã tạo nên cảnh quan đặc trưng cho Vườn Nam Cát Tiên, với những ghềnh, thác, các khu đất ngập nước và bán ngập nước,… Những dấu tích về địa chất, địa mạo minh chứng cho quá trình biến đổi của thiên nhiên ở khu vực này hàng triệu năm trước. Hiện nay, Vườn quốc gia Cát Tiên là một trong những khu dự trữ sinh quyển thế giới ở Việt Nam, đã được UNESCO ghi danh. Theo số liệu thống kế, trong Vườn quốc gia Cát Tiên có 1.610 loài thực vật và 1.568 loài động vật. Trong đó, 31 loài thực vật và 84 loài động vật có tên trong Sách Đỏ Việt Nam, 50 loài chim được ưu tiên bảo vệ ở mức độ toàn cầu và được ghi vào Sách Đỏ IUCN, 2019. Đặc biệt, có 3 loài và phân loài thuộc đặc hữu của Việt Nam đang đứng trước nguy cơ bị diệt vong là chà vá chân đen, tê giác một sừng Việt Nam và hoẵng Nam Bộ. Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng khu vực VQG Cát Tiên.
Trong khu vực Nam Cát Tiên có nhiều địa điểm cảnh quan đẹp, như thác Trời, thác Bến Cự, thác Dựng, thác Mỏ vẹt, thác Nơkrót- Nơkrót… Một trong số những hệ sinh thái nổi bật ở đây là hệ thống sông và các bàu. Sông Đồng Nai, có chiều dài 635km bắt nguồn từ cao nguyên Lang Biang (cao nguyên Lâm Viên, Lâm Đồng) đổ ra biển tại cửa Soài Rạp và cửa Lòng Tàu. Diện tích lưu vực là 40.800 km2; đoạn chảy qua Vườn quốc gia Cát Tiên dài khoảng 90km. Suối Đắc Lua dài khoảng 20 km, gom nước từ các bàu ra sông. Bàu Sấu là bàu lớn nhất, có diện tích mặt là 92,63 ha. Bàu Cá là hồ nước tự nhiên, có diện tích mặt nước 74,3 ha. Bàu Bèo có diện tích 23,92 ha. Xung quanh bàu được bao bọc bởi nhiều cây gỗ lớn… Trong khu vực Nam Cát Tiên còn có diện tích đồng cỏ khá rộng, nơi bảo tồn các loài thú lớn quý hiếm (bò tót, hoẵng), được bảo vệ tốt, hầu như không có tác động của con người.
Tiềm năng du lịch chủ yếu của Vườn quốc gia Cát Tiên, là rừng nguyên sinh có nhiều loại thảm thực vật và hệ thống động vật phong phú, là điểm Du lịch sinh thái lý tưởng cho khách trong nước và quốc tế tham quan, nghiên cứu. Ngoài ra huyện còn có các cảnh quan thiên nhiên như thác nước tự nhiên ở xã Phú Sơn, hồ Đa Tôn, Suối Mơ; công trình nhà văn hóa các dân tộc Tà Lài phục vụ cho đồng bào dân tộc thiểu số.
Hiện nay Vườn quốc gia Cát Tiên đã khai thác được 12 tuyến tham quan: tuyến ghềnh Bến Cự; tuyến bằng lăng – cây gõ Bác Đồng; tuyến cây si; tuyến Bàu Sấu; tuyến Bàu Chim; tuyến Sinh thái; tuyến tham quan làng đồng bào dân tộc Tà Lài; tuyến Thác Mỏ Vẹt; tuyến Thác Trời – Thác Dựng; tuyến Di chỉ văn hoá Óc eo; tuyến Vườn thực vật; tuyến xem thú đêm.
2.2.2 . Tài nguyên du lịch nhân văn
Sự đa dạng cộng đồng các dân tộc với những truyền thống văn hoá khác nhau đang chứa đựng một kho tàng to lớn các kiến thức bản địa.
Các dấu tích khảo cổ học cho thấy, trong khu vực này đã từng tồn tại một nền văn hóa cổ. Trong lịch sử, khu vực Nam Cát Tiên và vùng phụ cận là không gian cư trú của nhiều dân tộc thiểu số: Mạ, Chơro, S’Tiêng, Mnông, Tày, Nùng, H’mông, Dao, Hoa, Mường, Ê đê,… Các dân tộc này hiện còn lưu giữ nhiều sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng, lễ hội đặc sắc, như lễ hiến tế trâu của người S’Tiêng và Mạ, lễ hội Sayangva (Mừng lúa mới) của dân tộc Chơro, lễ mừng lúa mới của dân tộc S’Tiêng và Mnông… và nhiều phong tục, tập quán, nghề thủ công cần được nghiên cứu, bảo tồn.
Các nhà khảo cổ cũng đã phát hiện được 12 di chỉ khảo cổ học dạng gò (vốn là phế tích những đền, tháp) trong khu vực Cát Tiên, cùng nhiều hiện vật, phế tích kiến trúc khác. Tại di tích Gò 1, nằm trên “Đồi Khỉ” (cao khoảng 50m) đã phát hiện được phế tích kiến trúc bằng gạch, gồm tháp thờ, tiền sảnh và kiến trúc ở hai bên đường phía trước…
Ngoài những giá trị to lớn về tài nguyên thiên nhiên, sự phong phú về dân tộc, Vườn quốc gia Cát Tiên còn có giá trị về mặt lịch sử và văn hoá.Trong thời gian kháng chiến chống Pháp, nổi tiếng với nhà ngục Tà Lài. Trong thời gian chống Mỹ nơi đây từng là chiến khu D, nơi đóng quân của Trung ương Cục miền nam, nơi trực tiếp lãnh đạo quân và dân miền đông kháng chiến chống Mỹ. Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng khu vực VQG Cát Tiên.
Khu vực Vườn quốc gia Cát Tiên còn giữ được di chỉ của nền văn hoá Óc Eo, đã từng một thời hưng thịnh từ thế kỷ thứ II đến thế kỷ thứ VII sau công nguyên. Bộ ngẫu tượng Linga và Yoni ở Cát Lộc có kích thước lớn nhất ở Việt Nam hiện nay. Khu vực di chỉ rộng khoảng 10 ha ở dọc sông Đồng Nai, là khu di tích văn hóa, đã được Bộ Văn hóa Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) xếp hạng. Các sản phẩm khai quật được bao gồm nhiều lá vàng in hình các thần Venus, thần Silva, và các đồ gốm chứng tỏ một thời hưng thịnh của Vương quốc Phù Nam cổ. Việc khai quật di chỉ và xác định các niên đại, nguồn gốc, xuất xứ của di chỉ, nguồn gốc của các vật liệu xây dựng, .v.v. đang được các nhà khoa học nghiên cứu.
Lễ hội đâm trâu: giống như nhiều dân tộc thiểu số sống vùng Tây Nguyên, lễ hội đâm trâu là một nét sinh hoạt văn hoá của người S’tiêng và Châu Mạ. Lễ hội này có tính chất ăn mừng và để tế thần. Trong lễ hội nhất thiết phải có trâu, ngoài ra còn có các con vật khác như bò, heo, gà để lấy máu tế thần.
Lễ quay đầu trâu: đây là lễ hội thể hiện nét đẹp riêng của người S’tiêng. Qua lễ hội thể hiện tinh thần tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách giữa các cá nhân trong cộng đồng. Hàng năm nếu gia chủ muốn giúp đỡ, chúc mừng một người trong gia tộc hoặc bất kỳ một người nào mà họ quý trọng, thì họ sẽ cung cấp toàn bộ lễ vật để làm lễ quay đầu trâu cho người được chọn. Trong lễ hội họ lấy máu các con vật phết lên đồ vật trong nhà với ý niệm cầu mong thần linh phù hộ cho gia đình làm ăn phát đạt.
Lễ mừng lúa mới: được tổ chức thường xuyên sau mỗi vụ mùa. Trong lễ hội chỉ cần một con vật bất kỳ, lễ hội này được tổ chức để cảm ơn các thần linh đã giúp đỡ cho một vụ mùa no đủ.
Lễ hội cồng chiêng: đây là lễ hội của nhiều đồng bào dân tộc thiểu số trong vùng, được tổ chức vào bất kỳ lúc nào trong năm khi có dịp.
Nhiều phong tục tập quán cũng gắn liền với sự tồn tại của rừng, chẳng hạn như phong tục chia sẻ sản phẩm săn bắn, giúp nhau khai thác gỗ làm nhà, sử dụng dược thảo từ rừng để chữa bệnh, vào rừng khai thác lương thực, thực phẩm lúc giáp hạt .v.v. Không chỉ đa dạng về động thực vật mà Vườn quốc gia Cát Tiên còn thu hút khách bởi những lễ hội của các dân tộc bản địa. Đây là những tiềm năng chưa được khai thác hết của Vườn quốc gia Cát Tiên.
2.2.3. Các loại hình du lịch tiêu biểu tại Vườn quốc gia Cát Tiên
Hiện tại Vườn quốc gia Cát Tiên xác định có các loại hình du lịch đang được tổ chức thực hiện gồm:
- Du lịch nghiên cứu, học tập.
- Du lịch nghỉ dưỡng.
- Du lịch kết hợp với hội nghị, hội thảo.
- Du lịch tình nguyện.
- Du lịch mạo hiểm, khám phá thiên nhiên.
- Du lịch văn hóa – lịch sử.
2.2.4. Các tuyến du lịch tiêu biểu
- Tuyến Bàu Sấu Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng khu vực VQG Cát Tiên.
Với tuyến đi Bàu Sấu thời điểm tham quan tốt nhất là vào mùa khô từ tháng 12 đến tháng 04. Nếu tính từ Trung tâm Du lịch sinh thái và Giáo dục môi trường đến Bàu Sấu thì phải mất 15 km, trong đó có 10 km có thể đi bằng ô tô hoặc các phương tiện xe 2 bánh khác, còn lại 5 km là đi bộ theo đường rừng. Khách có thể đi về trong ngày hoặc lưu trú tại trại kiểm lâm của Bàu, ở đây có 10 phòng nghỉ, mặc đù tiện nghi không có nhưng khách có thể tận hưởng không khí của vùng quê, phía trước mặt là bàu nước, buổi tối có thể soi đèn thấy được cá sấu lên bờ. Địa hình từ trụ sở Vườn đến Bàu Sấu tương đối bằng phẳng, khi đi bộ xuyên rừng du khách có thể ngắm vẻ đẹp kỳ thú của những cánh rừng già, đặc biệt là thấy được cây Tung cổ thụ hơn 500 tuổi, đường kính khoảng 10m, hay những loại dây leo có hình dáng kỳ lạ như dây Bàm Bà, Cẩm Nhung. Những loại bọ sát có thể nhìn thấy được trên tuyến này là trăn, rắn hổ mang, rắn lục, kỳ nhông. Cách Bàu Sấu 300m, du khách sẽ đi qua cây cầu gỗ nhỏ, và ở đó du khách sẽ gặp một kiểu sinh cảnh khác đó là những cây chịu ngập nước. Đến Bàu Sấu dừng chân ở trạm kiểm lâm có thể quan sát hết toàn cảnh của hồ. Du khách có thể thuê một chiếc xuồng tay chèo nhỏ dạo quanh hồ, xem các loại chim, nhất là chim nước, vào ban đêm có thể thấy cảnh Bò tót ăn cỏ trên những bãi cỏ xung quanh trạm kiểm lâm.
- Tuyến tham quan làng dân tộc Mạ, S’Tiêng ở Tà Lài
Chiều dài tuyến từ trụ sở Vườn đến Tà Lài là 12 km. Có thể đi 30 phút bằng canô hoặc 20 phút bằng ô tô. Mọi du khách quan tâm tìm hiểu về văn hóa cộng đồng các dân tộc ít người nên tham gia tuyến này. Đến với Tà Lài đầu tiên du khách sẽ tham quan Nhà văn hóa các dân tộc Tà Lài, là nơi du khách có thể thấy hết toàn cảnh lao động, sinh hoạt, lễ hội của cộng đồng dân tộc ở đây qua các hình ảnh, hiện vật được lưu giữ. Những cồng, chiêng, ché phản ánh nét sống đặc trưng lối sống tâm linh của người dân tộc. Những lễ hội tạ ơn Giàng đã phù hộ cho dân làng một mùa bội thu, mọi người khỏe mạnh. Tại đây có một ngôi nhà dài hiện đang được dùng vào việc dệt thổ cẩm của người Mạ, đây là nghề truyền thống của người Mạ bị mai một, Dự án bảo tồn Vườn quốc gia Cát Tiên đã phục hồi lại nghề này nhằm tạo việc làm, nâng cao thu nhập cho phụ nữ Mạ, màu sắc của những tấm thổ cẩm được nhuộm tự nhiên từ lá và vỏ cây. Đi dọc theo chiếc cầu treo bắc qua sông Đồng Nai, du khách đến đập Vàm Hô hay đi thăm bia tưởng niệm nhà ngục Tà Lài, nơi giam giữ những cán bộ lão thành như cố thiếu tướng Tô Ký, giáo sư Trần Văn Giàu, nhà cách mạng Dương Quan Đông.
- Tuyến Bàu Chim Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng khu vực VQG Cát Tiên.
Thời điểm tham quan tốt nhất là từ 06g00– 09g00, 15g00– 18g00. Đối với tuyến đặc thù này phụ thuộc rất nhiều vào thời tiết. Mất khoảng 20 phút đi xe ô tô đến đầu tuyến, chiều dài đoạn đường khoảng 10 km. Đa số khách quốc tế hoặc các nhà nghiên cứu quan tâm đến tuyến này. Mô tả chuyến đi từ trụ sở Vườn khách được xe đưa đi đến đầu tuyến, sau đó đi bộ 15 phút đến nơi. Ở tuyến này du khách sẽ được thấy các kiểu rừng khác nhau, sự phân bố thảm thực vật từ thấp đến cao, nơi này có một chòi quan sát, từ chòi du khách có thể quan sát được cảnh bao quát xung quanh hồ và một số loại chim thường thấy ở đây là Bói cá (kingfisher), Le nâu (lesser whistling duck), Ó cá (osprey), Cò bợ (chinese pond heron), Phường chèo (black winged cuckooshrike), thỉnh thoảng có thể gặp Công (green peafowl).
- Tuyến bằng lăng
Thời điểm tham quan tốt nhất là trời không mưa, chiều dài tuyến 3km. Thời gian khoảng 15 phút đi xe và 1,5 tiếng đến 3 tiếng đi bộ. Du khách đi bộ sẽ được thấy cánh rừng bằng lăng gần như thuần loại. Vào đầu mùa khô, rừng Bằng lăng chuẩn bị thay lá, những lá xanh sắp rụng sẽ chuyển thành màu đỏ, điều này tạo nên cảnh vật đặc biệt cho nơi này với nhiều loài cây lớn, quý hiếm, đặc trưng của vùng Đông Nam Bộ. Trên đường đi du khách được biết về cây Thiên tuế khoảng 400 tuổi (Cycas rumphii). Đi thêm 100m nữa là cây Tung đại thụ 400 tuổi (Tetrameles nudiflora). Bộ rễ của các cây Tung ở đây to vì đất ở đây có nhiều nham thạch và khu vực này thường có gió lớn, nên bộ rễ của cây không ăn sâu được xuống đất, phải trải rộng ra để có thể giúp cây hút đủ chất dinh dưỡng và giúp cây đứng vững trước những cơn gió lớn. Đi bộ khoảng 10 phút nữa là cây bằng lăng 6 ngọn (Tetrameles nudiflora), đến cuối tuyến là cây gõ đỏ khoảng 600- 700 tuổi (Afzelia xylocarpa), đây là một trong số những loài cây gỗ quí của Việt Nam. Năm 1998, cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã đến thăm cây gõ đại thụ này. Để kỷ niệm nhắc nhở các thế hệ sau về trách nhiệm bảo tồn, Vườn quốc gia Cát Tiên đã đặt tên cây này là cây gõ Bác Đồng.
- Điểm ghềnh Bến Cự
Thời điểm tham quan tốt nhất từ tháng 12 đến tháng 04. Khoảng 20 phút đi bộ. Tại đây du khách có thể thư giãn bằng cách ngồi dưới tán cây, vừa trò chuyện vừa có thể ngắm những đàn khỉ, hoặc đi bộ trên những tảng đá. Nơi đây cũng là điểm cắm trại cho khoảng 100 người.
- Tuyến thác Mỏ Vẹt
Thời điểm tham quan tốt nhất từ tháng 12 đến tháng 05. Chiều dài tuyến 3km. Thời gian 15 phút đi canô. Từ trụ sở Vườn du khách sẽ được đưa đu bằng xuồng, dọc bờ sông ngắm nhìn phong cảnh 2 bên bờ. Nếu là người xem chim thì du khách có thể quan sát những loài chim như Yểng quạ (Eurystomus orientalis), Bói cá, Diều hâu bay lượn trên bầu trời. Đây là dòng thác nước chảy mạnh. Từ trên cao nhìn xuống giống như mỏ con vẹt nên được gọi là thác Mỏ Vẹt.
- Tuyến Thác Trời – Thác Dựng Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng khu vực VQG Cát Tiên.
Thời điểm tham quan tốt nhất từ tháng 12 đến tháng 05. Chiều dài tuyến là 8km. Thời gian 30 phút đi xe hoặc 2 giờ đi bộ. Mọi du khách đều có thể tham gia. Từ trụ sở Vườn, với khoảng 30 phút đi xe du khách được đưa đến đầu tuyến Thác Dựng. Tiếp tục cuộc hành trình theo tuyến đường mòn băng qua những cánh rừng già với những vẻ đẹp quyến rũ của những loài nấm lạ, những loài hoa rừng. Theo đường mòn khoảng 0,5km, du khách sẽ được đưa đến bờ sông Đồng Nai, nơi có những bãi cát dài giữa cảnh núi rừng.
- Điểm Cây Si
Tại đây du khách sẽ nhìn thấy một cây Si khổng lồ mọc giữa dòng suối. Cây Si này có bộ rễ rất to chia làm nhiều nhánh, du khách có thể chuyền trên những rễ cây để di chuyển quanh cây. Phía dưới là dòng suối nhỏ, nước trong veo và chảy quanh năm. Nếu khách là người xem chim thì có thể nhìn thấy một vài loài chim sau: Cu Rốc Bụng Nâu (Megalaima lineata), Cu Rốc Đầu Xám (Megalaima faiostricta), Phường Chèo Đỏ Lớn (Pericrocotus flammeus), thỉnh thoảng có thể nhìn thấy Công (Pavo muticus).
- Điểm Di chỉ Cát Tiên
Thời điểm tham quan tốt nhất từ tháng 12 đến tháng 5. Thời gian đi kéo dài 1 tiếng đi xe ô tô. Tuyến này thích hợp đối với những người quan tâm tìm hiểu về di tích văn hoá, lịch sử. Từ Trung tâm Vườn du khách đi bằng xe về huyện Cát tiên, tỉnh Lâm Đồng. Có thông tin cho đây là kinh đô cổ của vương quốc Phù Nam, có lãnh thổ trải dài từ Ấn Độ, Miến Điện qua Indonesia, Nam Việt Nam, Campuchia, Thái Lan, Trung Quốc, với nền văn hóa Óc Eo đã có một thời hưng thịnh từ khoảng thế kỉ thứ II đến thế kỉ VII. Đây là thánh địa Bà La Môn giáo. Khu di tích đền đài tọa lạc trên ngọn đồi A1, xung quanh là rừng lồ ô, ở đây du khách sẽ được nhìn thấy kiến trúc của người xưa, toàn bộ khu đền được xây dựa vào nguyên vật liệu kiến trúc: gạch đá và các hiện vật thờ tự: Linga – Yoni, Ganesa (Thần Phúc), ShiVa (Thần Hủy Diệt) Bradma (Đấng Sáng Tạo) và tại đây còn lưu giữ một bộ Linga- Yoni bằng đá xám rất lớn. Linga dài 2,1m đường kính 0,7m, Yoni vuông cạnh 2,6m ước nặng khoảng 4 tấn, điều này chứng tỏ ngày xưa con người rất coi trọng tín ngưỡng phồn thực. Năm 1997 khu di tích này được công nhận là di tích lịch sử – văn hóa quốc gia và đang được đề nghị công nhận là Di sản Văn hóa Thế giới.
- Tuyến xem thú đêm
Thời điểm tham quan tốt nhất vào mùa khô, từ 19g00 đến 21g00 vào những đêm không mưa và trời không trăng. Chiều dài tuyến 10km. Thời gian 1 giờ đi xe. Du khách có thể đi thành từng nhóm 5 (xe jeep) hoặc 10 người (xe pick-up). Từ trụ sở Vườn xe ôtô sẽ đưa bạn đi xuyên qua những khu rừng và những bãi cỏ tranh nối tiếp nhau. Dưới ánh sáng đèn xe ô tô và đèn pha xem thú du khách có thể nhìn thấy những đàn Nai (Sambar) đang ăn cỏ, những con Lợn Rừng (Eurasian Wild Pig) đang kiếm ăn trong đêm, những con Chồn Hương (Common Palm Civet), những con Nhím (Southeast Asian Porcupini), Trút (Sunda Pangolin) và những con Thỏ rừng (Siamese hare).
- Điểm Vườn thực vật Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng khu vực VQG Cát Tiên.
Thời gian: 20 phút đi bộ. Đối tượng du khách: những người quan tâm nghiên cứu, tìm hiểu về hệ thực vật. Với diện tích 29,6ha, bao gồm 322 loài, thuộc 75 họ đặc trưng cho hệ thực vật miền Đông Nam bộ.
- Tuyến hang Dơi
Đi theo cùng hướng với tuyến đi Bàu Sấu, nhưng từ đường ô tô đi bộ vào chỉ khoảng 400 m, trên đường đi du khách nhìn thấy cây Tung 700 năm tuổi, và các loại dây rừng lớn, chim, sau đó đến hang dơi, với hàng trăm con dơi. Tuyến hang Dơi này được khai thác tháng 05 năm 2019, đây là dạng địa hình karst (hang động) rất được du khách ưa thích. Tuyến này thích hợp đối với các du khách thích mạo hiểm, khám phá.
Các vấn đề nêu trên chính là tiềm năng to lớn cho cho phát triển DL gắn với cộng đồng.
Hình 2.2. Bản đồ tuyến điểm du lịch tại Vườn quốc gia Cát Tiên
2.3. Thực trạng du lịch và du lịch cộng đồng tại khu vực Vườn quốc gia Cát Tiên
2.3.1. Thực trạng du lịch khu vực Vườn quốc gia Cát Tiên
2.3.1.1. Thực trạng về khách du lịch
Số lượng du khách đã đến tham quan Vườn quốc gia Cát Tiên trong thời gian từ năm 2011 đến năm 2023.
Trong những năm đầu mới thành lập (1992), chỉ có một số lượng du khách rất nhỏ đến tham quan tại Vườn chủ yếu phục vụ cho công tác nghiên cứu. Từ năm 1996, Vườn đã tổ chức được một bộ phận chuyên trách cho công việc phục vụ du lịch, thuộc sự quản lý của phòng Hành chính – Dịch vụ. Đến năm 2011, cơ sở vật chất phục vụ cho du lịch cũng được đầu tư xây dựng với hệ thống nhà khách, nhà ăn, xe, xuồng, xây dựng hệ thống tuyến du lịch, .v.v. So với những năm trước thì số lượng khách đến thăm Vườn trong khoảng thời gian này (từ năm 1996 đến năm 2011) đã tăng đáng kể.
Từ năm 2012, Vườn đã thành lập trung tâm Du lịch sinh thái và Giáo dục môi trường với chức năng và nhiệm vụ chuyên trách trong khâu tổ chức khai thác phục vụ khách đến tham quan du lịch.
Bảng 2.6. Số lượng khách du lịch đến Vườn quốc gia Cát Tiên giai đoạn 2011 – 2023
Theo bảng 2.6, tổng số lượng khách đến Vườn trong năm 2018 là 14.156 lượt người (du khách nội địa là 12.074, du khách quốc tế là 2.082) tăng 11,4% so với năm 2017. Phần lớn khách du lịch đến Vườn chỉ tập trung trong trong các tháng mùa khô (từ tháng 11 đến tháng 04 năm sau). Biến thiên số lượng khách theo mùa là rất lớn. Theo đánh giá của trung tâm Du lịch sinh thái & Giáo dục môi trường thì có khoảng 85% khách đến thăm Vườn trong những tháng mùa khô, chỉ có 15% khách trong những tháng mùa mưa. Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng khu vực VQG Cát Tiên.
Tổng lượng khách giai đoạn 2011 – 2023 có 174.612 khách nội địa, và 26.846 khách quốc tế, số khách quốc tế đến Vườn chỉ chiếm 13,33% và khách nội địa chiếm 86,67% so với tổng số khách.
Số lượng người tham quan ở trong một Vườn quốc gia phụ thuộc vào ý thức của khách, đối với khách quốc tế tối đa có thể 60 khách/tuyến/ngày, nhưng đối với khách nội địa chỉ có thể tối đa 20 người/tuyến/ngày. Số lượng nhà nghỉ ở Vườn quốc gia Cát Tiên hiện nay có 40 phòng, chi phí xây dựng 50 triệu đồng/phòng. Nhà nghỉ hiện nay chỉ có thể đáp ứng được tối đa 130 người, và Vườn quốc gia chỉ có thể chứa tối đa 200 người nếu đi về trong ngày.
2.3.1.2 . Thực trạng về thu nhập du lịch tại Vườn quốc gia Cát Tiên
Doanh thu ngày càng tăng từ du lịch của Vườn quốc gia Cát Tiên góp phần cho việc bảo tồn Đa dạng sinh học và xây dựng cơ sở hạ tầng cho Vườn. Khai thác du lịch tại Vườn quốc gia Cát Tiên phụ thuộc rất lớn vào ý thức của du khách. Doanh thu tăng qua các năm nhưng tùy theo mức lạm phát của mỗi năm mà có những điều chỉnh giá dịch vụ cho phù hợp.
Bảng: 2.7. Doanh thu từ hoạt động du lịch của Vườn quốc gia Cát Tiên giai đoạn 2017 – 2023
Doanh thu danh nghĩa tăng dần qua các năm, do số lượng khách tăng và giá cả dịch vụ tăng do chất lượng các dịch vụ du lịch được cải thiện. So với những khu du lịch của Việt Nam thì doanh thu của Vườn không đáng kể, nhưng đây là đặc thù của việc khai thác du lịch của một Vườn quốc gia.
Biểu đồ 2.2 cho thấy, nhìn chung, doanh thu hàng năm từ du lịch đều tăng (từ năm 2016 đến năm 2023 tăng 31%). Số tiền thu chủ yếu từ phòng nghỉ, vận chuyển và vé tham quan. Trong khi đó dịch vụ ăn uống, các dịch vụ khác tăng không đáng kể.
Tổng thu hàng năm được hạch toán như sau: nộp lại cho ngân sách là: 40 %, 60 % còn lại Vườn quốc gia dùng để tái đầu tư vào phát triển du lịch, cụ thể như trả lương cho nhân viên, trang bị những thiết bị phục vụ du lịch hoặc xây dựng, sửa chữa Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch… Điều này cho thấy số tiền dùng để đầu tư cho du lịch rất ít và hạn chế, phụ thuộc rất nhiều vào hiệu quả hoạt động du lịch.
2.3.1.3 .Thực trạng về Cơ sở vật chất kỹ thuật và Cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch
Ðể đáp ứng nhu cầu tham quan giải trí của khách du lịch, Vườn quốc gia Cát Tiên đã xây dựng Cơ sở vật chất kỹ thuật và Cơ sở hạ tầng tương đối đồng bộ: Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng khu vực VQG Cát Tiên.
- Đường xá. Chỉ có khoảng 6 km đường bê tông từ tuyến cây gõ bác Đồng đến bàu Rau muống, còn lại các tuyến du lịch trong rừng là đường đất, khoảng 100 km.
- Điểm cắm trại. Có 2 điểm cắm trại, trong đó 1 điểm chính rộng 1.500m2 và 1 điểm phụ khoảng 700m2 cho khoảng 200 người,
- Phương tiện vận chuyển. Các xe chuyên dụng gồm xe pickup: 4; xe Isuzu lớn: 1; xuồng, ca nô: 3, phà: 1; xe đạp: 20. Ngoài ra có 4 chiếc Land cruiser của Vườn quốc gia Cát Tiên có thể điều động khi cần thiết. Hình thức tham quan được khuyến khích tại Vườn quốc gia Cát Tiên là đi bộ tham quan các tuyến điểm gần khu Trung tâm (tuyến Bằng Lăng, Cây Tung, cây Gõ, Bến Cự). Số liệu doanh thu sử dụng các phương tiện vận chuyển là 24% (2019).
- Hệ thống thông tin gồm máy tính và hệ thống wifi miễn phí. Tốc độ 100 Mbps.
- Hệ thống các biển hướng dẫn về các điểm tham quan ở Vườn quốc gia Cát Tiên từ quốc lộ 20 theo hai con đường từ km142 và km125 vào trụ sở Vườn đã được xây dựng từ năm 2014 đã tu sửa và bổ sung mới.
- Cơ sở lưu trú. Vườn có trên 50 phòng nghỉ với sức chứa khoảng 100 khách và 1 điểm cắm trại, sinh hoạt ngoài trời tại khu trung tâm của Vườn. Công suất sử dụng phòng mỗi năm bình quân đạt 40 – 50%.
Trước đây khách đến với Vườn quốc gia phần lớn là các chuyên gia, nhà nghiên cứu… với mục đích nghiên cứu khoa học, hội thảo, công tác… Ngày nay, do lượng khách đến với Vườn quốc gia đa dạng hơn và đa số là đi về trong ngày, số khách ở lại qua đêm hầu hết là các nhà nghiên cứu, giới trẻ…
Hình thức lều trại không được dựng trong Vườn nhằm hạn chế các tác động ảnh hưởng đến môi trường thiên nhiên: như vệ sinh môi trường, tiếng ồn, lửa trại… để kiểm soát và xử lý những ảnh hưởng tiêu cực khi nó xảy ra. – Cơ sở vật chất kỹ thuật khác. Khu đón khách ở cổng Vườn có nhiệm vụ tiếp đón, thu phí tham quan, hướng dẫn lộ trình tham quan và phổ biến các nội quy cần thiết cho khách. Khu này có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc cung cấp thông tin cơ bản về Vườn quốc gia cũng như tăng cường ý thức bảo vệ môi trường cho mọi đối tượng tham quan.
Cơ sở dịch vụ ăn uống, bán hàng.Vườn có 2 nhà hàng phục vụ ăn, uống cho mọi đối tượng khách du lịch (Quốc tế, nội địa, thương gia, học sinh, nhóm khách gia đình) và tiệc chiêu đãi, tổ chức các sự kiện…với sức chứa trên 200 người. Dịch vụ ăn uống bước đầu đáp ứng được yêu cầu của khách. Căn tin cũng có thể phục vụ cho khách du lịch không đặt trước với những số lượng nhỏ lẻ, vì Vườn quốc gia nằm ở khu vực vùng sâu, chợ nhỏ nên việc dự trữ thực phẩm chỉ có thể bảo quản được 2 ngày.
Quầy hàng lưu niệm trưng bày và bán các sản phẩm đặc trưng của VQG Cát Tiên như nón tai bèo, áo thun in hình và chữ đặc trưng của du lịch Vườn quốc gia… Tuy nhiên, quầy hàng lưu niệm chưa thu hút được sự chú ý của khách du lịch cũng như kích thích sự chi tiêu của họ góp phần gia tăng thu nhập cho du lịch của Vườn quốc gia vì còn hạn chế về số lượng, chất lượng và sự đa dạng của sản phẩm, sản vật địa phương. Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng khu vực VQG Cát Tiên.
Trang thiết bị phục vụ du lịch, Hiện phòng du lịch đang quản lý 3 chòi quan sát, 5 chiếc vỏ máy công suất lớn, hơn 50 chiếc xuồng, áo phao cùng với một số máy móc thiết bị khác.
Về số lượng: vào những ngày thường với số lượng trang thiết bị như trên cơ bản đáp ứng được nhu cầu của khách du lịch. Nhưng vào những dịp lễ, tết, ngày nghỉ… thì chưa thể phục vụ tốt nhu cầu của khách.
Về chất lượng: việc di chuyển phần lớn bằng đường thủy nên phương tiện di chuyển trong khu trung tâm hầu hết là bằng vỏ máy hay xuồng. Những phương tiện này do phải hoạt động suốt nên xuống cấp rất nhanh phải thường xuyên sửa chữa, tu bổ.
Nhìn chung, Vườn quốc gia Cát Tiên trong khoảng hơn 10 năm khai thác hoạt động du lịch nhưng đó chưa phải là thời gian dài để tích lũy được nhiều kinh nghiệm làm du lịch, nên từng bước cần hoàn thiện hơn, khắc phục những khó khăn trên chặng đường phát triển.
Hình 2.3: Minh họa Cơ sở vật chất kỹ thuật hiện nay của Vườn
Hiện nay vườn quốc gia Nam Cát Tiên có 175 cán bộ công nhân viên gồm 109 kiểm lâm ở 19 trạm và 2 đội cơ động.
Trong đó số lượng nhân lực phục vụ cho du lịch ở Trung tâm Du lịch bao gồm từ Ban Giám đốc đến phục vụ phòng chỉ có khoảng 29 người:
- Ban Giám đốc Trung tâm: 2 người
- Tổ lễ tân, bán vé: 5 người
- Tổ hướng dẫn: 7 người (trong đó 4 người nói tiếng Anh, 1 người nói tiếng Trung Quốc)
- Tổ giáo dục môi trường: 1 người
- Tổ lái xe, xuồng phà : 9 người
- Tổ buồng : 2 người
- Tổ điện nước: 3 người
Thực trạng trình độ đội ngũ cán bộ nhân viên TTDL có 6 trình độ Đại học, 7 trung cấp, còn lại là sơ cấp và lao động phổ thông. Trong đó có 2 Cử nhân du lịch, 1 Cao đẳng du lịch, 4 Trung cấp du lịch, 2 cử nhân Anh văn.
Một số người đã được Vườn cử tham gia các khoá tập huấn ngắn hạn về các lĩnh vực bảo tồn kết hợp phát triển Du lịch sinh thái, kiến thức về Đa dạng sinh học và hướng dẫn, nghiệp vụ buồng, phục vụ bàn, quản lý doanh nghiệp, kế toán, kỹ năng Giáo dục môi trường. Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng khu vực VQG Cát Tiên.
2.3.1.5. Thực trạng về vốn đầu tư cho du lịch
Nguồn vốn tự có của Vườn:
Nguồn vốn tự có chủ yếu là thu nhập được tích luỹ từ kết quả hoạt động kinh doanh du lịch hàng năm sau khi đã trang trải các chi phí hoạt động thường xuyên, còn lại chủ yếu được đầu tư cho việc sửa chữa, cải tạo, nâng cấp Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch như hệ thống nhà nghỉ, phương tiện; mua sắm trang, thiết bị để phát triển dịch vụ du lịch.
- Nguồn vốn tài trợ từ các dự án:
Trong thời gian qua, Vườn quốc gia Cát Tiên đã tiếp nhận các dự án quốc tế như:
Dự án bảo tồn Vườn quốc gia Cát Tiên (còn gọi là dự án vùng lõi); Dự án bảo vệ rừng và phát triển nông thôn (còn gọi là dự án vùng đệm); Dự án giám sát quần thể tê giác Việt Nam và dự án điều tra tình trạng loài vượn đen má vàng; Dự án điều tra loài bò hoang dã, Dự án cứu hộ các loài gấu và các loài linh trưởng quý hiếm,… cũng đóng góp đáng kể vào đầu tư cơ sở hạ tầng, cảnh quan, bảo tồn, phương tiện, trang thiết bị góp phần quảng bá hình ảnh của Vườn quốc gia Cát Tiên.
Trong 3 năm từ 2020 – 2023, Dự án phát triển du lịch, đặc biệt là Du lịch sinh thái trong và xung quanh Vườn quốc gia Cát Tiên do WWF Đan Mạch và WWF Việt Nam tài trợ đã hỗ trợ cho Vườn một số hoạt động như đào tạo các lớp kỹ năng về lễ tân, hướng dẫn, marketing, xây dựng website, cải tiến hệ thống thông tin, diễn giải, giám sát tác động của du khách nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức, quản lý và kinh doanh du lịch của Vườn quốc gia Cát Tiên. Dự án cũng đã hỗ trợ thử nghiệm thành công mô hình Du lịch cộng đồng tại ấp 4, xã Tà Lài theo hình thức hợp tác liên kết với các nhà đầu tư để hỗ trợ về hạ tầng và kỹ thuật, mô hình này đã được chuyển giao cho Tổ hợp tác du lịch của địa phương tổ chức hoạt động từ năm 2023 đến nay bước đầu đã có hiệu quả. Trong đó đáng chú ý nhất là nguồn vốn tài trợ của các tổ chức nước ngoài và từ ngân sách của nhà nước:
- Ngân sách Nhà nước cấp 13.301 triệu đồng (bao gồm cả vốn đối ứng của Dự án nhận tài trợ của Chính phủ Hà Lan).
- Vốn viện trợ của Chính phủ Hà Lan: 82.000 triệu đồng (quy đổi từ 6.300.319 USD ).
- Vốn tự huy động bổ sung của Vườn và liên doanh liên kết với các tổ chức kinh tế khác: 2.821 triệu đồng (chủ yếu phục vụ du lịch).
Giao cho Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt tổng dự toán, xác định cơ cấu đầu tư trong tổng mức trên của dự án và chỉ đạo chủ đầu tư triển khai thực hiện.
2.3.1.6. Thực trạng về tổ chức quảng bá và xúc tiến phát triển du lịch
Hiện nay ban quản lý Vườn quốc gia Cát Tiên đã thực hiện hình thức quảng bá như: lắp biển quảng cáo, in tờ rơi và lập trang website giới thiệu về Vườn, các tuyến du lịch và các dịch vụ phục vụ du lịch, những thông tin, hình ảnh liên quan đến Vườn.
Bên cạnh đó, còn có sự đầu tư của rất nhiều chương trình dự án của các tổ chức trong và ngoài nước. Như trong quá trình thực hiện dự án của tổ chức quỹ bảo tồn động vật hoang dã, Vườn đã kết hợp với tổ chức này để phát hành con tem có in hình tê giác Java. Ngoài ra, một phần của dự án này là kết hợp với Vườn trong quá trình tuyên truyền giáo dục về môi trường đối với người dân sống gần Vườn. Một số lượng tài liệu rất lớn về thông tin và hình ảnh được in và phát cho người dân thông qua nhiều hình thức khác nhau. Những cuốn tập vở được in bìa là thông tin về Giáo dục môi trường được phát cho học sinh các trường trong khu vực giáp ranh với Vườn .v.v. Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng khu vực VQG Cát Tiên.
Quảng bá trên các phương tiện truyền thống, báo chí cũng mang lại hiệu quả cao. Nhiều chương trình truyền hình đưa tin giới thiệu về Vườn như chương trình Thế giới muôn loài của HTV7, chương trình du lịch qua ống kính của đài BTV, clip cảnh thiên nhiên của đài VTV2… Các đài khác cũng đã đưa tin như Đồng Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Lâm Đồng, Bình Phước. Ngoài ra, còn có một số hãng truyền hình của các nước: Đức, Pháp, Nhật. Về phía báo chí có rất nhiều tờ báo đã đưa tin và ảnh về Vườn quốc gia Cát Tiên như: báo Tuổi Trẻ, Sài Gòn Giải phóng, Mực Tím, Quân đội Nhân dân, Việt Nam News, .v.v.
Ngày nay, việc nối mạng, truy cập tìm hiểu thông tin trên mạng internet không còn xa lạ đối với đa số người, Vườn xuất hiện trên hơn 50 triệu trang website của Việt Nam, và các quốc gia khác trên thế giới.
2.3.1.7. Thực trạng về môi trường du lịch
- Môi trường tự nhiên
Vườn quốc gia Cát Tiên chứa đựng các hiện tượng tự nhiên đặc biệt và có vẻ đẹp tự nhiên khác thường
VQG Cát Tiên có cảnh quan sông suối và hệ thống hồ nước có giá trị quan trọng của Việt Nam, Đông Nam Á và Thế giới, được tạo bởi các quá trình tạo sơn, quá trình sụt lún, quá trình đứt gãy, quá trình biển tiến, biển thoái và quá trình phun trào bazan.
Hồ nước tự nhiên trên vùng bình nguyên có đáy hình lòng chảo do ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới cận xích đạo, mưa mùa nên lòng chảo này tích nước tạo nên những hồ nước rộng lớn giữa vùng rừng kín thường xanh mà người dân địa phương gọi là “bàu”. Bàu nước là nơi sinh sống của nhiều loài sinh vật quí hiếm có giá trị bảo tồn nguồn gen như gà so cổ hung, quắm cánh xanh, bò tót, bò rừng…VQG Cát Tiên có 12 bàu nước tự nhiên cùng với sông Đông Nai và suối Tà Lài tạo nên hệ thống cảnh quan đất ngập nước đan xen, có mối quan hệ liên kết hữu cơ tạo môi trường sinh sống của nhiều loài sinh vật đẹp, có giá trị giáo dục, thẩm mỹ và bảo tồn, là nơi nghỉ dưỡng trong lành với nhiều cảnh đẹp.
VQG Cát Tiên có cảnh quan đồng cỏ, có giá trị quan trọng bảo tồn các loài thú lớn của Việt Nam, Đông Nam Á và thế giới: Nằm trên nền đá bazan, xen lẫn địa hình đồi tạo nên vẻ đẹp của một đồng cỏ trên bình nguyên,khác với đồng cỏ ở Tây Nguyên (đồng cỏ khô hạn và bị cháy vào mùa khô) hay đồng cỏ ở vùng trũng của đồng bằng sông Mê Kông (ngập nước theo mùa).
VQG Cát Tiên có cảnh quan rừng kín thường xanh nhiệt đới mưa mùa lá rộng, có giá trị bảo tồn loài tê giác một sừng và các loài thú lớn của Việt Nam, Đông Nam Á và thế giới:
Rừng thường xanh trên bình nguyên bazan là cấu trúc quan trọng tạo nên vẻ đẹp tuyệt vời của vùng rừng nhiệt đới, với những kiểu rừng kín thường xanh nằm trên địa hình tương đối bằng phẳng (có độ dốc <3%), độ che phủ rừng lên đến 80%.
Vùng núi cao Cát Lộc được hình thành bởi quá trình tạo sơn trước kỷ đệ tứ. Quá trình này tạo nên cảnh quan rừng thường xanh trên núi với vẻ đẹp nổi bật của cảnh quan là ngôi nhà cho loài Tê giác một sừng – loài được xác nhận đã tuyệt chủng ở Việt Nam và có nguy cơ bị tuyệt chủng trên thế giới. Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng khu vực VQG Cát Tiên.
Vườn quốc gia Cát Tiên chứa đựng những giá trị đặc biệt của quá trình sinh học, sinh thái đang diễn ra trong quá trình tiến hoá và phát triển của hệ sinh thái trên cạn và ngập nước
VQG Cát Tiên là vùng quan trọng để duy trì hệ sinh thái ngập nước nhiệt đới. Trải qua nhiều quá trình tạo sơn, sụt lún, ngập lụt, phơi khô, phong hóa, xâm thực, bào mòn, rửa trôi, tích tụ của địa chất, đan xen nhau khá phức tạp tạo nên một bề mặt địa hình ở Nam Cát Tiên hiện nay.
Độ che phủ rừng tự nhiên đạt 80%, là các hệ sinh thái chính và quan trọng ở Cát Tiên bao gồm:
- Hệ sinh thái rừng thường xanh ẩm.
- Hệ sinh thái đồng cỏ.
- Hệ sinh thái ngập nước.
Đặc điểm tiến hoá địa chất – địa mạo vùng Vườn quốc gia Cát Tiên và lân cận đã tạo nên sự đặc sắc, đa dạng của địa hình, địa mạo vùng Vườn quốc gia Nam Cát Tiên. Vườn quốc gia Cát Tiên ngày nay là hiệu quả của quá trình diễn thế lâu dài, trải qua nhiều giai đoạn phát triển đặc trưng duy nhất chỉ có ở Vườn quốc gia Cát Tiên..
Có thể nói rằng Vườn quốc gia Cát Tiên là nơi duy nhất ở Việt Nam có các kiểu đất ngập nước ngọt phong phú và đặc trưng nhất. Bởi vậy, khi nói tới Nam Cát Tiên là người ta liên tưởng ngay tới các bàu nước ngọt danh tiếng mà tên gọi của chúng được gọi một cách dân dã gắn liền tới những quần thể thủy sinh vật ưu thế ở đó như Bàu Sấu (nơi cư trú thường xuyên của loài cá sấu xiêm), Bàu Chim (nơi cư trú của các loài chim nước), Bàu Cá (nơi cư trú của nhiều loài cá), Bàu Cá Rô (nhiều cá Rô), Bàu Cỏ (có các trảng cỏ ngập nước), Bàu Sen (nhiều hoa Sen), Bàu Lác…
Các bàu, hồ ở Vườn quốc gia Cát Tiên là kiểu đầm lầy (marsh) được đặc trưng bởi các nhóm thực vật thủy sinh bậc cao (macrophyte) khác nhau và kiểu đầm lầy (swamp), có thảm thực vật ưu thế bởi các loài cây gỗ.
Vườn quốc gia Cát Tiên là nơi sinh sống tự nhiên, quan trọng và có ý nghĩa đối với việc bảo tồn Đa dạng sinh học; là nơi có nhiều loài động, thực vật; nhiều loài quý hiếm đang bị đe doạ ở Việt Nam, Đông Nam Á và thế giới.
VQG Cát Tiên có thảm thực vật đa dạng và phong phú, các dạng thảm thực vật rất khác biệt về sinh khối, thành phần loài, nhịp điệu mùa và tính chất phân tầng. Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng khu vực VQG Cát Tiên.
VQG Cát Tiên có 5 kiểu rừng rất khác biệt nhau về tính chất, đặc điểm thành phần loài thực vật và động vật. Từ rừng thường xanh lá rộng, chỉ có ở vùng nhiệt đới mưa ẩm tới rừng khô hạn nửa rụng lá cây họ Dầu và rừng ngập nước.
VQG Cát Tiên có hệ thực vật đa dạng và phong phú về thành phần loài, taxon phân loại, dạng sống, công dụng và quí hiếm. Sự Đa dạng sinh học cao do Vườn quốc gia Nam Nam Cát Tiên nằm ở vùng địa lý sinh học chuyển tiếp giữa cao nguyên Nam Trường Sơn xuống vùng đồng bằng sông Cửu Long nên Vườn quốc gia Cát Tiên hội tụ được nhiều luồng hệ thực vật và động vật phong phú và đa dạng.
- Môi trường xã hội nhân văn
Văn hóa cộng đồng các dân tộc khu vực Vườn quốc gia Cát Tiên và phụ cận Thành phần dân tộc sống trong Vườn quốc gia Cát Tiên và vùng phụ cận gồm hơn 30 dân tộc, chiếm đa số là người Kinh (67,1 %), tiếp đến là các dân tộc ít người thuộc các tỉnh miền núi phía Bắc di cư và cư dân bản địa; cụ thể: Tày (11,1%); Nùng (8,1%); H’mông (1,1%), Dao (1,3%), S’Tiêng (2,3%); Mạ (6,2%); Hoa (1,1%); Chơro (0,1%); Mnông (0,03%), Mường (0,7%); Ê đê (0,01%); dân tộc khác (0,001%).
- Tộc người Mạ
Khu vực Vườn quốc gia Cát Tiên và vùng phụ cận là địa bàn sinh sống từ rất lâu đời của tộc người Mạ, phân bố chủ yếu trên địa bàn huyện Tân Phú (Đồng Nai), Đa Tẻh, Cát Tiên, Bảo Lâm (Lâm Đồng) và Bù Đăng (Bình Phước).
Khu vực người Mạ ấp 4 (xã Tà Lài, huyện Tân Phú, Đồng Nai) có 147 hộ, 685 khẩu, đây là khu vực có người Mạ sinh sống tập trung đông nhất của tỉnh Đồng Nai..
Người Mạ có kiến trúc mang sắc thái riêng và khá độc đáo. Nhà dài là hình thức cư trú truyền thống lâu đời của người Mạ. Đến nay (2023) ở xã Lộc Bắc (huyện Bảo Lâm) còn tồn tại 1 ngôi nhà dài truyền thống của người Mạ.
- Trang phục:
Y phục cổ truyền của người đàn ông Mạ là áo cộc tay và đóng khố. Khố thường được dệt theo khổ khoảng 40cm x 200cm, gồm hai dải hoa văn hình học chạy dọc và có tua rua ở hai đầu mép vải. Chiếc áo thì được thiết kế đơn giản hơn nhưng nó có giá trị cao về mặt thẩm mỹ. Áo may khoảng chui đầu, hai tay sát nách, màu đen và trắng là chủ đạo, ngoài ra còn có trang trí thêm màu đỏ, vàng, xanh đen… Phụ nữ Mạ trước đây thường là để ngực trần (không mặc áo) và quấn váy (ùi), sau này có mặc áo. Váy thường là màu đen, xanh đen, kèm theo đó là một tấm khăn (ồi). Tấm khăn này có nhiều công dụng, không chỉ là vật trang sức, là chăn lúc lạnh, là khăn địu con…
- Ẩm thực: Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng khu vực VQG Cát Tiên.
Bữa ăn thường ngày của người Mạ không theo một giờ giấc cố định nào, đói khi nào ăn khi ấy. Trong bữa ăn thường có cơm tẻ, rau rừng, muối ớt (trước đây làm muối bằng cách dùng tro cỏ tranh hoặc tro một loại lồ ô hòa với nước, để lắng cặn dùng thay cho muối) là chủ yếu, ít khi có thịt, cá. Phần cơm dành cho từng người được đựng trong sớp, mọi người ngồi quây quần quanh thức ăn (thức ăn được để ở giữa).
Thức uống được người Mạ ưa chuộng nhất chính là rượu cần. Rượu cần có thể uống trong sinh hoạt gia đình và không thể thiếu trong các buổi sinh hoạt cộng đồng, tang ma, cưới hỏi… Đặc biệt, rượu cần là một trong những vật lễ bắt buộc trong các lễ hội để cúng các Yàng.
- Nghề thủ công truyền thống:
Nghề đan lát (Tành sớ, tành să): Vốn là một nghề phổ biến và rất quan trọng trong đời sống của người Mạ. Sản phẩm đan phục vụ sinh hoạt hàng ngày, phục vụ lao động sản xuất như: gùi suốt lúa trên rẫy (khiêu kách), gùi đựng nước (pài anh), gùi đựng lúa (sá), gùi đi chơi (khiêu lọt hân)… Người Mạ dùng sợi cỏ lác, lá cây cọ dệt chiếu để ngủ, chiếu trong nghi lễ, sớp đựng cơm (prơrlơ)… Những sản phẩm đan lát của người Mạ rất tinh xảo – là sự kết hợp giữa các yếu tố vật chất và các yếu tố tinh thần được đan xen, hòa quyện không thể tách rời.
- Các giá trị văn hóa nghệ thuật:
Kho tàng văn hóa dân gian của người Mạ rất đa dạng và phong phú, cả về nội dung và thể loại. Đây là nguồn nguyên liệu dồi dào để nghiên cứu về sinh thái nhân văn của Vườn quốc gia Cát Tiên, góp phần trực tiếp vào việc phát huy giá trị của di sản văn hóa nhằm phát triển các hình thức du lịch gắn với văn hóa: Du lịch cộng đồng, Du lịch sinh thái nghỉ dưỡng…
Mặc dù nền văn hóa ấy chỉ mới ở mức độ văn hóa dân gian truyền miệng; thế nhưng tính nguyên hợp trong các tác phẩm rất rõ nét, cho dù tác phẩm dài hay ngắn, hát hay là có kết hợp với kể, ngâm nga…
Người Mạ cũng có một nền âm nhạc truyền thống hết sức độc đáo. Nhạc cụ âm nhạc của người Mạ chủ yếu là bộ chiêng gồm 6 chiếc, trống, cồng, khèn bầu 6 ống, sáu lỗ âm thanh, sáo bầu 3 lỗ, khèn sừng trâu, đàn lồ ô 6 ống 6 dây, đàn đá, kèn môi…
- Tộc người S’Tiêng.
Người S’Tiêng ở Bù Đăng có 15.075 người trong đó ba xã vùng lõi và vùng đệm là 3.550 người tập trung ở hai xã Đồng Nai và Thống Nhất. Người S’tiêng ở vùng này thuộc nhóm vùng cao – Bù Lơ.
- Lễ hội: Hiện nay tại xã có trên dưới 10 lễ hội, chủ yếu là Lễ hội Quay đầu trâu, được tổ chức theo nghi thức truyền thống.
- Cư trú: Bên cạnh ngôi nhà hiện đại, tại thôn 6, thôn 12 vẫn còn nhiều căn nhà dài truyền thống với nhiều thế hệ cùng sinh sống.
- Văn hóa nghệ thuật: Hiện nay toàn xã còn 14 bộ cồng chiêng, nhiều loại nhạc cụ truyền thống.
- Nghề truyền thống: Dệt vải và làm rượu cần còn khá phổ biến.
Khảo sát thực địa cho thấy một trong những nguyên nhân dẫn đến việc bảo tồn tốt các loại hình di sản văn hóa truyền thống là ý thức của người dân và sự quan tâm tạo điều kiện của chính quyền địa phương. Xã Thống Nhất luôn vận động đồng bào gìn giữ những nét văn hóa truyền thống, tổ chức các sân chơi để người dân có điều kiện giao lưu.
- Tộc người Chơro. Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng khu vực VQG Cát Tiên.
Tộc người Chơro là cư dân có mặt sớm ở Đồng Nai. Theo các nguồn sử liệu, trước khi cư dân Việt đến Đồng Nai khẩn hoang lập nghiệp vào thế kỷ XVI thì người Chơro cùng các nhóm người Kơho, S’Tiêng, Mạ đã từng cư trú và sinh sống. Chính vì vậy, người Chơro và những nhóm cư dân trên được xem là cư dân bản địa của Đồng Nai. Tộc người Chơro thuộc nhóm loại hình nhân chủng Anhđônêdiêng, về mặt ngôn ngữ, thuộc ngữ hệ Môn – Khơ me, gần với tiếng Mạ, S’Tiêng… dòng Nam Á, chưa có chữ viết riêng của dân tộc mình.
- Phong tục tập quán:
Phong tục tập quán của người Chơro là kết quả của sự thích ứng qua nhiều thế hệ gắn bó với đất rừng, với thiên nhiên của vùng cư trú của mình. Người Chơro tin mọi vật đều có “hồn” và các “thần linh” chi phối con người, khiến con người phải kiêng kỵ và cúng tế.
Xa xưa đàn ông đóng khố, đàn bà quấn váy tấm. Mùa hè ở trần hay mặc áo cánh ngắn, mùa lạnh thường khoác trên mình một tấm chăn. Nhưng ngày nay, đại đa số người Chơro đã ăn mặc theo lối của người Kinh cùng địa phương. Ðiều mà khách qua đường có thể nhận biết được người Chơro là họ thường cõng trên lưng một cái gùi. Ðàn bà thường đeo ở cổ những chuỗi hạt cườm ngũ sắc hoặc vòng đồng, căng tai bằng gỗ hoặc ngà voi, vòng bạc hay nhôm. Thiếu nữ thường mang kiềng, dây chuyền. Dây thổ cẩm cuốn quanh trán cho các chàng trai trẻ, khăn bịt đầu cho đàn ông đã đến tuổi trưởng thành.
- Các lễ hội chính
VQG Cát Tiên và khu vực phụ cận là không gian cư trú của nhiều dân tộc thiểu số như: Mạ, Chơro, S’Tiêng … Chính vì vậy nơi đây còn bảo lưu nhiều sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng, lễ hội đặc sắc, tiêu biểu cho văn hóa của các cộng đồng dân tộc ở miền Đông Nam Bộ – Tây nguyên.
Các nghi lễ nông nghiệp, nghi lễ cộng đồng hiến tế trâu: Là một nét sinh hoạt văn hóa đặc sắc của người S’Tiêng và Mạ ở Đồng Nai. Lễ hội này có tính chất ăn mừng và để tế thần. Trong lễ hội nhất thiết phải có trâu, ngoài ra họ còn giết các con vật khác như bò, heo, gà để lấy máu tế thần. Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng khu vực VQG Cát Tiên.
Lễ hội Sayangva của dân tộc Chơro: Người Chơro Ở Đồng Nai ăn Tết dân tộc dưới tên gọi “ăn nhang lúa” (Sayangva) trong khoảng thời gian từ tháng Giêng đến tháng ba âm lịch (không vào một ngày cố định, tùy từng địa phương và tùy từng gia đình). Lễ hội Sayangva là nét sinh hoạt văn hóa truyền thống và là lễ hội lớn nhất của cộng đồng dân tộc Chơro.
Lễ Mừng lúa mới (Yô Văng Ba): Đây là lễ hội lớn nhất trong lễ hội – nghi lễ vòng đời cây trồng của dân tộc S’Tiêng. Trong quá trình sống, lao động, nếu một người nào đó trong bon tình cờ nhặt được một viên đá tự nhiên (nhỏ) có màu sắc đẹp, hình dáng khác lạ thì họ cho đó là điềm trời báo và ban cho người này được khả năng giao tiếp được với trời đất, thần linh. Từ đó, người này sẽ đảm trách những việc như: Chủ trì các lễ cúng của cộng đồng, xem ngày giờ hoặc điều tốt xấu…Viên đá đó trở thành vật thiêng, được sử dụng trong các lễ hội truyền thống của dân tộc S’Tiêng.
Khi bắt đầu lễ cúng Mừng lúa mới, già làng sẽ mang viên đá đó ra đặt ở nơi trang nghiêm để khấn xin các thần cho dân làng được tổ chức lễ hội, sau đó lễ hội mới bắt đầu. Lễ hội bắt đầu bằng nghi lễ hiến sinh – cúng đâm trâu. Con trâu được buộc vào cọc chờ sẵn, đội cồng chiêng cùng chủ lễ sẽ múa quanh con trâu vừa đi vừa khấn mời thần linh, sau đó già làng bắt đầu tiến hành đâm trâu. Khi con trâu đã bị đâm chết, chủ lễ lấy gạo rải lên đầu trâu khấn gọi thần linh về hưởng và lễ đâm trâu sẽ kết thúc. Mọi người mang trâu ra làm thịt để cùng chế biến và giao lưu, hát múa.
Lễ đặt tên (Móh Sắc con): Đây là nghi lễ đầu tiên trong hệ thống nghi lễ vòng đời người của người Mnông. Sau khi sanh được 7 ngày, người cha chuẩn bị một con gà, rượu cần tiến hành lễ cúng mời gọi thần rừng, những địa điểm họ cho là thần linh về nhà hưởng lễ vật do gia đình dâng cúng và ghi nhận tên của đứa trẻ mới sinh ra.
Lễ quay đầu trâu (Teh Bôh): Lễ hội thể hiện nét đẹp văn hóa của người S’Tiêng. Qua lễ hội thể hiện tinh thần tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách giữa các cá nhân trong cộng đồng. Tuy là lễ hội mang tính gia đình nhưng có quy mô khá lớn, thể hiện quan hệ tình cảm của hai gia đình đã hình thành từ lâu đời qua đó thể hiện mối quan hệ tình cảm giữa hai dòng họ, hai cộng đồng. Theo truyền thống, hai dòng họ đã có kết nghĩa từ nhiều thế hệ (có thể là bà con xa hoặc có thể là không phải bà con họ hàng). Hàng năm nếu gia chủ muốn giúp đỡ, chúc mừng một người trong gia tộc hoặc bất kỳ một người nào mà họ quí trọng, thì họ sẽ bỏ toàn bộ lễ vật để làm lễ quay đầu trâu cho người kia. Trong lễ hội họ lấy máu các con vật phết lên đồ vật trong nhà với ý niệm cầu mong thần linh phù hộ cho gia đình làm ăn phát đạt. Khi gia đình chủ làm lễ đâm trâu đãi du khách, phần đầu trâu sẽ để giành cho du khách mang về nhà, nếu các con vật khác như gà, heo thì cũng để dành tương tự.
VQG Cát Tiên là địa bàn sinh sống của nhiều tộc người bản địa với truyền thống văn hóa đặc trưng. Hiện nay, tại vùng đệm và vùng chuyển tiếp của Vườn quốc gia Cát Tiên có 30 dân tộc anh em cùng sinh sống đan xen thành đơn vị hành chánh ấp (bon, sóc) ở các xã (thôn). Sự đa dạng cộng đồng các dân tộc với những truyền thống văn hóa, phong tục tập quán, lễ hội đặc trưng khác nhau chứa đựng một kho tàng to lớn các kiến thức bản địa, làm phong phú hơn cho tính đa dạng tài nguyên văn hóa nhân văn của các dân tộc Việt Nam đang được Nhà nước quan tâm, đầu tư, khôi phục, bảo tồn.
Các loại hình văn hóa – nghệ thuật dân gian của cư dân bản địa được hình thành và phát triển gắn liền với rừng, tạo lên một bản sắc văn hóa đặc sắc riêng, rất hấp dẫn du khách và là đề tài nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước.
Ngày nay, đồng bào dân tộc thiểu số sống tại vùng đệm và vùng chuyển tiếp của Vườn quốc gia Cát Tiên đang tham gia các hoạt động bảo tồn rừng gắn với việc bảo tồn các nét văn hóa truyền thống của họ. Trong quá trình quản lý rừng, Vườn quốc gia Cát Tiên cùng với chính quyền địa phương có kế hoạch bảo tồn phát triển các phong tục, tập quán, bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc sinh sống tại đây. Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng khu vực VQG Cát Tiên.
Trong kháng chiến chống Pháp, địa danh Nam Cát Tiên nổi tiếng với cuộc vượt ngục Tà Lài của các chiến sĩ cách mạng, đảng viên cộng sản. Trong kháng chiến chống Mỹ, nơi đây từng là chiến khu Đ – địa bàn đứng chân của Trung ương Cục Miền Nam (1961 – 1962), Căn cứ Khu ủy miền Đông Nam bộ và nhiều đơn vị chủ lực của chiến trường miền Nam – trực tiếp lãnh đạo quân và dân miền Nam nói chung và miền Đông Nam bộ nói riêng đánh đuổi đế quốc Mỹ, thống nhất đất nước vào mùa xuân lịch sử (năm 1975).
- Tóm lại:
VQG Cát Tiên còn lại một khu rừng nguyên sinh liên tục liền mảng lớn nhất ở Việt Nam cũng như khu vực Đông Nam Á. Điều kiện địa hình đa dạng và khí hậu mưa ẩm nhiệt đới đã ban tặng cho Vườn quốc gia Cát Tiên sự phong phú và Đa dạng sinh học cao; đặc trưng của hệ động vật, thực vật, mưa ẩm nhiệt đới gió mùa; nơi bảo tồn được mẫu tự nhiên tốt nhất cho sự gắn kết của các hệ sinh thái nhiệt đới vùng đất thấp.
- Hiện nay, Vườn quốc gia Cát Tiên đã khai thác được 16 tuyến tham quan:
Ghềnh Bến Cự; tuyến bằng lăng – Cây gõ Bác Đồng; tuyến cây si; tuyến Bàu Sấu; tuyến Bàu Chim; tuyến Sinh thái; tuyến tham quan làng đồng bào dân tộc Tà Lài; tuyến Thác Mỏ Vẹt; tuyến Thác Trời – Thác Dựng; tuyến di chỉ văn hoá Óc eo; tuyến Vườn thực vật; tuyến xem thú đêm…..
VQG Cát Tiên là nơi điều tiết và cung cấp nguồn nước cho hơn 15 triệu người dân sinh sống và sản xuất nông nghiệp, thủy sản, dọc hạ lưu sông Đồng Nai và xung quanh Vườn quốc gia Cát Tiên; đặc biệt góp phần quan trọng trong việc bảo tồn nguốn nước và rừng phòng hộ cho thủy điện Trị An.
VQG Cát Tiên cung cấp nguồn lợi kinh tế từ các bàu, suối, sông ở Vườn. Trước đây, khi chưa thành lập Vườn quốc gia Cát Tiên, người dân địa phương sống bằng nguồn lợi đánh bắt cá làm thực phẩm và bán tạo thêm thu nhập trong gia đình. Vườn quốc gia Cát Tiên là địa bàn luôn hấp dẫn các nhà nghiên cứu, khám phá những bí ẩn về thế giới tự nhiên, hệ động thực vật thủy sinh, chim, thú… mối quan hệ tương hỗ giữa hệ sinh thái cạn và hệ sinh thái đất ngập nước…
Tuy nhiên, thực trạng khai thác các giá trị Tài nguyên du lịch vào hoạt động du lịch tại Vườn quốc gia Cát Tiên trong những năm qua chưa được đầu tư và phát triển đúng mức để tạo ra các sản phẩm đặc thù phục vụ nhu cầu tham quan, nghiên cứu, nghỉ dưỡng, dã ngoại của quần chúng nhân dân và khách quốc tế.
2.3.2. Thực trạng du lịch cộng đồng tại khu vực Vườn quốc gia Cát Tiên Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng khu vực VQG Cát Tiên.
2.3.2.1. Sản phẩm du lịch
- Các sản phẩm du lịch tự nhiên
Hầu hết sản phẩm của Vườn hiện nay đều mang tính tự nhiên, hoang dã và gắn liền với văn hóa bản địa của cồng đồng địa phương. Đã thể hiện được nhiều nét đặc trưng, độc đáo và hấp dẫn với nhiều du khách. Những sản phẩm này vẫn tiếp tục được giữ vững và nâng cấp, mở rộng.
Trong giai đoạn từ 2024 – 2020 tập trung giữ vững và cải tạo, nâng cấp những sản phẩm du lịch hiện có, đồng thời khai thác mở rộng thêm đến các điểm nổi bật và có sức thu hút lớn để tạo thêm các sản phẩm mới; trong đó cần chú trọng đến những sản phẩm nổi bật, bao gồm:
- Xem thú hoang dã:
Đây là sản phẩm đặc sắc và độc đáo của Vườn quốc gia Cát Tiên vì nó luôn tạo cho du khách có được cảm giác mạo hiểm và cảm nhận được sự thân thiện giữa con người với thiên nhiên hoang dã ở Vườn quốc gia Cát Tiên thông qua việc được tận mắt thấy các đàn thú lớn, nhỏ như nai, mễn, heo rừng và nhiều loài thú ăn thịt xuất hiện đi kiếm ăn trên đồng cỏ rộng lớn tại khu vực Núi Tượng.
Sản phẩm này là thế mạnh của Vườn.
- Tham quan vùng đất ngập nước:
Vùng đất ngập nước là nơi kiếm ăn của nhiều loài thú móng guốc, thú ăn cỏ và các loài thú ăn thịt nhỏ và nhiều loài bò sát khác. Bàu Sấu tại Vườn quốc gia Cát Tiên là nơi đã được Công ước Ramsar công nhận là vùng đất ngập nước có tầm quan trọng Quốc tế, là nơi phục hồi thành công loài cá sấu nước ngọt trong tự nhiên. Đây cũng là một sản phẩm đặc trưng, hấp dẫn đối với nhiều du khách trong và ngoài nước, nhất là đối với các nhà khoa học.
Vùng đất ngập nước khu vực Núi Tượng cũng là nơi mà các loài thú, chim như Bò tót, Nai, Heo rừng, Công… chọn làm nơi tìm kiếm thức ăn hàng ngày, đêm nên khu vực này cũng là một sản phẩm du lịch hấp dẫn du khách.
- Xem chim: Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng khu vực VQG Cát Tiên.
VQG Cát Tiên là môi trường thiên nhiên sống của nhiều loài chim, trong đó có nhiều loài thuộc nhóm quý, hiếm như Gà tiền, Gà so cổ hung, Gà lôi hồng tía, Cao cát….xem chim sẽ mang lại cảm giác thoải mái, thư thái cho du khách khi hòa mình vào thiên nhiên hoang dã. Xem chim giúp du khách có cơ hội tìm hiểu những đặc tính sinh hoạt của những loài chim, phát hiện những loài chim mới. Chim được phân bố ở nhiều khu vực trong toàn Vườn nên thời gian dành cho việc thưởng thức sản phẩm này đối với du khách cũng kéo dài hơn.
- Xem Vượn, Voọc hoang dã:
Đây là sản phẩm từ chương trình cứu hộ Linh trưởng của Vườn. Vào các buổi sáng sớm hàng ngày, Vượn, Voọc ngoài tự nhiên thường hay tụ tập về gần khu vực mà đồng loại của chúng đang được chăm sóc tại Trung tâm cứu hộ Linh trưởng (Đảo Tiên) trước khi tái thả vào môi trường tự nhiên, vì vậy khách đến khu vực này rất dễ dàng bắt gặp chúng.
- Khám phá rừng nhiệt đới (Trecking):
Rừng của Vườn quốc gia Cát Tiên có thảm thực vật và thành phần thực vật rừng rất phong phú, đa dạng đã được công nhận là khu dự trữ sinh quyển và vùng đất Ramsar, trong mỗi khu rừng đều có những con đường mòn, đường tuần tra, bảo vệ rừng. Du khách có thể đi theo những con đường này để tham quan các sinh cảnh rừng, xem dấu chân voi, các loài động, thực vật quý trong rừng, hít thở không khí trong lành của thiên nhiên. Mỗi tuyến đường, mỗi vùng đất, mỗi sinh cảnh rừng luôn là những điều thu hút và hấp dẫn khách du lịch.
Các sản phẩm du lịch văn hóa
- Di tích, di chỉ lịch sử
Sự đa dạng cộng đồng các dân tộc với những truyền thống văn hoá khác nhau đang chứa đựng một kho tàng to lớn các kiến thức bản địa.
Ngoài những giá trị to lớn về tài nguyên thiên nhiên, sự phong phú về dân tộc, Vườn quốc gia CT còn có giá trị về mặt lịch sử và văn hoá. Trong thời gian kháng chiến chống Pháp, nổi tiếng với nhà ngục Tà Lài. Trong thời gian chống Mỹ nơi đây từng là chiến khu D, nơi đóng quân của Trung ương Cục miền nam, nơi trực tiếp lãnh đạo quân và dân miền đông kháng chiến chống Mỹ.
Khu vực Vườn quốc gia CT còn giữ được di chỉ của nền văn hoá Óc eo, đã từng một thời hưng thịnh từ thế kỷ thứ II đến thế kỷ thứ VII sau công nguyên. Bộ ngẫu tượng Linga và Yoni ở Cát Lộc có kích thước lớn nhất ở Việt Nam hiện nay.
Khu vực di chỉ rộng khoảng 10 ha ở dọc sông Đồng Nai, là khu di tích văn hoá, đã được Bộ Văn hoá Thông tin xếp hạng. ủy ban Nhân dân tỉnh Lâm Đồng đã có kế hoạch cho khai quật và trùng tu lại các đền thờ nhưng do hạn chế về kinh phí, kinh nghiệm cũng như về năng lực thiết kế, do vậy các công trình hiện nay đang đợi ý kiến chỉ đạo của Bộ Văn hoá Thông tin và tìm kiếm nguồn ngân sách để trùng tu. Các sản phẩm khai quật được bao gồm nhiều lá vàng in hình các thần vệ nữ, thần Silva, … và các đồ gốm chứng tỏ một thời hưng thịnh của Vương quốc Phù Nam cổ. Việc khai quật di chỉ và xác định các niên đại, nguồn gốc, xuất xứ của di chỉ, nguồn gốc của các vật liệu xây dựng, … đang được các nhà khoa học nghiên cứu.
- Lễ hội Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng khu vực VQG Cát Tiên.
Lễ hội đâm trâu: giống như nhiều dân tộc thiểu số sống vùng Tây Nguyên, lễ hội đâm trâu là một nét sinh hoạt văn hoá của người S’tiêng và Châu Mạ. Lễ hội này có tính chất ăn mừng và để tế thần.
Lễ quay đầu trâu: đây là lễ hội thể hiện nét đẹp riêng của người S’tiêng. Qua lễ hội thể hiện tinh thần tương thân tương ái, lá lành đùm lá rách giữa các cá nhân trong cộng đồng.
Lễ mừng lúa mới: được tổ chức thường xuyên sau mỗi vụ mùa. Trong lễ hội chỉ cần một con vật bất kỳ, lễ hội này được tổ chức để cảm ơn các thần linh đã giúp đỡ cho một vụ mùa no đủ.
Lễ hội cồng chiêng: đây là lễ hội của nhiều đồng bào dân tộc thiểu số trong vùng, được tổ chức vào bất kỳ lúc nào trong năm khi có dịp.
- Các sản phẩm dệt của người Mạ
Các mô típ hoa văn thường thể hiện theo lối tả thực; được dệt liền hoặc móc thêm các loại sợi màu trong quá trình dệt. Việc tạo hoa văn trên các sản phẩm dệt không cầu kỳ, phức tạp như ở một số tộc người khác. Gam màu vì thế chủ yếu chỉ thường là: màu sẫm, màu đỏ trên nền vải đen hay màu xanh trên nền vải mộc trắng.
Các mô típ hoa văn thường liên quan đến 3 loại hình:
- Mô típ hình động vật như: hình con lạc đà, hình con gà, con hươu, con khỉ, con bướm, con vịt và con trâu.
- Mô típ thực vật: thường là các loại cỏ cây, hoa rừng
- Các mô típ khác như: hình mặt trờ, hình ngôi sao; hình ngôi nhà dài, cối giã, hình chiếc ché.
Hiện có khoảng 20-30 phụ nữ có thể dệt thành thạo. Tuy nhiên, một số người có kinh nghiệm và kỹ năng tay nghề khá hơn như: Ka Bắt, Ka Rách, Ka Diễm-những người được coi là dệt đẹp nhất ấp.
- Các sản phẩm đan lát Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng khu vực VQG Cát Tiên.
Vì cuộc sống mang tính tự túc, tự cấp, nên hầu như người đàn ông nào cũng biết đan lát các loại đồ gia dụng, dùng trong đời sống hằng ngày. Các sản phẩm đó thường là: các loại gùi đan bằng lạt mây, tre; nia, rổ, sàng sẩy, mẹt; các loại giỏ đựng hạt gieo nương, giỏ cá…Nếu như việc dệt vải thường do chị em phụ nữ đảm nhiệm, thì việc đan lát lại hoàn toàn do nam giới đảm nhiệm. Hiện chỉ còn một số cá nhân như K’Sổi, K’Poòng đan khéo tay.
- Ẩm thực, đặc sản địa phương
Các món ăn có khả năng đáp ứng thị hiếu khách du lịch gồm:
- Cơm lam.
- Các loại xôi màu.
- Nộm hoa chuối, nộm đu đủ.
- Một số món nướng (cá nướng, thịt nướng).
- Khâu nhục.
Các loại hình văn nghệ dân gian của người Tày, người Mạ
Làn điệu dân ca
- Hát then
- Hát lượn
- Hát phongslư
- Bên cạnh các làn điệu dân ca, nhạc cụ, người Tày còn có các điệu múa như múa nón, múa tay khá hấp dẫn.
- Hiện có khoảng 20 phụ nữ biết chơi hát then và hát lượn. 3 người biết chơi đàn tính giỏi là: Hoàng Văn Quý, La Vạn Xuân và Lý Thị Slình. Người thổi sáo: Hoàng Văn Hậu.
- Hiện đội văn nghệ người Mạ có 10 nữ và đội chơi cồng chiêng 6 nam và 02 bộ cồng chiêng.
Nhiều phong tục tập quán cũng gắn liền với sự tồn tại của rừng, chẳng hạn như phong tục chia sẻ sản phẩm săn bắn, giúp nhau khai thác gỗ làm nhà, sử dụng dược thảo từ rừng để chữa bệnh, vào rừng khai thác lương thực, thực phẩm lúc giáp hạt v.v… Rừng như một yếu tố quan trọng để hình thành và phát triển những phong tục tập quán, những truyền thống văn hoá, những phẩm chất đạo lý tốt đẹp của cộng đồng.
2.3.2.2. Nhận thức về du lịch cộng đồng của người dân địa phương.
Người dân xác định du lịch là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, tạo việc làm và tăng thêm thu nhập cải thiện cuộc sống cộng đồng dân cư khi cùng tham gia phát triển các dịch vụ phục vụ du lịch và phục vụ trực tiếp khách du lịch. Chính vì vậy cần đa dạng hóa sản phẩm du lịch và đầu tư cơ sở vật chất và cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch. Khuyến khích con em học các nghiệp vụ du lịch và và tham gia công tác du lịch tại địa phương, liên kết với các gia đình sản xuất cung ứng sản phẩm lưu niệm thành chuỗi các giá trị đáp ứng cho khách du lịch. Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng khu vực VQG Cát Tiên.
Tại Vườn quốc gia Cát Tiên cũng cần đa dạng hóa sản phẩm du lịch và đầu tư tư Cơ sở hạ tầng – vật chất kỹ thuật, mở rộng các tuyến tham quan, sản xuất các sản vật địa phương, các hoạt động giới thiệu văn hóa ẩm thực truyền thống quê hương. Khuyến khích con em học các nghiệp vụ du lịch và tham gia công tác du lịch tại địa phương, liên kết với các gia đình sản xuất cung ứng sản phẩm lưu niệm thành chuỗi các giá trị đáp ứng cho khách du lịch.
Cộng đồng địa phương trực tiếp tham gia vào việc giữ bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống bản địa của mình, đồng thời góp phần giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, nhằm thúc đẩy cho du lịch phát triển.
Tham gia vào hoạt động du lịch trực tiếp nhằm tạo thu nhập cải thiện đời sống thông qua một số làng nghề hiện có tại địa phương.
Việc đo hiểu biết của người dân về Du lịch cộng đồng khá khó. Một là do khái niệm Du lịch cộng đồng còn khá mới mẽ với người dân, hai là do đặc điểm tâm lý e dè của người dân, nên có xu hướng trả lời cho qua. Có 2 câu hỏi được đặt ra là: Thế nào là Du lịch cộng đồng và Du lịch cộng đồng mang lại lợi ích gì. Tỷ lệ trả lời: “Không biết và không có lợi gì” chiếm khoảng 8 – 11%. Điều này cho thấy một bộ phận không nhỏ chưa hiểu về Du lịch cộng đồng (xin xem thêm trong phần phụ lục, mục kết.
2.3.2.3. Thái độ của cộng đồng với hoạt động du lịch tại Vườn quốc gia Cát Tiên.
Các khu dự trữ sinh quyển thế giới tại Việt Nam là tài sản vô giá gắn kết cộng đồng với môi trường tự nhiên, là cốt lõi để bảo tồn giá trị tài nguyên thiên nhiên và bản sắc dân tộc, là cơ sở để sáng tạo những giá trị mới. Sự coi trọng và bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị ấy là nhân tố quan trọng góp phần bảo vệ, xây dựng và phát triển kinh tế của địa phương và đất nước.
Cộng đồng dân cư tích cực tham gia các hoạt động giáo dục ý thức bảo vệ, gìn giữ môi trường, hưởng ứng các chính sách của nhà nước cùng nhau bảo vệ tài nguyên rừng và phát huy giá trị văn hóa truyền thống xây dựng các khu bảo tôn thiên nhiên, tham gia tích cực vào các hoạt động văn hóa, văn nghệ của địa phương, tham gia công tác xây dựng và phát triển quê hương.
Qua bảng hỏi được lấy ý kiến từ 200 đáp viên, khi trả lời các câu hỏi về “ủng hộ việc phát triển Du lịch cộng đồng và tham gia các hoạt động phục vụ du khách đều chiếm tỉ lệ khá cao: gần 80% cho câu hỏi 8 và ở câu 7 cho thấy người dân địa phương cũng ý thức được giá trị thiên nhiên và văn hóa truyền thống của mình (81 – 97%) chính là yếu tố thu hút du khách. Ngoài ra, kết quả tích cực cũng được thể hiện qua các câu hỏi về mong muốn có nhiều du khách hơn, tài nguyên của Vườn đối với địa phương và cộng đồng, từ việc ý thức cao về giá trị của Vườn quốc gia Cát Tiên cho thấy cần phát huy sự gắn kết giữa Ban quản lý Vườn với chính quyền địa phương và người dân trong việc phát triển các sản phẩm du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu của du khách và người dân trong vùng và các vùng phụ cận. Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng khu vực VQG Cát Tiên.
2.3.2.4. Sự tham gia của cộng đồng đối với hoạt động du lịch
Cộng đồng dân cư tích cực tham gia các hoạt động gìn giữ bảo vệ môi trường tự nhiên và môi trường xã hội, góp phần vào việc làm đa dạng và phong phú hệ thống động thực vật của Vườn cũng như phát huy những giá trị truyền thống văn hóa của mình. Tuy nhiên du lịch của Vườn quốc gia Cát Tiên hiện nay phát triển chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có, cũng như chưa có ảnh hưởng đáng kể đến Cộng đồng địa phương với ý nghĩa tích cực lẫn tiêu cực.
Tuy nhiên sau khi khảo sát thực tế cho thấy, một số địa bàn được đánh giá là có tiền năng rất lớn để phát triển loại hình Du lịch cộng đồng là: Tà Lài và Đắk Lua của huyện Tân Phú.
Theo thống kê của UBND năm 2023, của huyện Tân Phú: Xã Đắk Lua có 1.391 hộ với 6.764 nhân khẩu và 4.464 lao động; xã Tà Lài có 1.779 hộ với 7.563 nhân khẩu và 3.328 lao động. Trong đó tổng số hộ nghèo và cận nghèo của 2 xã là 1.396 hộ (chiếm 38,8%). Con số này đã giảm 3% so với năm 2022. Thu nhập bình quân đầu người năm 2023 là 6 triệu đồng/năm với tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 3,8%.Hoạt động du lịch không chỉ mang lại lợi ích kinh tế cho người dân địa phương mà còn góp phần tăng trưởng kinh tế cho huyện. Trong năm 2023 vừa qua, lĩnh vực thương mại – dịch vụ – du lịch đã đóng góp 315 tỷ 500 triệu đồng, tăng 12,01% so với 2022. Kết quả từ khảo sát cũng cho thấy du lịch góp phần tăng cường hiểu biết về môi trường của người dân địa phương thông qua trao đổi, học tập với khách du lịch, góp phần nâng cao dân trí, cải thiện nhận thức, tạo mối quan hệ xã hội ngày càng tiến bộ hơn.
Theo khảo sát, phần lớn các gia đình ở đây đều tham gia một số hoạt động du lịch, trong đó nhiều nhất là kinh doanh dịch vụ ăn uống (24 %) và kinh doanh dịch vụ lưu trú (21%). Hầu hết họ đều chưa biết đến khái niệm Du lịch cộng đồng (chiếm đến 82%). Nếu địa phương được đầu tư hơn nữa về du lịch, đặc biệt là Du lịch cộng đồng, người dân địa phương nơi đây rất sẵn lòng tham gia với các công việc như: kinh doanh dịch vụ ăn uống, lưu trú, kế tiếp là phục vụ vận chuyển, bán đồ lưu niệm cũng được người dân địa phương quan tâm. Người dân tại Vườn quốc gia Cát Tiên nhìn nhận những trở ngại của địa phương họ xuất phát từ Cơ sở hạ tầng, Cơ sở vật chất kỹ thuật (chiếm 26% và 35%), tiếp đó là trình độ quản lý, nguồn nhân lực và sản phẩm du lịch là 19%, 15% và 5%. Người dân được phỏng vấn hầu như đều có ý kiến về việc nhà nước, chính quyền hỗ trợ về vốn cho họ trong việc làm du lịch, hướng dẫn cho họ những cách thức hoạt động du lịch sao cho hiệu quả thông qua các chương trình huấn luyện, đào tạo của những chuyên gia về ngành du lịch.
2.3.2.5. Lợi ích của cộng đồng khi tham gia vào hoạt động du lịch
Tà Lài và Đăk Lua được biết là hai xã vùng đệm áp sát Vườn quốc gia Cát Tiên có nhiều ưu thế để phát triển Du lịch cộng đồng. Nhất là khi Vườn quốc gia Cát Tiên đang trở thành địa điểm được du khách trong và ngoài nước ưa thích. Nhưng 2 xã này cũng được biết đến là 2 xã nghèo nhất so với các xã còn lại trong huyện.
Với mục tiêu phát triển Du lịch cộng đồng bền vững, Ban quản lý du lịch Vườn quốc gia Cát Tiên đã xây dựng các mô hình liên kết giữa các công ty du lịch, chính quyền và người dân địa phương. Nhờ vậy, quyền lợi của người dân khi tham gia kinh doanh du lịch được đảm bảo. Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng khu vực VQG Cát Tiên.
Khi triển khai dự án Du lịch cộng đồng, ban quản lý dự án đã xác định phải thành lập được một tổ hợp tác liên kết người dân địa phương để đứng ra quản lý tài sản, nhân lực và thực hiện công tác liên kết với các đơn vị du lịch. Số tiền đóng góp thấp nhất là 100.000 đồng/người để tất cả mọi người dân đều có thể tham gia đóng góp, tránh tình trạng lợi nhuận chủ yếu tập trung vào một số người có khả năng kinh tế đóng góp nhiều thì được hưởng lợi nhiều. Hiện tại, Tổ hợp tác có 19 người và đang ký kết với Công ty Du lịch Lữ hành Viet Adventure. Công ty sẽ đưa khách du lịch các địa điểm trong hai ấp. Từ đấy, người trong tổ hợp tác với tư cách là hướng dẫn viên sẽ hướng dẫn khách tham quan, ăn uống. Lợi nhuận thu được chia theo hình thức 50/50 và được chia đều cho các xã viên.
Theo ông Nguyễn Văn Hanh, ở ấp 4 tổ 3, xã Đăk Lua, một trong ba hộ đang tham gia dịch vụ homestay: Mô hình homestay là mô hình mới và cần nhiều điều kiện mới có thể tham gia được. Do vậy, Ban quản lý dự án mới triển khai cho một số hộ sau đó sẽ triển khai dần cho tất cả các hộ trong xã. Thông qua UBND xã Đăk Lua, các hộ đã liên kết được với công ty Inno Việt.
Cũng với hình thức phân chia lợi nhuận như xã Tà Lài, ước tính trong năm 2023 thu nhập bình quân hàng tháng của mỗi hộ là khoảng 6,9 triệu đồng. Ngoài ra, một phần nhỏ sẽ được trích ra để hỗ trợ cho các lễ hội văn hóa, trẻ em nghèo hiếu học, người già không nơi nương tựa, trồng cây xanh… nhằm đảm bảo cho mọi thành viên trong hai xã đều được hưởng lợi từ du lịch.
Không chỉ thế, điều được hơn cả là thông qua hình thức liên kết này, người dân địa phương được học hỏi kinh nghiệm quản lý, thiết kế tour du lịch, các kỹ năng cần thiết khác để hướng dẫn khách nước ngoài. Từ đó, sẽ hình thành nên nền tảng vững chắc cho hoạt động kinh doanh du lịch sau này.
Thông qua việc đánh giá tiềm năng phát triển du lịch tại 2 xã Tà Lài và Đắk Lua nói riêng và huyện Tân Phú nói chung cùng với sự quan tâm đúng mức của các sở ban ngành trong huyện cũng như của tỉnh đã chỉ ra những lợi ích trước mắt và lâu dài của việc khai thác các Tài nguyên du lịch hiện có của mình nhằm phát triển Du lịch cộng đồng cũng như giáo dục ý thức và lợi ích của người dân khi tham gia vào loại hình du lịch này thật sự rất có ý nghĩa.
2.3.3. Đánh giá chung về sự phát triển du lịch cộng đồng khu vực VQG Cát Tiên
- Thuận lợi: Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng khu vực VQG Cát Tiên.
Nam Cát Tiên là khu rừng vẫn còn giữ được vẻ nguyên sơ của mình qua nhiều thế kỷ. Vườn quốc gia sở hữu những giá trị về hệ sinh thái hấp dẫn đặc biệt cùng với Tài nguyên du lịch văn hóa đặc sắc. Có tính Đa dạng sinh học cao, thể hiện ở tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng; có nhiều loài động thực vật rừng quý hiếm; dễ quan sát các loài chim, thú rừng hoang dã; Cảnh quan thiên nhiên đẹp; Rừng được bảo vệ tương đối nguyên vẹn.
Có tài nguyên sinh thái nhân văn phong phú đa dạng của hơn 30 dân tộc anh em. Đa dạng về văn hoá, dân tộc bản địa, di chỉ khảo cổ học Cát Tiên; Có những đặc trưng về tài nguyên sinh thái nông nghiệp, du lịch đồng quê như trồng dâu nuôi tằm, canh tác nông nghiệp, cây ăn trái, nuôi trồng thủy sản…
Đã được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển 411 thế giới vào ngày 10/11/2022. Vườn quốc gia Cát Tiên luôn nhận được sự quan tâm, hỗ trợ của Chính Phủ, các Bộ ngành, các cơ quan khoa học, các tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nước.
Nhu cầu giải trí, thưởng thức Du lịch sinh thái, Du lịch cộng đồng của người dân ngày càng cao. Vườn quốc gia Cát Tiên đang là điểm đến của nhiều du khách trong và ngoài nước.
VQG Cát Tiên có vị trí thuận lợi, cách không xa các thành phố lớn, nằm trên trục đường TPHCM – Đà Lạt thuận tiện việc di chuyển, đi lại.
VQG Cát Tiên đã là thành viên Hiệp hội du lịch tỉnh Đồng Nai từ năm 2019 nên có nhiều thuận lợi trong lĩnh vực quảng bá, kết nối các tour, tuyến và xây dựng chiến lược maketing phát triển Du lịch sinh thái. Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Đồng Nai luôn quan tâm và tạo điều kiện để Vườn được tham gia trưng bày và giới thiệu các sản phẩm du lịch của Vườn tại hội chợ du lịch quốc tế tại TP Hồ Chí Minh hàng năm.
Nhiều báo, đài Trung ương và các tỉnh đến Vườn để xây dựng chương trình quảng bá giới thiệu về Đa dạng sinh học, sinh thái, tài nguyên và du lịch tại Vườn VQG Cát Tiên cách TP Hồ Chí Minh khoảng 150km, nằm trên trục quốc lộ 20, thuận tiện cho du khách đến nghỉ dưỡng cuối tuần, xem chim, xem thú, dã ngoại, khám phá thiên nhiên, hay trong các đợt tham quan, học tập nhận thức về môi trường và văn hóa bản địa của các trường Đại học, Cao đẳng trong cả nước. Số lượng du khách không ngừng tăng trong những năm qua và những năm kế tiếp.
CSHT gồm hệ thống các tuyến điểm du lịch, nhà nghỉ, hội trường, các dịch vụ đưa đón, phục vụ khách ngày càng hoàn thiện, đáp ứng được các nhu cầu tham quan, nghỉ ngơi của du khách.
Ngày nay khi nhu cầu du lịch của con người ngày càng cao thì việc lựa chọn các điểm du lịch hướng về cuộc sống thiên nhiên càng được nhiều người ưa chuộng. Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng khu vực VQG Cát Tiên.
Cộng đồng dân cư địa phương nhận thức được việc khai thác các động thực vật hoang dã, chặt phá rừng bừa bãi đã tác động xấu phá vỡ cảnh quan môi trường, hệ sinh thái tự nhiên. Vì thế người dân mong muốn phát triển du lịch và tham gia tích cực vào việc xây dựng và tổ chức các hoạt động du lịch phục vụ khách như một sinh kế bền vững cho đời sống kinh tế địa phương.
Nguồn thu từ hoạt động du lịch đã được đưa một phần vào việc chi trả lương cho cán bộ làm công tác bảo tồn, cải tạo, tu bổ các phương tiện, trang thiết bị và Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho hoạt động du lịch. Du lịch góp phần tạo các mối quan hệ giữa các Vườn quốc gia với các tổ chức trong nước và quốc tế, tạo ra cơ hội thu hút các dự án, đầu tư, hỗ trợ bảo tồn.
- Khó khăn:
DLCĐ được xem là một nguồn lực cho hoạt động kinh tế và xã hội của Vườn quốc gia Cát Tiên.
Bên cạnh những mặt thuận lợi, việc phát triển Du lịch cộng đồng ở Vườn quốc gia Cát Tiên cũng gặp không ít những khó khăn nhất định đến công tác bảo tồn. Các hoạt động xây dựng phục vụ du lịch (nhà cửa, đường sá, hồ bơi, sân tennis…) hoạt động xây dựng cơ bản, như đường xá, nhà cửa đã làm thay đổi phần nào diện mạo tự nhiên của vườn.
Số lượng khách du lịch đến Vườn quốc gia Cát Tiên ngày một tăng, lại tập trung vào một khoảng thời gian nhất định nhất là vào mùa khô gây nên sự quá tải đối với môi trường du lịch. Nước thải, thu nhặt cây cảnh và ô nhiễm tiếng ồn từ những nhóm khách quá đông là những vấn đề chưa kiểm soát được. Đây là những nguy cơ gây ô nhiễm môi trưởng, tác động xấu đến khu hệ động thực vật của Vườn như: lượng rác thải tăng và tiếng ồn của du khách (chủ yếu là du khách nội địa) nên ít nhiều cũng sẽ gây ảnh hưởng đến đời sống của các loài động thực vật hoang dã.
Lượng mưa lớn, kéo dài trong 6 tháng từ tháng 5 đến tháng 10 đã làm hạn chế rất lớn đến việc tổ chức cho khách đi tham quan các tuyến, điểm trong rừng như Bầu sấu, xem thú, xem chim nên lượng khách đến Vườn vào mùa này thường giảm nhiều.
VQG Cát Tiên nằm trong hệ thống các khu rừng đặc dụng cần được bảo vệ một cách nghiêm ngặt. Chính vì thế, các hoạt động du lịch diễn ra ở khu vực trung tâm Vườn cần phải được hạn chế; tránh các tác động tiêu cực từ hoạt động du lịch ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên.
Các sản phẩm du lịch còn khá đơn điệu, Tài nguyên du lịch chưa được khai thác và phát triển mạnh nên chưa tạo ra được sản phẩm hấp dẫn đặc trưng cho khu du lịch: Các tour tham quan di chỉ Cát Tiên chưa thuận lợi trong việc tổ chức đưa khách đến, tuyến Tà Lài cũng rất đơn điệu. Lòng hồ Bầu Sấu đang dần bị thu hẹp và nông cạn do nạn cỏ trấp không được xử lý tận gốc, mỗi năm cạn thêm, hẹp thêm sẽ đến lúc không chèo xuồng được; Bãi xem thú đang có nguy cơ bị con người tác động do thiếu kiên quyết xử lý các đối tượng làm rấy trong khu vực; Rẫy quýt vẫn xịt thuốc sâu nên thú không ra, thú có nguy cơ bị nhiễm độc. Tình trạng săn, bẫy bắt thú rừng trái phép vẫn chưa ngăn chặn được.
Các hướng dẫn viên, thuyết minh viên du lịch chưa được cập nhật các kiến thức về rừng, về Đa dạng sinh học do vậy có nhiều khó khăn trong thuyết trình.Hơn nữa hướng dẫn viên địa phương còn yếu kém về kỹ năng thuyết minh, kiến thức chuyên ngành về văn hóa và sinh thái. Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng khu vực VQG Cát Tiên.
Mối quan hệ chia sẻ lợi ích, nguồn lợi từ du lịch mang lại chưa có quy tắc rõ ràng giữa các đối tượng tham gia hoạt động du lịch như: cộng đồng dân cư, ban quản lý Du lịch cộng đồng, công ty lữ hành…
Chưa có chính sách đầu tư phát triển Du lịch cộng đồng tại Vườn quốc gia Cát Tiên, chưa có hướng dẫn thuê đất, cách tổ chức. Du lịch cộng đồng chủ yếu dựa vào nguồn tài nguyên Đa dạng sinh học, chưa khai thác mạnh nguồn tài nguyên nhân văn, chưa đề cập đến quyền hưởng dụng của người dân,…
Cộng đồng dân cư nhận thức chung về du lịch còn hạn chế, chưa có sự tham gia và hưởng lợi của cộng đồng (cách hưởng thụ, vốn đầu tư, sản phẩm du lịch,…). Các tác động có thể gây hại từ du khách.
Vốn đầu tư cho Du lịch cộng đồng thấp. Các khoản thu được từ kinh doanh du lịch chưa nhiều nên việc đầu tư tái sản xuất mở rộng còn rất ít, trong khi nhu cầu đầu tư nâng cấp tour, tuyến, thiết bị, dịch vụ là rất lớn. Quan điểm công tác phát triển Du lịch cộng đồng gắn liền với Cộng đồng địa phương nhằm giáo dục, bảo tồn các giá trị Tài nguyên du lịch được xem là phi lợi nhuận, tuy nhiên Nhà Nước chưa có chính sách ưu đãi vốn để phát triển.
Tiểu kết chương 2
Trong chương hai, luận văn đi sâu vào phân tích những tiềm năng lợi thế trong phát triển du lịch và Du lịch cộng đồng khu vực Vườn quốc gia Cát Tiên, đó là những giá trị tài nguyên thiên nhiên và tài nguyên văn hóa bản địa đặc sắc.
Đồng thời căn cứ vào các thống kê từ các xã, Trung tâm Du lịch sinh thái của Vườn quốc gia Cát Tiên và kết quả khảo sát của tác giả đối với 200 đáp viên và 50 hộ dân – đánh giá về nhận thức, mức độ tham gia của cộng đồng, tác động của chính sách, chính quyền địa phương, sự hợp tác với các tổ chức, các mô hình liên kết với các doanh nghiệp lữ hành… để nêu lên những hạn chế tồn tại trong phát triển Du lịch cộng đồng. Luận văn: Thực trạng du lịch cộng đồng khu vực VQG Cát Tiên.
Qua đó các giải pháp được đề xuất tương ứng với từng vấn đề cụ thể: thu hút sự quan tâm hơn nữa của cộng đồng trong việc tham gia Du lịch cộng đồng, tham gia các buổi huấn luyện về nghiệp vụ du lịch, xây dựng sản phẩm tiêu biểu, huy động các nguồn lực… Các vấn đề này sẽ được trình bày trong chương ba.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Giải pháp phát triển du lịch cộng đồng tại VQG Cát Tiên

Pingback: Luận văn: Phát triển du lịch cộng đồng ở khu vực VQG Cát Tiên