Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý và công tác quản lý quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Khái quát chung về địa bàn nghiên cứu
2.1.1. Tình hình kinh tế- xã hội
Cẩm Khê là huyện miền núi nằm ở phía tây bắc của tỉnh Phú Thọ, tổng diện tích đất tự nhiên 23.392,39 ha trong đó 2/3 là đồi núi với địa hình đa dạng đã chia huyện làm hai vùng chính là vùng đồi gò và vùng ven sông Thao. Huyện có 31 xã, thị trấn chia thành 305 khu dân cư, có 38.598 hộ với 136.846 người. Chiều dài toàn huyện khoảng 40 km, chiều ngang bình quân 10 km. Nằm cách thành phố Việt Trì khoảng 50 km, cách trung tâm Thủ đô Hà Nội 100 km.
Nhìn chung, Cẩm Khê vẫn là huyện nghèo của tỉnh Phú Thọ. Đến hết năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện còn 18,31%, cận nghèo 13,71%, trong đó tỷ lệ hộ nghèo ở các xã, thôn đặc biệt khó khăn 28,19%; cơ cấu kinh tế vẫn dựa chủ yếu vào sản suất nông nghiệp. Tuy còn nghèo nhưng phong trào văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao được tổ chức thường xuyên tại các xã và các khu dân cư. Cơ bản các khu dân cư đều có nhà văn hóa, có sân chơi thể thao, câu lạc bộ bóng chuyền hơi, câu lạc bộ dưỡng sinh cho người cao tuổi…
2.1.2. Quy mô trường lớp, học sinh các cơ sở giáo dục
Huyện Cẩm Khê có 31 xã, thị trấn, năm học 2026-2027 toàn huyện có 92 đơn vị trường học, trong đó bậc mầm non 32 trường; cấp tiểu học 34 trường; cấp trung học cơ sở 26 trường, với tổng số nhóm trẻ, lớp học: Bậc học mầm non: 311 nhóm lớp với 10.205 trẻ, cấp tiểu học 392 lớp với 11.794 học sinh, cấp THCS có 228 lớp với 7.432 học sinh. Về cơ bản 100% số xã có đủ các cấp học từ mầm non đến tiểu học, riêng cấp học THCS ở một số địa phương quy mô dân số nhỏ nên chủ chương của UBND huyện sáp nhập với các đơn vị trường THCS gần kề.
Quy mô giáo dục tại các trường trên địa bàn huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ năm học 2024-2025, 2025-2026, 2026-2027 thể hiện qua số liệu bảng 2.1. Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục.
- Bảng 2.1: Quy mô mạng lưới trường, lớp, học sinh trên địa bàn huyện năm học 2024-2025, 2025-2026, 2026-2027
Về quy mô phát triển trường, lớp trên địa bàn huyện trong những năm qua cơ bản giữ ổn định, tuy nhiên số học sinh có xu hướng tăng. Do trong những năm gần đây, số người lao động tại các doanh nghiệp trên địa bàn tăng cao kéo theo tình trạng tăng cơ học số lượng học sinh ở một số địa phương. Chính vì vậy, yêu cầu đặt ra đối với ngành giáo dục huyện cần quản lý quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục của huyện sao cho phù hợp với quy mô trường lớp, học sinh trong thời gian tới.
Phòng GD&ĐT huyện đã tham mưu với Huyện ủy – HĐND – UBND huyện ban hành Nghị quyết về quy hoạch phát triển giáo dục và đạo tạo huyện Cẩm Khê giai đoạn 2019- 2029, trong đó việc quy hoạch lại quy mô trường THCS theo hướng liên xã được triển khai làm 2 giai đoạn:
- Giai đoạn 2019 – 2024 duy trì ổn định với 92 cơ sở giáo dục/31 xã.
- Giai đoạn 2025 – 2029 duy trì ổn định với 84 cơ sở giáo dục lý do sáp nhập một số trường Trường TH và THCS” trên địa bàn huyện. Việc giảm số trường ảnh hưởng đến tình hình đội ngũ, nhất là đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục. Song điều đó phù hợp với điều kiện thực tế và nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội của huyện Cẩm Khê.
2.2. Thực trạng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục.
2.2.1. Số lượng
Số cán bộ quản lý, giáo viên của các cơ sở giáo dục
- Bảng 2.2: Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên của các cơ sở giáo dục của huyện từ năm học 2024 -2025, đến năm học 2026-2027
Số lượng cán bộ quản lý
- Bảng 2.3. Đội ngũ quản lý giáo dục huyện giai đoạn 2024-2027
Qua bảng số liệu 2.2 ta có thể nhận thấy tổng số cán bộ quản lý giáo viên nhân viên các cơ sở giáo dục huyện Cẩm Khê có sự biến động qua các năm song không nhiều. Năm học 2024-2025 là 1.810 người trong đó mầm non 453 người, tiểu học 731 người, THCS là 626 người, đến năm học 2025-2026 là 1.937 người trong đó mầm non 544 người, tiểu học 738 người, THCS là 657 người; đến năm học 2026-2027 là 1,935 người trong đó mầm non 542 người, tiểu học 739 người, THCS là 653 người.
Số lượng đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục trên địa bàn huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ (Bảng 2.3) tương đối ổn định qua các năm. Trong năm học 2024-2025, số lượng đội ngũ quản lý giáo dục là 214 người, đến năm học 2025- 2026, số lượng đội ngũ quản lý giáo dục là 216 người, tức là tăng 02 người so với so với năm học 2024-2025. Năm học 2026-2027 số lượng cán bộ quản lý cơ bản ổn định 214 người giảm 02 người (giảm 01 cán bộ quản lý cấp tiểu học, giảm 01 cán bộ quản lý cấp THCS). Theo quy định về vị trí việc làm tại Thông tư 16/2026 TT-BGD&ĐT, hướng dẫn về danh mục khung vị trí việc làm và định mức số lượng người làm việc trong các cơ sở giáo dục phổ thông công lập thì cơ bản đủ về số lượng (có 02 đơn vị trường vượt quá số lượng cán bộ quản lý theo quy định: 01 trường Tiểu học; 01 trường THCS).
Số lượng cán bộ quản lý, giáo viên các cơ sở giáo dục có ảnh hưởng trực tiếp tới công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục của huyện.
2.2.2. Chất lượng Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục.
- Trình độ chuyên môn
Bảng 2.4. Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ quản lý giáo dục giai đoạn 2024 – 2027
- Trình độ lý luận chính trị, quản lý giáo dục, ngoại ngữ, tin học:
Bảng 2.5. Trình độ lý luận chính trị, quản lý giáo dục, tin học, ngoại ngữ của đội ngũ quản lý giai đoạn 2024-2027
- Độ tuổi
Bảng 2.6. Cơ cấu độ tuổi của đội ngũ quản lý giáo dục năm học 2026-2027
- Thâm niên công tác
Bảng 2.7. Thâm niên công tác của đội ngũ quản lý giáo dục huyện Cẩm Khê năm học 2026 – 2027
- Kết quả đánh giá, xếp loại
Bảng 2.8. Kết quả xếp loại công chức của đội ngũ quản lý giáo dục huyện Cẩm Khê (2024-2026)
Từ số liệu thống kê cho thấy, qua các năm trình độ chuyên môn của đội ngũ quản lý các cơ sở giáo dục của huyện được nâng lên: Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục.
Trong năm học 2024-2025 trong tổng số 214 cán bộ quản lý thì có 180 người có trình độ đại học (đạt 84,6%), tuy nhiên vẫn có 13 người có trình độ trung cấp chiếm 6,1%. Đến năm học 2025-2026, tổng số cán bộ quản lý là 216 người thì có 194 người có trình độ đại học (đạt 89,9%), tăng 14 người so với năm học 2024-2025, bên cạnh đó, cán bộ ở trình độ trung cấp cũng giảm còn 02 người chiếm 0,9% (01 người cấp mầm non, 01 người tiểu học). Đến năm học 2026- 2027 trong tổng số 214 cán bộ quản lý thì có 196 người có trình độ đại học (đạt 91,7%), chỉ còn 04 người có trình độ trung cấp.
Tính đến năm học 2026-2027 trình độ các bộ quản lý theo chuẩn như sau:
- Bậc học Mầm non: Cán bộ quản lý: Đạt chuẩn: 01; Trên chuẩn: 89.
- Cấp tiểu học: Cán bộ quản lý: Đạt chuẩn: 01; Trên chuẩn: 70.
- Cấp THCS: Cán bộ quản lý: Đạt chuẩn: 01 ; Trên chuẩn: 52.
Qua đó nhận thấy đội ngũ quản lý giáo dục của huyện đã cố gắng học tập bồi dưỡng để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu phát triển sự nghiệp giáo dục của huyện. Việc đào tạo bồi dưỡng kiến thức phụ trợ của đội ngũ quản lý giáo dục huyện Cẩm Khê tập trung chủ yếu ở một số lĩnh vực cụ thể như chứng chỉ quản lý giáo dục 100% trình độ lý luận chính trị đạt 100 %. Ngoài ra kiến thức phụ trợ, ngoại ngữ, tin học được quan tâm bồi dưỡng. Trong thời gian tới, để nâng cao chất lượng đội ngũ đội ngũ quản lý giáo dục huyện Cẩm Khê cần tiếp tục việc bồi dưỡng kiến thức phụ trợ nhất là nâng cao trình độ quản lý nhà nước, quản lý giáo dục để đáp ứng yêu cầu thực tiễn quản lý trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.
Tuy nhiên trình độ lý luận chính trị, ngoại ngữ, tin học của đội ngũ quản lý giáo dục huyện vẫn ở mức chưa đáp ứng yêu cầu phát triển hiện nay của nền giáo dục cần làm tốt công tác quy hoạch gắn liền với đào tạo bồi dưỡng, sử dụng cán bộ.
Cơ cấu nhóm tuổi công tác của đội ngũ quản lý giáo dục huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ qua bảng 2.4 cho thấy đội ngũ cán bộ quản lý có tuổi trung bình cao, nhưng không đều giữa các bậc học. Đội ngũ quản lý giáo dục có 56 người có tuổi đời trên 50 tuổi chiếm tỷ lệ khá cao 26,1%, điều này cho thấy đội ngũ có kinh nghiệm công tác lâu năm khá cao, tuy nhiên với độ tuổi này sẽ thiếu sự năng động và khả năng học tập, việc tiếp thu công nghệ, kỹ năng mới sẽ bị hạn chế. Tuy nhiên tỷ lệ đội ngũ quản lý giáo dục có 150 người có tuổi đời từ 30 đến 50 (chiếm tỷ lệ 70,2%), đây chính là điểm mạnh của đội ngũ quản lý giáo dục vì ở độ tuổi này rất năng động, đã có kinh nghiệm, có khả năng tiếp thu khoa học công nghệ mới để nâng cao trình độ. Tuy nhiên, tỷ lệ dưới 30 tuổi quá thấp: 16 người chiếm 3,7% nguy cơ thiếu hụt nguồn nhân lực có kinh nghiệm để thay thế đội ngũ quản lý giáo dục có độ tuổi khá cao. Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục.
Từ thực trạng về cơ cấu theo nhóm tuổi đội ngũ quản lý giáo dục huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ thì ngành GD&ĐT huyện cần có kế hoạch quy hoạch bổ sung đội ngũ quản lý giáo dục của huyện nhằm đảm bảo nguồn bổ sung thay thế kịp thời, vừa đảm bảo tính kế thừa đội ngũ quản lý giáo dục, vừa thực hiện mục tiêu trẻ hóa nguồn nhân lực, vừa đảm bảo cơ cấu giữa ba nhóm tuổi nhằm phát huy những ưu điểm và hạn chế những nhược điểm do cơ cấu đội ngũ quản lý giáo dục mang lại.
Năm học 2024-2025 tổng số cán bộ quản lý giáo dục huyện Cẩm Khê có thâm niên công tác dưới 5 năm là 58 người (chiếm 27%), có thâm niên từ 5 đến 10 năm là 62 người (chiếm 28,9%), có thâm niên từ 10 đến 20 năm là 57 người (chiếm 26,9%), có thâm niên trên 20 năm là 37 người (chiếm 17,2%). Tỷ lệ cán bộ quản lý có thâm niên quản lý dưới 5 năm chiếm 27% tỷ lệ cán bộ quản lý có thâm niên trên 5 năm trở lên chiếm 73%, nên xét về tổng thể đội ngũ quản lý giáo dục huyện Cẩm Khê có kỹ năng nghề nghiệp tương đối cao, có kinh nghiệm, thuần thục trong hoạt động quản lý, có khả năng truyền đạt những kinh nghiệm trong quản lý điều hành cho đội ngũ kế cận.
Số liệu bảng 2.8 cho thấy: đội ngũ quản lý giáo dục huyện Cẩm Khê hàng năm được đánh giá cơ bản hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên. Năm học 2025-2026 có 02 cán bộ quản lý xếp loại không hoàn thành nhiệm vụ (01 vi phạm chính sách dân số; 01 quản lý vi phạm quy định về quản lý). Điều này, đòi hỏi phải làm tốt hơn nữa công tác đánh giá cán bộ quản lý.
2.2.3. Phân bố cán bộ quản lý tại các cơ sở giáo dục
- Giáo dục mầm non
Bảng 2.9. Đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục mầm non huyện Cẩm Khê năm học 2026-2027
- Cấp Tiểu học (năm học 2026 – 2027)
Bảng 2.10. Thực trạng phân công công tác cán bộ quản lý các trường tiểu học huyện Cẩm Khê năm học 2026-2027
- Cấp Trung học cơ sở Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục.
Bảng 2.11. Thực trạng cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục THCS năm học 2026-2027
Giáo dục mầm non có 32 trường, tổng số cán bộ quản lý năm học 2026- 2027 là 90 người: 32 Hiệu trưởng, 58 Phó Hiệu trưởng, theo quy định đảm bảo đủ số cán bộ quản lý trường học theo quy định.
Cấp Tiểu học có 34 trường, tổng số cán bộ quản lý năm học 2026-2027 là 71 người: 34 Hiệu trưởng, 37 Phó Hiệu trưởng theo quy định thì thừa 01 quản lý của trường Tiểu học Hương Lung, thiếu 01 cán bộ quản lý của trường Tiểu học Ngô Xá.
Cấp THCS có 26 trường, tổng số cán bộ quản lý năm học 2026-2027 là 53 người: 25 Hiệu trưởng, 28 Phó Hiệu trưởng, thừa 01 cán bộ quản lý là Phó Hiệu trưởng (trường THCS Tạ Xá), thiếu 01 Hiệu trưởng (THCS Xương Thịnh- Phó Hiệu trưởng hiện giao phụ trách trường) theo quy định.
Như vậy việc bố trí cán bộ quản lý tại các cơ sở còn chưa thực sự hợp lý còn tình trạng nơi thừa, nơi thiếu, công tác quy hoạch, bổ nhiệm chưa kịp thời.
2.2.4. Biến động đội ngũ quản lý giáo dục huyện Cẩm Khê
- Bảng 2.12. Biến động số lượng cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục huyện Cẩm Khê (2024-2026)
Qua bảng số liệu có thể nhận thấy hàng năm số lượng cán bộ quản lý về hưu, thuyên chuyển, bị kỷ lật cách chức… chiếm từ 5 đến 7% số lượng cán bộ quản lý toàn ngành. Như vậy sự hao hụt cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục của huyện hàng năm cần có kế hoạch quy hoạch bổ sung để thực hiện bổ nhiệm thực nhiệm vụ quản lý giáo dục tại các đơn vị còn thiếu.
2.2.5. Công tác quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục
Thực hiện Kế hoạch số 1170/KH-UBND ngày 221/11/2021 của Ủy ban nhân dân huyện Cẩm Khê về kế hoạch triển khai thực hiện công tác quy hoạch cán bộ quản lý ngành Giáo dục& Đào tạo giai đoạn 2021-2024 và giai đoạn 2025- 2029. Số lượng quy hoạch cán bộ quản lý các đơn vị trường học năm 2026- 2027 cụ thể qua Bảng 2.13 sau:
- Bảng 2.13. Số lượng quy hoạch cán bộ quản lý các đơn vị trường học năm 2026-2027
Từ bảng số liệu 2.13 về số lượng quy hoạch cán bộ quản lý các đơn vị trường học ta thấy tình hình quy hoạch cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục huyện như sau: Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục.
Công tác điều chỉnh bổ sung quy hoạch được thực hiện theo quy định, năm 2026 thực hiên như sau:
- Đưa ra ngoài quy hoạnh chức danh Phó Hiệu trưởng: 95 người (MN: 33 người; TH: 34 người; THCS: 28 người).
- Đưa ra ngoài quy hoạnh chức danh Hiệu trưởng: 46 người (MN: 21 người; TH: 11 người; THCS: 14 người).
- Bổ sung quy hoạnh chức danh Phó Hiệu trưởng: 49 người (MN: 30 người; TH: 9 người; THCS: 10 người).
- Bổ sung quy hoạnh chức danh Hiệu trưởng: 33 người (MN: 10 người; TH: 15 người; THCS: 8 người).
- Số lượng giáo viên quy hoạch chức danh Phó Hiệu trưởng sau khi điều chỉnh quy hoạch: 181 người (MN: 70 người; TH: 56 người; THCS: 55 người)
- Số lượng cán bộ quản lý quy hoạch chức vụ Hiệu trưởng sau khi điều chỉnh quy hoạch: 99 người (MN: 41 người; TH: 37 người; THCS: 21 người)
Như vậy, công tác quy hoạch còn một số bất cập như: Công tác dự báo còn hạn chế, nên số lượng quy hoạch chưa sát nên hàng năm, số lượng điều chỉnh quy hoạch nhiều, chất lượng quy hoạch chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế, do đó khi cần nhân sự để bổ nhiệm còn có sự điều chỉnh nhiều lần. Công tác đào tạo, bồi dưỡng chưa đáp ứng nhu cầu nâng cao năng lực của đội ngũ quản lý giáo dục, một số chương trình đào tạo còn mang năng tính hình thức, việc vận dụng thực tiễn gặp nhiều khó khăn.
2.3. Thực trạng quản lý quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục.
2.3.1. Mục tiêu, nội dung và phương pháp khảo sát
Mục tiêu khảo sát: Khảo sát thực trạng công tác thực hiện quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục của huyện Cẩm Khê nhằm phân tích, đánh giá những ưu điểm, tồn tại, hạn chế về công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch, từ đó đề xuất các biện pháp quản lý quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục của huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.
Nội dung khảo sát: Tác giả tập trung khảo sát về công tác chỉ đạo thực hiện quy hoạch; xây dựng kế hoạch, triển khai thực hiện kế hoạch quy hoạch; công tác kiểm tra đánh giá quy hoạch cũng như thực trạng về số lượng, chất lượng, bố trí sử dụng cán bộ quản lý và sự biến động hao hụt cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục của huyện.
Phương pháp khảo sát và cách xử lý số liệu: Thông qua phiếu phảo sát, tổng hợp số liệu qua các phiếu; phân tích số liệu từ đó đưa ra những nhận xét, đánh giá về thực trạng quản lý quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục của huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ. Số người được khảo sát là 60 cán bộ quản lý, giáo viên cốt cán của các trường THCS, Tiểu học và mầm non. Số liệu thu được được thống kê dưới đây
2.3.2. Kết quả khảo sát
- Nhận thức cán bộ quản lý, giáo viên về quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý cơ sở giáo dục
Kết quả khảo sát 60 cán bộ quản lý, giáo viên thu được dưới đây.
- Bảng 2.14. Nhận thức của cán bộ quản lý, giáo viên về quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục
Kết quả trên cho thấy: Những hiểu biết về quy hoạch, quản lý quy hoạch là vấn đề mới và khó, do đó, mức độ hiểu sâu về vấn đề quy hoạch, của cán bộ quản lý, giáo viên chỉ đạt 25%; ở mức độ hiểu là 51,6%, không hiểu là 23.4%. Đối với việc quản lý quy hoạch mặc dù đã triển khai thực hiện quy hoạch, song, kết quả khảo sát cho thấy có tới 35% cán bộ quản lý, giáo viên chưa hiểu về nội dung này, điều đó cũng dễ giải thích bởi một bộ phận cán bộ quản lý, giáo viên năng lực chuyên môn còn hạn chế, chưa thực sự quan tâm đến công tác quy hoạch cơ sở. Từ những yêu cầu mới quản lý công tác quy hoạch sao cho thiết thực, hiệu quả để quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý đủ về số lượng, đản bảo về chất lượng, có cơ cấu hợp lý thì nhận thức của một số cán bộ quản lý, giáo viên về quy hoạch còn những hạn chế, bất cập, với 20-35% chưa hiểu và có thể hiểu chưa sâu nên việc quy hoạch, quản lý quy hoạch đòi hỏi phải đạt kết quả cao là điều khó có thể đạt được. Cùng với đó là quy trình, tiêu chuẩn thực hiện quy hoạch chưa được quan tâm. Phần lớn giáo viên hiểu sâu sắc và hiểu về nội dung trên, song một bộ phận giáo viên còn hạn chế về nhận thức, với tỉ lệ 15,1 % của 02 nội dung trên cho thấy việc quy hoạch và thực hiện quản lý quy hoạch triển khai chưa hiệu quả từ đó, kéo theo những hiểu biết của cán bộ quản lý, giáo viên về quản lý quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục của huyện đến năm 2030 còn mơ hồ (có tới 43,3% giáo viên chưa hiểu), điều đó cũng dễ giải thích bởi đó là nội dung hoàn toàn mới đang được định hướng. Việc không cập nhật thông tin, cũng như chưa nắm được kế hoạch quy hoạch thì đó là hạn chế, các cơ quan quả lý, cán bộ quản lý giáo viên chưa chuẩn bị tâm thế để đón nhận những quy định mà trong đó bản thân người quản lý thực hiện công tác quy hoạch là nhân tố quyết định đến sự thành bại của việc thực hiện quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ. Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục.
- Thực trạng xây dựng quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục của huyện
- Bảng 2.15. Ý kiến của khách thể về việc xây dựng quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục của huyện thời gian qua
Bảng 2.15 cho thấy kết quả đánh giá công tác xây dựng quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục của huyện Cẩm Khê ở các mức độ khác nhau. Mức độ thực hiện tốt qua đánh giá của giáo viên là 20%, cán bộ quản lý là 11,4%; mức độ bình thường được đánh giá cao hơn: giáo viên đánh giá đạt 40%, CBQL đạt 43%. còn ở mức độ đánh giá chưa tốt cũng chiếm tỉ lệ cao: Giáo viên đánh giá 16%, CBQL đánh giá 14,2%. Kết quả đó cho thấy, công tác xây dựng kế hoạch quản lý quy hoạch còn có những bất cập, hạn chế. Những bất cập và hạn chế đó có nhiều nguyên nhân khác nhau, song nguyên nhân cơ bản xuất phát từ nhận thức còn hạn chế của một bộ phận lãnh đạo, đội ngũ cán bộ quản lý về tầm quan trọng của việc xây dựng kế hoạch quản lý quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý. Vì thế, dẫn tới chất lượng và hiệu quả công tác quy hoạch chưa đáp ứng yêu cầu; số lượng, chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục của huyện còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển giáo dục của huyện hiện nay.
- Thực trạng tổ chức thực hiện quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục của huyện
- Nội dung quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý
- Bảng 2.16. Ý kiến của CBQL, giáo viên đánh giá về mức độ cần thiết của các nội dung liên quan đến công tác quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục của huyện
Kết quả khảo sát cho thấy: CBQL và GV đều nhận thức được tầm quan trọng và tính cấp thiết của việc quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục trong giai đoạn hiện nay.
Nội dung xây dựng kế hoạch quy hoạch được đánh giá cao, có 1% CBQL và 81.4% GV cho là rất cần; chỉ có 3.0 % GV cho là không cần. Do đó, nội dung này được đánh giá rất cao, điều đó thể hiện sâu sắc nhận thức của đội ngũ CBQL và giáo viên trong việc xây dựng kế hoạch quy hoạch nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.
Vận dụng kiến thức và hiểu biết dân cư, kinh tế, xã hội trong quy hoạch có 92.5% CBQL và 4% giáo viên cho là rất cần. Thực trạng cho thấy sự coi trọng nền tảng kiến thức, chuyên môn chắc chắn, đồng thời có những hiểu biết sâu rộng về kinh tế- văn hóa- xã hội, nếu hội tụ được những yếu tố đó sẽ góp phần quan trọng quyết định đến chất lượng và hiệu quả trong công tác quy hoạch. Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục.
Vận dụng hiểu biết về quy hoạch có 3% CBQL, 95.6% giáo viên cho là rất cần, ngoài ra là tỉ lệ đánh giá cần, không có trường hợp đánh giá không cần. Điều đó chứng tỏ đội ngũ CBQL và giáo viên đều nhận thức sâu sắc và có chung quan điểm về tầm quan trọng của việc hiểu biết quy hoạch. Cùng với hiểu biết về quy hoạch việc lựa chọn đối tượng quy hoạch cũng được CBQL và giáo viên đặc biệt quan tâm, với tỉ lệ 90.9% CBQL và 93.8% giáo viên đánh giá là rất cần thiết, không có ý kiến nào cho là không cần.
Triển khai thực hiện quy hoạch theo nhu cầu đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ quản lý từ đó nhằm đảm bảo về số lượng, chất lượng cơ cấu theo quy định, đáp ứng yêu cầu cán bộ quản lý tại các cơ sở giáo dục.
Kiểm tra, đánh giá kết quả quy hoạch đảm bảo thực chất có 95,2% CBQL, 91% giáo viên đánh giá rất cần, kết quả khảo sát nội dung trên cho thấy nhận thức sâu sắc của CBQL và giáo viên trong việc đánh giá chính xác, công bằng, thực chất kết quả công tác quy hoạch có ý nghĩa quan trọng góp phần nâng cao chất lượng giáo dục. Đánh giá đúng mới có những nhận xét sát thực, biết những điểm mạnh, điểm yếu của công tác quy hoạch để có biện phát điều chỉnh phù hợp với từng giai đoạn.
Cùng với các nội dung trên, bổ nhiệm, luân chuyển, đào tạo bồi dưỡng cán bộ theo quy định được CBLQ, và giáo viên coi trọng với trên 81% cho là rất cần. Việc bổ nhiệm, luân chuyển cán bộ thể hiện sự hợp lý đáp ứng yêu cầu của mỗi nhà trường và của ngành giáo dục. Bên cạch đó vẫn còn một bộ phận còn chủ quan, thiếu tinh thần trách nhiệm nên chưa thực sự coi trọng công tác bổ nhiệm, luân chuyển, đào tạo bồi dưỡng cán bộ quản lý.
- Tổ chức thực hiện công tác quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý
Ngành GD&ĐT huyện nói chung, các trường THCS trên địa bàn huyện Cẩm Khê nói riêng luôn quan tâm tới công tác quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý Trong đó, ngành GD&ĐT huyện đã tích cực tham mưu cho UBND huyện xây dựng Đề án vị trí việc làm đối với sự nghiệp giáo dục của huyện, từ đó xây dựng kế hoạch quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý nhằm đáp ứng yêu cầu về vị trí việc làm đặc biệt là đáp ứng đổi mới quản lý giáo dục trong giai đoạn hiện nay. Ngành GD&ĐT huyện thường xuyên phối hợp với Phòng Nội vụ, Sở GD&ĐT tổ chức các lớp tập huấn bồi dưỡng năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ quản lý, giáo viên trong diện quy hoạch nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ quản lý giáo dục, góp phần phát triển sự nghiệp giáo dục của huyện. Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục.
Tuy nhiên qua nghiên cứu, khảo sát, trao đổi, đánh giá thực tế về đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên đã được quy hoạch, bổ nhiệm và qua tìm hiểu về mục đích, yêu cầu, nội dung đối tượng, thời gian quy hoạch cho thấy còn có những hạn chế, bất cập, chưa đồng bộ và còn mang nặng tính hình thức, công tác quy hoạch thường nặng về hình thức, nhẹ về thực hiện, cách thức triển khai quy hoạch còn chung chung, từ đó dẫn đến chất lượng và hiệu quả quy hoạch chưa cao. Nói chung công tác quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục của huyện Cẩm Khê bên cạnh những ưu điểm, còn có những tồn tại, hạn chế nhất định. Song với sự quan tâm, chỉ đạo của Huyện ủy- HĐND- UBND huyện, sự giúp đỡ của các Ban, ngành, đoàn thể và các tầng lớp nhân dân trong huyện, ngành GD&ĐT luôn nỗ lực để đạt nhiều thành tựu quan trọng, thường xuyên quan tâm đến công tác quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục của huyện.
- Hình thức quản lý quy hoạch
- Bảng 2.17. Khảo sát về mức độ phù hợp của các hình thức quản lý quy hoạch đội ngũ các bộ quản lý các cơ sở giáo dục của huyện
Kết quả khảo sát qua bảng 2.17 cho thấy: Hình thức quản lý quy hoạch thông qua thực hiện kế hoạch quy hoạch của UBND huyện, phòng GD&ĐT và của nhà trường là hình thức có tính khả thi cao vì kết quả khảo sát CBQL đạt 81.1%, giáo viên đạt 70.4% cho là rất phù hợp. Hình thức Quản lý thông qua dự báo số lượng cán bộ quản lý hao hụt cần bổ sung hàng năm cũng được coi trọng, với 87.3% CBQL, 81.9% giáo viên cho là rất phù hợp. Hình thức Quản lý thông qua dự báo tình hình phát triển dân cư, kinh tế -xã hội của huyện được đánh giá cao hơn cả với 90.2% CBQL và 80.1% giáo viên cho rằng rất phù hợp. Hình thức quản lý thông qua việc Kiểm tra đánh giá quy hoạch hàng năm được đánh giá ở mức độ thấp hơn, tỉ lệ % giao động từ 20% đến 40%. Cho thấy các hình thức quản lý đều quan trọng và thiết thực trong việc nâng cao năng lực cho giáo viên nói chung, GV THCS nói riêng.
- Thực trạng chỉ đạo thực hiện quy hoạch
Công tác chỉ đạo quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục của huyện được đánh giá như sau:
- Bảng 2.18. Đánh giá của CBQL, giáo viên về mức độ thực hiện và hiệu quả của các nội dung chỉ đạo quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục.
Qua bảng 2.18 cho thấy: Công tác quản lý quy hoạch cán bộ quản lý sẽ đạt hiệu quả cao khi xây dựng được Ban chỉ đạo, kết quả khảo sát cho thấy, có 69.3% người được hỏi cho là thực hiện rất thường xuyên và 30.7% cho là thường xuyên. Mức độ hiệu quả được đánh giá tương đối cao, có 45.0% CBQL cho là rất hiệu quả, 50.0% cho là hiệu quả. Việc thành lập Ban chỉ đạo hết sức quan trọng trong tổ chức thực hiện quy hoạch. Song trên thực tế, nội dung này còn gặp nhiều khó khăn bởi nhiều đơn vị còn bị động trong việc xây dựng một Ban chỉ đạo để quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý, khó khăn đó xuất phát từ nhiều nguyên nhân, song vấn đề cơ bản vẫn là nguồn lực, kinh phí để thực hiện công việc này.
Tổ chức thực hiện quy hoạch theo kế hoạch của UBND huyện, phòng GD&ĐT và của nhà trường, qua khảo sát cho thấy, hoạt động này được triển khai thực hiện chưa được đồng bộ, có 74.7% CBQL, 23.6% giáo viên đánh giá thực hiện rất thường xuyên, giáo viên đánh giá thấp hơn cũng bởi nguyên nhân chủ yếu việc tổ chức thực hiện quy hoạch nhiều khi tổ chức ở cấp huyện những triển khai chưa kịp thời đến cơ sở. Vì thế, mức độ rất hiệu quả chỉ ở mức trung bình. Việc tổ chức dưới hình thức tập trung như vậy chủ yếu được thực hiện mỗi khi có sự điều chỉnh bổ sung quy hoạch hàng năm. Sau mỗi đợt điều chỉnh, bổ sung quy hoạch chưa được tiến hành kiểm tra, đánh giá cụ thể.
Hướng dẫn, chỉ đạo cụ thể về mục tiêu, nội dung và các bước thực hiện quy hoạch: Qua thực tế khảo sát cho thấy, hoạt động này được thực hiện chưa được thường xuyên (có 16.9% CBQL, 183% giáo viên cho là ít thường xuyên) và mức độ hiệu quả được đánh không cao (có 0% CBQL, 20% giáo viên cho là ít hiệu quả). Điều đó cho thấy, việc hướng dẫn, chỉ đạo cụ thể về mục tiêu, nội dung và các bước thực hiện quy hoạch chưa hiệu quả, đặc biệt đứng trước yêu cầu nâng cao chất lương đội ngũ cán bộ quản lý đáp ứng đổi mới giáo dục đang được đặt ra. Vì thế, công tác hướng dẫn, chỉ đạo cần được nhìn nhận một cách thấu đáo thì mới đạt được hiệu quả cao.
Hướng dẫn, chỉ đạo, tạo điều kiện cho cơ sở giáo dục thực hiện kế hoạch quy hoạch: Yếu tố quan trọng nhất trong việc nâng cao hiệu quả quy hoạch là quản lý quy hoạch. Muốn thực hiện tốt quy hoạch thì phải tạo điều kiện thuận lợi, đặc biệt là có sự định hướng, chỉ đạo, để cán bộ quản lý, giáo viên tự học, tự bồi dưỡng nhằm nâng cao tŕnh độ năng lực đáp ứng yêu cầu cấn bộ khi quy hoạch. Nội dung này được CBQL và giáo viên trên địa bàn huyện Cẩm Khê đánh giá rất thường xuyên. Tuy nhiên, thực tế hoạt động này được thực hiện vẫn chưa triệt để, một cơ sở giáo dục thực hiện còn hình thức, miễn cưỡng cho nên hiệu quả đạt được chưa cao.
Tổ chức thực hiện quy hoạch ở các cơ sở giáo dục là rất quan trọng, song phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó Hiệu trưởng đóng vai trò quan trọng. Hiệu trưởng là người quản lý, điều hành, tổ chức các hoạt động của nhà trường, trong đó có nội dung quy hoạch. Kết quả khảo sát cho thấy, hoạt động này được thực hiện thường xuyên (có 13.5CBQL đánh giá là thực hiện rất thường xuyên, 69.7% đánh giá thường xuyên và 16.8% đánh giá ít thường xuyên; có 12.8% giáo viên đánh giá là rất thường xuyên, 69.7% đánh giá thường xuyên, 17.5% đánh giá ít thường xuyên) và mức độ hiệu quả được đanh giá cụ thể với 37.2% CBQL, 29.8% GV đánh giá là rất hiệu quả, tỉ lệ % còn lại là hiệu hiệu quả. Kết quả trên cho thấy việc tổ chức thực hiện quy hoạch ở các cơ sở giáo dục chưa có sự đầu tư đúng mức và chưa thường xuyên nên hiệu quả chưa được cao.
Tổ chức hội thảo, trao đổi, học hỏi kinh nghiệm với các Phòng GD&ĐT, cơ sở giáo dục khác khác: Nội dung trên là một trong những hoạt động cần thiết để nâng cao kinh nghiệm trong việc thực hiện quy hoạch, việc giao lưu, học hỏi sẽ giúp nhà quản lý đánh giá được việc thực hiện quy hoạch của đơn vị mình ở mức độ nào, từ đó có kế hoạch điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp, hiệu quả, đó là động lực thúc đẩy sự phát triển giáo dục. Đánh giá về công tác này, CBQL và giáo viên đều cho rằng là đây hoạt động thực hiện ít thường xuyên. Mức độ hiệu quả được đánh giá là hiệu quả với 69.4% CBQL, 69.5% giáo viên đánh là hiệu quả; có 23.5% CBQL và 15.6% giáo viên đánh giá là ít hiệu quả). Thực tế cho thấy phần lớn các đơn vị còn ngại tổ chức các buổi hội thảo, giao lưu, trao đổi, học hỏi kinh nghiệm về công tác quy hoạch.
Theo dõi, đôn đốc, giám sát việc thực hiện quy hoạch: Công tác theo dõi, đôn đốc và giám sát việc thực hiện quy hoạch là một vấn đề quan trọng. Tuy nhiên kết quả khảo sát ở các trường cho thấy công tác này thực hiện ít thường xuyên (có 12.3% CBQL đánh giá rất thường xuyên, 50.5% đánh giá thường xuyên, 37.2% đánh giá là ít thường xuyên. Có 20.1% giáo viên đánh giá rất thường xuyên, 44.3% đánh giá thường xuyên, 35.6% đánh giá là ít thường xuyên). Mức độ hiệu quả cũng tương ứng với các mức độ thực hiện, cụ thể: Có 34.0% CBQL đánh giá là rất hiệu quả, 6% đánh giá hiệu quả, 20.4% đánh giá ít hiệu quả; có 27.2% giáo viên đánh giá rất hiệu quả, 60.1% hiệu quả và 12.7% đánh giá ít hiệu quả. Kết quả đó cho thấy việc theo dõi, đôn đốc, giám sát việc thực hiện quy hoạch còn nhiều hạn chế, nguyên nhân cơ bản là vấn đề thời gian, nguồn lực, trong đó nguồn nhân lực thực hiện công tác trên còn thiếu hụt. Vì thế hiệu quả của công tác tổ chức hoạt động theo dõi, đôn đốc, giám sát việc thực hiện quy hoạch chưa cao.
Phối hợp các lực lượng trong tổ chức thực hiện quy hoạch, về nội dung trên, cả cán bộ quản lý và giáo viên đều cho rằng đây là công tác được thực hiện ở mức độ trung bình (ít thường xuyên), có tới 64.1% cán bộ quản lý, 63.1% giáo viên đánh giá là ít thường xuyên; từ đó kéo theo hiệu quả đạt được cũng không cao, ở mức độ trung bình với trên 70% CBQL và giáo viên đánh giá là đạt hiệu quả. Kết quả đó chứng tỏ người chưa chú trọng đến công tác phối hợp trong quản lý. Vì vậy cần phối hợp với các lực lượng trong và ngoài ngành giáo dục trong công tác quy hoạch và thực hiện quy hoạch.
2.3.2. Kiểm tra, đánh giá, điều chỉnh quy hoạch Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục.
- Bảng 2.19. Đánh giá về mức độ phù hợp của các hình thức kiểm tra, đánh giá để điều chỉnh, bổ sung quy hoạch hàng năm
Qua bảng 2.19 cho thấy: Hình thức thành lập đoàn kiểm tra có 33.3% CBQL cho là rất phù hợp, 66.7% cho là phù hợp; đối với đội ngũ giáo viên thì có 51.3% cho là rất phù hợp, 35.3% cho là phù hợp, 13.4% đánh giá là không phù hợp. Hình thức đánh giá trên ở các mức độ khác nhau, song nhìn vào tỉ lệ đánh giá các mức độ cho thấy hình thức này được cho là phù hợp.
Hình thức báo cáo công tác quy hoạch, điều chỉnh quy hoạch, có 16.7% CBQL cho là rất phù hợp, 16.7% cho là phù hợp, 66.6% cho là không phù hợp; đối với đội ngũ giáo viên thì có 0% cho là rất phù hợp, 33.3% cho là phù hợp, có 46,7% đánh giá là không phù hợp. Việc báo cáo công tác quy hoạch, điều chỉnh quy hoạch có những điểm mạnh và những tồn tại khác nhau, dưới góc nhìn của mỗi giáo viên cũng khác nhau, vì thế việc kết hợp hài hòa, phù hợp các hình thức kiểm tra sẽ góp phần hạn chế được những tồn tại trong kiểm tra, đánh giá.
Hình thức đánh giá chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên trong quy hoạch, có 16.7% CBQL, 13.3% giáo viên cho là rất phù hợp, 33.3% CBQL và giáo viên đánh giá phù hợp, 0% CBQL và 53.4% giáo viên cho là không phù hợp. Do đó, hình thức này được đánh giá là ít phù hợp.
Đánh giá qua bổ nhiệm, luân chuyển, điều động cán bộ quản lý: Có 7% CBQL, 50.0% giáo viên đánh giá là rất phù hợp; 23.3% CBQL, 43.3% giáo viên đánh giá là phù hợp; 10.0% CBQL, 6.7% giáo viên đánh giá không phù hợp. Đánh giá qua bổ nhiệm, luân chuyển, điều động cán bộ quản lý có hiệu quả, do đó, hình thức này được đánh giá là rất phù hợp.
Hình thức đánh giá công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, có 16.7% CBQL đánh giá rất phù hợp, 3% đánh giá phù hợp, 50.0% đánh giá không phù hợp; có 16.7% GV đánh giá rất phù hợp, 38.0% đánh giá phù hợp và 45.3% GV đánh giá không phù hợp. Do đó, hình thức này được đánh giá là không phù hợp.
Qua các hình thức kiểm tra sau thực hiện quy hoạch, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch cho thấy hình thức đánh giá qua bổ nhiệm, luân chuyển, điều động cán bộ quản lý được cán bộ CBQL và giáo viên đánh giá là hiệu quả nhất. Các hình thức kiểm tra khác có những đánh giá khác nhau song cơ bản hình thức nào cũng có nhưng ưu điểm, tồn tại, cần phải kết hợp các phương pháp trong công tác kiểm tra đánh giá công tác quy hoạch.
2.4. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục của huyện Cẩm Khê đến năm 2030
Để đánh giá Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lí quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục của huyện Cẩm Khê đến năm 2030 như thế nào, tác giả đã tiến hành phỏng vấn sâu một số lãnh đạo UBND huyện, trưởng phòng GD&ĐT, Phòng Nội vụ, chuyên viên phòng GD&ĐT, pḥòng Nội vụ huyện Cẩm Khê và một số CBQL, GV đã có nhiều năm công tác tại các cơ sở giáo dục của huyện về một số yếu tố ảnh hưởng quản lí quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục của huyện Cẩm Khê đến năm 2030. Kết quả như sau:
2.4.1. Các yếu tố chủ quan Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục.
- Chất lượng đội ngũ quản lý các cơ sở giáo dục
Qua phỏng vấn số lãnh đạo UBND huyện, trưởng phòng GD&ĐT, Phòng Nội vụ, chuyên viên phòng GD&ĐT, phòng Nội vụ huyện Cẩm Khê, được biết Chất lượng đội ngũ quản lý các cơ sở giáo dục cơ sở giáo dục của huyện Cẩm Khê có ảnh hưởng lớn đến công tác quản lý quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục của huyện đến năm 2030.
Chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý là yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến công tác quy hoạch.
Chất lượng của đội ngũ công chức ảnh hưởng đến chiến lược, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch, bổ nhiệm và phát triển đội ngũ cán bộ quản lý. Chất lượng ảnh hưởng lớn số lượng quy hoạch, chất lượng, cơ cấu về độ tuổi, giới tính trong việc thực hiện quy hoạch
Trong những năm qua chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục của huyện đã được nâng lên cả về trình độ chuyên môn, lý luận chính trị, ngoại ngữ, tin học, quản lý…
Tuy nhiên trình độ lý luận chính trị, ngoại ngữ, tin học của một số quản lý giáo dục huyện vẫn ở mức chưa đáp ứng yêu cầu phát triển hiện nay của nền giáo dục cần làm tốt công tác quy hoạch gắn liền với đào tạo bồi dưỡng, sử dụng cán bộ.
- Thực trạng đội ngũ giáo viên
Để tìm hiểu thêm về yếu tố thực trạng đội ngũ giáo viên ảnh hưởng đến công tác quản lý quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục của huyện Cẩm Khê đến năm 2030, tác giả đã trao đổi với lãnh đạo, chuyên viên phòng GD&ĐT, Phòng Nội vụ huyện Cẩm Khê thì được biết:
Đây là yếu tố mang tính quyết định đến chất lượng quy hoạch, vì vậy yêu cầu đội ngũ giáo viên phải có trình độ chuyên môn, kỹ năng sư phạm đạt chuẩn và kinh qua thực tế công tác. Bởi vì công tác quy hoạch cần lựa chọn được những người có đủ phẩm chất, năng lực, khả năng phát triển đảm nhận nhiệm vụ cao hơn để có kế hoạch đào tạo bồi dưỡng chủ động cho công tác cán bộ trong giai đoạn trước mắt và lâu dài. Cho nên chất lượng giáo viên ảnh hưởng trực tiếp đến công tác quản lý quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục của huyện. Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục.
- Năng lực quản lý của các cơ quan chuyên môn của huyện
Để tìm hiểu thêm về yếu tố Năng lực quản lý của các cơ quan chuyên môn của huyện, tác giả đã trao đổi với lãnh đạo UBND huyện Cẩm Khê thì được biết:
Các cơ quan chuyên môn của huyện mà trực tiếp là Phòng GD&ĐT, phòng Nội vụ có chức năng tham mưu cho UBND huyện trong công tác quy hoạch và quản lý quay hoạch đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục của huyện có đội ngũ cán bộ, chuyên viên có trình độ chuyên môn từ Đại học trở lên, có kinh nghiệm trong công tác quản lí. Song do năng lực bản thân một số cán bộ quản lý am hiểu chưa sâu về công tác quy hoạch nên công tác quản lý quy hoạch còn hạn chế.
Một số ít cán bộ quản lý chưa nhận thức rõ về vai trò công tác quy hoạch và quản lý quy hoạch nên công tác quản lý quy hoạch hiệu quả chưa cao.
2.4.2. Các yếu tố khách quan
- Điều kiện kinh tế -xã hội của địa phương
Để nắm bắt được thực trạng công tác quản lý quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục của huyện có bị ảnh hưởng bởi các yếu tố: kinh tế- xã hội của mỗi địa phương hay không, tác giả đã phỏng vẫn sâu một số lãnh đạo phòng GD&ĐT, phòng Nội vụ, Hiệu trưởng một số cơ sở giáo dục thì được biết:
Điều kiện kinh tế- xã hội có những ảnh hưởng nhất định đến công tác quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục của một của địa phương như thế nào là hợp lý, từ tính toán chi tiết là sẽ cần bao nhiêu trường học, bao nhiêu cán bộ quản lý, giáo viên. Thiếu phân tích kinh tế – xã hội sẽ dẫn đến khả năng phán đoán sai yêu cầu phát triển giáo dục. Muốn quy hoạch cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục hiệu quả, nếu ta không tính xem thực trạng kinh tế xã hội của địa phương thì quy hoạch số lượng cán bộ quản lý trở nên dư thừa hay thiếu hụt thì sẽ rất tốn kém. Trước khi làm quy hoạch, các nhà chuyên môn sẽ phải đánh giá và phân tích điều kiện kinh tế- xã hội của huyện và các vùng lân cận trong tương lại. Phải cố gắng trả lời câu hỏi: Thực trạng tình hình kinh tế- xã hội của huyện và các vùng lân cận phát triển như thế nào, có ảnh hưởng gì đến sự phát triển giáo dục của huyện nói chung và công tác quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục của huyện nói riêng sao cho hợp lý.
Quy hoạch sẽ thất bại, ít nhất là về mặt kinh tế, nếu nó không tận dụng hiệu quả nguồn nhân lực do giáo dục đào tạo ra cho phát triển kinh tế xã hội của huyện. Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục.
- Các yếu tố khác
Kết quả phỏng vấn đạo phòng GD&ĐT, phòng Nội vụ, Hiệu trưởng một số cơ sở giáo dục thì được biết: Cơ chế chính sách đối với cán bộ quản lý giáo dục; Yêu cầu đổi mới giáo dục đều ảnh hưởng đến công tác quản lý quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục của huyện
2.5. Đánh giá chung về quản lý quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục huyện Cẩm Khê
2.5.1. Các kết quả đạt được
Bước đầu đã cơ bản thực hiện các khâu trong công tác quản lý quy hoạch như việc: Chỉ đạo thực hiện quy hoạch; tổ chức triển khai; kiểm tra đánh giá, điều chỉnh quy hoạch… Công tác quy hoạch đã đảm bảo các yêu cầu như:
- Việc xây dựng quy hoạch cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục của huyện đảm bảo các điều kiện về trình độ học vấn, năng lực chuyên môn, trình độ chính trị, quản lý theo quy đinh đáp ứng được yêu cầu cơ bản cán bộ quản lý trong giai đoạn hiện nay theo chuẩn;
- Công tác bổ nhiệm, luân chuyển điều động cán bộ quản lý được thực hiện đảm bảo đúng quy định;
- Đội ngũ CBQL trường học từng bước được đào tạo bồi dưỡng nâng cao về năng lực công tác quản lý trường học;
- Đa số các cán bộ quản lý đã được bồi dưỡng về trình độ quản lý giáo dục sau khi nhận công tác;
- Việc quản lý trường học từng bước đi vào nền nếp, xây dựng được phong trào thi đua dạy tốt, học tốt, phát huy được vai trò nòng cốt của chi bộ, các tổ chức Công đoàn, Đoàn thanh niên, Đội thiếu niên trong nhà trường.
2.5.2. Các tồn tại, hạn chế và nguyên nhân Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục.
2.5.2.1 Tồn tại, hạn chế
Công tác quản lý quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục huyện còn hạn chế như:
Thứ nhất: Công tác chỉ đạo quy hoạch của UBND huyện, phòng GD&ĐT tuy đã được tăng cường, song trong quá trình thực hiện còn bộc lộ nhiều hạn chế về yêu cầu, mục tiêu, các bước, thời gian thực hiện quy hoạch…
Thứ hai: Các văn bản hướng dẫn thực hiện quy hoạch vẫn mang tính định hướng, mới được thực hiện, còn có nhiều quan điểm khác nhau và đang trong quá trình nghiên cứu vì thế các tài liệu cũng chỉ mang tính chất định hướng chung chung.
Thứ ba: Nhận thức và tầm nhìn về công tác quy hoạch của một số cơ quan quản lý các cấp, cán bộ quản lý nhiều trường học còn hạn chế, chủ yếu lệ thuộc vào kế hoạch của cấp trên, chưa chủ động, sáng tạo trong quản lý, điều hành và xây dựng kế hoạch quy hoạch cán bộ quản lý. Đặc biệt việc triển khai công tác quy hoạch chưa được chú trọng thường xuyên và còn hình thức.
Thứ tư: Chưa nhận thức đầy đủ về vai trò công tác quy hoạch; quy hoạch chưa mang tính chiến lược lâu dài. Số lượng quy hoạch chưa sát yêu cầu thực tế, chất lượng quy hoạch chưa cao, do đó khi cần nhân sự để bổ nhiệm còn có sự điều chỉnh nhiều lần gây khó khăn lãng phí nguồn nhân lực, vật lực khi thực hiện quy hoạch.
Thứ năm: Công tác chỉ đạo, triển khai thực hiện, kiểm tra, đánh giá quy hoạch chưa đồng bộ, chặt chẽ, thống nhất dẫn đến hiệu quả công tác quy hoạch chưa đạt được như mong muốn như:
- Hình thức kiểm tra chưa thực sự phù hợp, đánh giá chưa thường xuyên
- Công tác khảo sát, dự báo chưa sát thực tế vì thiếu căn cứ khoa học. việc bố trí sắp xếp cán bộ quản lý chưa thực sự hợp lý, công tác bổ sung cán bộ quản lý chưa kịp thời. Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục.
- Công tác đào tạo, bồi dưỡng chưa đáp ứng nhu cầu nâng cao năng lực của đội ngũ quản lý giáo dục, một số chương trình đào tạo còn mang năng tính hình thức, việc vận dụng thực tiễn gặp nhiều khó khăn.
Thứ sáu: Đội ngũ cán bộ quản lý tuy đủ về số lượng, song cơ cấu về độ tuổi, giới tính, trình độ không đồng đều; đội ngũ cán bộ quản lý tuy đã được trẻ hóa và đạt chuẩn trình độ trở lên theo quy định, song còn bộc lộ nhiều hạn chế về kinh nghiệm cũng như năng lực quản lý, do đó việc bố trí sử dụng gặp những khó khăn nhất định đối với ngành GD&ĐT huyện.
Thứ bẩy: Thực hiện chế độ, chính sách đối với đội ngũ quản lý giáo dục đôi lúc chưa kịp thời, chưa sát với yêu cầu thực tế, vẫn còn tình trạng đời sống hiện tại của một số cán bộ quản lý, giáo viên còn nhiều khó khăn…
2.5.2.2. Nguyên nhân tồn tại, hạn chế
Do nhận thức chưa đúng về tầm quan trọng của quy hoạch đội ngũ quản lý giáo dục của huyện: Nhận thức về công tác quy hoạch, phát triển đội ngũ quản lý giáo dục của huyện Cẩm Khê nói riêng chưa thật đầy đủ và toàn diện, nhận thức chủ yếu mới ở quan niệm về tăng số lượng và chuẩn về chuyên môn nghiệp vụ mà chưa chú ý một cách toàn diện đến các yếu tố khác như cơ cấu; chất lượng chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng; phẩm chất; các điều kiện làm việc, điều kiện sống, sức khỏe của nguồn nhân lực quản lý. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cũng đã được quan tâm, tuy nhiên chưa gắn với mục đích, đối tượng được bồi dưỡng. Vì vậy, công tác quy hoạch đội ngũ quản lý giáo dục huyện nói riêng chưa được quan tâm đúng mức, chưa tương xứng với tầm quan trọng cũng như những đóng góp cho việc phát triển KT-XH của lực lượng này đem lại.
Do khả năng về tài chính của huyện còn hạn hẹp: Cẩm Khê là một huyện miền núi, có địa hình khá phức tạp, dân cư thưa thớt, mặt bằng dân chí không cao. Khả năng thu hút các nhà đầu tư vào huyện Cẩm Khê rất hạn chế, kinh tế chủ yếu là lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp, do đó thu nhập bình quân đầu người trên năm thấp, nguồn thu rất hạn hẹp, quy mô thu nhỏ lẻ. Trong khi đó chi thường xuyên, nhu cầu chi đầu tư cho việc phát triển kinh tế-Xã hội rất lớn, chủ yếu ngân sách phụ thuộc các chương trình dự án từ Trung ương.
Đội ngũ quản lý giáo dục huyện Cẩm Khê luôn có sự biến động: Do đặc điểm mặt bằng dân trí của huyện không cao, kéo theo việc hạn chế phát triển đội ngũ quản lý giáo dục. Điều này ảnh hưởng không nhỏ đến việc phát triển ổn định đội ngũ quản lý giáo dục. Bởi đây là một trong những ngồn nhân lực được đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ một cách căn bản và có hệ thống nhất, đây cũng chính là điểm mạnh của đội ngũ quản lý giáo dục, thế nhưng lại là nguy cơ gây mất ổn định về đội ngũ vì sự biến động, với huyện Cẩm Khê đây là nguồn nhân lực cung cấp đội ngũ quản lý giáo dục cho cấp ủy đảng, chính quyền, các ban ngành của địa phương.
Kết luận chương 2 Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục.
Công tác quản lý quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục của huyện Cẩm Khê những năm qua luôn được quan tâm, triển khai thực hiện thường xuyên và đạt được những kết quả quan trọng: Phần lớn đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên có nhận thức đúng về tầm quan trọng của công tác quy hoạch, xác định được các mục đích, nội dung, yêu cầu, các bước thực hiện quy hoạch, đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục của huyện.
Tuy nhiên, thực trạng cũng cho thấy những hạn chế trong công tác quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục của huyện Cẩm Khê như: Nhận thức của cán bộ quản lí về tầm quan trọng công tác quy hoạch. Công tác xây dựng kế hoạch và thực hiện kế hoạch quy hạch chưa cụ thể và chưa phù hợp. Tổ chức, chỉ đạo thực hiện các nội dung quy hoạch chưa thực sự hiệu quả, số lượng quy hoạch cấp cơ sở chưa hợp lý; công tác đào tạo bồi dương gắn liền với quy hoạch và sử dụng cán bộ chư được quan tâm thường xuyên vì vậy chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý bất cập. Bên cạnh đó, năng lực quản lý của một bộ phận cán bộ quản lý còn hạn chế, còn lúng túng trong việc thực hiện quy hoạch đặc biệt là tâm lý e ngại, thụ động vẫn còn xuất hiện trong các cơ sở giáo dục.
Thực trạng trên là cơ sở thực tiễn để đề ra những biện pháp tích cực hơn trong công tác quản lý quy hoạch đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục của huyện Cẩm Khê , tỉnh Phú Thọ đến năm 2030 nhằm nâng cao chất lượng quản lý giáo dục và đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay. Luận văn: Thực trạng đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp đội ngũ cán bộ quản lý các cơ sở giáo dục

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

