Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng dạy học nghề phổ thông Trung tâm Giáo dục hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng QL hoạt động dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 HN dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Vài nét về đặc điểm kinh tế- xã hội và hoạt động Giáo dục kỹ thuật tổng hợp ở Hà Nội
2.1.1. Tình hình phát triển KT-XH Hà Nội
Hà Nội là một trong năm thành phố trực thuộc Trung ương của Việt Nam, được xếp vào đô thị loại đặc biệt. Sau những thay đổi về địa giới và hành chính năm 2018, Hà Nội hiện có 30 đơn vị hành chính cấp huyện – gồm 12 quận, 17 huyện, 1 thị xã – và 584 đơn vị hành chính cấp xã – gồm 386 xã, 177 phường và 21 thị trấn. Ngày 27/12/2023, Chính phủ ban hành nghị quyết 132/NQ-CP điều chỉnh địa giới hành chính huyện Từ Liêm để thành lập 2 quận và 23 phường.
Hà Nội ngày nay, là trung tâm giáo dục lớn nhất Việt Nam. Năm 2019, Hà Nội có 677 trường tiểu học, 581 trường trung học cơ sở và 186 trường trung học phổ thông với 27.552 lớp học, 982.579 học sinh. Có 40 trường Trung học phổ thông hệ công lập, trên 50 trường đại học cùng nhiều cao đẳng, đào tạo hầu hết các ngành nghề quan trọng.. Hà Nội được xem như nơi tập trung, nơi quy tụ của những nhân vật ưu tú, những thương nhân, những nghệ nhân, những thợ thủ công lành nghề. Hà Nội trở thành mảnh đất tiêu biểu cho nền văn hóa của cả Việt Nam. Trong những năm gần đây, kinh tế Thủ đô tiếp tục duy trì mức tăng trưởng khá.
Vài nét về tình hình kinh tế- xã hội các quận Cầu giấy, Bắc từ liêm và nam Từ liêm (Địa bàn tuyển sinh HS học Nghề phổ thông ở trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội): Cầu Giấy là quận được thành lập theo Nghị Quyết 74 CP ngày 21/11/1996 của Chính Phủ. Từ Liêm nằm ở phía Tây của Thủ đô Hà Nội, Huyện Từ Liêm được thành lập vào ngày 31/5/1961 theo Quyết định của Thủ tướng chính phủ. Ngày 27/12/2023, Chính phủ ban hành nghị quyết 132/NQ-CP điều chỉnh địa giới hành chính huyện Từ Liêm để thành lập nên 2 quận Bắc Từ liêm và Nam Từ liêm, bao gồm 23 phường. Cơ cấu kinh tế quận Cầu Giấy, huyện Từ Liêm đều chuyển dịch sang cơ cấu kinh tế của đô thị: Dịch vụ, thương mại – công nghiệp – nông nghiệp.
Tình hình GD&ĐT nghề của địa phương: hệ thống cơ sở ĐT nghề vùng Cầu Giấy, Từ Liêm tăng cả về số lượng lẫn quy mô ĐT, nhất là lĩnh vực ĐT nghề. Nền kinh tế vùng Cầu Giấy, Từ Liêm đang mở ra cơ hội về việc làm của thanh niên. Điều này tác động tốt đến ý thức xã hội nói chung và của HS nói riêng về định hướng nghề nghiệp ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường phổ thông. Tuy vậy trong thời gian qua việc định hướng nghề nghiệp cho HS còn một số hạn chế:
Một là, Cơ sở vật chất, đội ngũ GV, nội dung dạy học nghề phổ thông chưa đáp ứng được yêu cầu đổi mới.
Hai là, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề còn ở mức thấp; hoạt động tư vấn, định hướng nghề nghiệp, phân luồng HS sau Trung học cơ sở và Trung học phổ thông chưa được quan tâm và triển khai một cách hiệu quả.
Ba là, chưa chú trọng GD ý thức công dân một cách đúng mức; hơn nữa GD chưa gắn với KT-XH địa phương nên chưa hun đúc được tình yêu để dốc sức học tập và gắn kết với lao động xây dựng quê hương trong HS.
Bốn là, vệc huy động các doanh nghiệp, các nhà hảo tâm, Phụ huynh học sinh tham gia công tác hướng nghiệp, dạy học nghề phổ thông chưa được chú trọng đúng mức. Luận văn: Thực trạng dạy học nghề phổ thông Trung tâm Giáo dục.
2.1.2. GDKTTH trên địa bàn cả nước và trên địa bàn thành phố Hà Nội
Xuất phát từ nhu cầu tổ chức thực hiện Giáo dục kỹ thuật tổng hợp nhằm trang bị kiến thức, hình thành kỹ năng lao động nghề nghiệp cho học sinh phổ thông, tạo điều kiện cho một bộ phận không nhỏ học sinh tốt nghiệp ra trường tham gia vào cuộc sống lao động những năm 80 của thế kỷ trước; trong điều kiện kinh tế xã hội nước ta lúc bấy giờ chưa thể đầu tư cơ sở vật chất kỹ thuật cho hoạt động lao động – hướng nghiệp đến từng trường phổ thông, theo kế hoạch của Bộ Giáo dục và Quỹ nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) tại Hà Nội, Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp ra đời. Năm học 1980 – 1981, UNICEF giúp ta trang bị cho 20 Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp. Từ đó đến nay, mô hình Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp đã phát triển không ngừng về số lượng cũng như nội dung hết sức đa dạng. Qua bảng thống kê dưới đây, chúng ta sẽ thấy rõ sự phát triển đó.
- Bảng 2.1: Sự phát triển của hệ thống Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp (1981-2025)
Năm 1981 có 20 Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp đầu tiên được thành lập, những năm tiết theo số lượng Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp không ngừng tăng lên. Giai đoạn từ năm 1995-2022, số lượng Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp giữ ở con số 320 trung tâm, vì giai đoạn sau năm 1996, có một số trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp mới ra đời, nhưng lại có sự chuyển giao một số trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp, thành Trung tâm dạy nghề do bộ Lao động và Thương binh- Xã hội quản lý. Từ năm 2023 đến năm 2025 số lượng Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp lại không ngừng tăng lên. Lý do là, từ năm 2023 nghành Giáo dục có chủ trương mỗi quận, huyện trên cả nước sẽ thành lập một Trung tâm duy nhất có tên gọi: Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp- Giáo dục thường xuyên. Nếu trên địa bàn quận, huyện nào đang tồn tại các loại hình Trung tâm: Giáo dục kỹ thuật tổng hợp, Dạy nghề, Giáo dục thường xuyên thì sát nhập thành một Trung tâm có tên gọi như đã nêu ở trên. Do vậy tính đến cuối năm 2025, nước ta hiện có 383 Trung tâm, năm 2026 con số này nhiều khả năng thay đổi vì thành phố Hà Nội cùng nhiều thành phố khác đang thực hiện chủ trương này.
Tên gọi các Trung tâm cũng phản ánh nội dung hoạt động của nó và được thay đổi qua các thời kỳ. Thời kỳ đầu, Bộ Giáo dục gọi là Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp (Quyết định số 1889 ngày 30/12/1981 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục – 5 Trung tâm của Hà Nội vẫn giữ nguyên tên gọi cho đến hiện nay) sau đó Hội đồng Bộ trưởng (HĐBT) đã đổi tên là Trung tâm Giáo dục KTTH – HN (Thông tư số 48/TT ngày 27/4/1982 của HĐBT). Tháng 8 năm 1991, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quy chế về tổ chức và hoạt động của Trung tâm kỹ thuật tổng hợp – Hướng nghiệp – Dạy nghề (theo Quyết định số 1827/TCCB ngày 7/8/1991 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo), xác định tên gọi, vị trí, chức năng, nhiệm vụ và tổ chức của Trung tâm. Ngày 11/7/2010, Bộ GD&ĐT ban hành Quy chế về tổ chức và hoạt động của Trung tâm KTTH- HN (theo Quyết định số 25/2010/QĐ-BGD&ĐT ngày 11/7/2010 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) tên của Trung tâm có sự thay đổi (trở lại như năm 1982) và được giữ cho đến nay. Ngày 30/7/2018, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy chế về tổ chức và hoạt động của Trung tâm KTTH – HN (theo Quyết định số 44/2018/QĐ-BGD&ĐT ngày 30/7/2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo), Quy chế này thay thế Quy chế 25 (theo Quyết định số 25/2010/QĐ-BGD&ĐT ngày 11/7/2010…), có một số thay đổi về chức năng, nhiệm vụ, nội dung hoạt động của Trung tâm cho phù hợp với yêu cầu của tình hình hiện nay. Từ năm 2023 các Trung tâm mới được thành lập hay sát nhập, chuyển đổi thành trung tâm có tên gọi mới: Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp- Giáo dục thường xuyên.
20 Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp do UNICEF giúp đỡ lúc đầu chỉ bó hẹp trong 6 nghề (Cắt gọt kim loại, Biến dạng kim loại, Nguội, Mộc tay, Mộc máy, Thêu, Đan) chủ yếu để thực hành kỹ thuật công nghiệp cho vài ba trăm học sinh cấp 3 (THPT) vùng thành phố. Nhiều Trung tâm đã tự mình mở tới 15 – 20 nghề nằm trong 6 nhóm nghề chính: Nông lâm ngư nghiệp, Tiểu thủ công dịch vụ, Mộc, Xây dựng cơ bản, Cơ khí, Điện và Điện tử. Có nơi mở tới 16 nghề như Trung tâm Huế, các Trung tâm Hải Phòng, các Trung tâm Hà Nội có lúc mở tới 14 nghề. Đối tượng học sinh vào Trung tâm học tập ngày càng được mở rộng, đúng hướng. Trung bình mỗi năm các Trung tâm có từ 1500 – 2010 học sinh cuối cấp Trung học cơ sở và Trung học phổ thông vào học nghề phổ thông, có năm có Trung tâm đã thu hút tới trên 5000 học sinh như Trung tâm Lê Thị Hồng Gấm ở thành phố Hồ Chí Minh, các Trung tâm của Hải Phòng và Thành phố Hà Nội. Luận văn: Thực trạng dạy học nghề phổ thông Trung tâm Giáo dục.
Tất cả những điều nêu trên chứng tỏ hệ thống Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp có sự hấp dẫn nhất định và có sức sống mạnh mẽ vì nó có tác dụng to lớn trong việc thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục của Đảng, nó có chức năng, nhiệm vụ rõ ràng, có quy mô, tổ chức và bước đi thích hợp với hoàn cảnh nước ta.
Hệ thống Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp trên địa bàn thành phố Hà Nội: Hệ thống Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp trên địa bàn thành phố Hà Nội (Hà Nội cũ) được thành lập từ những năm 80. Đến năm 2017, Hà nội phát triển thành 6 Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp (gồm 5 Trung tâm nội thành: Trung tâm số 1,2,3,4 và 5) và một Trung tâm ngoại thành (Trung tâm số 6, ở Huyện Đông Anh). Năm 2018 thực hiện việc sáp nhập Hà Tây vào Hà Nội, thành phố Hà Nội mở rộng có 15 Trung tâm KTTH-HN (Tỉnh Hà Tây cũ có 9 Trung tâm). Trên phạm vi cả nước có 320 Trung tâm KTTH-HN, đây là thời điểm Đảng và Nhà nước quan tâm nhiều nhất đến sự phát triển của hệ thống Trung tâm KTTH-HN: Quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm KTTH- HN- DN số 44/2018/QĐ-BGD&ĐT ngày 30 tháng 7 năm 2018 của Bộ GD&ĐT được ban hành, Trung tâm KTTH-HN chính thức trở thành một cơ sở giáo dục phổ thông được ghi tại Điều 30 của Luật giáo dục 2015; Chỉ thị 33/2013/CT-BGDĐT và công văn số 8608/BGDĐT-GDTrH ngày 16 tháng 8 năm 2017của Bộ GD&ĐT về việc Thực hiện hoạt động giáo dục nghề phổ thông lớp 11 năm học 2017-2018; Mục tiêu, chuẩn kiến thức, kĩ năng và nội dung chương trình HĐGDNPT được ban hành theo Quyết định số 16/ 2016/ QĐ-BGDĐT; năm học 2017-2018 việc dạy Nghề phổ thông được Bộ GD&ĐT quy định chính thức là một hoạt động giáo dục bắt buộc, có đánh giá và ghi học bạ như một môn học văn hoá đối với học sinh lớp 11 Trung học phổ thông (không chỉ là khuyến khích như trước đây). Đến năm 2025,Hà Nội đã phát triển thành một hệ thống gồm 15 Trung tâm KTTH- HN- DN. Do khó khăn về kinh tế-xã hội, Thành phố đã chuyển hướng giao thêm chức năng nhiệm vụ dạy Nghề phổ thông, cho 06 Trung tâm GDTX đã có tại các quận, huyện Thanh Xuân, Mỹ Đức, Đan Phượng, Hoài Đức, Phú Xuyên, Đông Mỹ, Phú Thị (Gia Lâm), Từ Liêm mà không thành lập riêng Trung tâm KTTH- HN.
Tương lai phát triển của hệ thống Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp trên địa bàn thành phố Hà Nội: Ngày 28 tháng 9 năm 2026 UBND thành phố Hà Nội đã ra Quyết định số: 5399/QĐ-UBND, Quyết định: Về việc thành lập Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên trực thuộc UBND quận, huyện, thị xã. Quyết định có những nội dung chính sau:
- Thành lập 30 trung tâm Giáo dục nghề nghiệp- Giáo dục thường xuyên sau đây gọi tắt là Trung tâm, có địa chỉ cụ thể tại các quận, huyện, thị xã trên địa bàn thành phố Hà Nội.
- Nêu rõ: vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm.
- Trung tâm GDNN-GDTX là đơn vị sự nghiệp công lập trong hệ thống GD&ĐT và GDNN, DN của TP Hà Nội. Trung tâm chịu sự quản lý trực tiếp, toàn diện của UBND quận, huyện, thị xã, đồng thời chịu sự chỉ đạo hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ của Sở Lao động- Thương binh và Xã hội, Sở GD&ĐT.
2.1.3. Giới thiệu về trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội Luận văn: Thực trạng dạy học nghề phổ thông Trung tâm Giáo dục.
Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội được thành lập theo quyÕt ®Þnh sè 2884/Q§UB, ngµy 14/07/1987 cña UBND TP Hµ Néi năm 1987. Những năm đầu mới thành lập, Trung tâm có trụ sở tại xã Nghĩa Tân, nay là phường Nghĩa Tân quận Cầu Giấy- Hà Nội và trực thuộc sự quản lý của phòng Giáo dục, UBND huyện Từ Liêm, nay là quận Cầu Giấy. Đến năm 1992 Trung tâm được bàn giao về sở Giáo dục và đào tạo Hà Nội quản lý. Hiện nay, Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 có trụ sở tại phường Mai Dịch quận Cầu Giấy thành phố Hà Nội. Trung tâm chịu sự quản lý của thành phố Hà Nội, quản lý chuyên môn của Sở GD-ĐT Hà Nội.
- Địa chỉ: Đường Hồ Tùng Mậu- Quận Cầu giấy – Thành Phố Hà Nội.
Cơ cấu tổ chức của trung tâm
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của trung tâm GDKTTK số 5 Hà Nội Cụ thể về cơ cấu tổ chức của trung tâm:
- Ban Giám đốc: 02 người
- Tổ chuyên môn: 03 tổ – gồm 08 nhóm Nghề phổ thông.
- Tổng số CB, GV, NV: 36 người trong đó có 25 biên chế và 11 hợp đồng.
- Số Đảng viên trong chi bộ: 12 đồng chí.
- Đội ngũ giáo viên gồm: 24 thầy, cô giáo (17 biên chế và 07 hợp đồng).
- Trình độ chuyên môn: 100% GV đạt chuẩn, trong đó có 04 trên chuẩn.
- Nhân viên biên chế, hợp đồng là 10 người, trong đó: Bảo vệ 03 người; còn lại Thư viện, Y tế, Kế toán, Thủ quỹ, Nhân viên kỹ thuật, Lao công, Trông xe mỗi bộ phận 01 người.
Cơ sở vật chất: diện tích khuôn viên Trung tâm là 2700 m2, bao gồm 4 dãy nhà A, B, C và D được xây dựng kiên cố 3, 4 tầng. có đủ các phòng chức năng, hội trường và 32 phòng học, trong đó có 12 phòng học thực hành. Các phòng học được trang bị tương đối đầy đủ trang thiết bị kỹ thuật phục vụ hoạt động dạy học nghề phổ thông. Sân trường được phủ bóng mát của cây xanh, tạo ra một môi trường Trung tâm xanh, sạch, đẹp.
Công tác tuyển sinh và chất lượng giáo dục: Khu vực tuyển sinh chủ yếu là HS các trường Trung học phổ thông, Trung học cơ sở trên địa bàn các quận Cầu Giấy, Bắc Từ liêm và Nam Từ liêm. Liên kết với 04 cơ sở giáo dục, đào tạo nghề cho gần 700 học viên ngoài xã hội. Trong 5 năm học gần đây, số học sinh học Nghề phổ thông tại Trung tâm tăng cả về số lượng và chất lượng. Trong các năm học, Trung tâm đều có đội ngũ học sinh khối Trung học cơ sở tham gia kỳ thi học sinh giỏi Nghề phổ thông thành phố, các môn: Làm hoa, Điện kỹ thuật, Vẽ kỹ, 100% học sinh học tập và được bồi dưỡng tại Trung tâm dự thi đều đạt giải, nhiều em đạt giải cao. Năm học 2025 – 2026 có 8 em học tại Trung tâm dự thi, thì cả 8 em đều đạt giải (trong đó có 5 giải nhất, 2 giải nhì và 1 giải ba). Luận văn: Thực trạng dạy học nghề phổ thông Trung tâm Giáo dục.
Thành tích đạt được trong những năm gần đây:
- Chi bộ Đảng luôn được công nhận là trong sạch- vững mạnh.
- Trung tâm đạt danh hiệu tập thể lao động suất sắc.
- Công Đoàn Trung tâm vững mạnh suất sắc.
- Mỗi năm có từ 03 đến 05 SKKN được xếp loại cấp ngành. Có từ 03 đến 05 đồng chí đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua cấp cơ sở, trong đó có đồng chí đạt danh hiệu Chiến sĩ thi đua cấp thành phố.
Đặc điểm nổi bật ở trung tâm đó là tinh thần đoàn kết trong toàn thể CBCNVC, tinh thần tương thân, tương ái giúp đỡ lẫn nhau để hoàn thành công việc. Nó đã trở thành một truyền thống của Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5, là chìa khóa của sự thành công trong các hoạt động của Trung tâm. Hầu hết CB, GV, CNV đều yên tâm công tác, yêu ngành, yêu nghề, có tư tưởng đạo đức, lối sống lành mạnh trong sáng và mẫu mực. Luôn có ý thức tự giác, trách nhiệm cao, có ý chí vượt khó khăn hoàn thành nhiệm vụ. Nội bộ luôn giữ được truyền thống đoàn kết, giúp đỡ nhau, đồng lòng xây dựng đơn vị vững mạnh. Từ năm 2014 đến nay, Trung tâm liên tục được UBND thành phố Hà Nội công nhận là tập thể lao động xuất sắc.
2.2. Khảo sát hoạt động dạy học nghề phổ thông và quản lý hoạt động dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm GDKTTH số 5 Hà Nội Luận văn: Thực trạng dạy học nghề phổ thông Trung tâm Giáo dục.
2.2.1. Mục đích khảo sát
Tìm hiểu, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội. Trên cơ sở đó, đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học nghề phổ thông ở trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội trong giai đoạn hiện nay.
2.2.2. Nội dung khảo sát
- Thực trạng nhận thức của CB, GV, HS và Cha mẹ học sinh về vai trò, ý nghĩa của dạy học nghề phổ thông, quản lý dạy học nghề phổ thông ở Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội.
- Thực trạng về hoạt động dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội.
- Thực trạng về QL hoạt động dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội.
2.2.3. Phương pháp khảo sát
Điều tra bằng bảng hỏi: phiếu trưng cầu gồm các câu hỏi đóng/mở về vấn đề quản lý hoạt động dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội. Đối tượng khảo sát sẽ là giáo viên, cán bộ quản lý Trung tâm từ bộ môn đến BGĐ.
Phỏng vấn: Kỹ thuật nghiên cứu này nhằm thu thập những thông tin sâu về một số vấn đề cốt lõi của đề tài. Nhóm đối tượng phỏng vấn sẽ hạn chế hơn và tập trung vào giáo viên và cán bộ quản lý.
- Nghiên cứu: các sản phẩm dạy- học Nghề phổ thông của thày và trò.
Kết hợp các số liệu thống kê được, về chất lượng dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội trong những năm học gần đây; về thực trạng quản lý hoạt động dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội. Qua các nguồn số liệu, đưa ra những nhận định, phân tích, đánh giá thực trạng và giải pháp quản lý hoạt động dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội trong giai đoạn hiện nay.
2.2.4. Đối tượng khảo sát Luận văn: Thực trạng dạy học nghề phổ thông Trung tâm Giáo dục.
Đối tượng khảo sát sẽ là học sinh các trường PT tới học Nghề phổ thông tại Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội, giáo viên, cán bộ quản lí Trung tâm từ bộ môn đến ban Giám đốc.
Để đánh giá mức cấp thiết và mức độ khả thi của các biện pháp đã được đề xuất, tăng tính khách quan của việc đánh giá tác giả đã tiến hành lấy ý kiến HS đến từ các trường PT khác nhau và đang theo học các môn Nghề phổ thông khác nhau, xin ý kiến của các Cán bộ quản lý và GV Trung tâm có nhiều năm công tác, nhiều kinh nghiệm quản lý hoạt động dạy học nghề phổ thông, ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội. Chúng tôi phát phiếu hỏi ý kiến đánh giá về mức cấp thiết, mức độ khả thi, mức độ đạt được cho 530 HS; 480 Cha mẹ học sinh; 24 GV Trung tâm và 8 Cán bộ quản lý (Giám đốc, Phó GĐ, Chủ tịch công đoàn, Trưởng TTND, Trưởng giáo vụ và các tổ Trưởng chuyên môn). Số phiếu thu về từ HS là 530, Cha mẹ học sinh là 480, GV là 24, từ Cán bộ quản lý là 8.
2.3. Kết quả khảo sát
2.3.1. Thực trạng nhận thức của CB, GV, HS và Cha mẹ học sinh về dạy học nghề phổ thông, quản lý hoạt động dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội
- Nhận thức của CB, GV Trung tâm
Đa phần cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý các cấp ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 có nhận thức đúng về hoạt động dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm, Nhưng cũng còn một bộ phận cán bộ Trung tâm nhận thức không đầy đủ, thậm chí còn lệch lạc, coi dạy Nghề phổ thông chưa phải là môn học bắt buộc, nên việc chỉ đạo thực hiện không nhất quán, chưa thấy được trách nhiệm của mình trong chỉ đạo, đôn đốc, kiểm tra công tác dạy học Nghề phổ thông, chưa tham mưu cho cấp trên đề ra chủ trương, biện pháp thúc đẩy công tác dạy Nghề phổ thông theo định hướng chuyển dịch cơ cấu lao động, cơ cấu ngành nghề và phát triển nhân lực ở địa phương. Luận văn: Thực trạng dạy học nghề phổ thông Trung tâm Giáo dục.
Nhận thức của giáo viên Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5, phần đông chưa thấy rõ vị trí, vai trò của hoạt động dạy học Nghề phổ thông ở Trung tâm hiện nay, coi Nghề phổ thông là môn học phụ …(cho rằng mục tiêu là cộng điểm khuyến khích), do vậy trong quá trình giảng dạy không hứng thú với công việc, không có tính sáng tạo, không có nhu cầu học tập, tu dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Môn Nghề phổ thông bị xem là môn phụ và từ lâu chưa được đặt đúng vị trí của nó trong nhà trường phổ thông, chưa có sự quan tâm đầy đủ của các cấp đến môn học này. Vì vậy, cả người dạy lẫn người học không có sự “hào hứng” cần thiết đối với môn học. Nguyên nhân chính làm cho giáo viên Trung tâm không hứng thú dạy môn Nghề phổ thông, là do lao động của họ không đ- ược học sinh, cha mẹ học sinh và xã hội quan tâm, tôn trọng, Không được nhìn nhận bình đẳng như giáo viên Trung học phổ thông. Công lao đóng góp không được lãnh đạo các cấp đánh giá đúng mức; các chế độ chính sách đối với giáo viên Trung tâm chưa thoả đáng; cơ hội được đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ ít được chú trọng… Vì thế, nhiều GV trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 không tâm huyết với nghề và với dạy môn Nghề phổ thông, không muốn học thêm để nâng cao trình độ, nhiều GV làm việc mang tính hình thức. Các thày, cô giáo làm công tác giảng dạy các môn nghề phổ thông hầu hết chưa coi trọng nhiệm vụ quản lý, giáo dục học sinh trong quá trình lên lớp. Họ chưa có được vai trò chủ nhiệm lớp và cũng không thấy được vai trò chủ nhiệm lớp của mình. Một thực tế đáng đề cập nữa, do biên chế giáo viên Trung tâm không đủ, thiếu GV chuyên trách dạy một số môn Nghề phổ thông, do vậy Trung tâm phải hợp đồng giáo viên dạy môn Công nghệ ở trường PT kiêm nhiệm một số môn nghề (Ví dụ: GV dạy môn vật lý – kỹ thuật công nghiệp hợp đồng dạy môn Nghề phổ thông điện dân dụng; GV dạy môn sinh học hợp đồng dạy nghề làm vườn,…), bộ phận GV này, coi dạy Nghề phổ thông đơn thuần là việc làm thêm, họ không quan tâm tới vị trí, vai trò của Trung tâm, không chú ý nhiều tới trách nhiệm của GV Trung tâm GDKTT.
Để đánh giá về nhận thức của CB, GV Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội về dạy học nghề phổ thông, chúng tôi tiến hành điều tra, khảo sát 32 CB và GV Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 (trong đó 08 Cán bộ lãnh đạo chủ chốt, 24 GV). Kết quả thu được trong bảng sau:
Bảng 2.2: Tự đánh giá của CB, GV Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội về các yếu tố ảnh hưởng đến thái độ dạy học nghề phổ thông, quản lý dạy học nghề phổ thông.
Khi được đề nghị đánh giá tính tích cực của GV trong giảng dạy, tất cả các yếu tố trên đều ảnh hưởng đến hoạt động dạy học của GV Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp. Trong đó, yếu tố “Tinh thần, trách nhiệm của GV trong hoạt động giảng dạy” là yếu tố được GV đánh giá có mức độ ảnh hưởng cao nhất (ĐTB = 4.50). Người GV có làm việc với đầy đủ tinh thần trách nhiệm thì mới cảm thấy lao động sư phạm là lao động trí óc tổng hợp đòi hỏi tính khoa học, tính nghệ thuật và tính sáng tạo cao. Làm thầy đã khó nhưng để trở thành người thầy tốt thì vô cùng khó. Làm thầy phải có cái tâm”. Cái “tâm” người thầy giáo tốt không phải chỉ lòng yêu ngành, yêu nghề mà phải được biểu hiện thành những hành động cụ thể, Người GV có tâm huyết với nghề thì họ mới có hứng thú, say mê đầu tư cặp nhật kiến thức trong từng bài giảng, từng nội dung tiết giảng hướng vào từng cá nhân HS; mới thường xuyên tìm tòi, học hỏi, sáng tạo, bổ sung nội dung và phương pháp giảng dạy để đem lại hiệu quả cao nhất cho người học. Điều này đối với GV là một yêu cầu quan trọng không thể thiếu được. Thực tiễn quan sát cho thấy, bên cạnh đa số các GV có tinh thần trách nhiệm cao trong hoạt động giảng dạy, thì cũng còn một bộ phận GV chưa nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của hoạt động giảng dạy ở Trung tâm GDKTH trong giai đoạn đổi mới giáo dục hiện nay nên họ chưa thật sự say mê, nhiệt tình trong giảng dạy, cứ đến giờ thì vào lớp, hết giờ thì về, không quan tâm đến chất lượng giảng dạy. Một số GV khác thì việc ứng dụng các hoạt động đổi mới Phương pháp dạy học, kiểm tra đánh giá vẫn mang nặng tính biểu diễn hơn tính hiệu quả. Tất cả những biểu hiện đó thể hiện sự thiếu tính thần trách nhiệm trong giảng dạy. Điều đó ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng đào tạo của Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp. Luận văn: Thực trạng dạy học nghề phổ thông Trung tâm Giáo dục.
Trong nhóm yếu tố tâm lý xã hội thì yếu tố “Sự đảm bảo về mặt lợi ích cho GV” được đa số GV lựa chọn (ĐTB = 3.96), vấn đề lương, thưởng,..của GV là vấn đề nhạy cảm nhất trong nhiều năm. Ai cũng vậy, “có thực mới vực được đạo”. Khi đã có “thực” rồi, “đạo” làm thầy sẽ bảo đảm những lợi ích của HS. Ngược lại, nếu những thu nhập từ lương và phụ cấp theo lương lại rất thấp, không đảm bảo cho chính họ và gia đình một mức sống hợp lý thì khó có thể đòi hỏi GV toàn tâm, toàn ý với nghề. Vì vậy việc bảo đảm cuộc sống vật chất và tinh thần cho GV Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp, nhất là lương để “GV có thể sống được bằng đồng lương của mình” là một trong những yếu tố quan trọng kích thích tính tích cực giảng dạy, của GV Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội.
Nhằm đánh giá thực trạng nhận thức của GV về hoạt động dạy học nghề phổ thông, ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội, chúng tôi đã sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu: quan sát, điều tra, phỏng vấn…. chúng tôi tiến hành điều tra, khảo sát đội ngũ Cán bộ quản lý Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 (trong đó có 08 cán bộ lãnh đạo chủ chốt). Kết quả thu được trong bảng sau:
- Bảng 2.3: Cán bộ quản lý Trung tâm đánh giá nhận thức của GV về hoạt động DHNPT, quả lý dạy học nghề phổ thông
So sánh với nhóm khách thể Cán bộ quản lý cho thấy sự khác nhau nhất định về mức độ ảnh hưởng của các yếu tố. Cán bộ quản lý cho rằng: các yếu tố ảnh hưởng tới tính tích cực của GV Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp lần lượt có thứ tự theo mức độ là “Lương tâm nghề nghiệp” (ĐTB = 4.36), tiếp đến “Sự khuyến khích, đánh giá của tổ, Trung tâm” (ĐTB = 4.24), tiếp theo “Tinh thần, trách nhiệm của GV” (ĐTB = 4.21). và “Sự đảm bảo về mặt lợi ích cho GV” (ĐTB = 4.16). Điều này thể hiện sự quan tâm và trách nhiệm của các nhà quản lý đối với GV.
Ngoài ra khi chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu GV, Cán bộ quản lý chúng tôi còn thấy còn có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến tính tích cực giảng dạy của giáo viên như: trình độ chuyên môn; thâm niên công tác; cơ sở vật chất, phương tiện dạy học; đặc tính của người học,…. Những yếu tố này đều có ảnh hưởng nhất định đến tính tích cực của GV Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp trong quá trình dạy học.
Kết quả của nghiên cứu đã chỉ ra được những nhân tố ảnh hưởng và mức độ ảnh hưởng của chúng đối với tính tích cực giảng dạy của GV Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp. Kết quả nghiên cứu là cơ sở quan trọng để tác giả kiến nghị với ban lãnh đạo Trung tâm, những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng dạy học, đặc biệt là các yếu tố như: Tinh thần, trách nhiệm của GV trong hoạt động dạy học nghề phổ thông, lương tâm nghề nghiệp, tính tích cực của người học,..là những yếu tố có mức độ mạnh mẽ. Vấn đề lương GV là một vấn đề khá nhạy cảm hiện nay ở các Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp.
Từ thực trạng trên, Cán bộ quản lý Trung tâm có những biện pháp quản lý hiệu quả, tác động làm chuyển biến tích cực nhận thức của đội ngũ CB, GV Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội.
- Nhận thức của HS Luận văn: Thực trạng dạy học nghề phổ thông Trung tâm Giáo dục.
Thực tế, HS học Nghề phổ thông tại Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp cơ bản là HS cuối cấp Trung học cơ sở và Trung học phổ thông các quận, huyện. Mục đích của học sinh Trung học cơ sở là thi tốt nghiệp và thi tuyển sinh vào lớp 10, còn học sinh Trung học phổ thông là thi tốt nghiệp và thi đại học. Vì vậy, những năm cuối HS tập trung thời gian vào học những môn để chuẩn bị cho việc thi tốt nghiệp, thi đại học. Những môn khác không liên quan đến mục đích nên HS học chiếu lệ, hình thức. Hiện nay theo cách thi tuyển mới nên việc dạy học Nghề phổ thông lại không hấp dẫn với HS. phần lớn học sinh phổ thông coi việc đến học các môn Nghề phổ thông tại các Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà nội là sự bắt buộc, chứ không thực sự có ý thức, có nhu cầu. Đa phần HS không mặn mà với học Nghề phổ thông, cho rằng Nghề phổ thông là môn “học cũng được và không cũng được”, các em đi học Nghề phổ thông là để chấp hành nội qui của nhà trường và chế độ điểm cộng (được cho là “phao cứu sinh” trong khi chuyển cấp, hết cấp). Do đó, HS chỉ chọn những môn dễ kiếm điểm chứ không chọn môn yêu thích hay sở trường, việc học Nghề phổ thông chưa thực sự là nhu cầu và động lực mạnh mẽ của mỗi HS phổ thông.
Một bộ phận không nhỏ HS phổ thông, chưa có được nhận thức đúng, khi tới Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 học các môn Nghề phổ thông. Nhiều em tới Trung tâm học không phải từ tự nguyện hay yêu thích môn học, cho đó là sự bắt buộc của ngành Giáo dục, của nhà trường phổ thông. đi học để đối phó với yêu cầu của lớp, của nhà trường phổ thông. Nhiều học sinh coi môn học Nghề phổ thông là môn phụ nên không tập trung học, chưa hiểu được tầm quan trọng của học Nghề phổ thông, chưa cố gắng trong học tập. Nhiều em tham gia học nghề với một mục đích duy nhất là được cộng thêm điểm vào kỳ thi tốt nghiệp (được cho là “phao cứu sinh” trong khi chuyển cấp, hết cấp). HS chỉ chọn những môn dễ kiếm điểm chứ không chọn môn yêu thích hay sở trường, việc học nghề phổ thông chưa thực sự là nhu cầu và động lực mạnh mẽ của mỗi HS phổ thông. Từ nhận thức sai dẫn tới các em không có được ý thức tự giác, hứng thú trong học tập, không tích cực tích lũy kiến thức nghề nghiệp, trau dồi kỹ năng và định hướng cho mình một nghề phù hợp với khả năng trong tương lai. Những học sinh này thường xuyên vi pham nội, quy chế của lớp, của trung tâm. Tình trạng học sinh nghỉ học, nghỉ tiết còn nhiều.Vấn đề quản lý, giáo dục nhóm học sinh này nằm ở chỗ làm thay đổi, chuyển biến từ nhận thức của các em. Đây là một nhiệm vụ khó khăn của Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5.
Để tìm hiểu thực trạng nhận thức của HS về mục đích học Nghề phổ thông và thái độ tích cực của HS trong các giờ học Nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội, chúng tôi đã sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu: quan sát, điều tra, phỏng vấn…. chúng tôi tiến hành điều tra tổng số 530 HS từ các nhà trường PT, đến Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 học các môn Nghề phổ thông, với câu hỏi: Bạn học nghề phổ thông nhằm mục đích nào? Đã thu được kết quả ở bảng sau: Luận văn: Thực trạng dạy học nghề phổ thông Trung tâm Giáo dục.
- Bảng 2.4: Nhận thức của học sinh về mục đích học Nghề phổ thông
Nhìn vào kết quả bảng 2.4 cho thấy: Đa số HS xác định mục đích học NPH là nắm những thông tin ban đầu về một số Nghề phổ thông(56,4%), vận dụng vào rèn luyện kỹ năng (60%), phục vụ cho việc tự định hướng chọn ngành nghề phù hợp (64,5%),…Tuy nhiên, số lượng HS cho rằng học Nghề phổ thông để được cộng điểm trong các kỳ thi tốt nghiệp; do bắt buộc của trường PT chiếm tỷ lệ rất cao là (83,4%) và (88,1%).
Như vậy, nhìn chung HS đã xác định được mục đích học Nghề phổ thông ở Trung tâm GDKTTH. Tuy nhiên HS tham gia vào học Nghề phổ thông chưa có động cơ, thái độ Nghề phổ thông đúng đắn, còn ở tình trạng “vừa chơi vừa học”. Kết quả bảng 2.4 giúp đội ngũ Cán bộ quản lý, GV trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội, thấy thực tế nhận thức về mục đích học Nghề phổ thông của HS, từ đó có sự giáo dục, định hướng để HS có được nhận thức đúng về mục đích học Nghề phổ thông.
Nhằm tìm hiểu thực trạng tính tích cực của HS thông qua sự tự đánh giá của HS, chúng tôi tiến hành điều tra tổng số 530 HS từ các nhà trường PT, đến Trung tâm học Nghề phổ thông, bằng câu hỏi điều tra có nội dung sau: Bạn hãy tự đánh giá tính tích cực của bản thân trong giờ học Nghề phổ thông? Đã thu được kết quả ở bảng sau:
- Bảng 2.5: Mức độ tích cực của HS trong giờ học Nghề phổ thông
Kết quả ở bảng 2.5 cho thấy: sự chủ động tích cực tham gia vào môi trường học tập của HS chưa cao, chủ yếu là ở mức độ bình thường chiếm 74,2%, mức độ rất tích cực và tích cực chiếm tỷ lệ rất thấp (2.8% – 6,2%), mức độ ít tích cực và không tích cực chiếm tỷ lệ là 10,8% và 6,0%. Kết quả thu được, đòi hỏi Cán bộ quản lý, GV Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội, cần tìm ra nguyên nhân vì sao Mức độ tích cực của HS trong giờ học Nghề phổ thông lại rất thấp có 6,2%? Cần phải làm gì? Biện pháp như thế nào? để các em tích cực trong các giờ học Nghề phổ thông? Giải quyết tốt vấn đề này, chất lượng dạy học nghề phổ thông mới được nâng lên.
- Nhận thức của Cha mẹ học sinh
Thực trạng nhiều năm qua, nhận thức của Cha mẹ học sinh về mục đích Học sinh phổ thông học môn Nghề phổ thông hầu hết còn mơ hồ, chưa đầy đủ, chưa chính xác, thậm chí hiểu sai so mục tiêu của ngành Giáo dục. Nhiều Cha mẹ học sinh chỉ quan tâm tới việc học của con mình ở trường PT, cho rằng tới Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 học Nghề phổ thông chỉ là môn học phụ, theo sự bắt buộc của Trường PT. Nhiều người cho rằng: “học nghề sớm sẽ sớm trở thành công nhân”, học nghề là con đường cuối cùng, bất đắc dĩ của con em họ. Nhiều Cha mẹ học sinh không để ý đến việc học Nghề phổ thông của con em mình. Luận văn: Thực trạng dạy học nghề phổ thông Trung tâm Giáo dục.
Để thấy được thực tế nhận thức của các đối tượng chính trong hoạt động dạy học nghề phổ thông, so sánh được mức độ nhận thức về hoạt động dạy học nghề phổ thông của các đối tượng CBQL, GV, HS, Cha mẹ học sinh, chúng tôi đã tiến hành điều tra toàn bộ Cán bộ quản lý, GV Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 và 530 học sinh ở các trường PT khác nhau tới Trung tâm học các môn Nghề phổ thông và 480 Cha mẹ học sinh bằng phiếu hỏi và thu được kết quả ở bảng sau:
Bảng 2.6: Kết quả khảo sát ý kiến Cán bộ quản lý, GV, HS, Cha mẹ học sinh nhận thức về mục đích học sinh học Nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội
Từ kết quả trên đây có thể rút ra nhận đinh rằng Cán bộ quản lý và GV có nhận thức tốt hơn về mục đích của hoạt động dạy học nghề phổ thông song đa số Cha mẹ học sinh (XH nói chung) chưa nhận thức được ý nghĩa đích thực của hoạt động dạy học nghề phổ thông, về hướng nghiệp, về tác phong công nghiệp nên chỉ có hơn 40% nhận thức đúng. Trong khi đó, hầu hết HS, Cha mẹ học sinh cho rằng học Nghề phổ thông cốt để cộng điểm khuyến khích, xét tuyển cuối cấp học, do trường PT bắt buộc đi học, nếu không sẽ bị trừ điểm thi đua, hạ hạnh kiểm (chiếm tỷ lệ cao trên 90%).
Kết quả thu được giúp Cán bộ quản lý Trung tâm, thấy được nhận thức của các đối tượng Trung tâm quản lý, nhận thức về hoạt động dạy học nghề phổ thông, quản lý dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội, có những điều chỉnh, đổi mới trong công tác quản lý. Cán bộ quản lý Trung tâm cần có những biện pháp quản lý thiết thực, hiệu quả, tác động làm chuyển biến tích cực nhận thức của họ về dạy học nghề phổ thông và quả lý hoạt động dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm.
2.3.2. Thực trạng hoạt động dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội Luận văn: Thực trạng dạy học nghề phổ thông Trung tâm Giáo dục.
- Về chương trình
Thực tại chương trình các môn Nghề phổ thông, đang áp dụng ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội, chưa đạt chuẩn kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp. Chương trình NPT ban hành từ lâu đến nay nhiều chương trình rất lạc hậu. Một số chương trình Nghề phổ thông sau khi ban hành đã bộc lộ những điểm bất hợp lý về thời lượng, trình độ và tính thực tiễn làm cho người học không thích học. Thời gian đào tạo không đảm bảo và chương trình nghề thường bị cắt xén. Trong quá trình học Nghề phổ thông học sinh ít được thực hành và làm quen với các công nghệ mới, vật liệu mới. Nhiều môn Nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội, thường dạy“chay” hoặc thực hành qua loa. Phương pháp đào tạo chưa đổi mới, hình thức tổ chức dạy học Nghề phổ thông đơn điệu không hấp dẫn học sinh. Các điều kiện khác để đảm bảo chất lượng đào tạo Nghề phổ thông chưa được tốt, như: thiếu giáo viên có chất lượng, giáo trình, tài liệu tham khảo, cơ sở vật chất trang thiết bị dạy Nghề phổ thông, nguyên vật liệu thực hành, tài chính… phục vụ đào tạo.
Nhằm khảo sát, điều tra thực trạng vấn đề chương trình của các môn Nghề phổ thông đang sử dụng ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội, chúng tôi tiến hành điều tra toàn bộ Cán bộ quản lý, GV Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 và đã thu được kết quả trong bảng sau:
Bảng 2.7: Kết quả khảo sát Cán bộ quản lý, GV về cơ cấu ngành nghề đào tạo, nội dung chương trình của các môn học Nghề phổ thông và Cơ sở vật chất phục vụ dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm
Kết quả khảo sát trên bảng 2.7 cho thấy: Phần đông Cán bộ quản lý và GV cho rằng Cơ sở vật chất phục vụ dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5, cũng như: cơ cấu nghành nghề đào tạo, nội dung, chương trình của từng môn Nghề phổ thông đạt mức bình thường (trên 50%), mức độ không phù hợp còn chiếm một tỉ lệ tương đối cao (trên 20%), mức phù hợp chỉ chiếm một tỉ lệ thấp dưới 16%. Như vậy cần có những thay đổi, đổi mới về, cải tiến về những nội dung trên, nhất là chương trình các môn Nghề phổ thông.
- Về đội ngũ GV, CBNV
- Cụ thể về cơ cấu tổ chức của Trung tâm:
- Ban Giám Đốc: 02 người (Giám đốc và Phó giám đốc).
- Tổ chuyên môn: 03 tổ- gồm 08 nhóm Nghề phổ thông.
- Tổng số GV, CBNV: 36 người trong đó có 25 biên chế và 11 hợp đồng.
- Số Đảng viên trong chi bộ: 12 đồng chí.
- Đội ngũ giáo viên gồm: 24 thầy, cô giáo (17 biên chế và 07 hợp đồng).
- Trình độ chuyên môn: 100% GV đạt chuẩn, trong đó có 04 trên chuẩn.
- Nhân viên biên chế, hợp đồng là 10 người, trong đó: Bảo vệ 03 người; còn lại Thư viện, y tế, Kế toán, Thủ quỹ, Nhân viên kỹ thuật, Lao công, Trông xe mỗi bộ phận 01 người. Luận văn: Thực trạng dạy học nghề phổ thông Trung tâm Giáo dục.
Về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của đội ngũ Trung tâm:
Để nắm được thực trạng trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ GV, CBNV Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5, chúng tôi đã tiến hành khảo sát, điều tra toàn bộ đội ngũ của Trung tâm và có được kết quả cụ thể trong 2 bảng tổng hợp sau:
- Bảng 2.8: Thống kê đội ngũ Giáo viên, CBNV biên chế và hợp đồng chỉ tiêu
- Bảng 2.9: Thống kê đội GV hợp đồng thời vụ (thỉnh giảng) và NV hợp đồng thời vụ
Kết quả khảo sát ở bảng 2.8 và bảng 2.9 cho thấy: Đội ngũ CB, GV Trung tâm đều đạt chuẩn và trên chuẩn, có 02 GV tốt nghiệp đại học không phải là đại học Sư phạm, nhưng cũng đã qua các khóa đào tạo về nghiệp vụ Sư phạm, có chứng chỉ Sư phạm. Đội ngũ GV biên chế, hợp đồng chỉ tiêu và đội ngũ GV hợp đồng thời vụ, có chuyên môn nghiệp vụ tương đối đồng đều, đây chính là yếu tố thuận lợi thúc đẩy sự phát triển của Trung tâm trong giai đoạn hiện nay. Trong đội ngũ Trung tâm, những trường hợp có trình độ cao đẳng, trung cấp, công nhân kỹ thuật, nằm ở đội ngũ Nhân viên Trung tâm (Thủ quỹ, Văn thư, Thư viện, nhân viên Kỹ thuật, Bảo vệ).
- Cơ cấu GV, phân công dạy các môn Nghề phổ thông:
Để nắm được cơ cấu tổ chức, số lượng GV, thực tế phân công giáo viên giảng dạy các môn Nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5, chúng tôi đã tiến hành khảo sát, điều tra hiện trạng vấn đề phân công đội ngũ GV Trung tâm dạy các môn Nghề phổ thông và có được kết quả cụ thể trong bảng tổng hợp sau:
- Bảng 2.10: Thống kê đội ngũ GV dạy các môn Nghề phổ thông, ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội
Bảng 2.10 cho thấy: Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 đang triển khai dạy 8 môn Nghề phổ thông cho học sinh từ các nhà trường PT tới Trung tâm học. Tổng số GV Trung tâm dạy các môn Nghề phổ thông là 24, trong đó có 17 GV biên chế và 7 GV hợp đồng tự tuyển. Số lượng GV đông nhất là môn Tin học (8 GV), tiếp đến môn Điện dân dụng 4 GV, còn lại 6 môn Nghề phổ thông số lượng GV phân đều 2GV/môn Nghề phổ thông. Thống kê ở bảng 2.8 cũng cho chúng ta thấy hiện tại Học sinh phổ thông tới Trung tâm học môn Nghề phổ thông Tin học là đông nhất, tiếp sau là môn Điện dân dụng. Môn Điện tử Trung tâm không có GV biên chế mà đều là GV hợp đồng tự tuyển theo thời vụ, đây là một khó khăn cho Trung tâm trong việc quản lý, phát triển môn Nghề phổ thông Điện tử. Luận văn: Thực trạng dạy học nghề phổ thông Trung tâm Giáo dục.
- Chất lượng đội ngũ GV:
Nhiều năm nay, Sở GD&ĐT Hà nội không tổ chức thi GV giỏi dạy Nghề phổ thông cấp thành phố, do vậy để đánh giá chất lượng đội ngũ GV Trung tâm, hàng năm Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội tổ chức 2 đợt Kiểm tra đánh giá giáo viên trong hai kỳ học, trong đó chú trọng nội dung dự giờ, đánh giá giờ dạy của GV, tổ chức thi GV giỏi Nghề phổ thông cấp Trung tâm. Việc tổ chức thi giáo viên giỏi Nghề phổ thông cấp Trung tâm hàng năm, đã giúp cho giáo viên nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, cải tiến đối mới phương pháp dạy và học và đánh giá được chất lượng GV Trung tâm. Tổng hợp kết quả thi GV giỏi cấp Trung tâm trong 5 năm qua, có kết quả ở bảng dưới đây:
- Bảng 2.11: Kết quả thi giáo viên giỏi dạy Nghề phổ thông cấp Trung tâm
Kết quả bảng 2.11 cho thấy, đội ngũ GV Trung tâm hàng năm tăng cả về số lượng lẫn chất lượng. Trong từng năm học, trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội đều tổ chức các đợt Kiểm tra đánh giá, thi GV giỏi dạy Nghề phổ thông cấp Trung tâm, động viên, khích lệ đội ngũ GV không ngừng phấn đấu vươn lên, chất lượng của đội ngũ GV Trung tâm năm sau cao hơn năm trước. Tuy nhiên trong năm học 2025 – 2026, vẫn còn 5 GV chưa được Trung tâm đánh giá, xếp loại giỏi, trong đó có 1 GV còn xếp loại TB, đặt ra cho đội ngũ GV, Cán bộ lãnh đạo, quản lý Trung tâm phải không ngừng phấn đấu, nâng cao hơn nữa chất lượng đội ngũ GV, đáp ứng nhu cầu đổi mới, phát triển Trung tâm trong giai đoạn hiện nay.
- Về học sinh
Quy mô học sinh: Học sinh tới Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà nội học các môn Nghề phổ thông, chủ yếu là học sinh từ các nhà trường PT trên địa bàn các quận: Cầu Giấy, Nam Từ Liêm và Bắc Từ Liêm, trong đó, chủ yếu là HS các trường Trung học phổ thông, số lượng học sinh Trung học cơ sở không nhiều, chỉ tập trung học ở 3 môn Nghề phổ thông là Tin học, Điện dân dụng và Làm hoa nghệ thuật.
Điều tra công tác tuyển sinh của Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5, trong 3 năm học gần đây, chúng tôi có được kết quả tổng hợp trong bảng sau: Luận văn: Thực trạng dạy học nghề phổ thông Trung tâm Giáo dục.
- Bảng 2.12: Thống kê số học sinh theo học các Nghề phổ thông tại Trung tâm 3 năm gần đây
Thống kê bảng 2.12 cho thấy: Số lượng học sinh học môn Nghề phổ thông Tin học là đông nhất, còn lại là phân bố tương đối đều, tăng ổn định theo năm học ở hầu hết các môn Nghề phổ thông. Có 2 môn Nghề phổ thông là Điện tử và May dân dụng, số lượng HS giảm mạnh trong hai năm học gần đây. Qua tìm hiểu, lãnh đạo Trung tâm cho biết nhiều khả năng năm học tới Trung tâm sẽ không tuyển sinh cho môn Nghề phổ thông Điện tử, May dân dụng do những nguyên nhân: Các nghề này hiện nay ngoài xã hội không phát triển, học sinh không hứng thú học, không đăng ký học, thiếu GV dạy các môn học này.
Chất lượng Giáo dục:Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội luôn coi trọng nâng cao chất lượng Giáo dục học sinh học Nghề phổ thông, tuy nhiên thực tế cho thấy: đánh giá chất lượng dạy học Nghề phổ thông cho đến nay chưa ban hành được hệ thống tiêu chuẩn chất lượng Nghề phổ thông thống nhất trong toàn quốc. Tình trạng phổ biến là từng địa phương tự đặt chuẩn đánh giá chất lượng riêng dựa trên hướng dẫn học và thi Nghề phổ thông hàng năm của Bộ GD&ĐT. Việc kiểm tra, đánh giá chất lượng dạy học Nghề phổ thông ở trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội, chưa xuất phát từ mục tiêu dạy học. Công cụ kiểm tra, đánh giá chưa đảm bảo độ chính xác, độ tin cậy và tính khách Kết quả kiểm tra, đánh giá chưa phản ánh đúng giá trị thực của nó mà còn mang nặng tính hình thức. Qui trình kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học Nghề phổ thông chưa mang tính pháp qui để xác định rõ các mặt: Kiến thức, kỹ năng, thái độ của học sinh đối với Nghề phổ thông. Vì thế không làm rõ được quyền lợi và trách nhiệm của người dạy và người học, không tạo hứng thú cho học sinh trong học NTP ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội. Chưa thực hiện được công tác thanh tra giáo dục trong hoạt động dạy học Nghề phổ thông. Vì thế chưa phát hiện, điều chỉnh, uốn nắn lệch lạc trong hoạt động dạy học Nghề phổ thông, chưa đề ra biện pháp giúp Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội khắc phục khó khăn trong dạy Nghề phổ thông và nâng cao chất lượng dạy học Nghề phổ thông.
Tiến hành tổng hợp chất lượng GD, ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội trong 5 năm gần đây, chúng tôi thu được kết quả trong bảng sau:
- Bảng 2.13: Chất lượng Giáo dục HS học Nghề phổ thông giai đoạn 2021 – 2026.
Kết quả bảng 2.13 cho thấy: trong 5 năm trở lại đây số lượng HS đến Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 học Nghề phổ thông tăng lên, đồng thời chất lượng giáo dục học sinh cũng tăng theo. Tuy nhiên số lượng học sinh xếp loại học lực TB, học lực yếu, không đủ điều kiện về chuyên cần vẫn còn nhiều, đòi hỏi Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội, không ngừng nỗ lực, có được những biện pháp tích cực, hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng Giáo dục học sinh học Nghề phổ thông ở Trung tâm hơn nữa, đáp ứng yêu cầu của Ngành GD Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
- Về Cơ sở vật chất- Thiết bị dạy học nghề phổ thông Luận văn: Thực trạng dạy học nghề phổ thông Trung tâm Giáo dục.
Cơ sở vật chất của Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội gồm 04 khu phòng học 2 và 3 tầng , với tổng số 38 phòng học lý thuyết và phòng dạy thực hành, có khu vực làm việc của CB, GV, NV Trung tâm, Sân trường có nhiều cây bóng mát. Tổng diện tích đất trung tâm quản lý là 2146m2. Các phòng học được nhà nước đầu tư trang thiết bị dạy học tối thiểu như bàn ghế, bảng, hệ thống chiếu sang… tuy nhiên các phòng dạy thực hành còn thô sơ, lạc hậu, cũ nát…thiết bị kỹ thuật hiện đại phục vụ dạy học nghề phổ thông rất thiếu.
Để đánh giá thực trạng về Cơ sở vật chất- thiết bị dạy học phụ vụ dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội, tác giả đã tiến hành khảo sát lấy ý kiến của đội ngũ Cán bộ quản lý và GV Trung tâm, thu được kết quả ở bảng sau:
- Bảng 2.14. Đánh giá thực trạng về Cơ sở vật chất- thiết bị dạy học phụ vụ dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội.
Kết quả bảng 2.14 cho thấy, Cơ sở vật chất- thiết bị kỹ thuật phục vụ dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội chưa đáp ứng được nhu cầu dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm, đa số Cán bộ quản lý, GV Trung tâm đều đánh giá ở mức độ TB hoặc yếu, nhất là “SGK, Tài liệu phụ vụ dạy học nghề phổ thông” và “Phương tiện, thiết bị kỹ thuật phục vụ dạy học nghề phổ thông” có trên 60% ý kiến của Cán bộ quản lý và GV đánh giá ở mức Yếu. Kết quả trên giúp lãnh đạo Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội thấy rõ thực trạng yếu kém về Cơ sở vật chất- thiết bị dạy học nghề phổ thông ở cơ sở mình, có biện pháp thiết thực để khắc phục.
2.3.3. Thực trạng về QL hoạt động dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 HN Luận văn: Thực trạng dạy học nghề phổ thông Trung tâm Giáo dục.
- Quản lý kế hoạch, chương trình dạy học nghề phổ thông
BGĐ Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội nhận thức được: quản lý việc thực hiện kế hoạch, chương trình giảng dạy là rất cần thiết Vì vậy BGĐ Trung tâm GDKTTH số 5 Hà Nội đã xây dựng, các biện pháp quản lý giáo viên, hướng dẫn giáo viên thực hiện chương trình đầy đủ, đúng tiến độ. Qua điều tra, thực tế cho thấy ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội, BGĐ Trung tâm đã chỉ đạo bắt buộc 100% giáo viên đều phải thực hiện đầy đủ sổ báo giảng hàng tuần, lịch báo giảng của giáo viên phải đăng kí vào sáng thứ 2 hàng tuần treo công khai ở phòng hội đồng. Việc xây dựng lịch báo giảng hàng tuần của giáo viên giúp cho giám đốc nắm chắc tiến độ thực hiện chương trình giảng dạy thuận lợi cho việc kiểm tra hoặc dự giờ, thăm lớp hoặc điều hoà tiến độ chung về kế hoạch, giảng dạy các môn học cũng như các hoạt động trong Trung tâm, nâng cao chất lượng dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm.
Lãnh đạo Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội qui định, các tổ Trưởng chỉ đạo GV báo cáo tiến độ thực hiện chương trình các môn học cho tổ Trưởng phụ trách chuyên môn và tổ Trưởng trực tiếp kiểm tra việc thực hiện chương trình của GV mỗi tháng 01 lần qua các buổi sinh hoạt chuyên môn, đồng thời tổ chức cho kiểm tra chéo giữa các Tổ chuyên môn với nhau trước khi Trung tâm kiểm tra. Hồ sơ kiểm tra đối với GV Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội bao gồm 7 loại sổ sách theo quy định.
Để đánh giá thực trạng về quản lý thực hiện kế hoạch, chương trình, tiến hành thăm dò ý kiến của đội ngũ Cán bộ quản lý ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5, về các biện pháp quản lý chương trình dạy học nghề phổ thông, đưa ra 4 biện pháp, qua điều tra thu được bảng kết quả ở bảng số 2.15:
Bảng 2.15: Ý kiến đánh giá của Cán bộ quản lý về các biện pháp QL việc thực hiện kế hoạch, chương trình dạy học nghề phổ thông
Kết quả thu được ở bảng 2.15 cho thấy: Hầu hết các Cán bộ quản lý ở Trung tâm đều cho rằng, các biện pháp quản lý để giáo viên “thực hiện chương trình giảng dạy” do BGĐ Trung tâm đưa ra là quan trọng, cần thiết. Trong các biện pháp đã nêu trên thì việc “thường xuyên kiểm tra hồ sơ, sổ sách, giáo án, kế hoạch giảng dạy, chế độ cho điểm” của giáo viên là việc làm cần thiết nhất, quan trọng nhất trong các biện pháp quản lý giáo viên thực hiện chương trình và 100% Cán bộ quản lý ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội đều nhất trí với quan điểm này. Tuy nhiên, ý kiến: “Yêu cầu giáo viên tham gia xây dựng kế hoạch, chương trình dạy học nghề phổ thông” có nhiều Cán bộ quản lý đánh giá ở mức bình thường (37,5%), Lãnh đạo Trung tâm cần có những điều chỉnh cho hợp lý. Luận văn: Thực trạng dạy học nghề phổ thông Trung tâm Giáo dục.
Cũng với 4 biện pháp quản lý trên, được đưa ra lấy ý kiến của 24 GV Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội, thu được kết quả ở bảng sau:
Bảng 2.16. Ý kiến của GV về các biện pháp QL thực hiện chương trình dạy học nghề phổ thông của BGĐ
Qua điều tra ý kiến của các giáo viên đang trực tiếp giảng dạy thì 100% cho rằng nên nắm vững, thực hiện đúng kế hoạch, chương trình dạy học nghề phổ thông của Trung tâm. Khi giáo viên đã nắm được kế hoạch, chương trình dạy học, sẽ hình thành nên cách tổ chức dạy học và sử dụng tốt các phương pháp đặc trưng của bộ môn mình giảng dạy có hiệu quả cao.
Theo ý kiến của giáo viên, việc kiểm tra của BGĐ Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp nên tiến hành thường xuyên, ý kiến này đồng nhất với ý kiến của các Cán bộ quản lý vì có kiểm tra thì mới nắm bắt được thực tế thực hiện kế hoạch, chương trình dạy học nghề phổ thông, chương trình giảng dạy có đúng với kế hoạch đặt ra không? Nếu không phát hiện kịp thời những sai lệch trong hoạt động dạy học của giáo viên để khắc phục, sẽ dẫn đến những hậu quả như: dồn ép, cắt xén, đảo lộn chương trình giảng dạy, không đảm bảo chất lượng đào tạo, vi phạm quy chế chuyên môn, không thực hiện đúng kế hoạch mà Trung tâm đã đề ra.
- Quản lý Giáo viên, CBNV trong hoạt động dạy học Nghề phổ thông
- (1).Quản lý hoạt động dạy Nghề phổ thông của Giáo viên
Quản lý Giáo viên soạn bài, chuẩn bị bài: để nâng cao tinh thần trách nhiệm, thực hiện tốt qui chế chuyên môn, thực hiện phong trào dạy tốt, học tốt. Đổi mới phương pháp dạy học nghề phổ thông và soạn bài dạy theo hướng tích cực, BGĐ Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội yêu cầu 100% giáo viên Trung tâm phải soạn bài đầy đủ trước khi lên lớp. Giáo viên phải nghiên cứu tài liệu, sách giáo khoa, sách Giáo viên, cập nhật kiến thức mới, tài liệu mới, sử dụng phù hợp phương pháp đặc trưng của bộ môn, để bài soạn có được chất lượng tốt.
Yêu cầu các Giáo viên bộ môn xác định chuẩn kiến thức, chuẩn kỹ năng, xác định nội dung cơ bản của từng bài dạy, hình thức trình bày cho từng thể loại bài giảng, những phương pháp cơ bản thể hiện trong bài (bài soạn lý thuyết, bài tập thực hành).
Trung tâm tích cực thực hiện đổi mới kiểm tra, đánh giá vì kiểm tra, đánh giá là công cụ quan trọng chủ yếu điều chỉnh hoạt động dạy và học, góp phần cải thiện nâng cao chất lượng đào tạo. BGĐ Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 đã giao tổ Trưởng chuyên môn, PGĐ kiểm tra, kí duyệt vào giáo án của giáo viên trước khi giảng dạy.
Thực hiện quản lý GV soạn bài, chuẩn bị bài, BGĐ Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 đã đưa ra những quy định, trách nhiệm cụ thể với Cán bộ quản lý và giáo viên Trung tâm: Luận văn: Thực trạng dạy học nghề phổ thông Trung tâm Giáo dục.
- Quy định về giáo án.
- Bắt buộc giáo viên phải soạn bài mới trước khi lên lớp.
- Quy định việc sử dụng sách giáo khoa, tài liệu.
- Cung cấp đầy đủ sách giáo khoa giáo viên.
- Cung cấp tài liệu về phương pháp giảng dạy.
- Phó giám đốc kiểm tra giáo án? dự giờ không báo trước
- Yêu cầu các giáo viên cùng bộ môn Nghề phổ thông thống nhất cơ bản nội dung chương trình kế hoạch dạy học.
- Tổ Trưởng kiểm tra, đánh giá rút kinh nghiệm.
- Phân công tổ Trưởng chuyên môn, Phó GĐ phụ trách chuyên môn ký duyệt giáo án của giáo viên.
Thực hiện khảo sát, lấy ý kiến của 24 GV Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội, về biện pháp của BGĐ quản lý giáo viên Trung tâm soạn bài, chuẩn bị bài, kết quả điều tra thu được như sau:
Bảng 2.17: Ý kiến của GV Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội về biện pháp quản lý Giáo viên soạn bài, chuẩn bị bài.
Qua kết quả điều tra thu được trên bảng 2.17 cho thấy: các biện pháp quả lý GV, quản lý dạy học nghề phổ thông của BGĐ Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội như: “Quy định về nội dung bài soạn và chuẩn bị bài lên lớp”; “Bắt buộc GV phải soạn bài giảng mới trước khi lên lớp” và “phân công Tổ trưởng chuyên môn ký duyệt giáo án GV hàng tuần” nhận được 100% ý kiến GV đánh giá là rất quan trọng, trong đó Biện pháp “phân công Tổ trưởng chuyên môn ký duyệt giáo án của GV hàng tuần” là đặc biệt cần thiết và quan trọng nhất, bởi vì BGĐ Trung tâm cho rằng việc ký duyệt giáo án vừa kiểm tra việc soạn bài, vừa kiểm tra được kiến thức, phương pháp của giáo viên vừa tiếp cận gần gũi với giáo viên hơn, để có thể uốn nắn những sai lệch trong khâu soạn bài của giáo viên. Nếu việc chuẩn bị bài dạy chu đáo, kỹ càng, chất lượng, thì hiệu quả của giờ giảng trên lớp càng cao (nếu giáo viên chuẩn bị tốt mọi việc thì sự thành công trong công việc sẽ đạt trước 50% kết quả), điều này được thể hiện rõ nét qua các giờ giảng của giáo viên đạt giáo viên giỏi cấp Trung tâm, giáo viên giỏi cấp Thành phố do Trung tâm, Sở GD&ĐT Hà Nội tổ chức. Các giờ giảng tham gia dự thi được các giáo viên trong tổ, nhóm trao đổi rất kỹ, về tiến trình, cấu trúc nội dung, được thảo luận, tham gia đóng góp ý kiến từng chi tiết vì vậy các đợt thi GV giỏi đạt được kết quả rất cao. Chất lượng dạy học nghề phổ thông, quản lý dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội được nâng lên.
Biện pháp “yêu cầu giáo viên cùng bộ môn thống nhất cơ bản về nội dung, hình thức từng thể loại bài dạy”, 100% các giáo viên cho rằng rất quan trọng. Ý kiến của giáo viên Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội cho rằng BGĐ Trung tâm đã thực hiện tốt biện pháp này. Biện pháp yêu cầu giáo viên thống nhất về nội dung, hình thức thể loại từng bài dạy, nhằm tập trung trí tuệ của tập thể, tổ, nhóm để chắt lọc nội dung, phương pháp trình bày để có được kết quả cao trong các giờ lên lớp.
“Cung cấp tài liệu sách giáo khoa, sách tham khảo”, theo ý kiến của BGĐ thì chiếm vị trí quan trọng thứ hai, theo ý kiến của GV Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 mong muốn BGĐ quan tâm cung cấp đầy đủ sách giáo khoa, sách giáo viên, tài liệu tham khảo, và các đồ dùng thiết bị dạy học nghề phổ thông để phục vụ cho bài giảng.
KTĐG của BGĐ Trung tâm về hồ sơ, sổ sách của giáo viên qua các đợt kiểm tra, làm căn cứ đánh giá xếp loại hoàn thành công việc của mỗi giáo viên qua từng học kỳ, cả năm. Cách quản lý như vậy có tác dụng tốt để xây dựng cho mọi giáo viên có ý thức, có trách nhiệm hoàn thành nhiệm vụ theo đúng tinh thần: “Kỷ cương – Tình thường – Trách nhiệm”. Hàng năm, Trung tâm đều đón đoàn thanh tra của Sở GD&ĐT Hà Nội xuống Trung tâm thanh tra toàn diện về công tác quản lý hoạt động dạy học Nghề phổ thông, nhằm đánh giá những mặt đã làm được, những mặt chưa làm được để từ đó rút kinh nghiệm cho công tác quản lý chỉ đạo hoạt động dạy học ở Trung tâm GDKTTH số 5 Hà Nội được tốt hơn.
Những kết quả thu được trên bảng 2.17, giúp cán bộ lãnh đạo, Cán bộ quản lý ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội được, nhìn thấy rõ thực trạng phản hồi từ các GV Trung tâm về những biện pháp quản lý giáo viên soạn bài, chuẩn bị bài. Là cơ sở để Cán bộ quản lý Trung tâm điều chỉnh, đổi mới nội dung, phương pháp quản lý để có được kết quả cao trong quản lý dạy học nghề phổ thông. Luận văn: Thực trạng dạy học nghề phổ thông Trung tâm Giáo dục.
Quản lý giờ dạy trên lớp: việc quản lý giờ dạy trên lớp của giáo viên có tầm quan trọng đặc biệt nó tác động trực tiếp đến kết quả giảng dạy, học tập của thầy và trò đến chất lượng dạy học nghề phổ thông của Trung tâm. Chất lượng hiệu quả của công tác giảng dạy thể hiện ở giờ lên lớp, bởi vậy BGĐ Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội, đã chủ động đưa ra một số biện pháp quản lý giờ dạy trên lớp của giáo viên.
Để đánh giá thực trạng các biện pháp quản lý giờ dạy trên lớp của giáo viên do BGĐ Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 đề ra, chúng tôi tiến hành khảo sát lấy ý kiến của 8 Cán bộ quản lý các cấp ở Trung tâm và đã thu được kết quả ở bảng sau:
Bảng 2.18. Tự đánh giá của đội ngũ Cán bộ quản lý Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 về các biện pháp QL giờ dạy trên lớp của BGĐ
Kết quả thu được ở bảng 2.18 cho thấy: Đội ngũ Cán bộ quản lý các cấp ở trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội hầu hết đều cho rằng, các biện pháp quản lý giờ dạy trên lớp do BGĐ Trung tâm đề ra, là rất cần cho hoạt động quản lý giờ dạy trên lớp của GV. Trong đó có nhiều biện pháp được 100% đội ngũ Cán bộ quản lý Trung tâm nhất trí hoàn toàn như: Thường xuyên kiểm tra, đánh giá giờ dạy của GV; xây dựng nền nếp dạy học; Xây dựng thời khóa biểu khoa học, hợp lý…Đồng thời kết quả bảng 2.18 còn cho thấy thực tế về quản lý giờ dạy trên lớp của BGĐ trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội, đã làm tốt ở khâu tổ chức cho đội ngũ GV học tập quy chế, tiêu chuẩn đánh giá giờ dạy, quan tâm làm tốt hơn ở một số biện pháp quản lý đạt hiệu quả chưa cao như: Xây dựng quy chế dạy học cho phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh Trung tâm hay xây dựng thời khóa biểu Trung tâm đang thực hiện sao cho khoa học, hợp lý hơn.
Thực hiện khảo sát, lấy ý kiến của 24 GV trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội, về các biện pháp của BGĐ quản lý giờ dạy trên lớp của GV Trung tâm, kết quả điều tra thu được như sau:
- Bảng 2.19. GV Trung tâm đánh giá về các biện pháp QL giờ dạy của BGĐ
Qua kết quả điều tra thu được chúng ta nhận thấy, nhiều biện pháp BGĐ đưa ra để quản lý giờ dạy của GV, được tập thể GV Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội đánh giá là thực tại đang làm tốt như: Tổ chức cho giáo viên học tập qui chế, tiêu chuẩn (100%); Yêu cầu GV lập kế hoạch (91,7%); Xây dựng nề nếp dạy học (83,3%). Bên cạnh đó, có những biện pháp quản lý thực tế đạt kết quả chưa cao như biện pháp: “thường xuyên kiểm tra” được GV đánh giá làm tốt chỉ đạt 55,7% hay “Xây dựng thời khoá biểu khoa học hợp lý” có tới 58% ý kiến GV cho rằng làm chưa tốt, đạt mức bình thường…Đa số giáo viên ở Trung tâm cho rằng: việc xây dựng tiêu chuẩn giờ lên lớp ở Trung tâm là rất phù hợp, chỉ có một số ít giáo viên cho rằng chưa phù hợp, cần thay đổi điều chỉnh một số tiêu chuẩn phù hợp với giáo viên dạy Nghề phổ thông, vì một số tiêu chuẩn không thể đánh giá như trường Trung học phổ thông. Luận văn: Thực trạng dạy học nghề phổ thông Trung tâm Giáo dục.
Xây dựng thời khoá biểu phải hợp lý, khoa học: thời khoá biểu là phương tiện quản lý quan trọng của BGĐ Trung tâm. Vì thời khoá biểu giúp BGĐ giám sát việc dạy học của thầy và học trò, để xây dựng thời khoá biểu khoa học hợp lý phải căn cứ vào phân phối chương trình của từng môn Nghề phổ thông, số giờ qui định của từng môn, nội dung giảng dạy, đồng thời phải quan tâm đến đặc thù riêng của mỗi môn Nghề phổ thông để sắp xếp sao cho hài hoà. Nhằm đảm bảo tính khoa học, tính logic trong quá trình nhận thức của HS. Trong quá trình xây dựng thời khoá biểu cần phải chú ý đến những điều kiện như, sức khoẻ, hoàn cảnh của giáo viên để bố trí sao cho hợp lý, hợp tình giúp mọi người có thể thoải mái, phấn khởi, yên tâm công tác hoàn thành nhiệm vụ, xếp thời khoá biểu hợp lý sẽ tạo ra sự cân đối, hài hoà trong hoạt động dạy học nghề phổ thông. Thực tế cho thấy, BGĐ chưa thực sự quan tâm đến biện pháp này, mà giao phó cho Giáo vụ Trung tâm sắp xếp thời khoá biểu để cho giáo viên lên lớp, chưa thường xuyên kiểm tra, xem xét việc bố trí các môn học đã hợp lý, hợp tình chưa ? Qua tìm hiểu ý kiến của đội ngũ GV đang giảng dạy thì một số GV cho rằng có lúc chưa thực sự khoa học và hợp lý vì chưa cân đối kịp thời, gần kết thúc năm học có môn Nghề phổ thông thì dạy nhanh so với phân phối chương trình, có môn Nghề phổ thông còn quá chậm.
Xây dựng nề nếp dạy học: căn cứ theo Quyết định số: 44 /2018/QĐ-BGDĐT ngày 30 tháng 07 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp, qui định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ của giáo viên, Giám đốc, Phó giám đốc và các loại hệ thống hồ sơ, sổ sách theo dõi hoạt động dạy học nghề phổ thông trong Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp, từ đó Trung tâm nghiên cứu tổ chức triển khai thực hiện thống nhất, là cơ sở để Trung tâm xây dựng Quy chế dân chủ, Quy chế chi tiêu nội bộ phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh thực tế của Trung tâm, là những căn cứ để BGĐ Trung tâm kiểm tra, đánh giá, quản lý hoạt động dạy học của giáo viên. Xây dựng các quy định như:
- Thực hiện nền nếp dạy học, ngày công, giờ công cao;
- Thực hiện kế hoạch dạy học;
- Quy định về soạn bài giảng, chấm, chế độ cho điểm;
- Công tác quản lý học sinh;
- Xây dựng quy chế thi đua, khen thưởng…
Để quản lý giờ lên lớp của GV có hiệu quả, BGĐ yêu cầu GV phải xây dựng kế hoạch cá nhân (kế hoạch đã được thống nhất mẫu cơ bản với kế hoạch do Trung tâm quy định), căn cứ vào đó GV xây dựng kế hoạch của mình, đặc biệt là đối với GV trẻ mới vào nghề, giúp BGĐ thuận lợi trong công tác tổng hợp, Kiểm tra đánh giá.
BGĐ Trung tâm kiểm tra giờ dạy trên lớp bằng việc quản lý kế hoạch của giáo viên. Giao cho Tổ trưởng chuyên môn kiểm tra lần thứ nhất, sau đó thành lập Ban kiểm tra do GĐ Trung tâm trực tiếp xem xét, phê duyệt kế hoạch (thường vào cuối tháng 9). Kiểm tra như vậy nhằm phát hiện những yêu cầu trong kế hoạch đã làm được, những tồn tại trong việc lập kế hoạch cá nhân, từ đó giúp GV bổ sung, điều chỉnh những thiếu sót trong bản kế hoạch cá nhân của mình, sao cho hoàn thiện hơn. Thực hiện nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục theo quy định của Bộ GD, dạy đúng chương trình, soạn, chấm, trả bài đầy đủ theo quy định, quản lý tốt HS trong mọi hoạt động do Trung tâm tổ chức, thực hiện tốt quy chế chuyên môn.
Căn cứ vào các quy định, đối chiếu với tình hình thực tế đã thực hiện, hàng tháng BGĐ Trung tâm có đánh giá nhận xét cụ thể đối với giáo viên về nề nếp dạy học. BGĐ yêu cầu Tổ trưởng chuyên môn bám sát, đôn đốc, thường xuyên kiểm tra và giúp đỡ giáo viên cố gắng ở những mặt làm chưa tốt trong kế hoạch đã đề ra. Qua phiếu điều tra, chúng tôi thu được kết quả: 100% đội ngũ Cán bộ quản lý Trung tâm đều khẳng định việc “xây dựng nề nếp dạy học” ở Trung tâm GDKTT hợp số 5 Hà Nội là rất cần thiết và có 75% ý kiến của giáo viên Trung tâm đều công nhận là thực tế đã làm tốt.
Xây dựng qui chế dạy học riêng phù hợp với đặc điểm của Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội: việc xây dựng qui chế làm việc của trung tâm GDKTT hợp số 5 Hà Nội, được tiến hành vào đầu năm học (khoảng cuối tháng 9 đầu tháng 10), trong Đại hội công chức đầu năm, BGĐ Trung tâm thay mặt hội đồng giáo dục trung tâm, thông qua quyết định về việc ban hành qui chế làm việc của CB, GV, NV Trung tâm, nói rõ nhiệm vụ cần phải thực hiện của từng thành viên trong đơn vị. Qua điều tra, có 50% GV Trung tâm đánh giá mức thực hiện tốt, nhưng cũng có tới 27% ý kiến GV đánh giá làm chưa tốt. Kết quả phiếu điều tra đối với giáo viên cho thấy quy chế cần phải cụ thể và bám sát với tình hình thực tế của Trung tâm hơn nữa.
KTĐG là một chức năng quan trọng của công tác quản lý ở Trung tâm, kết quả thu được ở bảng 2.19 cho thấy, có tới 29% ý kiến GV là có làm và 33% ý kiến GV là làm chưa tốt, khi điều tra GV Trung tâm đánh giá biện pháp quản lý “Thường xuyên kiểm tra giờ dạy của GV Trung tâm”. Kết quả này phản ánh chức năng Kiểm tra đánh giá của đội ngũ Cán bộ quản lý trung tâm GDKTT hợp số 5 Hà Nội thực hiện còn nhiều thiếu xót, cần điều chỉnh, đổi mới, nỗ lực cao để có được kết quả tốt trong công tác quản lý dạy học nghề phổ thông, ở trung tâm GDKTT hợp số 5 Hà Nội. Luận văn: Thực trạng dạy học nghề phổ thông Trung tâm Giáo dục.
Quản lý công tác bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao trình độ cho giáo viên: qua thực tế, việc bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên, BGĐ Trung tâm GDKTT hợp số 5 Hà Nội đều lên kế hoạch, chương trình hoạt động. Chú trọng quản lý công tác bồi dưỡng CMNV, nâng cao trình độ cho giáo viên đổi mới phương pháp dạy học ở Trung tâm nhằm nâng cao chất lượng dạy học nghề phổ thông cụ thể:
- Tạo điều kiện cầo giáo viên đi học để nâng cao trình độ chuyên môn.
- Xây dựng đội ngũ GV cốt cán ở các tổ.
- Trao đổi chuyên môn, học tập kinh nghiệm đồng nghiệp qua các giờ dạy.
- Tổ chức rút kinh nghiệm để khắc phục những nhược điểm, phát huy ưu điểm của đồng nghiệp.
- Bồi dưỡng chuyên môn, tìm hiểu các tài liệu, sách học, thông tin đại chúng lĩnh hội kiến thức làm cơ sở bổ sung cho kiến thức bài dạy.
- Tạo điều kiện cho giáo viên Trung tâm tham gia dự giờ thăm lớp, học hỏi kinh nghiệm dạy học ở các Trung tâm bạn.
Để đánh giá thực trạng các biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng CMNV, nâng cao trình độ cho GV đổi mới Phương pháp dạy học nghề PT, do BGĐ Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 đề ra, chúng tôi tiến hành khảo sát lấy ý kiến của 8 Cán bộ quản lý các cấp ở Trung tâm và đã thu được kết quả ở bảng sau:
- Bảng 2.20. Bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao trình độ giáo viên
Kết quả điều tra thu được cho thấy: Cán bộ quản lý các cấp ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội hầu hết đều nhận thức, các biện pháp quản lý công tác bồi dưỡng CMNV, nâng cao trình độ cho giáo viên đổi mới Phương pháp dạy học ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5, do BGĐ Trung tâm đề ra rất quan trọng, là cần thiết trong hoạt động quản lý Trung tâm. Trong đó có nhiều biện pháp được 100% đội ngũ Cán bộ quản lý Trung tâm nhất trí hoàn toàn như: “Đăng kí phấn đâu trở thành giáo viên giỏi”; “Kiểm tra đánh giá việc bồi dưỡng thường xuyên”. Mọi người đều nhận thức được nhu cầu phấn đấu, khẳng định bản thân rất thiết thực với thầy, cô giáo, đã là giáo viên ai cũng mong muốn trở thành thầy cô giáo giỏi. Nó là động lực để đội ngũ GV phải quyết tâm, quyết chí, phải xác định mục tiêu phấn đấu trở thành giáo viên giỏi, nhưng cũng không phải một sớm một chiều mà đạt được, mà phải phấn đấu suốt đời bằng cách tự học, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ, tích lũy kinh nghiệm mới có được. Biện pháp Kiểm tra đánh giá cũng được các nhà quản lý nhất trí 100%, bởi lẽ làm lãnh đạo, quản lý khi đã triển khai công việc phải có Kiểm tra đánh giá công việc mới có được kết quả tốt. Các biện pháp như: “yêu cầu giáo viên tự học tập nâng cao trình độ CMNV” hay biện pháp “Yêu cầu, tạo mọi ĐK thuận lợi GV thường xuyên đổi mới Phương pháp dạy học” cũng được các nhà quản lý Trung tâm thống nhất cao với 87,5% ý kiến đánh giá là rất quan trọng.
Thăm dò ý kiến của 24 GV trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội về việc BGĐ có quan tâm công tác bồi dưỡng CMNV, nâng cao trình độ cho GV, đổi mới Phương pháp dạy học ở trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội hay không? chúng tôi thu được kết quả như sau: Luận văn: Thực trạng dạy học nghề phổ thông Trung tâm Giáo dục.
Bảng 2.21. Ý kiến của GV về BGĐ quản lý công tác bồi dưỡng CMNV, nâng cao trình độ cho GV, đổi mới Phương pháp dạy học ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội
Kết quả thu được ở bảng trên cho thấy: BGĐ Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội có quan tâm tới công tác bồi dưỡng CMNV, nâng cao trình độ, đổi mới Phương pháp dạy học cho GV Trung tâm. Trong đó có những biện pháp quản lý được đội ngũ GV Trung tâm đánh giá rất cao đạt 95,8% đến 100% như các biện pháp: “BGĐ Trung tâm có kế hoạch, tạo điều kiện thuận lợi cho GV tham gia các đợt tập huấn về CMNV” hay “BGĐ Trung tâm có quan tâm, bồi dưỡng, tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp GV đổi mới Phương pháp dạy học nghề PT ở Trung tâm”. Các biện pháp của BGĐ quan tâm, tạo mọi điều kiện thuận lợi để đội ngũ GV tham gia các khóa bồi dưỡng nâng cao trình độ,CMNV, đổi mới Phương pháp dạy học là góp phần thúc đẩy sự vươn lên, tìm tòi, sáng tạo trong chuyên môn của GV. Để có được kết quả tốt trong giảng dạy, trước hết thày, cô giáo phải có được kiến thức sâu, rộng, kỹ năng, phương pháp Sư phạm tốt thì bài giảng sẽ hay, sẽ sinh động hơn, có như vậy mới phát huy được trí thông minh của học sinh, làm nâng cao hiệu quả dạy học nghề phổ thông.
Các biện pháp quản lý khác được BGĐ đưa ra trong thực tế cũng có sự quan tâm thường xuyên của lãnh đạo Trung tâm. Tuy nhiên có một số ý kiến của GV mong muốn, BGĐ Trung tâm cần chú trọng quan tâm nhiều hơn nữa, hiệu quả hơn với các biện pháp quản lý về Kiểm tra đánh giá, Cơ sở vật chất… Vẫn còn trên 20% ý kiến GV cho rằng BGĐ Trung tâm chưa thực sự quan tâm các lĩnh vực đó.
Quản lý Kiểm tra đánh giá Giáo viên: công tác quản lý Kiểm tra đánh giá giáo viên ở Trung tâm được thực hiện tương đối tốt. Cụ thể, BGĐ Trung tâm chỉ đạo TTND, tổ CM, công đoàn Trung tâm theo dõi, thường xuyên Kiểm tra đánh giá thực hiện nền nếp dạy học của GV, định kỳ Kiểm tra đánh giá giờ dạy của GV, hồ sơ sổ sách, chuyên môn của GV, Kiểm tra đánh giá việc thực hiện nội dung, chương trình các môn học. BGĐ Trung tâm hướng dẫn, chỉ đạo GV thực hiện nghiêm quy chế, quy định về quản lý, Kiểm tra đánh giá học sinh nhất là điều kiện về chuyên cần để được dự thi tốt nghiệp Nghề phổ thông.
Đánh giá thực trạng công tác quản lý Kiểm tra đánh giá GV ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội, chúng tôi tiến hành khảo sát lấy ý kiến của 8 Cán bộ quản lý và 24 GV Trung tâm, về mức độ thực hiện một số nội dung quản lý Kiểm tra đánh giá giáo viên ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội, thu được kết quả ở bảng sau:
- Bảng 2.22. Thực trạng quản lý Kiểm tra đánh giá giáo viên ở TT.GDKTTH số 5 Hà Nội
Kết quả thu được ở bảng 2.22 cho thấy: Thực trạng quản lý Kiểm tra đánh giá giáo viên, HS ở trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội đang có được kết quả tương đối tốt. Nhiều nội dung quản lý Kiểm tra đánh giá giáo viên được đội ngũ Cán bộ quản lý, GV Trung tâm đánh giá ở mức độ tốt với số phiếu đạt từ 75% đến 91,6% như: “Chỉ đạo nghiêm túc thực hiện quy chế Kiểm tra đánh giá, thi, xếp loại HS”; “Chỉ đạo L.tịch gồm: TTND, Gvụ, Tổ trưởng chuyên môn, C.Đoàn, định kỳ KT các loại hồ sơ GV” hay “Tổ chức thanh tra nội bộ, dự giờ, đánh giá giờ dạy”, không có mức TB hoặc yếu. Chứng tỏ, lãnh đạo Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội, rất quan tâm, nghiêm túc trong chỉ đạo việc thực hiện quy chế Kiểm tra đánh giá giáo viên, HS, thực hiện tốt chức năng QLGD. Bên cạnh đấy, kết quả khảo sát, điều tra cũng cho thấy có những lĩnh vực Kiểm tra đánh giá, Trung tâm thực hiện quản lý chưa tốt, chưa đạt được kết quả cao như: “QL giáo viên chấm bài, q.lý đánh giá, xếp loại HS”, có từ 12,5% đến 25% Cán bộ quản lý, giáo viên chỉ chấm đạt mức độ quản lý TB, đòi hỏi BGĐ Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội, phải nỗ lực hơn nữa trong công tác quản lý giáo viên chấm bài, quản lý đánh giá, xếp loại HS để có được hiệu quả cao hơn. Luận văn: Thực trạng dạy học nghề phổ thông Trung tâm Giáo dục.
Các nội dung quản lý như: “KTĐG giáo viên, HS thực hiện nền nếp chuyên cần”; “Tổ chức thanh tra nội bộ, dự giờ, đánh giá giờ dạy GV” hay “Sử dụng kết quả Kiểm tra đánh giá vào xếp loại thi đua.” Có trên 70% ý kiến GV, Cán bộ quản lý xếp ở mức độ thực hiện khá, tốt, nhưng cũng có không ít đánh giá chỉ ở mức TB (từ 8,4% đến 21%), cho thấy Thực trạng quản lý Kiểm tra đánh giá giáo viên ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội cần có những cải tiến, điều chỉnh cho hợp lý.
Quản lý hoạt động của tổ chuyên môn: BGĐ Trung tâm xác định, là một trong những nội dung quan trọng trong công tác quản lý dạy học nghề phổ thông, quản lý Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội. Việc xây dựng, tổ chức và quản lý hoạt động của Tổ chuyên môn là nhiệm vụ luôn được BGĐ Trung tâm coi trọng. Ngay đầu năm học, BGĐ Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 đã yêu cầu, tổ Trưởng chuyên môn phải hoàn thiện, có ngay hồ sơ Tổ chuyên môn, bao gồm: danh sách lí lịch trích ngang GV trong tổ; Bản Kế hoạch hoạt động của Tổ chuyên môn trong từng học kỳ, trong cả năm học, sổ ghi các hoạt động của Tổ chuyên môn; Sổ ghi biên bản họp Tổ chuyên môn và nghị quyết các cuộc họp Tổ chuyên môn. Trong năm học, BGĐ Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 chú trọng việc xây dựng và tổ chức tốt nề nếp sinh hoạt Tổ chuyên môn. Tăng cường, khuyến khích các nội dung sinh hoạt theo chuyên đề nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động dạy Nghề phổ thông. Tạo được không khí dân chủ, bình đẳng, tích cực trong sinh hoạt Tổ chuyên môn, nhằm phát huy trí tuệ tập thể. Tích cực xây dựng tạo thói quen chia sẻ kinh nghiệm dạy học nghề phổ thông khi sinh hoạt Tổ chuyên môn.
Tiến hành điều tra đội ngũ 8 Cán bộ quản lý và 24 GV Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội về thực trạng quản lý hoạt động của các Tổ chuyên môn, chúng tôi có kết quả ở bảng sau:
- Bảng 2.23. Thực trạng quản lý hoạt động Tổ chuyên môn
Kết quả thu được ở bảng 2.23 cho thấy: Thực trạng quản lý hoạt động Tổ chuyên môn, ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội, đang có được kết quả tương đối tốt. Một số nội dung quản lý hoạt động Tổ chuyên môn được đội ngũ Cán bộ quản lý, GV Trung tâm đánh giá ở mức độ tốt với số phiếu đạt từ 70% đến 87,5% như: “QLViệc xây dựng kế hoạch hoạt động Tổ chuyên môn”; “QL sinh hoạt Tổ chuyên môn”. Cho thấy lãnh đạo Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội, rất coi trọng hoạt động của Tổ chuyên môn, thể hiện tốt chức năng kế hoạch hóa trong công tác quản lý, lấy hoạt động của Tổ chuyên môn làm hạt nhân cho mọi hoạt động của Trung tâm. Điều tra, khảo sát thực trạng quản lý hoạt động Tổ chuyên môn ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội, giúp cho BGĐ Trung tâm thấy rõ những hạn chế trong công tác quản lý hoạt động Tổ chuyên môn như: có từ 12,5% đến 16% ý kiến đánh giá của Cán bộ quản lý, GV Trung tâm ở mức chưa tốt, cho rằng lãnh đạo chưa thật sự tin tưởng, trao quyền hạn, trách nhiệm cho Tổ trưởng chuyên môn. Lãnh đạo Trung tâm cũng chưa thường xuyên quan tâm đến: “QL việc b.dưỡng, nâng cao năng lực hoạt động của Tổ chuyên môn”, có từ 37,5% đến 60% ý kiến của Cán bộ quản lý, GV Trung tâm đánh giá ở mức bình thường hoặc chưa tốt.
Kết quả này là cơ sở để lãnh đạo Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội nhìn rõ vấn đề, có sự điều chỉnh, thay đổi, một số biện pháp quản lý hoạt động của Tổ chuyên môn, thực hiện tốt vai trò, chức năng QL, có được thành công trong công tác giáo dục, dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội.
- (2). Quản lý CBNV Luận văn: Thực trạng dạy học nghề phổ thông Trung tâm Giáo dục.
Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 HN có 8 Cán bộ lãnh đạo chủ chốt, Trong Trung tâm có sự phân công trách nhiệm cụ thể, rõ ràng dựa theo quy chế hoạt động của Trung tâm như: Giám đốc, Phó GĐ, Chủ tịch công đoàn, Trưởng Thanh tra ND, Trưởng giáo vụ, Tổ trưởng chuyên môn, dưới sự quản lý, điều hành trực tiếp của GĐ Trung tâm.
Đội ngũ Nhân viên Trung tâm bao gồm cả biên chế và hợp đồng là 10 người, thuộc tổ Hành chính, đảm nhiệm các công việc: Kế toán, Thủ quỹ, quản lý Thư viện, y tế, Bảo vệ, Trông xe, Nhân viên kỹ thuật và Lao công.
Đội ngũ CBNV Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội, có vai trò quan trọng, ảnh hưởng lớn tới hoạt động dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm. Đánh giá thực trạng công tác quản lý đội ngũ CBNV Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5, chúng tôi tiến hành khảo sát, lấy ý kiến đánh giá từ 24 GV Trung tâm, thu được kết quả ở bảng sau:
Bảng 2.24. Thực trạng về quản lý đội ngũ CBNV Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội
Kết quả bảng 2.24 cho thấy, công tác quản lý đội ngũ CBNV Trung tâm có được nhiều ý kiến của Cán bộ quản lý, GV đánh giá ở mức tốt là ở nội dung: “Giao việc, giao nhiệm vụ cụ thể cho từng cá nhân”, các ý kiến của Cán bộ quản lý thường đánh giá ở mức độ thực hiện tốt cao hơn nhiều so với GV. Thực trạng khảo sát cho thấy có tới trên 40% ý kiến GV đánh giá các nội dung quản lý: “Nền nếp làm việc của CBNV” và “Việc b.dưỡng, nâng cao năng lực cho CBNV” ở mức thực hiện chưa tốt, đặt ra cho lãnh đạo TT trách nhiệm thực hiện tốt hơn chức năng quản đội ngũ CBNV Trung tâm.
- Quản lý hoạt động học Nghề phổ thông của Học sinh Luận văn: Thực trạng dạy học nghề phổ thông Trung tâm Giáo dục.
Học sinh đến học các môn Nghề phổ thông ở các Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội, chủ yếu là HS đến từ các trường phổ thông (THCS, Trung học phổ thông) trên địa bàn các quận Cầu Giấy, Bắc Từ Liêm và Nam Từ liêm, đây là các quận mới chuyển đổi từ huyện lên trong mấy năm qua, đời sống kinh tế còn nhiều khó khăn, đa dạng về nghành nghề, là khu vực giáp ranh với ngoại thành Hà Nội, nên trình độ dân trí có nhiều hạn chế. Một bộ phận Học sinh phổ thông tới Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội học Nghề phổ thông, còn xem nhẹ môn Nghề phổ thông như là môn học phụ, chỉ dùng kết quả điểm thi nghề để cộng điểm ưu tiên cho thi tốt nghiệp cuối cấp, chưa xác định đúng đắn động cơ, thái độ học tập, do đó ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng học tập. Thực tế, kết quả đánh giá, xếp loại quá trình học môn Nghề phổ thông, cũng như kết quả thi Nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp không ảnh hưởng nhiều tới xếp loại, đánh giá Học sinh phổ thông, vì vậy, nhiều HS có nhận thức, thái độ không đúng về học Nghề phổ thông, như: không thực hiện nội quy học tập, học hành thiếu chăm chỉ, một số em còn tỏ ra coi thường giáo viên dạy Nghề phổ thông. Hơn nữa, mỗi giáo viên dạy NPT phải đảm nhận phụ trách dạy rất nhiều lớp Nghề phổ thông và mỗi lớp Nghề phổ thông chỉ dạy một buổi/tuần, tạo nên không ít những khó khăn cho công tác quản lý học sinh ở Trung tâm.
Thực tế thời gian qua, một số biện pháp quản lý HS tới học Nghề phổ thông, ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội, đã được lãnh đạo Trung tâm thực hiện như: phối hợp chặt chẽ với các nhà trường PT có HS, tới Trung tâm học Nghề phổ thông trong hoạt động quản lý; Thường xuyên Kiểm tra đánh giá học sinh tới Trung tâm học Nghề phổ thông, đưa hoạt động học Nghề phổ thông vào nội dung đánh giá, xếp loại thi đua ở nhà trường PT; Các buổi HS tới Trung tâm học Nghề phổ thông, có sự kết hợp quản lý của GV chuyên trách trường PT; Giữa trung tâm với các trường PT có thiết lập thông tin hai chiều để quản lý và sử lý kịp thời những vấn đề khi HS tới học Nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp.
Để đánh giá thực trạng quản lý HS học Nghề phổ thông, ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội, chúng tôi tiến hành khảo sát, lấy ý kiến đánh giá của 24 GV Trung tâm và 450 HS ở các môn Nghề phổ thông, trường PT khác nhau, về mức độ thực hiện một số nội dung Quản lý học sinh ở trung tâm. Chúng tôi thu được kết quả ở bảng sau:
Bảng 2.25. Ý kiến đánh giá của GV và HS về mức độ thực hiện một số nội dung Quản lý học sinh ở trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội.
Kết quả thu được ở bảng 2.25 cho thấy: Công tác quản lý HS ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội có được kết quả tốt ở các lĩnh vực: “QL nền nếp chuyên cần của HS” và “QL các giờ học trên lớp của HS” (có trên 90% GV, HS nhất trí mức độ thực hiện tốt). Kết quả cho thấy sự nỗ lực của đội ngũ Cán bộ quản lý, đội ngũ GV Trung tâm trong việc quản lý nền nếp dạy học ở Trung tâm. Bên cạnh đó, công tác quản lý: “Quản lý Kiểm tra đánh giá Học sinh” và “QL sự phối hợp với các trường PT” cũng được thực hiện đạt hiệu quả tương đối cao (70,8% – 82%) GV, HS đánh giá mức độ tốt, tuy nhiên vẫn còn những ý kiến đánh giá mức độ thực hiện chưa tốt. Luận văn: Thực trạng dạy học nghề phổ thông Trung tâm Giáo dục.
Kết quả điều tra, khảo sát cho thấy, công tác “quản lý tự học ở nhà của HS” và “QL sự phối hợp với Cha mẹ học sinh” có kết quả thấp nhất, chỉ có từ 17% đến 25% GV, HS cho rằng đạt mức độ tốt, có từ 30% đến 54% GV, HS đánh giá ở mức độ chưa tốt. gây ảnh hưởng tới công tác quản lý dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm. Kết quả này đã phản ánh đúng thực tế khó khăn của Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội, trong công tác quản lý HS tự học ở nhà, trong mối quan hệ với Cha mẹ học sinh, đây cũng là nét đặc thù chung của các Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp, quả lý “một trò hai trường”. Đòi hỏi sự cố, gắng nỗ lực nhiều hơn nữa của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, Cán bộ quản lý trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội.
- Quản lý Môi trường
- Quản lý tài chính, quản lý Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học
Quản lý tài chính, quản lý Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội, có vai trò rất quan trọng trong dạy học nghề phổ thông. Muốn đổi mới hoạt động dạy học nghề phổ thông phải đổi mới phương pháp, phương tiện và kỹ thuật dạy học. như vậy Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học nghề phổ thông và nguồn tài chính của cơ sở là những yếu tố làm nên thành công của hoạt động dạy học nghề phổ thông. Thiếu nguồn lực tài chính, thiếu và yếu về Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học là một trở ngại rất lớn đối với việc dạy học nghề phổ thông. Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội, đã nhận thức rõ được vai trò quan trọng không thể thiếu của nguồn tài chính, của Cơ sở vật chất, thiết bị, phương tiện kỹ thuật dạy học. Nó là cầu nối giữa người dạy và người học, góp phần không nhỏ trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo.
Thực tại công tác quản lý nguồn tài chính Trung tâm, việc sử dụng Cơ sở vật chất và thiết bị, phương tiện kỹ thuật dạy học nghề phổ thông ở trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội đã có được những thành công nhất định. Công tác xây dựng kế hoạch trang bị Cơ sở vật chất, thiết bị, phương tiện kỹ thuật phục vụ cho hoạt động dạy học nghề phổ thông hàng năm được nhà trường rất quan tâm, song thực tế nguồn tài chính Trung tâm không đáp ứng, việc sử dụng Cơ sở vật chất, thiết bị, phương tiện kỹ thuật phục vụ cho HĐDH của các tổ bộ môn không được chủ động và không có khả năng độc lập, thủ tục mượn thiết bị dạy học không thuận lợi. Vẫn còn tồn tại những bất cập trong quản lý nguồn tài chính, quản lý Cơ sở vật chất và thiết bị, phương tiện kỹ thuật dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội, dẫn tới hiệu quả quản lý chưa cao, gây ảnh hưởng không tốt tới hoạt động dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm.
Để thấy rõ thực trạng công tác quản lý tài chính, quản lý Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội, chúng tôi tiến hành khảo sát, lấy ý kiến đánh giá của đội ngũ 8 Cán bộ quản lý và 24 GV Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội, về mức độ thực hiện một số nội dung quản lý tài chính, quản lý Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, ở Trung tâm. Chúng tôi thu được kết quả ở bảng sau:
Bảng 2.26: Thực trạng quản lý tài chính, quản lý việc sử dụng Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học phục vụ hoạt động dạy học nghề phổ thông Luận văn: Thực trạng dạy học nghề phổ thông Trung tâm Giáo dục.
Kết quả khảo sát trong bảng 2.26 cho thấy: Ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội, có 2 nội dung quản lý là: “QL việc xây dựng kế hoạch sử dụng nguồn tài chính phục vụ dạy học nghề phổ thông” và “QL việc xây dựng kế hoạch trang bị và sử dụng Cơ sở vật chất, thiết bị DH phục vụ dạy học nghề phổ thông”, có 83,3% đến 100% Cán bộ quản lý, GV đánh giá ở mức khá và tốt, chỉ có 8,4% và 16,7% ý kiến GV đánh giá ở mức TB, không có ý kiến ở mức yếu. Cho thấy lãnh đạo Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội đã thực hiện tốt chức năng kế hoạch hóa trong quản lý tài chính, quản lý việc sử dụng Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học phục vụ hoạt động dạy học nghề phổ thông.
Kết quả ở bảng 2.26 cũng cho thấy những tồn tại, yếu kém trong công tác quản lý tài chính, quản lý việc sử dụng Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học phục vụ hoạt động dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội, có từ 37,5% đến 45,8% ý kiến của Cán bộ quản lý, GV Trung tâm đánh giá: “QL việc sử dụng nguồn tài chính phục vụ dạy học nghề phổ thông” chỉ ở mức TB hoặc yếu. Đây là vấn đề trong quản lý, sử dụng nguồn tài chính ở Trung tâm chưa hiệu quả, đòi hỏi sự đổi mới, nỗ lực cải tiến của BGĐ Trung tâm, tìm ra nguyên nhân yếu kém để khắc phục, mang lại hiệu quả cao trong quản lý, sử dụng tài chính. Có từ 12,5% ý kiến của Cán bộ quản lý và 62,3% ý kiến của GV ở mức TB và yếu đối với nội dung QL: “Tổ chức bồi dưỡng kỹ năng sử dụng các phương tiện kỹ thuật dạy học nghề phổ thông”, cho thấy hoạt động quản lý tổ chức, bồi dưỡng kỹ năng sử dụng các phương tiện kỹ thuật dạy học nghề phổ thông, cho GV Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội còn hạn chế, nhiều GV lúng túng chưa biết sử dung thiết bị, kỹ thuật DH mới, gặp nhiều khó khăn khi ứng dụng CNTT vào giờ giảng. Nội dung quản lý này chưa có được sự quan tâm đúng mức của lãnh đạo Trung tâm. Các nội dung quản lý: “Tổ chức, tích cực tham gia cuộc thi sáng kiến cải tiến kỹ thuật, sản xuất các phương tiện kỹ thuật phục vụ dạy học nghề phổ thông” hay “Khen thưởng, động viên GV sử dụng kỹ thuật hiện đại trong DH và sử dụng có hiệu quả Cơ sở vật chất, thiết bị KT” hiệu quả quản lý rất thấp, có từ 37,5% đến 66,7% ý kiến Cán bộ quản lý và GV đánh giá chỉ đạt mức TB hoặc yếu, đòi hỏi sự điều chỉnh, thay đổi, đổi mới từ nội dung đến phương pháp, có các biện pháp hữu hiệu trong quản lý các nội về Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học, tìm ra nguyên nhân, khắc phục yếu kém, mang lại hiệu quả cao trong quản lý. Đặc biệt nội dung quản lý: “Khen thưởng, động viên GV sử dụng kỹ thuật hiện đại trong DH và sử dụng có hiệu quả Cơ sở vật chất, thiết bị KT” không có GV nào chấm ở mức tốt, chỉ có 33,3% để ở mức khá còn lại là mức TB và yếu. Nó đánh giá đúng thực trạng quản lý hiện nay ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội, không đưa nội dung sử dụng thiết bị DH vào thi đua, khi đánh giá giờ dạy tốt không có sự phân biệt giữa GV sử dụng kỹ thuật DH hiện đại với GV không sử dụng…thực sự chưa thúc đẩy nâng cao chất lượng dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội. Luận văn: Thực trạng dạy học nghề phổ thông Trung tâm Giáo dục.
Kết quả ở bảng 2.26, đặt ra nhiều vấn đề cần khắc phục, điều chỉnh, thay đổi và đổi mới trong công tác quản lý tài chính, quản lý việc sử dụng Cơ sở vật chất, thiết bị dạy học phục vụ hoạt động dạy học nghề phổ thông, có như vậy mới đạt kết quả cao trong quản lý dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội.
- Quản lý sự phối hợp với các trường PT
Học sinh theo học Nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp là “một trò hai trường”. thực trạng này đòi hỏi phải có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa Trung tâm với các trường phổ thông. Học sinh cùng một lúc phải theo học hai nội dung chương trình, học các môn văn hoá ở nhà trường phổ thông và học môn Nghề phổ thông tại Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp. Học sinh phổ thông cùng một lúc là thành tố của cả hai hệ thống (có thể gọi là hai phân hệ của hệ thống lớn hơn gồm trường phổ thông và Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp), cùng một lúc chịu sự tác động của các thành tố ở hai hệ thống khác nhau, do vậy sự phối hợp này phải đảm bảo làm sao cho các tác động lên HS là “cùng chiều”, nghĩa là có thể tăng cường, bổ trợ cho nhau cùng phát triển, chứ không làm suy yếu nhau.
Thực trạng ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội, công tác Quản lý sự phối hợp giữa Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 với các trường PT có HS tới Trung tâm học Nghề phổ thông được quan tâm thực hiện, nhằm mục đích thực hiện tốt mục tiêu giáo dục. Quản lý sự phối hợp giữa Trung tâm với các trường PT, lãnh đạo Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội đã xây dựng mối qua hệ phối kết hợp giữa Trung tâm và các trường PT trong tổ chức hoạt động dạy học nghề phổ thông, hai cơ sở giáo dục đã có sự hỗ trợ lẫn nhau trong quản lý HS, đến Trung tâm học Nghề phổ thông.
Bên cạnh những thành công trong công tác “quản lý sự phối hợp với các trường PT”, còn có những công việc phối hợp giữa Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội với các nhà trường PT có HS tới Trung tâm học Nghề phổ thông chưa có được kết quả tốt như: Vấn đề thông tin và xử lý thông tin chưa đầy đủ, chưa thường xuyên và kịp thời. Những thay đổi về lịch học, lịch thi ở trường PT chưa có sự thông báo kịp thời với Trung tâm, vấn đề thu lệ phí HS học Nghề phổ thông và thi Nghề phổ thông chưa có được sự hỗ trợ, kết hợp tốt giữa Trung tâm với trường PT. Vấn đề phối kết hợp quản lý nền nếp HS tới Trung tâm học Nghề phổ thông, việc sử lý HS vi phạm nội quy học tập ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội hay xử lý HS đi xe máy đến Trung tâm học Nghề phổ thông…giữa hai cơ sở chưa kịp thời, hiệu quả.
Để đánh thực trạng công tác quản lý sự phối hợp giữa Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội với các trường PT, chúng tôi tiến hành khảo sát, lấy ý kiến đánh giá của đội ngũ 8 Cán bộ quản lý và 24 GV Trung tâm, thu được kết quả ở bảng sau: Luận văn: Thực trạng dạy học nghề phổ thông Trung tâm Giáo dục.
- Bảng 2.27. Thực trạng quản lý sự phối hợp với các trường PT
Kết quả khảo sát thu được cho thấy, quản lý sự phối hợp giữa Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội với các trường PT, đã thu được những kết quả tốt. Có từ 70,8% đến 87,5% ý kiến của GV, Cán bộ quản lý Trung tâm đánh giá “Việc xây dựng kế hoạch phối hợp với các trường PT” đạt mức độ thực hiện loại tốt và từ 83,3% đến 100% ý kiến của đội ngũ GV, Cán bộ quản lý Trung tâm đánh giá công tác quản lý “Phối hợp tuyển sinh giữa trung tâm với các trường PT” đạt mức độ tốt. Kết quả khảo sát phản ánh đúng thực tế công tác quản lý sự phối hợp, giữa trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội với các trường PT trong những năm học vừa qua. Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội, luôn xây dựng kế hoạch phối hợp với các trường PT có HS tới Trung tâm học Nghề phổ thông hết sức khoa học, cụ thể mang lại hiệu quả cao. Sự Phối hợp tuyển sinh giữa Trung tâm với các trường PT được thảo luận, trao đổi, thống nhất trong hội nghị tuyển sinh mở vào tháng 8 hàng năm, trên cơ sở tôn trọng lợi ích của hai bên, do vậy luôn đạt được kết quả cao.
Kết quả khảo sát cũng phản ánh những nội dung quản lý sự phối hợp như: “Chương trình đào tạo, tổ chức dạy học nghề phổ thông”; “Nền nếp, chất lượng dạy học” hay quản lý sự phối hợp trong “Lĩnh vực tài chính” có nhiều ý kiến đánh giá ở mức bình thường hoặc chưa tốt. Đòi hỏi sự nhìn nhận thẳng thắn của lãnh đạo Trung tâm vào những tồn tại, yếu kém trong quản lý sự phối hợp, rất cần có sự chung tay, chia sẻ mọi vấn đề trong công tác quản lý giữa Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội với các nhà trường PH, có như vậy, công tác quản lý sự phối hợp giữa Trung tâm với các trường PT mới có được những kết quả tốt.
2.4. Đánh giá kết quả khảo sát Luận văn: Thực trạng dạy học nghề phổ thông Trung tâm Giáo dục.
2.4.1. Điểm mạnh
Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo sát sao, kịp thời của các cấp lãnh đạo, quản lý. Đội ngũ CBNV và GV Trung tâm có lòng yêu nghề, có phẩm chất và năng lực tốt, có kinh nghiệm thực tế, có ý thức trách nhiệm, nhiệt tình trong mọi công việc, sẵn sang đón nhận sự thay đổi, đổi mới tích cực. Trong công tác quản lý lãnh đạo, Trung tâm luôn thực hiện nguyên tắc Đảng lãnh đạo toàn diện, trong mọi hoạt động luôn luôn có sự phối kết hợp chặt chẽ giữa các tổ chức, đoàn thể trong Trung tâm, xác định rõ nhiệm vụ trọng tâm của Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội là dạy học nghề phổ thông. Trung tâm luôn luôn coi trọng việc thực hiện Quy chế dân chủ, Quy chế chi tiêu nội bộ trong Trung tâm. BGĐ Trung tâm luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi cho đội ngũ cán bộ, giáo viên của Trung tâm được học tập để nâng cao trình độ CMNV và sử dụng các trang thiết bị kỹ thuận hiện đại trong dạy học nghề phổ thông. Trung tâm chủ yếu dạy Học sinh phổ thông trên địa bàn quản lý của mình, có mối quan hệ tốt với các trường PT, hiểu rõ về học sinh đối tượng của dạy học nghề phổ thông, do vậy có nhiều thuận lợi giúp thực hiện tốt chức năng quản lý dạy học nghề phổ thông, ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội.
2.4.2. Điểm yếu
Dạy học Nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội chưa nhận được nhiều sự ủng hộ, sự hỗ trợ tích cực từ chính các đối tượng của Trung tâm và các tầng lớp trong xã hội, xuất phát từ nhận thức chưa đúng, từ hiệu quả chưa cao của hoạt động dạy học nghề phổ thông, quản lý dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm.
- Cơ cấu tổ chức, phân công lao động, nhất là phân công GV trong hoạt động dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm chưa khoa học, chưa hợp lý, còn nhiều bất cập.
- Chưa kịp thời thay đổi, đổi mới về hình thức, nội dung, chương trình, phương pháp, tổ chức đào tạo các môn Nghề phổ thông, cho phù hợp với sự phát triển, chuyển dịch kinh tế của địa phương, của xã hội.
- Chưa có được hiệu quả cao, sự phối kết hợp chặt chẽ, việc tập trung mọi nguồn lực từ các lực lượng xã hội, nhất là từ các nhà trường phổ thông, trong hoạt động dạy học nghề phổ thông và quản lý dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội Luận văn: Thực trạng dạy học nghề phổ thông Trung tâm Giáo dục.
- Về đội ngũ GV: thiếu, chưa đồng đều về chất lượng, một số GV năng lực thực hành, năng lực sư phạm có nhiều hạn chế.
- Về Cơ sở vật chất, SGK, trang thiết bị kỹ thuật phục vụ dạy học nghề phổ thông vừa thiếu, vừa lạc hậu, quy mô chưa phù hợp, khai thác, sử dụng chưa khoa học, chưa hợp lý, chưa đáp ứng được nhu cầu dạy học nghề phổ thông giai đoạn hiện nay.
- Chưa xây dựng được bộ chuẩn riêng cho dạy học nghề phổ thông, thực hiện Kiểm tra đánh giá trong quản lý dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm chưa hiệu quả, gặp nhiều khó khăn.
Việc sát nhập Trung tâm Dạy nghề Cầu Giấy với Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội, thành một Trung tâm duy nhất có tên gọi: Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp- Giáo dục thường xuyên với cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ có nhiều thay đổi. Trung tâm chịu sự quản lý của nhiều nghành, nhiều cấp khác nhau: sự quản lý toàn diện của UBND quận Cầu giấy, quản lý chuyên môn của Sở GD&ĐT Hà Nội và sở Lao động- Thương binh và Xã hội sẽ là một khó khăn không nhỏ ảnh hưởng tới hoạt động quản lý, dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm trong giai đoạn hiện nay.
2.4.3. Thời cơ
Môi trường chính trị xã hội ổn định; Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội là một tổ chức đoàn kết, biết học hỏi; luôn nhận được sự quan tâm đầu tư và ủng hộ của các cấp quản lý; Nhu cầu học Nghề phổ thông của học sinh ở các Quận Cầu Giấy, Bắc Từ Liêm và Nam Từ Liêm có chiều hướng ngày càng tăng; dạy học nghề phổ thông ở hai quận Bắc Từ Liêm và Nam Từ Liêm chưa đáp ứng được nhu cầu đào tạo, đang cần sự hỗ trợ từ Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội, là một thời cơ để Trung tâm khẳng định năng lực của mình.
Quận Cầu Giấy đang tiến hành thực hiện quyết định chỉ đạo, sát nhập Trung tâm Dạy nghề Cầu Giấy với Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội thành một trung tâm duy nhất có tên gọi: Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp- Giáo dục thường xuyên với cơ cấu tổ chức, chức năng, nhiệm vụ có nhiều đổi mới, cùng với sự quan tâm của các cấp quản lý, của xã hội đang tạo ra thời cơ và vận hội mới cho Trung tâm. Luận văn: Thực trạng dạy học nghề phổ thông Trung tâm Giáo dục.
2.4.4. Thách thức
Để có được nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ hoạt động dạy học nghề phổ thông, ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội trong giai đoạn hiện nay, là một khó khăn không nhỏ; Cơ chế QL nguồn nhân lực, tài lực, trí lực trong Trung tâm còn nhiều hạn chế,…; Đa số HS tới Trung tâm học Nghề phổ thông chưa có được nhận thức đúng, chưa tự giác rèn luyện về ý thức cũng như về tác phong công nghiệp, miễn cưỡng khi tham gia học các môn Nghề phổ thông; Nhận thức của các đối tượng Trung tâm, của xã hội về dạy học nghề phổ thông còn chưa đúng, chưa rõ ràng. Yêu cầu đòi hỏi của nghành GD, của XH về chất lượng quản lý, chất lượng dạy học nghề phổ thông đối với Trung tâm ngày càng tăng.
Thực hiện quyết định số: 5399/QĐ-UBND của UBND thành phố Hà Nội, ban hành ngày 28 tháng 9 năm 2026: “Về việc thành lập Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp- Giáo dục thường xuyên trực thuộc UBND quận, huyện, thị xã” do phó chủ tịch UBND thành phố Hà Nội Ngô Văn Quý đã ký, quyết định sát nhập Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 HN với Trung tâm Dạy nghề Cầu giấy thành một Trung tâm duy nhất có tên gọi: Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp- Giáo dục thường xuyên. Trung tâm sẽ có sự thay đổi về mọi mặt, để Trung tâm sớm ổn định, hoạt động dạy học nghề phổ thông có hiệu quả là thách thức không hề nhỏ đến công tác quản lý dạy học nghề phổ thông hoạt động ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội.
Kết luận chương 2
Từ cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học nghề phổ thông, ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp được viết trong chương 1 và từ những điều tra, khảo sát, phân tích đánh giá một cách chi tiết, cụ thể, thực trạng quản lí hoạt động dạy học nghề phổ thông, ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 HN trong giai đoạn hiện nay, được viết trong chương 1. Nội dung hai chương của đề tài, đã chỉ ra những mặt mạnh, mặt yếu, các cơ hội và thách thức đối với hoạt động quản lý dạy học nghề phổ thông, ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội trong giai đoạn hiện nay. Đây chính là cơ sở để chúng tôi đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động dạy học nghề phổ thông, ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội trong giai đoạn hiện nay, được thể hiện ở chương 3 dưới đây. Luận văn: Thực trạng dạy học nghề phổ thông Trung tâm Giáo dục.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp dạy học nghề phổ thông Trung tâm Giáo dục

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

