Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng đảm bảo chất lượng đào tạo trường đại học hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng đảm bảo chất lượng đào tạo hệ chính quy tại trường đại học Bạc Liêu dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1 Khái quát về Trường Đại học Bạc liêu
2.1.1. Thông tin khái quát về nhà trường
Trường Đại học Bạc Liêu trực thuộc UBND tỉnh Bạc Liêu và chịu sự quản lý nhà nước về giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Trường tọa lạc tại trung tâm thành phố Bạc Liêu, hiện nay, trường có hai cơ sở, cơ sở I tọa lạc trên đường Võ Thị Sáu, Phường 8, thành phố Bạc Liêu; cơ sở II nằm trên đường Lê Duẩn, Phường 1, thành phố Bạc Liêu.
Đại học Bạc Liêu là trường đại học công lập, là cơ sở giáo dục đại học đa ngành, đa hệ, có chức năng đào tạo các bậc từ trung cấp đến sau đại học; Nghiên cứu khoa học và hợp tác quốc tế.
Trường Đại học Bạc Liêu được thành lập ngày 24/11/2019, theo Quyết định số 1558/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, sự ra đời của trường hợp theo ý chí, nguyện vọng của Đảng bộ và nhân dân tỉnh Bạc Liêu, đáp ứng yêu cầu đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ sự nghiệp CNH-HĐH của tỉnh và vùng bán đảo Cà Mau.
Trường Đại học Bạc Liêu có sứ mạng đào tạo nguồn nhân lực có trình độ đại học, trên đại học, sinh viên được đào tạo đạt ba mục tiêu: Có kiến thức chuyên ngành vững chắc; đảm bảo các kỹ năng cần thiết đáp ứng nhu cầu xã hội; trở thành một công dân có trình độ văn hóa cao và nhân cách tốt. Giữ vai trò nòng cốt trong đào tạo, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ cho khu vực Bán đảo Cà Mau, trên các lĩnh vực Nông nghiệp – Thủy sản – Du lịch – Dịch vụ.
Nhiệm vụ của trường là dựa trên sự đầu tư của nhà nước cộng với sự phát triển các mối quan hệ trong và ngoài nước để nâng cao năng lực đào tạo, mở rộng ngành nghề đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH của tỉnh Bạc Liêu và các tỉnh vùng bán đảo Cà Mau. Luận văn: Thực trạng đảm bảo chất lượng đào tạo trường đại học.
Để đảm bảo thực hiện sứ mạng và chất lượng đào tạo, nhà trường đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực đào tạo. Cải tiến chương trình, đổi mới phương pháp giảng dạy và mở rộng ngành nghề đào tạo; ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý và đào tạo. Thực hiện đổi mới cơ bản toàn diện đảm bảo mang lại cho cán bộ, giảng viên, nhân viên nhà trường một môi trường thuận lợi, có thể phát huy toàn bộ năng lực trí tuệ của mình cho sự nghiệp đào tạo và phát triển giáo dục đại học. Tạo cho sinh viên môi trường học tập và nghiên cứu khang trang, hiện đại, đảm bảo chất lượng giáo dục theo ba mục tiêu mà sứ mạng đề ra.
Về bộ máy, cơ cấu tổ chức đến thời điểm này đã được kiện toàn, hoàn thiện và hoạt động hiệu quả. Cơ sở vật chất không ngừng được tăng cường, từ chỗ thiếu trầm trọng phòng học, phòng làm việc, thiết bị thực hành thí nghiệm, trường tích cực tranh thủ các nguồn vốn đầu tư cải tạo, xây dựng mới, mua sắm thiết bị, đến nay cơ sở vật chất cơ bản đáp ứng được nhiệm vụ đào tạo.
Cơ sở vật chất của trường hiện sử dụng, có tổng diện tích là 50.049 m2, gồm 2 khu. Có 15 đơn vị trực thuộc là các phòng, khoa, tổ bộ môn với 282 cán bộ, giảng viên, nhân viên, lưu lượng sinh viên đào tạo hàng năm khoảng 6.000.
Trong thời gian qua công tác xây dựng đội ngũ được coi trọng và phát triển về cả số lượng cũng như chất lượng. Năm 2021 đội ngũ giảng viên chỉ 90 người với 30 thạc sĩ thì tháng 11/2025 có 188 giảng viên với 5 tiến sĩ và 118 thạc sĩ.
Hiện nay trường có 04 khoa, từ khi thành lập đến nay, trường Đại học Bạc Liêu đã hoàn thành các Đề án và được Bộ Giáo dục và Đào tạo giao nhiệm vụ tuyển sinh các ngành có trình độ Đại học, Cao đẳng sau đây:
- Hệ Đại học chính qui:
Tin học ứng dụng, Quản trị kinh doanh, Kế toán tổng hợp, Kế toán kiểm toán, Tài chính – Ngân hàng, Nuôi trồng thuỷ sản, Bệnh học thuỷ sản, Chăn nuôi, Bảo vệ thực vật, Tiếng Việt và Văn hóa Việt Nam, Ngôn ngữ Anh, Sư phạm Sinh, Sư phạm Toán, Sư phạm Hóa học.
Hệ Đại học liên thông:
- Nuôi trồng thủy sản (từ trung cấp lên đại học).
- Tin học ứng dụng (từ cao đẳng lên đại học).
- Kế toán (từ Trung cấp lên đại học và cao đẳng lên đại học).
Hệ Cao đẳng chính qui:
- Tin học ứng dụng, Kế toán, Nuôi trồng thuỷ sản, Giáo dục Tiểu học, Giáo dục Mầm Non, Sư phạm Âm Nhạc, Sư phạm Văn- Sử, Sư phạm Tiếng Anh, Sư phạm Vật lý, Sư phạm Địa lý
Hệ Cao đẳng liên thông: Luận văn: Thực trạng đảm bảo chất lượng đào tạo trường đại học.
- Giáo dục Mầm Non : từ THSP lên Cao đẳng Giáo dục Tiểu học: từ THSP lên Cao đẳng
- Ngoài ra trường còn liên kết đào tạo sau đại học 3 ngành đào tạo: Quản lý giáo dục, Xây dựng Đảng, Quản lý Khoa học – Công nghệ với 74 học viên.
- Ngoài hợp tác chặt chẽ với các trường đại học trong nước, trường mạnh dạn xây dựng quan hệ hợp tác quốc tế với các trường ở các nước trong khu vực Đông Nam Á và các nước khác trên thế giới trên nhiều lĩnh vực:
- Hợp tác trong lĩnh vực đào tạo, bồi dưỡng giảng viên; Hợp tác trong lĩnh vực trao đổi để đào tạo sinh viên;
- Hợp tác trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ;
Xin phép Chính phủ được chọn và kết nghĩa với một số trường Đại học trên thế giới để trao đổi kinh nghiệm, tăng cường nguồn lực cho sự phát triển nhà trường đáp ứng được yêu cầu của đất nước nói chung và khu vực nói riêng.
Hiện nay trường đã đặt quan hệ với một số đối tác nước ngoài để tiến hành các thủ tục tiếp nhận tình nguyện viên tham gia giảng dạy các lớp Tiếng Anh và Tin học cho sinh viên của trường:
Tổ chức Koica (Hàn Quốc): giảng dạy môn Tin học. Tổ chức Fulbriht (Hoa Kỳ): giảng dạy môn Tiếng Anh.
Hiện nay, trường đã đưa cán bộ, giảng viên đi đào tạo và bồi dưỡng sau đại học ở nhiều nước như: Mỹ, Italia, Australia, Nhật, Trung Quốc, Ấn Độ…
Dù mới thành lập, xong thời gian qua trường đã từng bước hoàn thiện bộ máy, đầu tư khá tốt về xây dựng cơ sở vật chất và đội ngũ, hoàn chỉnh chiến lược phát triển nhà trường giai đoạn 2024-2035. Hàng năm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao, để lại ấn tượng tốt trong xã hội, từng bước khẳng định thương hiệu.
2.2 Tình hình đảm bảo chất lượng đào tạo hệ chính quy tại trường Đại học Bạc Liêu Luận văn: Thực trạng đảm bảo chất lượng đào tạo trường đại học.
2.2.1. Thực trạng chất lượng đào tạo hệ chính quy tại trường Đại học Bạc Liêu
Thông qua tiến hành khảo sát bằng phiếu hỏi ý kiến đối với cán bộ quản lý và giáo viên đại diện của các cơ quan, các khoa của nhà trường, chúng tôi tổng hợp kết quả tại phụ lục 1. Chất lượng đào tạo hệ chính quy cao đẳng và đại học của trường đại học Bạc Liêu phản ánh ở nhiều yếu tố, trong đó kết quả học tập của sinh viên là chủ yếu, nhất ở tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp. Những năm qua thực trạng tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp hệ chính quy cao đẳng và đại học của trường như sau:
Bảng 2.1. Tổng hợp chất lượng đào tạo hệ chính quy Trường Đại học Bạc Liêu từ 2022 – 2025
- Nhận xét:
Từ kết quả tổng hợp tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp những năm qua cùng với kết quả các hội nghị tổng kết các khóa đào tạo từ 2022 đến nay về đánh giá chất lượng đào tạo của nhà trường. Kết hợp với số liệu thống kê thu thập được từ nguồn cung cấp của cơ quan đào tạo, khoa giáo viên, có thể đánh giá chất lượng đào tạo hệ chính quy cao đẳng và đại học của trường đại học Bạc Liêu từ năm 2022 đến nay như sau:
- Về chất lượng đào tạo cao đẳng
Từ tổng hợp ở bảng 2.1 cho thấy: trong 4 năm từ 2022 đến 2025, thì năm có tỷ lệ tốt nghiệp loại khá cao nhất là năm 2023 đạt 22,26%, loại trung bình khá là 75,26%, loại trung bình là 1,57%, không tốt nghiệp là 0,53% (mặc dù không có sinh viên tốt nghiệp giỏi) nhưng được đánh giá là năm thành công nhất về chất lượng đào tạo cao đẳng của trường.
Còn năm được đánh giá là thấp nhất về chất lượng đào tạo là năm 2025, chỉ có 14,71% tốt nghiệp loại khá và 62,46% loại trung bình khá, có 9,9 % tốt nghiệp trung bình (mặc dù có 0,3% sinh viên tốt nghiệp giỏi), song có tới 12,61% không tốt nghiệp, điều đó đã dẫn đến tỷ lệ tốt nghiệp chỉ đạt 87,39% thấp nhất trong 4 năm qua.
Như vậy, trong 4 năm qua sinh viên tốt nghiệp loại trung bình khá chiếm tỷ lệ cao nhất, từ 62,46% đến 75,26%, còn lại là tốt nghiệp khá từ 11,61% đến 22,63% ; và tốt nghiệp trung bình từ 1,57 %đến 11,11%; rất ít sinh viên tốt nghiệp giỏi. Điều đó phản ánh rõ nét chất lượng đào tạo hệ cao đẳng của nhà trường trong những năm qua còn rất khiêm tốn, đồng thời cũng phản ánh các mặt đảm bảo chất lượng đào tạo của nhà trường cũng còn nhiều mặt chưa đáp ứng, từ trình độ đầu vào, đến tổ chức đào tạo và các mặt đảm bảo khác. Luận văn: Thực trạng đảm bảo chất lượng đào tạo trường đại học.
- Về chất lượng đào tạo đại học
Từ tổng hợp ở bảng 2.1 cho thấy, trong 2 năm từ 2024 đến 2025, thì năm có tỷ lệ tốt nghiệp loại khá cao hơn là năm 2025 đạt 22,67%, loại trung bình khá là 71,51% loại trung bình là 3,87% không tốt nghiệp là 0,36% (có 1,6% sinh viên tốt nghiệp giỏi) là năm được đánh giá là tiến bộ hơn năm 2024 về đào tạo đại học của trường.
Còn năm 2024, được đánh giá là thấp hơn về chất lượng đào tạo, có 22,52% tốt nghiệp loại khá và 70,80% loại trung bình khá, có 4,36% tốt nghiệp trung bình (có 1,6% sinh viên tốt nghiệp giỏi) và có 0,46% không tốt nghiệp.
Như vậy, trong 2 năm qua tỷ lệ tốt nghiệp loại trung bình khá chiếm tỷ lệ cao nhất, từ 70,80% đến 71,51%, còn lại là tốt nghiệp khá từ 22,67% đến 22,52%; và tốt nghiệp trung bình từ 3,87 % đến 4,36%; sinh viên tốt nghiệp giỏi chỉ chiếm 1,60%. Điều đó phản ánh chất lượng đào tạo đại học của nhà trường trong 2 năm qua còn hạn chế, từ đó cũng cho thấy các mặt đảm bảo chất lượng đào tạo của nhà trường còn nhiều mặt chưa đáp ứng, từ điểm sàn khi tuyển sinh, đến tổ chức đào tạo, đội ngũ giảng viên và các mặt đảm bảo khác…
- Đánh giá chung
Chất lượng đào tạo của nhà trường phụ thuộc vào nhiều yếu tố; song kết quả học tập, tỷ lệ các loại tốt nghiệp của sinh viên phản ánh rõ nhất chất lượng đào tạo. Tỷ lệ sinh viên hệ chính quy bậc cao đẳng và đại học tốt nghiệp loại trung bình khá chiếm đa số ở trường đại học Bạc Liêu những năm qua như kết quả khảo sát trên, mặc dù chưa thể hiện toàn bộ, song cũng phản ánh cơ bản chất lượng đào tạo của nhà trường. Với một nhà trường nằm ở vùng bán đảo Cà Mau, với trình độ dân trí và nền kinh tế chưa phát triển mạnh, nằm ở xa các trung tâm kinh tế – văn hóa của đất nước; và là trường đại học mới thành lập chưa có nhiều kinh nghiêm, đội ngũ giảng viên có học vị, học hàm ít…do vậy tỷ lệ tốt nghiệp như tổng hợp trên đã phản ánh sự nỗ lực cố gắng rất lớn của nhà trường, nhất là giảng viên và sinh viên.
Tuy nhiên, những hạn chế về chất lượng đào tạo qua phản ánh ở tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp loại trung bình khá chiếm đa số (chưa khảo sát đến tỷ lệ tốt nghiệp của đối tượng đào tạo liên thông, không chính quy, tại chức…) đều có nguyên nhân của nó. Theo chúng tôi, nguyên nhân chủ yếu là do công tác đảm bảo chất lượng đào tạo còn nhiều bất cập, do cả phía nhà trường và phía khách quan đem lại. Trước yêu cầu về nâng cao chất lượng đào tạo hệ chính quy của nhà trường, nhất là trước những đòi hỏi khách quan của các tổ chức, các công ty, các doanh nghiệp và những cơ quan tuyển dụng lao động có trình độ cao đẳng và đại học về chất lượng nguồn nhân lực do nhà trường đào tạo. Điều đó đang đặt ra những yêu cầu cần thiết phải xem xét, đánh giá một cách khách quan, toàn diện tất cả các yếu tố liên quan đến đảm bảo chất lượng đào tạo hệ chính quy của nhà trường, tạo cơ sở thực tiễn đề xuất các giải pháp phù hợp, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường trong giai đoạn mới của đất nước.
2.2.2 Những vấn đề về đảm bảo chất lượng đào tạo hệ chính quy tại trường Đại học Bạc Liêu Luận văn: Thực trạng đảm bảo chất lượng đào tạo trường đại học.
Thực trạng đảm bảo chất lượng đào tạo hệ chính quy tại trường đại học Bạc Liêu được thể hiện ở các yếu tố sau:
- Chuẩn đầu ra
Về ưu điểm: Nhận thức của đội ngũ cán bộ quản lý và giảng viên của nhà trường về chuẩn đầu ra rất tốt, coi nó như một lời cam kết của nhà trường về đảm bảo chất lượng đào tạo với xã hội, về năng lực của người học sau khi hoàn thành chương trình đào tạo. Do đó, trên cơ sở chuẩn đầu ra nhà trường đã rà soát và điều chỉnh chương trình đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu xã hội. Việc xây dựng và công bố chuẩn đầu ra giúp cho các trường thay đổi nếp nghĩ, cách làm về xây dựng một chương trình đào tạo hướng nhiều hơn đến người học, lấy người học làm trung tâm.
Thực hiện chỉ thị và theo yêu cầu của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ngày 30 tháng 9 năm 2024, trường Đại học Bạc Liêu đã công bố quyết định số: 296/QĐ – ĐHBL của Hiệu trưởng nhà trường về việc ban hành chuẩn đầu ra của các chuyên ngành đào tạo trình độ đại học, cao đẳng hệ chính quy.
Theo đó, các khoa giáo viên và các phòng, ban, trung tâm có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch và tổ chức đào tạo nhằm đảm bảo chất lượng đào tạo đúng theo chuẩn. Chuẩn đầu ra của nhà trường quy định trong các chương trình, cho từng ngành và trình độ đào tạo và công khai ngay từ học kỳ thứ nhất của khóa học.
Nội dung cơ bản về chuẩn tốt nghiệp đầu ra của trường đáp ứng 3 mục tiêu:
- Một là, Sinh viên được trang bị kiến thức cơ bản và kiến thức khoa học chuyên ngành đủ trình độ xử lý những vấn đề liên quan tới ngành đào tạo.
- Hai là, Với năng lực chuyên môn có được, sinh viên có thể thích ứng được với yêu cầu của xã hội, giải quyết các vấn đề phát sinh trong thực tiễn. Có điều kiện tự học, tự nghiên cứu để hoàn thiện kiến thức.
- Ba là, Có ý thức kỷ luật trong công tác, có thái độ đạo đức nghề nghiệp tốt.
Thực hiện cam kết chất lượng, tùy theo nội dung yêu cầu của chương trình các ngành, hệ và phương thức đào tạo, mỗi trình độ có yêu cầu cụ thể về điều kiện tuyển sinh, chương trình, điều kiện về giảng viên, cơ sở vật chất ….
Như vậy, nhìn chung công tác xây dựng chuẩn đầu ra của trường Đại học Bạc Liêu đã được thực hiện đúng tiến độ, đảm bảo đúng quy trình, cơ bản đáp ứng đúng nội dung, yêu cầu. Luận văn: Thực trạng đảm bảo chất lượng đào tạo trường đại học.
Về hạn chế: Trong thời gian đầu thực hiện xây dựng chuẩn đầu ra, trường còn khá lúng túng và còn tồn tại những bất cập, ảnh hưởng đến đảm bảo chất lượng đào tạo như: Việc xây dựng chuẩn đầu ra còn thiếu định lượng một cách chuẩn xác các thành tố cấu thành chuẩn đầu ra (68,59% đồng ý với đánh giá này); Chất lượng xây dựng chuẩn đầu ra chưa cao (76,52% đồng ý với đánh giá này); Nội dung chuẩn đầu ra chưa đầy đủ (69,45% đồng ý với đánh giá này); Các khoa giáo viên chưa thực hiện đúng qui trình xây dựng chuẩn đầu ra như: yêu cầu về thái độ, vị trí làm việc sau khi tốt nghiệp… (66,78% đồng ý với đánh giá này); Các điều kiện đảm bảo cho chuẩn đầu ra chưa đầy đủ… (72,32% đồng ý với đánh giá này).
Từ thực trạng đó đòi hỏi nhà trường cần phải thường xuyên hoàn thiện nhằm chính xác hóa dần chuẩn đầu ra để ngày càng đáp ứng tốt hơn nhu cầu xã hội.
- Chương trình đào tạo
Về ưu điểm: Từ khi thành lập trường đến nay, trường luôn chú trọng xây dựng chương trình đào tạo đáp ứng mục tiêu, nhiệm vụ và đảm bảo chất lượng đào tạo. Nội dung chương trình bao gồm giáo dục đại cương, giáo dục chuyên nghiệp, kiến thức bổ trợ; có chương trình chi tiết, đề cương chi tiết. Các chương trình đào tạo đều phù hợp với chương trình do Bộ GD&ĐT ban hành, được xây dựng có tham khảo chương trình của một số trường ĐH như ĐH Cần Thơ, ĐH An Giang… Các chương trình đào tạo CĐ, ĐH chính qui đã được xây dựng chuẩn đầu ra và công bố công khai và được thiết kế theo 2 dạng: theo Chế độ Niên chế – Học phần và từ năm 2023, các ngành Đại học Kế toán tổng hợp, Kế toán kiểm toán, Quản trị kinh doanh, Bệnh học thuỷ sản được xây dựng theo học chế tín chỉ.
Từ năm học 2024 đến 2026, Trường chuyển tiếp các ngành đào tạo đại học: Tin học, Tiếng Việt và Văn hóa Việt Nam, Ngôn ngữ Anh và cao đẳng Tin học; Nuôi trồng thủy sản, Tài chính- Ngân hàng; đại học liên thông: Kế toán, Tin học và các ngành Cao đẳng chính quy: Giáo dục Tiểu học, Giáo dục Mầm Non, Sư phạm Vật lý, Sư phạm Địa lý; Sư phạm Tiếng Anh sang học chế tín chỉ. Như vậy tất cả các ngành tuyển sinh năm 2025 đều được đào tạo theo học chế tín chỉ.
Hiện nay trường đang thực hiện song hành 2 hình thức đào tạo: niên chế – học phần và đào tạo tín chỉ; đến năm học 2028-2029, kết thúc các khóa học theo học chế niên chế.
Thời gian sinh viên học tại trường, nhiều doanh nghiệp, cơ sở sản xuất đã đến liên hệ với trường để tìm hiểu quá trình đào tạo, trao tặng học bổng cho sinh viên với mục đích chuẩn bị tuyển dụng, sử dụng nguồn nhân lực do trường đào tạo. Họ quan tâm đến chương trình đào tạo, thể hiện sự đồng thuận với nội dung chương trình, điều đó cũng góp phần chứng tỏ công tác xây dựng chương trình đào tạo của Đại học Bạc Liêu đã được tiến hành đúng hướng.
Trong quá trình thực hiện chương trình, trường luôn chú ý theo dõi tính hiệu quả của nó, từ đó có kế hoạch bổ sung chỉnh sửa cho phù hợp. Chẳng hạn: Luận văn: Thực trạng đảm bảo chất lượng đào tạo trường đại học.
Đối với các ngành đào tạo mới tuyển sinh năm 2023, chương trình có điều chỉnh các môn Lý luận chính trị theo Quyết định của Bộ Giáo dục và Đào tạo và tăng cường các môn tự chọn. Đối với các ngành Đại học Ngôn ngữ Anh và Cao đẳng sư phạm Tiếng Anh được điều chỉnh theo hướng tăng cường kỹ năng nghe- nói cho sinh viên.
Năm 2023 trường đã xây dựng chương trình đào tạo Đại học theo tín chỉ các ngành Kế toán, QTKD, Bệnh học thủy sản; ngành Cao đẳng GDMN có sự điều chỉnh hợp lý ở các môn Lý luận chính trị, các môn tự chọn.
Hàng năm trường đều tiến hành tự đánh giá chương trình đào tạo hoặc rà soát điều chỉnh để cải tiến chất lượng chương trình. Năm 2023 trường đã tiến hành cho giảng viên, sinh viên góp ý về chương trình đào tạo các ngành Đại học, cao đẳng chính quy. Đồng thời, tổ chức hội nghị, hội thảo với các nhà tuyển dụng, các doanh nghiệp để lắng nghe ý kiến của họ làm cơ sở để xây dựng chương trình đáp ứng nhu cầu xã hội. Các phản hồi của nhà tuyển dụng được trường tiếp thu và từng bước bổ sung hoàn thiện chương trình đào tạo của các ngành; tuy nhiên khi xây dựng chương trình đào tạo, do chưa có cơ chế nên nhà trường chưa thể mời đại diện các doanh nghiệp, hoặc các tổ chức, cá nhân tuyển dụng sinh viên tốt nghiệp của trường tham gia.
Nhìn chung, thời gian qua chương trình đào tạo dành cho hệ chính quy tại trường đã luôn được chú ý xây dựng theo hướng đáp ứng những gì mà xã hội yêu cầu, đáp ứng nhu cầu của người học; và luôn được rà soát, tự đánh giá cải tiến chất lượng đáp ứng mục tiêu “đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội”.
Việc xây dựng chương trình đào tạo từng bước chú trọng theo hướng đảm bảo liên thông với các trình độ đào tạo và chương trình đào tạo khác.
Về hạn chế: Trong quá trình thực hiện, chúng tôi nhận thấy chương trình đào tạo của trường còn tồn tại một số hạn chế ảnh hưởng đến đảm bảo chất lượng đào tạo như: Chương trình đào tạo được xây dựng chưa có sự tham gia của các tổ chức, hội nghề nghiệp và các nhà tuyển dụng lao động (84,24% ý kiến đồng ý với đánh giá này); Chưa xây dựng được các môn học tự chọn một cách đa dạng (66,14% ý kiến đồng ý với đánh giá này); Chưa đánh giá được mức độ đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động (96,14% ý kiến đồng ý với đánh giá này); Các chương trình đào hiện nay chưa trao đổi tín chỉ với các trường trong khu vực (86,28% ý kiến đồng ý với đánh giá này); Một số ngành, chương trình còn nặng tính hàn lâm; kiến thức lý thuyết nhiều, còn ít liên hệ với thực tiễn (62,12% ý kiến đồng ý với đánh giá này); Việc rà soát chương trình đào tạo ở các khoa chưa được tiến hành thường xuyên (64,37% ý kiến đồng ý với đánh giá này)…
Từ thực trạng đó, đòi hỏi nhà trường cần phải chỉ đạo giám sát thường xuyên hơn, khắc phục những hạn chế trên nhằm nâng cao chất lượng chương trình đào tạo yếu tố cơ bản của đảm bảo chất lượng đào tạo của nhà trường.
Tổ chức đào tạo và nghiên cứu khoa học
- Về tổ chức công tác đào tạo: Luận văn: Thực trạng đảm bảo chất lượng đào tạo trường đại học.
Ưu điểm: Tổ chức đào tạo của nhà trường có ảnh hưởng trực tiếp đến đảm bảo chất lượng đào tạo, do vậy từ năm 2023 đến năm 2025 trường đã hoàn thành lộ trình chuyển từ đào tạo theo niên chế-học phần sang đào tạo theo hệ thống tín chỉ. Trường đã hoàn thành chuyển đổi các chương trình đào tạo các ngành đại học, cao đẳng hiện có sang học chế tín chỉ đối với các khóa đào tạo mới; và có lộ trình chặt chẽ, phù hợp, chuẩn bị đồng bộ từ CSVC, giảng viên, ban hành các quy định theo quá trình chuyển đổi này.
Trường rất quan tâm chú trọng đến việc đổi mới phương pháp dạy và học: có biện pháp tuyên truyền nhận thức cho CB-GV, sinh viên thấy được xu thế đổi mới giáo dục đại học đòi hỏi phải đẩy mạnh đổi mới nội dung, chương trình, phương pháp giảng dạy và học tập nhất là đổi mới phương pháp dạy học và đánh giá kết quả học tập của sinh viên. Yêu cầu đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội là một trong các động lực thúc đẩy đòi hỏi nhà trường phải đổi mới cách dạy- cách học. Do chuyển hình thức đào tạo từ niên chế-học phần sang đào tạo theo học chế tín chỉ đã tác động tích cực, toàn diện đến đổi mới phương pháp dạy và học, phương pháp đánh giá kết quả học tập của sinh viên theo hướng sinh viên tăng cường kỹ năng tự học, tự nghiên cứu, kỹ năng làm việc theo nhóm. Cải tiến mạnh mẽ công tác kiểm tra thường xuyên, thi kết thúc học phần; tổ chức nhiều hoạt động chuyên đề, ngoại khóa, sinh viên tham gia NCKH…Hiện nay, trường đang sử dụng các loại hình đánh giá kết quả học của người học như: kiểm tra thường xuyên (số bài kiểm tra tùy thuộc vào số đơn vị học trình của từng học phần), đánh giá khả năng nhận thức, mức độ chuyên cần của người học trong thảo luận, kết quả thực hành và quá trình học tập hoặc bài tập ở nhà. Ngoài ra, việc đánh giá này được thực hiện một cách nghiêm túc, khách quan qua các kỳ thi kết thúc học phần và phương pháp dạy của người dạy thông qua các tiết dự giờ trên lớp. Kết quả học tập của người học được công bố, lưu trữ đúng theo những quy định, quy chế của Trường và Bộ GD&ĐT. Việc công nhận các kết quả học tập của người học được thể hiện là người học được cấp các chứng chỉ, văn bằng tốt nghiệp cho các học phần hoặc kết thúc khóa học theo đúng quy định của Bộ GD-ĐT. Người học có thể tự tra cứu kết quả học tập hay các thông tin cần thiết có liên quan thông qua Website của Trường.
Tính linh hoạt của quá trình đào tạo của nhà trường được thể hiện rõ như: Quá trình đào tạo không khép kín; các ngành, hệ đào tạo có sự liên kết chặt chẽ, có sự liên thông giữa bậc Cao đẳng, bậc Đại học, giúp cho sinh viên có thể cùng lúc học được nhiều bằng khác nhau, tạo điều kiện cho sinh viên học trong hè để thi lại; đối với các môn Tin học, Tiếng Anh ở các ngành không chuyên, trường cho phép sinh viên thay thế bằng kết quả thi Chứng chỉ quốc gia tương ứng; đối với những sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, trường cho phép bảo lưu kết quả có thời hạn theo quy chế.
Có thể thấy, tổ chức đào tạo ở trường Đại học Bạc Liêu đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi cho người học, tạo cơ sở cho việc đảm bảo chất lượng dạy và học. Luận văn: Thực trạng đảm bảo chất lượng đào tạo trường đại học.
Về hạn chế: việc tổ chức đào tạo của nhà trường, bên cạnh những ưu điểm là cơ bản, vẫn còn một số tồn tại hạn chế ảnh hưởng trực tiếp đến đảm bảo chất lượng đào tạo như: Chưa thống kê được từng loại hình đánh giá cho từng môn học của từng ngành học (69,12% ý kiến đồng ý với đánh giá này); Sinh viên còn một bộ phận chưa tự giác, tích cực học tập, chưa thích ứng được với phương thức đào tạo theo hệ thống tín chỉ (89,25% ý kiến đồng ý với đánh giá này); Đổi mới phương pháp dạy và học chưa thực sự mạnh mẽ (73,17% ý kiến đồng ý với đánh giá này); Trường chưa có nhiều kinh nghiệm thực tiễn để duy trì và kiểm soát chặt chẽ việc thực hiện quy chế giáo dục (65,28% ý kiến đồng ý với đánh giá này); Duy trì đào tạo theo hệ thống tín chỉ bước đầu gặp những khó khăn (75,72% ý kiến đồng ý với đánh giá này); Thời gian công bố kết quả học tập của người học còn chậm và người dạy ở một số môn học, ngành học chưa có kết quả đánh giá gửi cho người học (67,28% ý kiến đồng ý với đánh giá này); Còn sai sót trong quá trình lên điểm cho người học do cán bộ phụ trách đảm nhiệm nhiều việc dẫn đến kéo dài thời gian công bố kết quả học tập của người học (70,21% ý kiến đồng ý với đánh giá này).
- Về nghiên cứu khoa học
Về ưu điểm: Từ khi được thành lập, Trường ĐHBL đã xác định NCKH là một trong hai nhiệm vụ quan trọng, góp phần đắc lực đảm bảo nâng cao chất lượng đào tạo, vì thế năm 2021 bộ phận chuyên trách là Phòng QLKH&QHQT của trường được thành lập để thực hiện tốt nhiệm vụ này. Hàng năm trường xây dựng kế hoạch hoạt động KHCN khá phù hợp với thực tế trường, và thông báo cho các cơ quan đơn vị thực hiện, cụ thể như: Mục đích yêu cầu và các lĩnh vực nghiên cứu, kinh phí hỗ trợ; Xét duyệt, phân cấp đề tài, công bố danh mục, phê duyệt phương án thực hiện; Thẩm định đề cương nghiên cứu và điều chỉnh (nếu có); Tổ chức nghiệm thu; Báo cáo tổng kết, đánh giá rút kinh nghiệm về hoạt động KHCN. Liên kết trong nghiên cứu khoa học cũng được nhà trường quan tâm, thông qua các hội thảo khoa học bước đầu gắn kết với các doanh nghiệp. Trường đã ký văn bản hợp tác toàn diện với trường Đại học Cần Thơ tạo tiền đề tốt cho việc liên kết trong NCKH. Bên cạnh đó, chủ trương hợp tác toàn diện với huyện U Minh và huyện Trần Văn Thời – Tỉnh Cà Mau đang mở ra một hướng phát triển mới trong hoạt động khoa học-công nghệ. Trường chỉ đạo cho khoa Nông nghiệp tiến hành hợp tác, giúp đỡ các huyện thị trong tỉnh nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ. Đã chú ý bồi dưỡng năng lực NCKH cho giảng viên qua các buổi tập huấn NCKH, báo cáo chuyên đề và có chính sách ưu đãi nhằm khuyến khích giảng viên viết bài báo đăng trên các tạp chí chuyên ngành trong nước. Đề tài nghiên cứu khoa học hàng năm tăng, chất lượng các đề tài được nâng lên mang lại hiệu quả trong đào tạo. Các công trình đã công bố, các kết quả, sản phẩm các đề tài, dự án trong 5 năm qua được xuất bản thành sách tham khảo, tài liệu giảng dạy , nghiên cứu là: 154 (Xuất sắc: 04; Giỏi 17; Khá: 76; Trung bình: 01; Đạt:13; chưa nghiệm thu: 43).
Công tác nghiên cứu khoa học trong sinh viên cũng được nhà trường qua tâm và thu được nhiều kết quả khích lệ như: Năm học 2020-2021: có 19 đề tài, Năm học 2021-2022: có 09 đề tài, Năm học 2022-2023: có 14 đề tài, Năm học 2023-2024: có 11 đề tài, Năm học 2024-2025: có 14 đề tài. Luận văn: Thực trạng đảm bảo chất lượng đào tạo trường đại học.
Qua hoạt động nghiên cứu khoa học cho thấy:
- Năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên từng bước được nâng cao từ việc chọn lựa lĩnh vực nghiên cứu, đề tài nghiên cứu đến việc giải quyết khoa học vấn đề nêu ra góp phần phát triển chất lượng nghiên cứu khoa học của trường.
- Năng lực nghiên cứu khoa học của sinh viên cũng được nâng cao thông qua sự hướng dẫn của giảng viên.
- Thông qua nhiệm vụ NCKH, trình độ nghiệp vụ của giảng viên được nâng cao góp phần cải tiến phương pháp giảng dạy.
- Sự chuyển biến về lĩnh vực nghiên cứu từ soạn thảo giáo trình sang nghiên cứu đổi mới chương trình giảng dạy theo đặc điếm khối ngành đào tạo sẽ tạo thêm hứng thú cho sinh viên trong quá trình lĩnh hội kiến thức.
- Nghiên cứu khoa học của sinh viên bước đầu hình thành, thông qua đề tài nghiên cứu , sinh viên vận dụng được những điều đã học vào thực tiễn xã hội góp phần thay đổi về chất của sinh viên ra trường.
Nhìn chung, về mặt nghiên cứu khoa học Trường bước đầu có nhiều kết quả đáng khích lệ. Mỗi năm có hàng chục đề tài cấp trường và cấp khoa được nghiệm thu. Tỉ lệ các đề tài nghiên cứu đạt loại khá, giỏi chiếm 77% tổng số đề tài được nghiệm thu. Số lượng các đề tài bao trùm nhiều lĩnh vực, ngành nghề trường đang đào tạo; bước đầu có các đề tài có giá trị phục vị kinh tế -xã hội địa phương, được chuyển giao ứng dụng, nhất là lĩnh vực nông nghiệp, thủy sản. Đây là điểm cần phát huy.
Về hạn chế: bên cạnh những ưu điểm trên, hoạt động nghiên cứu khoa học của trường đảm bảo cho chất lượng đào tạo còn tồn tại một số hạn chế như:
Lực lượng cán bộ, giảng viên trẻ tuy đang tăng nhưng trường còn thiếu các chuyên gia đầu có kinh nghiệm trong nghiên cứu khoa học, vì thế số lượng đề tài NCKH còn ít, nội dung đề tài còn hạn chế về khả năng triển khai ứng dụng, vì thế chưa có kinh phí thu được từ NCKH. Có một số giảng viên chưa quen hoặc chưa thực sự quan tâm đến công việc nghiên cứu, xem nghiên cứu khoa học như là một công việc nghĩa vụ. Một số ít giảng viên do thiếu kinh nghiệm trong nghiên cứu, chủ quan nên không lấy được số liệu phục vụ cho đề tài như dự kiến ban đầu. Tỉ lệ giảng viên trẻ đăng tải các bài báo khoa học trên các tạp chí còn thấp.
Hợp tác toàn diện với huyện U Minh và huyện Trần Văn Thời – Tỉnh Cà Mau tuy đã có chủ trương nhưng chưa thực hiện tiếp những bước phát triển tiếp theo. Kinh phí nghiên cứu rất hạn chế (150 triệu/năm) không thể thực hiện các đề tài lớn, có ý nghĩa thực tiễn trong phát triển kinh tế-xã hội địa phương. Nội dung các đề tài chủ yếu phục vụ công tác đào tạo của trường.
Lĩnh vực các bài báo đề cập chưa rộng. Số lượng đề tài nghiên cứu tuy nhiều, song việc triển khai ứng dụng vào thực tế sản xuất còn rất hạn chế, hầu như chưa có do chưa nắm bắt được nhu cầu thực tế, một phần do kinh phí của tỉnh cấp rất thấp; chỉ có một số đề tài được sử dụng làm giáo trình, tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác đào tạo. sản xuất.
Tóm lại, từ thực trạng về tổ chức đào tạo và nghiên cứu khoa học như trình bày trên, đòi hỏi nhà trường cần tập trung tháo gỡ những vướng mắc, khắc phục những hạn chế, vì đây là những yếu tố cơ bản nhất nhằm đảm bảo chất lượng đào tạo của nhà trường; và cũng thực tế này tạo cơ sở để tác giả nghiên cứu đề xuất giải pháp được chính xác và phù hợp hơn.
Chất lượng đào tạo (được đánh giá ở tiết 2.2.1)
- Đội ngũ giảng viên Luận văn: Thực trạng đảm bảo chất lượng đào tạo trường đại học.
Về ưu điểm: Nhà trường đã xây dựng được đội ngũ giảng viên đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, chất lượng đạt chuẩn theo quy định. Trường từng bước thực hiện việc rà soát, sắp xếp, bổ sung đồng thời đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao chuyên môn nghiệp vụ; và hiện tại đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên đảm bảo được chất lượng đào tạo của nhà trường.
Kế hoạch tuyển dụng, bồi dưỡng, phát triển đội ngũ giảng viên được thực hiện khá tốt, đáp ứng được mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ, phù hợp với quy mô phát triển và điều kiện thực tế của trường. Trường thực hiện một số chính sách khuyến khích mời gọi những cán bộ có trình độ cao, sinh viên tốt nghiệp khá giỏi bổ sung cho đội ngũ giảng viên. Quy trình tuyển dụng, bổ nhiệm, quản lý nhân sự được thực hiện đúng quy định và được công khai rõ ràng, minh bạch.
Hiện nay Trường ĐHBL có gần 300 CB, GV đủ số lượng giảng viên để thực hiện chương trình giáo dục và nghiên cứu khoa học; đạt mục tiêu của chiến lược phát triển giáo dục nhằm giảm tỷ lệ trung bình sinh viên/giảng viên. Đa số đội ngũ đã và đang được đào tạo sau đại học: tuổi trung bình của GV cơ hữu: 33,1%; Tỷ lệ GV có trình độ tiến sĩ/GV cơ hữu: 1,9%; Tỷ lệ GV có trình độ thạc sĩ/GV cơ hữu: 55,8%. Đội ngũ giảng viên được đào tạo chính quy, được giảng dạy đúng chuyên ngành đào tạo, hầu hết đều biết ứng dụng tin học trong giảng dạy, nghiên cứu.
Trường tích cực, chủ động thực hiện có hiệu quả xây dựng đội ngũ giảng viên theo hướng cân bằng giữa kinh nghiệm và trẻ hóa đội ngũ. Nhìn tổng thể số giảng viên có độ tuổi dưới 30 chiếm tỉ lệ 40%, giảng viên có độ tuổi từ 30-40 chiếm tỉ lệ 40,46%, giảng viên có độ tuổi từ 41-60 chiếm tỉ lệ 19,54%.
Trường có chính sách, biện pháp tạo điều kiện cho đội ngũ cán bộ quản lý và giảng viên tham gia các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ trong và ngoài nước. Ưu tiên CBQL, giảng viên tham gia tập huấn, hội thảo khoa học do Bộ và các trường đại học trong nước tổ chức; tổ chức các chuyên đề về đổi mới phương pháp giảng dạy, biên soạn đề cương bài giảng, nghiệm thu các đề tài NCKH (nghiên cứu khoa học), duy trì hoạt động các câu lạc bộ mang tính chuyên môn nghiệp vụ; Tạo điều kiện cho CBQL, giảng viên tiếp xúc trao đổi với các tổ chức, doanh nghiệp, hiệp hội ngoài trường.
Nhìn chung, đội ngũ giảng viên đảm bảo được phần giáo dục đại cương trong chương trình đào tạo, đảm bảo một phần giáo dục chuyên nghiệp. Trường đã và đang có kế hoạch tuyển dụng, bồi dưỡng giảng viên; qui hoạch cán bộ quản lý từng bước đáp ứng mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ, phù hợp với điều kiện cụ thể của nhà trường, trong đó coi trọng xây dựng đội ngũ giảng viên nòng cốt, đầu đàn trên các lĩnh vực. Luận văn: Thực trạng đảm bảo chất lượng đào tạo trường đại học.
Về hạn chế: Bên cạnh những ưu điểm trên, sự quan tâm đến đội ngũ giảng viên của trường đảm bảo cho chất lượng đào tạo còn một số tồn tại hạn chế như: Công tác quy hoạch, dự nguồn đội ngũ giảng viên từng năm, từng nhiệm kỳ còn chậm, chưa cụ thể (77,28% ý kiến đồng ý với đánh giá này); Cơ cấu trong đội ngũ giảng viên còn thiếu đồng bộ, việc tuyển dụng giảng viên ở một số ngành gặp khó khăn do thiếu nguồn (69,18% ý kiến đồng ý với đánh giá này); Việc tìm kiếm đối tác, nhà tài trợ cho phát triển năng lực chuyên môn của giảng viên còn hạn chế (72,28% ý kiến đồng ý với đánh giá này); Giảng viên có kinh nghiệm phân bổ không đều, có những khoa, tổ hầu hết là giảng viên trẻ, kinh nghiệm công tác chuyên môn giảng dạy chưa nhiều (77,28% ý kiến đồng ý với đánh giá này);
Về cơ cấu chuyên môn và trình độ của đội ngũ giảng viên hiện tại chưa đảm bảo theo quy định dạy (65,18% ý kiến đồng ý với đánh giá này). Một số khoa giữa cơ cấu chuyên môn và trình độ chuyên môn khá hợp lý, tuy nhiên cũng có một số ít khoa chưa hợp lý số giảng viên có trình độ trên số lượng giảng viên trong một chuyên ngành còn thấp, số giảng viên có trình độ đáp ứng yêu cầu về chuyên môn còn ít, thiếu giảng viên đầu đàn.
Từ thực trạng về đội ngũ giảng viên như trình bày trên, đòi hỏi nhà trường cần tập trung khắc phục những hạn chế, vì đây là yếu tố cơ bản nhất nhằm đảm bảo chất lượng đào tạo của nhà trường; và cũng thực tế này tạo cơ sở để tác giả nghiên cứu đề xuất giải pháp được chính xác và phù hợp hơn.
- Thư viện, giáo trình, sách, tài liệu tham khảo
Về ưu điểm: Từ khi thành lập, nhà trường thường xuyên quan tâm đến hoạt động của thư viện, nó là yếu tố đảm bảo cho chất lượng đào tạo. Thư viện đặt tại khu I được xây dựng kiên cố với diện tích sàn 2250m2 và được trang bị khá đầy đủ. Thư viện hiện có 8.000 tên sách với 54.087 đầu sách, cơ bản có thể phục vụ cho tất cả các ngành học của trường. Ngoài ra còn có hệ thống 50 máy tính được nối mạng có khả năng khai thác tài liệu giáo trình của một số trường đại học và thư viện quốc gia, đảm bảo thuận lợi cho giảng dạy NCKH cũng như học tập của SV và hoạt động đào tạo của nhà trường. Thư viện đã tổ chức triển khai phần mềm quản lý hoạt động phục vụ bạn đọc; hàng năm có kế hoạch bổ sung tài liệu từ nhiều nguồn nhằm đáp ứng nhu cầu dạy và học của nhà trường. Trường có chủ trương đưa lên trang Web của trường một số đề cương bài giảng, tài liệu tham khảo, bài tập, đề tài NCKH của cán bộ, giảng viên thuộc các khoa, bộ môn. Trường chưa có đủ điều kiện tổ chức biên soạn giáo trình, nên hiện nay chủ yếu là tố chức lựa chọn giáo trình phù hợp với chương trình đào tạo để làm tài liệu giảng dạy, học tập.
Nhìn chung, Thư viện, giáo trình, tài liệu tham khảo tiếng Việt và nước ngoài đáp ứng yêu cầu sử dụng của cán bộ, giảng viên và người học. Có thư viện điện tử được nối mạng, phục vụ dạy, học, nghiên cứu khoa học có hiệu quả. Hoạt động thư viện đã từng bước ổn định và có những đổi mới trong công tác phục vụ và ứng dụng tin học trong quản lý.
Về hạn chế: Bên cạnh những ưu điểm trên, hoạt động đảm bảo cho chất lượng đào tạo của thư viện còn một số tồn tại hạn chế như: Sách, giáo trình về các lĩnh vực kinh tế, kỹ thuật, công nghệ, tài liệu tiếng nước ngoài còn ít (75,18% ý kiến đồng ý với đánh giá này); Các tạp chí, tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác NCKH còn thiếu (76,28% ý kiến đồng ý với đánh giá này); Đa số sinh viên chưa nhận thức được tầm quan trọng của thư viện, nó chính là: “giảng đường thứ hai” không thể thiếu của họ (68,28% ý kiến đồng ý với đánh giá này); Thư viện chưa thu hút được nhiều người sử dụng vì cơ sở vật chất và trang thiết bị còn thiếu, vai trò quảng bá thư viện chưa cao (72,28% ý kiến đồng ý với đánh giá này); Chưa liên kết được với thư viện các trường Đại học vùng Đồng bằng sông Cửu long cũng như của cả nước (65,18% ý kiến đồng ý với đánh giá này) … Những hạn chế trên nếu được khắc phục sẽ góp phần đảm bảo chất lượng đào tạo của nhà trường.
Quản lý tài chính và cơ sở vật chất kỹ thuật
- Về quản lý tài chính Luận văn: Thực trạng đảm bảo chất lượng đào tạo trường đại học.
Ưu điểm: Trường Đại học Bạc Liêu là đơn vị sự nghiệp có thu, trên cơ sở quy định của Nhà nước, trường đang tiến hành xây dựng và thực hiện kế hoạch tự chủ về tài chính, tạo được một số nguồn tài chính hợp pháp sử dụng cho đào tạo, NCKH và các hoạt động khác. Nhà trường đã thực hiện nghiêm túc công tác lập kế hoạch và quản lý tài chính theo đúng quy định; sự phân bổ và sử dụng tài chính trong thời gian qua hợp lý, kịp thời, minh bạch và đem lại hiệu quả thiết thực.
Nguồn tài chính chủ yếu từ ngân sách nhà nước và một phần nguồn thu sự nghiệp; để thực hiện tự chủ về tài chính, tạo các nguồn thu hợp pháp, trường đã thực hiện: Xây dựng các nguồn thu hàng năm trên cơ sở các văn bản quy định của nhà nước; Hàng năm chủ động bố trí kinh phí cho các hoạt động hợp lý theo từng nguồn thu và các nhu cầu chi trọng điểm; Củng cố và tăng các nguồn thu sự nghiệp hợp pháp như học phí của sinh viên, hợp đồng liên kết đào tạo và các dịch vụ khác; Xây dựng Quy chế chi tiêu nội bộ, quy định về việc sử dụng các nguồn thu; Trích lập và sử dụng các quỹ đúng quy định; Thực hiện nghiêm túc chế độ kế toán, thống kê, báo cáo, quyết toán và công khai minh bạch rõ ràng; Việc thu, chi đều được thể hiện cụ thể trong chứng từ, sổ sách, báo cáo quyết toán hàng năm và được thông qua hội nghị công chức của trường cho từng năm học; Sử dụng các nguồn thu cho hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học và các hoạt động khác thực hiện theo phân bổ dự toán năm của đơn vị; Thực hiện luật phòng chống tham nhũng trong quản lý tài chính nghiêm túc, tiết kiệm, không có biểu hiện tiêu cực; Các nguồn thu trên đáp ứng được các hoạt động của nhà trường; Công tác quản lý tài chính của trường được thực hiện qua phần mềm quản lý tài chính từ năm 2021, mọi việc được thực hiện một cách minh bạch và đúng quy định. Kết thúc từng năm việc chi tiêu tài chính được thể hiện công khai từng nguồn trong đại hội công chức và báo cáo quyết toán gửi sở Tài chính tỉnh Bạc Liêu để thẩm định, phê duyệt.
Nhà trường đã tạo những điều kiện thuận lợi để mọi thành viên trong trường có thể tham gia vào việc xây dựng các kế hoạch tài chính, hàng năm phòng kế hoạch tài chính thông báo cho các phòng, khoa, tổ lập dự trù kinh phí hoạt động gửi về phòng KH-TC. Để đảm bảo nguồn kinh phí cho các hoạt động của nhà trường, hàng năm căn cứ vào kế hoạch tuyển sinh, các hoạt động, các nguồn thu trường xây dựng kế hoạch phân bổ kinh phí. Nhìn chung tài chính được phân bổ hợp lý, có trọng điểm và ưu tiên các nội dung trọng tâm phục vụ chiến lược nâng cao chất lượng giáo dục.
Việc phân bổ tài chính được thống nhất trong toàn trường trên cơ sở tiết kiệm, thực hiện đúng quy định và mang lại hiệu quả cao cho các hoạt động của trường. Từ năm 2020 đến nay trường không vi phạm về quy định quản lý tài chính. Từ việc phân bổ sử dụng tài chính hợp lý, minh bạch và hiệu quả đã mang lại kết quả là: nguồn lực của nhà trường ngày càng được nâng cấp, cơ sở vật chất được nâng cao; thời gian tới trường tiếp tục rà soát và xây dựng, hoàn thiện các văn bản quy định để thực hiện tự chủ tài chính đảm bảo đúng quy định và có hiệu quả nhất.
Một số hạn chế: Trường chưa xây dựng kế hoạch ngắn hạn, trung hạn, dài hạn để khai thác các nguồn thu sự nghiệp (72,28% ý kiến đồng ý với đánh giá này); Cơ chế tự chủ chưa cao, chưa chủ động được nguồn thu (72,28% ý kiến đồng ý với đánh giá này); Chưa kết hợp với các bộ phận liên quan xây dựng báo cáo cụ thể đánh giá hiệu quả đầu tư cho các hoạt động và định hướng cho các năm sau của trường (65,12% ý kiến đồng ý với đánh giá này); Mức độ xã hội hoá chưa cao, nên tính tự chủ còn hạn chế (75,18% ý kiến đồng ý với đánh giá này); Văn bản về chế độ tài chính còn thay đổi thường xuyên, chế độ sửa đổi không theo kịp sự phát triển của xã hội (68,28% ý kiến đồng ý với đánh giá này)…
Những hạn chế trên nếu được nhà trường quan tâm khắc phục sẽ góp phần tăng thêm nguồn tài chính, phục vụ tốt hơn cho việc đảm bảo chất lượng đào tạo của cho trường.
- Về cơ sở vật chất kỹ thuật Luận văn: Thực trạng đảm bảo chất lượng đào tạo trường đại học.
Ưu điểm: Cơ sở vật chất phục vụ cho dạy và học của Trường Đại học Bạc Liêu được chuyển giao từ trường Cao đẳng Sư phạm. Để đảm bảo có đủ phòng học, giảng đường, phòng thực hành, thí nghiệm, ngay từ năm 2020 trường đã nhanh chóng đầu tư sửa chữa, nâng cấp và xây dựng mới phục vụ công tác đào tạo của trường. Trường có 55 phòng học và giảng đường trong đó có 38 phòng học 50 chỗ, 17 giảng đường sức chứa từ 80 đến 200 chỗ. Số phòng thực hành thí nghiệm là 14, trong đó thực hành nhạc 02, thực hành tin học 06, thực hành lý, hóa, sinh 06. Các phòng học, giảng đường được bố trí theo yêu cầu của từng môn học ngành học và được sử dụng tối đa, bình quân số mét vuông diện tích phòng học, giảng đường, phòng thực hành thí nghiệm trên mỗi SV là: 1,5m2/SV.
Từ năm 2020 đến nay trường đã đầu tư trên 8 tỷ đồng lắp đặt thiết bị cho dạy, học và hỗ trợ cho các hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học như: Thiết bị thực hành âm nhạc, mỹ thuật; Thiết bị phục vụ thực hành tin học; Thiết bị phòng thực hành thí nghiệm vi sinh, bệnh học thủy sản, vật lý đại cương, điện tử; sinh hoá đại cương được trang bị đồng bộ, khá hiện đại bao gồm hệ thống kính hiển vi, Camera, tủ cấy, tủ sấy, tủ hút, phòng cấy; Thiết bị giáo dục thể chất và hệ thống âm thanh, máy chiếu các giảng đường, phòng học khá đầy đủ… Các phòng thực hành, thiết bị đều có văn bản, quy định sử dụng và được giao cho từng cá nhân, đơn vị trực tiếp quản lý; hàng năm đều được tiến hành kiểm kê, đánh giá. Các thiết bị được khai thác tối đa, nhất là các thiết bị tin học. Hàng năm trường thực hiện nâng cấp, bổ sung các thiết bị đáp ứng yêu cầu đào tạo của một số ngành học.
Trường có đủ diện tích lớp học theo quy định cho việc dạy và học; có KTX cho người học, đảm bảo đủ diện tích nhà ở và sinh hoạt cho sinh viên nội trú; có trang thiết bị và sân bãi cho các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao theo quy định. Trường hiện có một nhà thi đấu đa năng diện tích 1057m2, có hai sân bóng chuyền, 01 sân quần vợt đúng tiêu chuẩn; các thiết bị được mua sắm đủ đáp ứng yêu cầu phục vụ học tập, rèn luyện TDTT.
Trường có đủ phòng làm việc cho cán bộ, giảng viên và nhân viên cơ hữu theo quy định. Hiện tại các phòng làm việc cho CBVC, giảng viên với diện tích 1827m2 được bố trí riêng cho từng bộ phận. Các phòng đều được trang bị đầy đủ các thiết bị, phương tiện làm việc và giao cá nhân, đơn vị chịu trách nhiệm quản lý, sử dụng. Ngoài các phòng làm việc còn có các phòng như: phòng họp, phòng đàm phán, phòng hội thảo, phòng bảo vệ đề tài NCKH, phòng đợi giờ cho GV, phòng làm việc cho các tổ chức đoàn thể. Tỷ lệ diện tích phòng làm việc trên tổng số CBNV, GV cơ hữu 14m2/người.
Trường có các biện pháp hữu hiệu bảo vệ tài sản, trật tự, an toàn cho cán bộ quản lý, giảng viên, nhân viên và người học; vấn đề an ninh trật tự trong trường được bảo đảm, không xảy ra hiện tượng mất trật tự, mất tài sản. Nhân viên bảo vệ hầu hết được tập huấn; Đội thanh niên xung kích cũng được tập huấn nghiệp vụ. Khuôn viên trường được bảo vệ bằng hệ thống hàng rào khá kiên cố. Luận văn: Thực trạng đảm bảo chất lượng đào tạo trường đại học.
Tuy mới đi vào hoạt động từ 2020, xong trường đã có nỗ lực lớn trong xây dựng CSVC, về cơ bản đáp ứng được yêu cầu hiện tại. Với mục tiêu, chức năng, nhiệm vụ đã được xác định, trường tiếp tục đẩy mạnh trong thực hiện kế hoạch xây dựng CSVC đáp ứng tốt nhất cho thực hiện nhiệm vụ chính trị của trường.
Về hạn chế: bên cạnh những ưu điểm trên, công tác đảm bảo cơ sở vật chất cho hoạt động đào tạo vẫn còn một số khó khăn, yếu kém, như: Chưa có các phòng học bộ môn và phòng thí nghiệm thực hành cho đào tạo chuyên ngành, phục vụ hỗ trợ công tác nghiên cứu khoa học chưa đáp ứng (78,25% ý kiến đồng ý với đánh giá này); Công tác đánh giá hàng năm về nhu cầu và hiệu quả sử dụng các phòng học, phòng thí nghiệm chưa được tiến hành, phòng học vẫn còn thiếu cho sự phát triển của nhà trường (72,28% ý kiến đồng ý với đánh giá này); Thiếu một số thiết bị phục vụ thực hành thí nghiệm chuyên ngành (72,28% ý kiến đồng ý với đánh giá này); Hệ thống dữ liệu của trường chưa được tích hợp một cách hệ thống, chưa có bộ phận quản trị mạng và ứng dụng các phần mềm trong quản lý còn hạn chế (68,76% ý kiến đồng ý với đánh giá này); Nhu cầu KTX, sân bãi, thiết bị phục vụ các hoạt động TDTT chưa đáp ứng đủ và chưa có khu TDTT riêng có khả năng tổ chức các hoạt động lớn (78,25% ý kiến đồng ý với đánh giá này); Quy cách cũng như bố trí phòng làm việc cho các bộ phận chưa hợp lý (68,76% ý kiến đồng ý với đánh giá này)…
Những hạn chế trên nếu được nhà trường quan tâm khắc phục sẽ góp phần làm cho cơ sở vật chất và phương tiện kỹ thuật dạy học của trường ngày càng đầy đủ hơn, phục vụ tốt hơn cho việc đảm bảo chất lượng đào tạo của cho trường.
2.2.3. Nguyên nhân của những hạn chế Luận văn: Thực trạng đảm bảo chất lượng đào tạo trường đại học.
Kết quả khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng đảm bảo chất lượng đào tạo hệ chính quy ở trường đại học Bạc Liêu còn nhiều hạn chế bất cập như trình bày trên, điều đó sẽ ảnh hưởng đến việc duy trì và phát triển chất lượng đào tạo của nhà trường trong những năm tới; và theo chúng tôi những tồn tại hạn chế đó xuất phát từ các nguyên nhân khách quan và chủ quan sau:
Một là, các lực lượng sư phạm của nhà trường chưa nhận thức và có trách nhiệm đầy đủ về các mặt đảm bảo chất lượng đào tạo của nhà trường.
Đây là nguyên nhân của mọi nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong các hoạt động đảm bảo chất lượng đào tạo, từ xây dựng chuẩn đầu ra cho đến đảm bảo cơ sở vật chất…nó chi phối đến tính tự giác, tích cực, chủ động của các lực lượng sư phạm trong thực hiện các nhiệm vụ giáo dục đào tạo của nhà trường.
Hai là, việc xây dựng chuẩn đầu ra chưa thực sự đáp ứng nhu cầu xã hội, tổ chức quản lý đào tạo của trường chưa đổi mới và duy trì chặt chẽ.
Nguyên nhân này ảnh hưởng trực tiếp, hàng đầu đến đảm bảo chất lượng đào tạo của nhà trường, nhất là hoạt động giảng dạy của giảng viên ở các khoa; đồng thời nó chi phối đến tính hiệu quả của các hoạt động đào tạo và tính chuyên nghiệp, sáng tạo của giáo viên, của cán bộ quản lý giáo dục trong thực hiện nhiệm vụ dạy học, đào tạo.
Ba là, Chất lượng chương trình đào tạo hệ chính quy cao đẳng và đại học của nhà trường chưa được quan tâm từ nhiều phía; công tác đánh giá chất lượng giáo dục chưa thường xuyên ở các khoa giáo viên, cơ quan chức năng.
Bốn là, Chất lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy, nghiên cứu chưa được chuẩn hóa, yêu cầu tuyển sinh còn thấp so với các trường đại học khác. Luận văn: Thực trạng đảm bảo chất lượng đào tạo trường đại học.
Năm là, Hợp tác quốc tế, cơ sở vật chất và nguồn tài chính chưa được quan tâm đúng mức để phục vụ có hiệu quả dạy và học, nâng cao chất lượng đào tạo, nghiên cứu khoa học của nhà trường…
Như vậy, trên đây là tổng hợp nguyên nhân khách quan và chủ quan về những hạn chế về thực trạng đảm bảo chất lượng đào tạo hệ chính quy ở trường đại học Bạc Liêu. Từ các nguyên nhân đó, đặt ra yêu cầu cần nghiên cứu đề xuất giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế đó, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và uy tín của nhà trường đối với xã hội.
Thực trạng đảm bảo chất lượng đào tạo hệ chính quy ở trường đại học Bạc Liêu trong những năm qua về cơ bản đã đáp ứng mục tiêu yêu cầu giáo dục – đào tạo của nhà trường. Tuy nhiên, từ yêu cầu mới của xã hội và những đòi hỏi phát triển chất lượng đào tạo của nhà trường trong thời gian tới, thì hoạt động này còn những hạn chế, bất cập nhất định trên tất cả các yếu tố đảm bảo chất lượng đào tạo, kết quả nghiên cứu đã phản ánh điều đó. Để đảm bảo chất lượng đào tạo, các lực lượng sư phạm của nhà trường đã thực hiện nhiều giải pháp, nhưng trước yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay và nâng cao chất lượng đào tạo, thì cần nghiên cứu vận dụng những giải pháp phù hợp, có tính khả thi hơn.
Kết quả khảo sát, phân tích và đánh giá thực trạng đảm bảo chất lượng đào tạo hệ chính quy ở trường đại học Bạc Liêu cho thấy: trong các yếu tố ảnh hưởng đến đảm bảo chất lượng, thì yếu tố nhận thức và trách nhiệm của các lực lượng sư phạm về vấn đề này còn hạn chế; từ đó dẫn đến những hệ lụy khác như đã trình bày ở nguyên nhân hạn chế. Kết quả nghiên cứu trên, là cơ sở thực tiễn cho việc đề xuất các giải pháp mới trong đảm bảo chất lượng đào tạo hệ chính quy ở trường đại học Bạc Liêu phù hợp với tình hình đổi mới giáo dục đại học hiện nay, nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục – đào tạo của nhà trường trong thời kỳ mới. Luận văn: Thực trạng đảm bảo chất lượng đào tạo trường đại học.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Giải pháp đảm bảo chất lượng đào tạo trường đại học
