Luận văn: Thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng và biện pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh ở các khoa không chuyên ngữ tại Trường Đại học Sư phạm-Thành phố Hồ Chí Minh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ VIỆC GIẢNG DẠY TIẾNG ANH Ở CÁC KHOA KHÔNG CHUYÊN NGỮ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM -THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.1.1. Thực trạng việc quản lý mục tiêu:

Để đánh giá việc quản lý mục tiêu môn học trong chương trình bộ môn tiếng Anh đang thực hiện giảng dạy cho sinh viên ở các khoa không chuyên ngữ tại Trường Đại học Sư phạm – Thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi đã lấy ý kiến của 18 giảng viên bộ môn tiếng Anh thuộc Tổ Ngoại ngữ qua câu hỏi: “Xin Ông (Bà) cho biết, nội dung, chương trình bộ môn tiếng Anh đang thực hiện giảng dạy cho sinh viên của các khoa không chuyên ngữ tại Trường Đại học Sư phạm-Thành phố Hồ Chí Minh đã phù hợp với mục tiêu đào tạo do Bộ Giáo dục và Đào tạo đề ra chưa?” và kết quả thăm dò được như sau:

Từ số liệu ở bảng 1 cho thấy, 61.11% giáo viên nhận xét, nội dung, chương trình bộ môn tiếng Anh hiện tại chưa được phù hợp lắm đối với mục tiêu đào tạo do Bộ Giáo dục và Đào tạo đề ra, chỉ có 38.89% giáo viên có nhận xét là khá phù hợp. Nhận xét của các giảng viên bộ môn như trên cũng có lý do của nó.

Từ năm học 2021-2022, Tổ Ngoại ngữ không chuyên, một đơn vị trực thuộc Ban giám hiệu – Trường Đại học Sư phạm – Thành phố Hồ Chí Minh mới chính thức đảm nhận việc giảng dạy bộ môn tiếng Anh cho sinh viên của các khoa không chuyên ngữ. Khi tiếp nhận công việc từ Tổ Ngoại ngữ 2 – thuộc Khoa Anh, chương trình bộ môn tiếng Anh dành cho sinh viên của các khoa không chuyên ngữ được giảng dạy với giáo trình Headway – một tài liệu dạy giao tiếp bằng tiếng Anh thông dụng, chủ yếu rèn luyện tổng hợp bốn kỹ năng nghe, nói, đọc, viết.

Với giáo trình Headway (cuốn 1-Headway Elementary và cuốn 2-Headway Pre-Intermediate), nếu dựa vào tiêu chuẩn đánh giá trình độ ngoại ngữ của quốc tế thì sinh viên các khoa không chuyên ngữ trong toàn trường, sau khi kết thúc chương trình bộ môn (20 đvht tức là 300 tiết), mới đạt trình độ cơ sở ở mức trung bình, có nghĩa là xét cả bốn kỹ năng giao tiếp nghe, nói, đọc, viết, họ chỉ có được khả năng sau: Luận văn: Thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.

  • Nghe: Hiểu được tiếng Anh ở cấp độ từ và có thể ở cấp độ câu, song chủ yếu là phỏng đoán.
  • Nói: Tham gia vào những hội thoại đơn giản bằng cách dùng các mẫu câu đơn giản, trong phạm vi chủ đề sinh hoạt gia đình và bản thân.
  • Đọc: Đọc hiểu được những bài đọc ngắn (khoảng 100 đến 150 từ) với những cấu trúc ngữ pháp quen thuộc và ít từ mới.
  • Viết: Có khả năng viết thư (trang trọng và không trang trọng), viết về bản thân, công việc dựa vào mẫu đã học, ít có sáng tạo. Nhìn chung kỹ năng viết còn yếu. [112, 14 I

Nếu xét về các mặt: kiến thức, kỹ năng, thái độ trong mục tiêu của môn học đã nêu (mục 3.1-phần II-chương 1), thì rõ ràng việc quản lý mục tiêu môn học chưa đạt yêu cầu. Chương trình tiếng Anh giảng dạy với giáo trình Headway chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng tiếng Anh cho sinh viên, kể cả tiếng Anh giao tiếp cơ bản lẫn tiếng Anh sử dụng trong chuyên môn (hay còn gọi là tiếng Anh chuyên ngành).

Thấy rõ bất hợp lý trong việc thực hiện mục tiêu môn học đối với đối tượng là sinh viên các khoa không chuyên ngữ, Tổ Ngoại ngữ đã đề ra việc biên soạn giáo trình tiếng Anh chuyên ngành nhằm thực hiện cải tiến nội dung, chương trình giảng dạy bộ môn cho phù hợp và có hiệu quả. Năm học 2024-2025, Tổ Ngoại ngữ đã thực nghiệm giảng dạy 03 giáo trình tiếng Anh chuyên ngành cho sinh viên các Khoa Ngữ văn, Vật lý, Sinh vật. Năm học 2025-2026, có thêm 02 giáo trình tiếng Anh chuyên ngành được thực nghiệm giảng dạy cho sinh viên Khoa Lịch sử và Khoa Địa lý. Đây là một việc làm rất thiết thực, đáp ứng nhu cầu học tập của sinh viên các khoa không chuyên ngữ tại Trường Đại học Sư phạm -Thành phố Hồ Chí Minh. Việc làm này cùng chứng tỏ, Lãnh đạo đơn vị đã đi đúng hướng trong việc chỉ đạo chuyên môn và tập thể cán bộ giảng dạy của Tổ Ngoại ngữ đã làm tốt trách nhiệm của mình vì chất lượng đào tạo sinh viên của Trường Đại học Sư phạm -Thành phố Hồ Chí Minh.

Việc cải tiến nội dung, chương trình bộ môn tiếng Anh cho phù hợp và hiệu quả đối với sinh viên các khoa không chuyên ngữ trong toàn trường đòi hỏi phải có thời gian. Để đáp ứng nhu cầu của sinh viên các khoa không chuyên ngữ còn lại: Toán -Tin, Hóa, Giáo dục chính trị, Tâm lý giáo dục, Giáo dục tiểu học, Giáo dục mầm non, Giáo dục thể chất, tập thể các giảng viên bộ môn tiếng Anh của Tổ Ngoại ngữ còn phải bỏ công sức thật nhiều. Theo kế hoạch dự định, đến năm 2030, Tổ Ngoại ngữ sẽ cố gắng có đủ giáo trình tiếng Anh chuyên ngành cho các khoa không chuyên ngữ còn lại.

Làm thế nào để sinh viên các khoa không chuyên ngữ, sau khi kết thúc chương trình bộ môn, có đủ kiến thức và trình độ về các kỹ năng giao tiếp bằng tiếng Anh trong lĩnh vực chuyên môn, kỹ năng giải quyết các vấn đề không chỉ trong chuyên môn mà cả trong các tình huống xã hội nhất định, thực hiện đúng mục tiêu môn học đã đề ra, điều này còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố. Song song với việc cải tiến nội dung, chương trình giảng dạy bộ môn cần phải thực hiện việc bố trí, sắp xếp lại đội ngũ giảng viên, thực hiện cải tiến phương pháp giảng dạy theo hướng giao tiếp tích cực, quản lý chặt chẽ việc tổ chức đào tạo, quản lý hoạt động dạy của thầy, hoạt động học của trò, tăng cường sử dụng trang thiết bị dạy học hiện đại, thực hiện tốt việc kiểm tra, đánh giá chất lượng dạy và học của thầy và trò. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.

Những hoạt động nêu trên có ý nghĩa hết sức quan trọng, có tác dụng rất to lớn đến việc thực hiện mục tiêu môn học đã đề ra, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của Trường Đại học Sư phạm – Thành phố Hồ Chí Minh (nói riêng) và chất lượng đào tạo giáo dục đại học nước ta (nói chung).

Hiện tại, do giáo trình tiếng Anh chuyên ngành chưa có đủ cho tất cả các khoa không chuyên ngữ trong trường, cho nên việc quản lý mục tiêu môn học chưa hoàn toàn đạt được yêu cầu của mục tiêu đào tạo chung mà Bộ Giáo dục và Đào tạo qui định. Điều này thuộc về trách nhiệm của Lãnh đạo đơn vị Tổ Ngoại ngữ không chuyên, cần vận động tập thể cán bộ giảng dạy của đơn vị, phát huy hơn nữa, giữ vững định hướng, tích cực hoàn thành kế hoạch về cải tiến nội dung, chương trình môn học đã định và có những giải pháp hữu hiệu trong việc tổ chức giảng dạy bộ môn để thực hiện cho được mục tiêu môn học, nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của trường, đáp ứng nhu cầu của xã hội, thiết thực góp phần vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

2.1.2. Thực trạng việc quản lý nội dung, chương trình bộ môn tiếng Anh:

Đánh giá về nội dung, chương trình bộ môn tiếng Anh hiện đang thực hiện giảng dạy cho sinh viên của các khoa không chuyên ngữ tại Trường Đại học Sư phạm -Thành phố Hồ Chí Minh, 18 giảng viên bộ môn tiếng Anh đã có những nhận xét sau đây:

Theo số liệu trong bảng 2 cho thấy, 50% giáo viên nhận xét, nội dung, chương trình môn học khá phù hợp với sinh viên của các khoa không chuyên ngữ, 44.45% giáo viên cho rằng, nội dung, chương trình bộ môn như vậy là chưa phù hợp lắm, chỉ có 5.55% giáo viên đánh giá, nội dung, chương trình bộ môn rất phù hợp đối với đối tượng sinh viên tại các khoa không chuyên ngữ.

Khảo sát ý kiến của 324 sinh viên năm thứ nhất và 368 sinh viên năm thứ hai qua câu hỏi: ” Theo bạn, nội dung, chương trình bộ môn tiếng Anh hiện đang giảng dạy có phù hợp với đối tượng sinh viên ở các khoa không chuyên ngữ như bạn chưa?, chúng tôi nhận được các đánh giá như sau:

Theo số liệu của bảng 3, có đến 32.41% sinh viên năm thứ nhất cho rằng, nội dung, chương trinh bộ môn tiếng Anh hiện đang thực hiện giảng dạy hoàn toàn không phù hợp với đối tượng sinh viên ở các khoa không chuyên ngữ, 55.86% sinh viên có nhận xét: chưa phù hợp lắm, chỉ vẹn vẹn 11.73% sinh viên có ý kiến là khá phù hợp, riêng ý kiến cho rằng, nội dung, chương trình bộ môn tiếng Anh hiện nay rất phù hợp đối với sinh viên tại các khoa không chuyên ngữ thì không có sinh viên nào nhận xét như vậy. Còn ở khu vực sinh viên năm thứ hai, 29.94 % sv cho rằng, nội dung, chương trình tiếng Anh đang thực hiện giảng dạy cho sinh viên ở các khoa không chuyên ngữ như họ là rất phù hợp, 21.91% sinh viên nhận xét, nội dung, chương trình như vậy là khá phù hợp, 12.96% sinh viên có ý kiến là chưa phù hợp lắm và có đến 35.19% sinh viên cho rằng, nội dung, chương trình bộ môn hiện nay hoàn toàn không phù hợp đối với họ. Tổng hợp ý kiến của sinh viên 2 khối, chỉ có 15.46% sinh viên nhận xét, nội dung, chương trình bộ môn tiếng Anh hiện rất phù hợp đối với họ, 18.64% sinh viên đánh giá, nội dung, chương trình bộ môn như vậy khá phù hợp, 34.25% sinh viên có ý kiến là chưa phù hợp lắm và có đến 31.65% sinh viên nhận thấy, nội dung, chương trình bộ môn hiện nay hoàn toàn không phù hợp đối với đối tượng sinh viên như họ.

Mặc dù, biết rất rõ sự bất hợp lý trong việc thực hiện mục tiêu môn học, song do tài liệu giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành đại học sư phạm trên cả nước không có, và hiện nay Tổ Ngoại ngữ phải “tự thân vận động” trong việc biên soạn giáo trình tiếng Anh chuyên ngành dành cho sinh viên các khoa không chuyên ngữ của trường và với thời gian quá eo hẹp nên chưa đáp ứng đủ cho tất cả các khoa. Vì vậy, hiện tại, nội dung, chương trình môn học vẫn còn ở tình trạng thực hiện tạm thời.

Chương trình môn học dành cho đối tượng là sinh viên các khoa không chuyên ngữ trong toàn trường với thời lượng là 300 tiết (20 đvht) được phân bố trong 4 học kỳ (tương đương 4 học phần), mỗi học phần là 75 tiết:

Năm thứ nhất: 150 tiết (học phần 1 và 2) sử dụng giáo trình Headway- Pre-Intermediate, gồm 15 bài. Giáo trình này chủ yếu dạy giao tiếp bằng tiếng Anh thông dụng, rèn luyện tổng hợp cả bốn kỹ năng giao nghe, nói, đọc, viết.

Năm thứ hai: 150 tiết (học phần 3 và 4) thực nghiệm dạy tiếng Anh chuyên ngành, (đối với những khoa đã có giáo trình tiếng Anh chuyên ngành); còn những khoa chưa có giáo trình tiếng Anh chuyên ngành thì tạm thời học theo giáo trình tiếng Anh chuyên ngành gần với chuyên ngành của mình.) Ví dụ: Khoa Toán – Tin và Khoa Hóa học theo giáo trình tiếng Anh chuyên ngành Vật lý. (Sự sắp xếp như vậy là dựa trên cơ sở: sinh viên của Khoa Toán – Tin và Khoa Hóa có học bộ môn Vật lý trong chương trình đại cương.); Sinh viên của các Khoa: Giáo dục tiểu học, Giáo dục chính trị, Tâm lý giáo dục và Ngành Giáo dục mầm non học theo giáo trình tiếng Anh chuyên ngành Ngữ văn. (Sinh viên các khoa trên đều có học chương trình tiếng Việt); Sinh viên của Ngành Giáo dục thể chất học theo giáo trình tiếng Anh chuyên ngành Sinh vật. (Sinh viên của Ngành Giáo dục thể chất có học bộ môn Sinh vật trong chương trình của mình.)

Nội dung, chương trình bộ môn tiếng Anh được thực hiện tại các khoa không chuyên ngữ như trên quả thật rất bất cập. Nội dung, chương trình bộ môn như vậy hoàn toàn chưa phù hợp, chưa đáp ứng với nhu cầu đòi hỏi phục vụ học tập và nghiên cứu của sinh viên, cho nên sinh viên chúng ta chưa thật sự hứng thú đối với môn học và điều đó sẽ ảnh hưởng hạn chế nhiều đến hiệu quả của việc dạy và học bộ môn ngoại ngữ như tình trạng hiện nay. Chính vì vậy, việc cải tiến nội dung, chương trình bộ môn tiếng Anh cho phù hợp và hiệu quả đối với sinh viên các khoa không chuyên ngữ trong toàn trường là vấn đề cấp thiết cần phải thực hiện cho hoàn chỉnh.

2.1.3. Thực trạng việc quản lý cách kiểm tra, đánh giá hiệu quả giảng dạy: Luận văn: Thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.

Đánh giá về công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh ở các khoa không chuyên ngữ, 18 giảng viên bộ môn đã có ý kiến như sau:

Theo bảng 4 cho thấy, 61.11% giáo viên bộ môn đánh giá việc quản lý công tác giảng dạy tiếng Anh tại các khoa không chuyên ngữ trong trường rất tốt, 27.78% giáo viên có ý kiến tương đối tốt, vẫn còn 11.11% giáo viên có nhận xét chưa tốt. Đây là vấn đề mà Lãnh đạo đơn vị cũng như các Tổ trưởng chuyên môn cần quan tâm và phải có hướng đi sáng tạo hơn, khắc phục những cái chưa tốt để nâng cao hiệu quả cho công tác giảng dạy bộ môn.

Thực tế, Tổ Ngoại ngữ vẫn thường tổ chức dự giờ, thăm lớp trong từng học kỳ, từng năm học (từ năm học 2021-2022 cho đến nay), nắm rõ tình hình giảng dạy của các giảng viên bộ môn, tổ chức đánh giá những giờ dạy giỏi để rút kinh nghiệm cho việc đổi mới phương pháp giảng dạy bộ môn và cách tổ chức giảng dạy tốt, có hiệu quả cao … Công việc đó được đông đảo giáo viên quan tâm, chú ý phát huy năng lực của bản thân để giảng dạy tốt, nhưng vẫn còn có một số giáo viên chưa thật sự chăm lo cho việc lên lớp thường ngày, không chuẩn bị giáo án đầy đủ, năng lực giảng dạy bộ môn còn yếu, dẫn đến hiệu quả giảng dạy còn quá thấp. Lãnh đạo Đơn vị và Tổ chuyên môn cũng đã có góp ý cho giáo viên, song không được giáo viên đó ủng hộ và họ cũng không thấy được những sai sót của mình mà khắc phục. Chính vì lý do đó, việc đánh giá hiệu quả giảng dạy của giáo viên trong đơn vị tuy được tổ chức đều đặn từng năm học và cũng đạt được một hiệu quả nhất định, năng lực giảng dạy của giáo viên tiến bộ hẳn lên, hiệu quả giảng dạy có phần được nâng cao hơn, nhưng có lúc, có trường hợp vẫn còn mang tính chiếu lệ và vẫn chưa mang lại kết quả thật sự, sự việc còn đó và cứ tồn tại mãi.

2.1.4. Thực trạng việc quản lý phương tiện, thiết bị phục vụ giảng dạy:

Thăm dò ý kiến của 18 giảng viên bộ môn, được biết thực trạng việc quản lý phương tiện, thiết bị phục vụ giảng dạy tiếng Anh cũng như các ngoại ngữ khác tại các khoa không chuyên ngữ trong trường như sau:

  • Qua bảng 5 cho thấy: Luận văn: Thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.

Nhận xét về phòng học, bảng, bàn ghế, có đến 83.33% giáo viên đánh giá, cơ sở phòng học cũng như bảng, bàn ghế trong lớp học chưa tốt, chưa đảm bảo khoa học để phục vụ cho việc dạy và học của thầy và trò, chỉ có 16.67% giáo viên có ý kiến là khá tốt.

  • Nhận xét về thiết bị, âm thanh, 33.33% giáo viên có ý kiến khá tốt và 66.67% giáo viên đánh giá chưa tốt.
  • Nhận xét về giáo cụ trực quan, 22.22% giáo viên cho rằng khá tốt, còn 77.78% giáo viên có ý kiến chưa tốt.

Về giáo trình, tài liệu: 27.78% giáo viên cho rằng, giáo trình, tài liệu phục vụ học tập và nghiên cứu của sinh viên hiện nay rất tốt, 44.44% giáo viên nhận xét khá tốt và 27.78% giáo viên vẫn có ý kiến chưa tốt.

Thực tế, hàng năm, với khoảng 1800 sinh viên, cả năm thứ nhất và năm thứ hai của 12 khoa không chuyên ngữ trong trường, học tiếng Anh mà chỉ có một phòng nghe nhìn. Cho nên, mỗi học kỳ, một lớp chỉ có thể học được khoảng 5 tiết tại phòng nghe nhìn. Vì vậy, giờ luyện nghe, nói chủ yếu được thực hiện trên lớp. Song, ngay cả việc dạy nghe tại phòng nghe nhìn cũng không có hiệu quả, bởi vì còn phụ thuộc vào năng lực sử dụng thiết bị tại phòng nghe nhìn của giáo viên. Nhiều giáo viên sử dụng thiết bị chưa thành thạo, còn lúng túng trong thao tác cho nên hiệu quả dạy nghe tại phòng nghe nhìn không được là bao. Thực hiện giảng dạy bộ môn trên lớp, giáo viên sử dụng thiết bị chính là máy cassette, còn ngoài ra không có một dụng cụ nào khác. Việc trang bị những máy móc hiện đại, phục vụ cho việc dạy học ngoại ngữ trên lớp còn quá hạn chế. Muốn sử dụng máy đèn chiếu hay máy vi tính để giảng dạy, hiện chưa cố khả năng để trang bị cho mỗi lớp học ngoại ngữ. Hiện tại, đơn vị đã được trang bị một số âm li hiện đại hơn cassette, song giáo viên còn ngại sử dụng, chỉ quen lối dùng cassette từ lâu nay.

Tài liệu phục vụ dạy và học bộ môn được in và bán rất đầy đủ, Thế nhưng, ở một số lớp, vẫn còn sinh viên không có tài liệu để học. Vì nghèo nên sinh viên phải tiết kiệm, không có đủ tiền để mua tài liệu hay cũng vì do ý thức của sinh viên, không cần tài liệu để học. Việc photo, sao chụp tài liệu, chữ quá mờ, quá nhỏ cũng ảnh hưởng cho việc học của sinh viên, nhất là đối với việc học ngoại ngữ. Nhà trường đã có lưu tâm, hạ giá thành tài liệu, sách học xuống thấp để phục vụ sinh viên trong trường, đây không còn là lý do vì khó khăn mà là do Ý thức không tôn trọng bộ môn ngoại ngữ của một số nhỏ sinh viên.

Ngoài giáo trình môn học sinh viên có sử dụng thêm sách, báo, tài liệu bằng tiếng Anh để phục vụ cho chuyên môn của mình đang học không ?Chúng tôi đã khảo sát ý kiến qua 324 sinh viên năm thứ nhất và 368 sinh viên năm thứ hai của các khoa không chuyên ngữ, kết quả thăm dò được như sau:

Theo số liệu ở bảng 6, trong số 324 sinh viên – năm thứ nhất chỉ có 3.09% sinh viên trả lời là có thường xuyên đọc thêm sách, báo, tài liệu bằng tiếng Anh để phục vụ cho học tập, 67.59% sinh viên ít khi dùng thêm tài liệu tham khảo, 29.32% sinh viên là hoàn toàn không hề dùng tài liệu nào ngoài giáo trình bộ môn đang học. Trong số 368 sinh viên – năm thứ hai của các khoa không chuyên ngữ, 5.16% sinh viên trả lời là có thường xuyên đọc thêm tài liệu, sách, báo. 61.69% sinh viên ít khi dùng thêm tài liệu và 33.15% sinh viên hoàn toàn không đọc thêm tài liệu. Tổng hợp cả hai khối, chỉ có 4.19% sinh viên thường xuyên đọc thêm sách, báo, tài liệu bằng tiếng Anh, 64.45% sinh viên ít khi dùng thêm tài liệu tham khảo và 31.36% sinh viên hoàn toàn không đọc thêm tài liệu nào ngoài giáo trình bộ môn đang học. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.

Qua tình hình trên thấy rõ, việc sử dụng trang thiết bị phục vụ cho việc dạy và học bộ môn còn quá đơn sơ, các phương tiện và điều kiện phục vụ cho việc dạy và học còn quá nghèo nàn, việc sử dụng công nghệ mới trong giảng dạy của thầy và tham khảo thêm tài liệu phục vụ học tập, nghiên cứu của trò quá yếu. Điều đó cũng hạn chế rất nhiều đến hiệu quả của việc dạy và học bộ môn. Trách nhiệm đó, trước hết phải thuộc về đội ngũ giáo viên bộ môn tiếng Anh tại các khoa không chuyên ngữ. Để phấn đấu giảng dạy bộ môn có hiệu quả, giáo viên cần phải cố gắng học để biết sử dụng trang thiết bị hiện đại, phục vụ cho việc giảng dạy bộ môn, khắc phục lối “dạy chay” như hiện nay nhằm kích thích sinh viên có hứng thú với môn học, tạo cho họ lối học giao tiếp tích cực phục vụ cho chuyên môn càng có hiệu quả hơn.

2.1.5. Thực trạng việc quản lý tổ chức giảng dạy:

Để nắm rõ cách tổ chức giảng dạy của các giảng viên bộ môn tiếng Anh, chúng tôi đã có những thăm dò như sau:

  • Cách tổ chức và hướng dẫn học tập cho sinh viên:

Theo bảng 7 cho thấy, 100% giáo viên đều thực hiện cho sinh viên nghe giảng, thông hiểu, ghi chép và làm bài tập theo sách, 45.45% giáo viên có ôn tập, hệ thống hoa kiến thức lại cho sinh viên, như vậy, vẫn cồn 54.55% giáo viên thiếu bước ôn tập, hệ thống hóa kiến thức đã học cho sinh viên, 33.34% giáo viên thường cho sinh viên thực hành các kỹ năng giao tiếp, 38.89% giáo viên có hướng dẫn cho sinh viên đọc thêm sách báo, tạp chí, tài liệu phục vụ cho học tập và nghiên cứu, 33.34% giáo viên có hướng dẫn cho sinh viên cách tự học. Với số liệu trên có thể nhận thấy, việc thực hành các kỳ năng giao tiếp ngôn ngữ cho sinh viên còn hạn chế, chính vì vậy, sinh viên cả 2 khối năm thứ nhất và năm thứ hai rất yếu về các kỹ năng giao tiếp ngôn ngữ, nhất là kỹ năng nghe và nói. Việc ôn tập, hệ thống hóa kiến thức đã học chưa được thực hiện đều khắp ở các lớp, điều đó làm cho đa số sinh viên nắm kiến thức chưa vững, chưa sâu, sinh viên dễ quên và dần dần bị hổng kiến thức. Việc yêu cầu và hướng dẫn cho sinh viên đọc thêm tài liệu phục vụ cho học tập và nghiên cứu chưa được phát huy cho nên sinh viên không có cách học tích cực, không mở rộng được kiến thức môn học, chỉ quanh quẩn với mỗi nội dung trong giáo trình đang học mà thôi. Việc hướng dẫn tự học cho sinh viên chưa được đầy đủ, chu đáo, cho nên hiệu quả dạy và học của thầy và trò chưa cao.

  • Cách tổ chức cho sinh viên tự học: Luận văn: Thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.

Theo số liệu ở bảng 8 cho thấy, 38.89% giáo viên yêu cầu sinh viên tự học qua cách đọc hiểu bằng tiếng Anh các sách báo, tài liệu có liên quan tới chuyên môn của mình đang học ở trường, 33.34% giáo viên yêu cầu sinh viên thực hành các kỹ năng giao tiếp với nhau, 38.89% giáo viên yêu cầu sinh viên nghiên cứu trước và xác định trọng tâm của bài mới, những cách hướng dẫn trên rất có hiệu quả. Nhưng vẫn còn số đông giáo viên (chiếm 61.11%) thì yêu cầu sinh viên tự học bằng cách giải quyết mọi nhiệm vụ được giao đối với bài vừa học cũng như các bài trước để hệ thống kiến thức đã học, cách hướng dẫn này vẫn chưa thực sự tạo cho người học phương pháp học tập độc lập suy nghĩ để nắm bắt tri thức một cách thông minh, sáng tạo vào bài làm, vào thực tế, vào nghiên cứu khoa học.

Việc đề ra kế hoạch giảng dạy bộ môn vẫn được tiến hành đều đặn hàng năm. Việc phân công trách nhiệm, quyền hạn cho từng bộ phận, từng giáo viên theo đúng qui chế đã định. Việc bố trí đội ngũ giáo viên đã có cân nhắc kỹ, song do hạn chế về năng lực của một số giáo viên cho nên việc bố trí đội ngũ giáo viên bộ môn, phân công theo năng lực, nói đúng ra, chưa được bảo đảm. vẫn biết, điều đó cần phải khắc phục ngay, song vấn đề “tổ chức và cán bộ” là một việc khó giải quyết trong cơ chế “biên chế Nhà nước” hiện nay.

Chỉ đạo việc tổ chức các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ đã được thực hiện đều trong mỗi học kỳ và từng năm học. Qua việc này, Lãnh đạo đơn vị và Tổ chuyên môn đã nắm được năng lực giảng dạy và việc sử dụng trang thiết bị dạy học của từng giáo viên, đánh giá được chất lượng học tập bộ môn trong sinh viên, kiểm tra nề nếp dạy và học của thầy và trò, rút kinh nghiệm cho việc tổ chức kiểm tra, đánh giá cho sát với đối tượng và dần dần đề ra những biện pháp tổ chức dạy và học có hiệu quả. Nhưng trong điều kiện hiện nay, việc tổ chức dạy học bộ môn chưa được khoa học, một số lớp có số sinh viên quá đông, phải đến trên 50% số lớp có sĩ số trên 40 hoặc trên 50 sinh viên. Sĩ số sinh viên quá đông trong một lớp học ngoại ngữ cũng ảnh hưởng nhiều, hạn chế đến hiệu quả việc luyện tập các kỹ năng giao tiếp cho sinh viên, điều đó tất yếu hạn chế đến hiệu quả dạy và học của thầy và trò đối với bộ môn.

Tổ chức ngoại khóa cho sinh viên là một hình thức rất cần thiết đối việc tổ chức giảng dạy bộ môn ngoại ngữ nói chung, thế nhưng thăm dò qua 18 giảng viên bộ môn, cho thấy: Luận văn: Thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.

Theo số liệu ở bảng 9 cho thấy, chỉ có 11.11% giáo viên thường xuyên tổ chức ngoại khóa và tham gia cùng sinh viên, 27.78% giáo viên thỉnh thoảng mới tổ chức ngoại khóa cho sinh viên, còn 61.11% giáo viên không hề làm công việc đó, chỉ đơn thuần tổ chức giảng dạy trên lớp mà thôi, ngay cả việc luyện kỹ năng nghe và làm các bài tập thảo luận theo các đề tài, có giáo viên còn bỏ bớt, không thực hiện. Rõ ràng, việc rèn luyện các kỹ năng giao tiếp, lập luận, thảo luận, trình bày giải quyết vấn đề cho sinh viên trong phạm vi môn học còn quá yếu.

Cuộc thi “Olympic” tiếng Anh cho sinh viên trong toàn trường do Đoàn thanh niên phối hợp cùng Tổ Ngoại ngữ tổ chức mỗi năm một lần, cũng không thể đánh giá hết được khả năng giao tiếp ngôn ngữ đang học của sinh viên. Cần phải có sự kết hợp tham gia của đội ngũ giảng viên bộ môn tiếng Anh trong việc tổ chức các buổi ngoại khóa thường kỳ, tạo điều kiện cho sinh viên của các khoa không chuyên ngữ trong toàn trường có một sân chơi để rèn luyện và phát huy các kỹ năng giao tiếp ngôn ngữ của mình, và chắc chắn, hiệu suất sử dụng ngoại ngữ phục vụ học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên càng cao.

2.1.6. Thực trạng việc quản lý đội ngũ giáo viên:

Tổ tiếng Anh hiện có 19 giảng viên, số giảng viên cao tuổi (trên 40 và 50 tuổi) chiếm 56% trên tổng số cán bộ giảng dạy của Tổ, 01 giảng viên trẻ nhất là 25 tuổi, chiếm 5%, còn lại đều dưới 40 tuổi, chiếm 39%. Tuổi nghề trên 20 năm chiếm 23%, trên 10 năm chiếm 72%, và dưới 5 năm chiếm 5%. Đó là tính theo thâm niên giảng dạy nói chung. Nhưng nếu tính thâm niên giảng dạy tiếng Anh, đa số giảng viên đều mới có 5 năm thực hành giảng dạy bộ môn tiếng Anh. Bởi vì, đội ngũ giảng viên tiếng Anh của Tổ Ngoại ngữ đều là giảng viên tiếng Nga chuyển sang sau khi tốt nghiệp thêm bằng cử nhân Anh văn, chỉ có duy nhất 01 giảng viên tiếng Anh mới được bổ sung là được đào tạo chính qui. Khi chuyển sang giảng dạy tiếng Anh, tuy mới được 5 năm, nhưng với nhiều năm kinh nghiệm giảng dạy tiếng Nga, phần lớn giảng viên của Tổ tiếng Anh vẫn cố được những kinh nghiệm giảng dạy bộ môn ngoại ngữ nói chung rất vững chải.

Với tinh thần phấn đấu rất cao trong việc bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, Tổ tiếng Anh hiện có 05 giảng viên đạt trình độ học vị Thạc sĩ, trong đó, 01 giảng viên đang nghiên cứu sinh tại Úc, 01 giảng viên chuẩn bị nghiên cứu sinh tại Canada; 03 giảng viên đang làm luận văn tốt nghiệp khóa Cao học 2023-2026 và một số giảng viên khác đang cố gắng học tập để đạt được trình độ học vị Thạc sĩ. Song, từ nay đến năm 2030, Tổ tiếng Anh chỉ có thể đạt được khoảng 52.63 % cán bộ giảng dạy có học vị Thạc sĩ và 15.79% cán bộ giảng dạy có học vị Tiến sĩ. Như vậy, Tổ tiếng Anh vẫn chưa thể đạt được tỉ lệ cán bộ giảng dạy có học vị Thạc sĩ và Tiến sĩ theo đúng qui chuẩn đối với một đơn vị giảng dạy của trường đại học sư phạm mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đã đề ra. (Theo 10 tiêu chí đánh giá chất lượng và điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo đại học – thực hiện trong giai đoạn 2025-2030).

Từ khi nhận trách nhiệm giảng dạy bộ môn tiếng Anh cho sinh viên của 12 khoa không chuyên ngữ trong toàn trường, Tổ tiếng Anh thuộc Tổ Ngoại ngữ không chuyên đã có được những thành quả nhất định trong việc tham gia đào tạo sinh viên của trường, khẳng định được vị trí của mình, làm tốt trách nhiệm được giao. Song bên cạnh đó, phải thẳng thắn thừa nhận, vẫn còn có giáo viên chưa chăm lo trau dồi chuyên môn để giảng dạy tốt, còn lo “chạy sô” quá nhiều, chuẩn bị giáo án lên lớp chưa đầy đủ nên không tránh khỏi những thiếu sót trong việc tổ chức giảng dạy trên lớp. Kỷ cương dạy và học chưa nghiêm, hiện tượng dạy dồn giờ vẫn còn, qui định về thời gian ra, vào lớp chưa ổn định, những điều đỏ cũng ảnh hưởng khá nhiều, hạn chế đến hiệu suất dạy và học bộ môn.

2.1.7. Thực trạng quẩn lý việc thực hiện phương pháp giảng dạy: Luận văn: Thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.

Qua thăm dò ý kiến cũng như qua việc dự giờ, thăm lớp trong từng học kỳ và từng năm học, được biết các giảng viên trong Tổ tiếng Anh chủ yếu thường sử dụng các phương giảng dạy bộ môn cho sinh viên tại các khoa không chuyên ngữ như sau:

Tổng hợp các số liệu thăm dò được cho thấy, có 38.89% trong tổng số 18 giảng viên của Tổ tiếng Anh thường sử dụng kết hợp phương pháp Ngữ pháp – Dịch với Phương pháp Giao tiếp để thực hiện giảng dạy bộ môn. Việc thực hiện cả hai phương pháp trên, nếu được tiến hành một cách thành thạo, thì hiệu quả dạy và học của thầy và trò rất cao, đồng thời có tác dụng gây hứng thú và kích thích tính tích cực học tập của học sinh. vấn đề này đòi hỏi giáo viên phải nắm chắc kiến thức về ngôn ngữ và có trình độ vững vàng về cả 4 kỹ năng giao tiếp nghe, nói, đọc, viết. 22.22% giảng viên sử dụng Phương pháp Ngữ pháp – Dịch với Phương pháp Nghe – Nói. Sự kết hợp của hai phương pháp dạy học này cũng đem lại hiệu quả và có thể nâng cao được hai kỹ năng nghe – nói cho sinh viên. Vẫn còn 27.78% giảng viên thường sử dụng đơn thuần Phương pháp Ngữ pháp -Dịch, họ chủ yếu là “giảng giải”, “định nghĩa cụm từ” và cho sinh viên làm bài tập trong sách. Theo ý kiến của một số giảng viên này, việc sử dụng Phương pháp Ngữ pháp – Dịch giúp họ chủ động thời gian và không phải đầu tư nhiều cho bài giảng. Hình thức này dễ gây nhàm chán và làm mất đi tính tích cực trong việc học ngoại ngữ của sinh viên. Chỉ có 11.11% giảng viên sử dụng Phương pháp Giao tiếp với giáo cụ trực quan để giảng dạy bộ môn. Hình thức này khá hấp dẫn sinh viên và có hiệu quả rất cao trong việc dạy và học ngoại ngữ.

Để nắm rõ hơn việc sử dụng phương pháp giảng dạy của các giáo viên, chúng ta hãy xem ý kiến của 692 sinh viên năm thứ nhất và năm thứ hai tại các khoa không chuyên ngữ nhận xét về cách dạy của các thầy cô bộ môn, đã có 16.04% sinh viên cho rằng, giáo viên không có phương pháp giảng dạy bộ môn và 13,29% sinh viên đánh giá về cách dạy của thầy cô không hấp dẫn, dễ buồn ngủ. Thực tế, một số giảng viên sử dụng tiếng Việt khá nhiều trong tiết dạy ngoại ngữ, tập trung làm bài tập trong sách và giảng giải quá nhiều, không còn thời gian cho sinh viên luyện tập nghe, nói…Chính điều đó dễ gây nhàm chán, không kích thích việc học ngoại ngữ trong sinh viên, dẫn đến hiệu suất giảng dạy thấp. Trong việc tổ chức lên lớp, rất ít giáo viên sử dụng giáo cụ trực quan trong giảng dạy bộ môn. Hiện tượng “dạy chay” còn rất phổ biến. Với tình hình này, đơn vị đã có chủ trương thực hiện cải tiến phương pháp giảng dạy bộ môn, tổ chức dự giờ “dạy giỏi”, sử dụng các phương tiện giảng dạy hiện đại để tiến tới yêu cầu thực hiện cải tiến phương pháp giảng dạy bộ môn theo hướng giao tiếp tích cực trong toàn thể đội ngũ giảng viên của đơn vị. Thực hiện việc đổi mới phương pháp giảng dạy bộ môn là một việc hết sức nan giải. Điều đó phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trước hết là đòi hỏi ở trình độ và năng lực của giáo viên, đòi hỏi về giáo trình, tài liệu, đòi hỏi về nhu cầu cơ sở phòng học, về công cụ hỗ trợ giảng dạy hiện đại v.v… Luận văn: Thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.

2.1.8. Thực trạng quản lý việc đánh giá kết quả học tập của sinh viên:

Đơn vị đã thực hiện tốt các qui định của Bộ về thi cử từ các khâu ra đề, duyệt đề, tổ chức coi thi và chấm thi, bên cạnh đó còn phối hợp nhiều hình thức để đánh giá kết quả học tập của sinh viên. Hiện tại, hình thức thi, kiểm tra bộ môn của sinh viên tại các khoa không chuyên ngữ còn đơn thuần là kiểm tra viết. Rõ ràng, chúng ta chưa đưa ra được phương pháp kiểm tra đặc thù của bộ môn, chỉ mới kiểm tra, đánh giá được kỹ năng đọc hiểu và kỹ năng viết của học sinh, còn kỹ năng nghe và nói không được phát huy. Hình thức thi, kiểm tra như vậy chưa chú ý đến việc rèn luyện cả 4 kỹ năng giao tiếp như mục tiêu môn học đã đề ra.

Mỗi học phần đều tổ chức kiểm tra điều kiện. Sinh viên phải đạt điểm điều kiện mới được dự thi kết thúc học phần. Học phần nào không đạt phải học và thi trả nợ đúng theo qui chế đã định.

Hầu hết các giảng viên (chiếm 83.33% trên tổng số 18 giảng viên) đều thường xuyên kiểm tra việc tự học của sinh viên. Chỉ có 16.67% giảng viên thỉnh thoảng mới thực hiện công việc này ở trên lớp. Không thường xuyên kiểm tra việc tự học của sinh viên là một thiếu sót lớn của người giáo viên.

  • Việc kiểm tra, đánh giá trong quá trình giảng dạy cũng được các giảng viên bộ môn thực hiện với nhiều hình thức như sau:

Từ bảng 11 cho thấy, 22.22% giảng viên thường kiểm tra bằng hình thức vấn đáp, hình thức này có ưu điểm phát huy được 2 kỹ năng nghe và nói cho sinh viên và chỉ có những giáo viên có trình độ nghe, nói tốt mới hay dùng. 27.78% giảng viên dùng hình thức kiểm tra viết, 11.11% giảng viên sử dụng kiểm tra trắc nghiệm, hai hình thức kiểm tra này đòi hỏi giáo viên phải đầu tư nhiều thời gian. Còn khá đông giáo viên (chiếm 38.89%) ngại mất thời gian, thường cho sinh viên làm bài tập trong sách, hình thức này rất đơn điệu, dễ gây nhàm chán cho sinh viên và làm cho sinh viên học tập rất thụ động, không phát huy được các kỹ năng giao tiếp ngôn ngữ một cách tích cực.

Việc giúp sinh viên làm quen với nghiên cứu khoa chưa được thực hiện. Nay việc giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành đã bắt đầu được thực hiện ở một số khoa, vấn đề giúp sinh viên sử dụng kiến thức tiếng Anh làm các bài tập lớn hay tiểu luận, phục vụ cho học tập và nghiên cứu khoa học cần phải đặt ra. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.

Việc đánh giá kết quả kiểm tra điều kiện và thi học phần đều được tổ chức mang tính khách quan, phân công chấm chéo trong từng cặp giáo viên, rà soát lại điểm số và tổng hợp phân loại kết quả học tập bộ môn của sinh viên mỗi khoa trong từng năm học. (Xem phụ lục 5 – Kết quả học tập bộ môn Anh văn của sinh viên mỗi khoa trong 4 năm học: 2022-2023, 2023-2024, 2024-2025 và 2025-2026). Điểm số đó mới chỉ đánh giá được 2 kỹ năng đọc hiểu và viết của sinh viên.

Chúng tôi có thể tổng hợp những con số về kết quả học tập bộ môn của sinh viên tại 12 khoa không chuyên ngữ trong toàn trường từ năm học 2022-2023 đến năm học 2025-2026, để thấy rõ kết quả học tập của sinh viên trong từng giai đoạn:

Chúng ta hãy theo dõi ý kiến của sinh viên, tự đánh giá về trình độ của mình với từng kỹ năng giao tiếp ngôn ngữ qua bảng tổng hợp sau: (Kết quả điều tra qua 324 sinh viên năm thứ nhất và 368 sinh viên năm thứ hai của các khoa không chuyên ngữ -năm học 2025-2026.

Qua bảng tổng hợp trên, chúng ta có thể nhận thấy kỹ năng đọc và viết tiếng Anh của sinh viên năm thứ nhất và năm thứ hai tại các khoa không chuyên ngữ tương đối khá, còn kỳ năng nghe và nói rất kém:

  • Kỹ năng nghe: Chỉ có khoảng 1% sinh viên đạt khá tốt, gần 55%% sinh viên đạt trung bình và khoảng 38% sinh viên còn yếu về kỹ năng nghe.
  • Kỹ năng nói: Gần 10% sinh viên đạt khá tốt, trên 57% sinh viên đạt trung bình và khoảng 32% sinh viên còn yếu về kỹ năng nói.
  • Kỹ năng đọc: Trên 33% sinh viên có trình độ khá tốt, trên 56% sinh viên đạt trung bình và gần 10% sinh viên còn yếu về kỹ năng đọc.
  • Kỹ năng viết: Trên 26% sinh viên đạt khá tốt, 60% sinh viên có trình độ trung bình và trên 13% sinh viên còn yếu về kỹ năng viết.

Vì vậy, cần phải đề ra giải pháp nào để có cách dạy tốt và hiệu quả hơn nhằm nâng cao chất lượng dạy và học của thầy và trò, phải đổi mới cách kiểm tra, đánh giá để thực hiện cân đối trong việc rèn luyện cả 4 kỹ năng giao tiếp ngôn ngữ. Phải thực hiện kiểm tra, đánh giá với nhiều hình thức, phối hợp kiểm tra trắc nghiệm, kiểm tra viết và kiểm tra vấn đáp để việc đánh giá kết quả học tập của sinh viên được khách quan và thực chất hơn.

KẾT LUẬN: Luận văn: Thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.

Có thể kết luận về thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy bộ môn tiếng Anh ở các khoa không chuyên ngữ tại Trường Đại học Sư phạm – Thành phố Hồ Chí Minh như sau:

Việc quản lý mục tiêu môn học tiếng Anh tại các khoa không chuyên ngữ, xét về các mặt: kiến thức, kỹ năng, thái độ theo yêu cầu đào tạo chung của giáo dục đại học chưa đạt yêu cầu, chưa đáp ứng nhu cầu của xã hội, chưa theo kịp tốc độ phát triển không ngừng của nền kinh tế – xã hội hiện nay.

Nội dung, chương trình bộ môn tiếng Anh dành cho sinh viên của các khoa không chuyên ngữ còn trong tình trạng thực hiện giảng dạy tạm thời vì chưa biên soạn đủ giáo trình tiếng Anh chuyên ngành cho tất cả 12 khoa trong toàn trường. Nội dung, chương trình bộ môn như vậy chưa có thể đáp ứng nhu cầu sử dụng tiếng Anh phục vụ học tập và nghiên cứu của sinh viên,

Việc kiểm tra, đánh giá hiệu quả giảng dạy của các giảng viên bộ môn tuy được tổ chức đều trong từng năm học, đạt được hiệu quả nhất định, năng lực giảng dạy của giáo viên có tiến bộ hơn, chất lượng giảng dạy có phần nâng cao hơn, nhưng có lúc, có trường hợp vẫn còn mang tính chiếu lệ, khó giải quyết do phụ thuộc vào cơ chế của Nhà nước. Chính vì vậy, việc quản lý cách kiểm tra, đánh giá hiệu quả giảng dạy chưa mang lại hiệu quả cao.

Cơ sở vật chất và trang thiết bị phục vụ cho việc dạy và học bộ môn còn quá đơn sơ, việc sử dụng công nghệ mới trong giảng dạy của thầy và tham khảo tài liệu phục vụ học tập, nghiên cứu của trò còn quá hạn chế. Cần phải khắc phục lối “dạy chay” như hiện nay mới có thể kích thích sinh viên hứng thú đối với môn học, tạo cho họ lối học giao tiếp tích cực, chủ động tiếp nhận kiến thức, phục vụ chuyên môn mới đạt hiệu quả.

Việc tổ chức dạy học bộ môn chưa được khoa học. Sĩ số sinh viên quá đông trong một lớp học ngoại ngữ cũng ảnh hưởng hạn chế đến hiệu suất rèn luyện các kỹ năng giao tiếp ngôn ngữ của sinh viên. Việc tổ chức giảng dạy của khá đông giáo viên bộ môn chỉ đơn thuần thực hiện cho sinh viên nghe giảng, thông hiểu, ghi chép và làm bài tập trong sách. Việc thực hành các kỹ năng giao tiếp ngôn ngữ, lập luận, thảo luận, trình bày giải quyết vấn đề cho sinh viên trong phạm vi môn học còn quá yếu. Việc yêu cầu và hướng dẫn cho sinh viên đọc thêm tài liệu phục vụ cho học tập và nghiên cứu khoa học chưa được phát huy đều ở mọi lớp, mọi khoa, cho nên đa số sinh viên không có cách học tích cực, không thể mở rộng kiến thức môn học, chỉ quanh quẩn với mỗi nội dung trong giáo trình đang học mà thôi. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.

Đội ngũ giảng viên bộ môn tiếng Anh phần lớn đều là giảng viên tiếng Nga chuyển sang sau khi tốt nghiệp thêm bằng cử nhân Anh văn tại chức (từ năm học 2021-2022), chỉ có duy nhất 01 giảng viên tiếng Anh được đào tạo chính qui. Song, với tinh thần nỗ lực phấn đấu rất cao trong việc bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đến năm 2030, với đội ngũ 19 giảng viên, Tổ tiếng Anh sẽ có 15.79% giảng viên đạt trình độ học vị Tiến sĩ và 52.63% giảng viên đạt trình độ học vị Thạc sĩ. Theo 10 tiêu chí đánh giá chất lượng và điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo đại học – thực hiện trong giai đoạn 2025-2030, thì Tổ tiếng Anh vẫn chưa thể đạt được tỉ lệ cán bộ giảng dạy có học vị Tiến sĩ và Thạc sĩ theo đúng qui chuẩn đối với một đơn vị giảng dạy của trường đại học sư phạm mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đề ra.

Tổng hợp lại vẫn còn 1/3 trong tổng số 18 giảng viên bộ môn chỉ sử dụng đơn thuần Phương pháp Ngữ pháp – Dịch, họ chủ yếu “giảng giải”, “định nghĩa cụm từ” và cho sinh viên làm bài tập trong sách. Chính vì vậy, đã có 16.04% trong tổng số 692 sinh viên (được chọn ngẫu nhiên) nhận xét rằng, giáo viên không có phương pháp dạy ngoại ngữ, và 13.29% sinh viên đánh giá về cách dạy của thầy cô không hấp dẫn, dễ buồn ngủ. Thực tế, một số giảng viên sử dụng tiếng Việt khá nhiều trong tiết dạy ngoại ngữ, giảng giải quá nhiều, không dành thời gian cho sinh viên luyện tập nghe -nói. Hiện tượng “dạy chay” còn rất phổ biến, rất ít giáo viên sử dụng giáo cụ trực quan trong việc tổ chức lên lớp. Chính điều đó dễ gây nhàm chán, không kích thích việc học ngoại ngữ trong sinh viên, dẫn đến hiệu suất giảng dạy thấp. Đơn vị đã có chủ trương thực nghiệm cải tiến phương pháp giảng dạy bộ môn, tổ chức dự giờ “dạy giỏi”, sử dụng các phương tiện giảng dạy hiện đại để tiến tới yêu cầu thực hiện cải tiến phương pháp dạy học trong toàn đơn vị. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.

Đơn vị đã thực hiện tốt các qui định của Bộ, của Trường về thi cử từ các khâu ra đề, duyệt đề, coi thi, chấm thi. Song, hiện tại, hình thức thi, kiểm tra bộ môn cho sinh viên tại các khoa không chuyên ngữ còn đơn thuẫn là kiểm tra viết. Hình thức thi, kiểm tra như vậy chưa đưa ra được phương pháp kiểm tra đặc thù của bộ môn, chưa chú ý rèn luyện cả 04 kỹ năng giao tiếp ngôn ngữ như mục tiêu môn học đã đề ra mà chỉ mới kiểm tra được kỹ năng đọc hiểu và viết còn kỹ năng nghe và nói của sinh viên không được phát huy. Việc kiểm tra, đánh giá trong quá trình giảng dạy trên lớp được các giảng viên thực hiện với nhiều hình thức: viết, vấn đáp, trắc nghiệm, song hình thức cho sinh viên làm bài tập trong sách vẫn chiếm 40% trong tổng số 18 giảng viên bộ môn.

Trong những năm vừa qua, việc giảng dạy bộ môn tiếng Anh cho sinh viên ở các khoa không chuyên ngữ tại Trường Đại học Sư phạm – Thành phố Hồ Chí Minh đã có những chuyển biến tích cực. Chương trình giảng dạy, kiểm tra, đánh giá được xem là những khâu đột phá để từng bước nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn. Từ năm học 2024- 2025, tích cực thực hiện việc cải tiến nội dung, chương trình giảng dạy ngoại ngữ cho sinh viên của các khoa không chuyên ngữ, tiến hành thực nghiệm dạy tiếng Anh chuyên ngành, phân loại trình độ đối với sinh viên học tiếng Anh, bố trí những sinh viên chưa đủ trình độ tiếng Anh vào học tại các lớp dạy tiếng Trung hoặc tiếng Pháp; đồng thời từ năm học 2025-2026, bắt đầu thực nghiệm cải tiến phương pháp giảng dạy bộ môn, tiến tới yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học trong toàn thể đội ngũ giảng viên của đơn vị. Việc nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ được đề cao. Công tác quản lý chuyên môn, kiểm tra, đánh giá được thực hiện thường xuyên, chú trọng đến chất lượng dạy và học của thầy lẫn trò. Đôn đốc, nhắc nhở những trường hợp giáo viên còn chưa nghiêm túc trong việc thực hiện các qui chế đào tạo, xử lý nghiêm những trường hợp sinh viên vi phạm qui chế học tập và thi cử. Thái độ học tập bộ môn của sinh viên cũng có chuyển biến tốt hơn, tình hình dạy và học của thầy và trò dần dần đi vào thế ổn định. Những thành công nêu trên trước hết là do có sự nỗ lực rất cao của đội ngũ giảng viên bộ môn, bên cạnh đó phải nói đến sự góp sức không thể thiếu được của các cán bô phụ trách chuyên môn đã cộng tác tích cực cùng Lãnh đạo đơn vị tìm ra hướng đi đúng đắn và có hiệu quả trong việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của mình. Và cũng không thể phủ nhận được sự chỉ đạo đúng đắn của Ban giám hiệu trong việc thực hiện mục tiêu môn học, sự giúp đỡ, tương trợ của các khoa bạn trong việc biên soạn giáo trình tiếng Anh chuyên ngành, thực hiện cải tiến nội dung, chương trình môn học với mong muốn đáp ứng với mục tiêu đào tạo sinh viên của nhà trường sư phạm theo đúng mục tiêu đào tạo chung của Bộ Giáo dục và Đào tạo đề ra, đáp ứng với nhu cầu đòi hỏi ngày càng cao của xã hội về trình độ của đội ngũ cán bộ khoa học trong nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa.

Đấy là những tín hiệu đáng khởi sắc, song, đứng về góc độ của những người làm công tác giảng dạy, những người làm công tác quản lý việc giảng dạy ngoại ngữ cho sinh viên tại các khoa không chuyên ngữ trong một trường đại học, vấn đề chất lượng học ngoại ngữ của sinh viên tại các khoa không chuyên ngữ – Trường Đại học Sư phạm -Thành phố Hồ Chí Minh còn bị hạn chế nhiều. Để khắc phục tình trạng trên đòi hỏi chúng ta nhất thiết phải tìm nguyên nhân để tác động nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý việc giảng dạy bộ môn tiếng Anh ở các khoa không chuyên ngữ trong toàn trường và đảm bảo cho chất lượng dạy và học ngoại ngữ có hiệu quả thật sự.

2.2. PHÂN TÍCH NGUYÊN NHÂN CỦA THỰC TRẠNG Luận văn: Thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.

2.2.1. Nguyên nhân từ việc chỉ đạo tổ chức giảng dạy bộ môn ngoại ngữ ở các khoa không chuyên ngữ tại các trường đại học:

Các trường cao đẳng và đại học đã đưa ngoại ngữ vào chương trình giảng dạy từ những năm 50-60. Cơ cấu ngoại ngữ được giảng dạy chủ yếu là tiếng Nga, tiếng Trung quốc, tiếng Anh, tiếng Pháp, sau đó là Hán nôm. Từ năm 1979, các trường cao đẳng và đại học không dạy tiếng Trung quốc nữa và từ năm 2015 đến nay, nhu cầu học tiếng Nga giảm dần, ngược lại tiếng Anh và tiếng Pháp lại tăng lên. Nhìn chung, hiện nay, tình hình dạy và học ngoại ngữ trong các trường cao đẳng và đại học đã có nề nếp. Tuy nhiên do giáo trình chưa thống nhất, việc lựa chọn giáo trình giảng dạy bộ môn còn mang tính tùy tiện, mỗi nường tự lựa chọn cho mình một chương trình giảng dạy bộ môn ngoại ngữ riêng, đặc biệt, cơ cấu môn học ngoại ngữ chưa được qui định cụ thể cho từng khối trường, từng chuyên ngành và chưa liên thông với chương trình bộ môn ngoại ngữ ở phổ thông. Do đó, hiệu quả của việc dạy và học ngoại ngữ ở các trường còn thấp, nhiều sinh viên sau khi tốt nghiệp cao đẳng, đại học vẫn chưa sử dụng được ngoại ngữ đã học trong trường và ngay cả trong công tác chuyên môn.

Chương trình bộ môn ngoại ngữ với thời lượng 300 tiết cho cả khóa học do Bộ Giáo dục và Đào tạo qui định chưa đáp ứng được nhu cầu sử dụng tiếng Anh của sinh viên, kể cả tiếng Anh giao tiếp cơ bản lẫn tiếng Anh sử dụng trong chuyên môn.

Rõ ràng, qui trình dạy học bộ môn như hiện nay là chưa phù hợp, chưa đáp ứng với nhu cầu đòi hỏi của đối tượng sinh viên ở các khoa không chuyên ngữ trong quá trình tìm đến kiến thức để đáp ứng nhu cầu hội nhập và phát triển kinh tế – xã hội.

2.2.2. Nguyên nhân từ việc chỉ đạo tổ chức hoạt động giảng dạy:

  • Trước hết chung ta hãy xét đến nguyên nhân từ mục tiêu dạy học bộ môn tiếng Anh tại các khoa không chuyên ngữ:

Tham khảo ý kiến của 692 sinh viên được chọn ngẫu nhiên tại các khoa không chuyên ngữ, đã có đến 49.13% sinh viên nhận thức được sự cần thiết của bộ môn tiếng Anh đối với việc học tập và nghiên cứu của bản thân họ trong thực tại cũng như trong tương lai, 37.72% sinh viên cho rằng tiếng Anh là khá cần thiết đối với họ, vẫn còn 9.68% sinh viên nhận xét tiếng Anh ít cần thiết đối với họ và 3.47% sinh viên cho rằng tiếng Anh chẳng có tí cần thiết nào đối với họ. Đó là điều chúng ta cần phải suy nghĩ. Phần lớn sinh viên vẫn biết, tiếng Anh rất cần thiết cho họ, song chỉ có 21.10% sinh viên là có hứng thú đối với môn học, còn hơn 78% sinh viên không có hứng thú đối với bộ môn ngoại ngữ vì nhiều lý do. Cái chính là do nội dung, chương trình bộ môn tiếng Anh hiện tại ở một số khoa không chuyên ngữ chưa phù hợp với đối tượng sinh viên như họ, chưa đáp ứng với đòi hỏi ngày càng phát triển của xã hội, chưa đáp ứng với mục tiêu đào tạo sinh viên đại học trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.

  • Nguyên nhân từ bản thân nội dung, chương trình của môn học:

Chương trình tiếng Anh giảng dạy cho sinh viên ở các khoa không chuyên ngữ tại các trường đại học cần phải đạt những mục tiêu giáo dục theo yêu cầu chung của xã hội và mục tiêu đào tạo do Bộ Giáo dục và Đào tạo qui định. Thế nhưng, hiện tại, nội dung, chương trình bộ môn ở một số khoa không chuyên ngữ trong trường còn trong tình trạng thực hiện tạm thời, chưa phù hợp với trình độ của người học, chưa đáp ứng với yêu cầu đào tạo con người lao động của xã hội hiện nay. Nội dung, chương trình đó chưa đáp ứng được nhu cầu giúp sinh viên sử dụng tiếng Anh trong giao tiếp và cả trong chuyên môn, đặc biệt là thiếu hẳn chương trình tiếng Anh chuyên ngành cho sinh viên ở một số khoa. Việc thực hiện giảng dạy với nội dung, chương trình môn học như vậy không đem lại lợi ích thực tiễn trong việc sử dụng ngoại ngữ phục vụ học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên và chính điều đó đã làm mất đi sự hứng thú học tập của sinh viên đối với môn học, hạn chế nhiều đến hiệu quả của việc dạy và học ngoại ngữ của cả thầy và trò.

  • Nguyên nhân từ cơ sở vật chất và phương tiện kỹ thuật phục vụ dạy và học bộ môn ngoại ngữ:

Cơ sở lớp học của trường còn ở trong tình trạng tạm thời cho nên chưa đảm bảo đúng qui chuẩn đề ra đối với mỗi cơ sở đào tạo (Theo 10 liêu chí đánh giá chất lượng và điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo đại học). Hệ thống điện và ánh sáng chưa đảm bảo cho môi trường lớp học. Việc sử dụng micro là cần thiết, song thường bị nhiễu giữa các lớp cũng gây ảnh hưởng không tốt cho việc dạy và học của thầy và trò, việc nghe thông tin từ giảng viên không chính xác là một điều tai hại, nhất là đối với môn học ngoại ngữ. Vấn đề số lượng sinh viên trong một lớp học ngoại ngữ là điều cần quan tâm. Lớp đông sẽ ảnh hưởng hạn chế đến hiệu suất của việc luyện tập các kỹ năng giao tiếp ngôn ngữ cho sinh viên và tất nhiên hạn chế đến hiệu quả dạy và học của cả thầy lẫn trò đối với bộ môn.

Phương tiện kỹ thuật hiện đại phục vụ cho mỗi lớp học ngoại ngữ còn quá thiếu, một phòng nghe nhìn không thể phục vụ đủ cho số lượng sinh viên quá đông (trên 1800 sinh viên năm thứ nhất và năm thứ hai) của 12 khoa không chuyên ngữ trong một năm học. Việc sử dụng đèn chiếu hay máy vi tính để giảng dạy hiện chưa đủ khả năng để trang bị cho mỗi lớp học ngoại ngữ. Việc giảng dạy ngoại ngữ với phương tiện, trang thiết bị như hiện nay vẫn không thể đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi về trình độ ngày càng cao của sinh viên trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

  • Nguyên nhân từ việc sử dụng chưa hợp lý đội ngũ giảng viên bộ môn:

Tiềm lực và khả năng của đội ngũ cán bộ giảng dạy là một yếu tố rất quan trọng quyết định chất lượng đào tạo học sinh của mỗi trường học. Chủ trương tích cực bồi dưỡng, nâng cao trình độ của cán bộ giảng dạy đã được Tổ Ngoại ngữ kiên trì và quyết tâm thực hiện. Với một thời gian ngắn (từ năm 2021 đến nay), đơn vị đã phấn đấu rất cao trong việc học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ và đảm trách tốt công việc giảng dạy bộ môn tiếng Anh cho sinh viên của các khoa không chuyên ngữ trong toàn trường. Không những thế, đơn vị đã có thành tích rất đáng trân trọng trong việc biên soạn thành công một số giáo trình tiếng Anh chuyên ngành và đưa vào giảng dạy, một công việc mà hầu hết các trường sư phạm trong cả nước chưa thực hiện được. Những việc làm đó đã được Ban giám hiệu và các Phòng Ban trong Trường đánh giá cao và qua đó cũng khẳng định được vị trí tất yếu của Tổ Ngoại ngữ chuyên ngành trong Trường Đại học Sư phạm – Thành phố Hồ Chí Minh.

Song, bên cạnh đó, cũng còn có không ít những tồn tại, ảnh hưởng không tốt, hạn chế đến chất lượng dạy và học bộ môn. Trước yêu cầu đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp giảng dạy, những yếu kém của đội ngũ giảng viên càng trầm trọng. Trung thực mà nói, một số giáo viên chưa chăm lo trau dồi chuyên môn để giảng dạy tốt, còn lo “chạy sô” quá nhiều, chưa tập trung sức lực cho công tác giảng dạy, chuẩn bị giáo án không đầy đủ, cho nên không tránh khỏi những sai sót trong việc tổ chức giảng dạy trên lớp. Kỷ cương dạy và học chưa nghiêm, hiện tượng dạy dồn giờ vẫn còn, ra vào lớp tùy tiện, những điều đó cũng ảnh hưởng hạn chế đến chất lượng dạy và học của thầy và trò. Một số giảng viên còn ngại sử dụng các thiết bị hiện đại phục vụ cho dạy học, hiện tượng “dạy chay” còn quá phổ biến, điều đó không tạo cho người học lối học giao tiếp tích cực, dễ làm cho sinh viên nhàm chán đối với môn học. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.

Những yếu kém về phương pháp giảng dạy, năng lực chuyên môn thiếu cập nhật, trình độ chưa phù hợp với yêu cầu đổi mới về nội dung, chương trình, sự hẫng hụt đó của một số giảng viên, chính là nguyên nhân nghiêm trọng nhất, hạn chế đến hiệu quả của việc dạy và học bộ môn.

  • Nguyên nhân từ việc thực hiện kiểm tra, đánh giá chưa đảm bảo tính đặc thù của bộ môn:

Hình thức kiểm tra, thi học phần bộ môn mới đơn thuần là kiểm tra viết. Hình thức đó chưa đưa ra được phương pháp kiểm tra đặc thù của bộ môn, chỉ mới kiểm tra, đánh giá được kỹ năng đọc hiểu và kỹ năng viết của học sinh, còn kỹ năng nghe và nói chưa được phát huy. Muốn đánh giá đúng chất lượng học tập của sinh viên, không chỉ đưa ra các tiêu chí đánh giá thích hợp mà quan trọng là phải xây dựng một hệ thống thi cử và phương thức đánh giá như thế nào để đánh giá xác thực theo đúng các tiêu chí đặt ra. Và phải tăng cường công tác giám sát hoạt động tổ chức thi, kiểm tra, tránh tình trạng cán bộ coi thi nhân nhượng sinh viên, hoặc sinh viên thiếu nghiêm túc trong thi cử.

2.2.3. Nguyên nhân từ việc chỉ đạo tổ chức hoạt động học tập:

Để hiểu rõ nguyên nhân từ việc tổ chức chỉ đạo học tập bộ môn ngoại ngữ tại các khoa không chuyên ngữ, chúng tôi đã thăm dò qua 692 sinh viên của 12 khoa không chuyên ngữ trong toàn trường (được chọn ngẫu nhiên) và kết quả thu được như sau:

  • Thái độ học môn tiếng Anh của sinh viên: Luận văn: Thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.

Theo số liệu của bảng 14 cho thấy, 19.08% sinh viên rất tích cực học tiếng Anh. Theo họ, nguyên nhân khiến họ rất tích cực học tập là để mở mang kiến thức, phục vụ cho học tập và nghiên cứu khoa học, để biết nghe, nói, đọc, viết bằng tiếng Anh, để có cơ hội làm việc ở các công ty liên doanh hoặc công ty của nước ngoài   60.84% sinh viên có thái độ rất trung bình chủ nghĩa và cho rằng, họ phải học tiếng Anh vì đó là chương trình bắt buộc trong khóa học. Còn 20.08% sinh viên thì rất thụ động trong việc học ngoại ngữ vì tiếng Anh quá khó với họ hoặc họ không có năng khiếu học ngoại ngữ   Rõ ràng, thái độ trung bình chủ nghĩa và rất thụ động trong học tập đối với bộ môn tiếng Anh của phần đông sinh viên đã nêu trên cũng làm mất đi tính tích cực và sự hứng thú học ngoại ngữ của sinh viên.

  •  Ý thức học bài và làm bài tập của sinh viên:

Theo bảng trên cho thấy, trong tổng số 692 sinh viên của 12 khoa không chuyên ngữ được chọn ngẫu nhiên thì có 48.99% sinh viên thường xuyên học bài và làm bài tập, 45.52% sinh viên không thường xuyên và vẫn còn 5.49% chưa bao giờ học bài và làm bài tập. Rõ ràng, ý thức học bài và làm bài tập của đa số sinh viên còn rất kém. Điều đổ làm hạn chế nhiều đốn hiệu quả của việc dạy và học ngoại ngữ trong sinh viên.

  • Việc chuẩn bị bài của sinh viên trước khi lên lớp:

Theo số liệu ở bảng 16 cho thấy, 52.60% sinh viên thường xuyên chuẩn bị bài trước khi lên lớp, 41.47% sinh viên không thường xuyên lắm và 5.93% sinh viên không hề chuẩn bị bài trước khi lên lớp. Như vậy, còn khoảng 507( sinh viên chuẩn bị bài trước khi lên lớp chưa được chu đáo. Việc chuẩn bị bài không thường xuyên sẽ dẫn đến tình trạng hổng kiến thức và sau đó là chán học và tất nhiên chất lượng dạy và học ngoại ngữ sẽ không cao.

  • Khả năng vận dụng các kỹ năng giao tiếp tiếng Anh trong học tập, trong nghiên cứu và trong giao tiếp của sinh viên như sau:

Theo số liệu trong bảng 17 chúng ta có thể nhận thấy khả năng vận dụng các kỹ năng giao tiếp bằng tiếng Anh của sinh viên như sau: Luận văn: Thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.

Trong học tập: chỉ 6.07% sinh viên có khả năng vận dụng các kỹ năng giao tiếp bằng tiếng Anh tốt, 11.71% sinh viên đại khá, 62.43% sinh viên đại trung bình và 19.79% sinh viên còn yếu.

Trong nghiên cứu: 2.02% sinh viên biết vận dụng các kỹ năng giao tiếp bằng tiếng Anh rất tốt, 6.07% sinh viên đạt khá, 50.00% sinh viên đạt trung bình và có đến 41,91% sinh viên rất yếu về khả năng vận dụng các kỹ năng giao tiếp bằng tiếng Anh trong nghiên cứu khoa học.

Trong giao tiếp: 6.07% sinh viên có khả năng rất tốt, 8.09% sinh viên đạt khá, 57,08% sinh viên đạt trung bình và 28.76% sinh viên còn yếu về khả năng vận dụng các kỹ năng giao tiếp bằng tiếng Anh trong giao tiếp.

Kết quả thăm dò ở trên cho thấy, khả năng vận dụng các kỹ năng giao tiếp tiếng Anh đã học của sinh viên trong học tập, trong nghiên cứu cũng như trong giao tiếp còn rất hạn chế. Hạn chế này một phần cũng là do sinh viên có thái độ chưa đúng đắn đối với việc học ngoại ngữ, ý thức học tập bộ môn chưa cao, chưa thấy được tầm quan trọng của tiếng Anh đối với chuyên ngành được đào tạo và việc nghiên cứu của mình trong tương lai.

  • Nguyên nhân khiến sinh viên không thích học tiếng Anh có rất nhiều lý do:

Các số liệu ở bảng trên đã chỉ rõ: 25.73% sinh viên tự nhận thấy bản thân họ không có năng khiếu học ngoại ngữ, 16.04% sinh viên có ý kiến, do giáo viên không có phương pháp giảng dạy và 13.29% sinh viên nhận xét, giáo viên giảng bài không hấp dẫn, dễ buồn ngủ, 11.42% sinh viên cho rằng, tiếng Anh quá khó đối với họ, 2.02% sinh viên nhận thấy, tiếng Anh không giúp ích gì cho họ, 10.40% sinh viên có những ý kiến khác như, về giáo trình chưa phù hợp, hoặc không đủ thời gian để học, hoặc do họ bị hổng kiến thức từ phổ thông chỉ có 21.10% sinh viên là không có ý kiến gì. Rõ ràng, với những con số nêu trên, số sinh viên có hứng thú đối với môn học ngoại ngữ còn quá thấp, chỉ có 21.10% trong tổng số 692 sinh viên. Có đến 78.90% sinh viên không hứng thú đối với môn học với những lý do đã nêu trên. Sự không hứng thú đối với môn học cũng hạn chế nhiều đến hiệu quả học tập bộ môn trong sinh viên.

Phải chăng, nguyên nhân dẫn đến hiệu quả dạy và học bộ môn còn thấp, ngoài những nguyên nhân như do nội dung học tập chưa đáp ứng với nhu cầu của người học, cách thức tổ chức dạy học của giáo viên chưa có sự hấp dẫn, lôi cuốn người học, còn phải nói đến nguyên nhân rất lớn, đó là do sinh viên chưa thể hiện được ý thức, thái độ học tập đúng đắn đối với bộ môn, chưa thấy được sự cần thiết của bộ môn ngoại ngữ đối với hoạt động nghề nghiệp của mình. Ngoài ra, việc sử dụng tài liệu phục vụ cho học tập bộ môn của sinh viên còn quá nghèo nàn, phần đông sinh viên không tham khảo thêm sách báo, tài liệu nào khác ngoài mỗi giáo trình bộ môn. Học như vậy thì làm sao mở rộng được kiến thức, không chuyên sâu thì lấy đâu kiến thức để độc lập suy nghĩ, để chủ động giành lấy tri thức, để tích cực chiếm lĩnh khoa học.

KẾT LUẬN: Luận văn: Thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.

Thực trạng của công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh ở các khoa không chuyên ngữ tại Trường Đại học Sư phạm – Thành phố Hồ Chí Minh có những ưu điểm cần phát huy nhưng cũng còn nhiều vấn đề cần phải lưu tâm. Chúng tôi chỉ xin nêu ra những nguyên nhân cơ bản nhất của thực trạng trên:

Nguyên nhân từ việc chỉ đạo tổ chức giảng dạy ngoại ngữ ở các khoa không chuyên ngữ tại các trường đại học.

  • Cơ cấu bộ môn ngoại ngữ chưa được qui định cụ thể cho từng khối trường, từng chuyên ngành và chưa liên thông với chương trình của phổ thông. Do đó, hiệu quả của việc dạy và học ngoại ngữ còn thấp.
  • Thời lượng (300 tiết) dành cho bộ môn ngoại ngữ chưa đáp ứng nhu cầu sử dụng tiếng Anh của sinh viên, kể cả tiếng Anh giao tiếp cơ bản lẫn tiếng Anh sử dụng trong chuyên môn.

Nguyên nhân từ việc chỉ đạo hoạt động giảng dạy.

  • Nội dung, chương trình bộ môn chưa phù hợp với đối tượng người học, chưa đem lại lợi ích thực tiễn cho sinh viên của các khoa không chuyên ngữ trong việc sử dụng ngoại ngữ phục vụ học tập và nghiên cứu.
  • Cơ sở vật chất và phương tiện kỹ thuật phục vụ dạy và học bộ môn chưa đảm bảo đúng qui chuẩn đề ra đối với mỗi cơ sở đào tạo.
  • Trình độ, năng lực chuyên môn và phương pháp giảng dạy của một số giảng viên còn hạn chế, chưa phù hợp với yêu cầu đổi mới về nội dung, chương trình của môn học.
  • Hình thức thi, kiểm tra chưa đưa ra được phương pháp kiểm tra đặc thù của bộ môn ngoại ngữ.

Nguyên nhân từ việc chỉ đạo tổ chức hoạt động học tập.

Việc chỉ đạo tổ chức hoạt động học tập chưa đạt hiệu quả cao. Điều đó gây ảnh hưởng không nhỏ đến động cơ và thái độ học tập của sinh viên trong suốt quá trình: Luận văn: Thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.

  • Thái độ học tập của sinh viên đối với bộ môn chưa được tích cực. Trên 80% sinh viên có thái độ trung bình chủ nghĩa và rất thụ động đối với việc học ngoại ngữ.
  • Ý thức học tập của sinh viên còn kém. Khoảng 42% sinh viên không thường xuyên và gần 6% sinh viên chưa bao giờ học bài và làm bài tập.
  • Khả năng vận dụng các kỹ năng giao tiếp tiếng Anh đã học của sinh viên trong học tập, trong nghiên cứu, trong giao tiếp còn rất hạn chế. Đặc biệt, có khoảng 42% sinh viên rất kém về khả năng vận dụng các kỹ năng giao tiếp bằng tiếng Anh trong nghiên cứu khoa học và gần 30% sinh viên còn yếu về khả năng vận dụng các kỹ năng giao tiếp bằng tiếng Anh trong giao tiếp.
  • Việc sử dụng tài liệu phục vụ cho học tập còn quá nghèo nàn, phần đông sinh viên không tham khảo thêm sách báo nào khác ngoài mỗi giáo trình bộ môn. Qua đó cho thấy, cách học của sinh viên không chuyên sâu và rất thụ động trong việc tìm đến kiến thức.

Trên đây là những nguyên nhân chính có ảnh hưởng hạn chế nhiều đến hiệu quả của công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh ở các khoa không chuyên ngữ tại Trường Đại học Sư phạm – Thành phố Hồ Chí Minh. Giải pháp nào để khắc phục thực trạng trên, đó là điều chúng ta cần phải bàn.

2.3. ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ VIỆC GIẢNG DẠY TIẾNG ANH Ở CÁC KHOA KHÔNG CHUYÊN NGỮ TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM – TP.HỒ CHÍ MINH.

2.3.1. Phân bố bộ môn ngoại ngữ cho phù hợp với đối tượng sinh viên ở các khoa không chuyên ngữ: Luận văn: Thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.

Qua phân tích tình hình dạy và học ngoại ngữ trong các trường học, cũng như ngoài xã hội, chúng ta thấy cần phải có một chương trình bộ môn ngoại ngữ liên thông, xuyên suốt các bậc học trong hệ thống giáo dục quốc dân, củng cố các chương trình giảng dạy ngoại ngữ ở các cấp bậc học, xác định nhu cầu học ngoại ngữ và bộ môn ngoại ngữ cần dạy của các cấp bậc học. Cụ thể, tại các trường đại học nói chung trong cả nước, tiếng Anh là ngoại ngữ được đặc biệt chú ý. Đó là ngôn ngữ chính để giao tiếp trong tất cả các hội nghị quốc tế và khu vực. Đồng thời cũng phải chú ý đến các ngoại ngữ khác như tiếng Trung, tiếng Nga, tiếng Pháp và có thể cả tiếng Nhật, tiếng Hàn …Việc phân bố bộ môn ngoại ngữ phù hợp với đối tượng sinh viên cũng rất cần thiết nhằm giúp cho việc sử dụng ngoại ngữ phục vụ học tập và nghiên cứu của sinh viên có hiệu quả cao hơn. Ví dụ, tiếng Trung rất cần thiết cho sinh viên các khoa Ngữ Văn hay khoa Sử, tiếng Nga cũng rất cần thiết cho sinh viên các khoa tự nhiên…Và hiện nay, chúng ta cũng nên lưu ý đến vấn đề qui hoạch tỉ lệ dạy và học ngoại ngữ giữa các thứ tiếng sao cho phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế -xã hội của từng địa phương.

Đồng thời, việc phân bố phù hợp bộ môn ngoại ngữ đối với sinh viên các khoa không chuyên ngữ cũng giúp cho việc phân loại trình độ đầu vào khi xếp lớp học tiếng Anh thuận lợi hơn. Do phân bố chương trình ở từng địa phương khác nhau nên bộ môn tiếng Anh chưa phải bắt buộc. Nơi học, nơi bỏ. Sinh viên vào năm thứ nhất có trình độ tiếng Anh từ Zero cho tới elemcntary (cơ bản), có một số sinh viên đạt trình độ pre-intermediate (tương đương chứng chỉ B) và cá biệt có sinh viên đã đạt trình độ c (tương đương trình độ cử nhân Cao đẳng). Hầu hết các giáo trình tiếng Anh hiện đại được biên soạn cho các đối tượng với một trình độ chung nhất định, nhằm phát triển đầy đủ các kỹ năng, chú trọng khía cạnh thực hành giao tiếp ngôn ngữ. Do vậy, đòi hỏi trình độ sinh viên phải tương đối đồng đều ở đầu vào để các em tham gia các hoạt động ngôn ngữ theo nhóm, cặp và hiệu quả hơn trong việc tích cực trao đổi, phát triển bài trên lớp. Tại Trường Đại học Sư phạm – Thành phố Hồ Chí Minh, qua khảo sát tình hình học tiếng Anh trong sinh viên của các khoa không chuyên ngữ đã nhận thấy rõ, sự chênh lệch về trình độ tiếng Anh trong một lớp học gây khó khăn rất nhiều đến việc dạy và học bộ môn. Và đây còn là sự không công bằng, gây thiệt thòi lớn cho những sinh viên chưa biết gì về tiếng Anh. Bởi ngoài các môn chính của mình các em còn phải vật lộn với môn học hoàn toàn mới mẻ, nếu không may, kết quả cuối năm không khả quan sẽ ảnh hưởng đến việc lên lớp, xếp loại và xét học bổng … Trong khi đó, việc này đối với những sinh viên đã có học tiếng Anh ở phổ thông thì khá dễ dàng và thuận lợi hơn. về phía người thầy, do bị khống chế bởi nội dung giảng dạy và thời gian phân bố chặt chẽ, không thể có cách nào để xóa đi sự khác biệt về trình độ bộ môn quá chênh lệch đó, mà ngược lại, khoảng cách đó có thể ngày càng xa hơn. Trong thực tế, đa số giảng viên dù đã nỗ lực rất nhiều trên lớp, lo phụ đạo thêm cho những sinh viên yếu, song kết quả cũng không được khả quan, thường có hai hiện tượng xảy ra trên lớp: hoặc những sinh viên khá mất hứng thú đối với môn học hoặc sinh viên kém không thể theo kịp bài. Điều này có thể nói là phổ biến đối với mọi môn học, nhưng riêng với bộ môn ngoại ngữ càng thể hiện rõ hơn. Từ thực trạng trên, Tổ Ngoại ngữ đã có đề xuất với Trường cho phép thực hiện phân loại trình độ đầu vào đối với bộ môn tiếng Anh cho sinh viên của các khoa không chuyên ngữ. Những sinh viên đã có quá trình học tiếng Anh ở phổ thông thì tiếp tục được học tiếng Anh theo chương trình đã phân bố, còn những sinh viên chưa được học tiếng Anh ở phổ thông thì được phân lớp học các ngoại ngữ khác như tiếng Trung, tiếng Pháp hay tiếng Nga. Việc phân bố như trên, một phần nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Anh tại các khoa không chuyên ngữ, tạo điều kiện cho sinh viên có đủ trình độ sử dụng tiếng Anh phục vụ học tập và nghiên cứu chuyên môn, tránh phí phạm những kiến thức mà các em đã tiếp nhận ở trường phổ thông, mặt khác giúp các em phát triển các ngoại ngữ khác như tiếng Trung, tiếng Pháp, tiếng Nga. Chúng ta không nên quên rằng, nước ta đang đứng trong khối “cộng đồng các nước nói tiếng Pháp”. Cũng không thể bỏ phí một lực lượng cán bộ khoa học kỹ thuật đã được đào tạo tại Nga và đông đảo giáo viên tiếng Nga được đào tạo chính qui trong bao nhiêu năm trước đây. Chúng ta cũng không quên nước láng giềng Trung Quốc, một quốc gia lớn mạnh và đang đứng đầu Châu Á về tốc độ phát triển. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.

Việc xác định nhu cầu học ngoại ngữ cho phù hợp với từng đối tượng, theo chuyên ngành và phân bố bộ môn ngoại ngữ cần dạy phù hợp với từng đối tượng sinh viên các khoa không chuyên ngữ có yếu tố rất tích cực giúp sinh viên sử dụng ngoại ngữ đã học một cách hiệu quả hơn phục vụ học tập và nghiên cứu, góp phần đáp ứng với đòi hỏi về nguồn nhân lực mới có năng lực và có khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế và thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

2.3.2. Cải tiến nội dung, chương trình bộ môn tiếng Anh phù hợp và hiệu quả đối vời sinh viên ở các khoa không chuyên ngữ:

Như đã đề cập ở mục 1 và 2 trong phần 1 của chương 2 về thực trạng việc quản lý mục tiêu môn học, quản lý nội dung, chương trình bộ môn, nội dung, chương trình tiếng Anh đang thực hiện giảng dạy cho sinh viên của các khoa không chuyên ngữ trong toàn trường còn mang tính tạm thời, chưa phù hợp, chưa đáp ứng với nhu cầu của xã hội, chưa đáp ứng với mục tiêu đào tạo của Trường và Bộ Giáo dục và Đào tạo đề ra. Nội dung, chương trình tiếng Anh giảng dạy cho sinh viên ở một số khoa không chuyên ngữ như hiện nay không thể trang bị nổi cho họ những kiến thức, những kỹ năng giao tiếp ngoại ngữ trong học tập và trong nghiên cứu khoa học.

Hiện đã thực nghiệm giảng dạy 05 giáo trình tiếng Anh chuyên ngành cho sinh viên năm thứ hai của các Khoa Ngữ văn, Sinh vật, Vật lý, Lịch sử, Địa lý. Các khoa còn lại như Khoa Toán – Tin, Hóa, Tâm lý giáo dục, Giáo dục chính trị, Giáo dục tiểu học, Giáo dục mầm non và Giáo dục thể chất chưa có giáo trình tiếng Anh chuyên ngành. Vì thế họ phải học tạm những giáo trình tiếng Anh không thuộc chuyên ngành của mình, còn sinh viên năm thứ nhất học với giáo trình Headway. Điều đó đã làm cho sinh viên tại các khoa không chuyên ngữ mất đi sự hứng thú đối với bộ môn ngoại ngữ, bởi vì việc học tiếng Anh như vậy không giúp ích gì cho họ trong chuyên môn. Chính vì vậy, việc cải tiến nội dung, chương trình bộ môn phù hợp và có hiệu quả là rất cần thiết và cáp bách, cần tăng cường và tập trung chỉ đạo thực hiện việc cải tiến trên.

Trước mắt, phải biên soạn đủ các giáo trình tiếng Anh chuyên ngành cho sinh viên năm thứ hai của 07 khoa còn lại, sau đó tiếp tục biên soạn giáo trình tiếng Anh chuyên ngành cho toàn bộ sinh viên năm thứ nhất của 12 khoa không chuyên ngữ. Kế hoạch biên soạn giáo trình tiếng Anh chuyên ngành dự định đến năm 2030 sẽ đáp ứng đủ cho sinh viên của năm thứ hai. Riêng giáo trình tiếng Anh chuyên ngành dành cho sinh viên năm thứ nhất đòi hỏi phải có thời gian dài hơn. Việc biên soạn giáo trình tiếng Anh chuyên ngành là trách nhiệm của đội ngũ giảng viên bộ môn, song có sự kết hợp, hỗ trợ của các giảng viên chuyên ngành, việc biên soạn đó càng có hiệu quả và chất lượng hơn. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.

Xuất phát từ mục đích học tiếng Anh của sinh viên tại các khoa không chuyên ngữ là phát triển các kỹ năng giao tiếp bằng tiếng Anh trong giao tiếp xã hội cũng như trong nghiên cứu chuyên môn, đặc biệt là kỹ năng đọc tài liệu liên quan tới chuyên ngành, việc sử dụng giáo trình tiếng Anh riêng cho từng chuyên ngành là rất cần thiết. Sự liên quan mật thiết giữa tiếng Anh và chuyên môn đóng một vai trò vô cùng quan trọng trong việc thúc đẩy động cơ và hứng thú học tập của sinh viên, nhờ đó sinh viên học sẽ tốt hơn và có hiệu quả hơn.

2.3.3. Tăng thời lượng cho bộ môn ngoại ngữ đối với sinh viên ở các khoa không chuyên ngữ:

Hiện nay, thời lượng dành cho bộ môn ngoại ngữ nói chung đối với sinh viên của các khoa không chuyên ngữ trong trường đại học được qui định là 300 tiết (20 đvht) và chia làm 4 học phần (tương đương với 4 học kỳ). Theo nhận xét của toàn thể giảng viên bộ môn cũng như hầu hết cán bộ giảng dạy của các trường đại học trong nước đều cho rằng, thời lượng dành cho bộ môn ngoại ngữ như vậy là chưa đủ. Bởi vì, qua 4 học kỳ (trong năm thứ nhất và năm thứ hai), với thời gian qui định là 300 tiết, chương trình bộ môn tiếng Anh cũng như các ngoại ngữ khác chưa có thể đáp ứng được nhu cầu sử dụng tiếng Anh của sinh viên tại các khoa không chuyên ngữ. Để có thể trang bị cho sinh viên một vốn kiến thức nhất định về ngoại ngữ nói chung, giúp họ có đủ năng lực sử dụng ngoại ngữ trong học tập và nghiên cứu, kết hợp với vốn kiến thức chuyên ngành được đào tạo, tiếp cận với công nghệ tiên tiến, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội, thì cần thiết phải tăng thêm thời lượng cho bộ môn đối với sinh viên ở các khoa không chuyên ngữ. Theo ý kiến của đa số giáo viên bộ môn thì thời lượng dành cho chương trình ngoại ngữ đối với sinh viên các khoa không chuyên ngữ có thể cho phép trong chương trình đào tạo ở các trường đại học là 450 tiết (tức là 30 đvht) và nên phân bố trong 3 năm học theo 6 học phần (tương đương với 6 học kỳ) từ năm thứ nhất đèn năm thứ ba. Có nghĩa là ngoài chương trình bộ môn đã phân học trong năm thứ nhất và năm thứ hai như hiện nay, cần tăng thêm 150 tiết (10 đvht) với chương trình tiếng Anh chuyên ngành học trong cả năm thứ ba. Việc tăng thời lượng bộ môn nêu trên, chắc chắn sẽ giúp cho sinh viên học ngoại ngữ đảm bảo chất lượng hơn, vì họ có thêm thời gian để luyện tiếp những kỹ năng giao tiếp tiếng Anh chuyên ngành và sử dụng chúng hiệu quả hơn trong học tập và nghiên cứu.

2.3.4. Tăng cường nâng cao trình độ, năng lực của đội ngũ giáo viên giảng dạy tiếng Anh cho sinh viên tại các khoa không chuyên ngữ: Luận văn: Thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.

Chất lượng giáo dục đại học phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó đội ngũ giảng viên đại học có vai trò vô cùng quan trọng. Chất lượng giáo dục đại học ngày nay đòi hỏi sự đổi mới mục tiêu đào tạo, đổi mới nội dung, chương trình, đổi mới phương pháp giảng dạy nhằm thực sự phát triển năng lực trí tuệ của sinh viên, do vậy người giảng viên đại học phải làm tốt hơn nhiệm vụ hướng dẫn các quá trình tìm kiếm tri thức, gợi mở những con đường phát hiện tri thức, khả năng độc lập tư duy và sáng tạo cho người học. Chính vì vậy, đổi mới quản lý đội ngũ giáo viên phải là mục tiêu chiến lược hàng đầu của đổi mới giáo dục đại học và nâng cao chất lượng đào tạo đại học. Đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về chất lượng giáo dục đại học, mỗi cán bộ giảng dạy cần phải tích cực bồi dưỡng, không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ, việc làm đó phải được thực hiện thường xuyên để khỏi lạc hậu với thời đại khi khoa học – công nghệ đang tiến nhanh như vũ bão. Trong bối cảnh chung đó, đội ngũ giáo viên bộ môn tiếng Anh đang giảng dạy tại các khoa không chuyên ngữ cũng thấy rõ trách nhiệm của mình không ngừng học tập, tích cực cập nhật hóa kiến thức, bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ để giảng dạy tốt và có hiệu quả, đáp ứng với yêu cầu ngày càng đòi hỏi cao về chất lượng đào tạo đại học.

Với đội ngũ 19 giảng viên, đến năm 2030, Tổ tiếng Anh sẽ có 15.79% giảng viên có học vị Tiến sĩ và 52.63% giảng viên có học vị Thạc sĩ. Nếu tính theo chỉ tiêu chí đánh giá chất lượng và điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo đại học (Trung tâm đảm bảo chất lượng đào tạo và nghiên cứu phát triển giáo dục -năm 2025) thì tỷ lệ cán bộ giảng dạy có học vị Tiến sĩ và Thạc sĩ của Tổ bộ môn tiếng Anh chưa đạt. Vì vậy, việc học tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đối với đội ngũ giáo viên tiếng Anh cần phải yêu cầu cao hơn và bắt buộc triệt để hơn nhằm đạt đúng qui chuẩn về trình độ của cán bộ giảng dạy đại học, đáp ứng yêu cầu của chương trình đào tạo đảm nhiệm ngày càng đòi hỏi cao về chất lượng giáo dục đại học.

2.3.5. Tăng cường công tác quản lý chuyên môn, kiểm tra và đánh giá: Luận văn: Thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.

Quản lý các hoạt động chuyên môn, quản lý việc phân công giảng dạy, quản lý lịch trình, nội dung giảng dạy cần phải được thực hiện thường xuyên. Việc thăm lớp, dự giờ là một việc giúp cho lãnh đạo đơn vị nắm sát tình hình học tập của sinh viên, giải quyết kịp thời những phản ánh của người học, tạo cho giáo viên nếp giảng dạy nghiêm túc và khuyến khích cả thầy lẫn trò dạy và học tốt hơn. Động viên các giáo viên đăng ký giờ dạy giỏi và coi đây là công trình chung của cả tập thể tổ chuyên môn, chỉ đạo tổ chuyên môn thường xuyên tổ chức trao đổi phương hướng giảng dạy từng bài, từng phần, những tư liệu cần bổ sung vào bài giảng, những điều kiện vật chất, kỹ thuật cần cho bài giảng có hiệu quả. Tiêu chuẩn giờ lên lớp chỉ là những qui định tối thiểu, cơ bản nhưng rất cần thiết. Có tiêu chuẩn cụ thể vừa giúp cho việc đánh giá giờ học vừa giúp cho việc nâng cao tay nghề của giáo viên. Để góp phần nâng cao trình độ chuyên môn của giáo viên, lãnh đạo đơn vị cần chỉ đạo việc tổ chức các chuyên đề về giờ lên lớp . Thực tiễn cho thấy, đây là cách tự bồi dưỡng có hiệu quả và thiết thực nhất đối với giáo viên. Việc tổ chức và hướng dẫn sinh viên học tập là nhiệm vụ của giáo viên bộ môn, song cần có sự quan tâm chỉ đạo của lãnh đạo đơn vị để có sự hiệp đồng thống nhất trong các giáo viên. Chỉ đạo, kiểm tra hoạt động dạy và học, chủ yếu tập trung vào việc chỉ đạo thực hiện mục tiêu, kế hoạch, qui chế chuyên môn, kiểm tra nền nếp dạy và học, hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ đào tạo và đặc biệt chú trọng đến việc đánh giá chất lượng dạy và học của thầy và trò. Việc quản lý chuyên môn sát sao, việc thực hiện tốt các qui chế chuyên môn trong giảng dạy sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo sinh viên của trường.

Phải cải tiến việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của sinh viên. Muốn đánh giá đúng chất lượng học tập của sinh viên, không chỉ đưa ra các tiêu chí đánh giá thích hợp mà quan trọng là phải xây dựng một hệ thống thi cử và phương thức đánh giá như thế nào để đánh giá cho xác thực theo đúng các tiêu chí đặt ra. Hiện nay, hình thức kiểm tra, thi học phần bộ môn mới đơn thuần là kiểm tra viết. Hình thức đó chưa đưa ra được phương pháp kiểm tra đặc thù của bộ môn, chỉ mới kiểm tra, đánh giá được kỹ năng đọc hiểu và kỹ năng viết của học sinh, còn kỹ năng nghe và nói chưa được phát huy. Vì vậy, cần phải tăng thêm hình thức thi, kiểm tra vấn đáp để rèn luyện cho học sinh cả 4 kỹ năng giao tiếp như mục tiêu môn học đã đề ra.

Hiện tượng quay cóp, đi thi hộ trong các kỳ kiểm tra, thi học phần vẫn còn, nhất là những kỳ thi lại, khiến cho việc đánh giá kết quả học tập thiếu chính xác, thiếu công bằng. Chính vì vậy, cần phải tăng cường công tác giám sát hoạt động tổ chức thi, kiểm tra, tránh tình trạng cán bộ coi thi nhân nhượng sinh viên, hoặc sinh viên thiếu nghiêm túc trong thi cử.

Kiểm tra, đánh giá trước hết là công cụ đo trình độ của người học, đồng thời đóng vai trò làm động lực tích cực thúc đẩy hoạt động dạy và học. Việc tổ chức thi, kiểm tra tốt không những giúp sinh viên hình thành thái độ tích cực trong học tập và đạt hiệu quả học tập cao hơn, mà còn giúp cho giáo viên đánh giá được hiệu quả công việc của mình. Qua kết quả mỗi lần thi, kiểm tra, cả thầy lẫn trò có thể có những điều chỉnh kịp thời nhằm hướng tới mục tiêu đào tạo với hiệu quả cao hơn trước sự mong muốn và đòi hỏi ngày càng cao của nhà trường, gia đình, xã hội. Kiểm tra, đánh giá tốt không những có ảnh hưởng trực tiếp tới đối tượng dạy-học mà còn ảnh hưởng tới mọi khâu như việc tổ chức dạy học, phục vụ hoạt động dạy và học như: lớp học, thư viện, thiết bị dạy học … Nó giúp cho nhà quản lý có những quyết định cần thiết về nội dung, chương trình, giáo trình, người dạy, người học và cả công tác quản lý. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.

2.3.6. Nâng cấp và bổ sung các phương tiện, trang thiết bị phục vụ dạy và học:

Cơ sở phòng học, điều kiện và phương tiện đảm bảo cho chất lượng dạy và học còn thấp so với nhu cầu: về giáo trình, sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, đặc biệt là các dụng cụ, công cụ hỗ trợ giảng dạy như máy đèn chiếu,Vi tính… Cơ sở phòng học chưa đảm bảo theo tiêu chuẩn qui định, còn thiếu các phòng học dành riêng cho việc dạy ngoại ngữ, phòng thu âm, ghi âm… Để đảm bảo cho chất lượng dạy và học ngoại ngữ cần thiết phải nâng cấp và bổ sung các phương tiện, trang thiết bị phục vụ dạy và học tốt. Bên cạnh việc cải tiến phương pháp giảng dạy và học tập theo tinh thần tăng tính chủ động của sinh viên và sử dụng những phương tiện kỹ thuật mới để hỗ trợ giảng dạy, cần phấn đấu đảm bảo giáo trình, tài liệu tham khảo cho sinh viên, đặc biệt là các giáo trình tiếng Anh chuyên ngành cho tất cả các khoa không chuyên ngữ, trang bị các phương tiện giảng dạy mới cho các phòng học dành riêng cho việc dạy ngoại ngữ. Sử dụng các máy đèn chiếu, phương tiện nghe nhìn, máy vi tính sẽ làm tăng hiệu suất giảng dạy lên nhiều lần.

2.3.7. Tăng cường việc cải tiến phương pháp giảng dạy tiếng Anh theo hướng giao tiếp tích cực:

Chất lượng đào tạo nói chung phụ thuộc vào các yếu tố: mục tiêu, kế hoạch, nội dung, phương pháp, tổ chức, phương tiện, kỹ thuật đào tạo.  Các yếu tố này quan hệ biện chứng với nhau ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo. Trong đó, yếu tố phương pháp đào tạo nói chung và phương pháp dạy học nói riêng giữ một vai trò vô cùng quan trọng.

Đổi mới phương pháp giáo dục và đào tạo theo quan điểm của Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII) của Đảng là: ” … khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo cửa người học. Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào trong quá trình dạy học, bảo đảm điều kiện và định hướng tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên đại học. Phát triển mạnh phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân, nhất là thanh niên” để “nhằm xây dựng những con người mới  làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi … là những con người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa “hồng” vừa “chuyên”. [112, 16]

Chính vì vậy, trong việc giảng dạy bộ môn tiếng Anh hiện nay, các giáo viên cần khắc phục lối dạy ôm đồm, dàn trải, giảng giải quá nhiều, mà phải tăng cường hoạt động của người học, tạo điều kiện cho sinh viên rèn luyện các kỹ năng giao tiếp ngôn ngữ. Thực hiện “dạy học bằng hoạt động của người học”, tạo điều kiện để học sinh hoạt động càng nhiều càng tốt, tránh dạy học theo kiểu thầy truyền đạt, giải thích, chiếm hết thời gian chủ yếu trên lớp, trò ngồi nghe một cách thụ động, ít phát biểu, ít thắc mắc, ít được tham gia giao tiếp bằng tiếng Anh, ít trao đổi, thảo luận các đề tài… . Không chỉ cho sinh viên rèn luyện các kỹ năng giao tiếp ngôn ngữ trong giờ học, mà còn phải tăng cường tổ chức những buổi ngoại khóa cho sinh viên, giúp họ tập luyện các kỹ năng giao tiếp, lập luận, thảo luận, trình bày giải quyết vấn đề trong phạm vi môn học, tạo điều kiện cho sinh viên mạnh dạn tham gia các đợi thi “Olympic tiếng Anh “nhằm kích thích sinh viên hứng thú với môn học, tạo cho họ lối học giao tiếp tích cực, phục vụ cho chuyên môn càng có hiệu quả hơn. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.

2.4. THỰC NGHIỆM ĐỔI MỚI NỘI DUNG, CHƯƠNG TRÌNH MÔN HỌC VÀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO HƯỚNG GIAO TIẾP TÍCH CỰC

2.4.1. Mục đích thực nghiệm:

Đây chỉ là thực nghiệm bước đầu thực hiện trong điều kiện và khả năng có hạn (mới áp dụng 2 biện pháp trong số 7 biện pháp đã đề xuất ở mục III). Hai biện pháp tác động là: Cải tiến nội dung, chương trình môn học và cải tiến phương pháp dạy học theo hướng giao tiếp tích cực

Mục đích của việc thực nghiệm là tìm hiểu hiệu quả của việc áp dụng hai biện pháp trên qua các thông số:

  • Ý thức của sinh viên ở các khoa không chuyên ngữ đối với việc học tiếng Anh
  • Ý kiến đánh giá của sinh viên về nội dung, chương trình bộ môn tiếng Anh đã được cải tiến
  • Nhận thức của các em về sự cần thiết của tiếng Anh đối với sinh viên tại các khoa không chuyên ngữ
  • Nhận xét của sinh viên về phương pháp dạy học của giáo viên bộ môn
  • Kết quả học tập bộ môn của sinh viên sau khi tham gia thực nghiệm

2.4.2. Cách tiến hành thực nghiệm:

  • Khách thể thực nghiệm:

Nhóm thực nghiệm: bao gồm 39 sinh viên lớp Lý 2 và 50 sinh viên lớp Địa 2 – Trường Đại học Sư phạm -Thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.

Nhóm đối chứng: bao gồm 45 sinh viên lớp Hóa 2 và 30 sinh viên lớp Tâm lý giáo dục 2 – Trường Đại học Sư phạm -Thành phố Hồ Chí Minh.

Thời gian thực hiện:

  • Thực nghiệm lần 1: Tháng 9/2025
  • Thực nghiệm lần 2 (sau khi tác động): Tháng 4/2026

Nội dung thực nghiệm:

  • Đối với nhóm thực nghiệm:

Trước thực nghiệm: Đo ý thức của sinh viên đối với việc học tiếng Anh, ý kiến nhận xét của các em về nội dung, chương trình môn học, nhận thức của các em về sự cần thiết của bộ môn tiếng Anh đối với sinh viên ở các khoa không chuyên ngữ, đánh giá của các em về phương pháp dạy học của giáo viên bộ môn và kết quả học tập bộ môn tiếng Anh của sinh viên trước khi tiến hành thực nghiệm. Phiếu thực nghiệm gồm các câu hỏi với 5 nội dung (xin xem phụ lục 3). Kết quả thu được 89 phiếu, tất cả đều hợp lệ.

Áp dung hai biện pháp cải tiến: Thực hiện giảng dạy tiếng Anh theo chương trinh đã cải tiến cho sinh viên khoa Địa lý và khoa Vật lý, đồng thời yêu cầu hai giáo viên bộ môn thực hiện cải tiến phương pháp dạy học theo hướng giao tiếp tích cực. Việc thực nghiệm được thực hiện trong cả hai học kỳ -năm học 2025-2026. Trong thời gian thực hiện có tổ chức dự giờ, rút kinh nghiệm và đánh giá hiệu quả giờ dạy ở mỗi lớp.

Sau thực nghiệm (Sau khi thực hiện hai biện pháp tác động): Tiến hành đo các thông số như ở thời điểm trước thực nghiệm. Phiếu thực nghiệm gồm các câu hỏi với 5 nội dung (xin xem phụ lục 3). Kết quả thu được là 89 phiếu, tất cả đều hợp lệ.

  • Đối với nhóm đối chứng: Luận văn: Thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.

Trước thực nghiêm: Song song với việc khảo sát ở nhóm thực nghiệm, chúng tôi tiến hành khảo sát ở nhóm đối chứng với các thông số tương đương. Phiếu thực nghiệm gồm các câu hỏi với 5 nội dung như đã thực hiện đối với nhóm thực nghiệm (xin xem phụ lục 3) và kết quả thu được 75 phiếu, tất cả đều hợp lệ.

Sau thực nghiêm: Nhóm đối chứng cũng được khảo sát theo các nội dung trong mẫu phiếu thực nghiệm như đối với nhóm thực nghiệm (xin xem phụ lục 3) và cùng khoảng thời gian với nhóm thực nghiệm, số phiếu thu được là 75, tất cả đều hợp lệ.

Xử lý số liệu:

  • Thống kê tần số, tính tỉ lệ (%)
  • Dùng kiểm nghiệm Chi Square để kiểm nghiệm sự khác biệt về kết quả của:
  • Nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng ở thời điểm trước thực nghiệm
  • Nhóm thực nghiệm ở thời điểm trước và sau thực nghiệm
  • Nhóm đối chứng ở thời điểm trước và sau thực nghiệm
  • Nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng ở thời điểm sau thực nghiệm

2.4.3. Kết quả thực nghiệm:

  • Ý Thức học môn tiếng Anh của sinh viên ở các khoa không chuyên ngữ:

Khảo sát ý kiến của các em ở ba mức độ: rất có ý thức, ít có ý thức và không có ý thức đối với việc học bộ môn tiếng Anh (xem bảng 19), chúng tôi nhận thấy: Luận văn: Thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.

  • Ở nhóm thực nghiệm:

Trước khi thực nghiệm, số lượng sinh viên có ý thức đối với việc học bộ môn tiếng Anh chỉ chiếm 47%, nhưng sau khi thực nghiệm, có sự thay đổi khá rõ nét, số sinh viên có ý thức đối việc học môn tiếng Anh tăng lên đến 66.29%.

Tương tự như vậy, tỉ lệ sinh viên ít có ý thức đối với việc học môn tiêng Anh cũng giảm rất đáng kể. Cụ thể là, trước thực nghiệm có đến 56.18% sinh viên ít có ý thức đối với việc học môn tiếng Anh thì sau thực nghiệm tỉ lệ này chỉ còn 29.21%.

Tỉ lệ sinh viên không có ý thức đối với việc học tiếng Anh cũng giảm khá nhiều. Cụ thể, trước thực nghiệm là 21.35%, nhưng sau thực nghiệm chỉ còn 4.49%.

Rõ ràng, sau khi được học tiếng Anh chuyên ngành, với một nội dung, chương trình bộ môn rất phù hợp, đáp ứng được nhu cầu của đối tượng sinh viên từng khoa cùng với việc tích cực cải tiến phương pháp dạy học của giáo viên bộ môn, sinh viên đã có sự hứng thú hơn đối với môn học và ý thức học tập của sinh viên cũng được nâng lên.

Ở nhóm đối chứng: Trong khi kiểm nghiệm sự khác biệt giữa trước thực nghiệm và sau khi thực nghiệm của nhóm đối chứng, chúng tôi nhận thấy không có sự khác biệt ý nghĩa:

  • Ở nhóm này, dù rằng tỉ lệ sinh viên rất có ý thức đối với việc học môn tiếng Anh cũng có tăng lên, song sự chênh lệch, khác biệt đó không Trước thực nghiệm tỉ lệ này là 22.67%, sau thực nghiệm chỉ là 25.33%.
  • Tỉ lệ sinh viên ít có ý thức đối với việc học môn tiếng Anh ở hai thời điểm trước và sau khi thực nghiệm chênh lệch không đáng kể. Trước thực nghiệm, tỉ lệ đó là 56.00%, sau thực nghiệm tỉ lệ có giảm nhưng vẫn còn 54.67%.
  • Tỉ lệ sinh viên không có ý thức học tiếng Anh cũng vậy, so với thời điểm trước thực nghiệm (21.33%) thì sau thực nghiệm có giảm nhưng vẫn còn 20.00%.

Nếu kiểm tra bằng Test Chi Square chúng tôi nhận thấy có sự khác biệt ý nghĩa giữa nhóm thực nghiệm với nhóm đối chứng. Thực vậy, trước khi thực nghiệm, ý thức học tập đối với môn tiếng Anh của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng không có sự khác biệt ý nghĩa, nhưng sau khi tham gia thực nghiệm, Chi square toàn thể của nhóm thực nghiệm cao hơn rất nhiều so với Chi Square ở mức chuẩn (α= 0.01 nên đã tạo ra sự khác biệt ý nghĩa rất rõ rệt. Khác biệt này cho phép chúng ta có thể kết luận rằng ý thức của các em đối việc học môn tiếng Anh được nâng lên rất rõ nét.

Như vậy, có thể khẳng định một lần nữa, việc áp dụng các biện pháp thực nghiệm đã có tác động thực sự đến ý thức của sinh viên đối việc học bộ môn tiếng Anh một cách rõ rệt. Các em đã có ý thức hơn đối việc học bộ môn tiếng Anh và chắc chắn hiệu quả thu được sẽ khả quan hơn nhiều. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.

  • Nhận xét của sinh viên ở các khoa không chuyên ngữ về nội dung, chương trình bộ môn tiếng Anh:

Tìm hiểu sâu hơn những nhận xét của các em về nội dung, chương trình bộ môn tiếng Anh, chúng tôi đưa ra bốn mức độ: rất thiết thực, khá thiết thực, ít thiết thực và hoàn loàn không thiết thực, kết quả nghiên cứu được trình bày ở bảng 20:

  • Ở nhóm thực nghiệm:

Trước thực nghiệm, có đến 52.81% sinh viên của nhóm này nhận xét về nội dung, chương trình bộ môn tiếng Anh đang học hoàn toàn không thiết thực, nhưng sau thực nghiệm, ý kiến đó chỉ còn 3.37%.

Trước thực nghiệm, có đến 47.19% sinh viên trong nhóm này cho rằng, nội dung, chương trình bộ môn như vậy là ít thiết thực đối với họ, nhưng sau thực nghiệm nhận thức đó chỉ còn 7.87%.

Đánh giá nội dung, chương trình bộ môn tiếng Anh rất thiết thực và khá thiết thực thì trước thực nghiệm không có một sinh viên nào có ý kiến nhận xét như vậy, nhưng sau thực nghiệm, nhận xét đó có tỉ lệ tăng rất cao. Cụ thể, có đến 44.94% sinh viên nhận xét nội dung, chương trình bộ môn tiếng Anh đang học rất thiết thực và 43.82% sinh viên cho rằng nội dung, chương trình bộ môn như vậy là khá thiết thực đối với sinh viên của các khoa không chuyên ngữ như họ.

Ở nhóm đối chứng: So sánh những nhận xét về nội dung, chương trình bộ môn tiếng Anh của sinh viên trong nhóm này trước thực nghiệm và sau thực nghiệm, chúng tôi nhận thấy không có sự khác biệt ý nghĩa.

Tỉ lệ sinh viên có nhận xét, nội dung, chương trình bộ môn tiếng Anh rất thiết thực trước thực nghiệm cũng như sau thực nghiệm hoàn toàn không có sự chênh lệch vì cả hai thời điểm đều không có ý kiến nhận xét nào.

Riêng tỉ lệ sinh viên có ý kiến nhận xét, nội dung, chương trình bộ môn tiếng Anh khá thiết thực ở thời điểm sau khi thực nghiệm có tăng hơn so với thời điểm trước thực nghiệm, nhưng tỉ lệ đó chênh lệch không đáng kể (trước thực nghiệm: 0.00%, sau thực nghiệm: 6.67%). Luận văn: Thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.

Trước thực nghiệm và sau thực nghiệm, tỉ lệ sinh viên nhận xét về nội dung, chương trình bộ môn tiếng Anh ít thiết thực đối với họ chênh lệch nhau không đáng kể. Cụ thể, trước thực nghiệm là 38.67%, sau thực nghiệm là 32.00%.

Nhận xét về nội dung, chương trình bộ môn tiếng Anh hoàn toàn không thiết thực đối với sinh viên trong nhóm đối chứng trước và sau thực nghiệm vẫn có tỉ lệ như nhau là 61.33%.

Sự chênh lệch không đáng kể nêu trên của nhóm đối chứng trước thực nghiệm cũng như sau thực nghiệm có thể giúp chúng ta khẳng định, nếu không có những biện pháp tác động (không có sự cải tiến về nội dung, chương trình bộ môn) thì rõ ràng, nhận xét đánh giá của các em về nội dung, chương trình bộ môn tiếng Anh không có gì thay đổi.

Dựa vào sự kiểm nghiệm Test Chi Square, nếu so sánh mức độ nhận xét đánh giá của sinh viên về nội dung, chương trình bộ môn tiếng Anh giữa nhóm thực nghiệm với nhóm đối chứng trước khi tiến hành thực nghiệm thì khá tương đồng nhau. Song sau khi thực nghiệm, chúng tôi thấy giữa hai nhóm có sự khác biệt rõ rệt.

Tất cả những so sánh trên là những minh chứng hết sức thiết thực và đặt ra cho chúng ta một nhiệm vụ rất quan trọng là cần phải tích cực cải tiến nội dung, chương trình bộ môn tiếng Anh sao cho có hiệu quả và phù hợp với đối tượng sinh viên tại các khoa không chuyên ngữ nhằm trang bị cho họ vốn kiến thức tiếng Anh cần thiết kết hợp với vốn kiến thức chuyên ngành được đào tạo để từ đó họ có thể tiếp cận với công nghệ tiên tiến, đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội.

  • Nhận thức về sự cần thiết của bộ môn tiếng Anh đôi với sinh viên tại các khoa không chuyên ngữ:

Để tìm hiểu nhận thức của sinh viên về sự cần thiết của bộ môn tiếng Anh đối với đối tượng sinh viên tại các khoa không chuyên ngữ với bốn mức độ: rất cần thiết, khá cần thiết, ít cần thiết và hoàn toàn không cần thiết, chúng tôi đã thực hiện khảo sát (xem bảng 21) và kết quả thu được như sau:

  • Ở nhóm thực nghiệm:

Nếu trước thực nghiệm, tỉ lệ sinh viên cho rằng, tiếng Anh rất cần thiết và khá cần thiết đối với sinh viên tại các khoa không chuyên ngữ như họ là 62.92% (43.82% + 19.10%), thì sau thực nghiệm tăng lên đến 92.13% (69.66% + 22.47%). Tỉ lệ đó là một điều rất đáng mừng đối với chúng tôi khi thấy hầu hết sinh viên của mình đã nhận thức rõ về sự cần thiết của bộ môn tiếng Anh đối với sinh viên tại các khoa không chuyên ngữ. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.

Tỉ lệ sinh viên nhận thấy tiếng Anh ít cần thiết đối với họ ở thời điểm sau khi thực nghiệm giảm khá rõ rệt so với thời điểm trước thực nghiệm. Cụ thể, trước thực nghiệm, tỉ lệ đó là 26.97% nhưng sau thực nghiệm chỉ còn 5.62%.

Tương tự, tỉ lệ sinh viên cho rằng, tiếng Anh hoàn toàn không cần thiết đối với họ nếu so sánh giữa trước thực nghiệm với sau thực nghiệm cũng giảm hơn. Trước thực nghiệm, tỉ lệ đó là 10.11%, sau thực nghiệm giảm xuống còn 2.25%.

Những so sánh ở trên cho thấy, sau khi tham gia thực nghiệm, nhận thức của các em về sự cần thiết của bộ môn tiếng Anh đối với sinh viên tại các khoa không chuyên ngữ đã mang tính tích cực hơn rất nhiều.

  • Ở nhóm đối chứng:

Tìm hiểu nhận thức của nhóm đối chứng về sự cần thiết của bộ môn tiếng Anh đối với sinh viên tại các khoa không chuyên ngữ với bốn mức độ khác nhau như đã nêu trong nhóm thực nghiệm, chúng tôi nhận thấy không có sự chênh lệch đáng kể khi kiểm nghiệm sự khác biệt giữa hai thời điểm trước và sau thực nghiệm.

Trước thực nghiệm, tỉ lệ sinh viên cho rằng, tiếng Anh rất cần thiết và khá cần thiết đối với sinh viên ở các khoa không chuyên ngữ như họ là 62.67% (44.00 + 18.67%), sau thực nghiệm là 66.66% (45.33% + 21.33%).

Tỉ lệ sinh viên có ý kiến, tiếng Anh ít cần thiết đối với sinh viên tại các khoa không chuyên ngữ: trước thực nghiệm là 28.00%, sau thực nghiệm là 25.33%.

Tương tự, tỉ lệ sinh viên cho rằng, tiếng Anh hoàn toàn không cần thiết đối với họ, trước và sau thực nghiệm chênh lệch không đáng kể. Trước thực nghiệm, tỉ lệ đó là 9.33%, sau thực nghiệm là 8.00%.

Dùng Test Chi Square để kiểm tra, chúng tôi nhận thấy, nhận thức của nhóm thực nghiệm về sự cần thiết của bộ môn tiếng Anh đối với sinh viên tại các khoa không chuyên ngữ có sự chuyển biến tích cực hơn nhiều so với nhóm đối chứng. Và ngay trong nhóm thực nghiệm, nhận thức đó cũng có sự khác biệt rõ rệt nếu so giữa hai thời điểm trước và sau thực nghiệm.

  • Nhận xét của sinh viên về phương pháp giảng dạy của giáo viên bộ môn:

Để nắm được những đánh giá nhận xét từ sinh viên về phương pháp dạy học của các giáo viên bộ môn tiếng Anh đang giảng dạy tại các khoa không chuyên ngữ, chúng tôi thực hiện khảo sát theo ba mức độ: rất hài lòng, chưa hài lòng lắm và hoàn toàn không hài lòng. Kết quả thu được như sau: (xem bảng 22) Luận văn: Thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.

  • Nhóm thực nghiệm:

Trước thực nghiệm, tỉ lệ sinh viên rất hài lòng về phương pháp dạy học của giáo viên bộ môn chỉ có 16.85%, sau thực nghiệm, tỉ lệ đó tăng lên rất cao đạt 33%.

Số sinh viên chưa hài lòng lắm về phương pháp dạy học của giáo viên bộ môn ở thời điểm sau thực nghiệm cũng giảm rất nhiều so với trước thực nghiệm. Trước thực nghiệm, tỉ lệ đó là 55.06%, nhưng sau thực nghiệm chỉ còn 13.33%.

Tương tự, tỉ lệ sinh viên hoàn toàn không hài lòng về phương pháp dạy học của giáo viên bộ môn từ 28.09% (trước thực nghiệm) giảm còn 5.33% (sau thực nghiệm).

Theo kết quả ở trên, 81.33% sinh viên rất hài lòng về phương pháp dạy học của giáo viên và tỉ lệ đó đã chứng minh rõ hiệu quả của việc cải tiến phương pháp giảng dạy bộ môn tiếng Anh theo hướng giao tiếp tích cực.

Ở nhóm đối chứng: Trong nhóm này, nếu so sánh những nhận xét đánh giá về phương pháp dạy học của giáo viên bộ môn tiếng Anh ở hai thời điểm trước thực nghiệm và sau thực nghiệm, chúng tôi nhận thấy không có sự khác biệt ý nghĩa.

Trước thực nghiệm, tỉ lệ sinh viên có ý kiến rất hài lòng về phương pháp dạy học của giáo viên bộ môn tiếng Anh là 17.33%, sau thực nghiệm là 21.33%, như vậy, tỉ lệ đó có tăng song không đáng kể.

Số ý kiến từ sinh viên chưa hài lòng lắm về phương pháp dạy học của giáo viên bộ môn ở thời điểm trước thực nghiệm là 54.67%, sau thực nghiệm, tỉ iệ đó có giảm chút ít xuống còn 52%.

Tỉ lệ sinh viên hoàn loàn không hài lòng về phương pháp dạy học của giáo viên bộ môn trước thực nghiệm là 28.00%, sau thực nghiệm tỉ lệ đó có giảm nhưng vẫn còn 26.67%. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.

Nếu kiểm tra bằng Test Chi Square, chúng tôi nhận thấy có sự khác biệt ý nghĩa giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng. Thật vậy, trước khi thực nghiệm, nhận xét đánh giá về phương pháp dạy học của giáo viên bộ môn tiếng Anh trong nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng không có sự khác biệt ý nghĩa. Nhưng sau thực nghiệm, Chi Square toàn thể của nhóm thực nghiệm cao hơn rất nhiều so với Chi Square ở mức chuẩn α= 0.01 nên đã tạo ra sự khác biệt ý nghĩa rất rõ rệt.

Sự khác biệt này cho phép chúng ta có thể khẳng định, việc áp dụng các biện pháp thực nghiệm đã có tác động thật sự. Sinh viên càng hài lòng hơn về cách thức tổ chức giảng dạy của giáo viên, và chính việc cải tiến phương pháp dạy học của giáo viên bộ môn đã có ảnh hưởng rất quan trọng đến hiệu quả của việc dạy và học bộ môn tiếng Anh.

  • Tự nhận xét kết quả học môn tiếng Anh của sinh viên sau hai năm học:

Để tìm hiểu kết quả học môn tiếng Anh của sinh viên sau hai năm học, chúng tôi đã khảo sát qua ý kiến của các em và kết quả thu được như sau (xem bảng 23):

  • Ở nhóm thực nghiệm:

Nếu tỉ lệ sinh viên tự nhận xét kết quả học môn tiếng Anh của mình sau hai năm học ở thời điểm trước thực nghiệm có tốt hơn nhiều và khá hơn trước là 39.33% (17.98% + 21.35%), thì sau thực nghiệm, tỉ Lệ đó đã tăng lên 85.40% (39.33% + 07%).

Tỉ lệ sinh viên có ý kiến cho rằng, kết quả học môn tiếng Anh của mình sau hai năm học không khá hơn bao nhiêu ở thời điểm trước thực nghiệm là 43.82%, sau thực nghiệm tỉ lệ đó chí còn 11.24%.

Nếu trước thực nghiệm, 16.85% sinh viên có nhận xét, kết quả học môn tiếng Anh của mình sau hai năm học hoàn toàn không có kết quả gì, thì sau thực nghiệm, số sinh viên có nhận xét như vậy giảm xuống còn 3.37% .

  • Ở nhóm đối chứng: Luận văn: Thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.

Tỉ lệ sinh viên cho rằng, kết quả học môn tiếng Anh sau hai năm học có tốt hơn nhiều và khá hơn trước ở hai thời điểm trước và sau thực nghiệm chênh lệch không đáng kể. Cụ thể, trước thực nghiệm, tỉ lệ đó là 40.00% (17.33% + 22.67%), sau thực nghiệm tăng lên Là 46.67% (20.00% + 26.67%). Tuy vậy, sự chênh lệch này vẫn không đáng kể vì xét cho cùng, trên 50% sinh viên tự nhận, kết quả học tập của mình sau hai năm học không có gì tiến bộ là một điều đáng để cho chúng ta phải quan tâm.

Tỉ lệ sinh viên tự cho rằng, kết quả học môn tiếng Anh của mình sau hai năm học không khá hơn được bao nhiêu, so sánh giữa hai thời điểm trước và sau thực nghiệm tuy có giảm xuống nhưng không đáng kế. Trước thực nghiệm, tỉ lệ đó là 41.33%, sau thực nghiệm là 37.33%.

Tương tự, tỉ lệ sinh viên tự nhận xét, kết quả học môn tiếng Anh của mình sau hai năm học hoàn toàn không có kết quả gì so với trước thực nghiệm (18.67%) thì sau thực nghiệm chỉ giảm xuống có 2.67%. (sau thực nghiệm, tỉ lệ đó là 16.00%)

Nếu so sánh tỉ lệ sinh viên giữa nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng cũng thấy rõ sự khác biệt về kết quả học môn tiếng Anh sau hai năm học theo từng mức độ đã nêu trên. Sau khi thực nghiệm, tỉ lệ sinh viên tự nhận xét, kết quả học môn tiếng Anh của mình tốt hơn nhiều và khá hơn trước ở nhóm thực nghiệm là 79.40%, trong khi tỉ lệ này ở nhóm đối chứng chỉ là 46.67%. Tất cả đã đủ cho chúng ta khẳng định, việc thực hiện những biện pháp tác động trên đã thực sự có hiệu quả.

Rõ ràng, nội dung, chương trình tiếng Anh chuyên ngành, phương pháp dạy học bộ môn theo hướng giao tiếp tích cực của giáo viên đã tạo cho sinh viên tính tích cực, chủ động trong học tập, khích lệ sinh viên càng có ý thức hơn đối với môn học và nhận thức sâu sắc hơn về sự cần thiết của môn tiếng Anh đối với sinh viên tại các khoa không chuyên ngữ. Chính những yếu tố trên có ảnh hưởng rất quan trọng đến hiệu quả của việc dạy và học bộ môn tiếng Anh tại các khoa không chuyên ngữ.

Kết quả qua kiểm nghiệm bằng Tesl Chi Square (xem bảng 24, 25, 26) đã minh chứng cho những nhận định trên. Và điều đó cũng khẳng định rằng, việc thực hiện các biện pháp tác động thật sự có hiệu quả và giá trị của chúng rất có ý nghĩa.

2.4.4. Kết luận chung về thực nghiệm: Luận văn: Thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.

Dù rằng đây là những thực nghiệm bước đầu nhưng những thực nghiệm trên đã phần nào khẳng định giá trị của những biện pháp đề xuất và chúng đã mang lại những nét tiến bộ khởi đầu trong việc nâng cao hiệu quả công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh ở các khoa không chuyên ngữ tại Trường Đại học Sư phạm -Thành phố Hồ Chí Minh.

Kiểm nghiệm bằng những thực nghiệm đã trình bày ở trên cũng như qua những lần dự giờ ở lớp Lý 2B, Địa 2 và ở một số lớp khác, các giảng viên bộ môn trong đơn vị đều khẳng định, sinh viên các lớp rất thích học tiếng Anh chuyên ngành, hướng biên soạn giáo trình tiếng Anh chuyên ngành là rất phù hợp và hiệu quả đối với việc dạy học ngoại ngữ cho sinh viên của các khoa không chuyên ngữ. Nội dung bộ môn phù hợp cùng góp phần tạo cho sinh viên có ý thức học tập tích cực hơn vì họ cho rằng môn tiếng Anh chuyên ngành rất cần thiết, giúp ích cho họ rất nhiều trong học tập và nghiên cứu sau này. Và càng không thể phủ nhận vai trò của người thầy trong việc sử dụng các phương pháp giảng dạy tích cực để khơi dậy hứng thú học tập trong sinh viên đối với bộ môn ngoại ngữ. Sự luân chuyển các phương pháp dạy học: phương pháp thuyết giảng, phương pháp vấn đáp, phương pháp làm việc với tài liệu, phương pháp thảo luận nhóm, trò chơi nhận thức… đã tạo cho sinh viên sự say mê học tập, hứng thú hơn đối với bộ môn, qua đó nâng cao hơn hiệu quả dạy và học ngoại ngữ, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường sư phạm.

PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1. Kết luận:

1.1 Thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh ở các khoa không chuyên ngữ tại Trường Đại học Sư phạm -Thành phố Hồ Chí Minh:

  • Thực trạng quản lý mục tiêu môn học:

Việc quản lý mục tiêu môn học tiếng Anh tại các khoa không chuyên ngữ, xét về các mặt: kiến thức, kỹ năng, thái độ theo yêu cầu đào tạo chung của giáo dục đại học chưa đạt yêu cầu, chưa đáp ứng nhu cầu của xã hội, chưa theo kịp tốc độ phát triển của khoa học công nghệ, chưa đáp ứng với yêu cầu lớn lao của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

  • Thực trạng quản lý nội dung, chương trình bộ môn tiếng Anh:

Sinh viên năm thứ nhất của 12 khoa không chuyên ngữ học tiếng Anh với giáo trình Headway – Pre-Intermediate (150 tiết được bố trí thành 02 học phần). Giáo trình này chủ yếu dạy giao tiếp bằng tiếng Anh thông dụng, rèn luyện tổng hợp cả bốn kỹ năng giao tiếp nghe, nói, đọc, viết. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.

Sinh viên năm thứ hai đang thử nghiệm học tiếng Anh chuyên ngành (150 tiết chia thành 02 học phần), nhưng chỉ có sinh viên của các khoa Vật lý, Sinh vật, Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý được học theo giáo trình tiếng Anh chuyên ngành riêng của mình, sinh viên của 07 khoa còn lại: Toán -Tin, Hóa, Tâm lý giáo dục, Giáo dục chính trị, Giáo dục tiểu học, Giáo dục mầm non và Giáo dục thể chất chưa có giáo trình tiếng Anh chuyên ngành thì tạm thời học theo giáo trình tiếng Anh chuyên ngành của các khoa khác.

Nội dung, chương trình bộ môn tiếng Anh thực hiện giảng dạy cho sinh viên tại các khoa không chuyên ngữ như vậy chưa đáp ứng với nhu cầu đòi hỏi phục vụ học tập chuyên môn và nghiên cứu của sinh viên, cho nên họ chưa thật sự hứng thú đối với môn học và điều đó sẽ ảnh hưởng hạn chế đến hiệu quả dạy và học ngoại ngữ. Chính vì vậy, việc cải tiến nội dung, chương trình bộ môn tiếng Anh cho phù hợp và hiệu quả đối với sinh viên của các khoa không chuyên ngữ trong toàn trường là vấn đề cấp thiết phải thực hiện cho hoàn chỉnh.

  • Thực trụng việc quản lý cách kiểm tra, đánh giá hiệu quả giảng dạy:

Việc kiểm tra, đánh giá hiệu quả giảng dạy của các giáo viên bộ môn trong đơn vị tuy được tổ chức đều đặn từng năm học và đạt được hiệu quả nhất định, năng lực giảng dạy của giáo viên tiến bộ hẳn lên, chất lượng giảng dạy có phần được nâng cao hơn, nhưng có lúc, có trường hợp vẫn còn mang tính chiếu lệ, khó giải quyết do phụ thuộc vào cơ chế Nhà nước. Chính vì vậy, việc quản lý cách kiểm tra, đánh giá hiệu quả giảng dạy chưa mang lại kết quả cao.

  • Thực trạng việc quản lý phương tiện, thiết bị phục vụ dạy- học:

Việc sử dụng trang thiết bị phục vụ cho việc dạy và học bộ môn còn quá đơn sơ, các phương tiện và điều kiện phục vụ cho việc dạy và học còn thiếu thốn nhiều, việc sử dụng công nghệ mới trong giảng dạy của thầy và tham khảo thêm tài liệu phục vụ học tập, nghiên cứu của trò còn yếu. Chính vì vậy, cần yêu cầu bắt buộc giáo viên học để biết sử dụng trang thiết bị hiện đại phục vụ cho việc giảng dạy, khắc phục lối “dạy chay “như hiện nay nhằm kích thích sinh viên có hứng thú đối với môn học, tạo cho họ lối học giao tiếp tích cực để có thể phục vụ cho chuyên môn và nghiên cứu khoa học của mình.

  • Thực trạng việc quản lý tổ chức giảng dạy: Luận văn: Thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.

Việc tổ chức dạy học bộ môn chưa được khoa học. Sĩ số sinh viên quá đông trong một lớp học ngoại ngữ cũng ảnh hưởng hạn chế đến hiệu quả việc rèn luyện các kỹ năng giao tiếp của sinh viên. Việc tổ chức giảng dạy của khá đông giáo viên bộ môn chỉ đơn thuần thực hiện cho sinh viên nghe giảng, thông hiểu, ghi chép và làm bài tập trong sách. Việc thực hành các kỹ năng giao tiếp ngôn ngữ, lập luận, thảo luận, trình bày giải quyết vấn đề cho sinh viên trong phạm vi môn học còn quá yếu. Việc yêu cầu và hướng dẫn cho sinh viên đọc thêm tài liệu phục vụ cho học tập và nghiên cứu khoa học chưa được phát huy đều ở mọi lớp, mọi khoa, cho nên đa số sinh viên không có cách học tích cực, không mở rộng được kiến thức môn học, chỉ quanh quẩn với mỗi nội dung trong giáo trình đang học mà thôi.

  • Thực trạng việc quản lý đội ngũ giáo viên:

Đội ngũ các giảng viên bộ môn tiếng Anh của Tổ Ngoại ngữ phần lớn đều là giảng viên tiếng Nga chuyển sang sau khi tốt nghiệp thêm bằng cử nhân Anh văn, chỉ có duy nhát 01 giảng viên tiếng Anh mới bổ sung là được đào tạo chính qui. Song với tinh thần nỗ lực phấn đấu rất cao trong việc bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đến năm 2030, với đội ngũ 19 cán bộ giảng dạy Tổ tiếng Anh sẽ có 15.79% giảng viên đạt trình độ học vị Tiến sĩ và 52.63% giảng viên đạt trình độ học vị Thạc sĩ. Như vậy, Theo 10 tiêu chí đánh giá chất lượng và điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo đại học – thực hiện trong giai đoạn 2025-2030, Tổ tiếng Anh vẫn chưa thể đạt được qui chuẩn về tỉ lệ cán bộ giảng dạy có học vị Thạc sĩ và Tiến sĩ đối với một đơn vị giảng dạy của trường đại học sư phạm mà Bộ đã đề ra. Chính vì vậy, vấn đề học tập nâng cao trình độ chuyên môn và từng bước chính qui hóa đội ngũ giảng viên tiếng Anh cần phải được quan tâm nhiều nhất.

  • Thực trạng quản lý việc thực hiện phương pháp giảng dạy:

Tổng hợp lại vẫn còn 1/3 trong tổng số 18 giảng viên bộ môn chỉ sử dụng đơn thuần Phương pháp Ngữ pháp – Dịch, họ chủ yếu là “giảng giải”, “định nghĩa cụm từ” và cho sinh viên làm bài tập trong sách. Chính vì vậy, đã có 16.04% trong tổng số 692 sinh viên (được chọn ngẫu nhiên) nhận xét rằng, giáo viên không có phương pháp dạy ngoại ngữ, và 13.29% sinh viên đánh giá về cách dạy của thầy cô không hấp dẫn, dễ buồn ngủ. Thực tế, một số giảng viên sử dụng tiếng Việt khá nhiều trong tiết dạy ngoại ngữ, tập trung làm bài tập trong sách và giảng giải quá nhiều, không còn thời gian cho sinh viên luyện tập nghe, nói. Chính điều đó dễ gây nhàm chán, không kích thích việc học ngoại ngữ trong sinh viên, dẫn đến hiệu suất giảng dạy thấp. Trong việc tổ chức lên lớp, rất ít giáo viên sử dụng giáo cụ trực quan. Hiện tượng “dạy chay” còn rất phổ biến. Với tình hình này, đơn vị đã có chủ trương thực nghiệm cải tiến phương pháp giảng dạy bộ môn, tổ chức dự giờ “dạy giỏi”, sử dụng các phương tiện giảng dạy hiện đại (như máy đèn chiếu, các thiết bị nghe nhìn, giáo cụ trực quan…) để tiến tới yêu cầu thực hiện cải tiến phương pháp dạy học theo hướng giao tiếp tích cực trong toàn thể đội ngũ giảng viên của đơn vị.

  • Thực trạng quản lý việc đánh giá kết quả học tập của sinh viên:

Việc kiểm tra, đánh giá trong quá trình giảng dạy trên lớp được giáo viên thực hiện với nhiều hình thức: viết, vấn đáp, trắc nghiệm và hình thức thường cho sinh viên làm bài tập theo sách vẫn chiếm gần 40% trong tổng số 18 giảng viên bộ môn.

Đơn vị đã thực hiện tốt các qui định của Bộ, của Trường về thi cử từ các khâu ra đề, duyệt đề, coi thi, chấm thi. Song, hiện tại, hình thức thi, kiểm tra bộ môn cho sinh viên tại các khoa không chuyên ngữ còn đơn thuần là kiểm tra viết. Hình thức thi, kiểm tra như vậy chưa đưa ra được phương pháp kiểm tra đặc thù của bộ môn, chỉ mới kiểm tra, đánh giá được kỹ năng đọc hiểu và viết còn kỹ năng nghe và nói của sinh viên không được phát huy. Hình thức kiểm tra, đánh giá đó chưa chú ý rèn luyện cả 4 kỹ năng giao tiếp như mục tiêu môn học đã đề ra. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.

1.2. Nguyên nhân của thực trạng trên:

  • Nguyên nhân từ việc chỉ đạo tổ chức giảng dạy ngoại ngữ ở các khoa không chuyên ngữ tại các trường đại học:

Việc tổ chức giảng dạy bộ môn ngoại ngữ ở các khoa không chuyên ngữ tại các trường đại học chưa thống nhất. Các trường tự lựa chọn giáo trình bộ môn để giảng dạy. Phân bố bộ môn ngoại ngữ chưa được qui định cụ thể cho từng khối trường, từng chuyên ngành và chưa liên thông với chương trình bộ môn ngoại ngữ ở phổ thông. Do đó, hiệu quả của việc dạy và học ngoại ngữ ở các trường cao đẳng, đại học chưa cao, nhiều sinh viên khi tốt nghiệp cao đẳng, đại học chưa sử dụng được ngoại ngữ đã học trong trường và ngay cả trong công tác chuyên môn.

Chương trình bộ môn ngoại ngữ với thời lượng 300 tiết cho cả khóa học theo qui định của Bộ Giáo dục và Đào tạo chưa đáp ứng nhu cầu sử dụng tiếng Anh của sinh viên, kể cả trong giao tiếp tiếng Anh cơ bản lẫn tiếng Anh sử dụng trong chuyên môn.

  • Nguyên nhân từ việc chỉ đạo tổ chức hoạt động giảng dạy:

Việc thực hiện mục tiêu và qui trình dạy học bộ môn chưa đáp ứng với yêu cầu đào tạo sinh viên đại học của Bộ Giáo dục và Đào tạo đề ra, do đó chưa có thể đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi của xã hội về đội ngũ những cán bộ khoa học trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Nội dung, chương trình bộ môn tiếng Anh nói chung ở các khoa không chuyên ngữ trong toàn trường còn trong tình trạng thực hiện tạm thời, chưa có thể phù hợp với trình độ của người học, chưa đem lại lợi ích thực tiễn trong việc giúp sinh viên sử dụng ngoại ngữ phục vụ cho học tập và nghiên cứu khoa học và chính điều đó đã làm giảm mất sự hứng thú học tập của sinh viên đối với môn học, hạn chế nhiều đến hiệu quả của việc dạy và học ngoại ngữ.

Cơ sở lớp học của trường hiện còn ở trong tình trạng tạm thời cho nên chưa đảm bảo đúng qui chuẩn đề ra đối với mỗi cơ sở đào tạo. (Theo 10 tiêu chí đánh giá chất lượng và điều kiện đảm bảo chất lượng đào tạo đại học). Việc giảng dạy ngoại ngữ với phương tiện, trang thiết bị như hiện nay vẫn không thể đáp ứng được nhu cầu đòi hỏi về trình độ ngày càng cao của sinh viên trong thời kỳ đổi mới không ngừng của nền kinh tế – xã hội. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.

Những yếu kém về phương pháp giảng dạy, năng lực chuyên môn thiếu cập nhật, trình độ chuyên môn chưa phù hợp với yêu cầu đổi mới về nội dung, chương trình, sự hẫng hụt đó của một số giảng viên, chính là nguyên nhân nghiêm trọng nhất, hạn chế đến hiệu quả của việc dạy và học bộ môn.

Hình thức kiểm tra, thi học phần bộ môn mới đơn thuần là kiểm tra viết. Hình thức đó chưa đưa ra được phương pháp kiểm tra đặc thù của bộ môn, chỉ mới kiểm tra, đánh giá được kỹ năng đọc hiểu và kỹ năng viết của học sinh, còn kỹ năng nghe và nói chưa được phát huy. Hình thức kiểm tra, thi như vậy chưa đánh giá đúng chất lượng học tập bộ môn và chưa đáp ứng với mục tiêu môn học mà Bộ Giáo dục và Đào tạo đã qui định trong chương trình đào tạo sinh viên đại học hiện nay.

  • Nguyên nhân từ việc chỉ đạo tổ chức hoại động học tập:

Việc chỉ đạo tổ chức hoạt động học tập cho sinh viên chưa đạt hiệu quả cao. Điều này gây ảnh hưởng không nhỏ đến động cơ, thái độ học tập của sinh viên trong suốt quá trình:

  • Thái độ học tập của sinh viên chưa được tích cực. Trên 80% sinh viên có thái độ trung bình chủ nghĩa và rất thụ động đối với việc học bộ môn ngoại ngữ.
  • Ý thức học tập bộ môn của sinh viên còn kém. Gần 50% sinh viên không thường xuyên và khoảng 6% sinh viên chưa bao giờ học bài và làm bài tập.
  • Khả năng vận dụng các kỹ năng giao tiếp tiếng Anh đã học của sinh viên trong học tập, trong nghiên cứu cũng như trong giao tiếp còn rất hạn chế.
  • Việc sử dụng tài liệu phục vụ cho học tập bộ môn của sinh viên còn quá nghèo nàn, phần đông sinh viên không tham khảo thêm tài liệu, sách báo nào khác ngoài mỗi giáo trình bộ môn. Học như vậy thì làm sao mở rộng được kiến thức, không chuyên sâu thì lấy đâu kiến thức để độc lập suy nghĩ, để chủ động giành lấy tri thức, để tích cực chiếm lĩnh khoa học.

1.3. Một số biện pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh ỏ các khoa không chuyên ngữ tại Trường Đại học Sư phạm – Thành phố Hồ Chí Minh: Luận văn: Thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.

  • Phân bố bộ môn ngoại ngữ cho phù hợp với sinh viên ở các khoa không chuyên ngữ:

Thực hiện phân loại trình độ đầu vào đối với bộ môn tiếng Anh cho sinh viên của các khoa không chuyên ngữ. Những sinh viên đã cố quá trình học tiếng Anh ở phổ thông và theo nguyện vọng thì tiếp tục được xếp vào các lớp học tiếng Anh chuyên ngành. Những sinh viên còn lại sẽ được xếp vào các lớp học tiếng Trang, tiếng Pháp hoặc tiếng Nga. Nên chú ý qui hoạch tỉ lệ dạy và học ngoại ngữ giữa các thứ tiếng cho phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của từng địa phương.

  • Cải tiến nội dung, chương trình bộ môn tiếng Anh phù hợp và hiệu quả đối với sinh viên ở tất cả các khoa không chuyên ngữ:

Cố gắng biên soạn đủ giáo trình và thực hiện giảng dạy tiếng Anh chuyên ngành cho sinh viên của 12 khoa không chuyên ngữ trong toàn trường.

  • Tăng thời lượng cho bộ môn ngoại ngữ đối với sinh viên ở các khoa không chuyên ngữ:

Thời lượng dành cho bộ môn ngoại ngữ đối với sinh viên ở các khoa không chuyên ngữ nên tăng lên là 450 tiết (tức 30 đvht) và phân bố trong 3 năm học theo 6 học phần (tương đương với 6 học kỳ) từ năm thứ nhất đến năm thứ ba.

  • Tăng cường nâng cao trình độ, năng lực của đội ngũ giáo viên:

Việc học tập nâng cao trình độ chuyên môn và nghiệp vụ đối với đội ngũ giảng viên bộ môn tiếng Anh cần phải yêu cầu cao hơn và bắt buộc triệt để nhằm đạt đúng qui chuẩn về cán bộ giảng dạy đại học của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đáp ứng yêu cầu của chương trình đào tạo đảm nhiệm ngày càng đòi hỏi cao về chất lượng giáo dục đại học.

  • Tăng cường công tác quản lý chuyên môn, kiểm tra, đánh giá:

Chỉ đạo sát sao, kiểm tra chặt chẽ hoạt động dạy và học, chủ yếu tập trung vào việc chỉ đạo thực hiện mục tiêu, kế hoạch, qui chế chuyên môn, kiểm tra nền nếp dạy và học, hệ thống cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ đào tạo và đặc biệt chú trọng đến việc đánh giá chất lượng dạy và học của thầy và trò.

Cần thực hiện hình thức, thi, kiểm tra nhằm đánh giá toàn diện cả 4 kỹ năng giao tiếp ngôn ngữ nghe, nói, đọc, viết của sinh viên như mục tiêu môn học đã đề ra. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.

  • Nâng cấp và bổ sung các phương tiện, trang thiết bị phục vụ dạy và học:

Cần trang bị các phương tiện và trang thiết bị giảng dạy mới cho các phòng học dành riêng cho việc dạy ngoại ngữ, phấn đấu đảm bảo tài liệu tham khảo, giáo trình tiếng Anh về chuyên ngành giúp cho sinh viên làm tốt nhiệm vụ học tập và nghiên cứu khoa học.

  • Tăng cường cải tiến phương pháp dạy học theo hướng giao tiếp tích cực:

Cần khắc phục lối dạy ôm đồm, dàn trải, giảng giải quá nhiều, từng bước áp dụng các phương pháp giảng dạy tích cực và những phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, tăng cường hoạt động của người học, tạo cho sinh viên lối học giao tiếp tích cực, phục vụ chuyên môn có hiệu quả hơn.

2. Kiến nghị:

2.1 Đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo:

Để thực hiện tốt việc đổi mới cơ chế quản lý đại học, trong đó cần phải tăng quyền tự chủ cho đại học, xây dựng và ban hành các tiêu chuẩn, các chỉ số cần có của đội ngũ giảng viên ở một trường đại học, xây dựng những chế độ, chính sách cụ thể áp dụng trong đội ngũ giảng viên nhằm tạo thêm động lực cho giảng viên các trường thực thi nhiệm vụ của mình, chuẩn hóa định mức giờ dạy, thời gian hợp lý hơn dành cho nghiên cứu khoa học và các hoạt động giáo dục trong và ngoài nhà trường.

Để tạo điều kiện cho việc bảo đảm nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn ngoại ngữ đối với sinh viên tại các khoa không chuyên ngữ trong các trường đại học nói chung, Trường Đại học Sư phạm – Thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, chúng tôi xin được đề xuất với Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc tăng thêm thời lượng cho môn học trong chương trình đào tạo chung của Trường, từ 300 tiết (20 đvht) Lên 450 tiết (30 đvht). Điều này sẽ tạo điều kiện cho sinh viên của các khoa không chuyên ngữ có thêm thời gian để tập luyện nhiều hơn với chương trình bộ môn, đáp ứng đủ kiến thức ngoại ngữ cần thiết cho việc phục vụ chuyên môn và nghiên cứu khoa học. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.

Cần đề cao vai trò, vị trí của bộ môn ngoại ngữ trong nhà trường cũng như ngoài xã hội và để sinh viên có thái độ tôn trọng môn học, nhà trường quan tâm, xin mạnh dạn đề xuất với Bộ về việc bắt buộc thi tốt nghiệp bộ môn ngoại ngữ đối với sinh viên của các khoa không chuyên ngữ như những năm trước đây, nhằm tạo động lực thúc đẩy việc học ngoại ngữ có hiệu quả thật sự.

2.2. Đối với Trường Đại học Sư phạm – Thành phố Hồ Chí Minh:

Quan tâm và hỗ trợ Tổ Ngoại ngữ chuyên ngành trong những đề xuất trên với Bộ Giáo dục và Đào tạo. Cần mạnh dạn đổi mới trong việc quản lý đội ngũ giảng viên nhà trường và nên có giải pháp khuyến khích hoặc hình thức nào đó đối với chất lượng giảng dạy. Sớm chấm dứt quan niệm cho rằng, hễ là giáo viên thì chỉ có làm công tác giảng dạy, mà cần phải cho ngừng dạy học đối với những giảng viên không có đủ năng lực, trình độ bảo đảm cho công tác giảng dạy và nên thuyên chuyển họ sang một công tác khác phù hợp. Bời vì, ngoài những vấn đề cần thực hiện như cải tiến nội dung, chương trình bộ môn cho phù hợp với mục tiêu đào tạo, cải tiến cách thức tổ chức giảng dạy, cải tiến phương pháp dạy học tạo cho sinh viên lối học sáng tạo, tích cực, tăng cường sử dụng các thiết bị giảng dạy tiên tiến, tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá, tiềm lực của đội ngũ giảng viên có vai trò rất lớn trong việc quyết định chất lượng dạy và học, quyết định chất lượng sản phẩm đào tạo của nhà trường.

Với những đề xuất trên, hy vọng rằng sớm được Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng như Trường Đại học Sư phạm – Thành phố Hồ Chí Minh chấp thuận và điều đó sẽ tạo điều kiện cho đơn vị chúng tôi thực hiện được việc nâng cao hiệu quả công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh nói riêng và bộ môn ngoại ngữ nói chung tại các khoa không chuyên ngữ trong toàn Trường, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường sư phạm, đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực trình độ cao phù hợp với cơ cấu kinh tế -xã hội của thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Hiệu quả công tác quản lý việc giảng dạy tiếng Anh

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *