Luận văn: Thực trạng công tác quản lý nhà nước du lịch Bắc Ninh

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng công tác quản lý nhà nước du lịch Bắc Ninh hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thực trạng công tác quản lý nhà nước về du lịch tại Tỉnh Bắc Ninh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1 Khái quát chung về tỉnh Bắc Ninh

Bắc Ninh – mảnh đất cổ kính, một làng quê văn hiến với những con người siêng năng, cần cù, chịu khó, thủy chung trong cuộc sống, tinh tế, lịch lãm trong ứng xử, thông minh, tài ba trong học hành. Những con người ấy đang hàng ngày, hàng giờ miệt mài cống hiến dựng xây, kiến thiết cho quê hương ngày thêm giàu đẹp. Bên cạnh đó, với tấm lòng yêu say các sinh hoạt văn hóa truyền thống, họ đã góp phần tạo ra cho mảnh đất nơi đây một kho tàng văn hóa phong phú, đa dạng mà không phải bất cứ làng quê nào cũng có được. Sự đa dạng đó còn được thiết lập qua cả một chiều dài lịch sử và sẽ ngày càng phát triển hơn nữa bởi vì những con người nơi đây luôn biết giữ gìn, hòa mình vào các tài nguyên văn hóa đó.

Trải qua bao năm tháng, Bắc Ninh vẫn luôn tự hào là mảnh đất chứa đựng nhiều dấu ấn văn hóa nhất. những điều kiện về kinh tế xã hội, những cơ chế chính sách của Đảng, nhà nước và của ngành du lịch cũng có tác động mạnh mẽ thúc đẩy phát triển du lịch nói chung và du lịch văn hóa nói riêng.

Với những điều kiện đó, du lịch Bắc Ninh đáng lẽ phải phát triển ngang tầm với các địa phương khác trong khu vực. Tuy nhiên hoạt động du lịch ở mảnh đất tươi đẹp này vẫn chưa phát triển đúng với tiềm năng của tỉnh. Các thực trạng hoạt động du lịch đó sẽ được tác giả thống kê phân tích sau đây.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Hỗ Trợ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Du Lịch

2.1.1  Dân số và sự phân bổ dân cư

2.1.1.1 Đặc điểm dân số.  

Năm 2023, dân số trung bình của Bắc Ninh là 1.114.001 người, cơ cấu dân số Bắc Ninh thuộc loại trẻ: Nhóm 0-14 tuổi chiếm tới 27,7%; nhóm 15-64 tuổi khoảng 66% và 6,3%  số người trên 65 tuổi. Do đó, tỉ lệ nhân khẩu phụ thuộc còn cao (0,59). Dân số nữ chiếm tới 51,11% tổng dân số của tỉnh, cao hơn so với tỉ lệ tương ứng của cả nước (50,05%). Kết quả này có thể do nguyên nhân kinh tế – xã hội là chủ yếu. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý nhà nước du lịch Bắc Ninh.

Phân bố dân cư Bắc Ninh mang đậm sắc thái nông nghiệp, nông thôn với tỉ lệ 75%, dân số sống ở khu vực thành thị chỉ chiếm 25%, thấp hơn sovíi tỉ lệ dân đô thị của cả nước. Mật độ dân số trung bình năm 2023 của tỉnh là 1354 người/km2. Dân số phân bố không đều giữa các huyện/thành phố. Mật độ dân số của Quế Võ và Gia Bình chỉ bằng khoảng 1/3 của Từ Sơn và 1/3 của thành phố Bắc Ninh.

2.1.1.2 Nguồn nhân lực

Ước tính 2023, dân số trong độ tuổi lao động có khả năng lao động chiếm 67,01% tổng dân số, tương đương với khoảng 693,4 ngàn người, trung bình mỗi năm lao động có khả năng lao động tăng thêm khoảng 4,094 ngàn người, tốc độ tăng bình quân giai đoạn 2019-2023 đạt 1,33%/năm. Nguồn nhân lực chủ yếu tập trung ở khu vực nông thôn. Nguồn nhân lực trẻ và chiếm tỉ trọng cao, một mặt là lợi thế cho phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh; mặt khác, cũng tạo sức ép lên hệ thống giáo dục-đào tạo và giải quyết việc làm.

Chất lượng của nguồn nhân lực được thể hiện chủ yếu qua trình độ học vấn và đặc biệt là trình độ chuyên môn kĩ thuật. Trình độ học vấn của nguồn nhân lực (NNL) Bắc Ninh cao hơn so với mức trung bình cả nước nhưng thấp hơn so với mức trung bình của Đồng Bằng Sông Hồng và vùng kinh tế đồng bằng Bắc Bộ. Tuy chỉ còn 0,39% NNL mù chữ, 5,79% chưa tốt nghiệp tiểu học, 66,61% tốt nghiệp tiểu học và THCS  nhưng số tốt nghiệp THPT chỉ 27,2%.Năm 2023, tỉ lệ lao động qua đào tạo chuyên môn kỹ thuật của Bắc Ninh là 45,01%, trong đó số có bằng từ công nhân kỹ thuật trở lên chiếm 18,84%. Như vậy, chất lượng nguồn nhân lực Bắc Ninh cao hơn mức trung bình cả nước (30,0% & 12,4%).

2.1.2 Tình hình kinh tế – xã hội tỉnh Bắc Ninh 

a/Kinh tế – xã hội

Cùng với sự phát triển nhanh của nền kinh tế, hệ thống các đô thị tỉnh Bắc Ninh cũng đã dần được hình thành và phát triển. Hiện nay toàn tỉnh có 1 thành phố Bắc Ninh (đô thị loại III), 1 thị xã Từ Sơn và 6 thị trấn là Phố Mới (huyện Quế Võ), Lim (huyện Tiên Du), Chờ (huyện Yên Phong), Hồ (huyện Thuận Thành), Gia Bình (huyện Gia Bình) và Thứa (huyện Lương Tài). Những năm qua tốc độ đô thị hóa diễn ra khá nhanh, đặc biệt là ở thành phố Bắc Ninh và Từ Sơn. Ngày 09/4/2017 Thủ tướng Chính phủ đã ký nghị định số 60/2017/NĐ-CP về việc mở rộng địa giới hành chính thành phố Bắc Ninh lên 8.028,19 ha, dân số 150.331 người trên cơ sở sát nhập các xã Hòa Long, Vạn An, Khúc Xuyên, Phong Khê (huyện Yên Phong), Kim Chân, Vân Dương, Nam Sơn (huyện Quế Võ) và Khắc Niệm, Hạp Lĩnh (huyện Tiên Du) vào thành phố Bắc Ninh. Bắc Ninh đã được định hướng phát triển trở thành thành phố trực thuộc Trung ương vào năm 2030. Thị trấn Từ Sơn cũng đã được nâng cấp thành thị xã, trong đó đất khu nội thị xã được mở rộng ra các xã Đình Bảng, Đồng Nguyên, Tân Hồng, Đồng Quang và thị trấn Từ Sơn. Ngoài ra, quá trình đô thị hóa đang diễn ra khá mạnh ở cách khu vực đông dân cư, các khu công nghiệp tập trung, các khu vực ven đường QL 1A, QL18, QL38. Trong tương lai, việc phát triển mạng lưới thị trấn, thị tứ vẫn tập trung chính ở các khu vực này.

Việc bố trí đất đai cho các điểm dân cư này cần phải dược chú trọng xem xét hợp lý, tạo điều kiện phát triển cho các đô thị mà vẫn bảo được đất đai cho sản xuất nông nghiệp, bảo vệ môi trường sinh thái, cảnh quan thiện nhiên, dành quỹ đất cho phát triển các dịch vụ công ích và phát triển các công trình phục vụ du lịch.

b/Văn hóa – thể dục – thể thao Luận văn: Thực trạng công tác quản lý nhà nước du lịch Bắc Ninh.

 Các hoạt động văn hóa thông tin và thể dục thể thao trong tỉnh đã có chuyển biến tích cực góp phần đáng kể vào việc nâng cao đời sống tinh thần cho nhân dân. Hàng năm tỉnh vẫn duy trì được các hoạt động văn hóa và sinh hoạt tín ngưỡng thông qua sinh hoạt văn hóa quan họ, các lễ hội truyền thống đậm đà sắc thái văn hiến Kinh Bắc như lÔ hội chùa Dâu, hội Lim, hội Đền Đô…hoạt động thể thao cho mọi người ngày càng phát triển, các cuộc thi đấu gắn liền với các lễ hội tạo nên không khí sôi nổi thi đua tập luyện, giao lưu đoàn kết, đẩy mạnh phong trào.

c/ Giao thông:

Bắc Ninh là tỉnh có điều kiện giao thông tương đối thuận lợi. Trong những năm gần đây, hệ thống giao thông của tỉnh phát triển mạnh, đặc biệt là hệ thống giao thông đường bộ và đường thủy nội địa. Hệ thống giao thông phát triển tạo điều kiện thuận lợi cho thông thương và việc tiếp cận của khách du lịch từ các cảng biển, sân bay quốc tế Nội Bài và các cửa khẩu đường bộ ở các tỉnh bạn.

  • Đường bộ:

Bắc Ninh là tỉnh có hệ thống đường bộ thuận tiện cho việc vận chuyển, giao lưu kinh tế trong ngoài tỉnh. Mạng lưới giao thông đường bộ toàn tỉnh hiện có 3.906,5 km, mật độ đường 4,75km/km2 thuộc loại cao so với bình quân cả nước, trong đó:

Có 3 tuyến quốc gia gồm Quốc lộ 1 (AH1) đoạn qua Bắc Ninh dài 19 Km, Quốc lộ 18 đoạn qua Bắc Ninh dài 26,2 km và Quốc lộ 38 đoạn qua Bắc Ninh dài 23 km và đường cao tốc Bắc Ninh – Nội Bài đoạn chạy qua Bắc Ninh dài 17 km, mật độ đường 4,75 km/km2. Các tuyến Quốc lộ qua Bắc Ninh là các tuyến quan trọng nối Thủ đô Hà Nội với các tỉnh phía Bắc và Đông Bắc của đất nước. Đặc biệt, tuyến giao thông Quốc lộ 1 và Quốc lộ 18 có ý nghĩa rất quan trọng đối với phát triển kinh tế nói chung và du lịch nói riêng của tỉnh Bắc Ninh.

  • Có 12 tuyến đường tỉnh lộ gồm các tuyến TL 270, 271, 272, 280, 281, 282, 283, 284, 286, 291, 295, 295B với tổng chiều dài 290km.
  • Đường huyện lộ và đường nội thị có tổng chiều dài là 514km.
  • Đường trục xã có tổng chiều dài là 755 km.
  • Đường thôn, xóm có tổng chiều dài là 2.392 km.

Nhìn tổng thể, hệ thống giao thông của tỉnh Bắc Ninh có một số đặc điểm cơ bản sau:

Về mạng lưới: Được hình thành từ nhiều năm trước đây nhưng cơ bản là khá hợp lý về quy hoạch mạng lưới chung, đảm bảo cho xe ô tô đi từ tỉnh đến các xã, các thông trong toàn tỉnh và liên hoàn với mạng lưới giao thông quốc gia. Liên hệ với đường sắt và đường sông cũng có các tuyến đường bộ được nối với các cảng, ga và các bến bãi ven sông.

Về tình trạng ký thuật đường bộ: Trừ các tuyến Quốc lộ, còn lại các tuyến đường địa phương nhìn chung chưa tốt, nền đường, mặt đường hẹp. Tỉnh lộ chủ yếu mới đặt tiêu chuẩn đường cấp 5 đồng bằng (nền rộng 6,5 m, mặt rộng 3,5m), còn các tuyến đường xã, đường trong thôn xóm chỉ đặt cấp B, cấp A nông thôn (nền rộng 4 – 5m, mặt rộng 3m). Hiện tại chiri có các tuyến quốc lộ, tỉnh lộ và một số tuyến đường huyện được trải nhựa, còn lại vẫn đa số là đường đất hoặc cấp phối các loại, tuy nhiên hầu hết các tuyến đường nội thôn, xóm hầu như đã gạch hóa hoặc bê thông hóa. Các tuyến đường nội khu công nghiệp đến nay cơ bản được xây dựng đảm bảo quy hoạch và tải trọng cao.

  • Đường sông: Luận văn: Thực trạng công tác quản lý nhà nước du lịch Bắc Ninh.

Bắc Ninh có 3 con sông lớn chảy qua là sông Cầu dài 70 km, sông Đuống dài 42 km và sông Thái Bình dài 17 km. Cả 3 còn sông này đều có khả năng cho các phương tiện thủy có tải trọng 20 – 400 tấn đi qua, riêng sông Cầu còn 10 km thượng nguồn vào mùa khô chỉ có khả năng cho tuyền 50 tấn đi qua.

Trên mạng lưới đường sông của Bắc Ninh hiện tại có 3 cảng lớn là:

  • Cảng Đáp Cầu (do cục đường sông quản lý) có bải chứa 2 ha, trước đây lượng hàng lưu thông qua là 200.000 tấn/năm, lay chỉ còn 100.000 tấn/năm chủ yếu là vật liệu xây dựng.
  • Cảng chuyên dùng nhà máy kính Đáp Cầu có công suất trên 30.000 tấn/năm.
  • Cảng chuyên dùng nhà máy kính nổi Quế Võ tại Đáp Cầu có công suất 35.000 tấn/ năm.

Ngoài 3 cảng này còn có nhiều bãi xếp dỡ vật liệu khai thác cát chưa được đầu tư xây dựng như: Hồ, Đông Xuyên, Kênh Vàng… hàng năm xếp dỡ một lượng hàng lớn chủ yếu là vật liệ xây dựng.

  • Đường sắt:

Bắc Ninh có tuyến đường sắt Hà Nội – Lạng Sơn chạy qua gần 20km với 4 ga chất lượng đường và ga đều đã xuống cấp, khả năng sử dụng khai tác hạn chế. Các ga chủ yếu tiếp nhận một số hàng vật liệu xây dựng, phân bón và hàng tiêu dùng, lượng hành khách qua lại ngày càng có xu hướng giảm. Hiện nay, Bắc Ninh đang xây dựng tuyến đường sắt Yên Viên – Hạ Long, đoạn qua Bắc Ninh dài 18km với 2 ga là Nam Sơn và Châu Cầu.

  • Đường hàng không:

Bắc Ninh không có cảng hàng không nhưng cảng hàng không quốc tế Nội Bài của Hà Nội chỉ cách thành phố Bắc Ninh khoảng 40 km (tương đương khoảng cách từ trung tâm thành phố Hà Nội) về phía Tây và các thị xã Từ Sơn 25km với tuyến đường cao tốc Nội Bài – Bắc Ninh hiện đại và thuận lợi cho du khách đến Bắc Ninh bằng đường không.

d/ Hệ thống điện:

Bắc Ninh có hệ thống lưới điện từ tỉnh về đến huyện, xã và từng thôn xóm được xây dựng đáp ứng nhu cầu điện sinh hoạt cho nhân dân trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, trước đây mạng lưới điện không đồng bộ, chất lượng kém, không đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội, trong đó có du lịch. Thời gian qua, ngành điện của tỉnh đã đầu tư 400 tỷ đồng để xây dựng cải tạo hệ thống điện. Đến nay toàn tỉnh có 173,4 km đường dây 110KV, 465,3 km đường dây 35KV, 465,2km đường dây 6-10-22KV và 2.117km đường dây 0,8KV. Nhìn chung hệ thống điện đã cơ bản đáp ứng được nhu cầu về điện phục vụ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân.

e/Cấp nước: Luận văn: Thực trạng công tác quản lý nhà nước du lịch Bắc Ninh.

Nguồn nước ngầm trên địa bản tỉnh Bắc Ninh trước đây khá phong phú với trữ lượng đạt hơn 235 ngàn mét khối một ngày đêm. Bên cạnh đó, với mạng lưới sông ngòi dày đặc, Bắc Ninh có trữ lượng lớn nước mặt với hàm lượng khoáng chất đảm bảo khai thác cấp nước sinh hoạt. Tuy nhiên, thời gian gần đầy do việc khai thác nước ngầm phục vụ công nghiệp và đô thị còn thiếu kiểm soát nên ảnh hưởng nhiều đến trữ lượng nước ngầm, đặc biệt vào mùa khô.

Trên địa bàn tỉnh hiện nay có 7 nhà máy nước với tổng công suất 50.500m3/ngđ, cung cấp nước sạch đủ cho thành phố Bắc Ninh, một số cụm dân cư tại các thj trấn Phố Mới, thị xã Từ Sơn, thị trấn Lim, thị trấn Thứa và thị trấn Hồ. Bên cạnh đó ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn đã triển khai một số dự án cấp nước sinh hoạt tập trung, chủ yếu vẫn cho các khu vực dân cư nông thôn. Các khu vực khác hiện tại vẫn dùng nước giếng khoan. Vấn đề này cần được cải thiện để một mặt phục vụ nhu cầu nước sinh hoạt của người dân, nhu cầu nước sản xuất của các doanh nghiệp và mặt khác bảo đảm cho nhu cầu của khách du lịch.

f/Thoát nước:

Hiện nay trên địa bàn tỉnh chưa có nhà máy xử lý nước thải sinh hoạt. Tỉnh Bắc Ninh đang đầu tư xây dựng tuyến đường thu gom và nhà máy xử lý nước thải tại thành phố Bắc Ninh và thị xã Từ Sơn. Các đô thị còn lại đang sử dụng hệ thống thoát nước chung với nước mưa, chủ yếu sử dụng hệ thống rãnh xây nắp đan, các cống này đều được xây dựng từ lâu nên đã hư hỏng nhiều, không đảm bảo thoát nước mưa trong mùa mưa.

g/ Hệ thống thông tin liên lạc:

Cùng chung đặc điểm như phần lới các địa phương khác trên cả nước, Bắc Ninh có dịch vụ bưu chính viễn thông phát triển mạnh, đảm bảo liên lạc được thông suốt. Không những thế, hệ thống thông tin liên lạc cảu tỉnh vẫn tiếp tục được hiện đại hóa, đã đầu tư thêm 1 tổng đài, 17 trạm truyền dẫn cáp quang đến tất cả các huyện thị, 99 điểm bưu điện văn hóa xã và 149 điểm bưu điện văn hóa thôn, rút ngắn bán kính phục vụ xuống dưới 1km/điểm phục vụ, thấp hơn mức bình quan cả nước. Bắc Ninh cũng là một trong những tỉnh đầu tinh trong cả nước xây dựng và đưa vào sử dụng cổng giao tiếp điện tử, bán điện tử phục vụ cho công tác quản lý và hiện đại hóa dịch vụ thông tin.

2.1.3 Hạ tầng kỹ thuật phục vụ du lịch

Cơ sở vật chất kỹ thuật đóng góp một phần quan trọng trong quá trình phục vụ khách du lịch. Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch đáp ứng các nhu cầu của khách du lịch về lưu trú, ăn uống, vận chuyển, các điều kiện về vui chơi giải trí và các dịch vụ khác… Nói đến cơ sở vật chất kỹ thuật chúng ta không chỉ đánh giá về mặt số lượng mà còn phải đánh giá mặt chất lượng. Chất lượng của cơ sở vật chất kỹ thuật tốt thì mới đáp ứng được đầy đủ các nhu cầu và làm hài lòng khách du lịch.

Cơ sở lưu trú: Cùng với xu hướng chung của cả nước hiện nay, do lượng khách ngày càng tăng nên các khách sạn, nhà trọ được xây dựng thêm để đáp ứng kịp thời nhu cầu của khách du lịch. Ngành du lịch Bắc Ninh cũng không ngừng nâng cấp, xây mới khách sạn, nhà nghỉ phục vụ khách du lịch. Nhìn chung số lượng khách sạn, nhà nghỉ của các thành phần kinh tế tăng nhanh cả về số lượng, quy mô và phương thức hoạt động. Hiện nay, toàn tỉnh có 178 khách sạn, nhà nghỉ (với 1.792 phòng và 2.279 giường) có thể đưa vào phục vụ kinh doanh du lịch, trong đó có 6 khách sạn được phân hạng sao (252 phòng và 346 giường). Luận văn: Thực trạng công tác quản lý nhà nước du lịch Bắc Ninh.

Bảng 2.1 hiện trạng cơ sở lưu trú của Bắc Ninh  Giai đoạn 2019 – 2023)

Do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến nhu cầu đi du lịch của người dân kéo theo đó là sự sa sút của ngành du lịch. Một số đơn vị kinh doanh cơ sở lưu trú đã chuyển đổi hình thức kinh doanh, một số doanh nghiệp khác muốn tồn tại phải nâng cao chất lượng các dịch vụ vụ của mình, điều này lý giải cho sự sụt giảm về số lượng các cơ sở lưu trú du lịch trên địa bàn. Chất lượng của các khách sạn nhìn chung vẫn chưa được cải thiện, chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng cao của khách du lịch, đặc biệt là khách du lịch thương mại. Quy mô trung bình khoảng  10 – 12 phòng/cơ sở, công suất sử dụng phòng tại các khu vực nói chung đạt mức 34,08%.

Sự phân bố các cơ sở lưu trú: Không đồng đều, chủ yếu tập trung ở Thành phố Bắc Ninh (43,8%) và huyện Từ Sơn (29,2%) tổng số cơ sở lưu trú hiện có trên địa bàn tỉnh; tiếp theo là Tiên Du (6,2%), huyện Quế Võ (5,6%), huyện Lương Tài (5,1%), huyện Thuận Thành (4,5%), huyện Gia Bình và Yên Phong (2,8%).

Bảng 2.2 Sự phân bố các cơ sở lưu trú ở Bắc Ninh  đến 31/12/2023  

TT ĐỊA BÀN Tổng số CSLT Tổng số phòng Tổng số giường Giá phòng TB (VND) Công suất TB (%)
1 Tp Bắc Ninh 78 926 1.190 250.000 39%
2 Từ Sơn 52 572 661 250.000 38%
3 Tiên Du 11 94 97 200.000 36%
4 Gia Bình 5 42 42 150.000 35%
5 Lương Tài 9 62 68 150.000 35%
6 Thuận Thành 8 81 89 150.000 36%
7 Quế Võ 10 78 95 200.000 37%
8 Yên Phong 5 37 37 150.000 38%
  Tổng số 178 1.792 2.279 187.500 36,8%

Sau khi tái thành lập, toàn tỉnh Bắc Ninh duy nhất chỉ có khu nhà nghỉ Suối Hoa, được xây dựng từ đầu thế kỷ 20. Trải qua năm tháng, phần lớn các cơ sở này bị xuống cấp hoặc bị hư hỏng. Trong những năm gần đây, với chính sách đổi mới về đối ngoại và kinh tế đối ngoại của Đảng và Nhà nước, ngành du lịch nước ta đã có những bước phát triển đáng khích lệ. Trong bối cảnh chung của cả nước, du lịch Bắc Ninh đã có những bước tiến đáng kể. Sự phát triển nhanh chóng của hệ thống các sơ sở lưu trú và các cơ sở dịch vụ du lịch Từ Sơn, Bắc Ninh đã làm gia tăng nhanh cả về số lượng và chất lượng trên phạm vi toàn tỉnh.

Cơ sở ăn uống: Ngày nay hoạt động ăn uống trong việc kinh doanh du lịch cũng mang lại lợi nhuận không kém gì hoạt động kinh doanh khách sạn. Các cơ sở ăn uống bao gồm restaurant, coffee-shop, bar, quán ăn nhanh v.v. Các tiện nghi phục vụ ăn uống có thể nằm trong các cở sở lưu trú nhằm phục vụ nhu cầu ăn uống, nghỉ ngơi, hội họp và giao lưu của khách đang lưu trú tại các khách sạn hoặc có thể nằm độc lập bên ngoài các các cơ sở lưu trú, ở các điểm tham quan du lịch, trong các cơ sở vui chơi giải trí… nhằm phục vụ khách du lịch cũng như các tầng lớp dân cư địa phương.

Hiện tại Bắc Ninh có khoảng 10 phòng ăn (restaurants) nằm trong các cơ sở lưu trú với khoảng hơn 800 chỗ ngồi, phục vụ các món ăn khác nhau đáp ứng nhu cầu của khách lưu trú. Các tiện nghi ăn uống bên ngoài khách sạn, tại các điểm tham quan kém phát triển hơn. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý nhà nước du lịch Bắc Ninh.

Ngoài ra hiện còn có 15 nhà hàng và quán hàng ăn uống tư nhân phục vụ chủ yếu các món ăn Việt Nam bình dân nằm ở khu vực thành phố Bắc Ninh, thị xã Từ Sơn… Tổng số vốn đầu tư cho hệ thống các nhà hàng trên 25 tỷ đồng với sức chứa hơn 2.500 người. Hiện các nhà hàng này phục vụ đầy đủ các món ăn đặc sản Âu, Á truyền thống; phục vụ chuyên các món gà, chim, … Chưa có các hoạt động tiêu khiển nhằm tạo cảm giác nghỉ ngơi và hấp dẫn đối với du khách.

Bố trí nội thất trong các nhà hàng còn đơn giản.

Cơ sở vui chơi giải trí, thể thao: Bao gồm bể bơi, sân tenis, trung tâm thể thao, sân golf, massage, câu lạc bộ ban đêm, casinô, vũ trường, nhà hát, rạp chiếu phim… các tiện nghi này góp phần tạo nên sự hấp dẫn, thu hút du khách và kéo dài thời gian lưu trú, khuyến khích sự chi tiêu của du khách.  

Thời gian qua việc phát triển các tiện nghi thể thao và vui chơi giải trí cũng như các hoạt động tiêu khiển khác ở Bắc Ninh hiện còn rất hạn chế, hầu như mới chỉ dừng ở các hoạt động karaoke, massage, bơi lội, phòng tập thể hình và sân tennis. Hiện nay Bắc Ninh có 9 bể bơi, 30 sân tennis, 15 điểm tắm hơi – massage và 2 phòng tập thể hình, karaoke đều nằm trong các khách sạn. Các tiện nghi vui chơi giải trí ngoài khách sạn như câu lạc bộ ban đêm, các điểm tham quan và các hoạt động tiêu khiển cũng thiếu.

2.1.4. Tài nguyên du lịch của tỉnh Bắc Ninh

Với đặc điểm nổi bật là một trong những địa phương mang đăc trưng của nền văn minh lúa nước vùng đồng bằng sông Hồng, Bắc Ninh có hệ thống tài nguyên du lịch nhân văn rất đa dạng và phong phú. Trong đó có giá trị về mặt văn hóa, lịch sử và việc phát triển du lịch phải kể đến di sản văn hóa phi vật thể của thế giới “ Dân ca Quan họ Bắc Ninh” và hệ thống di tích lịch sử, văn hóa mà tiêu biểu là các đình, chùa.

  • Di sản văn hóa phi vật thể “ Dân ca Quan họ Bắc Ninh”

Dân ca Quan họ Bắc Ninh là những làn điệu dân ca của lễ hội làng Diềm – Làng Quan họ cổ Bắc Ninh vùng đồng bằng Bắc bộ Việt Nam; nguồn gốc ở vùng văn hóa Bắc Ninh. Loại hình dân ca này chủ yếu phát triển mạnh ở vùng ven sông Cầu. Quan họ là thể loại dân ca phong phú nhất về mặt giai điệu trong kho tàng dân ca Việt Nam. Mỗi bài Quan họ đều có giai điệu riêng. Cho đến nay, đã có ít nhất 300 bài quan họ đã được ký âm. Các bài quan họ được giới thiệu mới chỉ là một phần trong kho tàng dân ca quan họ đã được khám phá. Kho băng ghi âm hàng ngàn bài quan họ cổ do các nghệ nhân ở các làng quan họ hát hiện vẫn đang được lưu giữ tại Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch hai tỉnh Bắc Ninh và Bắc Giang.

Ngày 30/9/2019, tại kỳ họp lần thứ 4 của Ủy ban liên chính phủ Công ước UNESCO Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể (từ ngày 28/9 đến ngày 2/10/2019), Dân ca Quan họ Bắc Ninh cùng với Ca Trù được công nhận là di sản phi vật thể đại diện của nhân loại và di sản văn hóa phi vật thể cần được bảo vệ khẩn cấp sau Nhã nhạc cung đình Huế, không gian văn hóa Cồng chiêng Tây nguyên. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý nhà nước du lịch Bắc Ninh.

  • Di tích lịch sử văn hóa:

Toàn tỉnh Bắc Ninh có khoảng 1259 điểm di tích. Trong đó tính đến 31/12/2023 có 428 điểm di tích lịch sử văn hóa đã được xếp hạng (gồm 191 di tích được công nhận là di tích cấp quốc gia và 237 di tích được công nhận là di tích địa phương)..

STT Huyện, thị xã, thành phố Diện tích(km2) Số được công nhận Cấp di tích, mật độ
Quốc gia Mật độ (Di tích/km2) Địa phương Mật độ (Di tích/km2)
1 Tp Bắc Ninh 82.6 76 41 0.50 35 0.42
2 Từ Sơn 61.3 78 42 0.68 36 0.58
3 Tiên Du 95.7 52 23 0.24 29 0.30
4 Yên Phong 96.9 62 32 0.33 30 0.30
5 Quế võ 154.8 28 9 0.06 19 0.12
6 Gia Bình 107.8 43 10 0.09 33 0.30
7 Lương Tài 105.7 36 10 0.09 26 0.24
8 Thuận Thành 117.9 53 24 0.20 29 0.25
Toàn tỉnh 822.71 428 191 0.23 237 0.29

Bảng 2.3 Phân bố di tích được công nhận cấp quốc gia và địa phương trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh(Tính đến 31/12/2023)

Trong tổng số 428 di tích được xếp hạng thì đình, chùa, đền là những loại hình chiếm số lượng đại đa số.

Các di tích có giá trị tiêu biểu như:

  1. Lăng và đền thờ Kinh Dương Vương – Xã Đại Đồng Thành, huyện Thuận Thành (thờ Nam Bang Thủy Tổ – Kinh Dương Vương là cha của Lạc Long Quân, ông nội các Vua Hùng).
  2. Lăng và đền Cao Lỗ Vương – Xã Cao Đức, huyện Gia Bình – Thờ Tướng quân Cao Lỗ thời An Dương Vương có công chế nỏ thần – Ông được coi là vị Tổ quân khí. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý nhà nước du lịch Bắc Ninh.
  3. Lăng Sỹ Nhiếp – Xã Gia Đông, huyện Thuận Thành (thờ Nam giao học tổ – Sỹ Nhiếp).
  4. Lăng họ Đặng – Xã Phú Hòa, huyện Lương Tài (Kiến trúc nghệ thuật đặc sắc bằng đá)
  5. Đền Lý Bát Đế – Phường Đình Bảng, thị xã Từ Sơn (thờ tám vị vua triều Lý)…

Tài nguyên du lịch nhân văn của Bắc Ninh có thể rút gọn và khái quát hóa ở bảy “Tổ” của Việt Nam: Chùa Tổ – Nam Bang Thủy Tổ – Nam giao học tổ – Thủy Tổ Quan  ọ – Tổ Trúc lâm thiền sư –  ý Thái Tổ – Tổ quân khí.

  • Lễ hội truyền thống tiêu biểu

Lễ hội truyền thống là đối tượng du lịch văn hóa tiêu biểu của tỉnh Bắc Ninh, tính đến nay, trong số hơn 600 lễ hội lớn nhỏ trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh có khoảng hơn 40 lễ hội quan trọng, được duy trì tổ chức hàng năm. Trong đó một số lễ hội có ý nghĩa đặc biệt và có tầm ảnh hưởng lớn có thể kể đến như:

  1. Lễ hội chùa Phật Tích – Huyện Tiên Du tổ chức vào ngày 4 tháng riêng.
  2. Lễ hội Lim (Thị trấn Lim, huyện Tiên Du) tổ chức vào ngày 13 tháng riêng hàng năm, tổ chức thi hát dân ca Quan họ Bắc Ninh.
  3. Lễ hội đền Bà Chúa Kho (Tp Bắc Ninh) tổ chức vào ngày 14-15 tháng riêng
  4. Lễ hội Diềm – Viêm Xá, thành phố Bắc Ninh tổ chức vào ngày 7/2 âm lịch.
  5. Lễ hội Đền Đô (Đình Bảng – Thị xã Từ Sơn) để kỷ niệm ngày đăng quang của vua Lý Thái Tổ – 15 tháng 3 năm Canh Tuất 1010 và tưởng niệm các vị vua nhà Lý.

Các làng nghề thủ công truyền thống

Bắc Ninh từ xưa đã nổi tiếng là nơi có nhiều nghề thủ công với hơn 60 làng nghề khác nhau như làng nghề làm tranh, làm giấy, rèn , đúc đồng, khảm trai, chạm khắc, dệt, sơn mài… những nghề này không những làm giàu cho người dân Kinh Bắc mà còn góp phần quan trọng hình thành nên hình ảnh của những người “con gái Kinh Bắc” mà khi nhắc đến là người ta hình dung ra những người con gái xinh đẹp, đảm đang, tháo vát, khéo léo và hát hay.

Nhìn chung, tài nguyên du lịch của Bắc Ninh khá phong phú và có giá trị, đặc biệt là tài nguyên du lịch nhân văn với 7 nét đặc trưng văn hóa tiêu biểu là: Quê hương của dân ca Quan Họ – Di sản văn hóa thế giới; văn hóa tâm linh; lịch sử văn hiến; lễ hội; khoa bảng; làng nghề và kiến trúc. Đây là những giá trị nền tảng cho du lịch Bắc Ninh

2.1.5  Kết quả hoạt động du lịch

Giai đoạn 2014 – 2023 ngành du lịch tỉnh Bắc Ninh nhìn chung đã đạt được một số kết quả nhất định. Lượng khách du lịch đến Bắc Ninh có xu hướng ngày càng tăng, mức tăng trưởng bình quân đạt 20% vượt từ 5-6% so với chỉ tiêu quy hoạch 2011 – 2020 định hướng 2030. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý nhà nước du lịch Bắc Ninh.

Bảng 2.4 lượng khách du lịch đến Bắc Ninh giai đoạn 2014 -2023

Đơn vị tính:Lượt khách

Năm Tổng số khách du lịch Khách nội địa Khách quốc tế
S.lượng % tăng cùng kỳ năm trước S.lượng % tăng cùng kỳ năm trước S.lượng % tăng cùng kỳ năm trước
2014 38 000 25.83 36 500 26.30 1500 15.38
2015 42 624 12.17 40 924 12.12 1700 13.33
2016 47 849 12.26 45 949 12.28 1900 11.76
2017 53 286 11.36 51 086 11.18 2200 15.79
2018 61 176 14.81 58 100 13.73 3076 39.82
2019 73 615 20.33 69 115 18.96 4500 46.29
2020 103 254 40.26 97 695 41.35 5559 23.53
2021 128 559 24.51 121 588 24.46 6971 25.40
2022 152 411 18.55 143 615 18.12 7796 11.83
2023 196 496 28.92 187 941 30.86 8155 4.60

Biểu đồ 2.1: lượng khách du lịch đến Bắc Ninh giai đoạn 2014 -2023

Nhận định được tình hình kinh tế – xã hội của Tỉnh ngày càng phát triển mạnh và xu thế phát triển của ngành du lịch, các tổ chức, cá nhân tích cực tập trung đầu tư xây dựng các khách sạn, nhà nghỉ, nhà hàng với nhiều quy mô khác nhau, từng bước tiêu chuẩn hoá cơ sở vật chất, kỹ thuật và chất lượng phục vụ. Tuy nhiên việc phục vụ tại các cơ sở lưu trú còn mang nhiều tính chất gia đình, thiếu tính chuyên nghiệp. Số lượt khách đến Bắc Ninh hàng năm đều tăng, với mức tăng trưởng năm sau cao hơn năm trước(năm 2014 tăng 25.8%, năm 2018 tăng 14.8% và năm 2023 tăng 28.9%). Tuy nhiên, thời gian lưu trú của khách du lịch còn rất ngắn,do dịch vụ và chất lượng dịch vụ còn nghèo nàn, ở mức thấp chưa đáp ứng được yêu cầu của du khách.

  • Khách quốc tế :

Số lượng khách du lịch quốc tế đến Bắc Ninh trong những năm vừa qua (2011 – 2020) tăng trưởng mạnh, trung bình hàng năm tăng 20.16%, nhưng không có sự đột biến lớn như một số tỉnh khác. Như vậy khẳng định rằng, các điểm du lịch ở Bắc Ninh vẫn có sức hấp dẫn khách trong thời gian dài mặc dù trên thị trường ngày nay sự cạnh tranh ngày càng đang trở nên gay gắt hơn.

Bảng 2.5 Khách du lịch quốc tế đến Bắc Ninh  giai đoạn 2014 – 2023)

Đơn vị tính: Lượt khách Luận văn: Thực trạng công tác quản lý nhà nước du lịch Bắc Ninh.

Năm Khách Quốc tế Tỷ lệ % so với tổng Tổng số N/khách TB
2014 1.500 3.95% 38.000 1.07
2015 1.700 3.99% 42.624 1.05
2016 1.900 3.97% 47.849 1.14
2017 2.200 4.13% 53.286 1.18
2018 3.076 5.03% 61.176 1.26
2019 4.500 6.11% 73.615 0.93
2020 5.559 5.38% 103.254 0.98
2021 6.971 5.42% 128.559 1.03
2022 7.796 5.12% 152.411 1
2023 8.155 4.5% 196.496 1

Nguồn: Sở Văn hóa Thể thao Du lịch Bắc Ninh. 

Theo số liệu thống kê của ngành du lịch những năm qua cho thấy lượng khách quốc tế đến Bắc Ninh tăng trưởng đều và ổn định, đáng chú ý là cơ cấu khách quốc tế trong tổng lượng khách du lịch đến Bắc Ninh giữ được tỷ trọng khá ổn định trong cơ cấu khách toàn Tỉnh (từ 3,95% năm 2014, đến năm 2015 chiếm 3,99%, đến năm 2020 chiếm 5,38%, năm 2023 mặc dù ngành du lịch chịu ảnh hưởng chung từ khủng hoảng kinh tế khu vực nhưng vẫn duy trì được mức 4,15% tổng lượng khách du lịch). Tuy vậy, lượng khách quốc tế vẫn chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ.

Trong giai đoạn 2014 – 2018: Do xác định rõ các mục tiêu phát triển nên thời gian này du lịch Bắc Ninh đã tập trung các nguồn lực đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch cũng như đầu tư phát triển sản phẩm du lịch nên đã thu hút được khá đông khách du lịch. Lượng khách du lịch quốc tế cũng vì thế tăng mạnh, năm 2018 khách du lịch quốc tế đến Bắc Ninh đạt 3.076 lượt (tăng 2,05 lần so với năm 2014). Tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2014 – 2018 đạt 18,8%/năm.

Giai đoạn 2019 – 2023:Triển khai thực hiện Nghị quyết số 06 – NQ/TU ngày 19/4/2017 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh khóa XVII về phát triển  thương mại, du lịch và xuất nhập khẩu tỉnh Bắc Ninh đến năm 2020, ngành du lịch Bắc Ninh đã phối hợp tích cực với các cấp, các ngành, đoàn thể, các địa phương trong tỉnh cùng các cơ quan thông tin đại chúng tuyên truyền sâu rộng về du lịch, nâng cao ý thức bảo vệ tài nguyên du lịch, bảo vệ môi trường du lịch, tạo nên một thị trường kinh doanh du lịch sôi động và đa dạng. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý nhà nước du lịch Bắc Ninh.

Vẫn duy trì nhịp tăng trưởng ổn định từ những năm 2019, 2020, lượng khách du lịch quốc tế đến Bắc Ninh giai đoạn này vẫn tăng đều đặn năm sau cao hơn năm trước. Năm 2019 toàn tỉnh đã đón được 4.500 lượt khách quốc tế (tăng 1,46 lần so với năm 2018), chỉ sau 5 năm thực hiện chương trình phát triển du lịch thì năm 2022 lượng khách quốc tế đã đón được 7.796 lượt khách, năm 2023 đón được 8.550 lượt khách quốc tế. Năm 2023, trong xu hướng sụt giảm chung của du lịch Việt Nam và khu vực, tuy nhiên lượng khách đến Bắc Ninh vẫn tăng.

  • Tốc độ tăng trưởng trung bình đạt 21,53%/năm.

Nhìn chung, lượng khách du lịch quốc tế đến Bắc Ninh đáp ứng được các mục tiêu đề ra. Nguyên nhân cơ bản do nhu cầu của thị trường khách quốc tế đến Việt Nam hiện nay thường quan tâm đến du lịch biển, tham quan các di tích lịch sử, văn hóa, du lịch cộng đồng và du lịch nông thôn…, mà đây chính là thế mạnh của Bắc Ninh. Bên cạnh đó, với cơ chế chính sách thu hút đầu tư linh hoạt nên thời gian qua các dự án đầu tư phát triển hạ tầng và phát triển du lịch đã tạo ra một lợi thế cho Bắc Ninh.

Kết quả phân tích thị trường trong 5 năm trở lại đây (2019 – 2023) cho thấy trong tổng số khách du lịch quốc tế đến Bắc Ninh gồm:

Bảng 2.6 Cơ cấu thị trường khách du lịch quốc tế đến Bắc Ninh phân theo thị trường Giai đoạn 2016 – 2020)

TT Các thị trường trọng điểm 2019 2020 2021 2022 2023
1 Bắc Mỹ 10% 15% 15% 17% 17%
2 Đông Nam Á 60% 60% 60% 58% 58%
3 Các quốc tịch khác 30% 25% 25% 25% 25%

Nguồn: Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh 

Loại khách du lịch phân theo mục đích chuyến đi: Theo số liệu của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bắc Ninh thì khách quốc tế đến Bắc Ninh với mục đích du lịch tâm linh là 45,5%, với mục đích thương mại trung bình chiếm 13,5%; với mục đích thăm thân chiếm 10%; còn lại là các mục đích khác. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý nhà nước du lịch Bắc Ninh.

Trong những năm gần đây khách du lịch có mục đích thương mại có tăng nhưng nhìn chung vẫn duy trì ở mức 14-15% thị phần, khách đi với các mục đích khác như nghiên cứu, học tập, công tác, tham quan… có xu hướng ngày càng tăng. Như vậy cần xem xét những nhu cầu, thị hiếu của khách và xu hướng trong tương lai để định hướng thị trường.

Ví dụ như điểm du lịch đền Đô, chùa Phật Tích, đền Bà Chùa Kho có đầy đủ điều kiện tự nhiên để phát triển du lịch tâm linh.Đó là ưu thế của Bắc Ninh so với các tỉnh khác, các khu du lịch khác.

Bảng 2.7 Cơ cấu thị trường khách du lịch quốc tế đến Bắc Ninh phân theo mục đích chuyến đi  Giai đoạn 2016 – 2020)

TT Thị trường 2019 2020 2021 2022 2023
1 Du lịch thuần tuý 46% 45% 46% 47% 47%
2 Thương mại 15% 14% 15% 14% 14%
3 Thăm than 10% 10% 10% 10% 10%
4 Mục đích khác 30% 30% 30% 30% 30%

Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bắc Ninh 

Ngày khách quốc tế lưu trú ở khách sạn tương đối ngắn, trung bình khoảng 0,9 – 1,1 ngày… Nguyên nhân chủ yếu ở đây là do Bắc Ninh tương đối gần với Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh nên điều kiện đi lại cũng không khó khăn nên số khách đi từ Hà Nội thường chỉ đến thăm quan các điểm di tích sau đó quay trở về Hà Nội hoặc đến các tỉnh như Hải Phòng, Quảng Ninh để nghỉ ở Bắc Ninh.

  • Khách nội địa :

Khách du lịch nội địa vẫn là lượng khách chủ yếu của tỉnh, trung bình hàng năm chiếm 95,6% tổng lượng khách đến. Ngoài đền Đô là nơi tập trung thu hút khách, còn có chùa Tiêu, chùa Phật Tích, chùa Dâu, chùa Bút Tháp, đền Bà Chúa Kho thu hút khách nội địa đến ngày một nhiều hơn vì điều kiện đi lại thuận tiện, gần Hà Nội. Khác với khách quốc tế, khách nội địa liên tục tăng, giai đoạn 2014 – 2023 trở lại đây với tốc độ tăng trưởng trung bình đạt 20,59%.

Nguyên nhân một phần do đời sống nhân dân ngày càng cao do đó nhu cầu tham quan nghỉ dưỡng của người dân trong cả nước, đặc biệt là từ Thành phố Hà Nội và các tỉnh lân cận… cũng ngày càng tăng; bên cạnh đó là việc ngành du lịch Bắc Ninh chú trọng phát triển du lịch văn hóa – lễ hội, du lịch về nguồn… phù hợp với thị hiếu khách du lịch trong nước. Điều đó cũng có nghĩa rằng, trong tương lai gần thị trường khách nội địa sẽ đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của du lịch Bắc Ninh.

Bảng 2.8 Cơ cấu thị trường khách du lịch nội địa đến Bắc Ninh phân theo thị trường và mục đích chuyến đi Giai đoạn 2016 – 2020) Luận văn: Thực trạng công tác quản lý nhà nước du lịch Bắc Ninh.

ĐVT: %

TT Nội dung 2019 2020 2021 2022 2023
Các thị trường chính
1 Hà nội 45% 45% 45% 46% 46%
2 Các tỉnh Bắc Bộ khác 20% 20% 20% 20% 20%
3 Huế – Đà Nẵng 10% 10% 10% 10% 10%
4 Các tỉnh Bắc Trung Bộ khác 15% 15% 15% 14% 14%
5 Tp Hồ Chí Minh 5% 5% 5% 5% 5%
6 Các tỉnh Nam Bộ khác 5% 5% 5% 5% 5%
Mục đích chuyến đi
1  Du lịch thuần tuý 45% 45% 45% 45% 45%
2 Du lịch thăm than 10% 10% 10% 10% 10%
3 Thương mại 10% 10% 10% 10% 10%
4 Mục đích khác 35% 35% 35% 35% 35%

Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bắc Ninh

Khách du lịch nội địa thường là khách đi theo nhóm do các công ty du lịch, lữ hành tổ chức, hoặc do các tổ chức công đoàn của các cơ quan, xí nghiệp tổ chức hoặc tự tổ chức theo các nhóm… Đa phần là khách từ Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh và các địa phương ở khu vực Bắc Trung Bộ.

2.2 Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Bắc Ninh Luận văn: Thực trạng công tác quản lý nhà nước du lịch Bắc Ninh.

2.2.1  Thực trạng hệ thống các cơ quan quản lý về du lịch của tỉnh Bắc Ninh

2.2.1.1  Hệ thống các cơ quan theo chiều ngang (các sở liên quan)

Thực tế hoạt động du lịch đã chỉ rõ, trong cơ chế thi trường có sự quản lý của Nhà nước, rất cần sự quản lý điều hành của Nhà nước. Du lịch là hoạt động liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao. Hoạt động du lịch của một tỉnh không chỉ là sự quản lý của UBND tỉnh giao cho Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch mà còn liên quan tới các sở ban ngành khác như:

  • Sở Giao thông vận tải: Quản lý về lĩnh vực giao thông, đi lại, là yếu tố quyết định cho hoạt động di chuyển du lịch.
  • Sở Công thương, sở Tài chính, sở Kế hoạch đầu tư: Quản lý về việc cấp nguồn kinh phí để duy trì, tôn tạo, bảo tồn và xây mới các điểm du lịch địa phương.
  • Sở Xây dựng: Quản lý về việc xây dựng cơ sở vật chất, hạ tầng xã hội phục vụ cho việc phát triển kinh tế xã hội nói chung và ngành du lịch nói riêng.
  • Công an tỉnh: Đảm bảo cho sự an toàn và trật tự xã hội phục vụ cho việc phát triển du lịch
  • Sở Y tế : Đảm bảo sức khỏe cho người dân và du khách khi xảy ra sự cố về sức khỏe, tính mạng …

Tóm lại, hoạt động du lịch chịu  tác động rất lớn về nhiều mặt đối với các ngành khác trong xã hội. quản lý nhà nước về du lịch không chỉ quan tâm tới riêng hoạt động du lịch mà còn phải quan tâm tới những hoạt động quản lý của các bên liên quan và cộng đồng dân cư tại địa phương.

2.2.1.2  Hệ thống các cơ quan theo chiều dọc (Tỉnh, huyện, xã)

Theo Luật Du lịch (Trích Điều 10, Điều 11 trong Luật Du lịch, 2015 được ban hành theo Luật số 44/2015/QH11 ngày 14/6 năm 2015, có hiệu lực từ ngày 01/ 01 năm 2016) và căn cứ vào tình hình thực tế của địa phương, hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước về du lịch theo chiều dọc từ trung ương đến địa phương gồm có:

  • Bộ VHTT&DL
  • Tổng cục Du lịch
  • Sở VHTT&DL tỉnh Bắc Ninh
  • Phòng VHTT & DL Thành phố, Huyện, Thị Xã

2.2.2 Nội dung công tác quản lý nhà nước về du lịch tại tỉnh Bắc Ninh

2.2.2.1 Công tác xây dựng, thực hiện chiến lược, quy hoạch

Do Bắc Ninh là một tỉnh có vị trí địa lý và địa hình rất thuận lợi cho việc phát triển kinh tế, bên cạnh đó còn là trung tâm văn hóa, phật giáo lớn của cả nước nên phần lớn các quy hoạch trên địa bàn tỉnh được Nhà nước hết sức quan tâm. Như Nghị định số 92/2016/NĐ-CP ngày 07 tháng 9 năm 2016 của Chính phủ về lập, phê duyệt và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội;Chỉ thị số 2178/CT-TTg ngày 02/12/2020 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường công tác quản lý quy hoạch;UBND tỉnh Bắc Ninh giao cho các sở, ban ngành của tỉnh Sở Xây dựng, Sở Kế hoạch và Đầu tư của tỉnh làm chủ đầu tư, nghiên cứu lập quy hoạch. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý nhà nước du lịch Bắc Ninh.

Đối với quy hoạch chi tiết của các dự án đầu tư du lịch trên địa bàn tỉnh đã được phê duyệt: Quyết định số 673/QĐ-UBND ngày 15 tháng 6 năm 2021 của UBND tỉnh về việc phê duyệt “Đề cương nhiệm vụ và dự toán Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2021 – 2030 và định hướng đến năm 2030”; Quyết định UBND tỉnh ngày 30/12/2024 số 554/2024/QĐ-UBND về việc “Quy hoạch tổng thể phát triển khu vực Dịch vụ tỉnh Bắc Ninh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2030”; UBND tỉnh Bắc Ninh đã có các cuộc hội nghị về công tác tổ chức, đánh giá, đề xuất giải quyết các quy hoạch chưa phù hợp với quy hoạch chung, quy hoạch phân khu chức năng; đề xuất thu hồi các dự án chậm tiến độ hoặc chủ đầu tư không có năng lực để thực hiện.

Tiếp thu, quán triệt các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về du lịch, Tỉnh ủy, UBND tỉnh Bắc Ninh đã cụ thể hóa thành các chương trình, kế hoạch và chỉ đạo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch phối hợp các sở ban, ngành và các huyện, thành phố tuyên truyền, phổ biến đến toàn thể cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân trong tỉnh, nhất là các địa phương có tiềm năng phát triển du lịch hoặc nhưng nơi đã hình thành các cụm, điểm du lịch. Đến nay, nhiều nơi đã xây dựng kế hoạch và tổ chức thực hiện khá tốt các chủ trương, chính sách này, qua đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội, góp phần cải thiện đời sống người dân tại địa phương; nhận thức của nhân dân về phát triển du lịch gắn với lợi ích cộng đồng dân cư cũng được nâng lên; chuyển biến tích cực trong việc chấp hành các quy định về bảo vệ và tôn tạo các khu, điểm du lịch; việc kinh doanh du lịch được các doanh nghiệp quan tâm đầu tư và khai thác; chất lượng phục vụ du khách được nâng lên một bước; tình trạng tự ý nâng giá kinh doanh trong thời gian cao điểm đã giảm.

2.2.2.2 Công tác xây dựng, ban hành và thực hiện văn bản quy phạm pháp luật

Luật Du lịch đã được Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam khóa XI, kỳ họp lần thứ 7 thông qua ngày 14/6/2015 và Chính phủ ban hành Nghị định số 92/2017/NĐ-CP ngày 01/6/2017 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Du lịch…Việc Luật Du lịch được ban hành có ý nghĩa rất quan trọng trong việc phát triển du lịch khi Việt nam mở rộng hội nhập, tạo nền tảng vững chắc để thu hút các doanh nghiệp du lịch nước ngoài đầu tư, hợp tác kinh doanh với Việt Nam, đồng thời thu hút ngày càng nhiều du khách quốc tế đến Việt Nam. Các nội dung quy định về bảo vệ và tôn tạo tài nguyên du lịch, quy hoạch du lịch, công nhận và tổ chức quản lý khu, tuyến, điểm du lịch và đô thị du lịch; tiêu chuẩn hóa cán bộ quản lý, nhân viên phục vụ, tiêu chuẩn hóa các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch; các quy định về đảm bảo an ninh, an toàn, cứu hộ, cứu nạn, bảo hiểm du lịch và giải quyết yêu cầu, kiến nghị của khách du lịch đều nhằm thể hiện chính sách của Nhà nước Việt Nam trong việc nâng cao sức cạnh tranh, tính hấp dẫn của du lịch Việt Nam, bảo vệ quyền lợi chính đáng của khách du lịch và các nhà đầu tư, kinh doanh trong lĩnh vực du lịch. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý nhà nước du lịch Bắc Ninh.

Thành phố Bắc Ninh, thị xã Từ Sơn, huyện Tiên Du,huyện Thuận Thành, huyện Quế Võ, huyện Gia Bình là những nơi tập trung phần lớn du khách và khách du lịch vào các thời điểm lễ hội trong năm. Để tăng cường việc quản lý tới các trung tâm du lịch trong tỉnh, UBND tỉnh Bắc Ninh đã thường xuyên thực hiện công tác chỉ đạo các địa phương cùng tham gia góp ý trong công tác xây dựng các văn bản về quản lý và phát triển du lịch. Đặc biệt với công tác quản lý môi trường kinh doanh du lịch, nhằm tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động kinh doanh du lịch, giảm thiểu và xóa bỏ tình trạng cò mồi, cạnh tranh không lành mạnh, ăn xin, bán hàng rong, bán hàng giả, hàng kém chất lượng, bán hàng không theo giá niêm yết, lấn chiếm vỉa hè. Thực hiện Nghị quyết số 20 và số 22 ngày 19/7/2021 của HĐND tỉnh Bắc Ninh về “thực hiện nếp sống văn minh; tăng cường thực hiện công tác quản lý nhà nước về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội”

Hàng năm Sở Văn hóa Thể thao Du lịch tỉnh Bắc Ninh đã tham mưu UBND tỉnh Bắc Ninh quan tâm đến việc xây dựng và ban hành các văn bản để chấn chỉnh các hoạt động khai thác, sử dụng, tôn tạo các di tích lịch sử đưa vào hoạt động du lịch, nâng cao chất lượng du lịch dịch vụ, đảm bảo an toàn du lịch; các hoạt động môi trường kinh doanh du lịch.

Tuy công tác xây dựng các văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh đã được quan tâm song còn nhiều lúng túng, bất cập , chưa hiệu quả như: Việc quản lý lễ hội Lim, lễ hội Đền Bà Chúa Kho, lễ hội chùa Phật Tích… vẫn còn tồn tại những hiện tượng tiêu cực như dịch vụ tự phát, tình trạng bán hàng không đúng giá niêm yết, mê tín dị đoan…vẫn còn tồn tại.

2.2.2.3 Nội dung quản lý nhà nước của Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh 

  • Tổ chức công bố quy hoạch sau khi được phê duyệt;
  • Tổ chức thực hiện điều tra, đánh giá, phân loại, xây dựng cơ sở dữ liệu tài nguyên du lịch của tỉnh theo Quy chế của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch;
  • Thực hiện các biện pháp để bảo vệ, tôn tạo, khai thác, sử dụng hợp lý và phát triển tài nguyên du lịch, môi trường du lịch, khu du lịch, điểm du lịch của tỉnh;
  • Tổ chức lập hồ sơ đề nghị công nhận khu du lịch địa phương, điểm du lịch địa phương, tuyến du lịch địa phương; công bố sau khi có quyết định công nhận;
  • Cấp, sửa đổi, bổ sung, cấp lại, gia hạn, thu hồi Giấy phép thành lập văn phòng đại diện của doanh nghiệp du lịch nước ngoài đặt trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật và theo phân cấp, uỷ quyền của Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh;
  • Thẩm định hồ sơ đề nghị cấp có thẩm quyền cấp giấy phép kinh doanh lữ hành quốc tế của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật;
  • Quyết định xếp hạng 1 sao, hạng 2 sao cho khách sạn, làng du lịch; hạng đạt tiêu chuẩn kinh doanh biệt thự, căn hộ du lịch; hạng đạt tiêu chuẩn kinh doanh lưu trú du lịch đối với bãi cắm trại, nhà nghỉ du lịch, nhà ở có phòng cho khách du lịch thuê, cơ sở lưu trú du lịch khác;
  • Thẩm định và cấp biển hiệu đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch cho cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch trong khu du lịch, điểm du lịch, đô thị du lịch; Luận văn: Thực trạng công tác quản lý nhà nước du lịch Bắc Ninh.
  • Tổ chức cấp, cấp lại, đổi, thu hồi thẻ hướng dẫn viên du lịch; cấp, thu hồi giấy chứng nhận thuyết minh viên theo quy định của Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch;
  • Xây dựng kế hoạch, chương trình xúc tiến du lịch và tổ chức thực hiện chương trình xúc tiến du lịch, sự kiện, hội chợ, hội thảo, triển lãm du lịch của địa phương sau khi được phê duyệt.

Các hoạt động quản lý nhà nước về du lịch của Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tỉnh Bắc Ninh còn gặp nhiều vấn đề như: Số lượng công chức làm việc ít mà khối lượng công việc quá nhiều dẫn tới hiệu quả công việc bị hạn chế. Các hoạt động về xúc tiến, quảng bá và đầu tư chưa được quan tâm đúng mức.

2.2.2.4  Nội dung quản lý nhà nước của Phòng Văn hóa Thể thao và Du lịch Thành phố, Huyện, Thị xã 

Trình Uỷ ban nhân dân cấp huyện ban hành quyết định, chỉ thị; kế hoạch dài hạn, 05 năm và hàng năm; đề án, chương trình phát triển văn hoá, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch; chương trình, biện pháp tổ chức thực hiện cải cách hành chính, xã hội hoá trong lĩnh vực quản lý nhà nước được giao.

Trình Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện dự thảo các văn bản về lĩnh vực văn hoá, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch thuộc thẩm quyền ban hành của Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện.

Tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, quy hoạch, kế hoạch, đề án, chương trình đã được phê duyệt; hướng dẫn, thông tin tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về quản lý, hoạt động phát triển sự nghiệp văn hoá, thể dục, thể thao và du lịch; chủ trương xã hội hoá hoạt động văn hoá, thể dục thể thao; chống bạo lực trong gia đình.

Hướng dẫn các tổ chức, đơn vị và nhân dân trên địa bàn huyện thực hiện phong trào văn hoá, văn nghệ; phong trào luyện tập thể dục, thể thao; xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội; xây dựng phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”; xây dựng gia đình văn hoá, làng văn hoá, khu phố văn hoá, đơn vị văn hoá; bảo vệ các di tích lịch sử, văn hoá và danh lam thắng cảnh; bảo vệ, tôn tạo, khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên du lịch, môi trường du lịch, khu du lịch, điểm du lịch trên địa bàn huyện.

Hướng dẫn, kiểm tra hoạt động của các Trung tâm văn hoá, thể thao, các thiết chế văn hoá thông tin cơ sở, các cơ sở hoạt động dịch vụ văn hoá, thể dục, thể thao, du lịch, điểm vui chơi công cộng thuộc phạm vi quản lý của phòng trên địa bàn huyện.

Giúp Uỷ ban nhân dân cấp huyện quản lý nhà nước đối với tổ chức kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân; hướng dẫn và kiểm tra hoạt động các hội và tổ chức phi chính phủ hoạt động trên địa bàn thuộc các lĩnh vực văn hoá, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch theo quy định của pháp luật. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý nhà nước du lịch Bắc Ninh.

Hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ về lĩnh vực văn hoá, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch đối với các chức danh chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân xã, phường, thị trấn.

Chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan kiểm tra, thanh tra việc chấp hành pháp luật về hoạt động văn hoá, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch trên địa bàn huyện; giải quyết đơn thư, khiếu nại, tố cáo của công dân về lĩnh vực văn hoá, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch theo quy định của pháp luật.

Thực hiện công tác thống kê, báo cáo định kỳ và đột xuất về tình hình hoạt động văn hoá, gia đình, thể dục, thể thao và du lịch với Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện và Giám đốc Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch.

2.2.2.5  Đội ngũ công chức quản lý nhà nước về du lịch

Trong những năm qua số lượng nhân lực trong ngành du lịch của Bắc Ninh còn thiếu về mặt số lượng và hạn chế về trình độ chuyên môn. Theo báo cáo của Sở VH TT và DL thì số lao động trong ngành du lịch năm 2014 là 455 lao động, đến 2018 tăng lên 560 lao động và đến cuối năm 2023 là 1.140 người. Trông số đó thì số lượng công chức chiếm tỷ lệ rất nhỏ.

Phần lớn công chức ngành Du lịch của tỉnh có trình độ đại học và số công chức có trình độ trên đại học chiếm tỷ lệ tương đối. Theo Luật Công chức, những người có trình độ đại học trở lên được xếp vào ngạch chuyên viên, chuyên viên chính và chuyên viên cao cấp. Tuy nhiên vẫn còn một số ít công chức có trình độ cao đẳng, họ được xếp vào ngạch cán sự.

Trong toàn bộ công chức ngành Du lịch của tỉnh Bắc Ninh được khảo sát, có thể thấy số lượng công chức là nữ chiểm tỷ lệ cao, đặc biệt là chuyên viên, vì phụ nữ thích hợp đối với công tác hành chính hơn nam giới, tuy nhiên cũng có mặt hạn chế là không thường xuyên đi làm việc với các cơ sở được vì lý do gia đình.

Nếu xét theo tổng số công chức ngành Du lịch được khảo sát, số lượng công chức được đào tạo chuyên ngành Du lịch và công chức được đào tạo chuyên ngành khác là tương đương. Nhưng nếu phân tích chuyên ngành đào tạo của lãnh đạo và chuyên viên, có thể thấy.

Đối với lãnh đạo, số người được đào tạo về chuyên ngành du lịch không cao (34%), nguyên nhân là do sự chuyển đổi cơ quan quản lý hành chính nhà nước về du lịch trong hơn chục năm qua và sự thuyên chuyển lãnh đạo giữa các lĩnh vực.

Biểu đồ 2.5 Cơ cấu lãnh đạo được đào tạo. Luận văn: Thực trạng công tác quản lý nhà nước du lịch Bắc Ninh.

Đối với chuyên viên được khảo sát, số lượng người được đào tạo chuyên ngành du lịch chiếm hơn nửa (62%). Họ là những công chức trẻ, tốt nghiệp chuyên ngành du lịch của các trường đại học trong cả nước. Họ đã được đào tạo kiến thức du lịch cơ bản trong nhà trường và phải trải qua một kỳ thi tuyển công chức để vào cơ quan quản lý hành chính nhà nước về du lịch, do vậy họ cũng đã có được các kiến thức về quản lý nhà nước và quản lý hành chính nhà nước nói chung và du lịch nói riêng. Tuy nhiên, kinh nghiệm thực tế trong hoạt động du lịch của họ vẫn còn hạn chế.

Biểu đồ 2.6 Cơ cấu chuyên viên được đào tạo chuyên ngành Du lịch

Thông qua các biểu đồ trên có thể đưa ra một số kết luận như sau:

Phần lớn các công chức còn ở độ tuổi trẻ, kinh nghiệm thực tiễn trong ngành chưa nhiều, nhưng họ có thể cống hiến cho ngành du lịch từ 10 năm trở lên trong tương lai. Vì vậy việc cập nhật thông tin thống kê, theo dõi và xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực trong cơ quan quản lý nhà nước ngành du lịch là hoàn toàn cần thiết và cấp bách.

Đào tạo và bồi dưỡng cho công chức trẻ không chỉ kiến thức, kỹ năng chuyên môn, mà cả những trải nghiệm thực tế của ngành là một vấn đề rất quan trọng. Điều này sẽ giúp cho họ có những kiến thức toàn diện để đóng góp cho việc xây dựng các văn bản pháp luật với mục tiêu: “Tạo một môi trường và hành lang pháp lý thuận lợi thúc đẩy các hoạt động du lịch phát triển, nhưng đồng thời cũng ngăn chặn kịp thời những biểu hiện kinh doanh không đúng hướng”.

Hoạt động du lịch đang phát triển, nhiều dịch vụ du lịch từng bước hình thành. Theo Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO), liên quan đến du lịch có 70 dịch vụ trực tiếp và trên 70 dịch vụ gián tiếp. Vì thế, công chức trong ngành du lịch cần thường xuyên nắm bắt sự phát triển của hoạt động du lịch, phối hợp chặt chẽ với các Bộ, ngành và các cấp để giải quyết những khó khăn, vướng mắc cho cơ sở và doanh nghiệp du lịch.

Hầu hết công chức trong ngành du lịch tỉnh Bắc Ninh đều say mê nghề nghiệp. Họ được đơn vị trang bị tương đối đầy đủ các trang thiết bị cần thiết phục vụ cho công việc. Tuy nhiên, thu nhập của họ còn thấp, chưa tương xứng với công việc được giao. Đây là vấn đề chung của công chức. Tuy còn có những khó khăn về vật chất, nhưng trong đơn vị, họ đoàn kết và hợp tác chặt chẽ với nhau để thực hiện tốt những nhiệm của cấp trên giao.

Do chính sách biên chế công chức trong các cơ quan quản lý hành chính nhà nước, nên biên chế công chức ngành du lịch của tỉnh Bắc Ninh, đặc biệt là cấp thành phố, huyện, thị xã rất hạn chế. Trong khi đó, nhiều địa phương hoạt động du lịch phát triển cả chiều rộng lẫn chiều sâu, dẫn đến công tác quản lý nhà nước về du lịch còn chưa tốt, vì thiếu nhân lực so với thực tế quản lý.

2.2.2.6 Công tác điều tra, đánh giá tài nguyên du lịch và xây dựng sản phẩm.

Du lịch văn hóa phục vụ nhu cầu của khách du lịch quốc tế và cả khách du lịch nội địa với các hoạt động chủ yếu là tham dự lễ hội, tham quan các điểm mang tính chất tâm linh như đền, chùa, tỉm hiểu lịch sử, văn hóa khoa bảng và giáo dục truyền thống đối với khách du lịch nội địa; Tìm hiểu tôn giáo, văn hóa quan họ, tham quan các di tích lịch sử văn hóa, các công trình kiến trúc nghệ thuật trên địa bàn tỉnh đối với khách quốc tế. Các di tích lịch sử văn hóa quan trọng cần khai thác phục vụ phát triển các loại hình du lịch văn hóa tiêu biểu bao gồm: Chùa Phật Tích, đền Đô, đền Thủy tổ quan họ làng Diềm, đền Bà Chúa Kho, chùa Bút Tháp, chùa Dâu, lăng Kinh Dương Vương, đền Lê Văn Thịnh, đền thờ Huyền Quang, đề thời Cao Lỗ Vương…Để phát triển được loại hình này, cần phải có chính sách đầu tư, tôn tạo các di tích lịch sử, nghiên cứu tổ chức các hoạt động dành cho khách du lịch phù hợp với từng đối tượng khách, từng đối tượng tham quan và từng thời điểm…trong đó đặc biệt chú trọng khai thác kết hợp bảo tồn các giá trị của di sản văn hóa phi vật thể cảu thế giới “Quan họ Bắc Ninh”.Trong tương lai, Bắc Ninh có tiềm năng để phát triển mạnh du lịch đường sông, đặc biệt là du lịch sông Đuống. Vì vậy, việc nghiên cứu quy hoạch, đầu tư và quản lý phát triển sản phẩm du lịch này cần được triển khai trong tương lại gần.

2.2.2.7 Công tác quảng bá, xúc tiến du lịch và hợp tác quốc tế du lịch Luận văn: Thực trạng công tác quản lý nhà nước du lịch Bắc Ninh.

Do nhiều nguyên nhân mà hoạt động du lịch ở Bắc Ninh chưa phát triển tương xứng với tiềm năng to lớn. Công tác xúc tiến, tuyên truyền quảng bá chưa được triển khai có hiệu quả nên gặp nhiều hạn chế trong hợp tác đầu tư, phát triển thị trường.

Để góp phần đẩy nhanh sự phát triển của ngành du lịch, trong thời gian tới cần đẩy mạnh công tác xúc tiến, tuyên truyền, quảng bá cho du lịch. Xúc tiến, quảng bá cần trở thành nội dung quan trọng không thể thiếu đối với doanh nghiệp du lịch mà với các nhà quản lý ở các ngành các cấp; người dân có ý thức tự hào về đất nước, con người và thiên nhiên của địa phương mình.

Dự kiến các bước triển khai cần thiết đối với nhiệm vụ xúc tiến, quảng bá:

  • Xác định các thị trường trọng tâm trước mắt và lâu dài
  • Nghiên cứu xây dựng định hướng chiến lược phát triển sản phẩm
  • Xây dựng hình ảnh du lịch Bắc Ninh thân thiện và ấn tượng
  • Xác định các kênh thông tin tới khách hàng: Các ấn phẩm quảng bá, các chuyến du lịch giới thiệu (FAM trip, tổ chức các chuyến đi tìm hiểu Bắc Ninh cho các phóng viên, nhà báo, các hãng lữ hành lớn…), hỗ trợ việc xây dựng các bộ phim có chất lượng nghệ thuật cao có bối cảnh đặc trưng của Bắc Ninh, tham dự các hội chợ, triển lãm du lịch, xây dựng trung tâm du lịch, nâng cấp trang thông tin điện tử về du lịch Bắc Ninh (tiến tới có thể đặt phòng, mua tour qua mạng).

2.2.2.8 Tổ chức bộ máy và công tác phối hợp trong quản lý nhà nước về du lịch.

Về cơ cấu tổ chức và chức vụ Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch Bắc Ninh bao gồm 1 giám đốc, 4 phó giám đốc, 9 phòng chuyên môn và 10 đơn vị sự nghiệp trực thuộc sở.Trong đó trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước phát triển du lịch có Phòng Nghiệp vụ du lịch (có 4- 5 biên chế), Trung tâm Xúc tiến du lịch (có 12 biên chế) . Ở các huyện, thành phố công tác quản lý nhà nước về du lịch được giao cho Phòng Văn hóa – Thông tin, tuy nhiên nhiệm vụ, chức năng chưa được quy định rõ ràng, cụ thể. Với tiềm năng du lịch của tỉnh hiện nay, các hoạt động liên quan đến công tác quản lý nhà nước về du lịch chủ yếu do Phòng nghiệp vụ du lịch của Sở Văn hóa, Thể thao Du lịch nghiên cứu, tham mưu, đề xuất với Lãnh đạo sở để báo cáo cấp có thể thẩm quyền xem xét Quyết định, có thể trong tương lai không đáp ứng được yêu cầu do số lượng biên chế ít mà khối lượng công việc cần phải thực hiện khá nhiều theo Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Bắc Ninh đến năm 2030, định hướng đến năm 2030, đã được UBND tỉnh phê duyệt.

2.2.2.9 Công tác thanh kiểm tra, giải quyết khiếu nại và xử lý vi phạm pháp luật về du lịch.

Các khu vực hoạt động kinh doanh du lịch trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh tập trung ở nhiều khu vực khác nhau và có khoảng cách tương đối xa. Các chủ đầu  tư và khai thác dịch vụ du lịch là các nhà đầu tư nhỏ, chất lượng dịch vụ tương đối thấp. Việc kinh doanh tại các khu du lịch và lễ hội truyền thống còn nhiều bất cập, nhất là trong việc thực hiện các quy định của nhà nước vè việc niêm yết giá, bán theo giá niêm yết, sử dụng người lao động chưa qua đào tạo nghiệp vụ…  Vào thời điểm lễ hội đầu năm đông khách, các đơn vị kinh doanh tự nâng giá, ép giá gây rất nhiều bất bình trong du khách nhất là trong những lễ hội nổi tiếng như Hội Lim, hội Đền bà Chúa Kho… Luận văn: Thực trạng công tác quản lý nhà nước du lịch Bắc Ninh.

Nhằm hạn chế tình trạng trên, UBND tỉnh đã vào cuộc, tăng cường công tác chỉ đạo cho Đoàn liên ngành kiểm tra các hoạt động du lịch trên địa bàn tỉnh và chỉ đạo UBND các huyện trong tỉnh thành lập Ban chỉ đạo liên ngành và Đội kiểm tra liên ngành về kinh doanh du lịch tại địa phương để chấn chỉnh các hoạt động kinh doanh du lịch, bảo vệ quyền lợi cho khách du lịch. Đặc biệt lắp đặt các hệ thống biển báo về đường dây nóng của Sở Văn hóa Thể thao và Du lịch tại những khu vực tập trung đông người, tại các khu du lịch tâm linh nổi tiếng. Việc thành lập các đoàn kiểm tra liên ngành để kiểm tra, xử lý tình trạng bán hàng rong, ăn xin, bán hàng giả, hàng kém chất lượng, cò mồi, đeo bám, khấn thuê, chèo kéo khách làm mất vệ sinh môi trường…; chỉ đạo các khu di tích xây dựng quy chế quản lý, quy hoạch đảm bảo vệ dinh môi trường…

Tuy nhiên, các hoạt động thanh, kiểm tra hoạt động du lịch tại địa tỉnh Bắc Ninh còn chưa thường xuyên, chủ yếu là kiểm tra định kỳ 1 lần trong năm trước lễ hội xuân. Chưa kiểm tra toàn bộ các loại hình kinh doanh tại các điểm di tích tiêu biểu, các địa phương xa nằm phía cuối tỉnh. Vì vậy các đơn vị kinh doanh hay các cá nhân chưa thấy hết được những sai phạm của mình trong quá trình kinh doanh, gây bất bình cho du khách. Điều này về lâu dài sẽ gây ảnh hưởng xấu đến sự phát triển du lịch của Bắc Ninh. Tại một số điểm di tích tiêu biểu của Tỉnh còn chưa có bảng báo hiệu đường dây nóng khi có sự cố, những tiêu cực trong hoạt động du lịch.

2.3 Đánh giá chung công tác quản lý nhà nước về du lịch tại tỉnh Bắc Ninh

2.3.1 Ưu điểm

Với lợi thế về vị trí địa lý kinh tế – chính trị trong hợp tác phát triển kinh tế, đẩy mạnh hoạt động thương mại, dịch vụ phát triển; công nghiệp tiếp tục phát triển, kết cấu hạ tầng được đầu tư đồng bộ theo hướng hiện đại, quá trình đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ là điều kiện quan trọng để phát triển dịch vụ trong thời gian tới; Dân số, lao động, thu nhập bình quân/người khá cao, cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động diễn ra tích cực, đúng hướng, có tính cộng hưởng là những yếu tố quan trọng để Bắc Ninh trở thành một thị trường tiêu thụ tiềm năng, tạo điều kiện cho các ngành trong khu vực dịch vụ phát triển…

Tận dụng những ưu điểm của vùng, Bắc Ninh có rất nhiều cơ hội để phát triển Hội nhập kinh tế quốc tế sẽ thúc đẩy kinh tế của tỉnh phát triển; thực hiện các cam kết sẽ tạo sự đối xử bình đẳng hơn để mở rộng sang các ngành dịch vụ; Vùng Đồng bằng sông Hồng được định hướng xây dựng, phát triển trở thành đầu tàu về phát triển kinh tế; Vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ với định hướng là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa và khoa học kỹ thuật, tâm điểm hội tụ nguồn lực và nguyên khí quốc gia, địa bàn hội nhập và giao thương của cả nước thực sự trở thành hạt nhân phát triển; kết cấu hạ tầng ngày càng được hoàn thiện đồng bộ theo hướng hiện đại và còn nhiều dư địa cho phát triển các ngành dịch vụ, nhất là các dịch vụ chất lượng cao; sự gia tăng của lao động nhập cư ngoại tỉnh và lao động người nước ngoài cũng tạo ra nhu cầu dịch vụ; cùng với đó là các cơ hội về nguồn nhân lực là khá “trẻ”, linh hoạt và thích ứng nhanh hơn với các ngành dịch vụ, các chương trình hợp tác trong khu vực sẽ mang lại cho tỉnh những cơ hội phát triển mới về dịch vụ; đặc biệt, Bắc Ninh với vai trò quan trọng nằm trong vùng trung tâm mở rộng trong cơ cấu không gian vùng Thủ đô đã được điều chỉnh sẽ tạo ra nhiều thuận lợi trong việc đẩy mạnh phát triển khu vực dịch vụ của tỉnh.

2.3.2 Nhược điểm Luận văn: Thực trạng công tác quản lý nhà nước du lịch Bắc Ninh.

Dịch vụ chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của tỉnh; cơ cấu kinh tế chuyển dịch chưa đáp ứng sự biến động nhanh chóng của nhu cầu thị trường; liên kết và tham gia vào cơ cấu kinh tế dịch vụ với Hà Nội còn yếu, chịu ảnh hưởng của hiệu ứng “chân đèn”; hoạt động của các ngành dịch vụ có chất lượng, giá trị gia tăng cao, hoạt động mang tính chuyên nghiệp, hiện đại, hiệu quả và có sức cạnh tranh trong vùng còn hạn chế…

Chính vì vậy Bắc Ninh còn đứng trước rất nhiều thách thức: Hội nhập kinh tế thế giới mở ra thuận lợi nhưng cũng có sức ép cạnh tranh quyết liệt trong xu hướng mở cửa dịch vụ với các cam kết quốc tế; Bắc Ninh gần các trung tâm kinh tế lớn phát triển năng động và mạnh mẽ cũng thách thức lớn về cạnh tranh, tìm kiếm thị trường; cơ sở hạ tầng chưa thực sự đáp ứng được đầy đủ yêu cầu phát triển; sự chậm trễ trong việc phát triển dịch vụ ở một số ngành sẽ dẫn đến sự cạnh tranh gay gắt từ các cơ sở kinh doanh dịch vụ tốt hơn ở ngoài địa bàn; áp lực trong tái cơ cấu kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng xanh, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu, hoàn thành các nội dung xây dựng nông thôn mới, tìm lối đi mới, sáng tạo, đột phá để phát triển ngành dịch vụ du lịch của tỉnh ngoài các lợi thế sẵn có.

2.3.3 Nguyên nhân

Công tác quản lý Nhà nước còn nhiều hạn chế: Việc triển khai thực hiện các quy hoạch dự án còn chậm, quản lý sau quy hoạch chưa tốt; chưa kịp thời giải quyết các khó khăn vướng mắc trong đầu tư kinh doanh du lịch, đặc biệt là môi trường đầu tư, trong đó có năng lực thẩm định, thủ tục hành chính và giải phóng mặt bằng vẫn là một trong những nguyên nhân chính làm chậm tiến độ triển khai các dự án.  

Hầu hết các dự án đầu tư trên lĩnh vực du lịch đều đang trong giai đoạn triển khai thực hiện đầu tư sẽ hoàn thành và đi vào hoạt động kinh doanh, phát huy hiệu quả đầu tư trong thời gian tới. Công tác bồi thường giải phóng mặt bằng triển khai các dự án đầu tư du lịch gặp nhiều khó khăn, một số nhà đầu tư còn hạn chế về vốn, năng lực, kinh nghiệm điều hành quản lý kinh doanh du lịch.

Cơ chế, chính sách phát triển du lịch tuy đã cải thiện tích cực, song về thủ tục hành chính còn rườm rà, chưa thật hợp lý, thiếu rõ ràng nên chưa thực sự tạo môi trường đầu tư thông thoáng, hấp dẫn cho các nhà đầu tư. Nhiều khó khăn, vướng mắc trong hoạt động kinh doanh chậm được tháo gỡ, giải quyết kịp thời cho doanh nghiệp, chưa thu hút được nhiều nhà đầu tư có nguồn vốn lớn, trình độ sản phẩm, công nghệ cao cấp đa dạng và quản lý hiện đại để tạo bước đột phá trong phát triển du lịch. Sự phối hợp giữa các cấp các ngành còn nhiều bất cập, còn tình trạng chồng chéo, chia cắt trong sự phân công, phân cấp quản lý giữa ngành và lãnh thổ.

Tiểu kết chương 2 Luận văn: Thực trạng công tác quản lý nhà nước du lịch Bắc Ninh.

Trong chương 2, đề tài đã tiến hành nghiên cứu và đánh giá được thực trạng về tình hình quản lý nhà nước về du lịch tại Bắc Ninh. Do những biến động phức tạp đã tác động tiêu cực đến ngành du lịch Việt Nam nói chung và Bắc Ninh nói riêng như: khủng khoảng kinh tế tài chính trên phạm vi toàn cầu, nạn khủng bố, dịch bệnh, thiên tai… đã ảnh hưởng đến sự phát triển chung của ngành du lịch.

Sự cạnh tranh, chia sẻ thị trường của các trung tâm du lịch lớn trong vùng và cả nước ngày càng gay gắt, hơn nữa nhu cầu, thị hiếu của khách có xu hướng đổi mới với yêu cầu ngày càng cao.

Tính mùa vụ của du lịch thể hiện khá rõ nét. Vào các dịp Lễ, Tết, mùa hè khách đến nhiều, với số lượng lớn, trong khi đó mùa thấp điểm (mùa mưa) khách đến không nhiều, “cung” lớn hơn “cầu”, nên xảy ra một số tiêu cực trong kinh doanh như: phá giá, “cò mồi”… Luận văn: Thực trạng công tác quản lý nhà nước du lịch Bắc Ninh.

Các doanh nghiệp kinh doanh du lịch còn thụ động trong việc xây dựng chiến lược phát triển kinh doanh và mở rộng thị trường. Việc áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến vào kinh doanh du lịch chưa được các doanh nghiệp quan tâm.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Giải pháp công tác quản lý nhà nước về du lịch Bắc Ninh

One thought on “Luận văn: Thực trạng công tác quản lý nhà nước du lịch Bắc Ninh

  1. Pingback: Luận văn: Công tác quản lý nhà nước về du lịch của tỉnh Bắc Ninh

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *