Luận văn: Thực trạng Chế định người bào chữa trong Luật tố tụng

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng Chế định người bào chữa trong Luật tố tụng hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: qui định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành về chế định người bào chữa và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Hải Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ CHẾ ĐỊNH NGƯỜI BÀO CHỮA

2.1.1. Quyền của người bào chữa

Quyền có mặt khi lấy lời khai của NBTG, khi hỏi cung bị can và nếu Điều tra viên đồng ý thì được hỏi NBTG, bị can và có mặt trong những hoạt động điều tra khác; xem các biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình và các quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa (điểm a khoản 2 Điều 58 BLTTHS năm 2003):

Quy định này giúp NBTG, bị can có tâm lý yên tâm hơn khi khai báo, đồng thời giám sát hoạt động của CQĐT, CQĐT thận trọng hơn trong việc tuân thủ pháp luật, tôn trọng sự thật khách quan vụ án, tránh tình trạng Điều tra viên ép cung, bức cung, mớm cung, dùng nhục hình đối với NBTG, bị can để làm sai lệch kết quả điều tra. Từ đó, NBC theo dõi được quá trình điều tra và tình hình chứng cứ, nó có ý nghĩa rất lớn cho việc chuẩn bị bài bào chữa và tham gia tranh tụng của họ ở những giai đoạn tố tụng tiếp theo của vụ án.

NBC có quyền có mặt khi lấy lời khai của NBTG, khi hỏi cung bị can và hỏi NBTG, bị can nếu Điều tra viên đồng ý để làm sáng tỏ tình tiết có lợi cho NBTG, bị can. Qui định như vậy sẽ hạn chế quyền chủ động của NBC bởi nếu NBC muốn hỏi NBTG, bị can thì phải được sự “đồng ý” của Điều tra viên. Thực tế hầu như ở giai đoạn này, NBC chỉ là người tham dự hỏi cung cùng Điều tra viên nên không thể thu thập đầy đủ thông tin cho việc gỡ tội. Tại Khoản 3 Điều 7 Thông tư 70/2011/TT-BCA ngày 10/10/2011 qui định: Luận văn: Thực trạng Chế định người bào chữa trong Luật tố tụng.

Khi lấy lời khai NBTG, hỏi cung bị can nếu Điều tra viên đồng ý cho NBC được hỏi NBTG, bị can thì phải ghi câu hỏi của NBC, câu trả lời của NBTG, bị can vào trong biên bản lấy lời khai NBTG, biên bản hỏi cung bị can”. Quy định này góp phần bảo đảm việc hỏi NBTG, bị can của NBC nhưng vẫn bị hạn chế bởi qui định “nếu Điều tra viên đồng ý” nên NBC luôn ở thế bị động và không thể thu thập đầy đủ thông tin cho việc gỡ tội của mình. Mặt khác, chỉ qui định việc ghi vào biên bản lấy lời khai NBTG, biên bản hỏi cung bị can những câu hỏi của NBC nếu Điều tra viên đồng ý, không qui định lập biên bản về những câu hỏi của NBC không được Điều tra viên đồng ý.

BLTTHS qui định NBC có quyền tham gia vào các hoạt động điều tra khác như: thực nghiệm điều tra, đối chất, nhận dạng, khám nghiệm hiện trường, khai quật tử thi, khám xét,… Khi tham gia vào những hoạt động này, NBC có điều kiện thu thập thêm một số tình tiết gỡ tội hoặc giảm nhẹ TNHS cho bị can, góp phần vào việc xác định sự thật khách quan của vụ án trong quá trình điều tra. Nhưng thực tế, họ rất ít được tham gia vì đều bị Điều tra viên từ chối mặc dù sự tham gia của họ là hết sức cần thiết.

Để tạo điều kiện cho NBC trong việc thu thập chứng cứ phục vụ cho việc bào chữa và bảo đảm cho quá trình giải quyết vụ án được khách quan, BLTTHS năm 2003 qui định NBC được xem lại các biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình và các quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa. Đây là một quyền hoàn toàn mới so với BLTTHS năm 1988 nhằm tạo sự giám sát của NBC đối với hoạt động của người THTT buộc người THTT phải thận trọng hơn khi đưa ra các quyết định và thực hiện đúng qui định pháp luật. Trong quá trình giải quyết VAHS, có nhiều hoạt động tố tụng được thực hiện như: lấy lời khai NBTG, hỏi cung bị can,…những hoạt động này đều được lập thành biên bản và có chữ ký của các bên liên quan. Khi tham gia các hoạt động điều tra, xem các biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình và các quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa, nếu phát hiện những vi phạm pháp luật, NBC có quyền khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền.

Quyền được đề nghị CQĐT báo trước về thời gian và địa điểm hỏi cung bị can để có mặt khi hỏi cung bị can (điểm b khoản 2 Điều 58 BLTTHS năm 2003):

Đây là một qui định mới, bổ sung quyền của NBC trong giai đoạn điều tra. Trước đây, BLTTHS năm 1988 không qui định nên việc tham gia của NBC hoàn toàn phụ thuộc vào CQĐT. Qui định này giúp NBC có kế hoạch chủ động tham gia vào quá trình hỏi cung bị can. Tuy nhiên, BLTTHS năm 2003 chỉ qui định NBC có quyền “đề nghị” CQĐT báo trước về thời gian và địa điểm hỏi cung để có mặt khi hỏi cung bị can nhưng lại không qui định trách nhiệm của CQĐT trong việc thông báo về thời gian, địa điểm lấy lời khai NBTG, hỏi cung bị can. NBC có quyền có mặt khi hỏi cung bị can nhưng phải “đề nghị” CQĐT báo trước về thời gian và địa điểm có mặt, đồng thời pháp luật không quy định cụ thể thời hạn CQĐT phải báo trước cho NBC là bao lâu. Do đó, trên thực tế khi NBC không chủ động đề nghị thì CQĐT không thông báo trước về thời gian, địa điểm hỏi cung bị can cho NBC hoặc có trường hợp CQĐT chỉ thông báo bằng điện thoại trước giờ hỏi cung nên NBC không kịp đến để tham gia hỏi cung dẫn đến hạn chế việc thu thập chứng cứ cho NBTG, bị can. Luận văn: Thực trạng Chế định người bào chữa trong Luật tố tụng.

Quyền được đề nghị thay đổi người THTT, người giám định, người phiên dịch (điểm c khoản 2 Điều 58 BLTTHS năm 2003):

Nếu có những căn cứ theo luật định và xét thấy người THTT, người giám định, người phiên dịch tham gia tố tụng có thể làm ảnh hưởng không tốt đến quyền và lợi ích hợp pháp của người mà mình bào chữa, thì NBC có quyền đề nghị thay đổi. Quyền này được áp dụng trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Những căn cứ theo luật định về việc thay đổi người THTT, người giám định, người phiên dịch được qui định tại các Điều 42, khoản 4 Điều 60, khoản 3 Điều 61 của BLTTHS năm 2003. Quyền đề nghị thay đổi người THTT, người giám định, người phiên dịch nói trên không chỉ dành cho bị can, bị cáo mà còn cho NBC. Thực hiện quyền này sẽ góp phần bảo đảm sự vô tư, khách quan trong quá trình giải quyết vụ án, đảm bảo cho những quyết định có liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp của NBTG, bị can, bị cáo được chính xác, công bằng. Quy định này thể hiện tính dân chủ trong TTHS Việt Nam.

Quyền thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa từ NBTG, bị can, bị cáo, người thân thích của những người này hoặc từ cơ quan, tổ chức, cá nhân theo yêu cầu của NBTG, bị can, bị cáo nếu không thuộc bí mật Nhà nước, bí mật công tác (điểm d khoản 2 Điều 58 BLTTHS năm 2003):

Đây là một qui định mới của BLTTHS năm 2003 so với BLTTHS năm 1988. Thực tiễn TTHS cho thấy, với trách nhiệm chứng minh tội phạm, CQTHTT thường quan tâm đến những chứng cứ buộc tội NBTG, bị can, bị cáo hơn là chứng cứ gỡ tội. Do đó, qui định quyền nói trên đối với NBC có ý nghĩa quan trọng giúp NBC chủ động hơn trong việc tìm ra những chứng cứ có lợi cho thân chủ của mình. Bởi nếu chỉ căn cứ vào những chứng cứ do CQTHTT thu thập thì có thể sẽ đánh giá chứng cứ theo hướng thiên về buộc tội nhiều hơn là gỡ tội. Điều đó sẽ gây bất lợi cho đối tượng bào chữa. Đồng thời, khi thực hiện quyền này sẽ giúp NBC thực hiện được một số quyền khác như: quyền gặp NBTG, bị can, bị cáo; quyền đề nghị được gặp cơ quan, tổ chức, cá nhân để thu thập tài liệu, đồ vật. Sau khi gặp những người này, NBC có thể thu thập được những tài liệu, đồ vật, tình tiết có liên quan đến việc bào chữa hoặc có thể NBTG, bị can, bị cáo đề nghị NBC tìm thêm nhân chứng, vật chứng,… Mặc dù BLTTHS năm 2003 qui định NBC có quyền thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa nhưng lại chưa qui định về trình tự, thủ tục thu thập chứng cứ của NBC. Theo qui định tại Điều 65 BLTTHS năm 2003 thì: Để thu thập chứng cứ, CQĐT, VKS và TA có quyền triệu tập những người biết về vụ án để hỏi và nghe họ trình bày những vấn đề có liên quan đến vụ án, trưng cầu giám định, tiến hành khám xét, khám nghiệm và các hoạt động điều tra khác theo qui định của BLTTHS; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, trình bày những tình tiết làm sáng tỏ vụ án. Những người tham gia tố tụng (trong đó có NBC), cơ quan, tổ chức hoặc bất cứ cá nhân nào đều có thể đưa ra tài liệu, đồ vật và trình bày những vấn đề liên quan đến vụ án. Luận văn: Thực trạng Chế định người bào chữa trong Luật tố tụng.

Quyền thu thập, tài liệu, đồ vật của NBC trong giai đoạn điều tra được cụ thể hóa tại Điều 9 Thông tư số 70[4]. Theo đó, qui định CQĐT, Điều tra viên có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi để NBC thu thập tài liệu, đồ vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa từ NBTG, bị can, người thân thích của những người này hoặc từ cơ quan, tổ chức, cá nhân theo yêu cầu của NBTG, bị can nếu không thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác. Về thủ tục, khi NBC thu thập được tài liệu, đồ vật liên quan đến việc bào chữa giao cho CQĐT thì Điều tra viên lập biên bản tiếp nhận và đưa vào hồ sơ vụ án. Trường hợp NBC đưa ra yêu cầu, nếu thấy yêu cầu có liên quan đến việc bào chữa thì Điều tra viên lập biên bản ghi nhận yêu cầu của NBC.

Tuy nhiên, để thực hiện quyền trên cũng không hề đơn giản. Bởi thực tế, NBC gặp không ít khó khăn trong việc hợp tác với các cơ quan, tổ chức khi thu thập chứng cứ, trong khi CQTHTT chỉ cần có Công văn yêu cầu là được cung cấp thông tin. Sở dĩ như vậy, vì luật chưa qui định chế tài áp dụng trong những trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân từ chối cung cấp các thông tin có liên quan cho NBC dẫn đến tình trạng NBC phải “sử dụng hồ sơ buộc tội để gỡ tội”, tìm ra những kẽ hở để bào chữa cho thân chủ và “kêu gọi lòng nhân đạo của TA, của pháp luật” đối với bị can, bị cáo[67]. Việc bào chữa không tập trung vào chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ TNHS cho đối tượng bào chữa mà chỉ tập trung vào những sai phạm về mặt hình thức, thủ tục của cơ quan, người THTT.

Như vậy, theo qui định của BLTTHS năm 2003 thì thẩm quyền đánh giá, sử dụng chứng cứ trong VAHS hoàn toàn thuộc về người THTT [43, khoản 2 Điều 66]. NBC có nghĩa vụ giao nộp chứng cứ thu thập được (tài liệu, đồ vật và tình tiết có liên quan) cho CQTHTT. BLTTHS không qui định cụ thể về việc đánh giá, sử dụng chứng cứ do NBC cung cấp, mà đưa ra yêu cầu chung đối với người THTT là phải xác định và đánh giá mọi chứng cứ với đầy đủ tinh thần trách nhiệm, sau khi nghiên cứu một cách tổng hợp, khách quan, toàn diện và đầy đủ tất cả các tình tiết của vụ án[1].

Quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu (điểm đ khoản 2 Điều 58 BLTTHS năm 2003):

Quyền nói trên còn được qui định tại khoản 2 Điều 65 BLTTHS. NBC có quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu theo hướng có lợi cho NBTG, bị can, bị cáo. NBC có quyền đưa ra yêu cầu như: triệu tập thêm người làm chứng, trưng cầu giám định nếu xét thấy điều đó có lợi và cần thiết cho đối tượng bào chữa, hoặc yêu cầu hoãn phiên tòa, yêu cầu thay đổi người THTT, người giám định, người phiên dịch,… CQTHTT phải tôn trọng quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu của NBC. Sự đảm bảo này được qui định tại Điều 122 BLTTHS năm 2003:

Khi người tham gia tố tụng có yêu cầu về những vấn đề liên quan đến vụ án thì CQĐT, VKS trong phạm vi trách nhiệm của mình, giải quyết yêu cầu của họ và báo cho họ biết kết quả. Trong trường hợp không chấp nhận yêu cầu thì CQĐT hoặc VKS phải trả lời và nêu rõ lý do. Nếu không đồng ý với kết quả giải quyết của CQĐT hoặc VKS thì người tham gia tố tụng có quyền khiếu nại[43, Điều 122]. Luận văn: Thực trạng Chế định người bào chữa trong Luật tố tụng.

Tại Điều 19 BLTTHS năm 2003 qui định NBC có quyền bình đẳng với Kiểm sát viên trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu đồ vật, đưa ra yêu cầu trước TA. TA có trách nhiệm tạo điều kiện cho NBC thực hiện các quyền đó nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy chỉ có những chứng cứ về các tình tiết giảm nhẹ có xác nhận đầy đủ thì TA mới chấp nhận. Còn những chứng cứ liên quan đến việc định tội hoặc định khung hình phạt hầu như TA ít để ý và thường không chấp nhận. Có thực tế này vì Điều 64 BLTTHS năm 2003 qui định chứng cứ là những gì có thật, được thu thập, bảo quản theo trình tự, thủ tục do luật định.

Quyền gặp NBTG; gặp bị can, bị cáo đang bị tạm giam (điểm e khoản 2 Điều 58 BLTTHS năm 2003):

NBC phải thường xuyên gặp gỡ, trao đổi và tiếp xúc với NBTG, bị can, bị cáo để có thể nắm rõ sự thật về vụ án, các đặc điểm nhân thân và diễn biến tâm lý, tâm tư, nguyện vọng của đối tượng bào chữa, tìm hiểu nguyên nhân, mục đích, động cơ, điều kiện, hoàn cảnh phạm tội,… Trên cơ sở đó, NBC mới thu thập được những tình tiết gỡ tội, giảm nhẹ tội để bào chữa cho thân chủ. Qua gặp gỡ, trao đổi, NBC giải thích những vấn đề liên quan đến pháp luật mà NBTG, bị can, bị cáo chưa hiểu và cũng có thể tác động để họ có thái độ khai báo tốt hơn nhằm được minh oan hoặc giảm nhẹ TNHS. Khi gặp NBC, họ cảm thấy yên tâm và tin tưởng hơn nên dễ dàng cung cấp sự thật của vụ án. NBC phân tích cho NBTG, bị can, bị cáo thấy cần khai báo trung thực, khách quan để NBC có căn cứ rõ ràng, vững chắc. Từ đó, NBC có kế hoạch xét hỏi và chuẩn bị bản luận cứ bào chữa tại phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đối tượng bào chữa một cách tốt nhất.

NBC được quyền gặp NBTG, gặp bị can, bị cáo đang bị tạm giam nhưng việc gặp này rất khó khăn, phải xuất trình nhiều giấy tờ, thủ tục phiền hà. Nếu được gặp thân chủ của mình thì cũng phải chịu sự giám sát trực tiếp của Điều tra viên và Giám thị Trại giam, thời gian và số lần gặp cũng bị hạn chế. Nên nhiều trường hợp NBTG, bị can, bị cáo không thể khai báo đầy đủ, rõ ràng cho NBC vì họ sợ Điều tra viên và Giám thị Trại giam “trù dập”. Hiện nay, tại Điều 10 Thông tư 70/2011/TT-BCA qui định: “khi NBC có văn bản đề nghị CQĐT cho gặp NBTG, bị can đang bị tạm giam thì CQĐT phải làm các thủ tục theo quy định của pháp luật để NBC gặp NBTG, bị can; nếu từ chối cho gặp thì phải thông báo cho NBC biết bằng văn bản và nêu rõ lý do từ chối” [4, Điều 10]. Qui định này có nghĩa là việc gặp NBTG, bị can bị tạm giam là quyền của NBC và là nghĩa vụ của CQĐT. Từ đó, sẽ hạn chế tình trạng việc gặp NBTG, bị can của NBC trong giai đoạn điều tra phần lớn phụ thuộc vào sự cho phép của CQĐT.

Quyền đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa sau khi kết thúc điều tra theo qui định pháp luật (điểm g khoản 2 Điều 58 BLTTHS năm 2003): Luận văn: Thực trạng Chế định người bào chữa trong Luật tố tụng.

Quyền được sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa sau khi kết thúc điều tra là một quyền mới so với BLTTHS năm 1988. Trong giai đoạn điều tra, quyền này cũng được qui định tại Điều 11 Thông tư 70/2011/TT-BCA, theo đó CQĐT phải tạo điều kiện thuận lợi cho NBC đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án sau khi kết thúc điều tra: Điều tra viên phải tập trung những tài liệu có trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa thành một tập hồ sơ. Nếu NBC đọc, ghi chép những tài liệu này, Điều tra viên bố trí cho NBC đọc, ghi chép tại phòng làm việc thuộc trụ sở CQĐT… Trường hợp NBC đề nghị sao chụp những tài liệu này, Điều tra viên trực tiếp sao chụp (bằng máy photocopy) tài liệu đưa cho NBC. Việc đọc, ghi chép hoặc sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án có liên quan đến việc bào chữa của NBC phải được lập biên bản ghi nhận, tài liệu giao cho NBC phải có bản thống kê các tài liệu kèm theo.

Ghi nhận quyền đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa sau khi kết thúc điều tra giúp NBC nắm bắt được những tình tiết, diễn biến của vụ án, những chứng cứ buộc tội, gỡ tội đối với đối tượng bào chữa, biết được họ phạm tội gì, dựa trên những căn cứ buộc tội nào. Từ đó, giúp NBC chuẩn bị luận cứ bào chữa, tham gia tranh tụng tại phiên tòa. Đồng thời, phát hiện những thiếu sót, hạn chế hoặc vi phạm pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án, trên cơ sở đó đưa ra yêu cầu, khiếu nại cần thiết đối với cơ quan có thẩm quyền.

Quyền tham gia hỏi, tranh luận tại phiên tòa (điểm h khoản 2 Điều 58 BLTTHS năm 2003):

NBC có quyền tham gia hỏi, tranh luận tại phiên tòa. Trong quá trình hỏi, NBC được quyền hỏi bị cáo và những người khác về những vấn đề có liên quan đến vụ án để có được những câu trả lời theo hướng có lợi cho bị cáo. Qua đó, NBC đề nghị HĐXX lưu ý những lời khai có lợi cho bị cáo mà hồ sơ chưa phản ánh hoặc phản ánh chưa đầy đủ. Khi tranh luận, đặc biệt là khi luận tội, NBC lắng nghe, xem xét ý kiến liên quan tới việc phạm tội của bị cáo và trên cơ sở đó NBC phải phân tích, lập luận, đưa ra những lý lẽ để phát biểu ý kiến bào chữa cho bị cáo và bác bỏ lời buộc tội bị cáo. Quyền tham gia hỏi, tranh luận tại phiên tòa là sự thể chế hóa chủ trương của Đảng về cải cách tư pháp theo hướng mở rộng hoạt động tranh tụng của NBC “các cơ quan tư pháp có trách nhiệm tạo điều kiện để LS tham gia vào quá trình tố tụng, tham gia hỏi cung bị can, nghiên cứu hồ sơ vụ án, tranh luận dân chủ tại phiên tòa… việc phán quyết của TA phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa…”[21]. BLTTHS năm 2003 đã sửa đổi, bổ sung nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước TA và các quy định khác để Kiểm sát viên phải chủ động trong việc thực hành quyền công tố, khi tranh luận còn ý kiến khác nhau thì phải đưa ra lập luận của mình đối với từng ý kiến. Bị cáo, NBC và những người tham gia tố tụng khác có quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu, được trình bày hết ý kiến và tranh luận dân chủ tại phiên toà. HĐXX khi nghị án chỉ được căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác [43, Điều 217, 218, 222]; khi tham gia tranh luận, NBC được quyền đáp lại ý kiến của Kiểm sát viên và người khác không chỉ một lần như qui định của BLTTHS năm 1988. Chủ tọa phiên tòa không được hạn chế thời gian tranh luận, tạo điều kiện cho những người tham gia tranh luận trình bày hết ý kiến. Chủ tọa phiên tòa có quyền đề nghị Kiểm sát viên đáp lại những ý kiến có liên quan đến vụ án của NBC và những người tham gia tố tụng khác mà những ý kiến đó chưa được Kiểm sát viên tranh luận [43, Điều 218]. Đây là những qui định tiến bộ, thể hiện sự bình đẳng, dân chủ của NBC trước CQTHTT, phù hợp với tinh thần cải cách tư pháp mà Đảng, Nhà nước đề ra. Bởi sự tham gia xét hỏi tại Tòa là việc điều tra công khai nhất với sự có mặt của đầy đủ người tham gia tố tụng thì việc đối chất và đưa ra chứng cứ mới, bác bỏ những chứng cứ buộc tội sẽ có nhiều thuận lợi hơn, các tình tiết của vụ án được làm sáng tỏ trên cơ sở sự tham gia của các bên và những người liên quan, vì TA là cơ quan duy nhất có quyền tuyên một người có tội và áp dụng hình phạt đối với họ nên việc xác định tất cả các chứng cứ, tài liệu tại phiên tòa xét xử rất quan trọng, các tài liệu, đồ vật thu thập được tại phiên tòa được coi là có giá trị pháp lý cao nhất để HĐXX ra phán quyết đối với bị cáo. Qui định như vậy nhằm mở rộng và tăng cường hơn nữa môi trường dân chủ, tính công khai, công bằng của quá trình giải quyết VAHS, thiết lập các cơ chế bảo vệ ngày càng tốt hơn quyền con người, bảo đảm quyền dân chủ cho bị can, bị cáo và NBC của họ, mở ra các điều kiện và khả năng tốt nhất để họ thực hiện quyền bào chữa; bảo đảm quá trình giải quyết vụ án được khách quan, toàn diện, triệt để, vô tư; bảo đảm việc giải quyết vụ án được đúng người, đúng tội, đúng pháp luật[59]. Việc xét hỏi và tranh luận của NBC tại phiên tòa tạo điều kiện cho NBC tham gia vào quá trình giám sát hoạt động của HĐXX và VKS, giúp bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo, đồng thời giúp HĐXX thực hiện việc xét hỏi đúng hướng, ra các quyết định đúng pháp luật bởi việc tham gia xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa nếu không thực hiện đúng qui định pháp luật sẽ dẫn đến sai lầm, làm oan người vô tội, bỏ lọt tội phạm. Trên cơ sở kết quả tranh tụng tại Tòa, TA ra phán quyết đối với vụ án.

Quyền khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng (điểm i khoản 2 Điều 58 BLTTHS năm 2003): Luận văn: Thực trạng Chế định người bào chữa trong Luật tố tụng.

Trong các giai đoạn tố tụng, nếu NBC phát hiện thấy quyết định, hành tố tụng của cơ quan, người THTT vi phạm pháp luật, ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đối tượng bào chữa thì NBC có quyền khiếu nại những quyết định, hành vi tố tụng đó. Qui định này là sự cụ thể hóa nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo trong TTHS tại Điều 31 BLTTHS năm 2003

NBC có thể khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng liên quan như: khiếu nại liên quan đến việc áp dụng biện pháp bắt, tạm giữ, tạm giam; khiếu nại liên quan đến thủ tục tố tụng trong khám xét, thu giữ, tạm giữ, kê biên tài sản như: không niêm phong tài sản, đồ vật bị thu giữ, không cho người bị tình nghi chứng kiến việc khám xét; trong khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, xem xét dấu vết trên thân thể; khiếu nại về thủ tục tố tụng, thời hạn tạm giữ, tạm giam, gia hạn tạm giam; khiếu nại liên quan đến vấn đề giám định như: phương pháp giám định không phù hợp, căn cứ thiếu khách quan, dẫn đến kết quả giám định sai lệch; khiếu nại liên quan đến các hành vi cản trở NBC thực hiện quyền và nghĩa vụ trong các giai đoạn TTHS,… Quyền khiếu nại của NBC góp phần đảm bảo các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người THTT mang tính khách quan, chính xác, đúng pháp luật, hạn chế việc vi phạm pháp luật, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của NBTG, bị can, bị cáo.

Quyền kháng cáo bản án, quyết định của TA nếu bị cáo là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất qui định tại điểm b khoản 2 Điều 57 của BLTTHS năm 2003 (điểm k khoản 2 Điều 58 BLTTHS năm 2003):

Quyền này cũng được qui định tại Điều 231 BLTTHS năm 2003: “NBC có quyền kháng cáo để bảo vệ lợi ích của người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất”. Như vậy, quyền kháng cáo của NBC chỉ đặt ra trong trường hợp đối tượng bào chữa là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất qui định tại điểm b khoản 2 Điều 57 của BLTTHS năm 2003.

Từ qui định trên cho thấy, NBC có quyền kháng cáo độc lập không phụ thuộc vào ý chí của bị cáo và đại diện hợp pháp của họ. Bởi những đối tượng này thường chưa đủ khả năng nhận thức, trình độ, kiến thức, kinh nghiệm pháp lý còn hạn chế hoặc hạn chế về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi. Vì vậy, họ không thể xem xét bản án, quyết định tuyên cho mình có phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi do mình thực hiện hay không. Do đó, BLTTHS năm 2003 qui định NBC có quyền kháng cáo để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo thuộc trường hợp trên là vô cùng cần thiết. Tuy nhiên, qui định quyền kháng cáo của NBC chưa thực sự đầy đủ, dẫn đến phát sinh những khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện. Bởi BLTTHS không nói rõ quyền kháng cáo của NBC trong trường hợp này là độc lập hay phụ thuộc ý chí của bị cáo hoặc của người đại diện hợp pháp của bị cáo. Nên tại phiên tòa sơ thẩm, NBC là người đã thực hiện việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho những đối tượng trên, nhưng sau khi tham gia phiên tòa sơ thẩm, bản thân bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ không chấp thuận hoặc yêu cầu NBC làm đơn kháng cáo nhưng NBC vẫn thực hiện quyền kháng cáo đối với bản án, quyết định của TA vì NBC cho rằng bản án, quyết định của TA là thiếu căn cứ, vi phạm pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của đối tượng bào chữa. Do đó, sẽ nảy sinh mâu thuẫn, vậy NBC có thể tự mình thực hiện quyền kháng cáo được không hay phải có sự chấp thuận, yêu cầu của người được bào chữa hoặc người đại diện hợp pháp của họ. Trong trường hợp người được bào chữa và đại diện hợp pháp của họ không chấp thuận hoặc yêu cầu NBC kháng cáo nhưng NBC vẫn thực hiện quyền kháng cáo nên khi tham gia phiên tòa phúc thẩm thì theo qui định tại Điều 245 BLTTHS năm 2003, TA chỉ triệu tập NBC có kháng cáo, không triệu tập thân chủ của NBC. Vậy trong trường hợp, người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất nhận được bản án, quyết định của TA cấp phúc thẩm đã có hiệu lực pháp luật nhưng ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ thì NBC có phải chịu trách nhiệm không?

Đối với trường hợp NBC tham gia bào chữa cho người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần theo yêu cầu của CQTHTT. Mặc dù, BLTTHS năm 2003 qui định Giấy chứng nhận NBC có giá trị trong suốt giai đoạn tố tụng nhưng thực tế cho thấy Giấy chứng nhận NBC được cấp theo từng giai đoạn tố tụng, nên trường hợp khi thụ lý để xét xử phúc thẩm, nếu bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần thì TA vẫn làm thủ tục yêu cầu cử NBC, do đó dẫn đến trường hợp tại phiên tòa phúc thẩm xuất hiện hai NBC: NBC tham gia ở giai đoạn phúc thẩm do TA phúc thẩm chỉ định và NBC tham gia từ giai đoạn sơ thẩm do thực hiện quyền kháng cáo.

Quyền bình đẳng với Kiểm sát viên trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận dân chủ trước TA. TA có trách nhiệm tạo điều kiện cho NBC thực hiện các quyền đó nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án (Điều 19 BLTTHS 2003 BLTTHS năm 2003): Luận văn: Thực trạng Chế định người bào chữa trong Luật tố tụng.

Qui định này nằm trong chương II của BLTTHS (những nguyên tắc cơ bản). Đây vừa là nguyên tắc, vừa là quyền của NBC. Tuy nhiên, trên thực tế tình trạng vi phạm nguyên tắc này vẫn diễn ra phổ biến, có trường hợp Kiểm sát viên trong quá trình tranh luận không tôn trọng NBC, đưa ra những lời lẽ nhằm hạ thấp uy tín, danh dự của NBC. Trái lại, cũng có trường hợp NBC thay vì đưa ra những chứng cứ gỡ tội, chứng cứ giảm nhẹ TNHS cho thân chủ thì lại đưa ra những lời nhận xét về thái độ, tác phong của Kiểm sát viên, đòi quyền bình đẳng với Kiểm sát viên trong mọi hoạt động tố tụng, có trường hợp NBC tranh luận gay gắt, tạo ra không khí căng thẳng, ứng xử thiếu văn minh nơi pháp đình,…

Như vậy, bằng việc qui định quyền của NBC trong TTHS đã góp phần đề cao vị trí, vai trò của NBC trong TTHS, tạo điều kiện cho NBC được tham gia một cách bình đẳng, dân chủ với cơ quan, người THTT, tránh sự lạm quyền từ phía cơ quan, người THTT, giúp CQTHTT giải quyết vụ án một cách khách quan, công minh, chính xác, đúng pháp luật, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được bào chữa. Đồng thời, góp phần vào tiến trình cải cách tư pháp được đề ra trong các Nghị quyết của Đảng.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Bảng Giá Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Luật

2.1.2. Nghĩa vụ của người bào chữa

Sử dụng mọi biện pháp do pháp luật qui định để làm sáng tỏ những tình tiết xác định NBTG, bị can, bị cáo vô tội, những tình tiết giảm nhẹ TNHS của bị can, bị cáo. Tùy theo mỗi giai đoạn tố tụng, khi thu thập được tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án, thì NBC có trách nhiệm giao cho CQĐT, VKS, TA. Việc giao nhận các tài liệu, đồ vật đó giữa NBC và CQTHTT phải được lập biên bản theo qui định tại Điều 95 BLTTHS (điểm a khoản 3 Điều 58 BLTTHS năm 2003):

NBC có nghĩa vụ sử dụng mọi biện pháp do pháp luật qui định để tìm ra sự thật khách quan của vụ án giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được bào chữa. Đây là nghĩa vụ đương nhiên và cũng là chức năng của bào chữa. Sử dụng mọi biện pháp ở đây không có nghĩa là sử dụng cả những biện pháp không hợp pháp để bào chữa cho thân chủ của mình như: cố tình xui bị cáo giả vờ ốm để hoãn phiên tòa dẫn đến việc giải quyết vụ án bị kéo dài, viện lý do bận việc không tham gia phiên tòa để HĐXX hoãn phiên tòa, hoặc lợi dụng sự quen biết với người THTT để “chạy án” giúp người được bào chữa,…NBC không được buộc tội hoặc làm tăng nặng TNHS đối với người được bào chữa kể cả trong trường hợp hành vi phạm tội của đối tượng bào chữa đã rõ ràng thì cũng cần phân tích giúp họ thành khẩn khai báo để nhận được sự khoan hồng của pháp luật, nếu họ không đồng ý thì NBC có quyền từ chối nhưng không được phép buộc tội thân chủ trước CQTHTT. Nếu như vậy là hoàn toàn trái với chức năng bào chữa và đạo đức nghề nghiệp. Qui định này nhằm hạn chế tình trạng NBC không có trách nhiệm với công việc bào chữa cho thân chủ của mình, đặc biệt trong trường hợp NBC tham gia theo yêu cầu của CQTHTT. Trên thực tế, chính tâm lý của NBC nhận thức sự tham gia của họ là hình thức nên họ không tích cực, chủ động trong việc sử dụng mọi biện pháp do pháp luật qui định để làm sáng tỏ những tình tiết xác định thân chủ vô tội, những tình tiết giảm nhẹ TNHS của thân chủ họ.

Giúp NBTG, bị can, bị cáo về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ (điểm b khoản 3 Điều 58 BLTTHS năm 2003): Luận văn: Thực trạng Chế định người bào chữa trong Luật tố tụng.

Thông thường, NBTG, bị can, bị cáo khi bị “vướng vào vòng tố tụng” với tâm lý không ổn định, mặt khác trình độ nhận thức, kiến thức pháp lý của họ bị hạn chế nên sự trợ giúp về mặt pháp lý đối với họ là vô cùng cần thiết. Ví dụ: NBC có thể giải thích về quyền và nghĩa vụ của người được bào chữa, của cơ quan, người THTT, về việc thành khẩn khai báo để nhận được sự khoan hồng của pháp luật, động viên đối tượng bào chữa tự nguyện sữa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả để được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS,…

Không được từ chối bào chữa cho NBTG, bị can, bị cáo mà mình đã đảm nhận nếu không có lý do chính đáng (điểm c khoản 3 Điều 58 BLTTHS năm 2003):

Đây là một qui định quan trọng xuất phát từ vai trò của NBC trong TTHS. Trường hợp NBC đã nhận bào chữa khi được NBTG, bị can, bị cáo mời hoặc được CQTHTT yêu cầu thì NBC không được từ chối bào chữa nếu không có lý do chính đáng. Bởi đó không chỉ vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc của pháp luật TTHS mà còn vi phạm nguyên tắc nghề nghiệp, đồng thời gây khó khăn cho quá trình tố tụng, ảnh hưởng xấu đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được bào chữa. NBC là chỗ dựa tin cậy về mặt pháp lý cho người được bào chữa, nếu NBC từ chối bào chữa sẽ gây tâm lý hoang mang cho người được bào chữa. Trong trường hợp NBTG, bị can, bị cáo mời NBC nếu NBC từ chối bào chữa không có lý do chính đáng sẽ là hành vi đơn phương hủy bỏ hợp đồng. Do đó, pháp luật qui định chỉ khi có lý do chính đáng NBC mới được từ chối việc bào chữa, chẳng hạn như các trường hợp qui định tại khoản 2 Điều 56 BLTTHS năm 2003: “Người đã THTT trong vụ án đó; người thân thích của người đã hoặc đang THTT trong vụ án đó; Người tham gia trong vụ án đó với tư cách là người làm chứng, người giám định hoặc người phiên dịch”[43, khoản 2 Điều 56].

Bên cạnh các nghĩa vụ của NBC nêu trên, BLTTHS năm 2003 còn có những qui định mới về nghĩa vụ của NBC so với BLTTHS năm 1988 như:

Tôn trọng sự thật và pháp luật; không được mua chuộc, cưỡng ép hoặc xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật (điểm d khoản 3 Điều 58 BLTTHS năm 2003):

Khi tham gia tố tụng, NBC cần thực hiện song hành hai nhiệm vụ: bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được bào chữa và bảo vệ công lý, bảo vệ pháp luật. Hai nhiệm vụ này có mối liên quan chặt chẽ với nhau, quyền và lợi ích hợp pháp của người được bào chữa muốn được đảm bảo thì NBC cần tôn trọng sự thật và tôn trọng pháp luật, ngược lại, muốn pháp luật được tôn trọng, bảo vệ thì NBC phải thực hiện tốt nhiệm vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người được bào chữa trên cơ sở các qui định pháp luật. Nếu NBC chỉ chú ý đến việc bảo vệ quyền và lợi ích cho người được bào chữa thì dễ dẫn tới sai lầm, rơi vào ngụy biện, bóp méo sự thật hoặc nếu chỉ chú ý đến bảo vệ pháp luật sẽ có thể trở thành người buộc tội thân chủ của mình.

Trong trường hợp NBTG, bị can, bị cáo cố tình không nhận tội thì NBC cũng không được đề nghị CQTHTT buộc tội đối tượng bào chữa, nếu làm ngược lại là vi phạm đạo đức nghề nghiệp và NBC cũng không được từ chối bào chữa nếu không có lý do chính đáng. Trong trường hợp này, NBC cần thuyết phục thân chủ khai đúng sự thật và phải tìm ra những căn cứ, lý lẽ nhằm giảm nhẹ TNHS cho họ. Hoặc có trường hợp đối tượng bào chữa không có tội nhưng lại nhận tội thay người khác hoặc do nhận thức hạn chế nên nghĩ mình đã phạm tội,… Trường hợp này, NBC không thể đồng nhất quan điểm với họ mà phải đưa ra chứng cứ để bác bỏ lời nhận tội nhằm chứng minh sự vô tội cho họ. Trong trường hợp họ có tội và đã nhận tội thì NBC có nghĩa vụ tìm ra những tình tiết giảm nhẹ TNHS cho họ vì mặc dù họ nhận tội và có chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của họ nhưng đó không phải là căn cứ để CQTHTT ra phán quyết đối với họ và đảm bảo rằng không có những sai sót trong quá trình giải quyết vụ án. Do đó, cần thiết phải có sự tham gia của NBC để giúp tìm ra những tình tiết gỡ tội, giảm nhẹ tội cho đối tượng bào chữa.

Để thực hiện tốt chức năng gỡ tội, NBC phải sử dụng mọi biện pháp tìm ra chứng cứ, lý lẽ bảo vệ cho thân chủ. Điều đó không đồng nghĩa với việc NBC có quyền làm sai lệch sự thật khách quan của vụ án nhằm đạt được mục đích của mình bằng mọi cách mà cần phải tôn trọng sự thật và tôn trọng pháp luật, tức là chỉ thực hiện chức năng bào chữa trên cơ sở những gì tồn tại khách quan theo qui định của pháp luật. Hành vi mua chuộc, cưỡng ép hoặc xúi giục người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật là những hành vi trái pháp luật, vi phạm đạo đức xã hội, đạo đức nghề nghiệp. Đối với người được bào chữa thường tin cậy vào sự giúp đỡ của NBC, coi NBC là chỗ dựa tin cậy, vững chắc về mặt pháp luật nên họ dễ chịu sự tác động từ NBC, dễ bị NBC xúi giục để họ khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật. Do đó, pháp luật TTHS qui định nghĩa vụ này đối với NBC nhằm tránh tình trạng NBC không tôn trọng sự thật khách quan của vụ án, vi phạm pháp luật, có hành vi mua chuộc, cưỡng ép hoặc xúi giục người được bào chữa khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật.

Có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án (điểm đ khoản 3 Điều 58 BLTTHS năm 2003): Luận văn: Thực trạng Chế định người bào chữa trong Luật tố tụng.

Quy định này nhằm ràng buộc sự tham gia của NBC trong các hoạt động tố tụng tại TA để họ thực hiện nhiệm vụ bào chữa, đảm bảo sự theo dõi, giám sát của NBC trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Mọi sự chuẩn bị của NBC ở các giai đoạn trước đó đều nhằm bào chữa cho bị cáo trước phiên tòa. Nếu NBC vắng mặt thì ý nghĩa của việc bào chữa không còn. Quy định này cũng được thể hiện tại Điều 190 BLTTHS năm 2003: “NBC có nghĩa vụ tham gia phiên tòa…Nếu NBC vắng mặt thì TA vẫn mở phiên tòa xét xử. Trong trường hợp bắt buộc phải có NBC theo qui định tại khoản 2 Điều 57 BLTTHS mà NBC vắng mặt thì HĐXX phải hoãn phiên tòa”[43, Điều 190]. Tại phiên tòa, nếu NBC không tham gia mà chỉ gửi bản luận cứ bào chữa thì hiệu quả bào chữa không cao, có thể gây thiệt thòi cho người được bào chữa, bởi thông qua việc xét hỏi, tranh luận công khai có thể xuất hiện thêm những tình tiết mới, nảy sinh nhiều tình huống có lợi cho bị cáo mà họ nhận bào chữa, nếu NBC không có mặt thì không thể trợ giúp cho bị cáo được kịp thời. Mặt khác, sự tham gia của NBC tại phiên tòa cũng phù hợp với tinh thần cải cách tư pháp và những qui định khác của BLTTHS “khi nghị án chỉ được căn cứ vào những chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa”[43, khoản 3 Điều 222].

Không được tiết lộ bí mật điều tra mà mình biết được khi thực hiện việc bào chữa; không được sử dụng tài liệu đã ghi chép, sao chụp trong hồ sơ vụ án vào mục đích xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân (điểm e khoản 3 Điều 58 BLTTHS năm 2003):

Tại Điều 124 BLTTHS năm 2003 cũng qui định: Trong trường hợp cần giữ bí mật điều tra, Điều tra viên, Kiểm sát viên phải báo trước cho người tham gia tố tụng, người chứng kiến không được tiết lộ bí mật điều tra. Việc báo này phải được ghi vào biên bản. Điều tra viên, Kiểm sát viên, người tham gia tố tụng, người chứng kiến tiết lộ bí mật điều tra thì tùy từng trường hợp phải chịu TNHS về các tội qui định tại Điều 263 (Tội cố ý làm lộ bí mật nhà nước), Điều 264 (Tội vô ý làm lộ bí mật nhà nước, tội làm mất tài liệu bí mật nhà nước), Điều 286 (Tội cố ý làm lộ bí mật công tác), Điều 287 (Tội vô ý làm lộ bí mật công tác; tội làm mất tài liệu bí mật công tác, Điều 327 (Tội cố ý làm lộ bí mật công tác quân sự) và Điều 328 (Tội vô ý làm lộ bí mật công tác quân sự; tội làm mất tài liệu bí mật công tác quân sự) của Bộ luật hình sự năm 1999.

Khi thực hiện nhiệm vụ bào chữa, NBC không được tiết lộ bí mật điều tra cho bất kỳ ai hoặc kể cả đối với thân chủ của mình. Chẳng hạn, đối với những tin báo, tố giác về tội phạm nếu tiết lộ thì việc điều tra tội phạm gặp nhiều khó khăn, người phạm tội bỏ trốn, sự an toàn của người cung cấp tin báo, tố giác về tội phạm không được đảm bảo; đối với những quyết định tố tụng như: kê biên tài sản, khám xét, thu giữ vật chứng,… nếu bị tiết lộ trước thời điểm thực hiện quyết định tố tụng, có thể dẫn đến việc tẩu tán tài sản, xóa dấu vết, tiêu hủy vật chứng,…

Mục đích ghi chép, sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án của NBC là nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho người được bào chữa nhưng không vì thế mà NBC sử dụng những tài liệu đã ghi chép, sao chụp được vào mục đích xâm phạm lợi ích của nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cá nhân.

2.2. THỰC TIỄN ÁP DỤNG CHẾ ĐỊNH NGƯỜI BÀO CHỮA TẠI TỈNH HẢI DƯƠNG Luận văn: Thực trạng Chế định người bào chữa trong Luật tố tụng.

2.2.1. Những kết quả đạt được và nguyên nhân

  • Những kết quả đạt được

Hải Dương là một tỉnh nằm ở đồng bằng sông Hồng, thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ với số dân tính đến năm 2011 là 1.718.895 người, trong đó: nông thôn: 78,1%; thành thị: 21,9%. Tỷ lệ hộ nghèo năm 2012 là 7,26%, người có công với cách mạng và các đối tượng chính sách khác thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý tương đối cao.

Với số liệu trên, có thể thấy tỷ lệ chênh lệch dân số giữa nông thôn và thành thị khá lớn, số lượng đối tượng thuộc diện được hưởng trợ giúp pháp lý miễn phí trên địa bàn tỉnh cũng chiếm tỷ lệ khá cao. Đối với những đối tượng này khi “vướng vào vòng tố tụng” do nhận thức pháp luật còn hạn chế hoặc không đủ tiền thuê LS nên không thể tự bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của mình, đòi hỏi người có kiến thức và kinh nghiệm pháp lý bảo vệ miễn phí cho họ. Đó là Trợ giúp viên pháp lý và LS – Cộng tác viên của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước.

Hải Dương, trước khi Pháp lệnh LS 1987 được ban hành, chủ thể bào chữa chủ yếu là BCVND. Năm 1985, UBND tỉnh Hải Hưng (nay là tỉnh Hải Dương) quyết định thành lập Đoàn BCVND. Sau khi Pháp lệnh LS năm 1987 ra đời, ngày 04/10/1989, UBND tỉnh Hải Hưng ban hành Quyết định số 242/QĐ-UB về việc thành lập Đoàn LS tỉnh Hải Hưng. Vì vậy, Đoàn BCVND giải thể và chấm dứt hoạt động thay vào đó là Đoàn LS nên chủ thể bào chữa chủ yếu từ đó đến nay là LS. Vào thời điểm thành lập chỉ có 02 LS chính thức và 05 LS tập sự. Sau khi tỉnh Hải Hưng chia tách thành 02 tỉnh Hải Dương và Hưng Yên, ngày 17/4/1997 UBND tỉnh Hải Dương ban hành Quyết định số 551/QĐ-UB về việc thành lập Đoàn LS tỉnh Hải Dương, tại thời điểm thành lập có 15 LS chính thức và 05 LS tập sự[23]. Từ khi thành lập đến nay, Đoàn LS tỉnh Hải Dương hoạt động qua 6 nhiệm kỳ, mỗi nhiệm kỳ đều tăng cả về số lượng và chất lượng. Số lượng LS thể hiện qua bảng tổng hợp dưới đây:

Bảng 2.1: Số lượng LS của tỉnh Hải Dương từ tháng 10/1989 đến tháng 12/2013

Kể từ khi BLTTHS năm 2003 có hiệu lực, đặc biệt sau khi Luật LS năm 2006 được ban hành, số lượng LS ở Hải Dương tăng lên đáng kể, chất lượng cũng từng bước được nâng cao. Theo báo cáo của Đoàn LS tỉnh Hải Dương trong tổng số 40 LS thì 100% có trình độ Cử nhân, trong khi cả nước là 98%; 05 người có trình độ Thạc sỹ (chiếm 12.5% so với cả nước, tỷ lệ LS có trình độ trên đại học của cả nước là 5%); 14 LS đã từng công tác tại các CQTHTT (chiếm 35% cao hơn so với cả nước, tỷ lệ của cả nước là 25,8%). Nhìn chung, chất lượng của LS đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi công việc, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho NBTG, bị can, bị cáo. Luận văn: Thực trạng Chế định người bào chữa trong Luật tố tụng.

Sau khi Luật trợ giúp pháp lý năm 2006 được ban hành, ngoài LS còn có Trợ giúp viên pháp lý, số lượng và chất lượng cũng ngày một tăng. Kể từ năm 2007, khi Luật trợ giúp pháp lý năm 2006 có hiệu lực pháp luật, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Hải Dương chỉ có 02 Trợ giúp viên pháp lý, đến nay có 08 Trợ giúp viên pháp lý. So với 63 tỉnh, thành phố trên cả nước thì số lượng Trợ giúp viên pháp lý ở Hải Dương cũng chiếm tỷ lệ tương đối cao. Theo báo cáo tại Hội nghị trực tuyến ngày 17/01/2014 của Bộ Tư pháp về việc sơ kết 2 năm triển khai thực hiện Chiến lược phát triển trợ giúp pháp lý ở Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 thì tổng số Trợ giúp viên pháp lý cả nước là 483 người, tính trung bình số Trợ giúp viên pháp lý tại Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước ở mỗi tỉnh là 7-8 người. Trong đó, 17 tỉnh/thành phố có từ 10 Trợ giúp viên pháp lý trở lên (chiếm 27%); 27 tỉnh/thành phố (trong đó có tỉnh Hải Dương) có từ 5- 9 Trợ giúp viên pháp lý (chiếm 43%) và 19 tỉnh/thành phố có dưới 05 Trợ giúp viên pháp lý (chiếm 30%). Ở Hải Dương, 100% Trợ giúp viên pháp lý có trình độ Cử nhân Luật, 01 Trợ giúp viên pháp lý có trình độ Thạc sỹ, 03 Trợ giúp viên pháp lý đang theo học Thạc sỹ. Các Trợ giúp viên pháp lý đều được đào tạo bài bản, có năng lực, trình độ, kiến thức pháp lý, được đào tạo qua lớp nghiệp vụ LS và lớp bồi dưỡng nghiệp vụ trợ giúp pháp lý, tâm huyết và trách nhiệm với nghề.

Hoạt động bào chữa của NBC trong TTHS nói chung và trong các phiên tòa xét xử nói riêng ở tỉnh Hải Dương thời gian qua đã có những bước chuyển biến tích cực cả về số lượng và chất lượng. Đặc biệt, kể từ khi BLTTHS năm 2003 có hiệu lực pháp luật. NBC cũng tham gia nhiều hơn trong các phiên tòa xét xử, số lượng vụ án có NBC tham gia ngày càng tăng, khiến giảm bớt các vụ án bị kháng cáo hoặc kháng nghị. Số liệu vụ án có LS tham gia thể hiện qua bảng tổng hợp dưới đây:

Bảng 2.2: Số VAHS có LS tham gia bào chữa từ năm 2008-2013

Đối với sự tham gia bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý, qua số liệu thống kê của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Hải Dương có thể thấy, số lượng vụ án có Trợ giúp viên pháp lý tham gia bào chữa cũng chiếm tỷ lệ đáng kể so với cả nước. Tổng số vụ án do Trợ giúp viên pháp lý tham gia trong 4 năm từ 2008 – 2011 là 77 vụ trong khi đó cả nước là 3.846 vụ (chiếm gần 50% so với cả nước). Tuy nhiên, tỷ lệ vụ án có Trợ giúp viên pháp lý tham gia còn chiếm tỷ lệ thấp so với số lượng án phải giải quyết của CQTHTT.

Những vụ án BLTTHS qui định bắt buộc phải có NBC tham gia được tiến hành theo đúng qui định pháp luật. Đó là các vụ án đặc biệt nghiêm trọng có khung hình phạt cao nhất là chung thân hoặc tử hình; các vụ án mà bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần, người nghèo, người có công với cách mạng và các đối tượng chính sách khác theo qui định của pháp luật trợ giúp pháp lý. Những vụ án này đều được CQTHTT yêu cầu cử NBC tham gia ngay từ khi khởi tố bị can. Do đó, đã góp phần bảo đảm tốt hơn quyền bào chữa của NBTG, bị can, bị cáo, đặc biệt đối với NBTG, bị can, bị cáo thuộc diện là người được trợ giúp pháp lý miễn phí. Mặt khác, còn phối hợp, hỗ trợ CQTHTT xác minh, cung cấp thông tin và chứng cứ giúp tìm ra sự thật khách quan, đảm bảo xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đồng thời, góp phần giữ gìn an ninh trật tự xã hội, thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội ở địa phương. Mối quan hệ giữa NBC với các cơ quan, người THTT được thiết lập ngày càng chặt chẽ. Đối với các vụ án bắt buộc phải có NBC tham gia hoặc những vụ án có bị can, bị cáo thuộc diện được trợ giúp pháp lý, CQTHTT đã chủ động có văn bản thông báo cho Đoàn LS hoặc Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước để cử NBC cho họ mà không bắt buộc họ hoặc người giám hộ phải có đơn đề nghị nhờ NBC. Phần lớn các cơ quan, người THTT tạo điều kiện thuận lợi cho NBC thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình như: cấp Giấy chứng nhận NBC kịp thời, đúng hạn định, kịp thời thông báo lịch hỏi cung bị can, lịch xét xử, tạo điều kiện cho NBC tham gia nghiên cứu hồ sơ, tham gia hỏi cung, lấy lời khai, gặp, tiếp xúc với bị can, bị cáo bị tạm giam, xác nhận thời gian làm việc cho NBC, tích cực giới thiệu, hướng dẫn diện người được trợ giúp pháp lý đến với Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước, cung cấp các quyết định tố tụng cho NBC,…đóng góp nhiều ý kiến thiết thực để từng bước hoàn thiện, nâng cao hiệu quả bào chữa trong quá trình tham gia tố tụng ở các giai đoạn tố tụng. Luận văn: Thực trạng Chế định người bào chữa trong Luật tố tụng.

Sự tham gia của NBC từng bước thể hiện vị trí, vai trò trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho NBTG, bị can, bị cáo, nâng cao hiệu quả hoạt động bào chữa. Không ít vụ án, trên cơ sở ý kiến của NBC trước hoặc trong phiên tòa xét xử, HĐXX đã áp dụng hình phạt khác nhẹ hơn so với đề nghị của Kiểm sát viên. Điển hình như vụ án: “Trộm cắp tài sản” do LS. Trần Đại Biểu – Chủ nhiệm Đoàn LS tỉnh Hải Dương bào chữa cho bị cáo Trần Văn Sơn trú tại xã Tiền Phong, huyện Thường Tín, Hà Nội thực hiện hành vi trộm cắp tài sản khi bị cáo mới 17 tuổi. Qua quá trình tìm hiểu, LS thấy rằng hoàn cảnh gia đình bị cáo rất éo le: bố, mẹ đều bị nhược điểm về thể chất, tâm thần (bố bị cáo bị nhược điểm về thể chất, không lao động được; mẹ bị cáo bị câm điếc, anh trai bị cáo bị thiểu năng trí tuệ không tự lực được trong sinh hoạt), bị cáo phải bỏ học sống cùng chú ruột ở Hải Dương từ năm 13 tuổi, tự kiếm sống và gửi chút tiền ít ỏi về gia đình để nuôi bố mẹ và anh trai. Do hoàn cảnh quá khó khăn nên bị cáo đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản nhà hàng xóm của chú ruột mình để có tiền gửi cho bố, mẹ. LS đã kiên trì tư vấn cho bị cáo kháng cáo. Tại phiên toà phúc thẩm, sau khi nghe LS trình bày về hoàn cảnh gia đình, nhân thân bị cáo, cả HĐXX, Kiểm sát viên giữ quyền công tố và những người có mặt tại phiên toà đều cảm động và còn có cả những giọt nước mắt cảm thông, chia sẻ với hoàn cảnh éo le của bị cáo. Với những lý lẽ, tình tiết mà LS đưa ra có tình, có lý, HĐXX đã tuyên phạt bị cáo 9 tháng tù nhưng cho hưởng án treo (Tòa án sơ thẩm tuyên bị cáo 9 tháng tù giam). Hoặc vụ án “Giết người” do bị cáo Nguyễn Đức Thọ trú tại xã Thanh Hải, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương thực hiện khi mới 15 tuổi. Bằng sự lập luận và đưa ra các tình tiết giảm nhẹ, hoàn cảnh, động cơ, mục đích phạm tội của LS, Toà phúc thẩm đã tuyên phạt bị cáo 8 năm tù (Toà án cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo 10 năm tù),…

Có trường hợp với sự tham gia của NBC, HĐXX đã tuyên với mức án chuyển khung hình phạt nhẹ hơn đối với bị cáo. Điển hình như vụ án “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản” do LS. Phạm Khắc Du- Đoàn LS tỉnh Hải Dương tham gia bào chữa cho bị cáo Nguyễn Thị Thúy, sinh năm 1976, trú tại Khu 2 phường Hải Tân, Thành phố Hải Dương. Bị cáo Thúy cho vợ chồng Nguyễn Văn Hải và Nguyễn Thị Điệp vay 232 triệu đồng. Bị cáo đòi vợ chồng Hải – Điệp nhiều lần nhưng không trả nên bị cáo đã nhờ một số người đứng ra đòi hộ. Những người này đã gọi Hải đến rồi bắt giữ 3 ngày buộc Hải điện về bảo vợ là Điệp mang 40 triệu đồng đến trả bị cáo. Hải được trả tự do. Bị cáo biết việc bắt giữ Hải và không nói gì. Bị cáo bị VKS nhân dân tỉnh Hải Dương truy tố về tội “Bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản” theo khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ 10 đến 18 năm tù. Bản án sơ thẩm số 22/STHS ngày 28/6/2012 của TA nhân dân tỉnh Hải Dương đã tuyên phạt bị cáo 10 năm tù giam. Bị cáo kháng cáo. Tòa phúc thẩm TA nhân dân tối cao mở phiên tòa xét xử phúc thẩm. Tại phiên tòa phúc thẩm, LS đã đưa ra những lập luận như: Theo qui định tại khoản 2, 3, 4 Điều 134 Bộ luật hình sự thì bị cáo chỉ phải chịu TNHS và hình phạt khi đã chiếm đoạt được tài sản có giá trị tương ứng: Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 50 triệu đồng đến dưới 200 triệu đồng thì bị phạt tù từ 5 năm đến 12 năm (điểm h khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự); Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng thì bị phạt tù từ 10 năm đến 18 năm (điểm b khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự); Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 500 triệu đồng trở lên thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân (điểm b khoản 4 Điều 134 Bộ luật hình sự). Mặc dù, bị cáo nhờ đồng bọn đòi số tiền 232 triệu đồng nhưng thực tế bị cáo chỉ lấy được 40 triệu đồng. Do đó, bị cáo chỉ chịu TNHS và hình phạt theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự với hình phạt tù từ 2 năm đến 7 năm. Tuy nhiên, bị cáo lại bị VKS truy tố theo khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự và TA cấp sơ thẩm cũng áp dụng Khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự để tuyên phạt bị cáo là không đúng qui định tại khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, LS còn phân tích động cơ, mục đích phạm tội,… của bị cáo để đề nghị HĐXX tuyên chuyển khung hình phạt từ khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự sang khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự đối với bị cáo. Kết quả: Bản án phúc thẩm số 892/PTHS ngày 20/9/2012 của Tòa phúc thẩm TA nhân dân tối cao đã áp dụng khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự tuyên phạt bị cáo 6 năm tù giam (giảm 4 năm tù giam so với bản án sơ thẩm).

Và còn rất nhiều vụ việc khác, LS, Trợ giúp viên pháp lý đã bào chữa thành công, giúp NBTG, bị can, bị cáo trong đó đặc biệt phải kể đến các đối tượng là người chưa thành niên phạm tội bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời, làm sáng tỏ tình tiết khách quan của vụ án, giúp cho TA phán quyết đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Có NBC tham gia, quyền và lợi ích hợp pháp của NBTG, bị can, bị cáo được đảm bảo hơn. Đây là điều mà chính các CQTHTT và người THTT cũng phải thừa nhận[63]. Không ít phiên tòa, thông qua phần xét hỏi hoặc tranh luận của NBC làm sáng tỏ nhiều tình tiết theo hướng có lợi cho bị can, bị cáo, đặc biệt đối với những VAHS mà người phạm tội là người chưa thành niên nếu không có NBC thì có thể sẽ bị thiệt thòi, mất đi một số tình tiết giảm nhẹ, không được CQTHTT xem xét.

Nhiều ý kiến băn khoăn, vướng mắc của NBC qua quá trình thực tiễn nghiên cứu hồ sơ và qua hoạt động bào chữa đã góp phần quan trọng thúc đẩy việc sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật TTHS và các văn bản khác có liên quan. Điển hình là các quy định về quyền của bị can được nhờ NBC từ khi bị tạm giữ, khởi tố, tạm giam; qui định về giá trị của Giấy chứng nhận NBC trong suốt quá trình tố tụng, về chế độ bồi dưỡng khi tham gia bào chữa, về thông báo thời gian, địa điểm xét hỏi bị can, bị cáo hoặc NBTG cho người thực hiện trợ giúp pháp lý là NBC tham dự, thông báo lịch xét xử cho tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý và người thực hiện trợ giúp pháp lý “bằng văn bản”,… Luận văn: Thực trạng Chế định người bào chữa trong Luật tố tụng.

Có thể nói, sự tham gia của NBC (chủ yếu là LS, Trợ giúp viên pháp lý) trong TTHS thời gian qua trên địa bàn tỉnh Hải Dương đã thể hiện vai trò, hiệu quả của mình trong hoạt động tố tụng, vì kể từ khi BLTTHS năm 2003 và Luật trợ giúp pháp lý năm 2006 có hiệu lực đến nay, chưa nhận được bất kỳ phản hồi nào về chất lượng của NBC từ phía CQTHTT và NBTG, bị can, bị cáo.

Nguyên nhân của những kết quả đạt được

Thứ nhất, do thành tựu về mặt lập pháp: Với quan điểm đề cao vai trò của NBC trong việc bảo đảm dân chủ và pháp chế trong hoạt động TTHS nói chung và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho NBTG, bị can, bị cáo nói riêng đã được thể hiện trong đường lối, chiến lược phát triển, cải cách tư pháp của Đảng và được thể chế hóa trong các văn bản pháp luật như: Pháp lệnh LS năm 1987 và năm 2001; Luật LS năm 2006 và tiếp đến là BLTTHS năm 1988 và năm 2003; Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006. Hoạt động xây dựng pháp luật trong lĩnh vực TTHS ngày càng được chú trọng. Sự ra đời của BLTTHS năm 2003 với nhiều chế định quan trọng liên quan đến NBC, tiếp đến là sự ra đời của Luật LS năm 2006, Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 và các văn bản hướng dẫn là cơ sở pháp lý mở rộng chủ thể bào chữa với những nền tảng pháp lý vững chắc. NBC đã có cơ sở pháp lý để thực hiện các hoạt động nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đối tượng bào chữa.

Thứ hai, do tinh thần cải cách tư pháp đã tác động tích cực, mạnh mẽ đến cơ quan, người THTT trên địa bàn tỉnh nên vị trí, vai trò của NBC được đề cao, mối quan hệ giữa NBC với các cơ quan, người THTT được thiết lập chặt chẽ hơn, hoạt động tranh tụng tại Tòa được đẩy mạnh. Các cơ quan, người THTT thực hiện đúng qui định pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho NBC thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình.

Thứ ba, đội ngũ NBC đặc biệt là LS, Trợ giúp viên pháp lý trên địa bàn tỉnh ngày càng tăng cả về số lượng và chất lượng, phần lớn đều có kiến thức pháp lý và kinh nghiệm tố tụng, có phẩm chất, năng lực, trình độ, tâm huyết, có trách nhiệm với nghề, luôn nêu cao đạo đức nghề nghiệp,…

Thứ tư, do ý thức pháp luật của người dân trên địa bàn tỉnh ngày càng nâng cao, công tác phổ biến giáo dục pháp luật cho nhân dân được chú trọng. Người dân đã nhận thức được vị trí, vai trò của NBC trong TTHS. Họ tự tìm đến để mời NBC tham gia bào chữa trước các CQTHTT ngày càng nhiều hơn, họ coi đó là chỗ dựa vững chắc về mặt pháp luật để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho mình.

2.2.2. Những hạn chế và nguyên nhân Luận văn: Thực trạng Chế định người bào chữa trong Luật tố tụng.

Những hạn chế

Hải Dương, mặc dù thời gian qua số lượng NBC là LS ngày càng tăng nhưng tỷ lệ LS so với số dân còn thấp hơn nhiều so với cả nước và phát triển mất cân đối giữa khu vực thành thị và nông thôn, miền núi và đồng bằng. Hiện nay, mức trung bình ở tỉnh Hải Dương là 01 LS/45.000 người dân trong khi đó mức trung bình của cả nước là 01 LS/14.000 người dân[13]. Số lượng LS phát triển chậm, trung bình mỗi nhiệm kỳ chỉ kết nạp được từ 3 đến 4 LS. Trên địa bàn tỉnh Hải Dương, hiện có 19 tổ chức hành nghề LS nhưng chủ yếu tập trung ở khu vực thành phố Hải Dương, chỉ có 03 tổ chức hành nghề đặt trụ sở tại 03 huyện: Thanh Hà, Cẩm Giàng, Gia Lộc, mỗi tổ chức hành nghề chỉ có 01 LS, hoạt động của 03 tổ chức hành nghề LS đặt tại các huyện ngoài địa bàn thành phố còn mức độ, chủ yếu tham gia TTHS theo sự chỉ định của CQTHTT hoặc do Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước cử.

Kể từ khi BLTTHS năm 2003 có hiệu lực, theo thống kê và qua khảo sát tại Đoàn LS, Công an tỉnh và Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Hải Dương cho thấy NBC chủ yếu tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can, chưa có vụ án nào tham gia từ giai đoạn tạm giữ.

Trong những năm qua, số vụ án có NBC tham gia còn thấp so với số lượng án phải giải quyết của các CQTHTT. Theo báo cáo ngày 11/5/2012 của Đoàn LS tỉnh Hải Dương, trong 03 năm 2009-2011 và 6 tháng đầu năm 2012, LS tham gia 521 vụ, trong đó án mời là 121 vụ (chiếm 23,22%), án chỉ định là 400 vụ (chiếm 76,78%). Trong 3 năm đó, tổng số vụ án TA xét xử sơ thẩm là 2190 vụ, phúc thẩm là 390 vụ. Như vậy, tỷ lệ VAHS xét xử tại Tòa có sự tham gia của LS còn rất thấp, chiếm khoảng 20%, trong khi cả nước cũng chỉ chiếm trên 20%.

Bảng 2.3: Số vụ án ở các giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử từ năm 2008 đến năm 2013 và số vụ án LS tham gia bào chữa qua các giai đoạn TTHS

Qua bảng thống kê trên có thể thấy, tỷ lệ VAHS có LS tham gia bào chữa ở các giai đoạn tố tụng còn quá thấp so với án phải giải quyết. Sự thiếu vắng NBC trong nhiều VAHS đã không bảo đảm được yêu cầu tranh tụng và quyền bào chữa của NBTG, bị can, bị cáo, ảnh hưởng đến chất lượng giải quyết vụ án.

LS tham gia bào chữa cho bị can, bị cáo chủ yếu là do chỉ định, số vụ án do khách hàng mời còn hạn chế. Theo số liệu thống kê của Đoàn LS tỉnh Hải Dương trong 5 năm (2007-2011) thì tổng số vụ LS tham gia bào chữa là: 563 vụ, trong đó: số vụ do khách hàng mời là 121 vụ (chiếm 21,5%); số vụ theo chỉ định là 442 vụ (chiếm 78,5%). Theo báo cáo của Bộ Tư pháp, trong 5 năm (2007 – 2011), LS của 59 Đoàn LS các tỉnh, thành phố trong cả nước đã tham gia 64.173 VAHS, trong đó có 32.752 vụ án do khách hàng mời (chiếm 51%) và 31.421 vụ án theo yêu cầu của CQTHTT (chiếm 49%)[13]. Như vậy, so với cả nước, ở Hải Dương có sự chênh lệch khá lớn giữa tỷ lệ LS tham gia án chỉ định và án do khách hàng mời (Bảng 2.2).

Sau khi Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 được ban hành, ngoài LS còn có Trợ giúp viên pháp lý nhưng số lượng quá ít so với số lượng vụ việc ngày càng tăng. Bởi đây là một chế định hoàn toàn mới, nó chỉ được ra đời kể từ ngày Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 có hiệu lực pháp luật (ngày 01/01/2007). Đối với NBC là Trợ giúp viên pháp lý tham gia tố tụng để bào chữa cho NBTG, bị can, bị cáo thuộc diện được trợ giúp pháp lý miễn phí còn gặp khó khăn về thủ tục hành chính do có Thẩm phán áp dụng luật một cách máy móc, cố tình làm khó Trợ giúp viên pháp lý nên đã viện dẫn điểm a mục 3 phần II Thông tư liên tịch số 10[11] và quy định về đại diện trong Bộ luật Dân sự, yêu cầu Trợ giúp viên pháp lý phải xuất trình Giấy ủy quyền thì TA mới cấp giấy chứng nhận tham gia tố tụng với tư cách người đại diện hợp pháp của bị cáo. Còn số ít Thẩm phán chưa nhận thức đầy đủ sự khác nhau về hình thức thực hiện trợ giúp pháp lý của Trợ giúp viên pháp lý và Cộng tác viên trợ giúp pháp lý dẫn đến việc từ chối sự tham gia tố tụng của Trợ giúp viên pháp lý. Sau khi Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 có hiệu lực, tại điểm b khoản 3 Điều 21 qui định: “Trợ giúp viên pháp lý được tham gia tố tụng với tư cách người đại diện hợp pháp của NBTG, bị can, bị cáo để thực hiện việc bào chữa”. Tuy nhiên, BLTTHS năm 2003 chưa qui định chủ thể bào chữa là Trợ giúp viên pháp lý nên có cơ quan, người THTT từ chối không cấp Giấy chứng nhận bào chữa cho Trợ giúp viên pháp lý hoặc vẫn muốn Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước cử LS – Cộng tác viên tham gia bào chữa. Mặc dù Thông tư liên tịch số 10[11] qui định về trách nhiệm của CQTHTT trong việc cấp Giấy chứng nhận NBC cho Trợ giúp viên pháp lý nhưng thực tế khi tham gia bào chữa ở các giai đoạn TTHS, vị trí của Trợ giúp viên pháp lý có phần yếu thế hơn LS – Cộng tác viên đều do Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước cử. Điển hình như vụ án “Trộm cắp tài sản, Cướp tài sản, Cướp giật tài sản” xảy ra tại huyện Ninh Giang do bị cáo Hà Văn Thương sinh ngày 01/11/1995 trú tại thôn Ngọc Hòa, xã Vĩnh Hòa, huyện Ninh Giang thực hiện. TA nhân dân huyện Ninh Giang có Công văn số 156/CV-TA ngày 13/3/2013 yêu cầu Trung tâm Trợ giúp pháp lý cử NBC cho bị cáo là người chưa thành niên, trong Công văn TA ghi rõ “cử LS – Cộng tác viên của Trung tâm tham gia bào chữa”. Như vậy, đã gián tiếp từ chối sự tham gia bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm điện thoại hỏi thì Tòa nói rằng trong Công văn đã ghi rõ “cử LS – Cộng tác viên chứ không ghi cử Trợ giúp viên pháp lý”. Hỏi lý do thì được biết ngành TA đã thống nhất quan điểm như vậy trong một cuộc họp giao ban.

Đối với những vụ án có NBTG, bị can, bị cáo là người được trợ giúp pháp lý, CQTHTT chủ yếu giới thiệu, yêu cầu Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước cử NBC cho bị can, bị cáo là người chưa thành niên, chưa chú trọng giới thiệu diện người được trợ giúp pháp lý là người nghèo, người có công với cách mạng, người khuyết tật,…

Bảng 2.4: Số bị can, bị cáo thuộc diện người được trợ giúp pháp lý được bào chữa miễn phí qua các năm từ 2008 đến 2013 Luận văn: Thực trạng Chế định người bào chữa trong Luật tố tụng.

Thực tế ở Hải Dương, một vài năm trước vẫn có tình trạng chưa coi trọng quan điểm, ý kiến của NBC đặc biệt là trong trường hợp được chỉ định tham gia tố tụng, nhiều trường hợp Trợ giúp viên pháp lý hoặc LS – Cộng tác viên của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tham gia bào chữa cho người được trợ giúp pháp lý nhưng TA không ghi ý kiến, quan điểm của NBC trong bản án. Một số bản án, quyết định tố tụng ghi chưa đúng tư cách pháp lý của Trợ giúp viên pháp lý, LS – Cộng tác viên của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước khi tham gia tố tụng; chưa ghi việc giải thích quyền được trợ giúp pháp lý và quan điểm, luận cứ bào chữa của NBC. Hầu hết CQTHTT chỉ quan tâm đến những chứng cứ buộc tội, còn chứng cứ gỡ tội ít được xem xét. Nhiều NBC mất công thu thập chứng cứ để đưa ra Tòa nhưng không được chấp nhận và xem xét nghiêm túc. TA hầu như chỉ tin vào hồ sơ của CQĐT, nếu thấy không hoàn thiện thì yêu cầu trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Đây là khó khăn rất lớn đối với hoạt động bào chữa của NBC, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của NBTG, bị can, bị cáo.

Đối với NBC là người đại diện hợp pháp của NBTG, bị can, bị cáo tham gia bào chữa chiếm tỷ lệ ít, chỉ mang tính hình thức, đạt hiệu quả không cao, họ tham gia cho đủ thủ tục nhằm tránh sự vi phạm thủ tục tố tụng của CQTHTT đặc biệt là CQĐT. Còn có cơ quan, người THTT đặc biệt là Điều tra viên do không muốn sự có mặt của LS tham gia bào chữa nên đã định hướng cho bị can, bị cáo mời người nhà của mình thường là những người có trình độ văn hóa thấp, không có kiến thức pháp lý, thậm chí là không biết chữ tham gia làm NBC. Do vậy, có trường hợp khi được triệu tập tham gia hỏi cung bị can cùng Điều tra viên, họ chỉ ngồi bên ngoài chờ đến khi Điều tra viên lấy lời khai, hỏi cung xong gọi vào ký tên nhằm hợp thức hóa hồ sơ.

Trong khi hầu hết NBC tích cực sử dụng các biện pháp do luật định để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho NBTG, bị can, bị cáo thì vẫn còn số ít NBC thực hiện nhiệm vụ của mình một cách qua loa, đại khái nhất là đối với những vụ án chỉ định. Có NBC không đến nghiên cứu hồ sơ tại Tòa, không gặp, tiếp xúc với thân chủ nên trong bài bào chữa không thể hiện được hết quan điểm bào chữa, không phân tích các tình tiết, chứng cứ của vụ án mà chỉ căn cứ vào một số tình tiết giảm nhẹ được qui định trong Bộ luật hình sự để đánh giá và đề nghị chung chung. Do đó, ảnh hưởng đến chất lượng bào chữa, quyền và lợi ích hợp pháp của NBTG, bị can, bị cáo không được đảm bảo. Hoạt động tham gia tố tụng của số ít NBC đặc biệt là bào chữa theo chỉ định chưa bảo đảm thực hiện tốt nguyên tắc tranh tụng tại phiên toà, chưa được CQTHTT đánh giá và ghi nhận trong các bản án, quyết định. Ngoài ra, theo báo cáo của Văn phòng Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Hải Dương còn có số ít LS tham gia theo hợp đồng bào chữa với đối tượng bào chữa vẫn hạn chế trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho thân chủ. LS chủ yếu khai thác những kẽ hở, qui định chung chung chưa rõ ràng của pháp luật như: qui định về hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng trong cấu thành tội phạm của Bộ luật hình sự, những sai sót nhỏ của Điều tra viên,… lập luận chứng minh sự thật vụ án của LS chỉ mang tính suy luận chứ không nêu được những chứng cứ chứng minh mang tính khoa học, sự tham gia của LS chủ yếu nhằm tạo thu nhập, chứ không phải là chứng minh sự minh bạch, công bằng của pháp luật,…

BLTTHS năm 2003 qui định NBC được quyền sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án, nhưng thực tế CQTHTT chưa thực sự tạo điều kiện cho NBC thực hiện quyền này. Nhiều cơ quan đã nghĩ ra đủ cách để trì hoãn việc sao chụp tài liệu như: chờ xin ý kiến lãnh đạo, máy photocopy hỏng hoặc khi họ đồng ý cho sao chụp thì hồ sơ đã chuyển sang giai đoạn tố tụng khác,…

Nhiều vụ án quyền tham gia tranh luận tại phiên tòa vẫn bị hạn chế về thời gian. Trong quá trình xét hỏi hoặc tranh luận, có khi NBC bị chủ tọa phiên tòa cắt ngang vì “ý kiến không liên quan đến vụ án” [43, Điều 218].

Ngược lại, cũng không ít vụ án NBC tham gia xét hỏi một cách qua loa, đại khái, không theo diễn biến của vụ án nên không nhận được sự đồng tình của những người tham gia tố tụng. Do vậy, đã làm giảm đi vị trí, vai trò của NBC, tính dân chủ không được thể hiện, quyền và lợi ích hợp pháp của người được bào chữa bị ảnh hưởng.

Nguyên nhân của những hạn chế Luận văn: Thực trạng Chế định người bào chữa trong Luật tố tụng.

Thứ nhất, nguyên nhân khách quan xuất phát từ qui định pháp luật về chế định NBC còn chưa đồng bộ, thiếu chặt chẽ, chưa cụ thể, rõ ràng, nên thực tiễn áp dụng phát sinh nhiều bất cập, vướng mắc, gây khó khăn, lúng túng cho CQTHTT và NBC nên họ đã tùy nghi áp dụng. Chẳng hạn như: tại Khoản 1 Điều 56 BLTTHS năm 2003 qui định NBC có thể là: LS; người đại diện hợp pháp của NBTG, bị can, bị cáo; BCVND. Trong số những người này chỉ có LS được pháp luật qui định về điều kiện, tiêu chuẩn, hai đối tượng còn lại không qui định nên cơ quan, người THTT tùy nghi áp dụng. Quy định như vậy đã tạo nên sự bất bình đẳng giữa các chủ thể là NBC, đặc biệt dẫn tới quyền bào chữa của NBTG, bị can, bị cáo không được bảo đảm, trở thành hình thức, đi ngược lại với nguyên tắc “Bảo đảm quyền bào chữa của NBTG, bị can, bị cáo” đã được BLTTHS ghi nhận. Trong một môi trường pháp lý chưa thực sự coi trọng NBC và quyền bào chữa, chưa dành cho NBC một vị trí thích hợp và xứng đáng, họ chỉ là người tham gia tố tụng như những người tố tụng khác (NBTG, bị can, bị cáo,…) nên NBC khó có thể thực hiện được nhiệm vụ, trách nhiệm của mình một cách hiệu quả. Bởi thực tế, nhiều chứng cứ do NBC thu thập hợp pháp nhưng không được CQTHTT xem xét, chấp thuận hoặc có những yêu cầu của NBC rất xác đáng, đầy sức thuyết phục, có căn cứ, đúng pháp luật nhưng không được CQTHTT xem xét, thậm chí còn bác bỏ, không được đưa vào bản án, quyết định. Nhiều trường hợp CQTHTT cấp Giấy chứng nhận bào chữa còn gây khó khăn, phiền hà cho NBC, yêu cầu NBC xuất trình đủ loại giấy tờ ngoài những giấy tờ luật định. Do đó, làm hạn chế quyền của NBC, ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đối tượng bào chữa và việc xác định sự thật khách quan của vụ án.

Thứ hai, nguyên nhân chủ quan xuất phát từ phía cơ quan, người THTT có cái nhìn sai lệch, thiếu thiện chí về NBC, chưa thực sự coi trọng và tạo điều kiện thuận lợi cho NBC thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo qui định của pháp luật, gây khó khăn cho NBC trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đối tượng bào chữa vì cho rằng sự tham gia của NBC sẽ làm cản trở, gây khó khăn cho quá trình giải quyết vụ án, bởi NBC luôn bảo vệ, bênh vực cho người bị coi là tội phạm, lý lẽ, chứng cứ do NBC đưa ra để bảo vệ cho đối tượng mà họ nhận bào chữa dường như đối ngược lại với quan điểm của cơ quan, người THTT. Còn cơ quan, người THTT thì luôn tìm ra các chứng cứ buộc tội đối với đối tượng mà NBC nhận bảo vệ. Hoặc nhiều trường hợp do yếu kém về năng lực, trình độ của người THTT nên có tâm lý e ngại sự tham gia của NBC, sợ NBC phát hiện những sai phạm của họ trong khi giải quyết vụ án. Một số CQTHTT coi sự tham gia của NBC chỉ là hình thức, một thứ “trang điểm thêm đẹp để cho tố tụng có vẻ dân chủ, văn minh mà thôi”[28]. Còn có cơ quan, người THTT chưa hiểu về chức danh Trợ giúp viên pháp lý và chức năng, vai trò của họ trong quá trình tố tụng hoặc chưa nhiệt tình phối hợp, tạo điều kiện khi các Trợ giúp viên pháp lý thực hiện hoạt động bào chữa, bởi chế định Trợ giúp viên pháp lý là một chế định mới, được ra đời sau khi Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 có hiệu lực dẫn đến có CQTHTT từ chối sự tham gia bào chữa của các Trợ giúp viên pháp lý. Ngoài ra, còn phải kể đến năng lực hoạt động của Hội đồng phối hợp liên ngành về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng ở tỉnh. Với vai trò điều hành, kiểm tra, giám sát các mối quan hệ phối hợp giữa tổ chức thực hiện trợ giúp pháp lý, người thực hiện trợ giúp pháp lý với các CQTHTT và người THTT theo Thông tư liên tịch 10[11] (hiện nay là Thông tư liên tịch số 11[12]) của Hội đồng phối hợp liên ngành về trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng chưa thực sự phát huy hiệu quả.

Thứ ba, do trình độ nhận thức pháp luật của người dân còn hạn chế, đặc biệt nhận thức chưa đầy đủ về NBC vì cho rằng NBC không phải là người thực hiện quyền lực nhà nước nên không thể quyết định được số phận pháp lý của họ. Do đó, nhu cầu sử dụng dịch vụ pháp lý còn ở mức độ, nghề LS ở Hải Dương nói riêng, ở nước ta nói chung chưa thực sự có sức hấp dẫn, dẫn đến tỷ lệ LS còn thấp so với số dân. Bên cạnh đó, công tác tuyên truyền pháp luật về TTHS, pháp luật về LS, pháp luật về trợ giúp pháp lý,… chưa thực sự được chú trọng nên nhiều trường hợp NBTG, bị can, bị cáo đặc biệt là người thuộc diện được trợ giúp pháp lý miễn phí không biết để mời NBC bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho mình.

Thứ tư, số lượng NBC trên địa bàn tỉnh so với số dân còn thấp, kỹ năng hành nghề của NBC chưa cao do có một số NBC trước đây từng công tác tại các CQTHTT, khi nghỉ hưu tham gia LS, được miễn đào tạo nghiệp vụ LS, số ít NBC đặc biệt là LS có tâm lý “làm cho vui” nên không chuyên tâm trau dồi kỹ năng nghiệp vụ. Do vậy, ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng bào chữa. Trong những vụ án chỉ định, NBC chưa thực sự nhiệt tình, tận tâm với công việc, chỉ bào chữa qua loa, hình thức, thậm chí không đầu tư nhiều thời gian nghiên cứu hồ sơ, gặp gỡ đối tượng,…dẫn đến chất lượng bào chữa còn hạn chế. Bởi hiện nay pháp luật qui định về chế độ chi trả thù lao theo vụ việc cho NBC trong những vụ án được chỉ định còn thấp, chưa có sức thu hút, động viên kịp thời. Mặt khác, một khó khăn, thách thức không nhỏ đối với NBC đặc biệt là Trợ giúp viên pháp lý đó là tuy có năng lực, trình độ, được đào tạo cơ bản song kinh nghiệm hoạt động và thực tiễn hành nghề chưa nhiều vì đa số đều trẻ về tuổi đời cũng như tuổi nghề.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 Luận văn: Thực trạng Chế định người bào chữa trong Luật tố tụng.

Tại chương 2 tác giả nêu các qui định của pháp luật TTHS Việt Nam hiện hành về quyền và nghĩa vụ của NBC. Bằng việc qui định quyền và nghĩa vụ của NBC đã tạo nên địa vị pháp lý của NBC trong TTHS. Đây là cơ sở và điều kiện để NBC thực hiện có hiệu quả hoạt động bào chữa. Có thể nói, so với BLTTHS năm 1988 thì BLTTHS năm 2003 đã qui định mở rộng hơn quyền của NBC, bên cạnh đó còn bổ sung một số nghĩa vụ của NBC. Việc qui định quyền cùng với nghĩa vụ của NBC nhằm nâng cao vị trí, vai trò của NBC trong TTHS, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người được bào chữa, đồng thời đảm bảo cho quá trình giải quyết vụ án được hiệu quả, chính xác, dân chủ, công minh, đúng pháp luật. Mặt khác, từ sự nghiên cứu qui định pháp luật về chế định NBC, qua khảo sát, thống kê tại các CQTHTT, cơ quan quản lý NBC trên địa bàn tỉnh Hải Dương, tác giả đánh giá thực trạng áp dụng chế định NBC tại địa bàn (phân tích, đánh giá cụ thể kết quả đạt được, những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân của hạn chế) để làm cơ sở cho việc đề xuất, kiến nghị sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các qui định pháp luật TTHS về chế định NBC nêu tại chương 3. Luận văn: Thực trạng Chế định người bào chữa trong Luật tố tụng.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Giải pháp Chế định người bào chữa trong Luật tố tụng

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *