Luận văn: Giải pháp Chế định người bào chữa trong Luật tố tụng

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Giải pháp Chế định người bào chữa trong Luật tố tụng hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: một số Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng các qui định của pháp luật tố tụng hình sự về chế định người bào chữa dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

3.1. SỰ CẦN THIẾT PHẢI HOÀN THIỆN CÁC QUI ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2003 VỀ CHẾ ĐỊNH NGƯỜI BÀO CHỮA

Chế định NBC được qui định trong BLTTHS năm 2003 qua hơn 10 năm thi hành đã phát huy hiệu quả trên thực tế. NBC đã có cơ sở pháp lý để thực hiện các hoạt động nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho NBTG, bị can, bị cáo. Đồng thời, giúp cho quá trình giải quyết vụ án được khách quan, công bằng, hiệu quả, đúng pháp luật. Tuy nhiên, trong thực hiện còn bộc lộ những hạn chế, vướng mắc cần thiết phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với nội dung cải cách tư pháp được ghi nhận trong Nghị quyết số 08[21] và Nghị quyết số 49[22] của Bộ Chính trị đó là chủ trương đẩy mạnh tranh tụng và coi đây là giải pháp quan trọng, tạo những bước cải cách có tính đột phá trong hoạt động tư pháp hình sự. Tăng cường tranh tụng trong TTHS có ý nghĩa quan trọng với việc đẩy mạnh dân chủ, công bằng, công khai trong quá trình giải quyết vụ án, thiết lập các cơ chế bảo vệ ngày càng tốt hơn quyền con người, bảo đảm quyền dân chủ cho NBTG, bị can, bị cáo, tạo điều kiện mở rộng quyền bào chữa cho họ, bảo đảm quá trình giải quyết vụ án được khách quan, toàn diện, chính xác, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Đồng thời, tăng cường tranh tụng chính là một trong những giải pháp quan trọng, đặt ra yêu cầu đối với người THTT phải tự nâng cao năng lực, trình độ, trách nhiệm, bản lĩnh công tác để đáp ứng những đòi hỏi của quá trình TTHS. Để tiếp tục thực hiện, đẩy mạnh hơn yêu cầu tranh tụng theo tinh thần Nghị quyết 08[21] và Nghị quyết 49[22] của Bộ Chính trị, một trong những biện pháp quan trọng đó là hoàn thiện chế định NBC trong TTHS ở nước ta.

Bên cạnh đó, thời gian qua nhiều văn bản pháp luật mới được ban hành có các nội dung liên quan đến NBC như: Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006 qui định về chế định Trợ giúp viên pháp lý và quyền bào chữa của người được Trợ giúp pháp lý; Nghị quyết số 37/NQ-QH13 ngày 23/11/2012 của Quốc hội tiếp tục khẳng định “TA nhân dân tối cao chỉ đạo TA tiếp tục đẩy mạnh việc tranh tụng tại phiên tòa”; Hiến pháp năm 2013 có một số nội dung qui định liên quan đến quyền bào chữa: “Người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ LS hoặc người khác bào chữa”[49, khoản 4 Điều 31]; “Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm; Quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự được bảo đảm” [49, khoản 5, khoản 7 Điều 103]. Do đó, cần phải tiếp tục sửa đổi, bổ sung các quy định BLTTHS năm 2003 cho phù hợp với Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ giữa các văn bản pháp luật, giải quyết một số vấn đề bất cập do thực tiễn đặt ra. Luận văn: Giải pháp Chế định người bào chữa trong Luật tố tụng.

Mặt khác, do BLTTHS năm 2003 qui định chưa đầy đủ, chặt chẽ, thiếu tính thống nhất nên còn gặp khó khăn, lúng túng, bất cập, vướng mắc trong quá trình áp dụng. Điều đó tạo nên những “rào cản” cho NBC trong thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trên thực tế. Ví dụ: các qui định về chế định NBC còn nằm rải rác ở các chương, điều khác nhau; chưa có khái niệm thống nhất về NBC, phạm vi đối tượng bào chữa còn hẹp, chưa mở rộng đối tượng bào chữa đối với người bị bắt như qui định tại Hiến pháp năm 2013; chưa qui định về tiêu chuẩn, điều kiện của BCVND, người đại diện hợp pháp của NBTG, bị can, bị cáo; việc xem xét chứng nhận tư cách NBC đối với BCVND, người đại diện hợp pháp của NBTG, bị can, bị cáo còn nhiều vướng mắc do pháp luật qui định chưa cụ thể, rõ ràng dẫn đến các CQTHTT gặp rất nhiều khó khăn trong việc đảm bảo thực hiện quyền và nghĩa vụ của họ giống và khác LS bào chữa ở mức độ nào. Đồng thời, những chủ thể bào chữa này khi tham gia tố tụng cũng gặp phải không ít khó khăn, phiền hà từ qui định của luật. Nhiều chế định quan trọng chưa được đưa vào trong BLTTHS năm 2003 như chế định Trợ giúp viên pháp lý, nên còn bất cập, chưa phù hợp với thông lệ quốc tế về người thực hiện trợ giúp pháp lý với chức danh LS, dẫn tới nhiều khó khăn trong hành nghề của Trợ giúp viên pháp lý. Thực tế nhiều trường hợp NBTG, bị can, bị cáo chưa hiểu rõ về Trợ giúp viên pháp lý nên thường từ chối nhờ Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước cử NBC cho họ; vị trí, vai trò của NBC chưa thực sự được coi trọng bởi sự nhận thức chưa đầy đủ của cơ quan, người THTT và bởi chính qui định của Bộ luật (NBC chỉ là người tham gia tố tụng); quyền và nghĩa vụ của NBC được qui định cụ thể, rõ ràng, nhưng chưa thực sự tạo cơ hội bình đẳng cho NBC trong tham gia TTHS nên không phát huy được vai trò trong thực tiễn; hoạt động tranh tụng tại Tòa chưa được mở rộng, còn mang đậm dấu ấn của mô hình tố tụng thẩm vấn với đặc trưng cơ bản là xây dựng, sử dụng hồ sơ vụ án với các chứng cứ viết để xét xử; phương pháp tìm kiếm chứng cứ để buộc tội người bị nghi thực hiện tội phạm chủ yếu bằng việc bắt, tạm giữ, tạm giam để thiết lập hồ sơ vụ án chứ không phải tìm đầy đủ chứng cứ buộc tội rồi mới bắt, tạm giữ, tạm giam; CQTHTT có quyền hạn rất lớn trong việc điều tra, truy tố, xét xử bằng việc có toàn quyền quyết định khởi tố, truy tố, xét xử người phạm tội ra trước TA; mọi hành vi của những người tham gia tố tụng trong đó có NBC đều phải chịu sự cho phép của các CQTHTT; trong BLTTHS năm 2003 còn thiếu vắng các quy phạm điều chỉnh sự tranh tụng giữa bên buộc tội và bên bào chữa, tranh tụng tại phiên tòa bị hạn chế, một số Thẩm phán còn hạn chế thời gian trình bày lời bào chữa của bị cáo hoặc NBC; Chủ tọa phiên tòa không yêu cầu Kiểm sát viên đáp lại những ý kiến có liên quan đến vụ án của NBC và những người tham gia tố tụng khác, chỉ chú ý đến chứng cứ buộc tội do VKS đưa ra; việc xét hỏi tranh luận tại phiên tòa chưa đáp ứng yêu cầu tranh tụng, HĐXX còn đặt ra những câu hỏi mang tính áp đặt buộc bị cáo khai đúng với lời khai ở các giai đoạn trước; HĐXX nhiều khi làm thay chức năng của VKS như: được quyền quyết định khởi tố nếu qua việc xét xử tại phiên tòa mà phát hiện được tội phạm hoặc người phạm tội mới cần phải điều tra, do đó với tính chất là “trọng tài” điều khiển sự tranh luận giữa Kiểm sát viên thực hành quyền công tố với NBC đã mất đi tính khách quan, phiên toà theo tinh thần cải cách tư pháp không còn ý nghĩa…

Về những hạn chế, bất cập của một số qui định trong BLTTHS năm 2003 liên quan đến chế định NBC đã được tác giả đề cập ở một số nội dung chương 1 và chương 2 của Luận văn và được minh chứng bằng kinh nghiệm hoạt động thực tiễn trong quá trình công tác và qua nghiên cứu, khảo sát thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Hải Dương.

Trên cơ sở nghiên cứu các qui định pháp luật hiện hành về chế định NBC và thực tiễn áp dụng tại tỉnh Hải Dương, tác giả cho rằng việc tiếp tục hoàn thiện các quy định của BLTTHS năm 2003 trong đó có những vấn đề liên quan đến chế định NBC là công việc có tính cấp bách nhằm đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp đang diễn ra ở nước ta.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Nhận Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Luật

3.2. HOÀN THIỆN CÁC QUI ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CHẾ ĐỊNH NGƯỜI BÀO CHỮA Luận văn: Giải pháp Chế định người bào chữa trong Luật tố tụng.

3.2.1. Hoàn thiện các qui định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 về chế định người bào chữa

Dựa trên sự cần thiết phải hoàn thiện các qui định của BLTTHS năm 2003 được nêu ở mục 3.1, những khó khăn, bất cập đã được phân tích tại Chương 1, Chương 2 của Luận văn và qua thực tiễn áp dụng chế định NBC trên địa bàn tỉnh Hải Dương, tác giả đưa ra một số ý kiến hoàn thiện các qui định của BLTTHS năm 2003 liên quan đến chế định NBC như sau:

BLTTHS nên xây dựng một chương riêng qui định về bào chữa, bởi BLTTHS hiện hành chỉ có một số quy định liên quan đến chế định NBC đặt trong nhiều điều, nhiều chương khác nhau, vừa không đầy đủ, vừa khó áp dụng. Ví dụ: qui định về quyền bình đẳng của NBC với Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác trước TA tại Điều 19 Chương I; các qui định về chủ thể bào chữa, quyền và nghĩa vụ của NBC được đặt tại các Điều 56, 57, 58 Chương IV; qui định về sự có mặt của NBC tại Điều 190 Chương XVIII; qui định về quyền kháng cáo của NBC tại Điều 231 Chương XXIII,…Việc tách các quy định hiện hành thành một chương riêng sẽ tạo điều kiện quy định đầy đủ các nội dung liên quan đến bào chữa, thể hiện tư tưởng bảo đảm tốt hơn quyền con người trong TTHS. Mặt khác, cũng đảm bảo tính khoa học và hợp lý.

Về chủ thể bào chữa theo qui định tại khoản 1 Điều 56: Nên bỏ chủ thể bào chữa là “bào chữa viên nhân dân” được qui định tại điểm c khoản 1 Điều 56, thay vào đó là “Trợ giúp viên pháp lý”, theo đó bỏ khoản 3 Điều 57, bởi trước đây có qui định về Bào chữa viên nhân dân vì chưa có hệ thống LS và Trợ giúp viên pháp lý, đến nay, ở tất cả các tỉnh, thành phố trên cả nước đều có Đoàn LS, Văn phòng LS, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước và họ phải tuân theo Luật LS, Luật Trợ giúp pháp lý khi hành nghề, trong khi chưa có qui định về tiêu chuẩn, điều kiện về Bào chữa viên nhân dân. Do đó, qui định BCVND dường như trở thành qui định “chết”, hoạt động của nó hầu như đã bị quên lãng, nó chỉ tồn tại trên “phương diện pháp lý”. Mặt khác, trong tiến trình cải cách tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền, chế định Trợ giúp viên pháp lý là một chế định quan trọng không thể thiếu. Một trong các tiêu chí của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là quyền bình đẳng trong tiếp cận công lý, bất kể là người giàu hay nghèo đều được bình đẳng về pháp luật, được mời NBC miễn phí nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Luận văn: Giải pháp Chế định người bào chữa trong Luật tố tụng.

Và mặc dù chế định Trợ giúp viên pháp lý là chế định hoàn toàn mới, chưa được đề cập trong các Nghị quyết cũng như một số văn bản luật vì nó được ra đời sau, nhưng hiện nay theo Luật Trợ giúp pháp lý thì Trợ giúp viên pháp lý hoạt động với chức năng, nhiệm vụ giống như LS, chỉ khác phạm vi hoạt động hẹp hơn vì đối tượng bào chữa chỉ bao gồm người nghèo, người có công với cách mạng và một số đối tượng chính sách khác theo qui định của pháp luật về trợ giúp pháp lý. Hơn nữa, theo điểm b khoản 2 Mục II Chiến lược phát triển trợ giúp pháp lý ở Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030 ban hành kèm theo Quyết định 678/QĐ-TTg ngày 10/5/2011 của Thủ tướng Chính phủ thì thời gian tới, chức danh Trợ giúp viên pháp lý được thay là LS nhà nước, hoạt động giống như LS. Tuy nhiên, thực tế hiện nay với qui định Trợ giúp viên pháp lý được tham gia TTHS với tư cách là người đại diện hợp pháp của NBTG, bị can, bị cáo để thực hiện việc bào chữa, có quyền và nghĩa vụ như của NBC đã bị luật “ngáng chân” để Trợ giúp viên pháp lý thực hiện quyền của mình, vô hình chung làm hạn chế quyền bào chữa của NBTG, bị can, bị cáo đặc biệt là những đối tượng được trợ giúp pháp lý mà Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Thời gian qua, khi Trợ giúp viên pháp lý tham gia TTHS để bào chữa cho NBTG, bị can, bị cáo thuộc diện được trợ giúp pháp lý miễn phí còn gặp phải những phiền hà từ phía các CQTHTT bởi thiếu hành lang pháp lý cho Trợ giúp viên pháp lý. Nhiều CQTHTT không hiểu hoặc cố tình không hiểu đã từ chối sự tham gia bào chữa của Trợ giúp viên pháp lý với lý do “BLTTHS chưa qui định” hoặc “Luật Trợ giúp pháp lý qui định Trợ giúp viên pháp lý tham gia TTHS với tư cách là người đại diện cho NBTG, bị can, bị cáo” nên khi đề nghị cấp Giấy chứng nhận NBC, CQTHTT viện dẫn qui định tại Bộ luật dân sự về người đại diện và yêu cầu Trợ giúp viên pháp lý ngoài việc xuất trình những giấy tờ qui định trong luật, còn yêu cầu xuất trình thêm “Giấy ủy quyền” của NBTG, bị can, bị cáo cho Trợ giúp viên pháp lý. Do vậy, vị trí tham gia TTHS của Trợ giúp viên pháp lý có phần “yếu thế” hơn LS. Do đó, cần sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật về TTHS theo hướng khẳng định địa vị pháp lý của Trợ giúp viên pháp lý khi tham gia tố tụng nhằm đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ giữa các văn bản quy phạm pháp luật khác. Có như vậy, địa vị pháp lý của Trợ giúp viên pháp lý mới ngang tầm khi tham gia tranh tụng tại TA.

Bên cạnh đó, cần qui định cụ thể người đại diện hợp pháp của NBTG, bị can, bị cáo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 56 là những đối tượng nào, tiêu chuẩn, điều kiện trở thành NBC nhằm tạo điều kiện cho qui định đó được thi hành trong thực tiễn TTHS. Bởi trong thực tiễn TTHS nếu NBTG, bị can, bị cáo là người đã thành niên, không có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần mà người thân thích của họ tuy không phải là LS, BCVND, Trợ giúp viên pháp lý nhưng họ có yêu cầu được tham gia tố tụng để bào chữa cho NBTG, bị can, bị cáo vì họ là người có kiến thức pháp lý và kinh nghiệm tố tụng vì trước đây họ từng là Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán,…nay đã nghỉ hưu. Vậy họ có được bào chữa cho người thân thích của mình là NBTG, bị can, bị cáo hay không? Vấn đề này còn nhiều ý kiến khác nhau, theo chúng tôi thì họ vẫn được quyền tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hợp pháp của NBTG, bị can, bị cáo vì theo tại điểm b khoản 1 Điều 56 BLTTHS năm 2003 chỉ qui định là người đại diện cho NBTG, bị can, bị cáo nói chung chứ không qui định riêng đối với NBTG, bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần. Thực tiễn TTHS đã công nhận và cấp giấy chứng nhận bào chữa cho người đại diện hợp pháp của NBTG, bị can, bị cáo. Tuy nhiên, số vụ án có người đại diện hợp pháp của NBTG, bị can, bị cáo tham gia bào chữa cũng chiếm tỷ lệ rất ít. Bên cạnh đó, cần xem xét hoạt động bào chữa đối với người đại diện hợp pháp của NBTG, bị can, bị cáo bởi thực tiễn TTHS cho thấy, có trường hợp CQTHTT đã cấp giấy chứng nhận NBC nhưng họ lại gặp phải sự từ chối của NBTG, bị can, bị cáo vì kiến thức pháp lý và kinh nghiệm tố tụng còn hạn chế. Mặt khác, đối với người đại diện hợp pháp của NBTG, bị can, bị cáo nếu là người đại diện theo pháp luật thì họ là cha, mẹ, người giám hộ hoặc người thân thích của NBTG, bị can, bị cáo nên trong trường hợp NBTG, bị can, bị cáo quanh co, chối tội, không thừa nhận hành vi vi phạm pháp luật của mình thì người đại diện hợp pháp chắc chắn sẽ đồng tình bởi vì họ là người thân thích của nhau, do đó sẽ gây khó khăn cho các CQTHTT trong quá trình giải quyết và làm sáng tỏ vụ án, dẫn đến nghĩa vụ tôn trọng sự thật và pháp luật của NBC đã được BLTTHS qui định không được thực hiện trên thực tế. Do đó, BLTTHS cần qui định cụ thể về điều kiện, tiêu chuẩn của người đại diện hợp pháp của NBTG, bị can, bị cáo. Luận văn: Giải pháp Chế định người bào chữa trong Luật tố tụng.

Về đối tượng bào chữa: Xác định đúng đối tượng bào chữa sẽ đảm bảo được quyền bào chữa đã được Hiến pháp 2013 và BLTTHS năm 2003 ghi nhận bởi quyền bào chữa là công cụ pháp lý hữu hiệu giúp đối tượng bào chữa bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, đồng thời giúp cho quá trình giải quyết VAHS được khách quan, công minh, đúng pháp luật. Do đó, BLTTHS nên bổ sung người bị bắt cũng là đối tượng bào chữa cho phù hợp với Hiến pháp năm 2013.

Bên cạnh đó, BLTTHS nên mở rộng phạm vi đối tượng bào chữa bao gồm người bị kết án. Theo đó, NBC có quyền tham gia tại các phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kết án. Bởi hiện nay, pháp luật TTHS chưa qui định quyền bào chữa của người bị kết án nên người bị kết án cũng không được coi là đối tượng bào chữa. Tuy nhiên, BLTTHS hiện hành qui định thi hành án cũng coi là một giai đoạn TTHS do đó cần qui định người bị kết án cũng là đối tượng bào chữa. Người bị kết án là người bị buộc tội bằng một bản án kết tội của TA đã có hiệu lực pháp luật. Người bị kết án rất cần sự giúp đỡ về mặt pháp lý, giúp họ bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp. Bởi trên thực tế, nhiều trường hợp do trình độ, năng lực giải quyết VAHS của người THTT còn hạn chế hoặc do không vô tư, khách quan khi giải quyết vụ án dẫn đến tình trạng kết án oan, sai, không đúng người, đúng tội, đúng pháp luật hoặc có trường hợp người bị kết án nhận tội thay cho người khác do bị ép buộc, cưỡng ép. Do đó, sự giúp đỡ về mặt pháp lý giúp người bị kết án bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình là hết sức cần thiết, đồng thời làm hạn chế tình trạng nói trên. Mặt khác, mặc dù BLTTHS không trực tiếp qui định người bị kết án có quyền bào chữa nhưng đã gián tiếp ghi nhận quyền tự bào chữa của người bị kết án thông qua việc qui định quyền của người bị kết án tại các Điều 274, Điều 292, đoạn 2 Điều 280, đoạn 2 khoản 2 Điều 282 BLTTHS năm 2003. Đó là: người bị kết án có quyền phát hiện những vi phạm pháp luật của các bản án, quyết định của TA có hiệu lực pháp luật và có quyền thông báo cho VKS hoặc TA những tình tiết mới được phát hiện của vụ án; khi xét thấy cần thiết, TA phải triệu tập người bị kết án, NBC và có thể triệu tập người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghị tham gia phiên tòa giám đốc thẩm; nếu đã triệu tập người bị kết án, NBC, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghị thì những người này được trình bày ý kiến trước khi đại diện VKS phát biểu. Những qui định trên nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kết án, tạo cho họ được trình bày ý kiến của mình, đưa ra chứng cứ chống lại sự buộc tội [19, tr.123]. Do đó việc mở rộng đối tượng bào chữa là người bị kết án là đòi hỏi khách quan.

Mặt khác, tại khoản 2 Điều 57 cần qui định mở rộng đối tượng được bào chữa do chỉ định. Theo quy định hiện hành, NBTG, bị can, bị cáo chỉ được chỉ định NBC trong hai trường hợp: Một là, bị can, bị cáo về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình được quy định tại Bộ luật Hình sự; Hai là, bị can, bị cáo là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất. So với nhiều nước trên thế giới, đối tượng được bào chữa theo qui định tại BLTTHS năm 2003 còn quá hẹp dẫn đến người bị buộc tội về những tội phạm nghiêm trọng chưa có cơ chế để đảm bảo quyền bào chữa cho họ. Do đó, cần thiết phải bổ sung đối tượng được bào chữa do chỉ định tại khoản 2 Điều 57, theo đó bao gồm bị can, bị cáo về tội theo khung hình phạt có mức án cao nhất là hai mươi năm tù, tù chung thân hoặc tử hình được qui định tại Bộ luật hình sự (thay vì chỉ áp dụng đối với tội có khung hình phạt tử hình như qui định hiện hành). Hơn nữa, nên mở rộng thêm trường hợp bắt buộc phải có NBC đó là những người thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý theo qui định của pháp luật về trợ giúp pháp lý bởi đây là những đối tượng được Đảng và nhà nước đặc biệt quan tâm. Luận văn: Giải pháp Chế định người bào chữa trong Luật tố tụng.

Về Giấy chứng nhận NBC: Tại Khoản 4 Điều 56 BLTTHS cần qui định cụ thể các giấy tờ liên quan đến thủ tục cấp Giấy chứng nhận NBC bao gồm những loại giấy tờ nào. Do BLTTHS năm 2003 chưa qui định cụ thể nên mỗi cơ quan, người THTT áp dụng một kiểu, gây mất nhiều thời gian và khó khăn cho NBC. Do đó, đã vi phạm quyền bào chữa của NBTG, bị can, bị cáo được pháp luật qui định. Thực tế, có CQTHTT vẫn yêu cầu NBC ngoài việc xuất trình các giấy tờ được qui định trong luật (Ví dụ: Tại Điều 27 Luật LS qui định: LS được CQTHTT cấp Giấy chứng nhận NBC khi xuất trình đủ các giấy tờ: Thẻ LS, Giấy yêu cầu LS của khách hàng và Giấy giới thiệu của tổ chức hành nghề LS) còn buộc phải xuất trình thêm những giấy tờ không được qui định trong luật như: Giấy uỷ quyền của bị can, bị cáo, Giấy giới thiệu, Chứng chỉ hành nghề, Hợp đồng pháp lý ký giữa LS và NBTG, bị can, bị cáo,…

Về những trường hợp bắt buộc phải có NBC: Đối với khoản 2 Điều 57 BLTTHS hiện hành qui định những trường hợp bắt buộc phải có NBC thì không nên qui định bị can, bị cáo, người đại diện hợp pháp của họ “vẫn có quyền thay đổi hoặc từ chối NBC” mà coi đây là trường hợp bắt buộc phải có NBC, vì ngoài việc bào chữa cho thân chủ ra thì NBC phải có trách nhiệm làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, cũng như tránh việc từ chối NBC trong các giai đoạn tiền tố tụng. Trên thực tế, nhiều trường hợp khi đã bị bắt giam thì đa số các bị can đều từ chối mời NBC kể cả có trường hợp đã ký hợp đồng mời NBC trước khi bị bắt tạm giam; cần qui định thống nhất giữa khoản 2 Điều 57 và Điều 305 BLTTHS về trường hợp bắt buộc phải có NBC.

Tại Khoản 2, Điều 57 BLTTHS năm 2003 qui định:

Trong những trường hợp sau đây, nếu bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời NBC thì CQĐT, VKS hoặc TA phải yêu cầu Đoàn LS phân công Văn phòng LS cử NBC cho họ hoặc đề nghị Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử NBC cho thành viên của tổ chức mình [43, khoản 2 Điều 57].

Nhưng thực tiễn áp dụng cho thấy việc hiểu và vận dụng qui định này giữa CQTHTT trong thực hiện Thông tư liên tịch số 10[11] (hiện nay được thay thế bởi Thông tư số 11[12]) vẫn chưa thống nhất, trong nhiều trường hợp NBTG, bị can, bị cáo thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý mất quyền được trợ giúp pháp lý theo luật bởi BLTTHS chỉ qui định CQTHTT yêu cầu Đoàn LS cử LS bào chữa không qui định CQTHTT yêu cầu Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước cử Trợ giúp viên pháp lý hoặc LS Cộng tác viên bào chữa. Do những bất cập của Luật nên trong quá trình thực hiện, cơ quan, người THTT và NBC còn gặp nhiều lúng túng khi áp dụng. Vì tại Khoản 2 Điều 57 quy định nếu bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời NBC thì CQĐT, VKS hoặc TA phải yêu cầu Đoàn LS nên một số CQTHTT còn lúng túng khi phát hiện đối tượng được trợ giúp pháp lý cũng thuộc trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều 57 BLTTHS nhưng không biết nên yêu cầu tổ chức trợ giúp pháp lý nhà nước hay yêu cầu Đoàn LS cử NBC. Do BLTTHS năm 2003 chưa qui định CQTHTT yêu cầu tổ chức trợ giúp pháp lý cử NBC nên nhiều trường hợp CQTHTT không gửi Công văn trực tiếp yêu cầu tổ chức trợ giúp pháp lý mà gửi đến Đoàn LS yêu cầu cử NBC, sau đó Đoàn LS lại gửi Công văn đề nghị tổ chức trợ giúp pháp lý cử LS là Cộng tác viên của tổ chức trợ giúp pháp lý tham gia bào chữa. Dẫn đến mất nhiều thời gian và ảnh hưởng đến quyền lợi của NBTG, bị can, bị cáo. Do đó, tại khoản 2 Điều 57 bổ sung thêm cụm từ “hoặc tổ chức trợ giúp pháp lý” sau cụm từ “Đoàn LS phân công văn phòng LS”. Luận văn: Giải pháp Chế định người bào chữa trong Luật tố tụng.

Mặt khác, BLTTHS năm 2003 cần qui định rõ thời hạn cử NBC của Đoàn LS, tổ chức trợ giúp pháp lý và thời hạn yêu cầu cử NBC của CQTHTT đối với Đoàn LS, tổ chức trợ giúp pháp lý. Bởi một số vụ án bắt buộc sự tham gia của NBC theo qui định tại khoản 2 Điều 57 BLTTHS năm 2003, tuy nhiên, khi CQTHTT yêu cầu Đoàn LS phân công Văn phòng LS cử NBC nhưng lại không phân công “ngay” hoặc đã phân công nhưng LS chưa đến CQTHTT để liên hệ làm việc. Do đó ảnh hưởng đến thời hạn điều tra, truy tố, xét xử. Ngược lại, có trường hợp CQTHTT yêu cầu cử NBC với thời hạn quá gần với giai đoạn tố tụng khác nên không đảm bảo thời gian cho NBC thực hiện các hoạt động bào chữa của mình như: nghiên cứu hồ sơ, gặp bị can, bị cáo…

Về thời điểm tham gia tố tụng của NBC: theo chúng tôi nên chuyển khoản 1 Điều 58 BLTTHS thành một điểm thuộc khoản 2 Điều 58 BLTTHS và qui định đó là quyền của NBC chứ không chỉ là thời điểm tham gia tố tụng của NBC như qui định hiện hành. Vì mặc dù BLTTHS qui định thời điểm tham gia của NBC từ khi có quyết định tạm giữ. Tuy nhiên thực tế, thủ tục để NBC có thể tham gia từ giai đoạn này không phải đơn giản, nhiều nơi CQĐT gây khó khăn cho NBC, yêu cầu đủ mọi giấy tờ ngoài những giấy tờ luật qui định hoặc cán bộ của CQĐT viện đủ lý do như: Thủ trưởng cơ quan đi công tác, phải chờ cán bộ vào trại gặp hỏi ý kiến bị can có cần NBC không, hoặc phải chờ xin ý kiến Thủ trưởng,… Hoặc do tâm lý của Điều tra viên không muốn NBC tham gia từ giai đoạn này vì họ cho rằng nếu NBC tham gia thì sẽ “xúi giục” NBTG, bị can khai không đúng làm cản trở hoạt động điều tra,… Do đó, có trường hợp khi NBC tiếp cận được NBTG, bị can thì thời hạn tạm giữ đã hết, việc tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ không được bảo đảm nên việc thực hiện các quyền khác của NBC trong giai đoạn điều tra là rất khó khăn. Như vậy, việc NBC tham gia tố tụng phụ thuộc vào sự chấp thuận hay không chấp thuận của CQĐT. Do đó, cần qui định đây là quyền của NBC chứ không chỉ là thời điểm tham gia của NBC. Từ đó, tạo sự nhận thức và trách nhiệm của cơ quan, người THTT đảm bảo quyền tham gia tố tụng của NBC. Trên thực tế, CQĐT thường không tạo điều kiện cho NBC được tham gia từ giai đoạn tạm giữ dẫn đến nhiều trường hợp CQĐT khi lấy lời khai NBTG đã cố tình làm sai lệch hồ sơ vụ án. Nên khi ra đến phiên tòa, NBC mới xuất hiện thì oan, sai đã xảy ra hoặc khi ra Tòa, bị cáo khai bị ép cung, mớm cung nhưng do NBC không được tham gia từ giai đoạn đầu nên họ không nắm được tình tiết của sự việc. Có ý kiến cho rằng, nên chuyển khoản 1 Điều 58 sang khoản 3 Điều 56 vì nội dung của khoản 1 Điều 58 qui định về thời điểm tham gia tố tụng của NBC chứ không phải quyền của NBC vì NBC không sử dụng quyền được tham gia tố tụng từ khi khởi tố bị can để chống lại sự buộc tội hay làm giảm nhẹ TNHS cho thân chủ của mình như đưa ra chứng cứ, đưa ra các yêu cầu thay đổi người THTT hay yêu cầu trưng cầu giám định, khiếu nại các quyết định của cơ quan, người THTT, tranh luận với bên buộc tội,…Và vì vậy, khi nói đến thời điểm tham gia của NBC thì cần phải hiểu đây là trách nhiệm của người THTT, CQTHTT phải đảm bảo cho NBC được tham gia đúng với thời điểm đã quy định của pháp luật TTHS[34]. Luận văn: Giải pháp Chế định người bào chữa trong Luật tố tụng.

BLTTHS năm 2003 qui định thời điểm cho phép NBC được tham gia tố tụng sớm hơn so với BLTTHS năm 1988 (BLTTHS 1988 qui định NBC được tham gia TTHS kể từ khi khởi tố bị can). Thời điểm tham gia tố tụng có ý nghĩa quan trọng giúp bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho NBTG, bị can, bị cáo. NBC tham gia tố tụng càng sớm thì càng có điều kiện tiếp cận vụ án một cách toàn diện và đầy đủ hơn, khi tham gia tố tụng ngay từ đầu vụ án sẽ nắm bắt chi tiết, cụ thể nội dung, tình tiết của sự việc, thực hiện các hoạt động như: thu thập chứng cứ, tài liệu, đồ vật để bảo vệ cho đối tượng bào chữa. Bởi đây là thời điểm bắt đầu hình thành và xây dựng nên hồ sơ vụ án cho cả quá trình tố tụng. Từ đó, tạo sự chủ động cần thiết để thu thập chứng cứ gỡ tội hoặc những tình tiết có lợi, những tình tiết giảm nhẹ TNHS cho đối tượng bào chữa. Không phải mọi hoạt động của cơ quan, người THTT đều thực hiện đúng qui định pháp luật, không có sai lầm, thiếu sót mà thực tiễn cho thấy vẫn xảy ra tình trạng oan, sai, vi phạm quyền, lợi ích của NBTG, bị can, bị cáo. Do đó, sự tham gia của NBC ngay từ giai đoạn tạm giữ góp phần giám sát hoạt động của CQĐT, tránh sự lạm quyền trong việc bắt, tạm giữ, hạn chế việc ép cung, mớm cung, dùng nhục hình đối với NBTG, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho họ. Đây là một qui định thể hiện tính dân chủ và tiến bộ của pháp luật TTHS Việt Nam nhằm mở rộng hơn quyền bào chữa của NBTG, bị can, bị cáo. Tuy nhiên, nếu không ghi nhận nó là quyền thì sẽ hạn chế quyền tham gia bào chữa của NBC, quyền được bào chữa của NBTG, bị can. Nghiên cứu về thời điểm tham gia TTHS của NBC của một số nước trên thế giới có thể thấy nên qui định đó là quyền của NBC là hoàn toàn phù hợp. Ở một số nước qui định NBC có thể tham gia tố tụng ở bất kỳ thời điểm nào của quá trình tố tụng. Ví dụ: Tại khoản 1 Điều 137 BLTTHS Đức qui định: Bị can/bị cáo có thể nhận sự giúp đỡ của LS bào chữa tại bất cứ giai đoạn nào của quá trình tố tụng; Tại khoản 1 Điều 30 BLTTHS Nhật Bản qui định: Bị can hoặc bị cáo có thể chỉ định NBC vào bất kì thời điểm nào. Còn BLTTHS Pháp qui định: Lúc bắt đầu việc tạm giữ, NBTG có thể yêu cầu được nói chuyện với LS. Khi người này không ở vào vị trí được lựa chọn một người, hoặc nếu không thể gặp được LS được lựa chọn, người này có thể yêu cầu chủ nhiệm Đoàn LS chính thức chỉ định cho mình một LS[5, Điều 63-4].

Vì những lý do phân tích ở trên, theo chúng tôi, tại khoản 1 Điều 58 BLTTHS năm 2003 nên qui định đó là quyền của NBC là phù hợp.

Bên cạnh đó, Khoản 1 Điều 58 BLTTHS qui định: NBC được tham gia tố tụng từ khi có quyết định tạm giữ trong 2 trường hợp: người bị bắt khẩn cấp và người phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã. Còn các trường hợp khác, CQTHTT chưa xác định được hoặc chưa rõ hành vi phạm tội thì điều luật chỉ qui định cho NBC tham gia từ khi khởi tố bị can. Nhưng khi giải quyết, CQTHTT lại căn cứ vào các lời khai ở giai đoạn tạm giữ để buộc tội. Như vậy, quyền bào chữa ngoài hai trường hợp trên, các trường hợp khác không được bảo đảm. Do đó, Khoản 1 Điều 58 BLTTHS cần qui định “NBC được tham gia từ khi có quyết định tạm giữ đối với mọi trường hợp, trừ trường hợp cần giữ bí mật điều tra đối với tội xâm phạm an ninh quốc gia, thì Viện trưởng VKS quyết định để NBC tham gia tố tụng từ khi kết thúc điều tra”. Luận văn: Giải pháp Chế định người bào chữa trong Luật tố tụng.

Bổ sung thêm quyền của NBC khi tham gia tố tụng: qui định NBC được quyền hỏi NBTG, bị can, bị cáo chứ không nên qui định “nếu Điều tra viên đồng ý” như điểm a khoản 2 Điều 58; điểm b khoản 2 Điều 58 nên sửa là “được CQĐT báo trước về thời gian và địa điểm hỏi cung bị can” chứ không nên dùng thuật ngữ “đề nghị” như hiện nay, nếu qui định là “đề nghị” thì có thể được chấp thuận hoặc không chấp thuận. Do đó nên bổ sung vào BLTTHS các qui định tại Điều 7 Thông tư số 70/2011/TT-BCA của Bộ Công an về trách nhiệm của Điều tra viên phải thông báo về thời gian, địa điểm lấy lời khai của NBTG, hỏi cung bị can cho NBC trước 24 giờ, trường hợp NBC ở xa có thể thông báo trước 48 giờ, trường hợp không thể trì hoãn được việc lấy lời khai NBTG, hỏi cung bị can thì Điều tra viên tiến hành lấy lời khai, hỏi cung và sau đó phải thông báo cho NBC biết.

Bổ sung điểm e khoản 2 Điều 58 về việc NBC gặp NBTG, bị can, bị cáo khác trong vụ án có đồng phạm, bị cáo bị tạm giam sau khi xét xử sơ thẩm vì BLTTHS hiện hành không qui định cho NBC được gặp NBTG, bị can, bị cáo khác trong vụ án có đồng phạm nên việc thu thập chứng cứ cũng gặp khó khăn, ảnh hưởng đến hoạt động bào chữa. Mặt khác, cũng không qui định NBC được gặp bị cáo bị tạm giam sau khi xét xử sơ thẩm để hướng dẫn họ làm đơn kháng cáo. Nhiều trường hợp cán bộ Trại tạm giam không cho NBC được gặp bị cáo trong thời gian 15 ngày kháng cáo vì cho rằng TA đã xét xử sơ thẩm rồi thì Giấy chứng nhận NBC trong giai đoạn xét xử sơ thẩm không còn giá trị pháp lý nữa. NBC muốn gặp bị cáo phải chờ đến giai đoạn xét xử phúc thẩm. Dẫn đến quyền bào chữa và quyền được bào chữa không được đảm bảo. Ngoài ra, BLTTHS chưa qui định rõ NBC được gặp bị can, bị cáo trong Trại tạm giam là gặp riêng hay phải có mặt của Giám thị hoặc cán bộ Trại tạm giam. Trong thực tiễn, khi NBC muốn gặp NBTG, bị can, bị cáo đều phải có mặt và chịu sự giám sát của Giám thị, cán bộ Trại tạm giam. Sự có mặt đó dễ gây tâm lý ức chế, không thoải mái đối với NBC và đối tượng bào chữa, trong nhiều trường hợp, đối tượng bào chữa muốn thổ lộ hết các tình tiết của vụ án với NBC nhưng sự có mặt của Giám thị, cán bộ Trại tạm giam làm cho NBTG, bị can, bị cáo còn có tâm lý dè chừng. Do đó, cần sửa đổi điểm e khoản 2 Điều 58 về việc gặp NBTG, bị can, bị cáo như sau: “NBC có quyền gặp riêng NBTG, bị can, bị cáo trong Nhà tạm giữ hoặc Trại tạm giam. NBC có quyền gặp NBTG, bị can, bị cáo là đồng phạm trong vụ án”.

Bổ sung quyền thu thập chứng cứ của NBC vì quyền thu thập chứng cứ chưa được qui định trực tiếp trong chương V – BLTTHS năm 2003 mà chỉ qui định gián tiếp tại Điều 58 BLTTHS về quyền và nghĩa vụ của NBC; Cần mở rộng phạm vi thu thập chứng cứ của NBC vì hiện nay phạm vi thu thập chứng cứ của NBC mới chỉ dừng lại ở “tài liệu, đồ vật “. Đối với các loại chứng cứ khác, NBC chỉ có mặt khi người THTT thu thập. Bộ luật cần qui định cho phép NBC được độc lập thu thập chứng cứ thông qua việc lấy lời khai của bị can, bị cáo, người làm chứng; BLTTHS cần qui định chế tài áp dụng trong trường hợp cơ quan, tổ chức, cá nhân từ chối cung cấp các thông tin có liên quan đến vụ án cho NBC. Lời khai của NBTG, bị can, bị cáo được coi là chứng cứ nếu họ yêu cầu phải có mặt của NBC. Như vậy, họ có quyền im lặng nếu yêu cầu có NBC không được thực hiện. Theo đó, qui định nghĩa vụ của CQTHTT trong việc tiếp nhận chứng cứ do NBC cung cấp. Luận văn: Giải pháp Chế định người bào chữa trong Luật tố tụng.

3.2.2. Hoàn thiện các qui định của BLTTHS năm 2003 và các văn bản pháp luật khác có liên quan đến chế định người bào chữa

Hiện nay vị trí, vai trò của NBC chưa được nhìn nhận đúng đắn và chưa thực sự bảo đảm theo yêu cầu của pháp luật. Chế định NBC mặc dù đã được qui định trong BLTTHS năm 2003 nhưng chưa đầy đủ, thống nhất, chưa có sự hướng dẫn cụ thể dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau, còn thiếu cơ chế đảm bảo thực hiện trong thực tiễn dẫn đến NBC tham gia vào hoạt động TTHS đạt hiệu quả chưa cao, chưa phát huy hết vai trò của mình. Đã đến lúc phải tiến hành sửa đổi, bổ sung BLTTHS và các văn bản pháp luật khác một cách toàn diện theo hướng dân chủ hóa hoạt động tố tụng, phải xem việc tham gia của NBC vào quá trình TTHS là sự giám sát tốt nhất đối với các hoạt động của CQTHTT và mục đích nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho NBTG, bị can, bị cáo. Để đảm bảo việc tranh tụng, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, một trong những biện pháp quan trọng đó là hoàn thiện các qui định của BLTTHS năm 2003 và các văn bản pháp luật khác có liên quan đến chế định NBC, tạo các cơ hội để bên bào chữa có vị trí độc lập, bình đẳng với các chủ thể khác đặc biệt là đối với các cơ quan, người THTT. Khi vị trí của NBC được ghi nhận và có được vị trí trong xã hội thì vai trò của NBC mới được nâng cao, từ đó “góp phần bảo vệ công lý, phát triển kinh tế, xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”[45, Điều 3]. Do đó, tác giả đưa ra một số ý kiến như sau:

Hoàn thiện một số qui định của pháp luật TTHS, pháp luật về LS và trợ giúp pháp lý, tạo cơ sở pháp lý đồng bộ, thống nhất cho việc đổi mới và phát triển chế định NBC phù hợp với chủ trương và lộ trình cải cách tư pháp theo Nghị quyết số 49[22] của Bộ Chính trị. Hoạt động của NBC không thể tách rời các hoạt động tố tụng. Do đó, cần xây dựng và tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa các cơ quan của Chính phủ với TA nhân dân tối cao, VKS nhân tối cao và Bộ Công an trong việc triển khai và tổ chức thực hiện những chủ trương của Đảng và Nhà nước về cải cách tư pháp nói chung, những quy định pháp luật về TTHS nói riêng. Trước mắt, cần phối hợp để chỉnh lý sửa đổi, bổ sung BLTTHS năm 2003, Luật LS năm 2006, Luật trợ giúp pháp lý năm 2006 và hướng dẫn kịp thời các quy định về việc tham gia tố tụng của NBC, trong đó cụ thể hóa các quyền, nghĩa vụ của NBC trong quá trình tham gia tố tụng và thực hiện tranh tụng tại phiên tòa, đồng thời phối hợp chặt chẽ trong việc triển khai thực hiện Chiến lược phát triển nghề LS đến năm 2020, Chiến lược phát triển trợ giúp pháp lý ở Việt Nam đến năm 2020, định hướng đến năm 2030. Bên cạnh đó, hoàn thiện một số qui định pháp luật về trợ giúp pháp lý theo đó qui định Trợ giúp viên pháp lý là NBC chứ không phải là người đại diện như qui định hiện hành, tiến tới đổi tên Trợ giúp viên pháp lý thành LS nhà nước theo Đề án của Chính phủ. Luận văn: Giải pháp Chế định người bào chữa trong Luật tố tụng.

Xây dựng và hoàn thiện mô hình TTHS ở nước ta theo hướng tiếp tục duy trì những ưu điểm của mô hình tố tụng thẩm vấn hiện hành, tiếp thu những hạt nhân hợp lý của mô hình tố tụng tranh tụng trên thế giới phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam. Bởi xét theo mô hình TTHS trên thế giới, mô hình TTHS ở nước ta nghiêng về mô hình tố tụng thẩm vấn, thể hiện thông qua những qui định trong BLTTHS năm 2003: Tại phiên xét xử, TA vẫn giữ vai trò chính làm nhiệm vụ kiểm tra chứng cứ tại Tòa, xem các hoạt động của CQĐT trước đó có đúng pháp luật hay không; trách nhiệm chứng minh tội phạm vẫn thuộc về TA; HĐXX được quyền khởi tố vụ án tại phiên tòa; chưa phân định rõ 3 chức năng cơ bản của TTHS: buộc tội, gỡ tội, xét xử; địa vị pháp lý của NBC chưa thực sự bình đẳng với cơ quan, người THTT,…

Mô hình tố tụng thẩm vấn của TTHS Việt Nam như đã nêu ở trên là một trong những hạn chế của TTHS hiện hành, ảnh hưởng không nhỏ đến quyền bào chữa của bị can, bị cáo, vị trí và vai trò của NBC. Nếu đổi mới theo hướng tranh tụng thì chúng ta cần xem xét những vấn đề sau:

Thứ nhất, cần ghi nhận nguyên tắc tranh tụng là nguyên tắc cơ bản của BLTTHS cho phù hợp với Hiến pháp năm 2013. Ghi nhận nguyên tắc này sẽ là cơ sở pháp lý để các cơ quan, người THTT, người tham gia tố tụng tiến hành các hoạt động bình đẳng và tuân thủ pháp luật, là cơ chế để bảo đảm quyền của đối tượng bào chữa trong TTHS. Khi ghi nhận nguyên tắc tranh tụng cần: xác định rõ chức năng buộc tội, bào chữa, xét xử. Do đó, cần qui định nhiệm vụ, quyền hạn của bên buộc tội, NBC và TA phù hợp với chức năng tố tụng của chủ thể đó theo qui định của pháp luật; qui định các điều kiện bảo đảm để các chủ thể buộc tội và NBC bình đẳng với nhau trong tranh tụng. TA phải tách khỏi chức năng buộc tội. TA chỉ đóng vai trò là trọng tài với chức năng điều khiển phiên tòa, giải thích luật và quyết định kết quả của quá trình tố tụng. Kiểm sát viên và NBC có quyền và nghĩa vụ ngang nhau, hai bên cùng tranh luận, đưa ra chứng cứ để bảo vệ quan điểm của mình. Trong tranh luận đối đáp các bên có quyền áp dụng mọi biện pháp để bảo vệ quan điểm của mình, phản bác ý kiến của bên đối tụng, đặt câu hỏi cho bên đối tụng và yêu cầu trả lời. HĐXX phải căn cứ vào các chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa và các ý kiến tranh luận để ra bản án, quyết định. Như vậy, NBC mới có vị trí xứng đáng, bình đẳng với Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa, phát huy được vai trò là người bảo vệ công lý, người phản biện, giám sát hoạt động tố tụng, bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp cho bị can, bị cáo. Do đó, bên cạnh việc làm rõ chức năng buộc tội và chức năng xét xử cần chú ý đến chức năng bào chữa, trong đó có vai trò của NBC. Bào chữa là một trong những hoạt động đặc trưng của TTHS. Trong TTHS luôn đặt ra hai vấn đề bào chữa và buộc tội, nó cùng song song tồn tại như một nhu cầu tất yếu khách quan. Từ lâu các nhà Triết học cổ đại cho rằng chân lý chỉ sinh ra trong quá trình tranh luận. Theo Mác thì: “Sự thật được xác lập nhờ sự tranh cãi, bút chiến và sự kiện lịch sử được xác lập từ những quan điểm trái ngược nhau”. Do vậy, phải sửa đổi một số qui định trong BLTTHS như: bỏ qui định trách nhiệm chứng minh tội phạm của TA (Điều 10); bỏ qui định HĐXX có quyền khởi tố vụ án (đoạn 3 khoản 1 Điều 104); thay đổi về trình tự xét hỏi (Điều 207); vẫn tiếp tục xét xử khi VKS đã rút quyết định truy tố (Điều 195); bỏ qui định xử vượt quá giới hạn truy tố (Điều 196). Sở dĩ ghi nhận nguyên tắc tranh tụng là nhằm nâng cao địa vị pháp lý của NBC, thay đổi địa vị pháp lý của NBC như một chức danh tư pháp độc lập, bình đẳng về quyền và nghĩa vụ với cơ quan, người THTT, xử lý mối quan hệ giữa các chủ thể thực hiện chức năng buộc tội và gỡ tội trong quá trình hoàn thiện mô hình TTHS Việt Nam. Luận văn: Giải pháp Chế định người bào chữa trong Luật tố tụng.

Mặt khác, khi ghi nhận nguyên tắc tranh tụng là nguyên tắc cơ bản của BLTTHS cần nêu rõ khái niệm “tranh tụng” là gì? Bởi đến nay, thuật ngữ “tranh tụng” chỉ mới được đề cập trong các văn bản của Đảng, trong các sách, báo pháp lý của các nhà nghiên cứu, nhà luật học nên hiện còn nhiều cách hiểu, nhận thức khác nhau về “tranh tụng”, ngay cả BLTTHS chỉ quy định về tranh luận là một giai đoạn của xét xử, Hiến pháp năm 2013 cũng chỉ đề cập đến nguyên tắc tranh tụng mà chưa định nghĩa thế nào là “tranh tụng”. Theo Từ điển tiếng Việt thì “tranh tụng” được cho là đồng nghĩa với kiện tụng[65, tr.1025]. Còn theo tiếng Hán Việt thì “tranh tụng” xuất phát từ “tranh luận” và “tố tụng”. Như vậy, tranh tụng chính là tranh luận trong tố tụng [25], do vậy bao giờ cũng gắn liền với hoạt động tài phán của Tòa án. Có ý kiến cho rằng: tranh tụng trong TTHS là sự tranh luận của bên buộc tội và bên bào chữa, dựa trên những chứng cứ được đưa ra trước phiên tòa do các bên thu thập theo quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, là cơ sở để Tòa án ra phán quyết có hiệu lực thi hành, nhằm bảo vệ các quyền cơ bản của con người. Chúng tôi đồng ý với quan điểm này.

Thứ hai, nên qui định sự tham gia của NBC tại phiên tòa là nghĩa vụ bắt buộc nhằm tránh tình trạng vắng mặt NBC tại phiên tòa với bài bào chữa gửi trước. Theo đó, Điều 190 BLTTHS năm 2003 sửa đổi như sau: “NBC có nghĩa vụ tham gia phiên tòa. Nếu NBC vắng mặt thì HĐXX phải hoãn phiên tòa”. Như vậy, mới đảm bảo được tính tranh tụng tại phiên tòa theo tinh thần cải cách tư pháp, quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo mới được đảm bảo;

Thứ ba, khẳng định nghĩa vụ của các CQTHTT phải tạo mọi điều kiện tốt nhất để thực hiện việc tranh tụng. TA phải tạo điều kiện để các bên tranh tụng thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình, phải xem xét vô tư, khách quan mọi chứng cứ và lý lẽ của bên buộc tội cũng như bên bào chữa. Bản án của TA chỉ dựa trên cơ sở kết quả tranh tụng giữa các bên;

Thứ tư, cần qui định chế tài buộc Kiểm sát viên phải tranh luận với NBC, trường hợp không tham gia tranh luận không đối đáp lại được lập luận của bên đối tụng chính là sự thừa nhận, đồng tình với lập luận của họ. Bởi tranh tụng là việc bắt buộc theo tinh thần cải cách tư pháp, có tranh tụng mới làm sáng tỏ sự thật để Tòa quyết định số phận của bị cáo. Tuy nhiên, thực tế hiện nay trong nhiều phiên xử, Chủ tọa phiên tòa nhắc nhở Kiểm sát viên tham gia tranh luận với NBC nhưng chỉ nhận được câu trả lời “bảo lưu quan điểm”; Luận văn: Giải pháp Chế định người bào chữa trong Luật tố tụng.

Về sự tham gia của NBC ở phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm: Tại Điều 280 BLTTHS hiện hành qui định: NBC chỉ được triệu tập tham gia phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm khi TA xét thấy cần thiết. Quy định này làm mất đi quyền bào chữa của người bị kết án tại phiên tòa giám đốc thẩm, tái thẩm. Do đó Điều 280 cần sửa đổi như sau: “TA phải triệu tập người bị kết án, NBC và có thể triệu tập những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghị tham gia phiên tòa giám đốc thẩm”.

Qui định về trách nhiệm của các cơ quan, người THTT: Bổ sung vào khoản 3 Điều 224 BLTTHS năm 2003 về trách nhiệm của TA trong việc ghi nhận quan điểm của NBC vào trong bản án. Bởi thực tế hiện nay, trong phần nhận định của bản án hầu như các TA không ghi ý kiến đề nghị của NBC, nếu có ghi thì cũng chỉ bằng những câu rất ngắn gọn như: “Không chấp nhận ý kiến của NBC cho bị cáo” mà không nêu rõ lý do không chấp nhận là gì. Do đó, cần quy định trách nhiệm của cơ quan, người THTT phải tôn trọng kết quả bào chữa. Các tài liệu, đồ vật do NBC cung cấp, các tình tiết, lập luận do NBC nêu ra phải được các cơ quan, người THTT xem xét. Nếu có căn cứ thì phải chấp nhận để giải quyết đúng đắn VAHS, nếu không có căn cứ thì bác bỏ và nêu lý do trong bản án hoặc quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền.

Bổ sung quy định trách nhiệm của CQTHTT trong việc giao các quyết định tố tụng cho NBC, cụ thể là: quyết định khởi tố vụ án; khởi tố bị can; quyết định áp dụng, thay đổi biện pháp ngăn chặn, quyết định thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, quyết định gia hạn thời hạn điều tra vụ án, gia hạn thời hạn tạm giữ, tạm giam (nếu có); kết luận điều tra; cáo trạng; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án; bản sao bản án, thông báo về việc kháng nghị, quyết định kháng nghị; quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm (nếu có).

BLTTHS cần bổ sung quy định về chế tài bảo vệ NBC trong các trường hợp bị cản trở tham gia hoạt động bào chữa hoặc bị xâm hại sức khỏe, danh dự, nhân phẩm. Hiện nay, tuy pháp luật TTHS qui định quyền của NBC nhưng lại thiếu cơ chế để đảm bảo thực hiện các quyền này. Đặc biệt, chưa qui định chế tài áp dụng đối với cơ quan, người THTT khi vi phạm quyền của NBC. Với quy định của BLTTHS hiện hành về quyền của NBC so với quyền của LS bào chữa ở các nước trên thế giới thì quyền của NBC ở nước ta chưa cho phép NBC phát huy đầy đủ và hiệu quả vai trò của người gỡ tội. Mặt khác, các qui định về quyền của NBC vẫn còn những khó khăn, bất cập trong thực tiễn áp dụng. Để NBC thực hiện tốt quyền theo qui định pháp luật, thời gian tới BLTTHS năm 2003 cần phải có những sửa đổi, bổ sung cho phù hợp. Theo đó, BLTTHS năm 2003 nên qui định các vi phạm quyền của NBC từ phía các cơ quan, người THTT phải bị xem là những vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và không có giá trị chứng minh tại phiên tòa. Luận văn: Giải pháp Chế định người bào chữa trong Luật tố tụng.

Sửa đổi Điều 207 BLTTHS về trình tự xét hỏi theo hướng tập trung vào hoạt động tranh tụng giữa bên bào chữa và bên buộc tội. Việc xét hỏi tại phiên tòa chủ yếu do VKS giữ quyền công tố tại phiên tòa và NBC xét hỏi, Kiểm sát viên hỏi về các tình tiết chứng minh việc buộc tội, NBC hỏi về các tình tiết gỡ tội, còn HĐXX chỉ hỏi khi thấy cần thiết để kiểm tra chứng cứ buộc tội, chứng cứ gỡ tội. Các bên tham gia phiên tòa có quyền đưa ra chứng cứ và tiến hành hoạt động đối chứng. HĐXX chỉ giữ vai trò là trọng tài điều khiển và định hướng hoạt động tranh tụng giữa các bên tại phiên tòa, lắng nghe các bên trình bày ý kiến, đưa ra tài liệu chứng cứ. HĐXX có trách nhiệm xem xét, đánh giá tính xác thực của các chứng cứ, dựa vào kết quả tranh luận giữa các bên và đưa ra phán quyết. Bởi nếu qui định trình tự xét hỏi như hiện nay: chủ tọa phiên tòa hỏi trước rồi đến các Hội thẩm, sau đó đến Kiểm sát viên, NBC sẽ dẫn đến nhiều phiên tòa, HĐXX hỏi hết đến lượt đại diện VKS bị thụ động, muốn hỏi lại không có gì để hỏi, trong khi lẽ ra trách nhiệm chính của VKS là phải chủ động đưa ra bằng chứng để chứng minh bị cáo đã phạm tội, còn trách nhiệm của HĐXX là phải chứng minh có tội phạm hay không bằng một bản án sau khi lắng nghe quá trình xét hỏi và tranh luận tại phiên toà. Với quy định trên sẽ không phân biệt rõ được trách nhiệm này của TA và VKS. Do đó, trách nhiệm buộc tội lại thuộc về HĐXX và HĐXX vừa có chức năng buộc tội vừa có chức năng xét xử. Điều đó sẽ không phù hợp với yêu cầu nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa theo tinh thần Nghị quyết số 08[21] của Bộ Chính trị.

3.3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHÁC Luận văn: Giải pháp Chế định người bào chữa trong Luật tố tụng.

Từ thực tiễn TTHS trong những năm qua, nhất là từ khi vấn đề tranh tụng được ghi nhận trong các Nghị quyết của Đảng, Hiến pháp năm 2013 và với quan điểm xây dựng TTHS theo hướng kết hợp hai mô hình tố tụng tranh tụng và tố tụng xét hỏi, để đảm bảo cho NBC tham gia tố tụng có hiệu quả cần tiến hành một số giải pháp sau:

Một là, nâng cao năng lực nhận thức của cơ quan, người THTT bởi quyền có NBC của NBTG, bị can, bị cáo không thể được bảo đảm nếu cơ quan, người THTT không nhận thức đúng nội dung, ý nghĩa và tầm quan trọng của nó. Đây là những chủ thể nhân danh nhà nước thực hiện các hoạt động tố tụng theo quy định của pháp luật nhằm thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ làm sáng tỏ vụ án và tiến hành giải quyết vụ án trong phạm vi quyền hạn của mình. Trước hết, họ phải nhận thức được việc bảo đảm thực hiện quyền bào chữa của NBTG, bị can, bị cáo chính là giúp cơ quan nhà nước giải quyết vụ án khách quan, toàn diện và đúng pháp luật. Đây cũng là nhiệm vụ mà Nhà nước giao cho họ thực hiện. Trong thực tế, không phải tất cả những người THTT đều nhận thức đúng vấn đề này. Là người trực tiếp giải quyết VAHS, hơn ai hết, người THTT phải nắm vững quy định của pháp luật về quyền có NBC. Họ có nghĩa vụ phải giải thích cho NBTG, bị can, bị cáo hiểu rõ quyền bào chữa, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để quyền này được thực hiện có hiệu quả. Muốn vậy, ngoài việc nâng cao năng lực chuyên môn, người THTT phải có ý thức tuân thủ và nhận thức một cách nghiêm túc và đúng đắn vấn đề này. Nghị quyết Hội nghị Trung ương III Khoá VIII của Ban Chấp hành trung ương Đảng nêu rõ: “Xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong sạch, vững mạnh, có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt và có năng lực chuyên môn. Lập quy hoạch tuyển chọn, đào tạo, sử dụng cán bộ tư pháp theo từng loại chức danh với tiêu chuẩn cụ thể”. Quán triệt Nghị quyết của Đảng, các cơ quan tư pháp, đặc biệt là cơ quan THTT đã triển khai nhiều biện pháp cụ thể để xây dựng đội ngũ người THTT vừa đủ về số lượng, vừa đảm bảo về chất lượng. Để nâng cao kiến thức chuyên môn và nhận thức của đội ngũ THTT, phải tập trung một số vấn đề sau: Luận văn: Giải pháp Chế định người bào chữa trong Luật tố tụng.

Thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng và tập huấn cho những người THTT. Nội dung đào tạo, bồi dưỡng là những kiến thức mới về pháp luật, nghiệp vụ, kinh nghiệm thực tế. Tổ chức các đợt kiểm tra kiến thức chuyên môn, đánh giá trình độ. Từ đó, có chế độ tuyên dương, khen thưởng xứng đáng. Phát động các phong trào thi đua có nội dung về đạo đức, tác phong sống, làm việc nghiêm túc, lành mạnh; coi đây là cơ sở đề xuất bổ nhiệm, miễn nhiệm;

Thay đổi nhận thức chưa đúng đắn của những người THTT về vai trò, vị trí của NBC trong TTHS. Cần phải nhìn nhận sự tham gia của NBC là yếu tố góp phần giải quyết vụ án khách quan, đúng pháp luật. Sự có mặt của NBC trong vụ án không gây khó khăn cho các cơ quan THTT, họ chỉ bác bỏ việc buộc tội thiếu căn cứ, không đúng qui định pháp luật, chứ không phải là “đối thủ” của các cơ quan THTT. Vì vậy, người THTT cần phải tạo điều kiện cho NBC thực hiện tốt chức năng bào chữa;

Trang bị đầy đủ phương tiện, kinh phí phục vụ công tác cho những người THTT;

Cần đổi mới mối quan hệ giữa NBC với cơ quan THTT. Theo đó Liên đoàn Luật sư Việt Nam, Bộ Tư pháp, Bộ Công an, Viện Kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao cần phối hợp chặt chẽ trong việc xây dựng Thông tư liên tịch hướng dẫn áp dụng các qui định pháp luật liên quan đến bào chữa, xây dựng các quy chế phối hợp hoạt động giữa các cơ quan này và giữa NBC với cơ quan, người THTT nhằm cải thiện mối quan hệ giữa tổ chức quản lý NBC và NBC với cơ quan, người THTT, bảo đảm thuận lợi cho NBC khi tham gia tố tụng. Bởi thực tiễn tố tụng trong những năm qua cho thấy, mối quan hệ giữa NBC với cơ quan, người THTT tuy được cải thiện đáng kể nhưng vẫn còn nhiều hạn chế nhất định. Nhiều NBC cho rằng cơ quan, người THTT không tạo điều kiện cho NBTG, bị can, bị cáo tìm NBC; NBC bị cơ quan, người THTT gây khó khăn, phiền hà khi hành nghề; không ít người THTT chưa tôn trọng và lắng nghe ý kiến của NBC, vẫn tồn tại tình trạng Kiểm sát viên “không thèm” tranh luận với NBC, chỉ giữ nguyên ý kiến; mối quan hệ ứng xử giữa NBC với Kiểm sát viên, Thẩm phán tại phiên tòa vẫn còn những xung đột căng thẳng không đáng có; NBC có thái độ thiếu tôn trọng người THTT, thiếu chuẩn mực ở chốn công đường; nhiều trường hợp NBC tự mình hoặc xúi giục thân chủ thực hiện những thủ đoạn “tiểu xảo” nhằm trì hoãn vụ án…Lý do giữa NBC và cơ quan, người THTT không tìm được tiếng nói chung xuất phát từ đặc thù nghề nghiệp: cùng hướng đến một đối tượng là NBTG, bị can, bị cáo nhưng một bên thì gỡ tội, còn một bên thì buộc tội. Bên cạnh đó, còn xuất phát từ việc chưa có qui định cụ thể về mối quan hệ giữa hai bên chủ thể này. Luận văn: Giải pháp Chế định người bào chữa trong Luật tố tụng.

Hai là, nâng cao ý thức pháp luật cho người dân và tăng cường công tác tuyên truyền, giải thích pháp luật để người dân nắm vững vị trí, vai trò của NBC. Việc nâng cao ý thức pháp luật cho người dân có ý nghĩa quan trọng đối với việc nhận thức và thực hiện các quy định của pháp luật. Trong TTHS, bằng việc nâng cao nhận thức của người dân về vai trò của Toà án, NBC, Kiểm sát viên, các nguyên tắc bảo đảm tranh tụng… cũng góp phần nâng cao chất lượng của hoạt động tranh tụng tại phiên toà . Để thực hiện được điều đó thì công tác phổ biến , giáo dục pháp luật là điều kiện tiên quyết của quá trình thi hành pháp luâṭ và có ý nghĩa , vai trò hết sức quan troṇg trong viêc̣ tăng cường pháp chế , xây dưng̣ Nhà nước pháp quyền Viêṭ Nam xã hội chủ nghĩa của dân, do dân vàvì dân. Tuyên truyền pháp luật giúp người dân, đặc biệt là NBTG, bị can, bị cáo thay đổi nhận thức về vị trí, vai trò của NBC khi cho rằng, sự tham gia tố tụng của NBC là không cần thiết và tốn kém. Mặt khác, xóa bỏ được tư tưởng hạ thấp vai trò của NBC trong nhận thức của người THTT cho rằng NBC tham gia phiên tòa “chỉ là sự trang điểm cho đẹp mà thôi”. Điều đó đã gây trở ngại lớn làm cho sự tham gia của NBC trở nên khó khăn, trong khi bản thân NBTG, bị can, bị cáo và người đại diện hợp pháp của họ lại không có khả năng bào chữa vì kiến thức pháp luật và kinh nghiệm tố tụng còn hạn chế. Việc thay đổi nhận thức của người dân về vị trí, vai trò của NBC giúp đối tượng bào chữa bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước các cơ quan, người THTT, góp phần làm tăng tính hấp dẫn của công việc bào chữa, thu hút ngày càng đông đảo đội ngũ Cử nhân Luật mới ra trường tham gia hành nghề bào chữa. Do đó, cần tiếp tục tuyên truyền một cách sâu rộng pháp luật về TTHS, pháp luật về trợ giúp pháp lý, pháp luật về LS, đặc biệt tuyên truyền về các đường lối, quan điểm của Đảng về cải cách tư pháp, nhất là việc tổ chức phiên tòa theo tinh thần cải cách tư pháp để nhân dân biết, tiếp cận được với hoạt động về bào chữa.

Ba là, nâng cao chất lượng NBC, mở rộng số lượng NBC:

Đối với đội ngũ Luật sư: Hiện nay số lượng LS còn quá ít chưa đáp ứng được nhu cầu trợ giúp pháp lý trong nhân dân. Theo Quyết định số 1072/QĐ-TTg ngày 5/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển nghề LS đến năm 2020 thì mục tiêu của Chiến lược là đến năm 2020, phát triển số lượng khoảng từ 18.000 – 20.000 LS, đạt tỷ lệ số LS trên số dân khoảng 1/4.500 đáp ứng ngày càng cao nhu cầu về dịch vụ pháp lý của cơ quan, tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp. Để đáp ứng được mục tiêu này, cần thiết phải có những sửa đổi, bổ sung phù hợp như: mở rộng đối tượng được tham gia hành nghề LS đối với giảng viên luật đang giảng dạy tại các trường đại học, cao đẳng và trung học chuyên nghiệp, những người làm công tác pháp luật có trình độ Cử nhân Luật trở lên, đã qua lớp đào tạo nghề LS đang công tác tại các cơ quan, tổ chức. Bởi họ là những người có kiến thức pháp luật vững chắc và phù hợp với nghề LS. Sự tham gia của đội ngũ này không chỉ đáp ứng về chất lượng mà còn bổ sung hiệu quả về số lượng LS đang thiếu hụt. Vì vậy, cần sớm bổ sung quy định của Luật LS theo hướng mở rộng đối tượng được tham gia hành nghề LS như trên; Luận văn: Giải pháp Chế định người bào chữa trong Luật tố tụng.

Đối với đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý: Mặc dù công tác đào tạo đội ngũ LS đã đáp ứng phần nào nhu cầu của người dân về hỗ trợ pháp lý. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt ở những nơi miền núi, vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và người nghèo thì việc mời LS tham gia tố tụng là rất khó bởi kinh tế của họ còn khó khăn, những trang trải cho cuộc sống thường nhật còn chưa đủ thì lấy đâu tiền để thuê LS bào chữa. Vì vậy, phát triển đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý ở các địa phương sẽ là giải pháp hiệu quả nhằm tăng cường hoạt động bào chữa.

Do đó, để phát triển đội ngũ NBC phục vụ công cuộc cải cách tư pháp, xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, Chính phủ cần quan tâm, bố trí nguồn ngân sách thỏa đáng để hỗ trợ tổ chức và hoạt động của NBC như: Tăng chi phí trả thù lao cho NBC trong những vụ án chỉ định, vì hiện nay, chế độ thù lao cho họ quá thấp, không đủ trang trải những chi phí tối thiểu đã bỏ ra, nên chưa tạo được động lực để đội ngũ này toàn tâm, toàn ý với công việc; cần có chế độ đãi ngộ xứng đáng đối với đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý như: chế độ phụ cấp thâm niên, phụ cấp công vụ để thu hút lực lượng trẻ, có năng lực vào làm công tác trợ giúp pháp lý, tạo điều kiện để phát triển đội ngũ LS, Trợ giúp viên pháp lý có năng lực, trình độ và kỹ năng tranh tụng. Như vậy, mới tăng cường đội ngũ NBC đặc biệt là LS và Trợ giúp viên pháp lý cả về số lượng và chất lượng nhằm đáp ứng kịp thời và có hiệu quả nhu cầu của thực tiễn TTHS.

Cần tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng, tập huấn chuyên sâu để nâng cao trình độ và kỹ năng tranh tụng cho NBC: cần phải đổi mới nội dung, chương trình đào tạo, trong chương trình đào tạo cần chú trọng trang bị các kỹ năng về tranh tụng tại phiên tòa; kỹ năng thu thập và xuất trình đồ vật, tài liệu làm chứng cứ của vụ án; kỹ năng nghiên cứu hồ sơ; kỹ năng viết bản bào chữa, xét hỏi làm rõ sự vô tội và các tình tiết giảm nhẹ cho thân chủ; kỹ năng tranh luận thể hiện sự hùng biện khi thuyết phục HĐXX bằng sự lập luận chặt chẽ, có các tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho quan điểm của mình. Việc đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao kiến thức pháp luật và kỹ năng tranh tụng cho NBC là một việc làm cần thiết nhằm khắc phục yếu kém, những “lỗ hổng” về chuyên môn nghiệp vụ, những biểu hiện trái với đạo đức nghề nghiệp của NBC. NBC phải nhận thức và nêu cao hơn nữa trách nhiệm của mình khi tham gia tố tụng bảo vệ quyền lợi cho NBTG, bị can, bị cáo, phải thường xuyên được cập nhật kiến thức pháp luật và bồi dưỡng nghiệp vụ để đáp ứng yêu cầu thực tiễn, thực hiện quyền bào chữa của NBTG, bị can, bị cáo có hiệu quả. Có như vậy, đội ngũ NBC của nước ta mới xứng tầm với NBC của các nước trong khu vực và trên thế giới.

Bên cạnh đó, thường xuyên có những cuộc tọa đàm ở từng cụm, khu vực để trao đổi, học tập kinh nghiệm trong hoạt động tranh tụng; mở rộng hợp tác đào tạo kiến thức và kỹ năng hành nghề; tăng cường hợp tác trao đổi với các tổ chức LS nước ngoài để học hỏi kinh nghiệm. Luận văn: Giải pháp Chế định người bào chữa trong Luật tố tụng.

Bốn là, nên đổi mới vị trí chỗ ngồi của người THTT và NBC nhằm tạo sự bình đẳng về vị trí của NBC. Hiện nay, có nhiều ý kiến cho rằng việc đổi mới vị trí ngồi cho NBC nhằm nâng cao vị trí của NBC trong việc tham gia TTHS, tạo sự bình đẳng trong tranh tụng. Về vấn đề này trên diễn đàn pháp lý còn nhiều ý kiến tranh cãi. Có ý kiến cho rằng để Kiểm sát viên ngồi ngang hàng với HĐXX vừa thể hiện sự bất bình đẳng về vị thế giữa bên buộc tội và bên gỡ tội, vừa dễ tạo cảm giác thiếu khách quan khi Tòa xử án. Việc đổi mới vị trí ngồi của những người THTT và NBC chính là sự thể hiện của tinh thần thay đổi từ mô hình tố tụng xét hỏi sang mô hình tố tụng tranh tụng. HĐXX giữ vai trò tài phán nên phải ngồi ở vị trí biệt lập và cao nhất. Còn đại diện VKS và NBC lần lượt giữ các vai trò buộc tội và gỡ tội. Hai thành phần này có vai trò ngang nhau trong tố tụng nên cần phải ngồi ngang hàng nhau[26]. Ý kiến khác cho rằng, nếu qui định vị trí chỗ ngồi của NBC như trên là chưa chuẩn xác vì NBC giữ vai trò gỡ tội còn VKS giữ vai trò buộc tội nên có vai trò ngang nhau là không đúng, chỉ với VAHS, VKS mới thực hiện chức năng thực hành quyền công tố (buộc tội) tại phiên tòa, bên cạnh đó VKS còn tham gia xét xử các vụ án dân sự, kinh tế, hành chính,… tại các phiên tòa này, VKS không thực hiện chức năng buộc tội. Tại tất cả các phiên tòa (kể cả phiên tòa hình sự), đại diện VKS còn thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của HĐXX và những người tham gia tố tụng, bảo đảm việc tuân theo pháp luật và việc chấp hành pháp luật được thực hiện nghiêm chỉnh thống nhất trong hoạt động xét xử. Khi thực hiện những nhiệm vụ này, đại diện VKS nhân danh Nhà nước bảo vệ các lợi ích Nhà nước, lợi ích công, quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân. Những quyền năng pháp lý quan trọng này của VKS đều được quy định tại Hiến pháp, Bộ luật Tố tụng Dân sự, Luật Tố tụng Hành chính… Xét về mặt tổ chức bộ máy Nhà nước ta, thì VKS đều có vai trò, ví trí ngang hàng với hệ thống TA. Trong khi đó, vai trò của NBC chủ yếu là bào chữa, bảo vệ cho một hay một số “thân chủ” tại những phiên tòa theo yêu cầu hoặc được chỉ định theo quy định pháp luật. Nên vị trí của VKS không nên đặt mối quan hệ so sánh và không thể so sánh ngang hàng với NBC [24]. Theo chúng tôi, cần quy định lại vị trí ngồi của NBC và Kiểm sát viên tại các phiên tòa hình sự theo hướng để NBC được ngồi ở ghế đối diện ngang bằng với KSV và gần bị cáo. Ở vị trí này, NBC vừa có điều kiện dễ dàng tiếp xúc với bị cáo vừa có sự ngang bằng, bình đẳng với KSV. Quy định này thể hiện sự bình đẳng trước Toà án của NBC và Kiểm sát viên.

KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp Chế định người bào chữa trong Luật tố tụng.

Từ sự nghiên cứu về chế định NBC trong luật TTHS Việt Nam và qua đánh giá thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Hải Dương, với khả năng nghiên cứu còn hạn chế và giới hạn cho phép của Luận văn, tác giả đã đạt được một số kết quả khiêm tốn sau:

Thứ nhất, bằng việc nêu và phân tích một số quan điểm khác nhau về NBC, tác giả khái quát một số đặc điểm của NBC. Từ đó, đưa ra khái niệm đầy đủ về NBC và chế định NBC trong TTHS. Phân tích các qui định của pháp luật TTHS về chủ thể bào chữa, đối tượng bào chữa, địa vị pháp lý của NBC, quyền và nghĩa vụ của NBC,… Chủ thể bào chữa trong pháp luật TTHS không chỉ bao gồm các chủ thể được qui định trong BLTTHS năm 2003 (LS, BCVND, người đại diện hợp pháp của NBTG, bị can, bị cáo) mà còn bao gồm chủ thể bào chữa mới là Trợ giúp viên pháp lý được qui định trong Luật Trợ giúp pháp lý năm 2006. Đối tượng bào chữa không chỉ bao gồm NBTG, bị can, bị cáo theo luật mà còn bổ sung thêm người bị bắt, người bị kết án.

Thứ hai, bằng việc khảo sát và qua những con số thống kê cụ thể, tác giả phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng chế định NBC tại địa bàn tỉnh Hải Dương, làm rõ những kết quả đạt được, tồn tại, hạn chế khi áp dụng chế định này, nguyên nhân của những kết quả đạt được và hạn chế đó. Mặt khác, tác giả cũng phân tích một cách khái quát mô hình TTHS của một số nước trên thế giới trong việc áp dụng chế định NBC nhằm thấy được những ưu, nhược điểm của các mô hình tố tụng này qua đó hiểu rõ hơn về mô hình TTHS của Việt Nam.

Thứ ba, từ hiệu quả của việc áp dụng chế định NBC và những hạn chế, bất cập trong thực tiễn, Luận văn đưa ra một số kiến nghị và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả áp dụng các qui định của pháp luật TTHS về chế định NBC trong thực tiễn. Luận văn: Giải pháp Chế định người bào chữa trong Luật tố tụng.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Chế định người bào chữa trong Luật tố tụng

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *