Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực trạng chăm sóc nuôi dưỡng trong trường mầm non hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Thực trạng quản lý hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trong trường mầm non Hoa Hồng, quận Đống Đa, Hà Nội dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1. Khái quát về Quận Đống Đa
2.1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên, Kinh tế – Chính trị, Văn hoá – Xã hội của phường Thịnh Quang, quận Đống Đa, Hà Nội.
- Thịnh Quang là một phường thuộc quận Đống Đa, thành phố Hà Nội. Diện tích: 0,46 km²
- Dân số: 17164 người (năm 1999)
- Mật độ dân số đạt 37313 người/km².
Phường Thịnh Quang có đặc điểm vừa có phố vừa có làng, quá trình đô thị hóa không đồng đều, trên địa bàn có mật độ dân cư khá đông. Nhân dân trong phường đa phần là cán bộ, công chức, hưu trí và người lao động sinh sống chủ yếu tại các khu tập thể lắp ghép từ những năm 1970, hiện đã xuống cấp, hư hỏng. Trên địa bàn còn có các dự án quy hoạch từ nhiều năm về trước nhưng chưa được triển khai khiến việc xin cấp phép xây dựng của người dân gặp không ít khó khăn và bị giới hạn nhiều về quy mô xây dựng.
Trên địa bàn phường có các trường công lập từ mầm non đến trung học phổ thông công lập thuận tiện cho nhân dân trong phường gửi con đến trường Trường mầm non: 02 trường (mầm non Hoa Hồng + mầm non Vĩnh Hồ); trường tiểu học: 02 trường ( tiểu học Thịnh Quang + tiểu học Thái Thịnh); trường trung học cơ sở: 01 trường (trung học cơ sở Thái Thịnh); trường trung học phổ thông: 01 trường (trung học phổ thông Quang Trung).
Trong những năm qua, Ủy ban nhân dân phường Thịnh Quang luôn quan tâm đến công tác y tế, chăm sóc sức khỏe ban đầu bảo vệ và chăm sóc trẻ em,chương trình y tế học đường, tiêm chủng mở rộng, phòng chống suy dinh dưỡng, phát triển giáo dục trên địa bàn phường.
Phường đã kiện toàn BCĐ, thường xuyên tổ chức các đợt kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm, chỉ đạo triển khai các biện pháp phòng chống các loại dịch bệnh. Trạm y tế phường triển khai tổ chức chiến dịch uống Vitamin A + thuốc tẩy giun cho trẻ từ 6 – 36 tháng tuổi cho 1.015 trẻ. Tổ chức tiêm phòng viêm não Nhật Bản, sởi, quai bị, Rubela cho trẻ em trong độ tuổi trên địa bàn đạt tỷ lệ trên 97%. Tập huấn kiến thức Vệ sinh an toàn thực phẩm cho 90 cơ sở. Phối hợp với các ban ngành đoàn thể và cán bộ cơ sở tổ chức 08 lớp truyền thông nâng cao kiến thức vệ sinh an toàn thực phẩm, phát trên 2.000 tờ rơi phòng chống dịch bệnh.Trên địa bàn phường chưa có vụ ngộ độc thực phẩm nào xảy ra.Triển khai chiến dịch VSMT, phun thuốc khử trùng tiêu độc năm 2024 ở các khu vực có nguy cơ lây nhiễm dịch bệnh UBND phường Thịnh Quang luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo của Quận, Đảng ủy, HĐND, được sự đồng thuận của hệ thống chính trị và nhân dân toàn phường, năm 2025 phường đã triển khai các kế hoạch thực hiện nhiệm vụ, chỉ tiêu được giao. Kinh tế trên địa bàn duy trì ổn định; tiết kiệm chi ngân sách đồng thời đảm bảo cho các hoạt động của Phường. Xây dựng và QL- ĐT, GPMB được chú trọng, triển khai tích cực kế hoạch chỉnh trang đô thị, TTĐT, VSMT kết quả có nhiều chuyển biến tích cực; Các hoạt động Văn hóa –Xã hội được duy trì, công tác tuyên truyền các sự kiện trọng đại và lễ tết được tập trung thực hiện. An ninh chính trị được giữ vững, trật tự an toàn xã hội, quốc phòng địa phương bảo đảm. Xây dựng và triển khai đề án sắp xếp tổ chức ở địa bàn khu dân cư, công tác CCHC được duy trì tốt. Những kết quả trên đã góp phần đảm bảo hoàn thành các nhiệm vụ chính trị và nhiệm vụ chung của toàn phường.
2.1.2 Khái quát về Giáo dục mầm non quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội Luận văn: Thực trạng chăm sóc nuôi dưỡng trong trường mầm non.
Cấp học Mầm non đã được sự quan tâm chỉ đạo, tạo mọi điều kiện của Quận uỷ, HĐND, Ủy ban nhân dân quận Đống Đa, được ưu tiên giành quỹ đất để xây dựng trường mầm non; nhiều trường đã được đưa vào Kế hoạch và tiến hành cải tạo sửa chữa lớn, đầu tư cơ sở vật chất các trang thiết bị hiện đại phục vụ cho công tác chăm sóc nuôi dạy trẻ, đẩy mạnh việc xây dựng trường học đạt chuẩn Quốc gia trên địa bàn. Đội ngũ các trường cơ bản ổn định và được quan tâm hưởng đầy đủ các chế độ chính sách.
Được sự quan tâm và chỉ đạo sát sao về chuyên môn của phòng Mầm non Sở Giáo dục và Đào tạo trong việc thực hiện nhiệm vụ năm học, thực hiện chương trình Giáo dục mầm non mới. Đặc biệt, việc triển khai thực hiện Bộ Chuẩn phát triển trẻ năm tuổi, Phổ cập giáo dục cho trẻ em năm tuổi.Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên có tinh thần trách nhiệm, yêu nghề, mến trẻ, luôn có ý thức học hỏi nâng cao tay nghề và chuyên môn nghiệp vụ. Tỷ lệ giáo viên có trình độ trên chuẩn và trình độ tin học cao.
Các văn bản hướng dẫn công tác thu chi của Thành phố, Sở Giáo dục và đào tạo Hà Nội đó tạo điều kiện thuận lợi cho các trường mầm non trong việc thực hiện nhiệm vụ quản lý, tổ chức các hoạt động chăm sóc giáo dục trẻ ngay từ đầu năm học.
Công tác xã hội hoá giáo dục mầm non ngày càng được đẩy mạnh, có sự phối kết hợp chặt chẽ, đồng bộ, thường xuyên với các Phòng ban, ngành trong quận và các phường để cùng chăm lo cho giáo dục mầm non.
Bên cạnh những thuận lợi, cấp học mầm non quận Đống Đa cũng gặp những khó khăn như:Còn có nhiều trường, lớp chật hẹp ở chung với các hộ dân, nhiều địa điểm lẻ, chưa đáp ứng được với nhu cầu gửi con của nhân dân, nhiều trường mầm non đều vượt quá chỉ tiêu so với quy định chưa đáp ứng được nhu cầu gửi con của nhân dân địa phương; tình hình giá cả thị trường luôn biến động ảnh hưởng đến việc điều chỉnh chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ.
Đội ngũ cán bộ quản lý, chỉ đạo của phòng Giáo dục và Đào tạo và một số trường có nhiều thay đổi trong học kỳ, chưa có nhiều kinh nghiệm trong công tác quản lý, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ năm học.
2.1.3 Khái quát về trường mầm non Hoa Hồng, Quận Đống Đa, Hà Nội
Trường mầm non Hoa Hồng có địa chỉ tại số 50 Thái Thịnh II, phường Thịnh Quang, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội.
Trường mầm non Hoa Hồng có 01 điểm trường,được thành lập từ năm 1973; năm 1999 – 2010 trường được xây dựng lại với quy mô 8 lớp học; năm học 2019-2020 trường được nâng cấp, sửa chữa, xây dựng lại một khu nhà; năm 2021- 2022 trường đạt trường chuẩn Quốc Gia mức độ 1. Luận văn: Thực trạng chăm sóc nuôi dưỡng trong trường mầm non.
Trường mầm non Hoa Hồng nằm ngay trên mặt phố trước đây là ngõ Thái Thịnh nay là phố Yên Lãng rất thuận tiện cho phụ huynh đưa, đón con đến trường. Nhà trường luôn được sự quan tâm ủng hộ tạo điều kiện về vật chất, tinh thần của các cấp lãnh đạo như: Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội, Quận uỷ, HĐND, Ủy ban nhân dân quận, phòng Giáo dục và Đào tạo quận Đống Đa, Ủy ban nhân dân phường Thịnh Quang, các ban ngành đoàn thể của địa phương và sự phối kết hợp chặt chẽ của hội cha mẹ học sinh.
Từ năm 2011 đến năm 2025 nhà trường liên tục đạt tập thể lao động xuất sắc cấp Thành phố; năm học 2016 – 2017 đạt bằng khen của thủ tướng chính phủ; năm học 2022- 2023 làm điểm toàn diện cho Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội về công tác chăm sóc và giáo dục.
Năm học 2023- 2024 đạt Bằng khen hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ công tác năm học 2023 – 2024 của Ủy ban nhân dân Thành phố.
Năm học 2024 – 2025 nhà trường đạt cờ thi đua: là: “Đơn vị xuất sắc trong phong trào thi đua của Ủy ban nhân dân TP Hà Nội”; đạt kiểm định chất lượng giáo dục mức độ 3.
- Về cơ sở vật chất:
Nhà trường có môi trường khang trang sạch sẽ, khuôn viên rộng nhiều cây xanh tỏa bóng mát, bồn hoa, cây xung quanh trường giúp trẻ gần gũi hơn với thiên nhiên, đồ chơi ngoài trời phong phú, đảm bảo an toàn phù hợp với trẻ. Nhà trường có đủ các phòng học, các phòng chức năng với đầy đủ các đồ dùng, thiết bị hiện đại phục vụ cho việc giáo dục, chăm sóc. Bếp ăn được xây dựng theo đúng quy trình bếp một chiều đảm bảo vệ sinh ATTP, đồ dùng hiện đại được ioc hóa 100%.
- Về cơ cấu tổ chức:
Nhà trường có đầy đủ cơ cấu tổ chức gồm: Tổ chức Đảng Cộng sản Việt Nam, ban giám hiệu (gồm hiệu trưởng và các phó hiệu trưởng), đại diện công đoàn, đại diện đoàn thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh, đại diện các tổ chuyên môn, đại diện tổ văn phòng.
- Hội đồng nhà trường có 9 đồng chí gồm chủ tịch hội đồng – hiệu trưởng, thư ký và các thành viên khác.
Cơ cấu tổ chức của nhà trường năm học 2023 -2024 chi bộ có 6 đồng chí đảng viên, cấp ủy: 2 đồng chí. Ban giám hiệu có 3 đồng chí trong đó hiệu trưởng: 01 đồng chí; phó hiệu trưởng: 02 đồng chí; hội đồng nhà trường trường: 09 đồng chí. Nhà trường có tổ chuyên môn và tổ văn phòng. Tổ chuyên môn gồm 2 tổ: Tổ dạy có 37 đồng chí, tổ nuôi dưỡng có 10 đồng chí; tổ văn phòng có 8 đồng chí. Nhà trường có 708 học sinh/12 lớp chia thành 04 khối (Khối nhà trẻ, khối MG bé, khối MG nhỡ, khối MG lớn). Công đoàn có 58 đồng chí, đoàn thanh niên có 20 đồng chí.
- Đội ngũ giáo viên, nhân viên: Luận văn: Thực trạng chăm sóc nuôi dưỡng trong trường mầm non.
Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên gương mẫu chấp hành tốt mọi chủ trương đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước, thực hiện nghiêm túc nội quy, quy chế dân chủ trong trường học, có ý thức tổ chức kỷ luật; năng động trong công tác; có chuyên môn nghiệp vụ vững vàng; có trách nhiệm trong công việc, nhiệt tình tham gia các phong trào của ngành cũng như địa phương phát động. 100% giáo viên có trình độ đạt chuẩn, trong đó 54% giáo viên có trình độ trên chuẩn. 100% nhân viên nuôi dưỡng có bằng từ sơ cấp đến trung cấp, nấu ăn.
- Về chất lượng giáo dục, chăm sóc, nuôi dưỡng:
Nhà trường thực hiện tốt và không ngừng nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục nhằm giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp một; hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lí, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kĩ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời 100% trẻ được tổ chức bán trú và học 2 buổi/ngày, trẻ được đảm bảo an toàn mọi lúc mọi nơi. Tỉ lệ trẻ Suy dinh dưỡng giảm so với đầu mỗi năm học. Hàng năm đạt từ 90 – 98% trẻ nắm được các yêu cầu, kiến thức, kỹ năng theo từng độ tuổi. Tỉ lệ chuyên cần của trẻ luôn đảm bảo đạt từ 85 – 95%.
2.2. Thực trạng hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trong trường mầm non Hoa Hồng quận Đống Đa, Hà Nội: Luận văn: Thực trạng chăm sóc nuôi dưỡng trong trường mầm non.
2.2.1 Thực trạng thực hiện mục tiêu chăm sóc, giáo dục trẻ:
Trong những năm qua nhà trường luôn chú trọng nhằm đạt được mục tiêu giúp trẻ em phát triển về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp một. Hình thành cho trẻ những cơ sở đầu tiên của nhân cách con người.
Trẻ khỏe mạnh, nhanh nhẹn, cơ thể phát triển hài hòa, cân đối. Giàu lòng thương, biết quan tâm, nhường nhịn những người gần gũi, thật thà, lễ phép, mạnh dạn, hồn nhiên.Yêu thích cái đẹp, biết giữ gìn cái đẹp và mong muốn tạo ra cái đẹp ở xung quanh…Thông minh, ham hiểu biết, thích khám phá tìm tòi, có một số kĩ năng sơ đẳng.
- Bảng 2.1 Kết quả thực hiện mục tiêu giáo dục trong trường mầm non Hoa Hồng.
Nhìn vào bảng 2.1 ta thấy thực trạng thực hiện mục tiêu giáo dục lĩnh vực thể chất còn thấp so với các lĩnh vực khác đồng thời năm sau còn thấp hơn so với năm học trước do tỉ lệ trẻ có nguy cơ thừa cân, béo phì tăng hơn.
2.2.2. Thực trạng thực hiện nội dung nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ
Công tác chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ được coi là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu nên nhà trường đã chỉ đạo giáo viên nhân viên nghiêm túc thực hiện Quy chế nuôi dạy trẻ mầm non. Công tác phòng chống tai nạn, thương tích nhà trường quan tâm, đảm bảo an toàn tuyệt đối cho trẻ, không để xảy ra tai nạn, dịch bệnh, ngộ độc trong trường. Nhà trường thực hiện nghiêm túc Thông tư 13/2020/TT-BGD&ĐT ngày 15/4/2020 về việc ban hành Quy định về xây dựng trường học an toàn, phòng chống tai nạn, thương tích trong các cơ sở giáo dục mầm non và các triển khai đến 100% cán bộ giáo viên, nhân viên trong nhà trường. Tự kiểm tra đánh giá theo Bảng kiểm của Thông tư và có kế hoạch đầu tư để thực hiện có hiệu quả. Nhà trường được cấp Giấy chứng nhận “Trường học an toàn, phòng, chống tai nạn thương tích” từ năm học 2023 – 2024.
Triển khai thực hiện Thông tư 22 về công tác Y tế trường học Ban giám hiệu và nhân viên y tế phối hợp với Trung tâm y tế quận xây dựng kế hoạch thực hiện công tác y tế trường học và kế hoạch phòng chống dịch bệnh trong nhà trường; phối hợp chặt chẽ với trung tâm y tế quận tổ chức tập huấn cho đội ngũ cán bộ, nhân viên nuôi dưỡng, y tế về công tác Phòng chống dịch bệnh trong nhà trường và sơ cấp cứu một số tại nạn, bệnh thường gặp trong các trường mầm non, tập huấn về công tác vệ sinh an toàn thực phẩm. Phối hợp với TT y tế quận,phường kịp thời xử lý phun thuốc khử trùng, sát khuẩn ở những điểm có nguy cơ mắc bệnh, kiên quyết không để dịch bệnh lan tràn. Luận văn: Thực trạng chăm sóc nuôi dưỡng trong trường mầm non.
Nhà trường đã chủ động có biện pháp phòng chống dịch bệnh tốt nhà trường không để xảy ra ngộ độc thực phẩm, hay dịch bệnh trong các nhà trường. Phối hợp với phòng Y tế và cơ quan chuyên môn y tế kiểm tra để được cấp Giấy bếp ăn đảm bảo an toàn.
Nhà trường đã tập trung thực hiện các biện pháp để triển khai tốt công tác nuôi dưỡng và chăm sóc bảo vệ sức khỏe cho trẻ, tổ chức bán trú như: tiến hành kí kết với các đơn vị cung cấp thực phẩm về điều kiện và chất lượng cung cấp để sử dụng thực phẩm sạch, an toàn, đảm bảo vệ sinh bếp ăn an toàn…thực hiện nghiêm túc hệ thống sổ sách nuôi dưỡng, quy trình dây chuyền bếp ăn 1 chiều theo quy định. Thực hiện nghiêm túc có hiệu quả việc nâng cao chất lượng bữa ăn, xây dựng thực đơn phù hợp với khẩu vị trẻ, tăng cường tự chế biến món ăn cho trẻ, sử dụng các món ăn tổng hợp nhiều loại thực phẩm có hàm lượng dinh dưỡng cao, tỷ lệ các chất cân đối, chú ý đến tỷ lệ Can xi, B1 theo lứa tuổi trong thực đơn, đảm bảo định lượng calo theo từng độ tuổi. Tổ chức tốt các buổi kiến tập, học tập việc tổ chức Hội thi thực hiện quy chế chăm sóc nuôi dạy trẻ. Nhà trường tổ chức hội thi xây dựng thực đơn, chế biến món ăn cho trẻ mầm non, nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng tại nhà trường. Hội thi nhân viên nuôi dưỡng giỏi cấp quận với hình thức tổ chức thi tại trường là cơ hội để nhân viên được bồi dưỡng trực tiếp và kết quả cũng thực chất hơn, không mang tính trình diễn, thể hiện được khả năng, tài khéo léo trong việc lựa chọn và phối hợp các loại thực phẩm, sáng tạo trong kỹ thuật chế biến, phối hợp dây chuyền chế biến… tạo được nhiều món ăn ngon, lạ mắt giúp trẻ hứng thú và ăn ngon miệng hơn.
Thực hiện nghiêm túc việc cân, đo và phối hợp với Trung tâm y tế quận tổ chức khám sức khoẻ định kỳ cho học sinh và có nhiều biện pháp để cân và khám sức khoẻ cho trẻ đạt tỷ lệ cao (khám SK đạt 99,5% và cân, đo đạt 100%).
Tuy nhiên, đối với cấp học mầm non số trẻ đi học ở các tháng không ổn định vì vậy kết quả cân, đo hay khám sức khỏe so sánh giữa các đợt không chính xác bởi trong số trẻ suy dinh dưỡng hoặc nguy cơ béo phì có cả các cháu mới.
Công tác tuyên truyền tới các bậc cha mẹ và cộng đồng xã hội về việc hỗ trợ để đảm bảo an toàn, phòng chống tai nạn thương tích, chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ tại gia đình còn hạn chế.
2.2.3 Thực trạng kết quả nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ Luận văn: Thực trạng chăm sóc nuôi dưỡng trong trường mầm non.
Trong những năm gần đây chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng của trường mầm non Hoa Hồng đã có những kết quả như sau:
- Bảng 2.2 Kết quả chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ trong trường mầm non Hoa Hồng
Nhìn vào bảng 2.2 ta thấy thực trạng tỷ lệ thừa cân béo phì, số trẻ mắc bệnh ngày càng có nguy cơ gia tăng, bên cạnh đó tỷ lệ Suy dinh dưỡng và thấp còi có giảm nhưng không đáng kể. Cần có tác động tích cực hơn để tạo được chuyển biến về sự phát triển cân đối, hài hòa của trẻ.
- Bảng 2.3: Nhu cầu dinh dưỡng 1 trẻ / 1 ngày đạt được ở trường (so với nhu cầu của viện dinh dưỡng năm 1997)
Trong bảng 2.3 ta thấy tỷ lệ cân đối giữa các chất trong thực đơn của trẻ còn vẫn chưa được nghiên cứu một cách khoa học, bài bản nên dẫn đến hiện tượng tỷ lệ các chất mất đi sự cân đối hài hòa.
Việc kết hợp để xây dựng ra một thực đơn chuẩn, đủ về khối lượng, cân đối về chất lượng của trẻ trong nhà trường hiện đang là một vấn đề khó khăn.
Các phần mềm quản lý nuôi dưỡng thì còn nhiều hạn chế, cách tính hàm lượng các chất còn khác nhau giữa các tài liệu nghiên cứu về dinh dưỡng và phần mềm quản lý nuôi dưỡng.
2.3. Thực trạng quản lý hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng tại trường mầm non mầm non Hoa Hồng quận Đống Đa:
2.3.1 Xây dựng kế hoạch thực hiện hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng của hiệu trưởng.
Hoạt động cụ thể cho các bộ phận liên quan đến chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ mầm non trong nhà trường
- Bảng 2.4: Đánh giá về kế hoạch của HT cho các bộ phận liên quan đến CSND trẻ.
Số liệu bảng 2.4 cho thấy: Hiệu trưởng đã triển khai kế hoạch cụ thể cho từng bộ phận liên quan đến công tác chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ, tuy nhiên do đặc điểm tình hình, số lượng, trình độ giáo viên nhân viên lại khác nhau dẫn đến kế hoạch phân công công việc cho các thành viên thực hiện là khác nhau. Luận văn: Thực trạng chăm sóc nuôi dưỡng trong trường mầm non.
Các GVNV đánh giá về kế hoạch của HT cho hoạt động bộ phận về công tác CSND trẻ đa số các thành viên được hỏi cho rằng các kế hoạch liên quan đến bộ phận CSND là khá hợp lý và cần thiết, tuy nhiên kế hoạch về công tác y tế học đường, công tác thu chi, công tác phối hợp giữa phụ huynh và nhà trường còn ít hợp lý hoặc số ít % cho rằng không hợp lý.
Hoạt động tự bồi dưỡng của giáo viên, nhân viên nâng cao kỹ năng, chuyên môn nghiệp vụ về chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ mầm non.
Bảng 2.5: Kiến thức cần có với hoạt động tự bồi dưỡng của GV- NV
- Nhìn vào bảng 2.5 ta thấy:
Vẫn còn trung bình trên 20% GV- NV chưa có ý thức tự bồi dưỡng nâng cao trình độ về kỹ năng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ về công tác chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ mầm non, phần đông đa số là GV- NV lớn tuổi hoặc GV trẻ, mới ra trường.
Việc bồi dưỡng nâng cao kỹ năng thực hiện qui chế nuôi dạy trẻ, cũng như nắm bắt các qui định là rất quan trọng vì đó là kim chỉ nam giúp GV- NV chăm sóc trẻ đảm bảo kỹ thuật, đảm bảo được khẩu phần ăn, vệ sinh môi trường hoạt động của trẻ nhưng trong khi đó thì số phần trăm GV- NV nắm được hay có ý thức tự bồi dưỡng để nâng cao kĩ năng thực hiện qui chế là chưa cao.
Bên cạnh đó các bảng kiểm của thông tư về y tế học đường, phòng chống tai nạn thương tích giúp ích cho GV- NV có đánh giá tốt hơn về thực trạng của trường học, của nhóm lớp, từ đó đưa ra những biện pháp ngay chính cho bản thân trong quá trình công tác, nhìn nhận và hiểu biết sâu sắc về cách chăm sóc cho trẻ. Tuy nhiên cũng chỉ có 70% Giáo viên nhân viên nắm được các thông tư này.
Hơn thế nữa việc biết được định lượng, khẩu phần ăn của trẻ, cách sơ cấp cứu xử lý tình huống hay những dấu hiệu bất thường ở trẻ là những kiến thức hết sức đời thường phục vụ tốt cho công tác CSND trẻ thì một số GV- NV cũng chưa cho là quan trọng hoặc không để ý tới.
Các hoạt động bồi dưỡng, nâng cao kỹ năng, chuyên môn nghiệp vụ về chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ mầm non trẻ với GV- NV
Số liệu ở bảng 2.6:cho thấy trong các hoạt động bồi dưỡng về công tác nâng cao kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ về công tác CSND trẻ thì hoạt động bồi dưỡng kỹ thuật chế biến nấu ăn và vệ sinh an toàn thực phẩm được quan tâm nhiều nhất.
Tuy nhiên, đối với đội ngũ trực tiếp CSND trẻ như GV- NV thì các nhu cầu về các hoạt động bồi dưỡng khác cũng rất quan trọng lại chưa được quan tâm nhiều hoặc dành thời lượng rất ít, như vậy việc nắm bắt được kịp thời và ghi nhớ sâu sắc sẽ rất khó khăn, các hoạt động bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ hay cập nhật thông tin cần được quan tâm nhiều hơn nữa.
- Bảng 2.6: Kết quả nghiên cứu về hoạt động bồi dưỡng GV- NV
2.3.2 Tổ chức thực hiện hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ mầm non trong nhà trường. Luận văn: Thực trạng chăm sóc nuôi dưỡng trong trường mầm non.
- Bảng 2.7: Đánh giá việc tổ chức thực hiện hoạt động CSND trẻ của HT
Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy việc tổ chức thực hiện các hoạt động quản lý CSND trẻ mầm non trong trường thu được kết quả chưa được như mong đợi, số lượng đánh giá việc tổ chức các hoạt động ở mức khá vẫn còn nhiều nhất là phân công công việc cụ thể rõ ràng đến từng bộ phận vẫn còn 20% được hỏi đánh giá khá và có 5% ở mức trung bình. Về sinh hoạt của tổ chuyên môn vẫn còn 15% đánh giá ở mức trung bình, việc tổ chức sinh hoạt tổ chuyên môn để đánh giá được hoạt động trong tuần của các tổ nhóm chuyên môn trong từng nhà trường là rất cần thiết, cần chú trọng hơn khi chỉ đạo tổ chức sinh hoạt tổ chuyên môn.
2.3.3 Chỉ đạo hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ mầm non trong nhà trường.
Trong quản lý trường mầm non thì việc chỉ đạo thực hiện các hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng là một trong những nội dung quan trọng, quyết định chất lượng của trường Mầm non ngoài hoạt động giáo dục. Để có số liệu đánh giá thực trạng thực hiện hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng qua khảo sát ý kiến của, GV, NV (phụ lục 1) về hoạt động này, kết quả thu được như sau:
- Bảng 2.8 Kết quả quản lý chỉ đạo các hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng.
Kết quả thu được từ bảng 2.8 cho thấy, đa số các ý kiến đều đánh giá các nội dung có liên quan đến hoạt động chỉ đạo việc chăm sóc, nuôi dưỡng ở mức độ tốt và rất tốt, trong đó đặc biệt thể hiện ở các nội dung như: Ký kết hợp đồng thực phẩm và giao nhận thực phẩm hàng ngày; Phân chia thực phẩm cho trẻ theo định xuất từ bếp ăn – lớp – trẻ; Chỉ đạo tổ chức các hoạt động ăn, ngủ, vệ sinh cho trẻ trên nhóm, lớp; Theo dõi sức khỏe trẻ bằng biểu đồ tăng trưởng; chỉ đạo vệ sinh, dinh dưỡng trong các các hoạt động tại nhóm lớp. Kết quả cho thấy không có ý kiến nào đánh giá ở mức độ chưa tốt, thậm chí cả mức độ bình thường mà hầu hết các ý kiến đánh giá ở mức độ tốt và rất tốt, điều đó cho thấy các trường mầm non trên địa bàn nghiên cứu rất chú trọng đến vai trò chỉ đạo thực hiện hoạt động chăm sóc và nuôi dưỡng trong nhà trường. Bên cạnh đó các nội dung: 2, 3, 7 và 8 vẫn còn những ý kiến đánh giá ở mức độ bình thường và chưa tốt, đáng kể là nội dung chỉ đạo lồng ghép giáo dục vệ sinh nói chung và chế độ dinh dưỡng trong các hoạt động tại nhóm lớp và Chỉ đạo xây dựng góc tuyên truyền và phối hợp các lực lượng xã hội trong chăm sóc, nuôi dưỡng. Kết quả này cũng cho thấy việc chỉ đạo lồng ghép giáo dục vệ sinh và đảm bảo dinh dưỡng cho trẻ chưa thực sự được thể hiện tốt trong kế hoạch chăm sóc, nuôi dưỡng, ngoài ra hoạt động phối hợp các lực lượng xã hội đặc biệt là địa phương và PHHS cũng chưa được thể hiện tốt trong kế hoạch để thấy được mối gắn kết giữa các lực lượng này trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ và thực tế cho thấy đây là những lực lượng thực sự rất cần cho việc phát triển toàn diện trẻ trong độ tuổi mầm non. Kết quả thu được từ bảng 2.8 là minh chứng giúp cho Cán bộ quản lý cần quan tâm và có hướng khắc phục để có thể cải thiện trong những năm học tiếp theo. Tập trung vào các vấn đề như mục tiêu và chỉ tiêu đặt ra cần nghiên cứu kỹ hơn và phù hợp hơn với thực tiễn của các nhà trường và liên quan đến các nguồn nhân lực, vật lực và tài lực cụ thể hơn nữa để có thể đảm bảo tính thực tiễn và khả thi các giá trị đặt ra. Luận văn: Thực trạng chăm sóc nuôi dưỡng trong trường mầm non.
2.3.4 Kiểm tra, đánh giá họat động chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ mầm non trong nhà trường.
- Bảng 2.9: Đánh giá các hoạt động giám sát, kiểm tra, thanh tra trong trường
Nhìn vào bảng số liệu trên ta thấy thực tế các hiệu trưởng thường xuyên quan tâm đến việc giám sát để đảm bảo khẩu phần ăn cũng như nguyên tắc tài chính, cũng như việc đánh giá định kì các bộ phận có liên quan đến công tác CSND trẻ trong nhà trường.
Trên thực tế thì việc giám sát dự giờ thăm lớp thường xuyên hay kiểm tra đột xuất định kì vẫn còn đến ~ 20% cho rằng chỉ được thực hiện đôi khi, hay có cả số ít % là không có.
Bên cạnh đó việc tham gia giám sát, kiểm tra của các ban ngành đoàn thể trong nhà trường còn rất yếu thiếu tính đồng bộ và định hướng cụ thể.
2.4. Đánh giá chung về thực trạng:
2.4.1 Những điểm mạnh
Trường mầm non Hoa Hồng đã tập trung thực hiện các biện pháp để triển khai tốt công tác nuôi dưỡng và chăm sóc bảo vệ sức khỏe cho trẻ, tổ chức cho trẻ bán trú tại trường như: tiến hành thẩm định các đơn vị cung cấp thực phẩm về điều kiện và chất lượng cung cấp để chỉ đạo 100% các trường về việc lựa chọn, ký kết hợp đồng sử dụng thực phẩm sạch, an toàn một cách nghiêm túc, đảm bảo vệ sinh môi trường, bếp ăn an toàn… thực hiện nghiêm túc hệ thống sổ sách nuôi dưỡng, quy trình dây chuyền bếp ăn 1 chiều theo quy định. Đã chỉ đạo và thực hiện nghiêm túc có hiệu quả việc nâng cao chất lượng bữa ăn, xây dựng thực đơn phù hợp với khẩu vị trẻ, tăng cường tự chế biến món ăn cho trẻ, chú ý sử dụng các món ăn tổng hợp nhiều loại thực phẩm có hàm lượng dinh dưỡng cao. Trước những biến động về giá cả thị trường, nhà trường đã chủ động tuyên truyền vận động cha mẹ học sinh tăng mức đóng góp tiền ăn là 25.000đ/ngày để đảm bảo đủ cơ cấu bữa ăn, tỷ lệ và cân đối các chất và năng lượng cho trẻ theo độ tuổi. Luận văn: Thực trạng chăm sóc nuôi dưỡng trong trường mầm non.
Nhà trường đã tổ chức tốt các buổi kiến tập, học tập việc tổ chức Hội thi thực hiện quy chế chăm sóc nuôi dạy trẻ, chỉ đạo các trường tổ chức hội thi xây dựng thực đơn, chế biến món ăn cho trẻ mầm non, nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng tại các trường. Tham gia Hội thi nhân viên nuôi dưỡng giỏi cấp quận với hình thức tổ chức chấm thi tại trường là cơ hội để nhà trường được bồi dưỡng trực tiếp và kết quả cũng thực chất hơn, không mang tính trình diễn, đã thể hiện được khả năng, tài khéo léo trong việc lựa chọn và phối hợp các loại thực phẩm, sáng tạo trong kỹ thuật chế biến, phối hợp dây chuyền chế biến… tạo được nhiều món ăn ngon, lạ mắt giúp trẻ hứng thú và ăn ngon miệng hơn.
2.4.2 Những hạn chế
Tỷ lệ trẻ thừa cân béo phì ngày một tăng, tỷ lệ trẻ Suy dinh dưỡng thấp còi vẫn chưa giảm.
Giá cả thực phẩm trên thị trường ngày một leo thang mâu thuẫn với nhu cầu lựa chọn các thực phẩm an toàn, thực phẩm tươi sống hiện đang là vấn đề rất khó khăn. Thành phần các chất dinh dưỡng của thực phẩm khác nhau trong nhiều tài liệu nghiên cứu, cũng như phần mềm quản lý nuôi dưỡng, chưa có sự qui chuẩn nhất định, nên dẫn đến hiện tượng mất cân đối trong việc xây dựng thực thực đơn đầy đủ, cân đối.
Đội ngũ nhân viên nuôi dưỡng tuy rất nhiệt tình với các cháu nhưng do đời sống khó khăn thời gian làm việc 9 – 10 tiếng, áp lực công việc nặng nề,làm việc với cường độ lao động cao, đòi hỏi đúng qui trình kĩ thuật và Vệ sinh an toàn thực phẩm. Một số các cô giáo MN lớn tuổi chuyển làm cô nuôi, nấu bếp chuyên môn chưa cao, chưa được đào tạo bài bản nên:
- Nhận thức của một số CNV, GV còn hạn chế.
- Việc kiểm tra chưa đồng bộ.
- Lớp học quá đông so với yêu cầu.
- Phần mềm quản lý nuôi dưỡng chưa được phát huy một cách rộng rãi, các tỷ lệ chất trong phần mềm một số thực phẩm còn chưa chuẩn xác, chênh lệch với tỷ lệ của Viện dinh dưỡng…
2.4.3 Những nguyên nhân Luận văn: Thực trạng chăm sóc nuôi dưỡng trong trường mầm non.
Sự kết hợp giữa vận động thể chất và chăm sóc sức khỏe của trẻ, GV chưa quan tâm đặc biệt đến các biện pháp giảm tỷ lệ Suy dinh dưỡng hay béo phì, nhu cầu DD của trẻ, nội dung và hình thức Giáo dục dinh dưỡng cho trẻ biết không đầy đủ, theo dõi sức khoẻ trẻ bằng biểu đồ phát triển các cô đều biết cách làm song kỹ thuật cân đo còn chưa chính xác cũng là một yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng.
Hiện nay tình hình dịch bệnh đang diễn biến rất phức tạp, nhân viên y tế của các trường trình độ còn hạn chế, khó khăn trong việc triển khai thực hiện công tác Y tế học đường trong trường mầm non, kinh phí đầu tư, trang thiết bị dành cho y tế còn nghèo nàn.
Nhận thức của phụ huynh về kiến thức dinh dưỡng và chăm sóc còn hạn chế, một số phụ huynh trẻ không nắm được nhu cầu DD và lượng thực phẩm cần thiết cho trẻ. Một số phụ huynh trẻ nuôi con theo kinh nghiệm của ông bà truyền lại. Một số phụ huynh còn nuông chiều con vì tâm lý (có 1 đến 2 con) nên trẻ đến trường không chịu ăn cơm, canh, không ăn rau…Thậm chí có cháu đến tuổi mẫu giáo không ăn cơm chỉ ăn cháo…
Xã hội phát triển thì phụ huynh càng cố gắng để cung cấp cho con mình những gì bổ dưỡng nhất nhưng lại không để ý đến việc gây nguy cơ béo phì cho trẻ. Bên cạnh đó, nhận thức của một số phụ huynh còn hạn chế và đời sống của họ còn khó khăn.
Tiểu kết Chương 2
Trong bối cảnh hiện nay nhằm thực hiện tốt, thành công Nghị quyết số 29 của trung ương về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, việc quản lý tốt, nâng cao chất lượng các trường mầm non đặc biệt là chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ là đặc biệt quan trọng, tạo điều kiện cho các lĩnh vực khác phát triển.
Qua khảo sát thực tế nhà trường luôn có sự quan tâm, coi trọng và đi sâu tìm các biện pháp để có thể triển khai tốt công tác này. Các kết quả đạt được trong công tác quản lý chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ cũng như sự phát triển toàn diện của trẻ em phản ánh trực tiếp chất lượng của các nhà trường. Tuy nhiên, trong quản lý các hoạt động CSND còn những tồn tại, yếu kém như việc quản lý hoạt động CSND còn thiếu tính đồng bộ, đội ngũ Cán bộ quản lý, GV- NV còn chưa đồng đều, chế độ đãi ngộ với ngành nghề còn chưa thỏa đáng, công tác thanh tra, kiểm tra vẫn chưa có lộ trình và mang tính cụ thể, môi trường cần thiết để tạo thuận lợi cho trẻ vận động chưa được quan tâm hay đầu tư chưa phát huy được hiệu quả, công tác tuyên truyền phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội chưa được quan tâm thực sự. Đó là những vấn đề cần được xem xét nghiên cứu, tìm hướng giải quyết để nâng cao hiệu quả của công tác quản lý hoạt động CSND trẻ trong nhà trường. Luận văn: Thực trạng chăm sóc nuôi dưỡng trong trường mầm non.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Biện pháp chăm sóc nuôi dưỡng trong trường mầm non

Pingback: Luận văn: Quản lý chăm sóc nuôi dưỡng trẻ tại trường mầm non