Luận văn: Thực tiễn của bộ luật hình sự hiện hành về lỗi vô ý

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực tiễn của bộ luật hình sự hiện hành về lỗi vô ý hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thực tiễn áp dụng các quy định của bộ luật hình sự hiện hành về lỗi vô ý dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

3.1. Khái quát chung về thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự hiện hành về lỗi vô ý từ năm 2005 đến 2010

Về tổng số vụ án do lỗi vô ý được xét xử: tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa X đã ban hành Nghị quyết số 32/1999/QH10 về việc thi hành BLHS. Sau gần 12 năm thi hành và một lần sửa đổi, bổ sung (ngày 19/6/2009), BLHS hiện hành đã phát huy được những hiệu quả tích cực trong hoạt động phòng, chống tội phạm; tình hình tội phạm nói chung và tình hình tội phạm do lỗi vô ý nói riêng cũng đã có nhiều chuyển biến nhất định, song do sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế – xã hội đã dẫn đến việc xuất hiện ngày càng nhiều hành vi nguy hiểm cho xã hội nhưng chưa được BLHS điều chỉnh một cách hợp lý. Mặc dù Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách để BLHS đến gần hơn với đời sống xã hội, nhưng trên thực tế, việc ADPL hình sự vẫn chưa thể đáp ứng được đòi hỏi của thực tiễn.

Theo biểu đồ trên cho thấy, trong sáu năm trở lại đây (2005 – 2010) tội phạm do lỗi vô ý được phát hiện và đưa ra xét xử chiếm tỷ lệ nhỏ trong tổng số vụ án được đưa ra xét xử (chỉ chiếm khoảng 9,53%) và có xu hướng giảm dần nhưng không nhiều (năm 2005 có 5573 vụ, năm 2010 có 5513 vụ). Luận văn: Thực tiễn của bộ luật hình sự hiện hành về lỗi vô ý.

Về cấu trúc các loại tội phạm do vô ý bị đưa ra xét xử: chiếm đa số trong tổng các vụ án về tội do lỗi vô ý được đưa ra xét xử trong sáu năm vừa qua (2005 – 2010) là tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (Điều 202 BLHS) – chiếm 94,61%, tiếp đó là tội vô ý làm chết người (Điều 98 BLHS) – chiếm 1,43%, tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường thủy (Điều 212 BLHS) – chiếm 1,32%, còn lại các tội vô ý khác chỉ chiếm 2,64%.

Báo cáo tổng kết công tác xét xử của Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) cũng cho thấy, trong sáu năm trở lại đây (2005 – 2010) có nhiều loại tội chưa có thực tiễn áp dụng, đồng nghĩa với việc không xử lý hình sự được một trường hợp nào thuộc các tội danh này. Ví dụ: Tội cản trở giao thông đường sắt (Điều 209 BLHS), tội vi phạm quy định điều khiển tàu bay (Điều 216 BLHS), tội đưa vào sử dụng phương tiện giao thông đường không không bảo đảm an toàn (Điều 218 BLHS), tội vi phạm quy định về sử dụng lao động trẻ em (Điều 228 BLHS), tội vô ý làm lộ bí mật công tác, tội làm mất tài liệu bí mật công tác (Điều 287 BLHS), tội chấp hành không nghiêm chỉnh mệnh lệnh (Điều 317 BLHS), tội vi phạm các quy định về bảo đảm an toàn trong chiến đấu hoặc trong huấn luyện (Điều 332 BLHS),… Hoặc có những loại tội trong sáu năm qua chỉ được áp dụng một vài lần, ví dụ: tội vi phạm quy định về quản lý vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ (Điều 234 BLHS) – được áp dụng một lần vào năm 2005; tội vô ý làm lộ bí mật Nhà nước (Điều 264 BLHS) – được áp dụng một lần vào năm 2007; v.v…

Bên cạnh những ưu điểm đạt được như việc xét xử các vụ án hình sự nhìn chung đảm bảo đúng người đúng tội. Trong số các vụ án hình sự được xét xử trong năm qua chưa phát hiện có trường hợp nào kết án oan cho người không có tội và phải bồi thường theo Nghị quyết số 388 của Ủy ban thường vụ Quốc hội (có một số trường hợp oan sai và phải bồi thường theo Nghị quyết số 388 được phát hiện trong năm 2009 là những vụ án được xét xử trong những năm trước đây, cá biệt có vụ cách đây trên 10 năm). Thì các cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa án vẫn còn có những hạn chế, thiếu sót cần nhìn nhận thẳng thắn và tìm ra giải pháp để khắc phục kịp thời, tập trung chủ yếu vào các vấn đề: định tội danh và quyết định hình phạt.

Đối với việc chứng minh lỗi vô ý trong vụ án hình sự, trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử thường xảy ra nhầm lẫn giữa lỗi vô ý vì quá tự tin với lỗi vô ý do cẩu thả dẫn đến việc không thấy được tính nguy hiểm ở mức cao hơn do lỗi vô ý vì quá tự tin; nhầm lẫn giữa lỗi vô ý vì quá tự tin với lỗi cố ý gián tiếp dẫn đến việc định tội danh sai giữa tội do lỗi vô ý và tội do lỗi cố ý; hoặc nhầm lẫn giữa lỗi vô ý với trường hợp không có lỗi dẫn đến việc định tội danh oan cho người thực hiện hành vi. Các hình thức lỗi này tương đối giống nhau nên khả năng nhầm lẫn là rất cao. Trong thực tiễn áp dụng không ít Tòa án đã xác định sai dẫn đến định tội danh oan, sai hoặc bỏ lọt tội phạm, các Bản án, quyết định có kết luận chưa thỏa đáng làm cho vụ án kéo dài qua nhiều cấp xét xử. Số lượng các vụ án về tội do lỗi vô ý có kháng cáo, kháng nghị ngày càng nhiều, đáng chú ý là các vụ án bị hủy hoặc bị trả hồ sơ để điều tra bổ sung do việc định tội danh sai vẫn chiếm tỷ lệ không nhỏ.

Từ những nhận xét chung nhất trên đây về tình hình xét xử các tội do lỗi vô ý ở nước ta trong những năm gần đây (2005 – 2010), chúng ta đã phần nào thấy được những thuận lợi, vướng mắc trong việc áp dụng các quy phạm pháp luật liên quan đến lỗi vô ý.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Luật

3.2. Thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự hiện hành về lỗi vô ý đối với các loại tội phạm cụ thể

3.2.1. Thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự hiện hành về các tội vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người (Chương XII Bộ luật hình sự)

Chương XII BLHS có 30 điều luật tương ứng với các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người (từ Điều 93 đến Điều 122 BLHS) thì có 04 tội được nhà làm luật quy định dấu hiệu lỗi vô ý trong CTTP cơ bản, đó là các tội danh tại Điều 98, 99, 108, 109 BLHS. Luận văn: Thực tiễn của bộ luật hình sự hiện hành về lỗi vô ý.

Theo số liệu thống kê tại Phụ lục 2, trong tổng số 368761 vụ án và 634874 bị cáo đưa ra xét xử, thì tổng số vụ án đưa ra xét xử về các tội vô ý trong Chương XII BLHS là 632 vụ (chiếm tỷ lệ 0,17%) và tổng số bị cáo là 722 bị cáo (chiếm tỷ lệ 0,11%). Tỷ lệ này cao nhất vào năm 2010 với 0,21% số vụ án và 0,14% số bị cáo.

Nhìn chung, số vụ và số bị cáo tăng giảm không đều, từ năm 2008 có chiều hướng gia tăng, cao nhất là năm 2010 với 122 vụ và 143 bị cáo, tăng so với năm 2009 là 16 vụ và 20 bị cáo, tăng so với năm 2008 là 21 vụ và 22 bị cáo.

Trong 632 vụ án đưa ra xét xử về tội do lỗi vô ý tại Chương XII BLHS thì số vụ án và số bị cáo được đưa ra xét xử về tội vô ý làm chết người (Điều 98 BLHS) là nhiều nhất. Trong sáu năm qua, số vụ án phải xét xử về tội vô ý làm chết người có tổng số 502 vụ và 584 bị cáo, đã xét xử 420 vụ và 481 bị cáo, trả lại hồ sơ cho Viện kiểm sát là 56 vụ và 72 bị cáo. Trung bình mỗi năm phải xét xử 83 vụ về tội danh này. Năm có số vụ án đưa ra xét xử cao nhất đó là năm 2010 với 98 vụ, năm thấp nhất là năm 2005 với 70 vụ. Số lượng vụ án có chiều hướng gia tăng, nhưng không nhiều, trung bình mỗi năm tăng từ 5 đến 10 vụ. Trung bình số vụ án bị trả hồ sơ lại cho Viện kiểm sát là 12 vụ/năm và có dấu hiệu giảm dần. Với tỷ lệ trung bình 12/83 vụ án/năm, tương đương với 14%/năm số vụ án bị trả hồ sơ, thì đây không phải con số nhỏ (xem phụ lục 3).

Mặc dù trong những năm qua số lượng các vụ án hình sự nói chung và các vụ án về tội vô ý tại Chương XII BLHS nói riêng mà Tòa án các cấp phải thụ lý là tương đối lớn, song các Tòa án đã có nhiều cố gắng đẩy nhanh quá trình giải quyết, kết quả và chất lượng xét xử cũng có nhiều tiến bộ. Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng quy định của BLHS về những tội này còn nhiều vướng mắc, tập trung chủ yếu ở nhóm tội do lỗi vô ý có hậu quả chết người.

Cụ thể như cùng là hành vi tước đoạt tính mạng của con người nhưng lỗi là dấu hiệu đặc trưng để phân biệt giữa hành vi vô ý làm chết người (Điều 98, Điều 99 BLHS) và hành vi giết người (Điều 93 BLHS) và các trường hợp đặc biệt khác của hành vi giết người (bao gồm: giết con mới đẻ, giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh, giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng). Luận văn: Thực tiễn của bộ luật hình sự hiện hành về lỗi vô ý.

Xác định đúng hình thức lỗi còn có ý nghĩa giúp chúng ta phân biệt giữa tội vô ý làm chết người với các loại tội khác cũng gây ra hậu quả chết người như: tội cố ý gây thương tích (dẫn đến chết người – khoản 3 Điều 104 BLHS), tội hiếp dâm (làm nạn nhân chết hoặc tự sát – điểm C khoản 3 Điều 111 BLHS), v.v…

Ví dụ:

Trong lúc đánh bạc, vì mâu thuẫn với Vũ Văn Tập nên Đinh Văn Đông đã cầm chiếc bát sứ đập mạnh vào cằm Tập làm chiếc bát vỡ đôi. Đông dùng mảnh bát còn lại trên tay kéo mạnh một cái vào cổ Tập rồi bỏ trốn. Tại bản kết luận giám định pháp y số 03/GĐPY ngày 02/7/1998, Tổ chức giám định pháp y tỉnh L đã kết luận: “Vũ Văn Tập bị chết do mất máu cấp vì đứt hoàn toàn động mạch và tĩnh mạch phải do tác động của vật có cạnh sắc”. Vì hành phạm tội như trên, tại Bản cáo trạng số 157/KSĐT-TA ngày 25/10/2000, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh L đã truy tố Đinh Văn Đông về tội giết người. Tuy nhiên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số 138 ngày 15/11/2000, Tòa án nhân dân tỉnh L lại cho rằng, Đinh Văn Đông không phạm tội giết người mà phạm tội cố ý gây thương tích (dẫn đến chết người) và chỉ xử phạt bị cáo Đông mười năm tù về tội này, với nhận định: về mặt chủ quan, vì không tư thù cá nhân từ trước và mâu thuẫn trên chiếu bạc cũng không nghiêm trọng, do đó Đinh Văn Đông không hề có ý định giết chết Vũ Văn Tập. Hơn nữa, khi kéo mảnh bát vỡ trúng cổ Tập bị cáo cũng không lường trước được hậu quả chết người xảy ra, mặc dù trên thực tế hành vi kéo mảnh bát mà Đinh Văn Đông đã thực hiện chính là nguyên nhân gây ra hậu quả chết người… [23].

Theo quan điểm của chúng tôi thì phân tích của Tòa án nhân dân tỉnh L là chính xác.

Để xác định xem người thực hiện hành vi gây hậu quả chết người là do lỗi vô ý hay cố ý trong thực tiễn ADPL, chủ thể có thầm quyền thường phải giải quyết hai câu hỏi như: người phạm tội có thấy trước được hành vi của mình sẽ gây ra hậu quả chết người hay không? Trong trường hợp thấy trước khả năng hậu quả sẽ xảy ra thì người phạm tội có mong muốn hậu quả đó xảy ra hay không? Hoặc có ý thức để mặc, chấp nhận hậu quả đó xảy ra hay không?

Việc định tội danh của loại tội này rất phức tạp, trong thực tiễn áp dụng pháp luật thường có một số sự nhầm lẫn sau đây:

Thứ nhất, nhầm lẫn giữa tội vô ý làm chết người với các tội gây hậu quả chết người nhưng lại vi phạm các quy tắc an toàn trong một số lĩnh vực cụ thể khác. Đa số là sẽ bị nhầm với tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Điều 99 BLHS). Bởi vì hành vi tại Điều 99 BLHS chính là trường hợp đặc biệt của tội vô ý làm chết người (Điều 98 BLHS). Người thực hiện hành vi khách quan tại Điều 99 BLHS phải đáp ứng được các điều kiện: quy tắc an toàn bị xâm phạm là quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính; người phạm tội là người có nghĩa vụ phải tuân thủ quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính này. Luận văn: Thực tiễn của bộ luật hình sự hiện hành về lỗi vô ý.

Cũng là vô ý làm chết người, nhưng người vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính phải chịu TNHS nặng hơn, vì hành vi này đã phạm những quy định có tính chất nghiệp vụ mà có liên quan trực tiếp đến tính mạng của con người, nếu vi phạm rất dễ xảy ra hậu quả chết người. Do đó, nhà làm luật đã quy định mức hình phạt tương ứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội. Ví dụ: đều là CTTP cơ bản tại Khoản 1, nhưng Điều 98 BLHS quy định mức cao nhất của khung hình phạt là đến năm năm, còn Điều 99 BLHS là đến sáu năm.

Điều 99 BLHS thực chất là quy định hai tội khác nhau từ hai hành vi khách quan độc lập đó là: tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp và tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc hành chính. Tuy nhiên, trong thực tiễn xét xử có một số hướng giải quyết sai lầm mà Tòa án hay mắc phải là:

Người phạm tội chỉ thực hiện một hành vi vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc làm chết người do vi phạm quy tắc hành chính nhưng lại xác định tội danh của họ là phạm tội “vô ý làm chết người do phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính”. Cách xác định tội danh như vậy là sai. Chúng ta chỉ được tuyên một trong hai tội danh như trên.

Hoặc người phạm tội cùng thực hiện nhiều hành vi phạm tội vô ý làm chết người trong đó vi phạm cả quy tắc nghề nghiệp và quy tắc hành chính. Các hành vi này độc lập với nhau nhưng cơ quan tiến hành tố tụng lại chỉ xác định họ phạm một tội “vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính” và áp dụng một mức hình phạt chung cho tất cả các tội đó. Việc định tội danh và quyết định hình phạt này là sai. Chúng ta phải xác định hành vi này phạm hai tội riêng biệt: tội vô ý làm chết người do phạm quy tắc nghề nghiệp và tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc hành chính. Sau đó quyết định hình phạt cho từng tội, cuối cùng là áp dụng Điều 50 BLHS để tổng hợp hình phạt.

Trong trường hợp người phạm tội làm chết nhiều người, trong số đó có một người bị chết do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính, còn những người khác bị chết không phải do vi phạm quy tắc này, thì định tội danh như thế nào? Vấn đề này hiện nay vẫn chưa có văn bản nào hướng dẫn. Từ thực tiễn xét xử cho thấy: người phạm tội vẫn bị truy cứu TNHS theo Khoản 1 Điều 99 BLHS và tùy từng trường hợp mà người phạm tội còn bị truy cứu TNHS theo Điều 98 BLHS.

Thứ hai, nhầm lẫn giữa tội vô ý làm chết người với tội do lỗi cố ý có CTTP tặng nặng với tình tiết “làm chết người”.

Khi một CTTP có hai hình thức lỗi cùng tồn tại song song – lỗi cố ý với hành vi khách quan (được quy định trong CTTP cơ bản) và lỗi vô ý với hậu quả nghiêm trọng (được quy định trong CTTP tăng nặng) hoặc hậu quả đặc biệt nghiêm trọng (được quy định trong CTTP đặc biệt nghiêm trọng) của hành vi đó và khoa học luật hình sự gọi là “hỗn hợp lỗi”. Luận văn: Thực tiễn của bộ luật hình sự hiện hành về lỗi vô ý.

Cùng là vô ý làm chết người nhưng hành vi khách quan trong hỗn hợp lỗi có tính chất, mức độ nguy hiểm hơn hành vi trong tội vô ý làm chết người, căn cứ vào đó nhà nhà làm luật cũng đã quy định mức hình phạt khác nhau đối với các hành vi này. Ví dụ: Mức cao nhất của khung hình phạt tội vô ý làm chết người theo Khoản 2 Điều 98 BLHS là đến mười năm, trong khi đó tội cố ý gây thương tích dẫn đến hậu quả chết người là mười lăm năm (Khoản 3 Điều 104 BLHS) và hai mươi năm hoặc tù chung thân đối với tội hiếp dâm có hậu quả là nạn nhân chết (điểm C Khoản 3 Điều 111 BLHS),… Việc quy định mức hình phạt này nhằm phân hóa TNHS một cách rõ ràng, tránh tình trạng xét xử oan, sai; đảm bảo sự công bằng, hợp lý khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội.

Trong một số trường hợp đặc biệt, dấu hiệu lỗi cố ý đối với hành vi và vô ý đối với hậu quả xảy ra vẫn được đề cập trong cùng một CTTP cơ bản. Ví dụ: CTTP tội bức tử (Khoản 1 Điều 100 BLHS) có quy định: “Người nào đối xử tàn ác, thường xuyên ức hiếp, ngược đãi hoặc làm nhục người lệ thuộc mình làm người đó tự sát,…”, Theo giải thích tại Nghị quyết số 04/HĐTP ngày 29/11/1986 thì mặt chủ quan của tội này có nghĩa là người phạm tội cố ý thực hiện hành vi “đối xử tàn ác, ức hiếp, ngược đãi, làm nhục” người lệ thuộc mình nhưng lại để mặc hậu quả người đó tự sát (lỗi cố ý gián tiếp) hoặc vô ý đối với hậu quả này. Chính vì thế, khi xác định tội danh, đòi hỏi cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa án phải phân tích lỗi vô ý đối với hậu quả trong mối liên hệ với tất cả các dấu hiệu khác để tránh tình trạng định sai tội danh.

3.2.2. Thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự hiện hành về các tội phạm vô ý xâm phạm sở hữu (Chương XIV Bộ luật hình sự)

Chương XIV BLHS có 13 điều luật tương ứng với các tội xâm phạm sở hữu (từ Điều 133 đến Điều 145 BLHS) thì có 02 tội được nhà làm luật quy định dấu hiệu lỗi vô ý trong CTTP cơ bản, đó là các tội danh tại Điều 144, 145 BLHS. Từ những số liệu thống kê của TANDTC về tình hình xét xử trong giai đoạn năm 2005 – 2010 cho thấy:

Theo phụ lục 4 thì trong tổng số 368761 vụ án và 634874 bị cáo đưa ra xét xử, thì tổng số vụ án đưa ra xét xử về tội do lỗi vô ý trong Chương XIV BLHS là 90 vụ (chiếm tỷ lệ 0,02%) và tổng số bị cáo là 177 bị cáo (chiếm tỷ lệ 0,03%). Tỷ lệ này cao nhất vào năm 2006 với 0,04% số vụ án và 0,04% số bị cáo. Số vụ và số bị cáo bị đưa ra xét xử về tội này trong sáu năm qua tăng giảm không đều, tuy nhiên từ năm 2008 đến nay đang có chiều hướng giảm dần. Số lượng vụ án cao nhất là năm 2006 với 23 vụ và 45 bị cáo, thấp nhất là năm 2007 với 9 vụ và 13 bị cáo. Luận văn: Thực tiễn của bộ luật hình sự hiện hành về lỗi vô ý.

Trong 90 vụ án đưa ra xét xử về tội do lỗi vô ý tại Chương XIV BLHS thì số vụ án và số bị cáo được đưa ra xét xử về tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước (Điều 144 BLHS) là nhiều nhất, gồm 58 vụ, chiếm 64,44% (xem phụ lục 5).

Trong sáu năm qua, số vụ án phải xét xử về tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước có tổng số 58 vụ án và 134 bị cáo, đã xét xử 33 vụ và 62 bị cáo, trả lại hồ sơ cho Viện kiểm sát là 18 vụ và 52 bị cáo. Trung bình mỗi năm phải xét xử gần 10 vụ án về tội này. Năm có số vụ án đưa ra xét xử cao nhất là năm 2006 với 16 vụ, năm thấp nhất là năm 2007 với 3 vụ. Số lượng vụ án tăng giảm không đều nhưng từ năm 2008 trở lại đây đang có chiều hướng giảm dần.

Trung bình số vụ án về tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước bị trả hồ sơ lại cho Viện kiểm sát là 3 vụ/năm. Số vụ án phải trả lại Viện kiểm sát tăng giảm không đều nhưng trong vòng ba năm trở lại đây (2008 – 2010) đang có dấu hiệu giảm dần. Tuy nhiên, tỷ lệ trung bình 3/10 vụ án/năm, tương đương với 30%/năm số vụ án bị trả hồ sơ lại là một con số rất lớn. Với số lượng vụ án bị trả lại nhiều như vậy chứng tỏ trong thực tiễn ADPL còn tồn tại rất nhiều điểm hạn chế. Trong đó, các vướng mắc tập trung chủ yếu khi áp dụng Điều 144 BLHS.

Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước được thực hiện do lỗi vô ý. Lỗi vô ý ở đây có thể là vô ý vì quá tự tin hoặc vô ý do cẩu thả. Trong thực tiễn xét xử đa số chủ thể thực hiện hành vi phạm tội với lỗi vô ý do cẩu thả. Và chủ thể phạm tội thường là người có quyền hạn trong việc quản lý tài sản như thủ kho, thủ quỹ,… Các vi phạm thường xảy ra trong các lĩnh vực: kế toán; ngân hàng; phòng cháy chữa cháy; chế độ quản lý tài sản, hàng hóa; v.v.. Về nguyên tắc, việc xác định lỗi vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng tài sản của Nhà nước là bắt buộc nhưng không bắt buộc phải chứng minh là người phạm tội với lỗi vô ý vì quá tự tin hay vô ý do cẩu thả. Nếu người phạm tội thực hiện hành vi với lỗi cố ý thì có thể sẽ phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 143 BLHS). Luận văn: Thực tiễn của bộ luật hình sự hiện hành về lỗi vô ý.

Thiếu trách nhiệm là thái độ của một người không làm hoặc làm nhưng không làm hết trách nhiệm được giao nên mới gây ra thiệt hại về tài sản. Một trong những nguyên nhân chủ quan dẫn đến sự thiếu trách nhiệm đó là không hiểu hết trách nhiệm, không lường trước được hậu quả trong việc thực hiện hoặc không thực hiện hành vi nào đó theo quy định của cơ quan, tổ chức và đã gây ra thiệt hại nghiêm trọng. Tuy nhiên, trong thực tiễn ADPL có trường hợp người thực hiện hành vi đã làm hết trách nhiệm nhưng thiệt hại về tài sản vẫn xảy ra và bị xác định là phạm tội này. Định tội danh như vậy là không đúng, vì thiệt hại xảy ra có thể do chủ quan của người thực hiện hành vi hoặc do khách quan đem lại nhưng không phải là do họ thiếu trách nhiệm.

Ví dụ:

Nguyễn Chí K và Đỗ Đức T là cán bộ Ngân hàng thương mại thành phố H có nhiệm vụ đem 2kg vàng về thị xã Hải Dương thuê gia công đồ trang sức, nhưng đến km 72 + 900 đường 5A thì bị tai nạn, anh K bị chết còn anh T bị thương nặng bất tỉnh. Do bị tai nạn nên bị mất 2kg vàng. Qua điều tra đã xác định tai nạn xảy ra lỗi hoàn toàn thuộc về lái xe ô tô, còn hai anh K và T không có lỗi. 2kg vàng bị mất là do Đỗ Văn H và Nho Văn M là người trong thôn Dương Thái, xã Phúc Thanh A ra xem tai nạn và nhặt được. Trong trường hợp này, hai anh K và T đã làm hết trách nhiệm được giao, không có lỗi nên không bị coi là thiếu trách nhiệm [48].

Đây là tồn lại mà các chủ thể ADPL thường hay mắc phải. Họ thường cho rằng có thiệt hại xảy ra là có sự thiếu trách nhiệm và xác định được người gây ra thiệt hại đồng nghĩa với người đó là người thực hiện hành vi phạm tội và phải chịu hình phạt mặc dù có thể họ không có lỗi. Tình trạng này cũng là một trong những nguyên nhân làm tăng số lượng các vụ án bị hủy, bị trả lại hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân vì xác định không đúng tội danh. Luận văn: Thực tiễn của bộ luật hình sự hiện hành về lỗi vô ý.

3.2.3. Thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự hiện hành về các tội phạm vô ý xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng (Chương XIX Bộ luật hình sự)

Chương XIX BLHS có 59 điều luật tương ứng với các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng (từ Điều 202 đến Điều 256 BLHS) thì có 31 tội được nhà làm luật quy định dấu hiệu lỗi vô ý trong CTTP cơ bản, đó là các tội danh tại Điều 202, 203, 204, 205, 208, 209, 210, 211, 212, 213, 214, 215, 216, 217, 218, 219, 220, 222, 223, 226, 227, 228, 229, 234, 235, 237, 239, 240, 241, 242, 244 BLHS. Chương này có số lượng điều luật quy định tội do lỗi vô ý nhiều nhất so với các chương khác trong Phần các tội phạm BLHS. Từ những số liệu thống kê của TANDTC về tình hình xét xử trong giai đoạn năm 2005 – 2010 cho thấy (xem phụ lục 6), ta thấy:

Trong tổng số 368761 vụ án và 634874 bị cáo đưa ra xét xử trong giai đoạn năm 2005 – 2010, thì tổng số vụ án đưa ra xét xử về tội do lỗi vô ý trong Chương XIX BLHS là 34326 vụ (chiếm tỷ lệ 9,31%) và tổng số bị cáo là 35891 bị cáo (chiếm tỷ lệ 5,65%). Tỷ lệ này cao nhất vào năm 2007 với 10,12% số vụ án và 6,23% số bị cáo. Nhìn chung, số vụ và số bị cáo bị đưa ra xét xử về tội này có chiều hướng giảm (từ năm 2007) nhưng không nhiều, cao nhất là năm 2007 với 6254 vụ và 6707 bị cáo, thấp nhất là năm 2010 với 5369 vụ và 5634 bị cáo.

Trong 34326 vụ án đưa ra xét xử về tội do lỗi vô ý tại Chương XIX BLHS thì số vụ án và số bị cáo được đưa ra xét xử về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (Điều 202 BLHS) là nhiều nhất, gồm 33245 vụ, chiếm 96,85%. Ngược lại, trong sáu năm qua, một số tội quy định tại Điều 209, 216, 218, 226, 228, 237 BLHS không được áp dụng để xét xử một hành vi khách quan nào. Hoặc có những điều luật có thực tiễn xét xử nhưng nhất rất ít như: Điều 219 BLHS được áp dụng một lần vào năm 2006; Điều 222, 234 BLHS được áp dụng một lần vào năm 2005, Điều 239 được áp dụng hai lần vào năm 2008;… Từ đó cho thấy thực tiễn ADPL các tội do lỗi vô ý tại chương này không đều. Luận văn: Thực tiễn của bộ luật hình sự hiện hành về lỗi vô ý.

Theo số liệu tại Phụ lục 7, trong giai đoạn từ 2005-2010, số vụ án phải xét xử về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ có tổng số 33245 vụ án và 34957 bị cáo, đã xét xử 30206 vụ và 31597 bị cáo, trả lại hồ sơ cho Viện kiểm sát là 2108 vụ và 2272 bị cáo. Trung bình mỗi năm phải xét xử 4749 vụ án về tội này, con số này lớn hơn rất nhiều lần so với các tội vô ý xâm phạm các khách thể loại khác. Năm có số vụ án đưa ra xét xử cao nhất đó là năm 2007 với 6045 vụ, năm thấp nhất là năm 2010 với 5224 vụ. Số lượng vụ án có chiều hướng giảm dần (từ năm 2007), nhưng không nhiều. Trung bình số vụ án về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ bị trả hồ sơ lại cho Viện kiểm sát là 297 vụ/năm, tương đương với 6,25% số vụ án/năm, gấp hàng trăm lần so với các tội do lỗi vô ý ở các chương khác.

Trong những năm qua, nhìn chung cơ quan bảo vệ pháp luật và ngành Tòa án nước ta đã thực hiện tương đối tốt nhiệm vụ được giao, xử đúng người, đúng tội, đúng mức phạt đối với tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ đã góp phần đảm bảo được trật tự, an toàn giao thông đường bộ trong cả nước, góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm này. Tuy nhiên, hiệu quả đấu tranh phòng chống vi phạm trong lĩnh vực này còn chưa cao. Hàng năm, số vụ tai nạn giao thông, số người chết, bị thương hay giá trị tài sản bị hủy hoại vẫn không ngừng gia tăng. Với số vụ án xảy ra hàng năm lớn như vậy nhưng việc ADPL về quy định của tội này còn quá nhiều bất cập, không đáp ứng được tình hình thực tế đang diễn ra. Chính sách pháp luật hình sự cũng như hình phạt mà Tòa án áp dụng trong một số trường hợp đối với người phạm tội chưa thực sự phát huy được tính răn đe, giáo dục ý thức pháp luật cho người dân, dẫn đến tình hình tội phạm ngày càng gia tăng.

Theo thực tiễn xét xử, hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ bị coi là tội phạm khi:

  • Hành vi này đã gây ra hậu quả thiệt hại đến tính mạng, thiệt hại nghiêm trọng đến sức khỏe, tài sản.
  • Hành vi này có khả năng thực tế gây ra hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nếu không được ngăn chặn kịp thời.

Trong thực tiễn ADPL hay có sự nhầm lẫn giữa dấu hiệu của CTTP cơ bản tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ với tình tiết tăng nặng TNHS của loại tội này, nhầm lẫn giữa vi phạm pháp luật hành chính với vi phạm pháp luật hình sự, nhầm lẫn giữa lỗi hành chính với lỗi hình sự. Ví dụ: Theo quy định tại điểm a Khoản 2 Điều 202 BLHS thì tình tiết “không có giấy phép hoặc bằng lái xe theo quy định” chỉ là một tình tiết định khung tăng nặng chứ không phải là dấu hiệu CTTP cơ bản của tội này. Giả sử, do anh A chưa học và thi lấy bằng lái xe nên đã không nắm rõ luật giao thông đường bộ nhưng lại điều khiển xe mô tô tham gia giao thông, anh A đã vượt đèn đỏ và gây ra hậu quả chết người. Ở đây cần phải hiểu rằng, cùng là hai hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ nhưng nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hậu quả chết người là do anh A vượt đèn đỏ chứ không phải do không có giấy phép lái xe. Và hành vi vượt đèn đỏ gây ra hậu quả chết người mới có ý nghĩa định tội còn việc không có giấy phép lái xe chỉ có ý nghĩa để định khung hình phạt. Thế nhưng, đôi khi chủ thể ADPL xác định không đúng mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm và hậu quả xảy ra cũng như lỗi của người vi phạm (nhầm lẫn giữa lỗi hành chính và lỗi hình sự) nên đã truy cứu TNHS oan cho người vi phạm. Họ thường coi người gây thiệt hại là người có lỗi và lấy việc họ vi phạm hành chính về quy định điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là tình tiết định tội. Cách hiểu này là hoàn toàn sai lầm, bởi vì không phải lúc nào những người tham gia giao thông có vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ đều là người có lỗi trong việc gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Hậu quả này có thể do lỗi người bị hại hoặc người thứ ba gây nên. Khi đó, hành vi của người gây thiệt hại không thể CTTP được.

Ví dụ: Luận văn: Thực tiễn của bộ luật hình sự hiện hành về lỗi vô ý.

Nguyễn Văn T trú tại huyện L, tỉnh K. Ngày 15/10/2003, T điều khiển xe mô tô hiệu Super Dream (100cm3) không có giấy phép lái xe, khi đến ngã ba thị trấn huyện L, quan sát thấy xe của Hoàng Văn B (xe mô tô hiệu Wave, 110cm3) cách xa (khoảng vài chục mét) nên T đã điều khiển xe chạy sang bên kia đường, xe của T đã đâm vào xe của B, hậu quả là B chết trên đường vào bệnh viện, còn T bị thương nhẹ. Nguyên nhân của vụ tai nạn xác định được là do B lái xe (có hơi men rượu) chạy quá nhanh, không xử lý kịp nên đã đâm vào xe của T, xảy ra tai nạn. Cơ quan điều tra công an huyện L, tỉnh K khởi tố bị can đối với T về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” theo điểm a Khoản 2 Điều 202 BLHS, do T điều khiển xe mô tô không có giấy phép lái xe gây tai nạn [37].

Theo quan điểm của chúng tôi thì cơ quan điều tra huyện L xác định hành vi của L cấu thành tội thuộc Điều 202 BLHS như trên là chưa chính xác. Đồng ý rằng T điều khiển xe mô tô mà không có giấy phép lái xe là vi phạm quy định của Luật giao thông đường bộ năm 2008 và T phải chịu trách nhiệm đối với hành vi vi phạm này. Nhưng đây là lỗi hành chính, hơn nữa việc vi phạm này không phải là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hậu quả B chết, hậu quả xảy ra là do lỗi của B. Cụ thể, khi cho xe chuyển hướng, T đã xin đường, đi đúng tốc độ cho phép, quan sát không có chướng ngại vật rồi giảm tốc độ sau đó mới sang đường. Còn B, đã sử dụng chất có hơi men trong khi điều khiển phương tiện giao thông, cho xe chạy quá tốc độ, khi thấy xe của T sang đường đã không kịp xử lý nên mới xảy ra tai nạn. Giả sử, xe của B đi đúng tốc độ cho phép, không sử dụng chất có hơi men trong khi lái xe thì có thể tai nạn đã không xảy ra. Như vậy, chúng ta phải xác định được nguyên nhân trực tiếp dẫn đến tai nạn (mối quan hệ nhân quả giữa hành vi vi phạm với hậu quả xảy ra) và phân biệt lỗi của người vi phạm là lỗi hành chính hay lỗi hình sự trước khi truy cứu TNHS đối với người thực hiện hành vi vi phạm. Bởi vì, như đã phân tích ở trên đôi khi người điều khiển phương tiện giao thông đường bộ vi phạm quy định nào đó về an toàn giao thông nhưng lại không có lỗi trong việc gây tai nạn. Luận văn: Thực tiễn của bộ luật hình sự hiện hành về lỗi vô ý.

Hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ là hành vi xâm phạm các quy tắc an toàn, trật tự công cộng. Trong thực tiễn xét xử của ngành Tòa án cũng như trong khoa học luật hình sự thì hành vi này đều được xem xét với lỗi vô ý (thường là vô ý vì quá tự tin, chỉ một số ít là vô ý do cẩu thả).

Để kịp thời đáp ứng tình hình xét xử các vụ vi phạm giao thông đường bộ trên cả nước, Hội đồng Thẩm phán TANDTC đã ban hành Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS nhưng cũng chỉ hướng dẫn cách xác định hậu quả “gây thiệt hại nghiêm trọng”, “gây hậu quả rất nghiêm trọng”, “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” được quy định tại Điều 202 BLHS mà không có hướng dẫn về mặt chủ quan hay dấu hiệu lỗi của CTTP của tội này.

Hiện nay trong thực tiễn ADPL tồn tại trường hợp “lỗi từ hai phía”- là khi xuất hiện hành vi vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ gây ra hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng, nhưng hậu quả này xảy ra có một phần lỗi của người bị hại. Tại Mục 4.1 Phần I của Nghị quyết số 02/2003/NQ-HĐTP mới chỉ hướng dẫn cách xác định hậu quả trong trường hợp hậu quả của vụ án do một hành vi vi phạm là nguyên nhân trực tiếp gây ra mà không quy định trường hợp hậu quả là do nhiều hành vi vi phạm cùng trực tiếp gây ra. Vì chưa có hướng dẫn thống nhất nên mỗi cơ quan tố tụng lại áp dụng một cách khác nhau. Trong thực tiễn áp dụng có hai hướng giải quyết như sau:

Chỉ xác định hậu quả của vụ án và mối quan hệ với hành vi của người gây thiệt hại mà không xem xét lỗi của người bị hại – cũng là nguyên nhân trực tiếp gây ra hậu quả, dựa vào hậu quả chung để xác định tội danh và định khung hình phạt cho người gây thiệt hại. Hướng giải quyết này đang tồn tại rất nhiều sai lầm, bởi vì trong trường hợp này người bị hại cũng có hành vi phạm về quy định điều khiển phương tiện giao thông nên phải định tội danh cho hành vi này của người bị hại khi nó đáp ứng đủ các dấu hiệu CTTP nếu không sẽ là bỏ lọt tội phạm. Ngược lại, nếu chúng ta xác định hậu quả xảy ra là chỉ do hành vi của người gây thiệt hại thì sẽ dẫn đến xử sai cho người phạm tội vì tình tiết người bị hại cũng có lỗi có thể được coi là tình tiết giảm nhẹ TNHS cho người phạm tội. Luận văn: Thực tiễn của bộ luật hình sự hiện hành về lỗi vô ý.

Hoặc có xác định vai trò của từng hành vi vi phạm, lỗi của người thực hiện hành vi trong mối quan hệ với hậu quả của vụ án. Nhưng việc này chỉ có ý nghĩa làm cơ sở để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của từng người, còn khi định tội hay định khung hình phạt thì cơ quan tố tụng vẫn xác định như các vụ án chỉ do một hành vi vi phạm gây ra. Có nghĩa là, hậu quả chung được xác định là nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng sẽ làm căn cứ định tội hoặc định khung hình phạt cho người gây thiệt hại, còn tình tiết “người bị hại cũng có lỗi” chỉ được coi là cho bị can, bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS (căn cứ quy định tại Điểm 5.c Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04/8/2000 của Hội đồng thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy định trong Phần chung của BLHS).

Ở những bước đầu thì hướng giải quyết này có vẻ hợp lý hơn nhưng xét cho cùng nó vẫn đi đến một kết quả về tội danh và khung hình phạt giống như cách giải quyết thứ nhất. Bởi lẽ, các cơ quan tiến hành tố tụng thay vì xác định hậu quả do từng hành vi vi phạm gây ra trong hậu quả chung để làm căn cứ định tội, định khung hình phạt cho từng người phạm tội, thì lại lấy hậu quả chung của vụ án làm căn cứ định tội, định khung hình phạt cho một chủ thể phạm tội. Nếu hành vi có lỗi của người bị hại không CTTP thì việc phân chia hậu quả sẽ có ý nghĩa trong việc bồi thường dân sự, nhưng ngược lại hành vi của người bị hại cũng CTTP thì ta phải hiểu đây là trường hợp các hành vi “ngẫu nhiên” vô ý cùng phạm tội (vì quá tự tin hoặc do cẩu thả) và chủ thể của từng hành vi không phải chịu trách nhiệm đối với hậu quả chung của vụ án mà chỉ phải chịu trách nhiệm đối với phần hậu quả do hành vi phạm tội của họ trực tiếp gây ra, hậu quả riêng trong trường hợp này ngoài ý nghĩa dân sự ra còn làm căn cứ trong việc định tội, định khung hình phạt.

Ví dụ:

Ngày 23/4/2004, Nguyễn Văn A điều khiển xe mô tô thể tích 81-50cm3 chở vợ đang có thai tháng thứ 9, khi đến cách ngã ba nơi có đường rẽ về nơi ở của mình khoảng 25m, A bật đèn xi nhan trái, quan sát thấy cách xe của A khoảng 30 đến 40m có một xe mô tô hiệu Dream đi ngược chiều do Lê Đinh L điều khiển, trên xe đèo Hoàng Văn N đang đi tới. A nghĩ xe mình có thể qua đường an toàn nên điều khiển xe đi chéo sang bên kia đường quốc lộ, xe đi khoảng 10km/giờ (đây là đường nhựa, phẳng, mặt đường rộng 10m, khu vực xảy ra va chạm dân cư sống rất đông). Khi qua vạch phân cách giữa đường khoảng 2m, xe ngược chiều đã va vào bên phải xe của A làm xe A đổ ngay tại chỗ, hai vợ chồng ngã xuống đường; xe do L điều khiển đổ rê 5m, L ngã đập đầu xuống đường, N ngã bắn sang bên kia đường bị xe buýt đang chuẩn bị dừng bến chèn vào. Hậu quả: L bị tử vong; N bị thương với tỷ lệ thương tật 67%; A bị thương nhẹ; hai xe mô tô bị hư hỏng nặng [36].

Căn cứ vào Khoản 2 Điều 15 Luật giao thông đường bộ năm 2008 quy định: Luận văn: Thực tiễn của bộ luật hình sự hiện hành về lỗi vô ý.

Trong khi chuyển hướng, người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải nhường quyền đi trước cho người đi bộ, người đi xe đạp đang đi trên phần đường dành riêng cho họ, nhường đường cho các xe đi ngược chiều và chỉ cho xe chuyển hướng khi quan sát thấy không gây trở ngại hoặc nguy hiểm cho người và các phương tiện khác [56].

Như vậy, A đã vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ bởi vì: khi cho xe rẽ trái, A biết có xe đi ngược chiều với xe của mình, có thể gây trở ngại cho mình nhưng A vẫn chuyển hướng xe. A tin rằng mình sẽ qua đường an toàn, thực tế thì hậu quả là đã làm cho L chết và N bị thương tật 67%. Lỗi của A là lỗi vô ý vì quá tự tin. Nhưng chúng ta cũng phải xét hành vi phạm tội của A trong mối quan hệ với các yếu tố khác. Cụ thể, A đang đi với tốc độ cho phép, khi cách 25m kể từ ngõ vào nhà, A đã bật đèn xi nhan xin đường. Khi sang đường xe của A đi với tốc độ 10km/h chứng tỏ rằng A vẫn có ý thức giảm tốc độ, nhường đường cho các phương tiện khác. Và hậu quả có thể đã không xảy ra nếu xe của N khi nhìn thấy A xin đường thì phải giảm tốc độ, cho xe của A sang đường (nếu có thể). Ngược lại, xe của N vẫn giữ nguyên tốc độ, không có biểu hiện gì là nhường đường cho xe của A nên khi xe của N lao tới, A đã không phản ứng kịp, hai xe đã đâm vào nhau. Có thể nói hành vi của N là nguyên nhân thứ yếu gây ra hậu quả. Vì vậy, trong trường hợp này khi xác định hậu quả phải xác định cả lỗi của N. Nếu hành vi của N CTTP thì phải truy cứu TNHS cả hành vi của N.

Tội vi phạm các quy định về điều khiển giao thông thường gây ra hậu quả nghiêm trọng như: chết người, hủy hoại tài sản, v.v… và lỗi của người thực hiện hành vi đối với hậu quả phải là lỗi vô ý. Tuy nhiên, trên thực tiễn áp dụng tồn tại quan điểm cho rằng đặc điểm của tội này giống như trường hợp “hỗn hợp lỗi”, có nghĩa là cố ý thực hiện hành vi và vô ý với hậu quả. Ví dụ: Người điều khiển mô tô cố ý uống rượu, phóng nhanh, vượt đèn đỏ nên đã gây tai nạn làm chết người. Tức là, người điều khiển mô tô này cố ý thực hiện hành vi khách quan (cố ý vượt đèn đỏ) và họ không mong muốn gây tai nạn chết người nhưng cũng không bỏ mặc cho hậu quả xảy ra, hậu quả xảy ra là ngoài ý muốn của họ. Theo cách hiểu này, người điều khiển phương tiện giao thông đã cố ý lựa chọn thực hiện hành vi phạm tội và họ nhận thức được hành vượt đèn đỏ của mình có thể gây nguy hiểm cho tính mạng, sức khỏe, tài sản của người khác. Quan niệm trên đây là hoàn toàn sai lầm, nếu xét thái độ tâm lý của chủ thể khi thực hiện hành vi phạm tội thì ta phải xét cả thái độ của họ đối với hành vi và hậu quả chứ không riêng thái độ đối với hành vi. Thực chất khi thực hiện hành vi khách quan, họ tin rằng hậu quả chết người sẽ không xảy ra hoặc không biết rằng hành vi của họ sẽ gây ra hậu quả nguy hiểm này. Vì thế: “người phạm tội vi phạm các quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ có thể vì động cơ khác nhau nhưng không có mục đích, vì lỗi của người phạm tội là do vô ý” [50]. Luận văn: Thực tiễn của bộ luật hình sự hiện hành về lỗi vô ý.

3.2.4. Thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự hiện hành về các tội phạm vô ý xâm phạm trật tự quản lý hành chính 

Chương XX BLHS có 20 điều luật tương ứng với các tội xâm phạm sở hữu (từ Điều 257 đến Điều 276 BLHS) thì có 03 tội được nhà làm luật quy định dấu hiệu lỗi vô ý trong CTTP cơ bản, đó là các tội danh tại Điều 264, 272 BLHS.

Theo số liệu tại Phụ lục 8, trong tổng số 368761 vụ án và 634874 bị cáo đưa ra xét xử từ năm 2005 đến 2010 chỉ có 1 vụ án (chiếm tỷ lệ 0,0003%) và 1 bị cáo (chiếm tỷ lệ 0,0002%) được đưa ra xét xử về tội do lỗi vô ý trong Chương XX BLHS (rất ít so với các Chương khác). Đó là vụ án được đưa ra xét xử với tội danh: vô ý làm lộ bí mật Nhà nước (Điều 264 BLHS), chiếm tỷ lệ 0,0016% trên tổng số vụ án của năm 2007. Vụ án này đã được xét xử và không bị trả lại hồ sơ cho Viện kiểm sát. Tuy nhiên, trong thực tiễn ADPL đối với tội danh này của nhiều năm trước đó cũng đã có nhiều vướng mắc.

Tội vô ý làm lộ bí mật Nhà nước được thực hiện do lỗi vô ý. Cùng là hành vi làm lộ bí mật Nhà nước, trong những điều kiện, hoàn cảnh khách quan giống nhau, nếu người phạm tội thực hiện hành vi với lỗi cố ý thì có thể sẽ phạm tội cố ý làm lộ bí mật nhà nước (Điều 263 BLHS) nên việc xác định hình thức lỗi của hai tội này là rất dễ nhầm lẫn. Lỗi vô ý trong tội vô ý làm lộ bí mật Nhà nước có thể là vô ý vì quá tự tin hoặc vô ý do cẩu thả. Nếu là vô ý vì quá tự tin, người phạm tội nhận thức được hành vi của mình có thể làm lộ bí mật Nhà nước nhưng họ cho rằng hậu quả đó không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được, nhưng trên thực tế hậu quả đó vẫn xảy ra. Nếu là vô ý do cẩu thả, người phạm tội không thấy trước hậu quả làm lộ bí mật Nhà nước do hành vi của mình gây ra, mặc dù với địa vị của mình thì họ có nghĩa vụ phải thấy trước và có đủ điều kiện để thấy trước hậu quả đó. Người phạm tội vô ý làm lộ bí mật Nhà nước thường không có động cơ, mục đích phạm tội. Họ chỉ là muốn “khoe khoang”; hoặc trong hoàn cảnh khách quan khi đang nói chuyện về chủ đề cùng với bí mật Nhà nước mà họ đang biết nên “nhỡ miệng” nói ra; hoặc khi uống rượu, bia, hay dùng chất kích thích khác, họ đã không làm chủ được bản thân và đã làm lộ bí mật Nhà nước;…

Ngược lại, tội làm mất tài liệu bí mật Nhà nước (Điều 264 BLHS) và tội vi phạm các quy định về bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử, văn hóa, danh lam, thắng cảnh gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 272 BLHS) lại không có một thực tiễn xét xử nào trong vòng sáu năm trở lại đây (2005 – 2010).

3.2.5. Thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự hiện hành về các tội phạm về chức vụ được thực hiện do lỗi vô ý (Chương XXI Bộ luật hình sự) Luận văn: Thực tiễn của bộ luật hình sự hiện hành về lỗi vô ý.

Chương XXI BLHS có 14 điều luật tương ứng với các tội phạm về chức vụ (từ Điều 278 đến Điều 291 BLHS) thì có 03 tội được nhà làm luật quy định dấu hiệu lỗi vô ý trong CTTP cơ bản, đó là các tội danh tại Điều 285, 287 BLHS.

Theo số liệu thống kê của TANDTC (xem phụ lục 9) về tình hình xét xử trong giai đoạn năm 2005 – 2010 cho thấy, trong tổng số 368761 vụ án và 634874 bị cáo đưa ra xét xử, thì có 124 vụ án (chiếm tỷ lệ 0,034%) và 321 bị cáo (chiếm tỷ lệ 0,051%) được đưa ra xét xử về tội do lỗi vô ý trong Chương XXI BLHS. Các vụ án đều được đưa ra xét xử với tội danh: thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 285 BLHS), không có vụ nào được đưa ra xét xử với tội danh vô ý làm lộ bí mật công tác (Điều 285 BLHS) hoặc tội làm mất tài liệu bí mật công tác (Điều 287 BLHS)

Theo Phụ lục 10, trong sáu năm qua, số vụ án phải xét xử về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng là 124 vụ án và 321 bị cáo, đã xét xử 66 vụ và 165 bị cáo, trả lại hồ sơ cho Viện kiểm sát là 43 vụ và 122 bị cáo. Trung bình mỗi năm phải xét xử 21 vụ án về tội này. Năm có số vụ án đưa ra xét xử cao nhất đó là năm 2008 với 30 vụ, năm thấp nhất là năm 2010 với 11 vụ. Số lượng vụ án tăng giảm không đều, tuy nhiên từ năm 2008 thì đang có chiều hướng giảm dần.

Trung bình số vụ án về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng bị trả hồ sơ lại cho Viện kiểm sát là 7 vụ/năm, tương đương với 33,33%/năm, tỷ lệ này rất cao. Điều đó cho thấy trong thực tiễn áp dụng quy định của tội này có những hạn chế nhất định.

Hành vi thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng là hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ được giao gây hậu quả nghiêm trọng. Tội phạm này nếu chỉ xét về hành khách quan và mặt chủ quan thì giống với tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước (Điều 144 Bộ luật hình sự), tội thiếu trách nhiệm trong việc giữ vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 235 Bộ luật hình sự, hoặc tội thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn (Điều 301 Bộ luật hình sự) [49].

Vì thế trong thực tiễn ADPL, bốn loại tội này thường dễ bị nhầm lẫn với nhau. Để phân biệt tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng với các tội này, ta phải dựa vào các dấu hiệu đặc trưng khác như: hậu quả, chủ thể thực hiện hành vi, khách thể bị xâm phạm, v..v.. Bởi vậy, tại Khoản 1 Điều 285 BLHS đã quy định: “…nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều 144, 235 và 301 của Bộ luật này,…”. Luận văn: Thực tiễn của bộ luật hình sự hiện hành về lỗi vô ý.

Đa số các tội phạm về chức vụ đều được thực hiện với lỗi cố ý. Riêng tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng lại được thực hiện với lỗi vô ý. Như đã nêu ở trên, dấu hiệu về mặt chủ quan của tội này tương đối giống với dấu hiệu về mặt chủ quan của các tội được quy định tại Điều 144, 235 và 301 BLHS. Theo đó, người phạm tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng có thể thực hiện hành vi dưới hình thức lỗi vô ý vì quá tự tin hoặc vô ý do cẩu thả. Nếu là vô ý vì quá tự tin, người phạm tội nhận thức được hành vi thiếu trách nhiệm của mình có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng nhưng họ cho rằng hậu quả đó không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được, trên thực tế hậu quả đó vẫn xảy ra. Nếu là vô ý do cẩu thả, người phạm tội không thấy trước hậu quả thiệt hại nghiêm trọng do hành vi thiếu trách nhiệm của mình gây ra, mặc dù với địa vị của mình thì họ có nghĩa vụ phải thấy trước và có đủ điều kiện để thấy trước hậu quả đó. Trong thực tiễn xét xử, không bắt buộc phải xác định cụ thể là hình thức lỗi vô ý nào.

3.2.6. Thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự hiện hành về các tội phạm vô ý xâm phạm hoạt động tư pháp (Chương XXII Bộ luật hình sự)

Chương XXII BLHS có 22 điều luật tương ứng với các tội xâm phạm hoạt động tư pháp (từ Điều 293 đến Điều 314 BLHS) thì có 01 tội được nhà làm luật quy định dấu hiệu lỗi vô ý trong CTTP cơ bản, đó là: tội thiếu trách nhiệm để người giam giữ bị trốn (Điều 301 BLHS). Từ những số liệu thống kê của TANDTC về tình hình xét xử trong giai đoạn năm 2005 – 2010 cho thấy:

Theo phụ lục 11 thì trong tổng số 368761 vụ án và 634874 bị cáo đưa ra xét xử, thì chỉ có 6 vụ án (chiếm tỷ lệ 0,002%) và 8 bị cáo (chiếm tỷ lệ 0,001%) được đưa ra xét xử về tội do lỗi vô ý trong Chương XXII BLHS. Các vụ án này đều được đưa ra xét xử với tội danh: thiếu trách nhiệm để người giam, giữ bị trốn (Điều 301 BLHS). Số lượng các vụ án này tăng giảm không đều. Năm 2006 và 2010 không có tội do lỗi vô ý nào thuộc chương này bị đưa ra xét xử.

Trong sáu năm qua, số vụ án phải xét xử về tội thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn có tổng số 6 vụ án và 8 bị cáo, đã xét xử 4 vụ và 6 bị cáo, trả lại hồ sơ cho Viện kiểm sát là 2 vụ và 2 bị cáo. Trung bình mỗi năm phải xét xử 1 vụ về tội danh này. Năm có số vụ án đưa ra xét xử cao nhất đó là năm 2005 và 2008 với 2 vụ. Năm 2006 và 2010 không phải xét xử vụ nào.

Số vụ án về tội thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn bị trả hồ sơ lại cho Viện kiểm sát là 2 vụ. Năm 2005, 2006, 2009 và 2010 không có vụ án nào phải trả hồ sơ cho Viện kiểm sát (xem phụ lục 12).

Đây là trường hợp duy nhất trong Chương các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội do lỗi vô ý. Có thể là lỗi vô ý vì quá tự tin hoặc vô ý do cẩu thả. Luận văn: Thực tiễn của bộ luật hình sự hiện hành về lỗi vô ý.

Điều 301 BLHS thực chất là quy định hai tội khác nhau xuất phát từ đối tượng tác động của hành vi khách quan, đó là: tội thiếu trách nhiệm để người bị giam trốn và tội thiếu trách nhiệm để người bị giữ trốn. Tuy nhiên, chủ thể ADPL thường hay nhầm lẫn về việc định tội danh: người phạm tội chỉ thực hiện một hành vi thiếu trách nhiệm để người bị giam trốn hoặc để người bị giữ trốn nhưng lại xác định tội danh của họ là phạm tội “thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn”. Cách xác định tội danh như vậy là sai. Chúng ta chỉ được tuyên một trong hai tội danh như trên.

Ngoài ra, trong thực tiễn áp dụng tội này còn nhiều vướng mắc về việc xác định hành vi được thực hiện bởi lỗi vô ý do thiếu trách nhiệm hay không? hậu quả như thế nào mới được coi là nghiêm trọng? hậu quả “thiệt hại nghiêm trọng” không phải là thiệt hại về vật chất thì có xác định được không? mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả được xác định như thế nào?

Ví dụ: Phạm nhân Nguyễn Văn A đang chấp hành án phạt tù tại trại giam về hai tội “trộm cắp tài sản” theo Khoản 2 Điều 138 BLHS và “lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo Khoản 2 Điều 139 BLHS (cả hai đều thuộc loại tội nghiêm trọng). Ngày 22/4/2007, do hành vi thiếu trách nhiệm của quản giáo Trần Văn B dẫn đến phạm nhân Nguyễn Văn A trốn khỏi trại giam. Trên đường trốn chạy, A thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của công dân trị giá 450000 đồng. Trại giam tổ chức truy tìm và đã bắt được phạm nhân A. Xung quanh vấn đề này có rất nhiều quan điểm khác nhau: có quan điểm cho rằng B không phạm tội “thiếu trách nhiệm để người bị giam trốn” vì hành vi của B chưa gây hậu quả nghiêm trọng (A chưa tiếp tục phạm tội mới). Đa số các quan điểm thì cho rằng hành vi của B đã cấu thành tội này, nhưng giữa các quan điểm này lại mẫu thuẫn khi xác định hành vi của B thuộc khoản 1 hay khoản 2 Điều 301 BLHS cũng bởi vì cách xác định hậu quả do hành vi của B gây ra là khác nhau.

3.2.7. Thực tiễn áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự hiện hành về các tội do lỗi vô ý xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân (Chương XXIII Bộ luật hình sự)

Chương XXIII BLHS có 25 điều luật tương ứng với các tội xâm phạm nghĩa vụ, trách nhiệm của quân nhân (từ Điều 315 đến Điều 340 BLHS) thì có 09 tội được nhà làm luật quy định dấu hiệu lỗi vô ý trong CTTP cơ bản, đó là các tội danh được quy định tại các Điều: 317, 328, 330, 331, 332, 333, 335 và 336 BLHS. Luận văn: Thực tiễn của bộ luật hình sự hiện hành về lỗi vô ý.

Trong tổng số 368761 vụ án và 634874 bị cáo đưa ra xét xử, thì chỉ có 4 vụ án (chiếm tỷ lệ 0,0003%) và 4 bị cáo (chiếm tỷ lệ 0,0002%) được đưa ra xét xử về tội do lỗi vô ý trong Chương XXIII BLHS. Các vụ án này đều được đưa ra xét xử với tội danh: tội vi phạm các quy định về sử dụng vũ khí quân dụng (Điều 333 BLHS). Năm 2006 và 2007 không phải xét xử vụ nào thuộc chương này (xem phụ lục 13).

Theo Phụ lục 14, trong sáu năm qua, số vụ án phải xét xử về tội vi phạm các quy định về sử dụng vũ khí quân dụng có tổng số 4 vụ án và 4 bị cáo, đã xét xử 3 vụ và 3 bị cáo, trả lại hồ sơ cho Viện kiểm sát là 1 vụ và 1 bị cáo (năm 2010) (tương đối ít so với các chương khác). Năm 2006 và 2007 không phải xét xử vụ nào về tội danh này.

3.3. Nguyên nhân của những tồn tại, hạn chế trong thực tiễn áp dụng các quy định về tội vô ý theo Bộ luật hình sự hiện hành

Trong sáu năm (2005 – 2010), số lượng các vụ án được xét xử về tội do lỗi vô ý tương đối nhiều, nhìn chung là có dấu hiệu tăng về số lượng vụ án xét xử lần đầu, số lượng vụ án xét xử phúc thẩm và cả số lượng vụ án bị hủy, bị sửa, bị trả lại hồ sơ cho Viện kiểm sát. Tuy nhiên khi nghiên cứu đánh giá về tình hình xét xử các tội phạm do vô ý từ năm 2005 đến 2010 cho thấy bên cạnh những ưu điểm còn có không ít những tồn tại, hạn chế. Nguyên nhân chủ yếu của những tồn tại, hạn chế đó là:

Thứ nhất, do có sự chưa hoàn thiện của BLHS quy định về các tội phạm vô ý như đã trình bày ở Mục 2.3. của Chương II.

Tinh thần trách nhiệm trong công tác, năng lực quản lý và điều hành của một số cán bộ lãnh đạo Tòa án địa phương còn hạn chế nên ảnh hưởng tới chất lượng công tác, đặc biệt là chất lượng xét xử; để án tồn đọng quá thời hạn luật định, nhưng không chủ động đề xuất, kiến nghị với lãnh đạo Tòa án cấp trên để kiện toàn tổ chức hoặc có biện pháp khắc phục kịp thời tình trạng này.

Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, năng lực xét xử của một bộ phận Thẩm phán còn hạn chế, tinh thần trách nhiệm, ý thức tổ chức kỷ luật và phẩm chất đạo đức của một bộ phận cán bộ, công chức Tòa án các cấp chưa thực sự đáp ứng yêu cầu và đòi hỏi nhiệm vụ trong tình hình hiện nay, họ còn thiếu ý thức cầu thị, phấn đấu học tập và rèn luyện nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và tư cách, phẩm chất, đạo đức của người cán bộ Tòa án; việc nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ của vụ án không đầy đủ, đánh giá chứng cứ thiếu khách quan, toàn diện, dẫn đến quyết định sai lầm; thậm chí có những trường hợp cá biệt tiêu cực vi phạm pháp luật, làm trái công vụ [65].

Đối với Hội thẩm, theo các quy định tại Chương XVIII Bộ luật tố tụng hình sự 2003 thì khi xét xử, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật (Điều 16); Tòa án xét xử tập thể và quyết định theo đa số (Điều 17). Nhưng trên thực tiễn xét xử cho thấy do các Hội thẩm thường là những người không có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ về xét xử nên khi tham gia vào quá trình xét xử, họ thường có tâm lý ỷ lại và phụ thuộc vào Thẩm phán chủ tọa phiên tòa. Vì vậy, trong nhiều trường hợp Hội thẩm tham gia chỉ mang tính hình thức, họ không có chính kiến, quyết định cuối cùng của bản án có thể chỉ là quan điểm cá nhân của Thấm phán, do đó, tình trạng xét xử oan, sai rất dễ xảy ra. Luận văn: Thực tiễn của bộ luật hình sự hiện hành về lỗi vô ý.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Giải pháp của bộ luật hình sự hiện hành về lỗi vô ý

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537