Luận văn: Thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư Hồ Chí Minh

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư Hồ Chí Minh hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư – Từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Công cuộc đổi mới của Việt Nam đã trải qua hơn 30 năm và đạt được những thành tựu đáng ghi nhận, đặc biệt là về kinh tế – xã hội, cùng với đó là sự hướng đến xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Hệ quả của sự phát triển nhanh chóng này cũng làm phát sinh nhiều vấn đề phức tạp trong sản xuất kinh doanh, quan hệ xã hội. Do đó, sự có mặt của luật sư trong giải quyết các tranh chấp và tư vấn trong nhiều lĩnh vực là rất cần thiết và trở nên không còn xa lạ. Ngày nay hành nghề luật sư được nhìn nhận với tư cách là một nghề nghiệp có vị thế và vai trò quan trọng, góp phần không nhỏ trong việc đem lại công bằng, bình đẳng cho xã hội.

Chính vì chức năng xã hội đặc biệt quan trọng như vậy, các luật sư ngoài những kiến thức pháp luật sâu rộng, cần phải có những hiểu biết phong phú về nhiều lĩnh vực, đặc biệt, phải là người có đạo đức trong sáng, giàu lòng trắc ẩn và có tinh thần dũng cảm, luôn bảo vệ chính nghĩa. Muốn trở thành luật sư, một cá nhân phải trải qua một thời gian dài với không ít thử thách trong việc tích lũy kinh nghiệm, tạo dựng uy tín cá nhân.

Chính sách phát triển của Đảng và Nhà nước ta là phát triển đội ngũ luật sư đủ về số lượng, có phẩm chất chính trị, đạo đức, có trình độ chuyên môn nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội đối với chất lượng dịch vụ pháp lý của luật sư, phục vụ đắc lực cho công cuộc cải cách tư pháp và hội nhập quốc tế.

Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02/1/2002 của Bộ Chính trị “Về một số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới” cũng đã có đề ra nhiệm vụ của một số cơ quan tư pháp trong việc tạo điều kiện cho luật sư tham gia tố tụng, tranh tụng dân chủ với luật sư, tăng cường củng cố các tổ chức hành nghề luật sư, phát triển và kiện toàn đội ngũ luật sư, hoàn thiện pháp luật về luật sư… Thực hiện nhiệm vụ đã được đề ra trong các Nghị quyết của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp, chúng ta đã đạt được một số thành tựu có đóng góp tích cực cho sự phát triển của luật sư và hành nghề luật sư ở Việt Nam như: ban hành được một số các văn bản dưới luật hướng dẫn thi hành luật luật sư, nâng cao vị thế, vai trò của luật sư trong xã hội…

Quyết định số 1072/QĐ-TTg ngày 05/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển nghề luật sư đến năm 2020, đã từng bước nâng cao chất lượng đội ngũ luật sư, chất lượng hoạt động hành nghề luật sư, vị trí, vai trò của luật sư trong hoạt động tố tụng, từng bước phát triển, mở rộng thị trường dịch vụ pháp lý, tạo nền tảng để phát triển nghề luật sư Việt Nam ngang tầm với các nước trong khu vực và trên thế giới. Luận văn: Thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư Hồ Chí Minh.

Từ thực tế khách quan của một quốc gia đang không ngừng phát triển, của một đất nước luôn hướng đến nền dân chủ vững mạnh và của một dân tộc ngày ngày vươn mình ra với bè bạn năm châu, thì sứ mệnh bảo vệ công lý, đảm bảo công bằng xã hội được đề cao là tất yếu và chính đáng.

Không lúc nào hơn trong lịch sử, vị thế và vai trò luật sư lại được coi trọng như hiện nay.

Có thể nói, đây là thời điểm mà xã hội Việt Nam đã dần nhìn nhận sát, gần hơn đối với vai trò của nghề luật sư theo đúng chỗ đứng mà nghề này xứng đáng có được. Người dân ngày càng tìm đến luật sư như một nhu cầu thiết thân, số lượng luật sư, tổ chức hành nghề luật sư ngày một phát triển, nền tư pháp nước nhà đã tạo điều kiện nhiều hơn để luật sư thể hiện tầm quan trọng của mình.

Nghề luật sư với một vị thế và tầm quan trọng như thế thì việc nghiên cứu khoa học về hành nghề luật sư là một điều rất cần thiết và không kém phần quan trọng trong việc định hướng và phát triển bền vững nghề luật sư ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập hiện nay.

Vì các lẽ trên, với mong muốn góp phần hiểu biết nhỏ bé của mình vào pháp luật về hành nghề luật sư, vì vậy, tác giả chọn đề tài “Thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư – Từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh” làm nội dung nghiên cứu của luận văn cao học luật học.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Luật

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chính vì vai trò quan trọng của luật sư trong xã hội và sự phát triển khá nhanh của nghề luật sư nên đã có nhiều tổ chức và cá nhân nghiên cứu về vấn đề này, đặc biệt là từ khi Nghị quyết 49-NQ/TW năm 2005 về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 do Ban Chấp hành Trung ương ban hành, có thể kể ra một số đề tài đã được nghiên cứu như:

  • Tác phẩm “Vấn đề hoàn thiện pháp luật về luật sư ở Việt Nam” của Tiến sĩ Phan Trung Hoài được nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, xuất bản năm 2009;
  • Đề tài cấp bộ “Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hoàn thiện pháp luật về tổ chức luật sư và hành nghề luật sư trong điều kiện mới ở Việt Nam”. Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Văn Thảo – Viện khoa học pháp lý, Bộ tư pháp;
  • Đề tài khoa học cấp cơ sở “Giải pháp đào tạo luật sư hội nhập kinh tế quốc tế”, do Học viện tư pháp tiến hành;
  • Chuyên đề “Pháp luật về luật sư nước ngoài và tổ chức luật sư nước ngoài tại Việt Nam – thực trạng và kiến nghị” do Viện nghiên cứu lập pháp thuộc Ủy ban thường vụ Quốc Hội thực hiện;
  • Luận văn thạc sĩ “Pháp luật về hành nghề luật sư ở Việt Nam”, Hoàng Thị Anh Thư.

Ngoài ra còn nhiều bài viết đăng trên các báo và tạp chí như:

  • Bài viết “Vai trò của luật sư trong tố tụng hành chính” của Luật sư Nguyễn Thành Vinh;
  • Bài viết “Chiến lược phát triển nghề luật sư còn thiếu sót” của Luật sư Ngô Ngọc Trai;
  • Bài viết: “Chuyện về chiếc thẻ luật sư” của Luật sư Phan Trung Hoài;
  • Bài viết: “Tiêu chuẩn luật sư Việt Nam và rủi ro cho khách hàng” của Luật sư Nguyễn Văn Thành;
  • Bài viết: “Nâng cao chất lượng luật sư – Góc nhìn từ giải pháp” của đồng tác giả: Ths. Đinh Duy Bằng & Ths. Hoàng Thanh Hoa. Luận văn: Thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư Hồ Chí Minh.

Các công trình trên đã góp phần không nhỏ vào việc đưa ra các luận điểm lý luận, khoa học, luận giải cho những giải pháp thực tiễn góp phần vào sự phát triển pháp luật về luật sư và nghề luật sư. Tuy nhiên hiện chưa có đề tài nào khái quát chung thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư từ thực tiễn.

Chính những lý do trên, tác giả sẽ nghiên cứu ở một góc độ, khía cạnh thực hiện pháp luật từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh, nhằm góp phần hoàn thiện hơn pháp luật về hành nghề luật sư tại Việt Nam.

3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là tìm hiểu một cách có hệ thống những nội dung pháp lý cơ bản, những thành tựu cũng như những vướng mắc khó khăn còn tồn tại trong việc thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh, nhằm kiến nghị một số giải pháp hoàn thiện hơn nữa pháp luật về hành nghề tại Việt Nam.

Để thực hiện mục đích trên, luận văn xác định nhiệm vụ nghiên cứu gồm:

  • Khái quát các vấn đề lý luận về luật sư và hành nghề luật sư;
  • Nắm bắt được thực trạng thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư;
  • Thông qua thực tiễn áp dụng pháp luật để thấy được những bất cập của pháp luật;
  • Đề ra hướng hoàn thiện pháp luật.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

  • Đối tượng nghiên cứu:

Đề tài nghiên cứu về việc thực hiện pháp luật hành nghề luật sư từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh.

  • Phạm vi nghiên cứu:

Đề tài chọn địa bàn thành phố Hồ Chí Minh làm thực trạng nghiên cứu. Đề tài giới hạn và tập trung việc nghiên cứu việc thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư từ khi Luật Luật sư năm 2006, sửa đổi, bổ sung năm 2012, 2015 (tức từ năm 2015) cho đến nay.

5. Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp luận: Đề tài dựa trên cơ sở phương pháp duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, và đường lối, chính sách của Đảng cộng sản Việt Nam làm phương pháp nghiên cứu chủ đạo đề tài.
  • Phương pháp nghiên cứu cụ thể:

Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau đây:

  • Phương pháp thu thập và hồi cố thông tin dữ liệu từ các nguồn khác nhau.
  • phương pháp hệ thống.
  • Phương pháp tổng hợp, phân tích.
  • Phương pháp thống kê.
  • Phương pháp đánh giá thực trạng thực hiện pháp luật.

6. Ý nghĩa và đóng góp của đề tài Luận văn: Thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư Hồ Chí Minh.

Đề tài đưa ra những luận cứ và phân tích chặt chẽ các quy định hiện hành và thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư. Đề tài không chỉ nhằm hoàn thiện hơn pháp luật về hành nghề luật sư, mà còn thể hiện vai trò, tầm quan trọng nghề luật sư trong xã hội hiện đại.

7. Kết cầu của đề tài

Bên cạnh mục lục, mở đầu, kết luận, danh mục tham khảo thì nội dung đề tài gồm 03 Chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận và pháp lý của thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư
  • Chương 2: Thực trạng thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư tại thành phố Hồ Chí Minh
  • Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ CỦA THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HÀNH NGHỀ LUẬT SƯ

1.1. Tổng quan về hành nghề luật sư và pháp luật về hành nghề luật sư

1.1.1 Nhận thức chung về luật sư và hành nghề luật sư

Việt Nam lâu nay vẫn sử dụng các cụm từ “nghề luật sư”, “hành nghề luật sư”. Thực ra, như vậy không hoàn toàn chính xác về mặt ngôn ngữ. Bởi lẽ “luật sư” là một danh từ chỉ người, chứ không phải dùng để chỉ một nghề. Vì vậy trong tiếng Anh người ta dùng lawyer (luật sư) và practice law (hành nghề luật). Tuy nhiên, theo chúng tôi việc sử dụng các cụm từ “nghề luật sư” và “hành nghề luật sư” là phù hợp với thực tiễn của ta, có thể chấp nhận được, vì: Nếu dùng cụm từ “nghề luật” thì e rằng theo cách biểu hiện của ngôn ngữ Việt Nam sẽ quá rộng, không phải chỉ là việc bào chữa, biện hộ trước Tòa án và làm tư vấn pháp luật (cung cấp dịch vụ pháp lý) của luật sư. Theo thói quen sử dụng ngôn ngữ Việt Nam trong văn nói cũng như trong văn viết thì thuật ngữ “nghề luật sư” có thể được chấp nhận, cũng giống như nói “kiến trúc sư” và nghề “kiến trúc sư”, “thầy thuốc” và “nghề thầy thuốc” v.v… Luận văn: Thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư Hồ Chí Minh.

Vậy, “hành nghề luật sư” là gì? Đó là việc luật sư tham gia hoạt động tố tụng, thực hiện tư vấn pháp luật, các dịch vụ pháp lý khác theo yêu cầu của cá nhân, tổ chức nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ theo quy định của pháp luật.

So với nhiều nghề khác trong xã hội, nghề luật sư ở Việt Nam là một nghề khá non trẻ, tuy vậy đến nay, cũng đã ra đời hơn một thế kỷ. Dưới chế độ phong kiến, ở nhiều nước phương Đông như: Việt Nam, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, v.v., chưa tồn tại luật sư và nghề luật sư. Trong khi đó, ở một số nước phương Tây, bắt nguồn tự sự sáng tạo của nền pháp chế cổ La Mã tồn tại hơn 20 thế kỷ trước, đã có người bào chữa.

Nghề luật sư xuất hiện tại Việt Nam từ nửa sau thế kỷ XIX (1858) và lúc đầu chỉ thuộc về người Pháp, dành cho công dân Pháp. Sau cách mạng Tháng Tám năm 1945, nghề luật sư được hoạt động trở lại theo Sắc lệnh số 46/SL ngày 10-10-1945 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ Cộng hòa về tổ chức các đoàn thể luật sư (sau đây gọi tắt là Sắc lệnh số 46/SL) do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký, ban hành. Mặc dù vậy, lúc đó, vì nhiều nguyên nhân, mà quan trọng là nguồn lực của đất nước phải tập trung vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp nên hầu như nghề luật sư lúc này không phát triển. Một số luật sư đã tham gia cách mạng và trở thành những nhân vật quan trong, giữ vai trò cố vấn cho Chủ tịch Hồ Chí Minh về các mặt pháp lý trong cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp như các luật sư: Phan Anh, Trịnh Đình Thảo, Vũ Đình Hòe, Vũ Trọng Khánh, Trần Công Tường, Phạm Văn Bạch, Phạm Ngọc Thuần, Bùi Thị Cẩm, Nguyễn Thành Vĩnh v.v… Một số luật sư thời kỳ này đã chuyển sang hoạt động lĩnh vực khác.

Năm 1959 có thể xem là một năm đặc biệt quan trọng với sự ra đời của Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tiếp tục khẳng định quan điểm của Đảng và Nhà nước về quyền bào chữa để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân. Cụ thể, Điều 101 Hiến pháp năm 1959 quy định: “Quyền bào chữa của người bị cáo được bảo đảm”.

Hiến pháp năm 1980 nêu rõ tại Điều 133: “Quyền bào chữa của bị cáo được bảo đảm. Tổ chức luật sư được thành lập để giúp bị cáo và các đương sự khác về mặt pháp lý”.

Tuy nhiên, thời kỳ này, trong mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp, vai trò của Nhà nước bao trùm toàn bộ đời sống xã hội. Nhà nước quyệt định tất cả các quá trình sản xuất – kinh doanh, từ đầu vào đến lưu thông, phân phối hàng hóa bằng những mệnh lệnh hành chính. Hậu quả là nền kinh tế không phát triển, xã hội rơi vào khủng hoảng, đời sống nhân dân hết sức khó khăn, kèm theo đó là tình hình kinh tế và trật tự xã hội hết sức phức tạp. Trong bổi cảnh đó, pháp luật không được đề cao là tất yếu, nhu cầu sử dụng dịch vụ pháp lý của xã hội cũng sẽ không có, hệ quả là luật sư và nghề luật sư tồn tại chỉ mang tính hình thức. Luận văn: Thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư Hồ Chí Minh.

Từ năm 1986, đất nước bước vào thời kỳ đổi mới, mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu bao cấp được chuyển sang mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Theo đó, Nhà nước đóng vai trò xây dựng thể chế, bảo đảm cho việc thực hiện pháp luật, Nhà nước tạo điều kiện và cơ hội cho các chủ thể và các thành phần kinh tế hoạt động, phát triển theo quy luật của kinh tế thị trường. Đồng thời Nhà nước giảm dần và hạn chế các mệnh lệnh hành chính trong việc điều hành nền kinh tế.

Cùng với những thành quả của công cuộc đổi mới đất nước, vai trò của nghề luật sư và nhiều nghề khác trong xã hội từng bước được nâng cao, đóng góp không nhỏ vào sự đổi mới chung của đất nước.

Thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng, ngày 18-12-1987, Hội đồng Nhà nước đã thông qua Pháp lệnh của tổ chức luật sư. Từ đó, các tổ chức luật sư chuyên nghiệp ra đời thay thế cho các hình thức bào chữa viên được thiết lập ở miền Bắc từ năm 1949 và ở miền Nam sau ngày giải phóng năm 1975. Pháp lệnh của tổ chức luật sư năm 1987 đã xác lập vị trí pháp lý của nghề luật sư trong thời kỳ đổi mới của đất nước. Những quy định của pháp lệnh này đã tạo nền tảng pháp lý cho việc thành lập các Đoàn luật sư trên toàn quốc, thông qua đó tập hợp đội ngũ luật sư tham gia vào các hoạt động tư pháp, cung cấp dịch vụ pháp lý cho xã hội. Đoàn luật sư vừa đóng vai trò là tổ chức xã hội – nghề nghiệp, vừa đóng vai trò là tổ chức hành nghề luật sư.

Pháp lệnh luật sư năm 2001 là bước tiến về thể chế của nghề luật sư ở nước ta. Các chế định về luật sư, nghề luật sư, tổ chức hành nghề luật sư và tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư đã được hoàn thiện hơn, trong đó đã phân định rõ tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư và tổ chức hành nghề luật sư. Những quy định này đã tạo cơ hội cho nghề luật sư phát triển trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đóng góp vào công cuộc cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Kế thừa và hoàn thiện Pháp lệnh luật sư năm 2001, Luật Luật sư năm 2006 sửa đổi, bổ sung năm 2012, 2015 (sau đây gọi tắt là Luật Luật sư) ra đời là cột mốc đánh dấu sự phát triển về thể chế của luật sư, nghề luật sư, tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư và tổ chức hành nghề luật sư ở nước ta trong hơn 30 năm đổi mới vừa qua.

Việc ban hành Luật Luật sư là minh chứng về mặt pháp lý ghi nhận những mối quan hệ xã hội có liên quan đến luật sư và nghề luật sư. Nhìn chung, Nhà nước đã luật hóa và tạo cơ hội cho các quan hệ xã hội liên quan đến luật sư và nghề luật sư phát triển lành mạnh, đóng góp tích cực vào việc phát triển kinh tế – xã hội, vào công cuộc cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Luận văn: Thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư Hồ Chí Minh.

Khi kinh tế phát triển, các mâu thuẫn và tranh chấp kinh tế sẽ phát sinh, các vi phạm pháp luật và tội phạm cũng có thể gia tăng. Trong bối cảnh đó, Nhà nước đóng vai trò giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp, ngăn chặn, xử lý các vi phạm pháp luật và tội phạm. Thực tiễn cho thấy, nếu các chủ thể kinh tế có sử dụng dịch vụ pháp lý của luật sư ngay từ khi bắt đầu sản xuất và trong cả quá trình kinh doanh, thì không những các mâu thuẫn, tranh chấp kinh tế sẽ giảm mà còn góp phần vào việc phát triển sản xuất – kinh doanh theo quy định của pháp luật, từ đó giúp cho Nhà nước giải quyết các tranh chấp mâu thuẫn kinh tế và xử lý các vi phạm pháp luật, tội phạm hiệu quả hơn. Đối với các vụ án hình sự, nếu được tham gia quá trình tố tụng ngay từ khi thân chủ bị giam giữ, tạm giam, khởi tố vụ án, khởi tố bị can, luật sư sẽ có điều kiện phối hợp với các cơ quan điều tra giải quyết vụ án, góp phần vào việc bảo vệ công lý, bảo vệ pháp chế, tình trạng oan sai sẽ được hạn chế.

Hành nghề luật sư và nghề luật sư cũng giống như nhiều nghề khác, hình thành do nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội. Sau 30 năm đổi mới đất nước, nền kinh tế nước ta đã có bước phát triển ngoạn mục. Tuy vậy cho đến nay, vẫn còn nhiều vấn đề cần phải tiếp tục giải quyết để phát triển bền vững trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, đặc biệt là khi cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (bắt đầu từ năm 2016) đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn thế giới.

Vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, các luật sư đã đóng góp tích cực vào công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ngày 14-11-2013, Thủ tướng Chính phủ ký quyết định số 149/QĐ-TTg lấy ngày 10 tháng 10 hàng năm là Ngày truyền thống của Luật sư Việt Nam. Đây là mốc son chói lọi của nghề luật sư sau hơn 70 năm ra đời, phát triển trong chính thể dân chủ ở Việt Nam và không ngừng lớn mạnh trong giai đoạn hiện nay.

1.1.2. Pháp luật về hành nghề luật sư

1.1.2.1. Khái niệm pháp luật về hành nghề luật sư

Luật sư và nghề luật sư luôn gắn với sự hình thành và phát triển của hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về luật sư nói riêng. Pháp luật về hành nghề luật sư là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh trong tổ chức và hoạt động nghề nghiệp giữa luật sư với khách hàng, các cơ quan tiến hành tố tụng và cơ quan có thẩm quyền khác, về việc quản lý Nhà nước và sự tự quản của tổ chức xã hội nghề nghiệp luật sư do Nhà nước đặt ra, thừa nhận và bảo đảm thi hành.

Có thể nói, pháp luật về hành nghề luật sư có một vị trí quan trọng trong nền tư pháp, đóng vai trò rất lớn trong hệ thống pháp luật nói chung. Bởi vì luật sư là một chức danh tư pháp độc lập và hoạt động nghề nghiệp của luật sư có vai trò rất quan trọng. Tính chất quan trọng đó thể hiện hoạt động nghề nghiệp của luật sư nhằm góp phần bảo vệ công lý, phát triển kinh tế và xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Chính vì thế, pháp luật về hành nghề luật sư chính là sự bảo đảm về mặt nhà nước cũng như xã hội để luật sư và hoạt động nghề nghiệp của luật sư được thực hiện một cách đúng mực, mang lại sự hiệu quả và thực thi được sứ mệnh cao cả của nó. Luận văn: Thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư Hồ Chí Minh.

1.1.2.2. Đặc điểm pháp luật về hành nghề luật sư

Pháp luật về hành nghề luật sư là công cụ điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động hành nghề luật sư. Pháp luật về hành nghề luật sư có những đặc điểm cơ bản sau đây:

  1. Pháp luật về hành nghề luật sư do Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện

Pháp luật về hành nghề luật sư do Nhà nước ban hành thông qua rất nhiều những trình tự thủ tục chặt chẽ và phức tạp với sự tham gia của rất nhiều các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các tổ chức và các cá nhân nên pháp luật về hành nghề luật sư luôn có tính khoa học, chặt chẽ, chính xác trong điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến hành nghề luật sư.

Pháp luật về hành nghề luật sư được Nhà nước bảo đảm thực hiện bằng nhiều biện pháp, trong đó các biện pháp cưỡng chế nhà nước rất nghiêm khắc như xử phạt vi phạm hành chính, thậm chí truy cứu trách nhiệm hình sự… Với sự bảo đảm của Nhà nước đã làm cho pháp luật về hành nghề luật sư luôn được các tổ chức và cá nhân tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh, có hiệu quả trong đời sống xã hội.

  1. Pháp luật về hành nghề luật sư có tính quy phạm phổ biến, gồm những quy tắc xử sự mang tính bắt buộc chung

Pháp luật về hành nghề luật sư gồm các quy tắc xử sự chung, được thể hiện trong những hình thức xác định, có kết cấu logic rất chặt chẽ và được đặt ra không phải xuất phát từ một trường hợp cụ thể mà là sự khái quát hóa từ rất nhiều những trường hợp có tính phổ biến trong xã hội. Điều này đã làm cho quy định pháp luật về hành nghề luật sư có tính khái quát hóa cao, là những khuôn mẫu điển hình để các chủ thể (tổ chức, cá nhân) thực hiện khi gặp phải những tình huống mà pháp luật về hành nghề luật sư đã dự liệu.

Pháp luật về hành nghề luật sư mang tính bắt buộc chung, các quy định pháp luật hành nghề luật sư được dự liệu không phải cho một tổ chức hay cá nhân cụ thể, mà cho tất cả các tổ chức và cá nhân có liên quan đến hoạt động hành nghề luật sư, có tính chất buộc đối với tất cả chủ thể có liên quan trong việc thực hiện pháp luật.

  1. Pháp luật về hành nghề luật sư có tính xác định chặt chẽ về hình thức

Pháp luật về hành nghề luật sư luôn được thể hiện dưới những hình thức nhất định, nói cách khác, những quy định pháp luật về hành nghề luật sư chứa đựng trong các văn bản quy phạm pháp luật như Luật Luật sư và các văn bản hướng dẫn thi hành… Sự xác định chặt chẽ về hình thức của pháp luật về hành nghề luật sư là điều kiện tạo nên sự thống nhất, chặt chẽ, rõ ràng, chính xác về nội dung của pháp luật về hành nghề luật sư. Luận văn: Thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư Hồ Chí Minh.

  1. Pháp luật về hành nghề luật sư có tính xác định chủ thể đặc biệt của pháp luật về hành nghề luật sư là nghề luật sư

Cũng giống như pháp luật về một số lĩnh vực hành nghề khác, pháp luật về hành nghề luật sư cũng mang đầy đủ các đặc điểm của nghề luật sư rất riêng biệt như: Nghề luật sư là một nghề luật; Nghề luật sư mang tính chất dịch vụ và được nhận thù lao của khách hàng; Nghề luật sư gắn liền với số phận con người; Nghề luật sư hoạt động dựa trên pháp luật và quy chế trách nhiệm nghề nghiệp; Nghề luật sư là bất khả kiêm nhiệm; Nghề luật sư là hoạt động mang tính quốc tế.

1.1.2.3. Vai trò của của pháp luật về hành nghề luật sư

Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nước ta vừa vận động theo những quy luật của kinh tế thị trường, vừa được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội. Với mô hình kinh tế thị trường như vậy, Nhà nước nói chung, pháp luật về hành nghề luật sư nói riêng có vai trò đặc biệt quan trọng.

Cùng với sự ra đời của Luật Luật sư và hệ thống pháp luật về hành nghề luật sư tương đối hoàn chỉnh trong giai đoạn hiện nay, nổi bậc lên vai trò của pháp luật về hành nghề luật sư, có thể nhận thấy:

Một là, trong điều kiện đẩy mạnh cải cách tư pháp, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, thì phát triển đội ngũ luật sư có phẩm chất chính trị, đạo đức, có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và đủ về số lượng là một trong những nội dung quan trọng. Pháp luật về hành nghề luật sư phục vụ tốt hơn yêu cầu của hoạt động tư pháp nói chung, của hoạt động xét xử nói riêng, mà còn là nhân tố quan trọng hỗ trợ các quan hệ kinh tế thị trường phát triển.

Hai là, pháp luật về hành nghề luật sư là công cụ và phương tiện kiến tạo môi trường, cơ hội pháp lý như nhau đối với các chủ thể thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật hành nghề luật sư, nhằm phát huy khả năng của mình để phát triển trong điều kiện kinh tế thị trường. Tăng cường trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm nghề nghiệp của luật sư trong hành nghề, đặc biệt là việc tuân thủ pháp luật, giữ gìn đạo đức nghề nghiệp, kỷ luật hành nghề, đồng thời hoàn thiện cơ chế bảo đảm để luật sư thực hiện tốt các quyền, nghĩa vụ của luật sư.

Ba là, pháp luật về hành nghề luật sư là phương tiện có khả năng bảo đảm bình đẳng xã hội. Bởi pháp luật về hành nghề luật sư của nhà nước pháp quyền XHCN là những giá trị bình đẳng mà xã hội có, xã hội cần và ủng hộ. Nhà nước có một bộ máy hùng mạnh với các cơ quan, tổ chức bảo vệ và, với pháp luật về hành nghề luật sư – sự bảo đảm quyền con người, quyền công dân, nên bình đẳng và công bằng xã hội được ghi nhận trong Hiến pháp và pháp luật có khả năng trở thành hiện thực.

Bốn là, pháp luật về hành nghề luật sư là phương tiện để Nhà nước thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân trên cơ sở đề cao hành nghề luật sư. Pháp luật về hành nghề luật sư là phương tiện có hiệu lực và hiệu quả trong việc thể chế hóa đường lối, quan điểm của Đảng. Luận văn: Thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư Hồ Chí Minh.

Năm là, pháp luật về hành nghề luật sư là phương tiện để kiểm soát quyền lực nhà nước, buộc những người có chức vụ, quyền hạn hoạt động trong khuôn khổ của hiến pháp và pháp luật. Bằng cách đó, pháp luật về hành nghề luật sư là phương tiện quan trọng trong việc phòng, chống sự tha hóa của quyền lực nhà nước, bảo đảm cho thượng tầng kiến trúc nhà nước giữ vai trò định hướng XHCN.

Sáu là, pháp luật về hành nghề luật sư là phương tiện hữu hiệu để phát huy vị trí, vai trò của luật sư trong đời sống xã hội, cụ thể:

 Pháp luật về hành nghề luật sư phát huy vai trò của luật sư trong việc bảo vệ quyền của bị can, bị cáo và các đương sự trước toà án

Trong lịch sử, vai trò của luật sư trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo và các đưong sự trước toà không phải ở mọi lúc, mọi nơi được tôn trọng. Ở những nước mà mối quan hệ giữa con người với con người bị ảnh hưởng của tâm linh, thần cảm thì nghề luật sư chậm phát triển. Ví dụ như ở các nước Hồi giáo nghề luật sư ít phát triển, thậm chí không có nghề luật sư.

Nghề luật sư được phát triển và giữ vai trò quan trọng trong các nước dân chủ, phát triển. Để bảo bảo đảm công lý các bên khi tham gia tố tụng đều có sự giúp đỡ từ phía những nhà chuyên nghiệp là luật sư.

Theo quan điểm của phương Tây thì luật sư khi tham gia bảo vệ quyền lợi cho khách hàng, cho cá nhân, phải đặt quyền lợi của cá nhân cao hơn hoặc bằng quyền lợi của cộng đồng xã hội.

Vai trò của luật sư có sự khác nhau trong các nền văn minh khác nhau. Ở Nhật Bản trước đây các quan hệ trong xã hội được điều chỉnh bằng tập quán, đề cao sự hoà thuận, tránh cưỡng ép. Các quy phạm với chế tài là sự hổ thẹn và trách cứ, đủ để duy trì trật tự xã hội ở Nhật Bản.

Tuy nhiên ở Nhật Bản vào cuối thế kỷ 19 và đặc biệt là sau đại chiến thế giới lần thứ hai vai trò của pháp luật đã được thừa nhận trong xã hội Nhật Bản, nghề luật sư đã được hình thành và ngày càng phát triển.

Tuỳ theo quốc gia khác nhau mà pháp luật có vai trò quan trọng khác nhau. Ở Pháp trong một thời gian dài pháp luật chỉ đóng vai trò thứ yếu. Pháp luật chỉ tồn tại ở khía cạnh luật nội dung mà không có luật hình thức, luật nội dung không có bảo đảm của luật tố tụng, pháp luật tồn tại bên ngoài toà án, bên ngoài các vụ kiện.

Cái mà được gọi là pháp luật lại đối lập với tư pháp và không được mọi người quan tâm. Các nhà doanh nghiệp chỉ quan tâm đến khía cạnh thương mại của một hợp đồng mà không quan tâm đến khía cạnh pháp lý của nó. Pháp luật chưa được xã hội tôn trọng. Luận văn: Thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư Hồ Chí Minh.

Trên thế giới, nghề luật sư được tổ chức theo nhiều hình thức và rất đa dạng. Sự đa dạng này xuất phát từ đặc thù lịch sử, văn hóa, cách suy nghĩ cũng như hệ thống pháp luật của mỗi nước.

Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau về nghề luật sư nhưng đều có chung một điểm cho rằng, luật sư là một nghề trong xã hội, là công cụ hữu hiệu góp phần đảm bảo công lý.

Nghề luật sư rất chú ý đến vai trò cá nhân, uy tín nghề nghiệp của luật sư và tính chất của nghề tự do trong tổ chức hành nghề luật sư.

Tại Việt Nam, luật sư có nhiệm vụ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức và góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa. Trong cuộc sống hàng ngày công dân thường có nhiều mối quan hệ với nhau và với cơ quan, tổ chức. Những mối quan hệ này nhiều khi phát sinh những mâu thuẫn, động chạm đến quyền lợi của mỗi bên. Đặc biệt là những vấn đề phải giải quyết bằng con đường Tòa án mà ở đây những quyền cơ bản của công dân dễ bị đụng chạm nhất.

Thường công dân bị hạn chế bởi trình độ văn hóa, sự hiểu biết pháp luật nên khó có thể bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình một cách đầy đủ và toàn diện. Tổ chức luật sư được thành lập để giúp cho công dân về mặt pháp lý. Luật sư là người am hiểu pháp luật có kinh nghiệm trong hoạt động pháp luật, là người giúp cho công dân về mặt pháp lý có hiệu quả nhất khi có những vụ việc xảy ra liên quan đến pháp luật, nhất là những vụ việc ở Tòa án.

Trong thời gian qua, hoạt động tham gia tố tụng của luật sư đã bảo đảm thực hiện tương đối tốt nguyên tắc tranh tụng tại phiên toà, góp phần quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ trọng tâm của cải cách tư pháp. Thực tiễn thời gian qua cho thấy việc tham gia tố tụng của các luật sư không những bảo đảm tốt hơn quyền bào chữa của bị can, bị cáo, các đương sự khác, mà còn giúp các cơ quan tiến hành tố tụng phát hiện, sửa chữa những thiếu sót, làm rõ sự thật khách quan, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa. Thông qua hoạt động bào chữa, tranh tụng tại Tòa án, luật sư đã góp phần làm giảm thiểu các vụ án oan, sai, đã xuất hiện nhiều tấm gương luật sư xuất sắc trên diễn đàn pháp đình, vị thế của luật sư trong xã hội cũng ngày càng được nâng cao.

Pháp luật về hành nghề luật sư phát huy vai trò của luật sư trong hoạt động tư vấn pháp luật góp phần bảo vệ quyền, lợi ích cá nhân, tổ chức

Luật sư trước hết là một chuyên gia pháp luật, là một cố vấn pháp luật mà ở họ có những kỹ năng nghề nghiệp thực thụ.

Để công chúng, các nhà kinh doanh tuân thủ pháp luật và tin tưởng vào sự công bằng, bình đẳng của pháp luật thì những người hành nghề luật sư phải tự mình tôn trọng pháp luật. Đó là lý do vì sao nghề luật sư phải được pháp luật điều chỉnh chặt chẽ để duy trì lòng tin của xã hội và giới kinh doanh. Luận văn: Thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư Hồ Chí Minh.

Ngoài những quy định trên còn có những quy tắc nghề nghiệp bổ sung cho các quy định của pháp luật. Bên cạnh hoạt động tranh tụng, luật sư còn nhận làm tư vấn pháp luật cho cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước bằng hình thức ký kết hợp đồng dịch vụ pháp lý. Luật sư thực hiện tư vấn trong nhiều lĩnh vực pháp luật, soạn thảo các văn bản pháp luật, soạn thảo di chúc, hợp đồng mua bán tài sản, hợp đồng kinh tế, hợp đồng mua bán bất động sản, soạn thảo giấy tờ pháp lý của công ty… Lĩnh vực hoạt động soạn thảo văn bản có liên quan đến pháp luật là một lĩnh vực hoạt động quan trọng trong hoạt động tư vấn pháp luật của luật sư. Luật sư còn hướng dẫn khách hàng về những vấn đề có liên quan đến pháp luật, quyền của họ được pháp luật quy định và cách xử sự theo đúng pháp luật.

Việc tư vấn pháp luật cho khách hàng của luật sư góp phần không nhỏ trong việc giải quyết những tranh chấp xảy ra trong đời sống xã hội, ngăn chặn được những hành vi vi phạm pháp luật, giảm bớt phiền hà cho cơ quan nhà nước khi người dân thiếu hiểu biết pháp luật đi khiếu nại, khiếu kiện không đúng cơ quan có thẩm quyền.

Hoạt động tư vấn pháp luật và dịch vụ pháp lý khác của luật sư là một trong những yếu tố quan trọng góp phần tạo lập môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch, lành mạnh theo đúng pháp luật, đồng thời hỗ trợ tích cực trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển thị trường dịch vụ, tăng thu ngân sách, giải quyết việc làm; góp phần bảo vệ quyền lợi cho doanh nghiệp trong nước và cả ở nước ngoài.

Sự tham gia tích cực của các luật sư trong dự án đầu tư, các giao dịch kinh doanh, thương mại không chỉ góp phần phát huy nội lực mà còn thu hút ngoại lực, thúc đẩy hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam

Pháp luật về hành nghề luật sư phát huy vai trò của luật sư trong việc tham gia tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật

Là người hiểu biết pháp luật, thông qua việc hành nghề, luật sư góp phần tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật cho cộng đồng xã hội.

Thông qua tổ chức xã hội nghề nghiệp của mình, luật sư có trách nhiệm tham gia tham gia xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật.

Luật sư đóng một vai trò quan trọng trong việc góp phần bảo vệ quyền cơ bản của công dân và phát triển xã hội. Cùng với thời gian, đội ngũ luật sư Việt Nam dần khẳng định rõ vị trí, vai trò của mình trong xã hội. Luật sư với tư cách là người có kiến thức sâu, rộng về pháp luật có chức năng bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, tham gia tích cực trong việc bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, cần phải khẳng định mình hơn nữa trong công cuộc xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh ở Việt Nam.

1.2. Khái quát thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư Luận văn: Thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư Hồ Chí Minh.

1.2.1. Khái niệm thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư

Thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư là thực hiện pháp luật về một lĩnh vực pháp luật trong đời sống xã hội về hành nghề luật sư. Thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư là quá trình hoạt động có mục đích, làm cho những quy phạm pháp luật đi vào đời sống, tạo ra cơ sở pháp lý cho hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật về hành nghề được đúng đắn và tạo điều kiện cho nghề luật sư phát triển, đồng thời ngăn chặn tình trạng vi phạm pháp luật về hành nghề luật sư.

Hay nói cách khác, thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư chính là quá trình hoạt động có mục đích làm cho các quy phạm pháp luật về hành nghề luật sư đi vào cuộc sống, nhằm phát huy tính tích cực, chủ động trong thực hiện pháp luật, phòng ngừa và xử lý nghiêm minh các vi phạm pháp luật để đảm bảo phát triển nghề nghiệp luật sư, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, góp phần đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, tiêu cực trong các cơ quan nhà nước, ổn định tình hình chính trị – xã hội, thúc đẩy kinh tế phát triển.

1.2.2. Nguyên tắc thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư

1.2.2.1. Nguyên tắc quản lý luật sư và hành nghề luật sư

Luật Luật sư 2006 quy định nguyên tắc kết hợp quản lý nhà nước với phát huy vai trò tự quản của tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư trên cơ sở phân định rõ trách nhiệm quản lý của Nhà nước và trách nhiệm tự quản của tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư.

Với mục đích tạo cơ sở pháp lý để phát huy chế độ tự quản của tổ chức luật sư, Luật Luật sư quy định hoàn chỉnh hệ thống tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư bao gồm Tổ chức luật sư toàn quốc và Đoàn Luật sư ở các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cũng như chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các tổ chức này. Quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư theo định hướng, điều tiết và hỗ trợ phát triển của Nhà nước đối với nghề luật sư, chứ không mang tính chất hành chính, không can thiệp vào hoạt động nghề nghiệp của luật sư.

Tính chất của quản lý nhà nước, về cơ bản, là phù hợp với thực tiễn nghề luật sư ở nước ta, cũng như thông lệ mà một số nước trên thế giới áp dụng. Luận văn: Thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư Hồ Chí Minh.

Tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư thực hiện các công việc thể hiện vai trò tự quản của mình như: đại diện, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của luật sư thành viên trong hành nghề; giám sát việc tuân theo pháp luật, quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư, quy chế tập sự hành nghề luật sư của luật sư, người tập sự hành nghề luật sư, tổ chức hành nghề luật sư; bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho các luật sư thành viên; tập hợp, phản ánh tâm tư, nguyện vọng của các luật sư; hoà giải tranh chấp, giải quyết khiếu nại, tố cáo theo thẩm quyền.

Trong hoạt động quản lý luật sư và hành nghề luật sư, giữa cơ quan quản lý nhà nước và tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư có sự phối hợp trong việc thực hiện một số công việc như: đào tạo nghề luật sư; soạn thảo và ban hành Quy chế tập sự hành nghề luật sư; tổ chức kiểm tra kết quả tập sự hành nghề luật sư, giải quyết khiếu nại về kỷ luật của luật sư.

Nguyên tắc về quản lý nhà nước về hành nghề luật sư thể hiện sự quản lý bằng pháp luật: Nhà nước thực hiện chức năng quản lý thông qua việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về tổ chức và hành nghề luật sư; hướng dẫn, kiểm tra việc thi hành các văn bản đó; xử lý theo thẩm quyền đối với cá nhân, tổ chức có hành vi vi phạm các văn bản đó.

Bảo đảm tính độc lập và tự trách nhiệm của luật sư: Nhà nước không can thiệp vào công việc hành nghề của luật sư bằng mệnh lệnh, quyết định hành chính hoặc tác động bằng các hình thức khác làm ảnh hưởng đến độc lập và khách quan của luật sư khi hành nghề.

Tuân theo các nguyên tắc, yêu cầu cải cách hành chính: Nhà nước chỉ nắm những vấn đề quan trọng, không bao biện làm thay luật sư và tổ chức luật sư. Cương quyết cắt bỏ những thủ tục hành chính rườm rà cho luật sư và tổ chức luật sư, gây khó khăn,cản trở cho việc hành nghề chính đáng của họ. Kết hợp quản lý Nhà nước với phát huy vai trò tự quản của tổ chức luật sư: Cùng với việc tăng cường quản lý Nhà nước, cần phát huy tốt vai trò tự quản của các tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư. cần phải có cơ chế, phương thức kết hợp quản lý Nhà nước với vai trò tự quản của tổ chức xã hội nghề nghiệp luật sư, nhằm hướng tới mục tiêu chung là phát triển và nâng cao chất lượng dịch vụ pháp lý của luật sư cho nhân dân, góp phần bảo vệ công lý, phát triển kinh tế và xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.

Như vậy, pháp luật về hành nghề luật sư đã chuyển giao một số nhiệm vụ, quyền hạn mà từ trước tới nay do cơ quan quản lý nhà nước thực hiện sang cho Tổ chức luật sư toàn quốc hoặc các Đoàn luật sư và quy định cụ thể sự phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước và tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư trong một số công việc cụ thể.

Điều này tạo điều kiện để tổ chức xã hội – nghề nghiệp của luật sư có thể phát huy tốt nhất vai trò tự quản của mình, từng bước chuyên nghiệp hoá tổ chức và hoạt động hành nghề luật sư. Luận văn: Thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư Hồ Chí Minh.

1.2.2.2. Nguyên tắc hành nghề luật sư

  1. Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật

Do vị thế, vai trò, chức năng của Hiến pháp trong hệ thống pháp luật và đời sống xã hội nói chung, ý thức Hiến pháp luôn ở trong các mối quan hệ kép, nghĩa là không chỉ liên quan đến Hiến pháp mà liên quan cả pháp luật. Đó cũng chính là một trong những sự phức tạp của vấn đề ý thức Hiến pháp, thực thi, áp dụng Hiến pháp trong cuộc sống. Bởi lẽ, như đã đề cập, Hiến pháp vừa có hiệu lực trực tiếp, vừa cần đến sự điều chỉnh cụ thể bằng các văn bản luật, vừa là công cụ giám sát, kiểm soát tính hợp hiến của các quyết định pháp luật, hành vi pháp luật.

Tính chất kép và là đặc trưng, điểm nhấn của ý thức Hiến pháp do đó không chỉ là bản thân Hiến pháp mà quan trọng hơn nữa chính là việc thực hiện Hiến pháp từ phía các, cá nhân cơ quan nhà nước. Đứng trước một văn bản pháp luật, một quyết định, hành vi của các cá nhân công quyền, người thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư vừa có “ý thức pháp luật”, lại vừa có ý thức Hiến pháp” ví như quyền được viện dẫn Hiến pháp, quyền được yêu cầu bồi thường trên cơ sở các quy định, các nguyên tắc của Hiến pháp.

Hành nghề luật sư phải tuân thủ nguyên tắc: Để áp dụng đúng đắn pháp luật trên nguyên tắc tuân thủ Hiến pháp và pháp luật nhất là về các quyền, tự do của con người. Các quy định Hiến pháp có đi vào cuộc sống được hay không, phần lớn phụ thuộc vào ý thức pháp luật của con người (hiểu theo nghĩa tích cực của ý thức Hiến pháp, pháp luật). Sự tôn trọng, ý thức được sự cần thiết vì lợi ích chung của các quy định Hiến pháp sẽ định hướng hành vi của các cá nhân, làm cho hành vi của họ phù hợp yêu cầu của Hiến pháp, pháp luật. Ngược lại, sự coi thường Hiến pháp, pháp luật trong hành nghề luật sư cộng với những nguyên nhân khác sẽ dẫn đến các hành vi vi phạm Hiến pháp và pháp luật.

Để có được một nhà nước pháp quyền và xã hội công dân, hành nghề luật sư phải hiểu biết về Hiến pháp và ý thức tuân thủ pháp luật. Xây dựng ý thức Hiến pháp do vậy rất cần đến một chiến lược đồng bộ, bao gồm việc xây dựng ý thức và lối sống tôn trọng, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật đối với hành nghề luật sư ở nước ta.

Tuân theo Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam Cho đến nay, về mặt khoa học pháp lý, chưa có một định nghĩa chính thức mang tính chất kinh điển về khái niệm Quy tắc đạo đức nghề nghiệp luật sư. Trong nhiều bài viết, tham luận về vấn đề đạo đức nghề nghiệp luật sư, mỗi tác giả cũng đưa ra quan niệm của mình về vấn đề này bằng cách tiếp cận dưới các góc độ khác nhau. Luận văn: Thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư Hồ Chí Minh.

Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư đã được Hội đồng luật sư toàn quốc thông qua cũng không đưa ra một định nghĩa về quy tắc đạo đức nghề nghiệp luật sư. Tuy nhiên, căn cứ vào nội dung của Quy tắc, có thể đưa ra một định nghĩa chung về Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư như sau:

“Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư là những quy tắc xử sự được thể hiện dưới hình thức văn bản chứa đựng những quy phạm đạo đức và ứng xử nghề nghiệp do Hội đồng luật sư toàn quốc ban hành để điều chỉnh hành vi của các thành viên Liên đoàn luật sư Việt Nam trong quan hệ với các chủ thể có liên quan khi hoạt động nghề nghiệp và trong giao tiếp xã hội”.

Trong đời sống thường nhật, luật sư tham gia vào các quan hệ xã hội, các quan hệ nghề nghiệp, trong đó có các quan hệ tố tụng trong các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân gia đình, thương mại, lao động, hành chính. Trong các quan hệ tố tụng nêu trên lại diễn ra nhiều loại quan hệ giữa các chủ thể khác như : quan hệ giữa luật sư với các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng qua các giai đoạn tố tụng khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử; quan hệ với khách hàng, với những người tham gia tố tụng khác, quan hệ với đồng nghiệp, v.v.. Với tư cách một chủ thể tham gia trong các quan hệ tố tụng, luật sư có những quyền và nghĩa vụ tố tụng nhất định theo quy định của pháp luật. Đó là những quyền và nghĩa vụ pháp lý luật sư phải tuân thủ và nếu vi phạm sẽ phải chịu các hình thức xử lý theo các chế tài đã được luật hóa.

Tuy nhiên, trong các quan hệ nêu trên, vẫn còn có những trường hợp, tình huống nảy sinh trong thực tiễn giao tiếp không nằm trong phạm vi điều chỉnh của pháp luật mà thuộc phạm trù đạo đức và ứng xử nghề nghiệp phải được điều chỉnh bằng các quy định đạo đức tương ứng. Đó là các quy định về căn cứ, chuẩn mực đã được xác định trong bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư. Các quy định này cũng hàm chứa các nghĩa vụ đạo đức mang tính chất cấm đoán hay bắt buộc luật sư phải tuân thủ hoặc các quy phạm mang tính chất khuyến khích luật sư áp dụng trong quá trình hành nghề cũng như trong lối sống, giao tiếp khi tham gia các quan hệ xã hội khác.

Quy tắc đạo đức nghề nghiệp luật sư có giá trị là các chuẩn mực đạo đức của giới luật sư, tạo cơ sở để luật sư tự giác rèn luyện, tu dưỡng đạo đức trong sinh hoạt và hành nghề; là thước đó giúp luật sư giữ gìn phẩm chất, uy tín của mỗi cá nhân; từ đó khiêm tốn học hỏi, tích lũy kinh nghiệm và kỹ năng hành nghề, góp phần nâng cao uy tín nghề nghiệp của giới luật sư trong xã hội. Đây cũng chính là một văn bản mang tính quy phạm nội bộ thể hiện rõ nét nhất cơ chế quản lý theo phương thức “tự quản kết hợp với quản lý nhà nước” của Liên đoàn luật sư Việt Nam. Luận văn: Thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư Hồ Chí Minh.

Hiện nay, sau gần hai năm thu thập tài liệu, tổ chức nhiều cuộc hội thảo khoa học trong nước và quốc tế; qua 7 lần tiếp thu, chỉnh lý, lấy ý kiến đóng góp của các luật sư, đến nay bộ Quy tắc mới hoàn thành và được Hội đồng luật sư toàn quốc Ban hành kèm theo Quyết định số 68/QĐ-HĐLSTQ ngày 20 tháng 7 năm 2011 của Hội đồng luật sư toàn quốc thông qua.

Bộ Quy tắc đã tiếp thu những yếu tố phù hợp trong thông lệ quốc tế và nghề luật sư trên thế giới.

Bộ Quy tắc có 6 chương, gồm Quy tắc chung; Quan hệ với khách hàng; Quan hệ với đồng nghiệp; Quan hệ với các cơ quan tiến hành tố tụng; Quan hệ với các cơ quan nhà nước khác; Các quy tắc khác.

Việc thực hiện nghiêm túc, đầy đủ các 27 Quy tắc này sẽ giúp cho luật sư cung cấp các dịch vụ pháp lý có chất lượng cho khách hàng, đáp ứng các yêu cầu của xã hội sử dụng dịch vụ pháp lý của luật sư; hạn chế các tiêu cực, rủi ro làm mất uy tín, danh dự của luật sư, tạo dựng niềm tin của Nhà nước, cộng đồng xã hội với luật sư, nghề luật sư.

  1. Độc lập, trung thực, tôn trọng sự thật khách quan

Luật Luật sư và Quy tắc 2 của Bộ Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp Luật sư Việt Nam quy định về sự độc lập, trung thực, tôn trọng sự thật khách quan của luật sư như sau: “Luật sư phải độc lập, trung thực, tôn trọng sự thật khách quan, không vì lợi ích vật chất, tinh thần hoặc bất kỳ áp lực nào khác để làm trái pháp luật và đạo đức nghề nghiệp”. Với tư cách là một người có chuyên môn và kiến thức pháp lý sâu rộng, hơn ai hết, hành nghề luật sư là những người cần phải thượng tôn luật pháp, độc lập, trung thực, khách quan trong quá trình hành nghề của mình. Hành nghề luật sư là người có thể tự bằng khả năng của chính mình bảo vệ công lý và lẽ phải, đảm bảo sự công bằng cho khách hàng, hành nghề một cách chân chính chứ không thực hiện các hành động sai trái để giúp cho khách hàng của mình được hưởng lợi bất hợp pháp. Không thể vì lợi ích của riêng cá nhân luật sư hoặc của thân chủ mà sẵn sàng bất chấp pháp luật, dùng thủ đoạn trái luật để trục lợi, gây thiệt hại cho người khác và xã hội.

  1. Sử dụng các biện pháp hợp pháp để bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng

Hành nghề luật sư chỉ được sử dụng các biện pháp hợp pháp được quy định trong các văn bản pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho khách hàng. Các biện pháp hợp pháp được quy định trong tất cả các lĩnh vực hình sự, dân sự, hành chính, kinh doanh thương mại và hôn nhân gia đình bắt buộc người hành nghề luật sư cần nắm vững và có kỹ năng sử dụng thành thạo. Đặc biệt những quy định về việc thu thập, kiểm tra và đánh giá chứng cứ theo quy định tại điểm h, i, k khoản 1 Điều 73 Bộ luật tố tụng hình sự 2015, theo đó người bào chữa có quyền thu thập, đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, yêu cầu; kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá; đề nghị cơ quan thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ, giám định bổ sung, giám định lại, đánh giá lại tài sản … là một bước tiến dài trong hoạt động hành nghề luật sư. Luận văn: Thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư Hồ Chí Minh.

Sử dụng các biện pháp hợp pháp để bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng, đây chính là nghĩa vụ đạo đức của luật sư trong việc cung cấp dịch vụ pháp lý xuất phát từ sự tin cậy của khách hàng đối với luật sư. Chất lượng dịch vụ pháp lý được đo bằng hàm lượng chất xám của luật sư đầu tư vào vụ việc, sự tận tụy trong suốt quá trình thực hiện công việc để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng. Khái niệm “tốt nhất” được hiểu trong phạm vi trình độ, khả năng chuyên môn và trách nhiệm nghề nghiệp luật sư, không phải là nghĩa vụ bảo đảm kết quả vụ việc theo yêu cầu của khách hàng.

Luật sư có nghĩa vụ bảo đảm chất lượng dịch vụ pháp lý cung cấp cho khách hàng, tận tâm với công việc, phát huy năng lực, sử dụng kiến thức chuyên môn, các kỹ năng nghề nghiệp cần thiết để bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích của khách hàng theo quy định của pháp luật, Quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư.

Chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động nghề nghiệp luật sư. Hành nghề luật sư luôn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về nghề nghiệp luật sư theo quy định của pháp luật. Hành nghề luật sư là hoạt động đòi hỏi tính trách nhiệm cao, gây thiệt hại là phải bồi thường do vậy luật sư tham gia bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp là một nghĩa vụ cần thiết. Việc quản lý nghề luật sư phụ thuộc vào đặc điểm và tính truyền thống của mỗi quốc gia. Nghề luật sư còn được điều chỉnh bởi những quy tắc do luật định và những quy tắc không do luật định. Ở Việt Nam một trong những nguyên tắc hành nghề luật sư là tính tự chịu trách nhiệm của luật sư trước khách hàng của mình và trước pháp luật.

Do vai trò và tầm ảnh hưởng của nghề luật sư rất lớn nên mà trách nhiệm pháp lý trong hành nghề luật sư cũng cần được pháp luật quy định chặt chẽ hơn so với nhiều ngành nghề khác. Ngoài việc tuân thủ Hiến pháp, pháp luật chung, luật chuyên ngành, người hành nghề luật sư còn phải tuân thủ điều lệ của cơ quản lý việc hành nghề luật sư, nội quy, quy chế của tổ chức nơi luật sư tiến hành hoạt động hành nghề… Bên cạnh đó người hành nghề luật sư cũng phải đặc biệt tôn trọng quy tắc đạo đức, ứng xử nghề nghiệp. Cùng với đó, trách nhiệm pháp lý trong hoạt động hành nghề luật sư cũng gắn liền với tất cả các quy định mà luật sư phải tuân thủ.

1.2.3. Các yếu tố tác động đến thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư Luận văn: Thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư Hồ Chí Minh.

Các yếu tố tác động đến thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư là các yếu tố có mối quan hệ trực tiếp hoặc gián tiếp tới kết quả thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư và là cơ sở để xây dựng các giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư trong điều kiện kinh tế xã hội hiện nay, đáp ứng yêu cầu nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước trong giai đoạn sắp tới cũng như trong tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

1.2.3.1. Yếu tố chính trị

Thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư cũng như việc thực hiện pháp luật nói chung đòi hỏi phải đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng. Đây là quan điểm, nguyên tắc đã được ghi nhận trong các Nghị quyết của Đảng và đã được thể chế hóa tại Hiến pháp năm 2013.

Sự lãnh đạo của Đảng là điều kiện cơ bản nhằm bảo đảm cho việc thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư. Các cấp ủy Đảng lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư bằng việc quán triệt về mặt nhận thức, trách nhiệm của mình để pháp luật về hành nghề luật sư phát huy hiệu quả tích cực trên thực tế đời sống, thúc đẩy kinh tế – xã hội phát triển trong tình hình hiện nay.

1.2.3.2. Yếu tố kinh tế

Một quốc gia phát triển khi tình hình chính trị ổn định, có nền kinh tế phát triển và trật tự xã hội ổn định. Với sự phát triển của xã hội đặc biệt trong xu thế hội nhập như hiện nay thì nhu cầu sử dụng hoạt động hành nghề luật sư càng cao.

Một trong những mục tiêu của quá trình đổi mới, hội nhập, xây dựng Nhà nước pháp quyền là làm cho “dân giàu, nước mạnh” và trong quá trình này vai trò của các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế, cơ sở sản xuất là rất to lớn và quan trọng. Có thể nói, tất cả các đường lối, chính sách đối nội cũng như đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta đều nhằm tạo ra những điều kiện thuận lợi nhất cho quá trình phát triển kinh tế của đất nước trong đó bộ phận hợp thành là tất cả các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế. Ai cũng hiểu rằng, sự hưng thịnh của nền kinh tế quốc gia phụ thuộc vào sự phát triển của các doanh nghiệp và sự phát triển của các doanh nghiệp lại phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong đó dịch vụ pháp lý do luật sư, tổ chức hành nghề luật sư cung cấp là yếu tố hàng đầu và không thể thiếu đối với doanh nghiệp.

Từ thực tiễn hành nghề luật sư và thực tế kinh doanh của doanh nghiệp, đã xuất hiện ngày càng nhiều giữa doanh nghiệp với luật sư và tổ chức hành nghề luật sư, kể từ khi có ý tưởng kinh doanh, cho đến khi doanh nghiệp được thành lập và hoạt động, quan hệ này ngày càng bền chặt và rất thành công trong thời gian qua.

1.2.3.3. Yếu tố pháp luật Luận văn: Thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư Hồ Chí Minh.

Pháp luật là tiền đề, là cơ sở pháp lý cho hoạt động thực tế của các chủ thể pháp luật. Hệ thống pháp luật về hành nghề luật sư là cơ sở pháp lý cho các Luật sư, các tổ chức hành nghề luật sư, các tổ chức xã hội nghề nghiệp hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

Thực tiễn hoạt động quản lý nhà nước cho thấy nếu như hệ thống pháp luật về lĩnh vực nào đó không hoàn chỉnh thì không thể có hiệu quả trong hoạt động quản lý nhà nước cũng như hoạt động thực hiện pháp luật.

Pháp chế xã hội chủ nghĩa chỉ có thể được tăng cường, thực hiện pháp luật chỉ có thể nghiêm minh, phù hợp với thực tế khi có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh và đồng bộ, thể chế hóa đường lối chủ trương, chính sách của Đảng, phù hợp với những đặc điểm kinh tế – xã hội của đất nước. Pháp luật về hành nghề luật sư cũng vậy, muốn thực hiện tốt phải có hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, đơn giản, dễ hiểu và tạo ra một khung pháp lý đầy đủ, hoàn chỉnh đảm bảo được sự thống nhất quản lý trong toàn bộ lĩnh vực hành nghề làm cơ sở cho việc phát triển về số lượng và chất lượng đội ngủ luật sư.

Tuy nhiên, pháp luật có mà thực hiện không nghiêm thì cũng bị ảnh hưởng đến trật tự pháp luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa.

1.2.3.4. Yếu tố con người

Để pháp luật về hành nghề luật sư được thực hiện nghiêm chỉnh, đòi hỏi các chủ thể pháp luật, đặc biệt đối với chủ thể là cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức có thẩm quyền phải nhận thức đầy đủ ý nghĩa, vai trò của việc thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư.

Ý thức pháp luật của các chủ thể tham gia hoạt động về hành nghề luật sư càng được nâng cao thì việc đảm bảo thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư cũng được nâng cao thức pháp luật thể hiện sự nhận thức của các chủ thể và thái độ của họ đối với các quy định của pháp luật. Cho nên ý thức pháp luật càng được nâng cao, mức độ hiểu biết pháp luật càng sâu thì tinh thần tôn trọng pháp luật, thái độ tự giác xử sự theo yêu cầu của pháp luật, thực hiện pháp luật càng được bảo đảm. Do đó, ý thức pháp luật của các đối tượng tham gia hoạt động hành nghề luật sư là một yếu tố có ý nghĩa rất lớn ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư. Pháp luật về hành nghề luật sư chỉ có thể được thực hiện nghiêm chỉnh và chính xác nếu như các đối tượng tham gia nắm vững, hiểu rõ và chỉ làm những gì pháp luật không cấm, hạn chế tình trạng vi phạm pháp luật.

1.3. Nội dung hiện pháp luật về hành nghề luật sư Luận văn: Thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư Hồ Chí Minh.

Thực hiện pháp luật là hoạt động không thể thiếu ngay từ khi pháp luật xuất hiện và có một số đặc điểm:

Thực hiện pháp luật là một trong những hình thức để thực hiện các chức năng nhiệm vụ của nhà nước. Tất cả các nhà nước để có thể tổ chức và quản lý được xã hội đều bắt buộc phải tiến hành xây dựng (ban hành) pháp luật. Khi ban hành pháp luật nhà nước mong muốn sử dụng chúng để điều chỉnh các quan hệ xã hội phục vụ lợi ích và mục đích của nhà nước và xã hội.

Điều đó chỉ có thể đạt được khi pháp luật được các tổ chức và cá nhân trong xã hội thực hiện một cách chính xác, đầy đủ. Do vậy, đối với các Nhà nước vấn đề quan trọng không chỉ là ban hành thật nhiều các văn bản quy phạm pháp luật mà còn phải tổ chức thật tốt để chúng được thực hiện trong thực tế, làm cho các yêu cầu, quy định của pháp luật trở thành hiện thực.

Thực hiện pháp pháp luật là hành vi hợp pháp của các chủ thể pháp luật. Pháp luật được đặt ra là để điều chỉnh hành vi của con người, nên việc thực hiện pháp luật phải thể hiện ở hành vi pháp luật của con người. Hành vi đó có thể là hành động hoặc không hành động phù hợp với những quy định của pháp luật. Nói khác đi, tất cả những hoạt động nào của các cá nhân, các tổ chức mà phù hợp với các quy định của pháp luật thì đều được coi là biểu hiện của việc thực hiện các quy phạm pháp luật. Hành vi thực hiện pháp luật là hành vi hợp pháp nên nó không trái pháp luật, không vượt quá phạm vi các quy định của pháp luật, luôn phù hợp với các quy định của pháp luật.

Thực hiện pháp luật là giai đoạn không thể thiếu và vô cùng quan trọng của cơ chế điều chỉnh pháp luật. Thực hiện pháp luật, một mặt, nhằm đạt được những mục đích xã hội mà vì chúng nhà nước đã phải ban hành pháp luật, mặt khác, còn cho phép làm rõ những hạn chế, bất cập của hệ thống pháp luật thực định để từ đó có thể đưa ra những giải pháp hữu hiệu cho việc sửa đổi, bổ sung hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành và cơ chế đưa pháp luật vào cuộc sống. Thực hiện pháp luật nghiêm minh sẽ tạo ra trật tự cần thiết để các quan hệ xã hội tồn tại và phát triển theo những định hướng mong muốn có lợi cho xã hội, cho nhà nước cũng như cho các cá nhân. Luận văn: Thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư Hồ Chí Minh.

Thực hiện pháp luật do nhiều chủ thể khác nhau tiến hành với nhiều cách thức khác nhau. Pháp luật mang tính bắt buộc chung đòi hỏi mọi tổ chức và cá nhân trong xã hội đều phải nghiêm chỉnh thực hiện. Vì vậy, thực hiện pháp luật có thể là hành vi của mỗi cá nhân nhưng cũng có thể là hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội… Pháp luật lại gồm rất nhiều các loại quy phạm pháp luật khác nhau, do vậy đối với mỗi loại quy phạm pháp luật thì những cách thức thực hiện chúng cũng khác nhau: có thể đó là xử sự chủ động nhằm đạt được một lợi ích hay cái gì đó như sử dụng quyền hoặc làm nghĩa vụ pháp lý, có thể là xử sự thụ động, kiềm chế không làm những điều mà pháp luật cấm như không trộm cắp tài sản của người khác…

Việc thực hiện pháp luật có thể phụ thuộc ý chí của mỗi chủ thể trong trường hợp các quy phạm tùy nghi, nhưng chủ yếu là phụ thuộc ý chí của Nhà nước. Hành vi thực hiện pháp luật có thể được chủ thể tiến hành trên cơ sở nhận thức sâu sắc về sự cần thiết và tự giác thực hiện. Cũng có thể hành vi thực hiện pháp luật được chủ thể tiến hành do ảnh hưởng của những người khác, do bị áp dụng những biện pháp cưỡng chế nhà nước hoặc do sợ bị áp dụng những biện pháp đó. Một số quy phạm pháp luật mà việc thực hiện có thể được tiến hành thông qua những quy định giản đơn như chủ thể pháp luật nhận thức, xác định những yêu cầu, đòi hỏi của pháp luật rồi lựa chọn phương án thực hiện, chỉ đạo hành vi thực tế của mình để thực hiện các quyền, nghĩa vụ pháp lý mà pháp luật quy định. Song cũng có nhiều quy phạm pháp luật để thực hiện được còn đòi hỏi phải thông qua những quy trình hết sức phức tạp với sự tham gia của nhiều tổ chức, cá nhân khác nhau theo những trình tự, thủ tục chặt chẽ mà pháp luật quy định (thông qua cơ chế thực hiện, áp dụng pháp luật). Chẳng hạn, có những quy phạm pháp luật để thực hiện được còn đòi hỏi phải có sự tham gia của các văn bản quy định chi tiết, văn bản hướng dẫn thi hành hoặc văn bản giải thích chính thức; sự tham gia của các cơ quan nhà nước hay nhà chức trách có thẩm quyền với vai trò là người tổ chức, hướng dẫn thực hiện qua nhiều công đoạn khác nhau.

Trên cơ sở những đặc điểm trên, đối chiếu Luật Luật sư, có thể rút ra những nội dung thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư như sau:

1.3.1. Thực hiện quy định về điều kiện hành nghề luật sư

Luật Luật sư quy định về điều kiện hành nghề luật sư. Luận văn: Thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư Hồ Chí Minh.

Điều 2 “Luật sư là người có đủ tiêu chuẩn, điều kiện hành nghề theo quy định của Luật này, thực hiện dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức”.

Điều 10 “Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng Cử nhân Luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khoẻ bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể trở thành luật sư”.

Điều 11 Người có đủ tiêu chuẩn quy định tại Điều 10 của Luật này muốn được hành nghề luật sư phải có Chứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhập một Đoàn luật sư”.

Như vậy, để trở thành luật sư tại Việt Nam, một cá nhân có thể mất một thời gian ít nhất là trên 6 năm (hoặc dài hơn) vì phải hoàn thành các khóa học, chương trình học, tập sự, kiểm tra theo quy định.

Các điều kiện cơ bản để trở thành luật sư bao gồm:

1/ Có bằng cử nhân luật:

Tức là cá nhân phải tốt nghiệp trường Luật, khoa Luật của trường Đại học (thông thường là 4 năm học).

2/ Có bằng tốt nghiệp chương trình đào tạo luật sư:

Lớp học được đăng ký tại Học viện tư pháp (quy định hiện hành được học trong 12 tháng), sau đó đạt kết quả qua kỳ thi tốt nghiệp của Học viện tư pháp, và được cấp bằng tốt nghiệp lớp luật sư.

3/ Trải qua kỳ tập sự tại tổ chức hành nghề luật sư:

Sau khi tốt nghiệp lớp đào tạo luật sư, cá nhân bắt buộc phải đăng ký tập sự tại 1 tổ chức hành nghề luật sư với thời gian 12 tháng.

4/ Đạt điểm tại kỳ kiểm tra hết tập sự hành nghề luật sư:

Sau khi hoàn thành thời gian tập sự, người tập sự được tham gia kỳ kiểm tra hết tập sự hành nghề luật sư. Nếu đạt điểm thì được cấp chứng chỉ hành nghề Luật sư, nếu không đạt điểm theo quy định thì được gia hạn tập sự và tham gia kỳ kiểm tra lại.

Và nếu kỳ kiểm tra lại vẫn chưa đạt điểm qua thì người tập sự hành nghề Luật sư phải đăng ký tập sự lại từ đầu (12 tháng nữa).

5/ Cấp chứng chỉ và gia nhập đoàn luật sư, cấp thẻ hành nghề luật sư:

Nếu đạt kết quả trong kỳ kiểm tra hết tập sự hành nghề luật sư thì cá nhân làm hồ sơ theo quy định để xin cấp chứng chỉ hành nghề luật sư do Bộ tư pháp cấp, thẻ luật sư do Liên đoàn Luật sư Việt Nam cấp.

6/ Hành nghề luật sư: Luận văn: Thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư Hồ Chí Minh.

Sau khi được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư và thẻ luật sư thì luật sư được lựa chọn tổ chức hành nghề luật sư để hành nghề, hoặc hành nghề với tư cách cá nhân và phải đăng ký với Sở tư pháp địa phương nơi hành nghề.

7/ Quy định khác:

a/ Miễn, giảm thời gian tập sư hành nghề luật sư:

Người đã là thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên cao cấp, điều tra viên trung cấp, giáo sư, phó giáo sư chuyên ngành luật, tiến sỹ luật, thẩm tra viên cao cấp ngành tòa án, kiểm tra viên cao cấp ngành kiểm sát, chuyên viên cao cấp, nghiên cứu viên cao cấp, giảng viên cao cấp trong lĩnh vực pháp luật được miễn tập sự hành nghề luật sư.

Người đã là điều tra viên sơ cấp, thẩm tra viên chính ngành tòa án, kiểm tra viên chính ngành kiểm sát, chuyên viên chính, nghiên cứu viên chính, giảng viên chính trong lĩnh vực pháp luật được giảm hai phần ba thời gian tập sự hành nghề luật sư.

Người có thời gian công tác ở các ngạch chuyên viên, nghiên cứu viên, giảng viên trong lĩnh vực pháp luật, thẩm tra viên ngành tòa án, kiểm tra viên ngành kiểm sát từ mười năm trở lên thì được giảm một nửa thời gian tập sự hành nghề luật sư.

b/ Miễn kiểm tra tập sư hành nghề luật sư:

Người đã là thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên cao cấp, điều tra viên trung cấp, giáo sư, phó giáo sư chuyên ngành luật, tiến sỹ luật, thẩm tra viên cao cấp ngành tòa án, kiểm tra viên cao cấp ngành kiểm sát, chuyên viên cao cấp, nghiên cứu viên cao cấp, giảng viên cao cấp trong lĩnh vực pháp luật được miễn kiểm tra.

1.3.2. Thực hiện quy định về phạm vi hành nghề luật sư

Phạm vi hành nghề luật sư được quy định tại Điều 22 Luật Luật sư, cụ thể: Tham gia tố tụng với tư cách là người bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc là người bảo vệ quyền lợi của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự; Tham gia tố tụng với tư cách là người đại diện hoặc là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính, việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và các vụ, việc khác theo quy định của pháp luật; Thực hiện tư vấn pháp luật; Đại diện ngoài tố tụng cho khách hàng để thực hiện các công việc có liên quan đến pháp luật; Thực hiện dịch vụ pháp lý khác theo quy định của Luật Luật sư.

1.3.3. Thực hiện quy định về hình thức hành nghề luật sư Luận văn: Thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư Hồ Chí Minh.

Theo quy định tại Điều 32 của Luật Luật sư thì tổ chức hành nghề luật sư bao gồm: (i) Văn phòng luật sư do một luật sư thành lập được tổ chức và hoạt động theo loại hình doanh nghiệp tư nhân. Luật sư thành lập văn phòng luật sư là Trưởng văn phòng và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi nghĩa vụ của văn phòng. Trưởng văn phòng là người đại diện theo pháp luật của văn phòng; (ii) Công ty luật bao gồm công ty luật hợp danh và công ty luật trách nhiệm hữu hạn. Thành viên của công ty luật phải là luật sư. Công ty luật hợp danh do ít nhất hai luật sư thành lập. Công ty luật hợp danh không có thành viên góp vốn. Công ty luật trách nhiệm hữu hạn bao gồm công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên do ít nhất hai luật sư thành lập và công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên do một luật sư thành lập và làm chủ sở hữu.

Các thành viên công ty luật hợp danh, công ty luật trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên thoả thuận cử một thành viên làm Giám đốc công ty. Luật sư làm chủ sở hữu công ty luật trách nhiệm hữu hạn một thành viên là Giám đốc công ty.

Pháp luật về hành nghề luật sư đã đưa ra quy định chặt chẽ về điều kiện thành lập tổ chức hành nghề luật sư, theo đó, (i) luật sư thành lập hoặc tham gia thành lập tổ chức hành nghề luật sư phải có ít nhất hai năm hành nghề liên tục làm việc theo hợp đồng lao động cho tổ chức hành nghề luật sư hoặc hành nghề với tư cách cá nhân theo hợp đồng lao động cho cơ quan, tổ chức theo quy định của luật này và (ii) tổ chức hành nghề luật sư phải có trụ sở làm việc để bảo đảm điều kiện tối thiểu về cơ sở vật chất để thành lập tổ chức hành nghề.

Hiện nay, Điều 49, 50 Luật Luật sư đã thu hẹp phạm vi hành nghề của “luật sư hành nghề với tư cách cá nhân”, theo đó, Luật sư hành nghề với tư cách cá nhân chỉ được làm việc theo hợp đồng lao động cho cơ quan, tổ chức.

Các tổ chức hành nghề luật sư theo quy định tại Điều 32 của Luật Luật sư có quyền lập chi nhánh. Chi nhánh của tổ chức hành nghề luật sư là đơn vị phụ thuộc của văn phòng luật sư, công ty luật, hoạt động theo sự ủy quyền của văn phòng luật sư, công ty luật phù hợp với lĩnh vực hành nghề ghi trong giấy đăng ký hoạt động của văn phòng, công ty. Văn phòng luật sư, công ty luật phải chịu trách nhiệm về hoạt động của chi nhánh do mình thành lập.

Luật Luật sư quy định điều kiện hành nghề của tổ chức Luật sư nước ngoài, Luật sư nước ngoài và các hình thức hành nghề tại Việt Nam. Luận văn: Thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư Hồ Chí Minh.

Luật sư thành lập văn phòng luật sư, công ty luật, tổ chức luật sư nước ngoài thành lập chi nhánh hoặc công ty luật phải tiến hành đăng ký hoạt động tại Sở Tư pháp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.

1.3.4. Thực hiện quy định về trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước trong quản lý hành nghề luật sư

Trách nhiệm quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư được quy định tại Điều 83 Luật Luật sư như sau:

  • Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư.
  • Bộ Tư pháp chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư và có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
  • Xây dựng, trình Chính phủ quyết định chiến lược phát triển nghề luật sư, ban hành chính sách hỗ trợ cho Đoàn luật sư các tỉnh đặc biệt khó khăn và các chính sách khác hỗ trợ phát triển nghề luật sư;
  • Xây dựng, trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc ban hành văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành pháp luật về luật sư;
  • Cấp phép thành lập cơ sở đào tạo nghề luật sư; quy định chương trình khung đào tạo nghề luật sư; quy định chế độ bồi dưỡng bắt buộc về chuyên môn, nghiệp vụ của luật sư; phối hợp với Bộ Tài chính quy định học phí đào tạo nghề luật sư; quản lý, tổ chức việc bồi dưỡng, đào tạo nghề luật sư;
  • Cấp, thu hồi Chứng chỉ hành nghề luật sư;
  • Cấp, thu hồi, gia hạn Giấy phép hành nghề luật sư tại Việt Nam cho luật sư nước ngoài;
  • Cấp, thu hồi Giấy phép thành lập tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam;
  • Tổng kết, báo cáo Chính phủ về tổ chức luật sư và hành nghề luật sư;
  • Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo về tổ chức luật sư và hành nghề luật sư; tổ chức và hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài, luật sư nước ngoài tại Việt Nam;
  • Thực hiện các biện pháp hỗ trợ phát triển nghề luật sư;
  • Quản lý nhà nước về hợp tác quốc tế về luật sư;
  • Đình chỉ việc kiểm tra, hủy bỏ kết quả kiểm tra tập sự hành nghề luật sư khi phát hiện vi phạm pháp luật nghiêm trọng theo quy định của Luật Luật sư và các quy định khác của pháp luật có liên quan;
  • Đình chỉ thi hành và yêu cầu sửa đổi nghị quyết, quyết định, quy định của Liên đoàn luật sư Việt Nam trái với quy định của Luật Luật sư; Luận văn: Thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư Hồ Chí Minh.
  • Các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của Luật Luật sư.
  • Các bộ, cơ quan ngang bộ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phối hợp với Bộ Tư pháp trong việc quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư.
  • Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư tại địa phương và có các nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
  • Cho phép thành lập Đoàn luật sư; quyết định việc giải thể Đoàn luật sư sau khi có ý kiến thống nhất của Bộ trưởng Bộ Tư pháp;
  • Phê duyệt đề án tổ chức đại hội của Đoàn luật sư;
  • Tổ chức cấp, thu hồi Giấy đăng ký hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư Việt Nam, tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài tại Việt Nam;
  • Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm, giải quyết khiếu nại, tố cáo về tổ chức, hoạt động của Đoàn luật sư, tổ chức hành nghề luật sư Việt Nam, tổ chức và hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài, luật sư nước ngoài tại địa phương;
  • Đình chỉ thi hành và yêu cầu sửa đổi những nghị quyết, quyết định, quy định của Đoàn luật sư trái với quy định của Luật Luật sư;
  • Định kỳ báo cáo Bộ Tư pháp về tình hình tổ chức luật sư và hành nghề luật sư Việt Nam, tổ chức và hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài, luật sư nước ngoài tại địa phương;
  • Thực hiện các biện pháp hỗ trợ phát triển nghề luật sư tại địa phương;
  • Các nhiệm vụ, quyền hạn khác theo quy định của pháp luật.

Sở Tư pháp giúp Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện quản lý nhà nước về luật sư và hành nghề luật sư tại địa phương (gồm cả luật sư và tổ chức hành nghề luật sư nước ngoài).

1.3.5. Thực hiện quy định về thanh tra, xử lý vi phạm liên quan đến hành nghề luật sư

Việc kiểm tra nhằm đánh giá việc chấp hành các quy định pháp luật về luật sư của tổ chức hành nghề luật sư, qua đó kịp thời phát hiện, chấn chỉnh các vi phạm, thiếu sót và áp dụng biện pháp xử lý thích hợp theo quy định của pháp luật. Đồng thời, qua kiểm tra tiếp nhận những phản ánh, kiến nghị; phát hiện những nội dung chưa phù hợp, bất cập của pháp luật để từ đó có biện pháp tháo gỡ vướng mắc trong lĩnh vực luật sư. Luận văn: Thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư Hồ Chí Minh.

Thực hiện Luật Luật sư, Nghị định số 123/2013/NĐ-CP ngày 14/10/2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Luật sư và các văn bản pháp luật có liên quan, UBND tỉnh, thành phố ban hành Kế hoạch kiểm tra về tổ chức, hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư trên địa bàn hàng năm.

Việc kiểm tra nhằm đánh giá việc chấp hành các quy định pháp luật về luật sư của tổ chức hành nghề luật sư, qua đó kịp thời phát hiện, chấn chỉnh các vi phạm, thiếu sót và áp dụng biện pháp xử lý thích hợp theo quy định của pháp luật. Đồng thời, qua kiểm tra tiếp nhận những phản ánh, kiến nghị; phát hiện những nội dung chưa phù hợp, bất cập của pháp luật để từ đó có biện pháp tháo gỡ vướng mắc trong lĩnh vực luật sư, tổng kết, đánh giá việc thi hành Luật Luật sư.

Kiểm tra việc chấp hành các quy định của Luật Luật sư và các văn bản pháp luật có liên quan đến tổ chức, hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư, trong đó tập trung những nội dung: Việc thực hiện các quy định về đăng ký hoạt động, thay đổi đăng ký hoạt động, công bố nội dung đăng ký hoạt động, thay đổi nội dung đăng ký hoạt động của tổ chức hành nghề luật sư; Việc thực hiện các quy định của pháp luật về lao động trong trường hợp có thuê lao động; mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp cho luật sư hành nghề tại tổ chức mình theo quy định; Việc thực hiện các quy định của pháp luật về thuế, tài chính, kế toán, thống kê; Việc ký kết và thực hiện Hợp đồng dịch vụ pháp lý theo quy định của pháp luật; Việc báo cáo định kỳ, báo cáo đột xuất; Lưu trữ các giấy tờ tài liệu theo quy định của Luật Luật sư và các quy định khác của Luật luật sư và pháp luật có liên quan.

Đoàn kiểm tra của cấp tỉnh/thành phố trực thuộc trung ương được thành lập gồm có Trưởng đoàn là lãnh đạo Sở Tư pháp; các thành viên Đoàn kiểm tra là đại diện các cơ quan: Cục Thuế, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Văn phòng UBND tỉnh/thành phố, Ban chủ nhiệm Đoàn luật sư, công chức phòng quản lý các hoạt động bổ trợ tư pháp, thanh tra Sở Tư pháp và đại diện cơ quan, tổ chức có liên quan.

Tiểu kết chương 1 Luận văn: Thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư Hồ Chí Minh.

Với vai trò là chương quy định những vấn đề chung về hành nghề luật sư. Tác giả tập trung làm rõ một số nội dung sau:

Thứ nhất, làm rõ một số khái niệm, luật sư, nghề luật sư, hành nghề luật sư, pháp luật về hành nghề luật sư, thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư.

Thứ hai, làm rõ vai trò của pháp luật về hành nghề luật sư, vai trò vị trí, chức năng xã hội của luật sư trong đời sống.

Thứ ba, phân tích các yếu tố tác động đến thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư như yếu tố chính trị, yếu tố kinh tế, yếu tố pháp luật, yếu tố con người.

Thứ tư, làm rõ các nội dung thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư về điều kiện hành nghề, phạm vi hành nghề, tổ chức hành nghề luật sư, trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước trong quản lý hành nghề luật sư, thanh tra, xử lý vi phạm liên quan đến hành nghề luật sư.

Trên cơ sở phân tích những vấn đề chung thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư ở chương 1 là cơ sở để tác giả phân tích thực trạng về hành nghề luật sư ở chương 2. Luận văn: Thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư Hồ Chí Minh.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư

One thought on “Luận văn: Thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư Hồ Chí Minh

  1. Pingback: Luận văn: Giải pháp thực hiện pháp luật về hành nghề luật sư

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *