Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Tạo động lực thúc đẩy làm việc cho giảng viên hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Giải pháp tạo động lực thúc đẩy làm việc cho giảng viên tại Trường cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nguồn lực con người luôn đóng vai trò cực kì quan trọng trong hoạt động của các doanh nghiệp hay các tổ chức. Một tổ chức có thể đạt được năng suất lao động cao khi có những nhân viên làm việc tích cực và sáng tạo. Điều đó phụ thuộc vào cách thức và phương pháp mà những người quản lý sử dụng để tạo động lực thúc đẩy làm việc cho nhân viên. Tuy nhiên, công tác quản lý nguồn lực con người muốn đạt được hiệu quả đòi hỏi người quản lý phải có sự hiểu biết về con người ở nhiều khía cạnh và lấy con người là yếu tố trung tâm cho sự phát triển. Từ quan niệm đó, nhiều kỹ thuật quản lý nhân lực đã ra đời nhằm mục đích giúp con người phát huy hết khả năng tiềm ẩn, giảm lãng phí nguồn lực, tăng hiệu quả hoạt động của tổ chức. Muốn vậy, điều quan trọng nhất là các đơn vị phải tạo động lực cho người lao động làm việc với sự sáng tạo cao.
Trên thực tế đã có rất nhiều học thuyết về việc tạo động lực cho người lao động nhưng việc áp dụng vào mỗi tổ chức là khác nhau. Từ thực tiễn đó, nhận thức được tầm quan trọng của công tác tạo động lực làm việc cho người lao động trong tình hình hiện nay, nên sau một thời gian nghiên cứu, tìm hiểu, tôi đã chọn đề tài: “Giải pháp tạo động lực thúc đẩy làm việc cho giảng viên tại Trường cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng” làm luận văn tốt nghiệp cao học của mình. Đề tài được sự quan tâm, ủng hộ của lãnh đạo trường, bởi lẽ đề tài sẽ góp phần thực hiện nhiệm vụ chiến lược về xây dựng động lực thúc đẩy làm việc cho giảng viên nhằm phát huy sức mạnh tập thể, tạo ra một tập thể vững mạnh, bằng cách sử dụng các chính sách cụ thể để thắt chặt hơn sợi dây liên kết, gắn bó đội ngũ giảng viên với nhà trường.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Vấn đề động lực và tạo động lực nhằm kích thích tính tích cực, sáng tạo của con người trong lao động từ lâu đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước, tùy theo phương pháp tiếp cận, các nhà khoa học có những quan niệm và các cách thức lý giải khác nhau về động lực thúc đẩy các hoạt động của con người.
2.1. Tình hình nghiên cứu tại nước ngoài. Luận văn: Tạo động lực thúc đẩy làm việc cho giảng viên.
Ở nước ngoài, đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề này, tiêu biểu như các nghiên cứu của Abraham Harold Maslow (1943), Clayton Alderfer (1972), David Mc Clelland, Friderick Herzberg (1959)…
Điểm chung của các nghiên cứu trên là các tác giả đều cho rằng: nhu cầu và sự thỏa mãn nhu cầu tạo nên động lực thúc đẩy mọi hoạt động của con người. Từ đó các nhà nghiên cứu tập trung phân tích những nhu cầu của con người và sự thỏa mãn chúng có ảnh hưởng như thế nào đến động lực làm việc của họ. Tuy vậy, các nghiên cứu trên mới chỉ lý giải được việc thỏa mãn nhu cầu làm phát sinh động lực lao động, chứ chưa giải thích được rằng tại sao con người lại có nhiều cách khác nhau để thỏa mãn các nhu cầu và đạt được mục tiêu của họ.
Một số công trình nghiên cứu khác, xuất phát từ quá trình hình thành động lực để lý giải việc con người lựa chọn các hành vi để thỏa mãn các nhu cầu của họ như thế nào. Công trình nghiên cứu tiêu biểu của J. Stacy Adam (1965) với học thuyết về sự công bằng, cho rằng: con người trong tổ chức mong muốn được đối xử một cách công bằng, và đối xử công bằng sẽ tạo động lực cho nhân viên; Victor Vroom (1964) cho rằng: động lực làm việc phụ thuộc vào sự mong đợi của các cá nhân về khả năng thực hiện nhiệm vụ của họ và về việc nhận được các phần thưởng như họ mong muốn, động lực làm việc của người lao động sẽ trở nên mạnh mẽ khi họ tin rằng một sự nỗ lực nhất định của họ sẽ đem lại một thành tích nhất định và thành tích đó sẽ dẫn đến những kết quả và phần thưởng như họ mong muốn. L. Porter và E. Lawler thì cho rằng có 3 nhóm yếu tố ảnh hưởng đến kết quả thực hiện công việc của người lao động: khả năng thực hiện công việc, sự nỗ lực làm việc và sự ủng hộ của tổ chức. Nếu một trong ba yếu tố trên không được đảm bảo thì kết quả thực hiện công việc của cá nhân sẽ không đạt được như mong đợi.
2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Việt Nam, chỉ khi sự nghiệp đổi mới toàn diện đất nước được khởi xướng, thì vấn đề tạo động lực, khơi dậy tiềm năng và phát huy tính tích cực của yếu tố con người mới được quan tâm nghiên cứu nhằm cung cấp cơ sở lý luận và thực tiễn cho Đảng và Nhà nước ta hoạch định chính sách phát triển kinh tế – xã hội, thực hiện thành công sự nghiệp Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước. Từ đó đến nay, đã có khá nhiều đề tài nghiên cứu cấp Nhà nước, luận án Tiến sĩ, Thạc sĩ được thực hiện về chủ đề này. Luận văn: Tạo động lực thúc đẩy làm việc cho giảng viên.
Đề tài nghiên cứu khoa học cấp nhà nước “Vấn đề phát huy và sử dụng đúng đắn vai trò động lực của con người trong sự phát triển kinh tế – xã hội”, mã số KX-07-03 thuộc Chương trình KX-07, (1991 – 1995) do GS.TS Lê Hữu Tầng làm chủ nhiệm đã làm rõ tiềm năng to lớn của con người Việt Nam và đưa ra một số giải pháp nhằm khai thác, phát huy vai trò động lực của con người trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
Luận án Tiến sĩ triết học: “Vai trò động lực của nhu cầu và vấn đề chủ động định hướng hoạt động của con người trên cơ sở nhận thức nhu cầu”, của tác giả Lê Thị Kim Chi (2011), đã phân tích nội dung hoạt động của con người và vai trò động lực của nhu cầu đối với phát triển kinh tế – xã hội, làm rõ các căn cứ xác định nhu cầu cấp bách hiện nay, đồng thời nêu một số giải pháp để đáp ứng những nhu cầu này nhằm phát huy vai trò động lực đối với sự phát triển kinh tế – xã hội.
Tiếp đến là luận án tiến sĩ: “Chính sách tạo động lực cho cán bộ công chức cấp xã (nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Nghệ An)” của tác giả Lê Đình Lý (Đại học Kinh tế Quốc dân – 2019), đã đưa ra cơ sở lý luận, thực trạng tạo động lực làm việc của cán bộ công chức, làm rõ các ưu và nhược điểm của chế độ chính sách Nhà nước hiện hành, từ đó đề xuất các quan điểm, giải pháp hoàn thiện chính sách nhằm tạo động lực làm việc tốt cho cán bộ công chức nói chung, cũng như cán bộ công chức cấp xã trong tình hình mới.
Nhìn chung những công trình trên đã góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề về lý luận và thực tiễn quan trọng của công tác tạo động lực, kích thích lao động. Tuy nhiên, những công trình đó chủ yếu tiếp cận vấn đề về mặt phương pháp luận, quan điểm, nguyên tắc của công tác cán bộ hoặc là tập trung vào việc phân tích, đánh giá thực trạng và nêu ra giải pháp nói chung, và ở phạm vi vĩ mô, chứ chưa có sự đi sâu vào việc phân tích một cách toàn diện cơ sở lý luận, thực tiễn tạo động lực tại một cơ sở đào tạo cụ thể. Đặc biệt, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu về tạo động lực lao động cho giảng viên trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng. Chính vì thế sau một thời gian làm việc và tìm hiểu tại Trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng, tác giả đã lựa chọn vấn đề tạo động lực làm đề tài nghiên cứu của mình, qua đó nhằm bổ sung và hoàn thiện kiến thức về tạo động lực đồng thời đóng góp một số ý kiến cá nhân về công tác này đối với trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng nhằm giúp Nhà trường sử dụng đội ngũ giảng viên được hiệu quả hơn.
3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn: Tạo động lực thúc đẩy làm việc cho giảng viên.
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Xây dựng giải pháp tạo động lực làm việc cho giảng viên Trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống cơ sở lý luận về tạo động lực làm việc cho người lao động. Đánh giá thực trạng về động lực làm việc của giảng viên, tìm ra các điểm hạn chế nhằm đề xuất các giải pháp mang tính khả thi về động lực làm việc của giảng viên tại Trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan đến việc tạo động lực làm việc cho người lao động. Đội ngũ giảng viên tại Trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi về không gian: Nghiên cứu và đề xuất các giải pháp để tạo động lực thúc đẩy làm việc cho giảng viên tại Trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng.
- Phạm vi về thời gian: giai đoạn nghiên cứu 2020-2025 và ứng dụng các giải pháp từ năm 2026-2030.
5. Phương pháp nghiên cứu
Với các mục tiêu trên, đề tài được phân tích và phát triển dựa trên các phương pháp nghiên cứu sau:
Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu: tập hợp các tài liệu sẵn có đã thu thập từ các công trình nghiên cứu, các bài báo, tạp chí, các trang wed liên quan đến đề tài và sử dụng các tài liệu đã được công bố của Trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng… Phương pháp này dùng để đáp ứng mục tiêu nghiên cứu.
- Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp đánh giá: phương pháp này được sử dụng để phân tích thực trạng công tác tạo động lực tại công ty. Luận văn: Tạo động lực thúc đẩy làm việc cho giảng viên.
- Phương pháp khảo sát bằng phiếu điều tra (điều tra toàn diện số giáo viên Nhà trường).
- Phương pháp thống kê mô tả
6. Những đóng góp mới của Đề tài
Về lý luận: Đề tài đã hệ thống hóa lý thuyết liên quan đến tạo động lực lao động cho người lao động trong tổ chức.
Về thực tiễn: Đề tài phân tích thực trạng tạo động lực cho giảng viên tại Trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng. Trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác tạo động lực cho đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng.
7. Bố cục và kết cấu Đề tài
Ngoài lời mở đầu, kết luận, phụ lục, danh mục tài liệu tham khảo, Đề tài được trình bày gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về động lực và tạo động lực lao động trong tổ chức.
- Chương 2: Phân tích thực trạng tạo động lực lao động cho giảng viên ở trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng.
- Chương 3: Giải pháp tạo động lực thúc đẩy làm việc cho giảng viên Trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng.
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TẠO ĐỘNG LỰC THÚC ĐẨY LÀM VIỆC CHO GIẢNG VIÊN
1.1. Khái niệm về tạo đông lực và giảng viên đại học
1.1.1. Khái niệm về động lực, tạo động lực
Xung quanh vấn đề động lực và tạo động lực đến nay có nhiều khái niệm như:
- a) Động lực trong lao động.
Trong giai đoan hiện nay nguồn nhân lực của tổ chức đóng vai trò hết sức quan trọng, đó là nhân tố quyết định nên sự thành bại trong kinh doanh của tổ chức. Vấn đề tạo động lực trong lao động là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản trị nhân sự trong doanh nghiệp, nó thúc đẩy người lao động hăng say làm việc nâng cao nắng suất lao động.
Có nhiều quan niệm khác nhau về tạo động lực trong lao động nhưng đều có những điểm chung cơ bản nhất.
Theo giáo trình quản trị nhân lực của ThS. Nguyễn Vân Điềm – PGS.TS Nguyễn Ngọc Quân “Động lực lao động là sự khao khát, tự nguyện của người lao động để tăng cường nỗ lực nhằm hướng tới một mục tiêu, kết quả nào đó”
Theo giáo trình hành vi tổ chức của TS Bùi Anh Tuấn “Động lực lao động là những nhân tố bên trong kích thích con người tích cực làm việc trong điều kiện cho phép tạo ra năng suất, hiệu quả cao. Biểu hiện của động lực là sự sẵn sàng, nỗ lưc, say mê làm việc nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức cũng như bản thân người lao động”.
Suy cho cùng động lực trong lao động là sự khao khát và tự nguyện nhằm tăng cường mọi sự nỗ lực của con người để đạt tới một mục đích và kết quả cụ thể nào đó của tổ chức. Luận văn: Tạo động lực thúc đẩy làm việc cho giảng viên.
Từ những quan điểm về động lực trong lao động ở trên ta nhận thấy, tuy có nhiều cách tiếp cận khác nhau về động lực, nhưng đều nói lên bản chất của động lực là những gì kích thích con người hành động để đạt tới mục tiêu nào đó. Mục tiêu của người lao động đặt ra một cách có ý thức được phản ánh bởi động cơ của người lao động và quyết định hành động của họ. Vậy động cơ lao động là gì và được thể hiện như thế nào? và mục tiêu của các nhà quản lý là phải làm sao tao ra được động lực để người lao động có thể làm việc đạt hiệu quả cao nhất phục vụ cho tổ chức.
- b) Động cơ lao động:
Động cơ lao động được thể hiện ở:
Mục tiêu thu nhập: Đây là mục tiêu hàng đầu của người lao động khi họ tham gia vào quá trình lao động, vì thu nhập là nguồn vật chất chủ yếu đảm bảo sự tồn tại và phát triển của con người.
Mục tiêu phát triển cá nhân: Là mục tiêu hoàn thiện nhân cách cá nhân con người thông qua hoạt động xã hội. Khi thu nhập đã đảm bảo cuộc sống hàng ngày về mặt vật chất ở một mức nào đó thì người lao động luôn có xu hướng học tập để nâng cao sự hiểu biết cũng như nâng cao trình độ chuyên môn của mình.
Mục tiêu về thỏa mãn hoạt động xã hội: Con người muốn được thể hiện mình thông qua tập thể khi các mục tiêu về thu nhập và mục tiêu phát triển cá nhân đã được đáp ứng thì người lao động luôn có xu hướng tìm cách để khẳng định vị trí của mình trong xã hội thông qua các hoạt động xã hội. Qua đó, để đạt được hiệu quả sản xuất cao thì các nhà quản lý phải xác định được động cơ của người lao động, hay nói cách khác là phải xác định được nhu cầu của người lao động trong từng giai đoạn phát triển của họ đang ở mức độ nào, từ đó có thể đưa ra những phương án để thỏa mãn những nhu cầu đó một cách hợp lý, qua đó tạo động lực cho người lao động. Luận văn: Tạo động lực thúc đẩy làm việc cho giảng viên.
- c). Tạo động lực lao động:
Trong sản xuất kinh doanh, muốn đạt được hiệu quả cao, năng suất lao động cao thì bất kỳ tổ chức nào cũng cần phải có đội ngũ nhân viên mạnh. Ngoài trình độ chuyên môn, đạo đức thì vấn đề động lực làm việc là một trong những yếu tố quyết định đến năng suất và hiệu quả làm việc của người lao động. Để tạo cho nhân viên vui vẻ, tích cực và có tính sáng tạo cao trong công việc thì cần phải có biện pháp tạo động lực hiệu quả. Có nhiều quan điểm khác nhau về tạo động lực lao động.
Theo PGS.TS Lê Thanh Hà cho rằng: “Tạo động lực là xây dựng và thực thi một hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản trị tác động đến người lao động, khiến cho người lao động yêu thích và sáng tạo hơn trong công việc để đạt được kết quả tốt nhất có thể đối với mỗi nhiệm vụ cụ thể được giao” (2018), Giáo trình QTNL, NXB Lao động – xã hội, tr.91 . “Tạo động lực lao động được hiểu là hệ thống các chính sách, biện pháp, thủ thuật quản lý tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực trong làm việc”.
Đối với người lao động, quá trình lao động ở tổ chức luôn có xu hướng bị nhàm chán, bị tác động bởi các yếu tố trong quan hệ lao động và quan hệ xã hội. Do vậy, tinh thần thái độ và tích cực của họ có xu hướng giảm sút và tất yếu họ sẽ tìm cách rời khỏi tổ chức. Do đó, tổ chức cần sử dụng đúng đắn các biện pháp kích thích động lực lao động để người lao động luôn hăng hái, tích cực, có tinh thần trách nhiệm cao. Với cách hiểu như trên về động lực lao động, có thể hiểu tạo động lực lao động là: “Hệ thống các biện pháp, chính sách, cách ứng xử của tổ chức tác động đến người lao động nhằm làm cho người lao động có động lực lao động trong công việc, thúc đẩy họ hài lòng hơn với công việc và nỗ lực phấn đấu để đạt được các mục tiêu của bản thân và tổ chức”. Vậy thực chất của tạo động lực chính là quá trình làm nảy sinh động lực lao động trong mỗi cá nhân người lao động. Đó chính là việc xác định các nhu cầu và làm thỏa mãn các nhu cầu hợp lý của người lao động, làm tăng thêm lợi ích cho họ để họ có thể làm việc tích cực, tự giác, sáng tạo và hiệu quả nhất.
Tóm lại nhà quản lý của tổ chức cần xây dựng và thực thi hệ thống các chính sách, các biện pháp trong quá trình quản trị nguồn nhân lực nhằm tác động đến người lao động giúp họ có động cơ, động lực làm việc nhằm tạo ra năng suất, chất lượng lao động cao, khả năng làm việc, chất lượng công việc đồng thời người lao động tự hoàn thiện bản thân, phát huy, sáng tạo, cải tiến trong quá trình làm việc.
1.1.2. Khái niệm giảng viên tại các trường đại học Luận văn: Tạo động lực thúc đẩy làm việc cho giảng viên.
1.1.2.1. Khái niệm
Theo Điều 21 Luật Giáo dục: “Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác” [tr.23].
Trong hệ thống giáo dục quốc dân của nước ta có các cấp học: Giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học và sau đại học. Trong đó, Giáo dục đại học và sau đại học đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học, trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ. Tương ứng với mỗi cấp học, nhà giáo sẽ có tên gọi khác nhau.
Theo Đại từ điển tiếng Việt, trang 624: “Giảng viên là người giảng dạy tại trường đại học hay lớp huấn luyện cán bộ”.
Còn theo Khoản 23 Điều 1 Luật số 44/2018/QH12 ngày 25/11/2018 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục số 38/2014/QH11 của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam có đưa ra “Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục đại học, trường cao đẳng nghề gọi là giảng viên” [tr.8].
Từ đó, Giảng viên là người tham gia công tác giảng dạy tại trường đại học, cao đẳng và cao đẳng nghề.
1.1.2.2. Đặc điểm của giảng viên tại các trường đại học
Giảng viên cũng như người lao động khác đều là đối tượng chính của các hoạt động quản trị nhân lực. Tuy nhiên do đặc thù nghề nghiệp, giảng viên có đặc điểm riêng. Cụ thể đó là:
Thứ nhất, giảng viên là lực lượng lao động chất xám, có trình độ, trí thức khoa học, có tính sáng tạo, tự trọng cao. Không giống như các lao động trực tiếp giản đơn khác, việc đánh giá và đo lường thực hiện công việc đối với lao động trí óc gặp khó khăn hơn nhiều so với lao động bình thường;
Thứ hai, các hoạt động của giảng viên rất đa dạng, có thể thực hiện ở nhiều hình thức khác nhau. Kết quả công việc của giảng viên vừa rõ ràng vừa không rõ ràng, vừa định lượng được vừa không định lượng được. Ngoài hai nhiệm vụ chính là giảng dạy và nghiên cứu khoa học thì giảng viên còn tham gia nhiều công tác khác như sinh hoạt chuyên môn, coi thi, chấm thi.. .Kết quả công việc liên quan về mặt hành chính có thể định lượng được đó là số giờ thực giảng, luận án và luận văn hướng dẫn., nhưng cũng có những mặt khó xác định như khả năng truyền đạt, thái độ giảng dạy. Để đánh giá thực hiện công việc của giảng viên cần căn cứ vào chất lượng giảng dạy, nghiên cứu khoa học. Tuy nhiên những nội dung này khó đánh giá, đặc biệt là phải qua thời gian mới đánh giá được. Điều này ảnh hưởng đặc biệt tới việc xác định chu kỳ đánh giá cũng như xây dựng các tiêu chí đánh giá cho phù hợp; Luận văn: Tạo động lực thúc đẩy làm việc cho giảng viên.
Thứ ba, đối với giảng viên thì đối tượng lao động chính là sinh viên – học viên, những người có trình độ và nhận thức nhất định. Qua hoạt động giảng dạy của giảng viên, sinh viên không những nắm được kiến thức, kỹ năng phục vụ cho công việc sau này mà còn phát triển nhân cách của mình. Chính đối tượng đặc biệt như vậy nên yêu cầu về trình độ, kỹ năng phẩm chất của giảng viên càng ngày càng cao. Từ đó cho thấy sinh viên – học viên sẽ là nguồn cung cấp thông tin phản hồi chính xác về kết quả thực hiện công việc của giảng viên ;
Thứ tư, không giống như các lao động khác, thời gian lao động của giảng viên rất linh hoạt, giảng viên thường xuyên phải làm việc ngoài giờ. Giảng viên không thực hiện công việc theo giờ hành chính mà quy đổi thời gian làm việc của họ thành giờ chuẩn, bởi những thời gian không thực hiện ở trường như soạn giáo án, chấm thi, thời gian tự nghiên cứu, học tập và bồi dưỡng. Do đó khi đánh giá thực hiện công việc của giảng viên phải có phương pháp đo thích hợp;
Do những đặc điểm trên, công tác đánh giá thực hiện công việc cho giảng viên tại các trường đại học sẽ vừa dựa trên nền tảng của đánh giá thực hiện công việc chung, đồng thời đòi hỏi phải có những điều thích hợp với đặc thù nghề nghiệp.
1.1.3. Vai trò của tạo động lực trong quản trị nguồn nhân lực
Hoạt động tạo động lực được xét trên ba khía cạnh: người lao động, tổ chức và xã hội.
1.1.3.1. Đối với bản thân nhân viên
Người lao động có hứng thú trong công việc: được làm việc với sự thoải mái làm cho người lao động có được trạng thái tinh thần tốt, không bị căng thẳng thần kinh, không ảnh hưởng tới sức khỏe, từ đó họ có thể khám phá ra được niềm vui trong công việc.
Tái tạo sức lao động cho người lao động: Khi người lao động được nhận phần khuyến khích về vật chất là tiền thưởng thì đây cũng là một khoản tiền giúp tái tạo sức lao động, họ có thể sử dụng nó vào việc nghỉ ngơi hoặc mua sắm những thứ họ cần, điều này cũng làm cho người lao động có tinh thần tốt hơn và muốn nhận được thêm những phần thưởng đó họ càng phải cố gắng. Cùng với sự cố gắng của người lao động là hiệu quả công việc ngày một nâng cao, chính nhờ sự cố gắng của mỗi người lao động đã tạo nên môi trường làm việc năng động, hiệu quả, điều này tác động vào người lao động khiến họ được cống hiến sức lao động trong môi trường chuyên nghiệp, con người sẽ được phát triển, năng động và sáng tao hơn. Trong khi người lao động đang cố gắng để tạo thêm thu nhập cho mình thì họ cũng đã làm cho môi trường làm việc của họ ngày càng tốt hơn. Mỗi người sẽ có trách nhiệm với công việc hơn và thi đua nhau cùng cố gắng.
1.1.3.2. Đối với tổ chức
Tăng năng suất lao động: người lao động có động lực làm việc thì họ sẽ cố gắng hoàn thành công việc được giao và có thể sáng tạo ra một số biện pháp cải tiến kỹ thuật, thao tác làm việc dẫn đến năng suất lao động được tăng lên. Từ đó tăng doanh thu và lợi nhuận cho tổ chức. Luận văn: Tạo động lực thúc đẩy làm việc cho giảng viên.
Ổn định hoạt động sản xuất – kinh doanh: Khi người lao động được thỏa mãn nhu cầu thì họ sẽ yên tâm làm việc cho tổ chức từ đó hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ ổn định.
Thu hút được nhiều nhân tài: Khi chính sách tạo động lực của tổ chức tốt thì sẽ tạo được sự chú ý của người lao động có trình độ và năng lực trên thị trường lao động và họ rất có thể sẽ đến với tổ chức.
Giữ chân nhân tài: Tổ chức trong quá trình hoạt động chắc chắn sẽ không tránh khỏi những lúc gặp khó khăn, nếu việc giữ chân nhân tài không được tốt thì doanh nghiệp sẽ gặp tổn thất rất lớn, và tạo động lực giúp tổ chức làm được điều đó.
Tối thiểu hóa các chi phí như: chi phí nguyên vật liệu, thời gian do người lao động tiết kiệm được; chi phí tuyển dụng, đào tạo mới do giảm thiểu việc người lao động thôi việc…
Mối quan hệ trong tổ chức được cải thiện: Những quan hệ trong tổ chức như quan hệ giữa nhân viên với lãnh đạo, quan hệ đồng nghiệp…, đều có chiều hướng tốt nếu người lãnh đạo có phong cách lãnh đạo đúng đắn và tạo động lực làm việc cho nhân viên kịp thời. Nhân viên sẽ cảm thấy vui vẻ khi được làm việc, được nhận phần thưởng, hoạt động trong môi trường công bằng, minh bạch. Từ đó họ sẽ quý trọng lãnh đạo và mối quan hệ giữa nhân viên và lãnh đạo tốt đẹp lại chính là động lực để nhân viên làm việc tốt hơn, ngoài ra mối quan hệ giữa các đồng nghiệp với nhau tốt đẹp mọi người cùng muốn phấn đấu, không khí làm việc sẽ sôi nổi, thân thiện, mọi người cùng cảm thấy thoải mái, như vậy công việc sẽ tốt hơn.
Tinh thần làm việc, trách nhiệm được nâng cao: Khi những người Lao động được quan tâm, khuyến khích làm việc, họ sẽ nhận thấy tầm quan trọng của công việc mình đang làm nên họ sẽ có trách nhiệm cao hơn trong công việc.
1.1.3.3. Đối với xã hội
Khi động lực người lao động được phát huy làm cho năng suất lao động xã hội được tăng lên, từ đó nền kinh tế xã hội sẽ tăng trưởng theo. Đồng thời, khi đó con người sẽ cảm thấy yêu thích lao động, cảm thấy vui khi được lao động, lúc đó xã hội sẽ phát triển và văn minh hơn.
1.1.4. Mục đích, ý nghĩa của tạo động lực trong tổ chức
- a). Mục đích:
Tạo động lực trong lao động chính là quản lý con người, sử dụng một cách hợp lý nguồn lao động, khai thác một cách hiệu quả nguồn lực của con người nhằm nâng cao năng suất lao động. Tổ chức nào nâng cao biện pháp sử dụng hiệu quả nguồn lực lao động thì sẽ kéo theo được hiệu quả trong sử dụng máy móc thiết bị, tiết kiệm vật chất, giảm chi phí từ đó hiệu quả kinh doanh sẽ cao hơn.
Mục đích khác của tạo động lực thu hút và gắn bó người lao động với tổ chức. Bởi khi người lao động có động lực làm việc sẽ giúp cho họ làm việc đạt năng suất hơn, mang đến hiệu quả cao cho tổ chức. Nhờ vậy, không chỉ người lao động gắn bó với tổ chức đó mà nhiều người lao động khác cũng muốn vào làm việc tại tổ chức như vậy.
- b). Ý nghĩa của tạo động lực
Tạo động lực cho người lao động có ý nghĩa hết sức quan trọng, vì nó giúp cho công tác tuyển dụng, tuyển chọn được tốt hơn, công tác phân công, hợp tác lao động đạt hiệu quả cao hơn, quản lý lao động thuận lợi. Đối với các vấn đề khác của tổ chức như: an toàn lao động, văn hóa tổ chức, cải tiến phương pháp trong nhiều lĩnh vực, liên kết, hợp tác, phát triển,…thì khi có động lực trong lao động nó sẽ tạo ra hưng phấn làm việc cho họ. Họ sẽ cố gắng quán triệt tiết kiệm các chi phí cần thiết, đưa ra các sáng kiến phát triển,… nhằm phục vụ lợi ích chung của tổ chức.
1.2. Các học thuyết về tạo động lực Luận văn: Tạo động lực thúc đẩy làm việc cho giảng viên.
Từ xưa đến nay có rất nhiều nghiên cứu về động lực làm việc của người lao động, có nhiều học thuyết động lực đã được đưa ra. Mỗi học thuyết đều có những điểm riêng biệt, có cái nhìn khác nhau về vấn đề này, đi sâu vào từng khía cạnh và khai thác các mặt khác nhau của các nhân tố tác động, điều đó cho thấy vấn đề tạo động lực trong lao động là một vấn đề phức tạp, chịu sự chi phối của nhiều mặt, nhiều yếu tố.
1.2.1. Học thuyết phân cấp nhu cầu của Maslow
Ông Abraham Maslow là nhà tâm lý học người Mỹ đã xây dựng học thuyết về nhu cầu của con người vào những năm 1950. Hệ thống các nhu cầu này nghiên cứu về động cơ của cá nhân rất đa dạng và phong phú, do đó học thuyết của ông chỉ ra các biện pháp nhằm thỏa mãn nhu cầu của người lao động. Ông cho rằng trong mỗi con người bao giờ cũng tồn tại một hệ thống phức tạp gồm 5 nhóm nhu cầu từ thấp đến nhu cầu bậc cao. Khi những nhu cầu ở cấp độ thấp được thỏa mãn thì ngay lập tức các nhu cầu ở cấp độ cao hơn trở thành tác lực để thúc đẩy con người hành động. Theo ông có 5 cấp độ khác nhau về nhu cầu được thể hiện trong hệ thống thứ bậc các nhu cầu của Maslow (hay còn gọi là tháp Maslow)
Nhu cầu sinh lý hay còn được gọi là nhu cầu vật chất: đây là những nhu cầu mà con người luôn cố gắng thỏa mãn và duy trì bởi sự tồn tại tự nhiên của cơ thể họ bao gồm: ăn, ở, mặc, duy trì nòi giống…. Đây là những nhu cầu xuất hiện sớm nhất, nó chi phối mong muốn của con người, nên nếu không được thỏa mãn ở mức độ cần thiết sẽ không đạt đến những nhu cầu cao hơn
Nhu cầu an toàn: đây là nhu cầu sẽ xuất hiện tiếp theo khi nhu cầu sinh lý đã được thỏa mãn. Đó là những nhu cầu tránh sự nguy hiểm về thân thể, người Lao động sẽ phản ứng lại đối với những dấu hiệu nguy hiểm, có nguy cơ đe dọa đến bản thân, họ không thích làm việc trong những điều kiện nguy hiểm mà thích được làm việc trong điều kiện an toàn. Trong một tổ chức, biểu hiện của sự đảm bảo về nhu cầu an toàn có thể là điều kiện làm việc, hợp đồng lao động, chính sách về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, chính sách y tế, chế độ hưu trí,… Luận văn: Tạo động lực thúc đẩy làm việc cho giảng viên.
Nhu cầu xã hội (về liên kết và chấp nhận): do con người đều là thành viên của xã hội nên họ cần được người khác chấp nhận, có được sự thương yêu, tình đồng loại. Trong tổ chức, nhu cầu này được thể hiện qua mong đợi của người lao động về mối quan hệ tốt đẹp với đồng nghiệp cũng như cấp trên, được tham gia vào các hoạt động tập thể, làm việc theo nhóm. Con người sẽ cảm thấy trống vắng khi thiếu bạn bè, người thân và họ sẽ cố gắng tìm hiểu mọi người xung quanh.
Nhu cầu được tôn trọng: khi con người bắt đầu thỏa mãn nhu cầu, được chấp nhận là thành viên trong xã hội thì họ có xu thế tự trọng và muốn được người khác tôn trọng. Ông Maslow đã chia làm 2 loại: các loại mong muốn về sức mạnh, sự đạt được, lòng tin đối với mọi người, đối với độc lập tự do. Loại khác mong muốn về công danh, uy tín, địa vị, thống trị, được chú ý, được thể hiện mình, trong tổ chức, nó được biểu hiện thông qua sự mong đợi của họ về sự khen thưởng về cống hiến của mình, sự thăng tiến trong công việc được đồng nghiệp nể phục, cấp trên tin tưởng.
Nhu cầu tự hoàn thiện mình: Theo Maslow cho rằng: “Mặc dù tất cả các nhu cầu trên được thỏa mãn, chúng ta vẫn cảm thấy sự bất mãn mới và sự lo lắng sẽ xuất hiện, từ khi các nhu cầu cá nhân đang làm những công việc mà phù hợp với mình”. Như vậy, sau khi đã thỏa mãn các nhu cầu thấp hơn trước đó thì sẽ đến nhu cầu này, không phải trong cùng một thời kỳ mà mọi người đều xuất hiện những nhu cầu như nhau mà phụ thuộc vào từng thời điểm thì mỗi người khác nhau sẽ có nhu cầu khác nhau. Trong tổ chức để thỏa mãn nhu cầu này, cần tạo cơ hội cho người Lao động được phát triển, được sáng tạo, được theo học các khóa huấn luyện kỹ năng để có đủ năng lực và tự tin thực hiện các công việc có thách thức mới.
Như vậy, để tạo động lực cho người Lao động nhà quản lý cần xác định nhu cầu của nhân viên và đưa ra các biện pháp
Nhu cầu sinh lý: Là nhu cầu cơ bản để duy trì cuộc sống của con người như ăn, mặc, ở, đi lại, nghỉ ngơi,…Maslow cho rằng khi nhu cầu này chưa được thỏa mãn ở mức độ cần thiết để duy trì cuộc sống thì những nhu cầu khác sẽ không thúc đẩy được con người.
Nhu cầu về an ninh, an toàn: Là nhu cầu được sống trong một môi trường an toàn và ổn định, tránh được những nguy hiểm trong cuộc sống và sự đe dọa mất việc làm, tài sản hay nhà cửa.
Nhu cầu xã hội: Là nhu cầu về các mối quan hệ trong xã hội và được những người khác chấp nhận (gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và các tổ chức xã hội).
Nhu cầu được tôn trọng: Khi con người được chấp nhận là một thành viên trong xã hội thì họ có xu hướng tự trọng và muốn được người khác tôn trọng. Nhu cầu về sự tôn trọng dẫn đến sự thỏa mãn về quyền lực, uy tín, địa vị và lòng tin.
Nhu cầu tự thể hiện bản thân: Là sự mong muốn, niềm tin, lý tưởng cuộc sống của một con người, làm cho mọi tiềm năng của con người đạt mức tối đa nhằm hoàn thành mục tiêu nào đó của mình.
Maslow chia các nhu cầu ra thành hai cấp bậc: cấp cao và cấp thấp. Nhu cầu cấp thấp là nhu cầu về sinh lý, về an ninh, an toàn. Nhu cầu cấp cao bao gồm các nhu cầu về xã hội, tôn trọng và sự tự thể hiện. Đầu tiên, các nhu cầu cấp thấp hoạt động, nó đòi hỏi được thỏa mãn, và như vậy nó là động lực thúc đẩy con người, là nhân tố động cơ. Khi nhu cầu này thỏa mãn thì nó không còn là yếu tố động cơ nữa, khi đó những nhu cầu cấp cao hơn sẽ xuất hiện.
1.2.2. Học thuyết công bằng của Stacy Adams Luận văn: Tạo động lực thúc đẩy làm việc cho giảng viên.
Đây là công trình của giáo sư J. Stacy Adams thuộc trường Đại học Bắc Carolina ở Mỹ đã trở nên phổ biến. Học thuyết này chỉ ra người lao động muốn được đối xử công bằng, họ có xu hướng so sánh công sức họ bỏ ra cho tổ chức và kết quả mà họ nhận được với những người khác. Khi so sánh sẽ xảy ra 3 trường hợp:
Thứ nhất, người lao động tin rằng họ được đối xử đúng, phần thưởng cũng như những đãi ngộ tương xứng với công sức của họ thì người lao động sẽ duy trì mức năng suất lao động như cũ.
Thứ hai, nếu người lao động không được đối xử tốt, kết quả nhận được không xứng đáng với công sức bỏ ra sẽ gây ra tình trạng bất mãn, không muốn làm việc và thậm chí sẽ bỏ việc.
Thứ ba, người lao động tự nhận thấy rằng phần thưởng và những đãi ngộ mà tổ chức dành cho họ cao hơn những mong muốn của họ thì họ sẽ làm việc tích cực hơn. Song, họ có xu hướng giảm giá trị của phần thưởng.
Khi đối mặt với sự không công bằng người lao động thường có xu hướng chấp nhận nhưng nếu tình trạng diễn ra liên tục sẽ gây ra bất mãn. Nhà quản lý cần quan tâm đến nhận thức của người lao động về sự công bằng, công bằng ở đây là công bằng trong nhận thức chứ không phải người lao động được nhận bao nhiêu, bởi lẽ không có sự công bằng tuyệt đối.
1.2.3. Mô hình hai yếu tố động cơ của Frederic Herzberg
Lý thuyết gia quản trị người Hoa Kỳ, F. Herzberg chia các yếu tố tạo nên sự thỏa mãn và không thỏa mãn trong công việc thành 2 nhóm:
Nhóm 1: bao gồm các yếu tố then chốt để tạo động lực và sự thỏa mãn trong công việc (nội dung công việc): Sự thành đạt, sự thừa nhận thành tích, bản chất bên trong công việc, trách nhiệm lao động, sự thăng tiến. Tập hợp các yếu tố này có tác dụng thúc đẩy thực sự, khi thiếu vắng các yếu tố thúc đẩy, người công nhân sẽ biểu lộ sự không hài lòng, lười biếng và thiếu sự thích thú làm việc. Những điều này gây ra sự bất ổn về mặt tinh thần.
Nhóm 2: bao gồm các yếu tố thuộc về môi trường tổ chức, nhóm này được gọi là nhóm “yếu tố duy trì” (phạm vi công việc): các chính sách và chế độ quản lý của công ty, sự giám sát công việc, tiền lương, các quan hệ con người, các điều kiện làm việc. Nhóm này chỉ có tác dụng duy trì trạng thái tốt, ngăn ngừa các chứng bệnh, tuy nhiên chúng không làm cho con người làm việc tốt hơn. Luận văn: Tạo động lực thúc đẩy làm việc cho giảng viên.
Theo Herzberg, nếu các yếu tố này mang tính chất tích cực thì sẽ có tác dụng ngăn ngừa sự không thỏa mãn trong công việc. Tuy nhiên, nếu chỉ riêng sự hiện diện của chúng thì không đủ để tạo ra động lực là sự thỏa mãn trong công việc.
1.2.4. Học thuyết kỳ vọng của Victor Vroom
Học thuyết được xây dựng dựa trên một số yếu tố tạo động lực trong lao động như: mối liên hệ giữa sự quyết tâm và kết quả lao động, tính hấp dẫn của công việc, kết quả làm việc với phần thưởng. Khi người lao động nỗ lực làm việc, họ sẽ mong đợi kết quả tốt đẹp với phần thưởng xứng đáng. Kỳ vọng của người lao động có tác dụng tạo động lực cho người lao động rất lớn nhưng như vậy phải có cách thức, phương tiện và điều kiện thực hiện nó. Những điều kiện này là các chính sách, cơ chế quản lý, điều kiện làm việc,… mà tổ chức đảm bảo cho người lao động.
Đặc biệt khi thiết kế công việc cho người lao động phải thiết kế đủ cao để họ phát huy tiềm năng của bản thân nhưng cũng đủ thấp để họ nhìn thấy được kết quả sẽ thành công.
1.2.5. Học thuyết đặt mục tiêu của Edwin Locke
Cuối những năm 1960 Edwin Locke và đồng sự Gary P.Latham đã cùng chỉ ra mối quan hệ giữa “đường đi – mục đích”. Học thuyết này chỉ ra rằng: các mục tiêu cụ thể và nhiều thách thức sẽ dẫn đến sự thực hiện công việc tốt hơn. Vì vậy, để tạo động lực lao động cần có mục tiêu cụ thể rõ ràng, mang tính thách thức cũng như cần thu hút người lao động vào việc đặt mục tiêu. Ông cũng cho rằng khi con người làm việc để thực hiện một nhiệm vụ nào đó, người ta cần các thông tin phản hồi để tiếp tục phát huy những ưu điểm và thay đổi hướng đi nếu thấy cần thiết.
Học thuyết tạo ra một hướng tiếp cận mới làm phong phú thêm quá trình tạo động lực của tổ chức. Để áp dụng thành công học thuyết, tổ chức cần thu hút người lao động tham gia vào quá trình đặt mục tiêu trong công việc của họ, cùng theo dõi giúp đỡ để người lao động có thể đạt được mục tiêu đề ra.
Từ việc phân tích học thuyết nhu cầu của Maslow và học thuyết cân bằng của J. Stacy Adams thì học thuyết đặt mục tiêu của Edwin Locke cho thấy muốn tạo động lực cần phải:
- Xác định nhu cầu của người lao động, đưa ra biện pháp nhằm thỏa mãn các nhu cầu hợp lý của người lao động trên cơ sở đảm bảo tính công bằng.
- Nhà quản lý cần hỗ trợ nhân viên thiết lập mục tiêu làm việc rõ ràng, gắn kết được các mục tiêu cá nhân với mục tiêu của tổ chức.
1.3. Các chỉ tiêu cơ bản đo lường động lực làm việc của giảng viên Luận văn: Tạo động lực thúc đẩy làm việc cho giảng viên.
Động lực giúp người lao động chủ động nắm bắt công việc, hành động một cách sáng tạo, tích cực đem lại hiệu quả làm việc tốt, chất lượng và năng suất cao. Vì vậy, để đánh giá động lực làm việc của người lao động có thể xem xét các chỉ tiêu sau:
1.3.1. Tính chủ động, sáng tạo trong công việc của người giảng viên
Người lao động chỉ hành động do bị điều khiển hoặc được động viên bởi chính bản thân hay từ các nhân tố bên ngoài. Người lao động có động lực làm việc sẽ nâng cao tính chủ động và sáng tạo trong công việc. Trong thời đại khoa học kỹ thuật phát triển như hiện nay thì nhà quản lý không đơn thuần yêu cầu nhân viên làm việc chăm chỉ, làm theo mọi công việc được giao phó mà họ còn muốn tìm thấy ở những nhân viên của mình khả năng tư duy độc lập, có nhiều sáng kiến và không thụ động trong công việc. Tính chủ động, sáng tạo trong công việc giúp người lao động nâng cao kết quả công việc, xây dựng kỹ năng và nâng cao khả năng xử lý công việc của mình và yêu thích công việc hơn. Ngoài ra, tính chủ động còn biểu hiện ở mức độ tham gia các hoạt động chung mà tổ chức đưa ra, sự chủ động giải quyết công việc, sự năng động của người lao động đó. Họ sẽ thể hiện ham muốn lao động, có tính tự giác khi làm việc, đổi mới trong phương pháp làm việc, thường xuyên đề xuất ý tưởng, sáng kiến được công nhận, khen thưởng. Những người lao động họ có thể tự đánh giá tính chủ động sáng tạo trong công việc của mình, hay do đồng nghiệp đánh giá hoặc từ người quản lý trực tiếp.
1.3.2. Hiệu suất làm việc của giảng viên
Tạo động lực cho người lao động là cơ sở để tổ chức khai thác có hiệu quả và phát huy tiềm năng của nguồn nhân lực, tạo động lực lao động tốt, người lao động có hành vi tích cực trong mọi hoạt động của tổ chức, từ đó góp phần nâng cao năng suất lao động và hiệu quả công việc. Động lực làm việc có ảnh hưởng rất lớn đến tinh thần, thái độ làm việc của người lao động, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả công việc của người lao động. Đánh giá hiệu suất làm việc của người lao động có thể thông qua hoạt động đánh giá thực hiện công việc để đánh giá về số lượng, chất lượng công việc, tinh thần, thái độ của người lao động. Sử dụng các chỉ tiêu định lượng như năng suất lao động, chỉ số hoàn thành mức, tỷ lệ nhân viên không hoàn thành nhiệm vụ, tỷ lệ công việc hoàn thành công việc đúng thời hạn…
1.3.3. Mức độ hài lòng của người giảng viên Luận văn: Tạo động lực thúc đẩy làm việc cho giảng viên.
Bất kỳ một tổ chức nào cũng mong muốn nhận được những đánh giá, phản hồi về mức độ có hài lòng với tổ chức từ chính nhân viên của mình, vì điều đó cho thấy tổ chức đó có thành công hay không. Khi người lao động cảm thấy hài lòng họ sẽ làm việc hiệu quả và gắn bó hơn với tổ chức đó chính là bằng công cụ tạo động lực lao động có hiệu quả giúp họ luôn thấy thoải mái trong quá trình làm việc tại đây.
Sau khi tiến hành các biện pháp tạo động lực cho người lao động thì tổ chức cần tiến hành đo lường mức độ thỏa mãn nhu cầu của họ để biết được đánh giá của người lao động về các chính sách của công ty. Từ đó, điều chỉnh sách và giải pháp phù hợp đáp ứng nhu cầu của nhân viên, tạo ra sự hài lòng, gắn kết lâu dài của họ với tổ chức. Qua đó, tổ chức sẽ giữ chân được những nhân viên có năng lực, giúp tổ chức thực hiện thành công các mục tiêu đã đề ra.
1.4. Nội dung cơ bản của hoạt động tạo động lực cho giảng viên
1.4.1. Nghiên cứu hệ thống nhu cầu của giảng viên
Con người nói chung hay con người trong tổ chức chủ yếu hành động theo nhu cầu, việc nhu cầu được thỏa mãn là mục đích hành động của con người. Theo cách xem xét đó, nhu cầu trở thành động lực quan trọng và việc tác động vào thay đổi hành vi của con người. Nói cách khác, người quản lý có thể điều khiển được hành vi của nhân viên bằng cách dùng các công cụ hoặc biện pháp để tác động vào nhu cầu của người lao động làm cho họ làm việc tích cực hơn.
Để có kỹ năng khuyến khích và động viên nhân viên, nhà quản lý cần nghiên cứu và tìm hiểu cụ thể nhu cầu của nhân viên mình và có biện pháp hữu hiệu để thõa mãn các nhu cầu đó, nghĩa là họ cần biết đáp ứng các nhu cầu của nhân viên một cách hợp lý. Chẳng hạn, khi một nhân viên vừa mới được tuyển dụng đang cần việc làm và có thu nhập thì việc tạo cơ hội việc làm và thu nhập cho bản thân nhân viên này là vấn đề cần được quan tâm hàng đầu. Còn một nhân viên đã làm việc lâu năm, nhiều kinh nghiệm, tiền lương đã ở mức cao thì động lực làm việc chính không phải là tiền lương nữa mà là cơ hội được thăng tiến, khẳng định mình.
Hiểu được nhu cầu của người lao động là điều quan trọng giúp cho tổ chức có chính sách gắn kết chặt chẽ hơn với mong muốn, tâm tư của người lao động. Một khi nhu cầu của người lao động được thỏa mãn thì mức độ hài lòng của người lao động về công việc và tổ chức của mình sẽ tăng lên và nhờ vậy họ sẽ gắn kết và nỗ lực hơn với tổ chức đó.
1.4.2. Giúp nhân viên đặt ra mục tiêu hiệu quả Luận văn: Tạo động lực thúc đẩy làm việc cho giảng viên.
Theo nghiên cứu của Edwin Locke cho thấy ý đồ làm việc hướng tới mục tiêu là nguồn gốc chủ yếu của động lực lao động, mục tiêu càng cụ thể và thách thức thì sẽ dẫn đến kết quả thực hiện công việc tốt hơn. Đặt mục tiêu cho người lao động cũng là một phần quan trọng trong chương trình đánh giá và khen thưởng bởi vì nếu không có các mục tiêu thì kết quả không thể được đo một cách dễ dàng.
Phương pháp thiết lập mục tiêu làm việc cho nhân viên một cách hiệu quả sẽ giúp các nhà quản lý có thể thực hiện dễ dàng hơn nhiệm vụ của mình. Một phương pháp thiết lập mục tiêu hiệu quả sẽ giúp tổ chức loại bỏ những phản ứng bất lợi đồng thời phát huy khả năng và sự nhiệt tình công việc của nhân viên.
Để việc đặt mục tiêu cho nhân viên hiệu quả, thúc đẩy động lực làm việc của người lao động, cần lưu ý:
Các mục tiêu cho người lao động phải rõ ràng và dễ hiểu. Mỗi mục tiêu phải cụ thể và mang tính thách thức.
Thu hút người lao động tham gia vào quá trình đặt mục tiêu.
Cần tạo điều kiện thuận lợi cho nhân viên hoàn thành muc tiêu, thường xuyên có thông tin phản hồi để đảm bảo rằng các mục tiêu vẫn còn ý nghĩa và người lao động vẫn đi đúng hướng hoặc thay đổi hướng đi nếu cần thiết.
Mục tiêu của cá nhân, các bộ phận phải phù hợp và hướng đến mục tiêu chung của tổ chức.
1.4.3. Sử dụng các biện pháp kích thích tài chính
1.4.3.1. Tiền lương
Tiền lương là yếu tố rất quan trọng bởi nó giúp người lao động có điều kiện thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của cuộc sống là những nhu cầu sinh lý trong hệ thống nhu cầu của Maslow (ăn, mặc, ở, đi lại,.). Khi tiền lương cao và ổn định, người lao động sẽ đảm bảo được cuộc sống từ đó tạo điều kiện cho họ có thể tái sản xuất sức lao động và có một phần cho tích lũy. Mặt khác, tiền lương không chỉ thể hiện giá trị công việc mà nó còn thể hiện giá trị, địa vị của người lao động trong gia đình, trong tổ chức và xã hội. Luận văn: Tạo động lực thúc đẩy làm việc cho giảng viên.
Khi xây dựng quy chế trả lương cần đảm bảo tuân thủ nguyên tắc đó là:
- Đảm bảo tính hợp pháp, phải tuân thủ các quy định trong các văn bản pháp luật.
- Thu nhập từ tiền lương phải chiếm từ 70% đến 80% tổng thu nhập của người lao động. Nó phải phản ánh được chất lượng và kết quả lao động của người lao động thì khi đó tiền lương mới kích thích được người lao động làm việc hết mình cho tổ chức.
- Phải đảm bảo tái sản xuất sức lao động giản đơn có nghĩa là phải đảm bảo mức chi tiêu tối thiểu của người lao động.
Tiền lương được trả dựa trên các chỉ tiêu lao động đã được xác định, nó phản ánh số lượng và chất lượng lao động mà người lao động đã cống hiến cho tổ chức. Hay chỉ tiêu lao động còn để so sánh mức độ thực hiện công việc giữa những người lao động với nhau.
Tiền lương được trả phải dựa vào trình độ chuyên môn mà người lao động có được, còn sự cống hiến dành cho tổ chức đó thể hiện ở số năm kinh nghiệm nghề nghiệp, số năm thâm niên làm việc tại tổ chức đó. Nếu làm tốt hai điều này người lao động sẽ thấy được vị trí của mình, họ sẽ yên tâm làm việc và cố gắng khả năng thăng tiến của bản thân.
1.4.3.2. Tiền thưởng
Tiền thưởng là một dạng khuyến khích tài chính được chi trả một lần (thường vào cuối quý hoặc cuối năm) cho sự thực hiện công việc của người lao đông. Tiền thưởng là khoản tiền bổ sung thêm ngoài tiền lương và tiền công nhằm khuyến khích người lao động. Tiền thưởng cũng có thể được chi trả đột xuất khi ghi nhận những thành tích xuất sắc của người lao động như: hoàn thành các dự án công việc quan trọng, tiết kiệm nguyên vật liệu, có sáng kiến mới mang lại hiệu quả cao. Để nâng cao vai trò kích thích của tiền thưởng, cần xác định đúng đắn mối quan hệ giữa tiền thưởng nhận được với mức cống hiến của người lao động hay tập thể lao động. Khi xây dựng quy chế trả thưởng và đánh giá xét thưởng phải rõ ràng, chặt chẽ, phù hợp với khả năng làm việc và đảm bảo sự công bằng cho mỗi người lao động. Tiền thưởng phải đáp ứng những yêu cầu sau:
- Tiền thưởng gắn liền với kết quả thực hiện công việc của người lao động. Mỗi mức thưởng phải gắn với từng chỉ tiêu cụ thể, phân hạng rõ ràng để những người làm tốt hơn phải nhận được mức thưởng cao nhất.
- Đưa ra các hình thức thưởng đa dạng, có nhiều lựa chọn, đúng với nhu cầu mà người lao động đang mong muốn.
- Thời gian xét thưởng không nên quá kéo dài, cần cụ thể thời gian và thời điểm thưởng chính xác.
1.4.3.3. Các chế độ phúc lợi
Phúc lợi là phần thù lao gián tiếp được chi trả dưới dạng hỗ trợ cuộc sống cho người lao động. Việc cung cấp các hoạt động phúc lợi có ý nghĩa rất lớn đối với cả người lao động và tổ chức. Các tổ chức, doanh nghiệp thực hiện tốt các chương trình phúc lợi sẽ thể hiện sự quan tâm đến người lao động, góp phần tạo sự yên tâm, tạo động lực cho người lao động.
Ngoài việc thực hiện đầy đủ các phúc lợi bắt buộc theo pháp luật quy định, tổ chức cần quan tâm tới các dạng phúc lợi tự nguyện với mục đích hỗ trợ người lao động, khuyến khích họ yên tâm và làm việc có hiệu quả như: chương trình xây dựng nhà ở cho người lao động, hỗ trợ phương tiện đi lại, tổ chức cho người lao động có những chuyến du lịch, thể dục thể thao.. .Qua đây có thể thấy phúc lợi cũng là một công cụ tạo động lực có hiệu quả đến người lao động trong tổ chức. Tổ chức cần xây dựng hệ thống phúc lợi rõ ràng, công bằng đáp ứng tâm tư, nguyện vọng của người lao động.
1.4.4. Sử dụng các biện pháp kích thích phi tài chính Luận văn: Tạo động lực thúc đẩy làm việc cho giảng viên.
1.4.4.1. Phân tích công việc tốt làm cơ sở bố trí nhân lực phù hợp với khả năng của người lao động.
Trong công tác quản trị nhân lực thì bước phân tích công việc là bước rất quan trọng, nó giúp tổ chức có những cơ sở để xây dựng chương trình và ra quyết định về các vấn đề quản lý nhân sự. Thông qua đó sẽ giúp doanh nghiệp tuyển chọn đúng người, đánh giá thực hiện công việc chính xác, có cơ sở để đánh giá khen thưởng và kỷ luật. Đối với bản thân người lao động sẽ giúp họ hiểu chi tiết về công việc của mình. Bên cạnh đó, phân tích công việc là cơ sở để bố trí đúng người, đúng việc. Người lao động cần đáp ứng các yêu cầu về kiến thức, kỹ năng cần thiết để hoàn thành công việc, bố trí lao động phù hợp với công việc sẽ có những tác động tích cực đến hiệu quả công việc của người lao động nói riêng và hiệu quả công việc của nhà trường nói chung.
1.4.4.2. Đánh giá và sử dụng bảng kết quả đánh giá thực hiện công việc công bằng, khách quan trong các chính sách quản trị nhân lực.
Đánh giá thực hiện công việc được hiểu là sự đánh giá có hệ thống và chính thức tình hình thực hiện công việc của người lao động trong quan hệ so sánh với các tiêu chuẩn đã được xây dựng và thảo luận về sự đánh giá đó với người lao động. Đánh giá thực hiện công việc có ý nghĩa quan trọng đối với cả cá nhân và tổ chức, khi đánh giá công bằng, khách quan sẽ là biện pháp hữu hiệu để tạo động lực cho người lao động. Kết quả của bảng đánh giá thực hiện công việc càng chính xác càng kích thích người lao động làm việc, tăng lòng tin của người lao động với tổ chức. Có nhiều cách kết hợp và lựa chọn các phương pháp như: phương pháp thang đo đánh giá đồ họa, phương pháp danh mục kiểm tra, phương pháp so sánh… Dù áp dụng theo phương pháp nào thì hệ thống đánh giá thực hiện công việc cần đáp ứng các yêu cầu sau: phù hợp với mục tiêu quản lý, có khả năng phân biệt được người hoàn thành tốt công việc thực sự và những người đối phó với công việc được giao. Nếu tổ chức thực hiện đánh giá chính xác và cho người lao động thấy được việc ra các quyết định quản lý có sự tham gia rất lớn từ chính kết quả thực hiện công việc của người lao động thì sẽ tác động tới nỗ lực làm việc của họ.
1.4.4.3. Đào tạo phát triển nguồn nhân lực nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển của người lao động
Trong điều kiện hiện nay thì đào tạo và phát triển là một yếu tố quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của tổ chức. Khi người lao động được đào tạo sẽ có năng lực, trình độ cao tiếp cận nhanh với sự thay đổi của môi trường, nhanh chóng xác định được mục tiêu và thực hiện công việc với hiệu quả cao hơn. Luận văn: Tạo động lực thúc đẩy làm việc cho giảng viên.
Đào tạo không những giúp nâng cao kiến thức và trình độ cho bản thân người lao động, nó còn là yếu tố thúc đẩy sự phát triển của tổ chức bởi vì chất lượng nguồn nhân lực là nhân tố tạo nên hiệu quả trong công việc, một tổ chức khi có được đội ngũ lao động chất lượng cao sẽ giúp tổ chức tạo được vị thế trên thị trường lao động. Khi được tham gia vào chương trình đào tạo của nhà trường, cán bộ giảng viên sẽ cảm thấy được nhà trường quan tâm và tin tưởng. Đây là động lực để cán bộ giảng viên gắn bó với nhà trường và sẵn sàng đón nhận những thử thách nghề nghiệp mới. Đào tạo còn là cơ hội người lao động hoàn thiện thêm bản thân mình, có cơ hội phát triển nghề nghiệp. Và khi đó mới có thể kết hợp kích thích sự thỏa mãn nhu cầu về mọi mặt cho người lao động.
1.4.4.4. Cơ hội thăng tiến cho người lao động hoàn thành tốt công việc và có nhiều đóng góp cho tổ chức
Trong tháp nhu cầu cầu của Maslow, nhu cầu được tôn trọng và tự hoàn thiện mình được xếp ở bậc cao. Việc khai thác đúng khả năng, tiềm năng của người lao động và tạo cơ hội phát triển cho họ chính là tạo động lực thúc đẩy năng lực làm việc của người lao động. Người quản lý nên vạch ra những nấc thang nghề nghiệp kế tiếp cho họ, cho họ thấy được tương lai của mình ra sao khi gắn bó với tổ chức. Đấy là sự nhìn nhận đúng mức, sự đánh giá cao năng lực của người lao động và chính bản thân người lao động sẽ phấn đấu hơn nữa để đạt những bậc cao trong nấc thang thăng tiến.
Khi tổ chức chọn đúng người có khả năng, có thành tích xuất sắc để đề bạt thì mang lại lợi ích rất lớn cho tổ chức cũng như người lao động. Và những người lao động khác sẽ noi gương theo mà cố gắng. Quan trọng là chính sách thăng tiến, đề bạt cần rõ ràng, minh bạch, cụ thể sẽ kích thích họ tăng thêm nỗ lực làm việc.
1.4.4.5. Tạo động lực thông qua sự quan tâm của lãnh đạo
Một lời khen ngợi kịp thời khi họ có thành tích tốt sẽ làm người lao động cảm thấy tự hào, đóng góp công sức của họ đã được ghi nhận, từ đó khuyến khích họ tiếp tục làm việc tốt hơn. Người quản lý lúc đó cần động viên, an ủi, giúp người lao động giải quyết các vấn đề khó khăn, thường xuyên theo dõi quá trình thực hiện công việc để có những hướng dẫn, điều chỉnh kịp thời, tôn trọng và lắng nghe các ý kiến của họ. Cần tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động hoàn thành nhiệm vụ được giao, ghi nhận thành tích, khen ngợi nhân viên đúng lúc. Điều này sẽ tạo nên mối quan hệ tốt đẹp giữa nhân viên và nhà quản lý của tổ chức, người lao động cảm thấy thoải mái, phát huy tính sáng tạo cao trong công việc, nỗ lực vì mục tiêu chung của tổ chức.
1.4.4.6. Môi trường và điều kiện làm việc Luận văn: Tạo động lực thúc đẩy làm việc cho giảng viên.
Môi trường và điều kiện làm việc là nơi mà người lao động phải tiếp xúc hàng ngày, nó có ảnh hưởng lớn đến khả năng làm việc, sức khỏe, thái độ lao động và hiệu quả công việc của người lao động. Cách bài trí máy móc, thiết bị, màu sắc, ánh sáng, vệ sinh nơi làm việc có ảnh hưởng rất lớn tới tâm trạng làm việc của người lao động, môi trường vật chất đầy đủ, phù hợp sẽ giúp tăng cường động lực lao động, giảm thiểu tai nạn lao động. Do đó, để duy trì trạng thái làm việc tốt cho người lao động cần phải cung cấp cho họ một môi trường làm việc với đầy đủ các trang thiết bị máy móc phục vụ cho công việc, nơi làm việc được thiết kế và bố trí khoa học nhằm tạo điều kiện tối đa cho người lao động thực hiện công việc.
Xây dựng bầu không khí lao động tập thể thân thiện, hợp tác, chia sẻ thông qua các hoạt động làm việc nhóm như: tổ chức phong trào thi đua tập thể, phong trào thể thao, văn nghệ…để mọi người thường xuyên được giao lưu,học hỏi,chia sẻ kinh nghiệm, chia sẻ niềm vui, khó khăn trong cuộc sống. Khi đó người lao động sẽ thấy thoải mái, tinh thần làm việc phấn chấn, yêu thích công việc, gắn bó với đồng nghiệp và gắn bó với tổ chức hơn vì mục tiêu chung của tổ chức.
1.5. Các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến việc tạo động lực làm việc của người lao động
1.5.1. Các yếu tố khách quan thuộc về môi trường bên ngoài
1.5.1.1. Chính sách của Chính phủ, pháp luật của Nhà nước và các bộ quy tắc ứng xử về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.
Luật pháp của Chính phủ chính là cơ sở pháp lý đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ lao động và lợi ích của nhà nước. Mọi chính sách của Chính phủ, pháp luật của Nhà nước có liên quan đến lao động đều có thể ảnh hưởng đến động lực lao động của người lao động. Cụ thể, đó là những chính sách về tiền lương, lương làm thêm giờ, quy định về thời giờ nghỉ ngơi, làm việc, quy định về các chế độ bảo hiểm, phúc lợi,… sẽ tác động rất nhiều tới động lực làm việc của người lao động. Nếu các quy định này có lợi cho người lao động, tạo ra động lực cao thì là những nguyên tắc bắt buộc tổ chức phải thực hiện.
1.5.1.2. Điều kiện kinh tế – chính trị – xã hội của cả nước và địa phương.
Chu kỳ kinh tế, mức sống, xu hướng lạm phát, các yếu tố chính trị – xã hội đều ảnh hưởng tới công tác tạo động lực lao động. Trong nền kinh tế thị trường hiện nay thì đa số người lao động phải cố gắng làm việc với động cơ giữ việc làm, còn tổ chức buộc phải có các chính sách đảm bảo sự ổn định của công việc và thu nhập của người lao động. Việc điều chỉnh tiền lương sao cho tiền lương thực tế của họ đảm bảo được nhu cầu sinh hoạt gia đình họ ngang với mặt bằng chung của cán bộ viên chức nhà nước sẽ tạo cho người lao động cảm giác an toàn, gắn bó với tổ chức và ham muốn làm việc, cống hiến nhiều hơn. Đặc điểm, cơ cấu của thị trường lao động có ảnh hưởng gián tiếp đến việc tạo động lực lao động. Nếu thị trường đang thừa lao động thì bản thân họ sẽ cảm thấy lo lắng sợ mất việc và sẽ cố gắng hoàn thành tốt hơn; nhưng ngược lại đang có tình trạng khan hiếm lao động đó, thì những người lao động đang làm trong ngành đó sẽ có nhiều cơ hội tham gia, học hỏi hoặc nhảy sang công việc mới khi ở môi trường mới với mức lương cao hơn, điều kiện làm việc tốt hơn. Do đó, tổ chức cần đưa ra chính sách nhân sự phù hợp để thu hút và giữ chân nhân tài. Luận văn: Tạo động lực thúc đẩy làm việc cho giảng viên.
1.5.1.3. Đặc điểm, cơ cấu của thị trường lao động
Cơ cấu của thị trường lao động có ảnh hưởng gián tiếp đến việc tạo động lực lao động. Nếu thị trường đang thừa lao động thì bản thân họ sẽ cảm thấy lo lắng sợ mất việc và sẽ cố gắng hoàn thành tốt hơn; nhưng ngược lại đang có tình trạng khan hiếm lao động đó, thì những người lao động đang làm trong ngành đó sẽ có nhiều cơ hội tham gia, học hỏi hoặc nhảy sang công việc mới khi ở môi trường mới với mức lương cao hơn, điều kiện làm việc tốt hơn. Do đó, tổ chức cần đưa ra chính sách nhân sự phù hợp để thu hút và giữ chân nhân tài.
1.5.1.4. Vị thế ngành trong xã hội
Vị thế ngành rất quan trọng trong vấn đề tạo động lực lao động. Một ngành có vị thế cao trong thị trường thì người lao động trong ngành đó sẽ cố gắng làm việc cao hơn để giữ được công việc hiện tại vì vị thế của ngành đã tạo ra sự hài lòng cho người lao động, bởi lẽ công việc họ đang làm là sự mong đợi của rất nhiều người trong xã hội. Việc lựa chọn chính sách tạo động lực lao động hiệu quả phụ thuộc vào vị thế, tiềm năng của tổ chức đó. Vị thế, tiềm năng của tổ chức càng cao thì các nguồn lực phục vụ thực thi chính sách tạo động lực lao động càng lớn và hiệu quả.
1.5.1.5. Chính sách tạo động lực của tổ chức khác
Trong thời đại thông tin phát triển như hiện nay, người lao động luôn nhanh chóng nắm bắt được các thông tin ở đâu có môi trường làm việc tốt, ở đâu lương cao, ở đâu có chính sách phúc lợi tốt thì họ sẽ tìm đến và ứng tuyển. Cho nên những tổ chức nào có chính sách tạo động lực tốt sẽ chiếm ưu thế nhiều hơn trên thị trường lao động. Người lao động sẵn sàng từ bỏ nơi tổ chức cũ mà đến làm việc cho tổ chức kia vì sự khác nhau trong chính sách tạo động lực lao động giữa các tổ chức.
1.5.2. Các yếu tố chủ quan thuộc về môi trường bên trong tổ chức
1.5.2.1. Mục tiêu và chiến lược phát triển của tổ chức
Bất kỳ tổ chức nào cũng đều đặt ra mục tiêu và chiến lược phát triển cụ thể của mình. Và muốn làm được như vậy, cần phát huy cao độ yếu tố con người trong điều kiện các nguồn lực khác có hạn. Các chính sách quản trị nhân lực nói chung và chính sách tạo động lực nói riêng đối với người lao động của từng tổ chức nói riêng phải hướng tới việc đạt được mục tiêu và chiến lược phát triển của tổ chức. Luận văn: Tạo động lực thúc đẩy làm việc cho giảng viên.
1.5.2.2. Văn hóa tổ chức
Văn hóa tổ chức được tạo ra từ tổng thể mục tiêu, chính sách quản lý, mối quan hệ đồng nghiệp, bầu không khí làm việc, phong cách làm việc, những biểu tượng vật chất và tinh thần sẽ tạo ra cho mỗi tổ chức có bản sắc riêng. Tổ chức nào có văn hóa tổ chức mạnh sẽ giúp các nhân viên trong tổ chức đó thêm gắn bó với nhau hơn, hiểu nhau hơn, tạo ra tinh thần làm việc tự giác, đồng nghiệp thân thiện hợp tác cùng nhau làm việc nhằm đạt mục tiêu chung của tổ chức, của ngành.
1.5.2.3. Quan điểm về vấn đề tạo động lao động của người sử dụng lao động
Người sử dụng lao động chính là chủ sở hữu của mỗi tổ chức. Do vậy, quan điểm của họ có ảnh hưởng mang tính quyết định đến việc hoạch định chính sách của tổ chức. Tuy nhiên, không phải lúc nào người sử dụng lao động cũng có quan điểm đúng; những chuyên gia, bộ phận quản lý nhân sự hay những người trong hội đồng quản trị của tổ chức cần cùng tư vấn, chứng minh những lợi ích mà tạo động lực mang lại cho tổ chức để thuyết phục người sử dụng lao động. Việc đưa ra các chính sách tạo động lực vì thế phải dựa trên quan điểm về vấn đề tạo động lực của người sử dụng lao động.
1.5.2.4. Phong cách lãnh đạo
Trong một tổ chức, người lãnh đạo là người trực tiếp quản lý và chỉ đạo người lao động do đó phong cách lãnh đạo sẽ ảnh hưởng tâm lý, kết quả làm việc của cấp dưới, bầu không khí làm việc. Một lãnh đạo giỏi và nhiều kinh nghiệm sẽ biết cách làm việc hiệu quả với nhiều nhóm nhân viên khác nhau, từ đó tạo ra sự vui vẻ, hòa đồng trong môi trường làm việc, hiệu suất công việc cao hơn. Ngược lại, một nhà quản lý thiếu kinh nghiệm sẽ làm cấp dưới không phục, làm việc thiếu nhiệt tình. Có 3 phong cách lãnh đạo rõ ràng:
Người lãnh đạo có phong cách độc đoán, chuyên quyền: họ đưa ra các quyết định và người lao động phải thực hiện nên tạo tâm lý căng thẳng, không có động lực làm việc. Ưu điểm: sẽ phát huy hiệu quả những khi cần quyết định nhanh, quyết đoán.
Người lãnh đạo có phong cách dân chủ: trong quá trình ra quyết định sẽ tham khảo ý kiến của người lao động, tạo lập tinh thần hợp tác giữa hai bên.
Tuy nhiên, đôi lúc sẽ chậm trễ trong việc ra quyết định nếu người lãnh đạo không quyết đoán.
Người lãnh đạo có phong cách tự do: những người này cho phép nhân viên cấp dưới đưa ra các quyết định, giảm chi phí quản lý trung gian, nhưng nếu cấp dưới không đủ năng lực sẽ đem lại thiệt hại cho tổ chức. Do vậy, để tạo động lực làm việc hiệu quả, tổ chức cần có chính sách đề bạt, bổ nhiệm cán bộ đúng đắn và có chính sách đào tạo cán bộ kế cận hợp lý.
1.5.2.5. Cơ cấu lao động của tổ chức
Các nghiên cứu cho thấy, tâm lý và nhu cầu của các nhóm lao động là khác nhau. Các chính sách tạo động lực lao động của tổ chức vì thế sẽ phải được xây dựng dựa trên cơ cấu lao động của tổ chức sao cho đáp ứng nhu cầu số đông người lao động làm việc trong tổ chức đó.
1.5.3. Các nhân tố thuộc về bản thân người lao động Luận văn: Tạo động lực thúc đẩy làm việc cho giảng viên.
Có khá nhiều các yếu tố thuộc về người lao động ảnh hưởng đến động lực lao động, chẳng hạn như:
1.5.3.1. Hệ thống nhu cầu của người lao động.
Nhu cầu về vật chất: là những nhu cầu cơ bản nhất đảm bảo cuộc sống của mỗi con người như ăn, mặc, đi lại, chỗ ở… Đây là nhu cầu chính và cũng là động lực chính khiến người lao động phải làm việc. Cuộc sống ngày càng được nâng cao, nhu cầu của con người cũng thay đổi chuyển dần từ nhu cầu về lượng sang nhu cầu về chất.
Nhu cầu về tinh thần: là những nhu cầu đòi hỏi con người đáp ứng được những điều kiện để tồn tại và phát triển về mặt trí lực. Xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu về các giá trị tinh thần cũng nâng cao nó bao gồm:
- Nhu cầu học tập để nâng cao trình độ.
- Nhu cầu thẩm mỹ và giao tiếp xã hội.
- Nhu cầu công bằng xã hội.
Nhu cầu vật chất và tinh thần của con người có quan hệ biên chứng với nhau điều đó bắt nguồn từ mối quan hệ vật chất – ý thức. Đây là hai nhu cầu chính và cũng là cơ sở để thực hiện tạo đọng lực cho lao động.
1.5.3.2. Các giá trị thuộc về cá nhân người lao động.
Năng lực thực tế của người lao động: là tất cả những kiến thức, kinh nghiêm mà người lao động đã đúc kết được trong suốt quá trinh học tập và lao động. Mỗi người lao động có những khả năng riêng nên động lực khiến họ làm việc tích cực hơn cũng khác nhau, khi họ có đầy đủ điều kiện để phát huy khả năng của mình thì động lực lao động sẽ tăng lên.
Tính cách cá nhân của mỗi người lao động: Đây là yếu tố cá nhân bên trong mỗi con người và được thể hiện qua quan điểm của họ trước một sự việc, sự kiện nào đó. Quan điểm của người lao động có thể mang tính tích cực hoạc tiêu cực, do vậy tạo động lực cho người lao động còn chịu một phần ảnh hưởng từ tính cách của họ.
Các yếu tố bên trong công việc: Các yếu tố phụ thuộc vào bản chất công việc mà người lao động đang làm. Đó là sự phù hợp giữa khả năng làm việc với trình độ của người lao động, khi người lao động cảm thấy công việc đang làm là phù hợp với mình, họ sẽ tích cực lao động để đạt được mục tiêu của mình. Ngược lại, khi công việc không phù hợp, người lao đọng dễ dẫn đến tình trạng chán nản, không tập trung vào công việc. Luận văn: Tạo động lực thúc đẩy làm việc cho giảng viên.
1.6. Kinh nghiệm tạo động lực cho giảng viên tại một số trường cao đẳng và bài học rút ra cho Trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng
1.6.1. Kinh nghiệm tạo động lực cho giảng viên tại một số trường cao đẳng.
1.6.1.1. Trường Cao đẳng Nghề Du lịch Huế
Trường Cao đẳng nghề Du lịch Huế, đã trải qua lịch sử 15 năm liên tục phấn đấu, xây dựng và phát triển, Nhà trường luôn luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và Thành phố giao cho trong sự nghiệp đào tạo cung cấp nguồn nhân lực trình độ cao trong các lĩnh vực Du lịch và dịch vụ, đáp ứng yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế Đặc biệt là khu vực Miền Trung – Tây Nguyên.
Nhà trường luôn đề cao vai trò tạo động lực lao động cho đội ngũ GV. Chính vì vậy nhà trường đưa ra các chế độ chính sách cũng như các chương trình đãi ngộ, động viên, khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho GV giảng dạy và làm việc tại trường để họ yên tâm công tác cũng như động viên tinh thần học tập, nâng cao trình độ của GV. Xây dựng Trường Cao đẳng nghề Du lịch Huế trở thành trường Cao đẳng đa ngành, đa lĩnh vực trong thương mại và du lịch, Dịch vụ là trung tâm giáo dục đào tạo bậc cao đẳng và TCCN đạt chuẩn chất lượng cao của Việt Nam và Quốc tế.
Công tác xây dựng và phát triển đội ngũ đặc biệt được chú trọng, xác định được tầm quan trọng của việc xây dựng đội ngũ cán bộ, giáo viên có phẩm chất chính trị, có đạo đức nghề nghiệp tốt, có trình độ chuyên môn giỏi, có năng lực quản lý, là yếu tố tiên quyết đối với việc nâng cao chất lượng đào tạo. Nhà trường đã tập trung đầu tư phát triển nguồn nhân lực, có chế độ tuyển dụng, ưu đãi, thực hiện tốt chế độ, chính sách, tạo điều kiện cho đội ngũ cán bộ, giáo viên không ngừng học tập, nâng cao trình độ. Đội ngũ cán bộ, giáo viên của nhà trường từng bước được củng cố, đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng, cơ cấu hợp lý, đa dạng, phù hợp với chuyên ngành đào tạo, được trẻ hóa mạnh mẽ, có đủ năng lực, trình độ để hoàn thành nhiệm vụ.
Để khích lệ giảng viên tham gia nghiên cứu khoa học, nhà trường đưa ra các quy định, các định mức quy ra giờ chuẩn cho các hoạt động khoa học công nghệ, các mức tiền thưởng bằng tiền mặt cho những hoạt động nghiên cứu khoa học cụ thể nếu mang tính khả thi. Ban Giám hiệu nhà trường cũng tổ chức các buổi họp mở, đối thoại cùng các giảng viên trẻ mới vào trường làm việc có cơ hội bày tỏ, góp ý, chia sẻ, những tâm tư, nguyện vọng, phản ánh những vấn đề mà họ quan tâm, về các hoạt động quá trình công tác của giảng viên. Từ đó đề xuất thêm những ý kiến nhằm phát huy vai trò của đội ngũ giảng viên, viên chức trẻ tạo ra các phong trào thi đua, tạo động lực phấn đấu góp phần vào sự phát triển chung của Nhà trường.
1.6.1.2. Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Luận văn: Tạo động lực thúc đẩy làm việc cho giảng viên.
Là trường quốc gia đầu tiên đào tạo và bồi dưỡng cán bộ công nhân viên ngành Du lịch trực thuộc Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch, 43 năm qua, Trường đã đào tạo được hàng vạn lao động, hàng trăm nhà quản lý được đào tạo từ mái trường này đã và đang phát huy rất tốt trong các cơ quan quản lý về du lịch, các khách sạn, nhà hàng, doanh nghiệp du lịch. Đó là thành tựu đáng tự hào đánh dấu bước trưởng thành của lớp thế hệ cán bộ, giáo viên và sinh viên nhà trường, động lực mạnh mẽ tạo đà cho con tàu “HTC” vững bước hướng tới tương lai.
Luôn hiểu rõ tầm quan trọng của đội ngũ giảng viên đối với sự phát triển của nhà trường. Trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội đã đưa ra các chính sách để tạo động lực cho giảng viên của mình, bao gồm có tiền lương, tiền thưởng hỗ trợ, luôn tạo điều kiện cho giảng viên được đi học nâng cao trình độ trong và ngoài nước. Tiếp tục giữ vững mô hình đào tạo kết hợp nghiên cứu khoa học, từng bước mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng, hiệu quả đào tạo và nghiên cứu khoa học; phấn đấu trở thành một trong những trung tâm nghiên cứu lớn về văn hoá nói chung, về khoa học quản lý và nghiệp vụ văn hoá nói riêng của cả nước.
Trường còn tăng thêm những khoản thù lao cho giảng viên tham gia biên soạn giáo trình, viết báo, tạp chí hay những khoản chi cho giảng viên những hôm ra đề thi, chấm bài thi, hướng dẫn sinh viên trong quá trình thực tập, thực tế tại sơ sở, viết báo cáo, luận văn, các khoản dạy thêm giờ, công tác phí, các chế độ phúc lợi,… Bên cạnh đó, những cá nhân có thành tích xuất sắc trong việc đưa ra sáng kiến hay, phương pháp giảng dạy mới, đổi mới chương trình dạy học cho sinh viên. Thông qua những cách làm như trên, trường Cao đẳng du lịch Hà Nội đã thúc đẩy khả năng làm việc của đội ngũ giảng viên nhà trường tích cực hơn, tăng năng suất và hiệu quả lao động.
Năm 2021, nhà trường đã vinh dự đón nhận Huân chương Lao động Hạng Nhất.Tuy đã đạt được nhiều thành tích đáng khích lệ nhưng cũng còn nhiều vấn đề đặt ra cho tập thể cán bộ, giáo viên của trường. Trong đó, công tác tổ chức nhân sự sẽ được chú trọng quan tâm và sẽ có sự chuyển biến mạnh mẽ hơn nữa; cơ sở vật chất kỹ thuật sẽ được tăng cường trên cơ sở duy trì những điều kiện vật chất hiện có; các chương trình đào tạo sẽ được nghiên cứu rà soát, điều chỉnh, hoàn thiện và đề xuất nhiều mã ngành mới cho phù hợp với năng lực của nhà trường và phù hợp với quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Bên cạnh đó, công tác nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ trong triển khai công tác đào tạo và quản lý đào tạo, nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học trong đội ngũ cán bộ giáo viên Nhà trường sẽ được tăng cường; mối quan hệ trong nước và quốc tế được duy trì và phát triển.
1.6.2. Bài học kinh nghiệm rút ra cho Trường Cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng Luận văn: Tạo động lực thúc đẩy làm việc cho giảng viên.
Tạo điều kiện tối đa cho người lao động phát huy tính chủ động và sáng tạo. Song song với đó là định hướng cho người lao động làm việc trong khuôn khổ phù hợp với luật pháp. Ban Giám hiệu nhà trường cần tạo điều kiện, hỗ trợ cho giảng viên có cơ hội được tích lũy thật nhiều kinh nghiệm trong công tác giảng dạy và học tập. Luôn ghi nhận và đánh giá những đóng góp của người lao động bằng nhiều hình thức để họ thấy vai trò của họ được tổ chức tôn vinh và nhìn nhận một cách khách quan và công bằng.
Áp dụng các biện pháp tài chính và phi tài chính một cách linh hoạt, tác động trực tiếp đến tâm lý của người lao động một cách hiệu quả nhằm tạo ấn tượng tốt về tổ chức đối với người lao động.
Xây dựng văn hóa công sở riêng cho nhà trường: tổ chức các hoạt động ngoại khóa, giao lưu giữa các giảng viên trong nhà trường, các chương trình kỷ niệm mang dấu ấn riêng của nhà trường.
Xây dựng thang, bảng lương, quy chế lương thưởng phù hợp nhằm đảm bảo mức thu nhập xứng đáng với năng lực của người lao động. Tạo mọi điều kiện thuận lợi để họ có mức thu nhập ổn định. Tạo ra những cách thức tạo động lực đột phá, mới mẻ, hấp dẫn cho người lao động để họ hào hứng và phấn khởi trong lao động. Xây dựng thêm nhiều chính sách mới: thưởng hoàn thành nhiệm vụ xuất sắc, thưởng sáng kiến trong giảng dạy, tăng tiền đứng giờ dạy,… Thực hiện các biện pháp tạo động lực một cách công bằng, khách quan và công khai, phổ biến cụ thể đến từng người lao động.
Cần linh hoạt trong việc xây dựng cơ chế đãi ngộ, chiêu mộ nhân tài, áp dụng được các biện pháp có nhiều điểm nhấn khác biệt trong việc sử dụng các công cụ tạo động lực. Đồng thời, người lao động cùng với nhà trường xây dựng các chính sách hợp lý và cùng giám sát quá trình thực hiện.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 Luận văn: Tạo động lực thúc đẩy làm việc cho giảng viên.
Trong bất kỳ một tổ chức hay doanh nghiệp nào thì nguồn nhân lực được coi là nguồn lực quan trọng nhất. Bởi vì con người là yếu tố cấu thành, cùng vận hành và quyết định sự thành bại của tổ chức. Do đó, vấn đề tạo động lực nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lao động, phát huy tính tích cực của con người luôn chiếm vị trí hàng đầu.
Trong chương 1, tác giả đã đưa ra khái niệm, vai trò, mục đích và ý nghĩa của động lực và tạo động lực lao động, đồng thời đưa ra các học thuyết cơ bản về tạo động lực lao động như: Học thuyết về hệ thống nhu cầu của Maslow, học thuyết về sự công bằng của Stacy Adams, Mô hình 2 yếu tố của F. Herzbert, học thuyết kỳ vọng của Victor Vroom và Học thuyết đặt mục tiêu của Edwin Locke… Từ những học thuyết đó, tác giả đã đưa ra vấn đề cần nghiên cứu trong tạo động lực: mục tiêu, nhu cầu của người lao động, các biện pháp kích thích tinh thần và vật chất. Đồng thời đưa ra các nhân tố bên ngoài và bên trong ảnh hưởng đến tổ chức.
Có nhiều yếu tố tác động đến động lực của người lao động, tuy nhiên tùy từng thời điểm, tùy thời gian và không gian người lao động sẽ chịu chi phối của những nhân tố nào nhiều hơn, quan trọng hơn. Các nhu cầu của người lao động sẽ thay đổi và tùy từng thời điểm, hoàn cảnh mà nhu cầu của mỗi người khác nhau. Vì vậy, người quản lý sẽ xây dựng các chính sách tạo động lực phù hợp và trên cơ sở tìm hiểu các vấn đề liên quan đến tạo động lực ở các trường đại học, cao đẳng khác nhau để từ đó học hỏi kinh nghiệm cho trường cao đẳng nghề Du lịch và Dịch vụ Hải Phòng nhằm góp phần đưa chất lượng lao động ngày một tốt đẹp hơn, phát huy tốt nguồn lao động hiện nay của nhà trường. Luận văn: Tạo động lực thúc đẩy làm việc cho giảng viên.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng tạo động lực lao động cho giảng viên

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

