Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Tác động kinh tế du lịch tại thành phố Uông Bí hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Tác động của kinh tế du lịch đối với kinh tế – xã hội thành phố Uông Bí (1996 -2023) dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
3.1. Tác động về kinh tế
3.1.1. Góp phần tăng ngân sách của thành phố
Trong giai đoạn từ 1996 đến 2006, Đảng bộ thị xã tiến hành 3 Đại hội đại biểu đề ra các phương hướng nhiệm vụ cho các nhiệm kỳ, chủ yếu lấy nông nghiệp làm mặt trận hàng đầu. Đến năm 2006, Đại hội Đảng bộ thị xã lần thứ XV tiến hành đã đề cập đến mở rộng hoạt động thương mại, dịch vụ du lịch, nhưng hoạt động kinh tế này vẫn chưa thực sự được quan tâm. Từ năm 2010 bộ mặt du lịch thành phố Uông Bí đã chính thức khởi sắc. Du lịch, dịch vụ được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn. Trong thời gian trước mắt và cả trong tầm nhìn dài hạn, đây sẽ tiếp tục là một định hướng quan trọng là đẩy nhanh quá trình cơ cấu lại nền kinh tế chuyển từ tăng trưởng “nâu” sang tăng trưởng “xanh” theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, dịch vụ, du lịch và chiến lược phát triển đô thị bền vững của thành phố.
Hoạt động du lịch phát triển, tạo nguồn ngân sách cho các địa phương từ các khoản trích nộp ngân sách của các cơ sở du lịch trực thuộc quản lý trực tiếp của địa phương và từ các khoản thuế phải nộp của các doanh nghiệp du lịch kinh doanh trên địa bàn. Du khách khi đến với điểm du lịch thường có nhu cầu khám phá văn hóa, phong tục tập quán của địa phương và sử dụng các dịch vụ ăn, nghỉ, hỗ trợ đi lại, nghỉ ngơi… Đặc biệt, những gì lạ lẫm thường trở thành điều thích thú đối với họ. Trước thực tế như vậy, cộng đồng địa phương đã nắm bắt cơ hội để thực hiện những dịch vụ phục vụ du khách từ loại hình đơn giản nhất cho đến các hình thức phức tạp. Các loại hình dịch vụ du lịch, trong đó có kinh doanh lưu trú, kinh doanh ăn uống, thậm chí các hoạt động bán rong cũng đem lại một nguồn thu nhập lớn trong cơ cấu kinh tế của các hộ gia đình. Địa phương biết tận dụng các tận dụng thế mạnh của mình để phát triển kinh tế bằng việc giới thiệu bán các sản phẩm thủ công, đặc sản vùng miền. Không chỉ bán cho các du khách đến thăm quan góp phần tăng thu nhập kinh tế. Luận văn: Tác động kinh tế du lịch tại thành phố Uông Bí.
Thực tiễn khai thác và phát huy nguồn lực văn hóa- nhân văn này ở Uông Bí đang đặt ra khá nhiều vấn đề nan giải và cấp bách. Mặc dù vậy, nhìn vào biểu đồ doanh thu từ du lịch của thành phố Uông Bí có sự biến động không ngừng qua các năm. Nếu như doanh thu du lịch từ năm 2010 trở về trước chỉ đạt khoảng vài chục tỉ đồng thì từ năm 2010, doanh thu bắt đầu tăng lên, đặc biệt từ năm 2019, doanh thu tăng gấp hơn chục lần so với những năm trước với số tiền khoảng 200 tỉ đồng. Gần đây nhất là năm 2023 với tổng doanh thu là 477 tỉ đồng. Yên Tử đã đặc biệt đem lại những con số bất ngờ. Riêng số tiền thu công đức cũng là không nhỏ (Năm 2021: tiền thu công đức là 26 tỉ, năm 2023: tiền thu công đức là 32 tỉ). Với doanh thu cao như vậy, du lịch đã tham gia tích cực vào việc làm tăng ngân sách của thành phố Uông Bí nói riêng và tỉnh Quảng Ninh nói chung.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
3.1.2. Góp phần tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương
Với lợi thế vị trí Uông Bí là một thành phố có điều kiện tự nhiên đa dạng phong phú về nhiều mặt. Có thể nói, quá trình xây dựng và phát triển của Uông Bí cũng đồng thời là quá trình khai thác, phát huy giá trị của những lợi thế và tiềm năng mà hiếm vùng đất nào có được, là tiền đề để Uông Bí phát triển một nền kinh tế khá toàn diện và hiện đại, từ sản xuất công, nông, ngư nghiệp đến phát triển thương mại, dịch vụ và du lịch, xứng đáng với vị trí là một trong những mắt xích quan trọng của du lịch Quảng Ninh.
Kinh tế của thành phố đã và đang trên đà phát triển, các ngành kinh tế đều tăng trưởng trong những năm qua nhưng sự chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế đang diễn ra nhờ tác động từ ngành kinh tế du lịch. Từ sau năm 2010, tỷ trọng ngành kinh tế Nông, lâm, ngư nghiệp có chiều hướng giảm mạnh, ngành Công nghiệp và xây dựng vẫn giữ vai trò chủ đạo, phản ánh đúng thực trạng các ngành kinh tế. Nói đến Uông Bí là nói đến các công ty than, các mỏ than với trữ lượng than lớn, nhà máy điện Uông Bí với bề dày truyền thống… Đang được chú ý nhất là ngành Dịch vụ, du lịch. Tính trung bình năm 2010-2015: Ngành Nông, lâm, ngư nghiệp chiếm 36,1%, ngành Công nghiệp và xây dựng chiếm 44,2%, ngành Dịch vụ, du lịch chiếm 19,7%. Cơ cấu này liên tục thay đổi trong những năm tiếp theo với sự sụt giảm tỷ trọng ngành Nông, lâm, ngư nghiệp, tăng tỷ trọng ngành Dịch vụ, du lịch. Đến năm 2023, tỷ trọng ngành Nông, lâm, ngư nghiệp chỉ chiếm 5% trong cơ cấu nền kinh tế, tỷ trọng ngành Dịch vụ, du lịch là 23%, đó là sự dịch chuyển không hề nhẹ, rất phù hợp với xu hướng phát triển của thành phố nói riêng, của tỉnh Quảng Ninh và đất nước nói chung đang trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Điều này càng khẳng định sự đúng đắn của các cấp lãnh đạo thành phố: Tiếp tục đẩy nhanh quá trình cơ cấu lại nền kinh tế chuyển từ tăng trưởng “nâu” sang tăng trưởng “xanh” theo hướng tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, dịch vụ, du lịch. Luận văn: Tác động kinh tế du lịch tại thành phố Uông Bí.
Biểu đồ 3.2: Tỷ trọng cơ cấu ngành kinh tế năm 2019-2023 (%)
Sự chuyển dịch cơ cấu của địa phương được thể hiện thông qua địa phương điển hình là thôn Nam Mẫu 2, xã Thượng Yên Công. Từ nhiều năm qua, các gia đình dân tộc nghèo khó ở đây chỉ sống bằng nghề nông nghiệp, đến nay họ chủ yếu sống dựa vào du lịch. Trước khi điểm du lịch Yên Tử được đầu tư và phát triển, cơ cấu số hộ làm nông nghiệp chiếm trên 90%. Trong bối cảnh tăng dân số, ruộng lại được chia nhỏ thành các khoảnh nên tạo ra diện mạo đồng ruộng manh mún. Với người dân nơi đây, nếu chỉ dựa vào mấy sào ruộng thì cuộc sống gặp rất nhiều khó khăn. Chính bởi vậy, đa phần cư dân thôn Nam Mẫu 2 có thêm cơ hội khi thực hiện sinh kế tại điểm du lịch Yên Tử. Thậm chí có nhiều hộ đã bỏ ruộng, bán ruộng hoặc canh tác một vụ vì hiệu quả kinh tế trong ba tháng lễ hội Yên Tử cũng đủ trang trải cuộc sống cả năm. Do đó nếu đánh giá một cách tổng quan thì cư dân khu vực thôn Nam Mẫu 2 hiện nay nhờ việc chuyển dịch tự nhiên từ kinh tế nông, lâm nghiệp sang kinh tế du lịch đã có đời sống kinh tế ổn định và mức sống được nâng cao.
3.1.3. Là động lực thúc đẩy sự phát triển các ngành kinh tế khác
Kinh doanh du lịch là hoạt động kinh doanh cần nhiều sự hỗ trợ liên ngành. Nhiều ngành khác cũng được hưởng lợi thông qua hỗ trợ các sản phẩm và dịch vụ du lịch, như xây dựng, in ấn và xuất bản, sản xuất, bảo hiểm, vận tải, lưu trú, bán lẻ, dịch vụ ăn uống, dịch vụ tài chính. Như vậy, có thể thấy tác động của kinh tế du lịch đến một chuỗi lớn các lĩnh vực và lợi ích.
Trước tiên là trong ngành Giao thông vận tải: Ngày càng có bước phát triển vượt bậc, nhiều tuyến đường giao thông quan trọng có ý nghĩa chiến lược được đầu tư, có tuyến đã hoàn thành và đưa vào sử dụng. Nhà nước cùng nhà đầu tư đẩy nhanh tiến độ nâng cấp Quốc lộ 18A và đầu tư xây dựng tuyến đường Cao tốc Nội Bài – Hạ Long, đẩy nhanh tiến độ xây dựng tuyến đường Uông Bí Nam Thành phố và các tuyến đường liên phường xã, các tuyến đường nội thị. Nâng cấp, mở rộng tuyến đường du lịch Yên Tử và tuyến hành hương Bắc Sơn – Yên Tử và tuyến Năm Mẫu – Đông Triều, hoàn thành mở rộng, bố trí điện chiếu sáng các đường nhánh còn lại. Doanh thu dịch vụ vận tải địa phương năm 2020 đạt 170 tỉ đồng, đến năm 2023 đạt hơn 450 tỉ đồng.
Tốc độ tăng bình quân đạt 19,8%/năm.
Trong ngành Thương mại, dịch vụ: Phát triển đa dạng, tốc độ cao, trên địa bàn thành phố có 11 chợ, 6 ngân hàng thương mại, dịch vụ ATM và các dịch vụ khác phát triển tốt, hệ thống siêu thị, khách sạn phát triển theo hướng hiện đại, thành phố đang xây dựng siêu thị Quang Trung và xúc tiến đầu tư siêu thị Yên Thanh và siêu thị Cầu Sến, hàng năm tổ chức tốt hội chợ thương mại quốc tế Uông Bí, mức lưu chuyển hàng hoá tăng 15%, giá trị về dịch vụ, thương mại hàng năm tăng 26,8%.
Trong ngành Công nghiệp: Phát triển ổn định, tăng trưởng cao, bền vững, được xếp vị trí thứ 3 trong Tỉnh. Trên địa bàn Thành phố có 400 doanh nghiệp
Trung ương và địa phương. Than nguyên khai tăng từ 3,85 triệu tấn năm 2015 lên 6,85 triệu tấn năm 2022. Xi măng đạt 1 triệu tấn/năm (841.000 tấn/năm 2022) Gạch tuy-nen đạt 30 triệu viên/năm. Sản lượng điện năm 2015 đạt 700 triệu KWh, năm 2022 đạt 1.123,5 triệu KWh. Nhà máy chế tạo thiết bị nâng hạ 200.000 tấn sản phẩm/năm, hệ thống 5 cảng thuỷ nội địa phục vụ xuất, nhập vật liệu xây dựng, xuất than hoạt động tốt. Nhà máy chế biến lâm sản Quảng Ninh, Nhà máy gia công mũ giày Sao Vàng, Nhà máy sản xuất bia, rượu Thăng Long… duy trì sản xuất ổn định. Giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp hàng năm tăng 34, 5%/năm (30,8 % năm 2022). Ngành công nghiệp than luôn chiếm tỉ trọng cao nhất trong cơ cấu các ngành kinh tế. Năm 2023, lĩnh vực này nằm trong tổng thể lĩnh vực Công nghiệp và xây dựng chiếm 72% cơ cấu các ngành kinh tế. Việc đầu tư đối với du lịch cũng được các cấp lãnh đạo ngành than quan tâm thông qua các dự án đầu tư. Đó là sự tác động qua lại giữa các ngành kinh tế nhằm thúc đẩy kinh tế Uông Bí ngày một phát triển và bền vững.
3.1.4. Góp phần quảng bá cho sản xuất địa phương Luận văn: Tác động kinh tế du lịch tại thành phố Uông Bí.
Du lịch là phương tiện tuyên truyền, quảng cáo có hiệu quả cho các địa phương. Xét về mặt kinh tế, các sản phẩm du lịch được giới thiệu tại chỗ đến khách du lịch, họ sẽ tuyên truyền đến người thân, bạn bè và từ đó có cơ hội mở rộng các mặt hàng này ra các nơi khác. Xét về mặt xã hội, đây là kênh để quảng bá về các thành tựu kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, con người, phong tục tập quán… Mặc dù trong bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước còn nhiều yếu tố chưa thuận lợi đã ảnh hưởng không nhỏ đến du lịch thành phố. Một số dự án đầu tư du lịch phải thay đổi chủ đầu tư làm ảnh hưởng tiến độ hoặc thiếu vốn. Tuy nhiên Uông Bí nằm trong những khu vực du lịch trọng điểm của tỉnh, trong những năm qua du lịch Uông Bí đã góp phần lớn vào quảng bá cho sản xuất địa phương thông qua các hình thức phong phú, cuốn hút. Các sách giới thiệu về Uông Bí được đầu tư công phu, các ấn phẩm như đĩa DVD, sổ tay du lịch, sách giới thiệu chuyên sâu về Yên Tử luôn được phát hành tạo điều kiện tuyên truyền quảng bá rộng rãi về mảnh đất Uông Bí đạt hiệu quả rất tốt. Gần đây nhất là Cuốn sổ tay du lịch Uông Bí giới thiệu cụ thể các loại hình du lịch, các món ngon nổi tiếng, cung cấp địa chỉ các cơ sở lưu trú và phương tiện di chuyển tại thành phố Uông Bí, đặc biệt là cuốn sách “Đất và người” dày 882 trang giới thiệu về đất và người Uông Bí một cách đầy đủ, sách “Danh sơn Yên Tử- Thiền phái trúc lâm” cũng cung cấp cho người đọc những hiểu biết về di tích và danh thắng Yên Tử cùng Thiền phái Trúc Lâm… Thành phố tiếp tục khôi phục tổ chức tốt các lễ hội truyền thống tiêu biểu mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc như: lễ hội Yên Tử, Đình Đền Công, chùa Ba Vàng. Tổ chức cuộc thi leo núi Yên Tử để thu hút đông đảo khách du lịch về một loại hình du lịch thể thao hấp dẫn. Ngoài ra, các ngành, các địa phương đã làm tốt công tác tuyên truyền, quảng bá trực quan trên địa bàn như: tuyên truyền bằng xe cổ động, treo băng rôn trên các tuyến đường, sửa chữa, làm mới những cụm pa-nô du lịch và các biển hiệu chỉ dẫn vào khu, điểm du lịch…
Công tác phát triển kết cấu hạ tầng giao thông làm cơ sở để thu hút các thành phần kinh tế, tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư phát triển các khu, điểm du lịch cũng được thành phố đặc biệt quan tâm đầu tư hoàn thiện, đồng thời khuyến khích xây dựng, nâng cấp cơ sở lưu trú phục vụ khách du lịch, trong đó có nhiều cơ sở được xây dựng đạt chuẩn như: Khu du lịch sinh thái Hoàn Mỹ, Khách sạn Thanh Lịch, Khách sạn Thương Mại, Nhà Sàn Tùng Lâm, Khách sạn Sentosa, Công ty TNHH MTV dịch vụ ăn uống, phòng nghỉ Tùng Lâm… cùng nhiều nhà nghỉ đạt chuẩn phục vụ khách du lịch đáp ứng được nhu cầu của du khách đến Uông Bí. Luận văn: Tác động kinh tế du lịch tại thành phố Uông Bí.
Thành phố đã chú trọng tổ chức nhiều hoạt động vừa quảng bá du lịch, giới thiệu các sản phẩm, hàng hóa lưu niệm, các món ẩm thực đặc sản của Uông Bí để thu hút khách du lịch. Vào đợt lễ hội thường tổ chức biểu diễn nghệ thuật múa hát dân tộc tại các khu điểm du lịch để phục vụ khách du lịch. Tổ chức tốt các khu ẩm thực cho du khách đến với Uông Bí, nâng cao chất lượng phục vụ của các khu ẩm thực đảm bảo văn minh, lịch sự, phong phú về chủng loại thực phẩm, đáp ứng tốt nhu cầu của khách du lịch và nhân dân.
Tích cực quảng bá các mặt hàng đặc trưng, đặc sản Uông Bí như măng trúc tươi, măng trúc ngâm dấm, rượu mơ Yên Tử, các thuốc xoa bóp như Trầu Tiên Yên Tử, gừng gió, địa liền, cây ba kích để ngâm rượu. Các món ăn nổi tiếng của Uông Bí được đông đảo khách du lịch biết đến như: Bún Tôm, canh gà và rượu bâu của người dao, món măng trúc Yên Tử… Kết hợp với việc thường xuyên kiểm tra vệ sinh an toàn thực phẩm ở các cửa hàng ăn uống, các khu, điểm du lịch, đảm bảo sức khỏe, an toàn cho khách du lịch. Hiện nay đến Uông Bí không thể không thưởng thức các sản vật:
Món canh gà và rượu bâu của người dân tộc Dao: Gà chặt nhỏ đem ướp với gừng, hành khô, 1 miếng địa liền và gia vị vừa vặn trong 10 phút, sau đó bắc lên bếp đun nhỏ lửa và cho săn thịt, lắc đều rượu bâu đổ bâm sấp thịt rồi đun nhỏ lửa tiếp cho đến chín vừa. Canh gà ăn nóng với vị thơm của gừng, địa liền hấp dẫn du khách.
Món măng trúc Yên Tử, có thể chế biến thành nhiều món khác nhau như nấu canh, xào , nướng , luộc… Sau khi lấy măng rửa sạch nếu luộc hoặc nướng để cả cây măng, đối với món xào có thể thái thành từng lát mỏng hoặc cắt khúc nhỏ đập dập rồi đem xào với thịt bò, thịt dê. Thêm các loại gia vị như cần tây, tỏi tươi và hạt tiêu. Măng trúc ăn ngọt, không có vị hăng, đắng như nhiều loại măng khác.
Món bún tôm: Tôm làm bún là loại tôm vừa phải, vỏ tôm được lột đi, lấy cùi tôm để tẩm ướp hương vị và xào qua cho săn chắc. Những thân dọc mùng đã tước vỏ, xanh mướt, thái từng đoạn đều răm rắp. Bún đặt sẵn, ráo nước, trắng mịn. Nồi nước dùng sôi lăn tăn, ngọt lừ, nhấp nhánh những ánh vàng bóng mỡ. Tất cả làm một bát bún thơm phưng phức, điểm thêm một lát quất hay một ít dấm thanh, một ít tương ớt và ăn kèm với món rau sống thì càng tuyệt.
Cơm chay Nàng Tấm: Nhà hàng cơm Chay Nàng Tấm với vị trí thuận lợi gần sân ga cáp treo Yên Tử, mặt bằng rộng, trang trí lịch sự có thể phục vụ các đoàn du khách tới 150 người đi dự lễ hội và tham quan thắng cảnh du lịch Yên Tử. Với các món chay phong phú được chế biến công phu từ nguyên liệu của Việt Nam và nhập khẩu từ nước ngoài, Cơm chay Nàng Tấm giới thiệu cho thực khách thưởng thức một nghệ thuật ẩm thực mang bản sắc văn hóa dân tộc mà lại rất phù hợp với cuộc sống hiện đại.
Rượu mơ Yên Tử: được chế biến hoàn toàn bằng phương pháp thủ công truyền thống dân tộc. Quả mơ sau khi được lựa chọn kỹ càng, rửa sạch, để ráo rồi ướp với đường để tạo men. Rượu cũng được nấu từ loại gạo ngon, thơm. Hai thứ ấy cho chung vào chum sành ngâm thành loại rượu có màu vàng óng ánh, thơm mùi mơ. Rượu có vị ngọt thơm rất dễ uống, dễ sử dụng, đặc biệt vào mùa hè có thể dùng thêm đá khi uống rượu, có công dụng giúp kích thích tiêu hóa, làm đẹp da, mát gan, lợi tiểu. Rượu mơ Yên Tử mang hương vị riêng, để lại dấu ấn trong lòng du khách để mỗi khi đến Yên Tử, du khách có thể thưởng thức hoặc mua làm quà đem về. Luận văn: Tác động kinh tế du lịch tại thành phố Uông Bí.
Như vậy, qua du lịch, các tài nguyên du lịch, các sản vật Uông Bí được Du khách biết đến với những nét độc đáo trong đời sống vật chất và đời sống tinh thần của người Uông Bí. Thời gian qua, nhờ làm tốt công tác phối hợp quản lý môi trường du lịch, đảm bảo an ninh, an toàn cho khách du lịch tại các khu, điểm du lịch góp phần làm cho hình ảnh du lịch Uông Bí thêm thân thiện “Hiếu khách, văn minh, lịch thiệp” tạo nhiều dấu ấn đẹp trong lòng du khách. Nhìn chung du lịch Uông Bí đã thật sự lên ngôi góp phần tạo đà phát triển kinh tế, xã hội thành phố và tỉnh nhà ngày càng bền vững hơn.
3.1.5. Khuyến khích nhu cầu du lịch nội địa
Người dân địa phương luôn có nhu cầu viếng thăm các điểm hấp đẫn trong khu vực địa phương của mình và hơn nữa, họ vẫn tự hào khi thấy một thực tế là các điểm hấp dẫn này lại thu hút được nhiều người từ khắp nơi trên thế giới đến thăm. Khi một khu vực thu hút được du khách quốc tế sẽ làm tăng sự quan tâm trong nước đối với các điểm hấp dẫn ở khu vực đó.
Lễ hội Yên Tử hằng năm đón hàng triệu lượt người, khách quốc tế hàng chục ngàn lượt người, người dân địa phương đi lễ chùa như một lẽ tất yếu.
Lượng khách từ các vùng lân cận cũng thường xuyên và liên tục.
Trong những năm gần đây, chùa Ba Vàng cũng chiếm được sự ngưỡng mộ lớn đối với du khách và dân địa phương. Các đại lễ được tổ chức với lòng thành tâm, cung kính của du khách và đặc biệt của chính nhân dân địa phương. Tấm lòng hiếu khách, sự nhiệt tình, lòng tận tâm của người dân Uông Bí là minh chứng hùng hồn cho niềm tin, niềm tự hào về các các di tích, danh thắng, sản vật địa phương.
3.2. Tác động về xã hội Luận văn: Tác động kinh tế du lịch tại thành phố Uông Bí.
3.2.1. Góp phần giải quyết việc làm cho người lao động
Trên thực tế, đóng góp của du lịch vào việc tạo ra việc làm không thể xem nhẹ. “Số lao động trong ngành du lịch và các hoạt động liên quan chiếm 10,7% tổng số lao động toàn thế giới. Cứ 2,5 giây du lịch tạo thêm một việc làm mới và hiện nay cứ 8 lao động thì có một người làm trong ngành du lịch”[28].
Trong sự chuyển dịch cơ cấu ngành, ngành dịch vụ ngày càng chiếm giữ một vị trí quan trọng trong nền kinh tế. Du lịch là ngành tạo ra nhiều việc làm thứ hai, sau nông nghiệp, ở các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Du lịch đã và đang đóng góp một vai trò quan trọng trong việc thu hút lực lượng lao động trong xã hội bao gồm cả lao động trực tiếp và lao động gián tiếp. Năm 2022 tạo ra 1,8 triệu việc làm (trong đó 570.000 việc làm trực tiếp), quy mô lao động ngành du lịch chiếm 3,6% tổng lao động toàn quốc. Theo cách tính của Hội đồng du lịch và lữ hành thế giới (WTTC) thì hiệu quả làm việc do du lịch và lữ hành tạo ra là trên 3 triệu lao động chiếm 8,1% tổng số lao động toàn quốc [64].
Cách tính này bao quát được cả số lao động liên quan và lao động không chính thức, lao động gia đình trong du lịch cộng đồng, du lịch tại nhà dân, lực lượng dịch vụ đường phố, khu du lịch (xe ôm, bán bưu thiếp, hàng lưu niệm, hàng rong…). Tuy nhiên, do phát triển nhanh, các doanh nghiệp du lịch, các khách sạn, nhà hàng đã thu hút lực lượng lao động lớn nhưng chất lượng chưa đáp ứng yêu cầu, mới có 7% đạt trình độ đại học, 50% được đào tạo qua các trường dạy nghề, các khóa bồi dưỡng ngắn hạn, còn lại chưa qua đào tạo. Tỷ lệ lao động nữ trong ngành du lịch Việt Nam chiếm 58%. Toàn ngành có khoảng trên 27.000 lao động nữ là cán bộ quản lý. Năng lực làm việc cao, chất lượng và hiệu quả làm việc của lao động nữ đóng vai trò quyết định đến chất lượng dịch vụ du lịch.
Một thực tế là, ở nước ta trên 3/4 số các khu di tích văn hóa, lịch sử, khu du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng của đất nước đều nằm tại các vùng nông thôn, miền núi và vùng hải đảo. Song thu nhập hiện từ du lịch mới tập trung chủ yếu ở hai thành phố du lịch lớn của đất nước là Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh (chiếm 62% tổng doanh thu), vì thế phát triển du lịch ở các vùng miền nông thôn không những sẽ đánh thức những tiềm năng trên để phát triển kinh tế nông thôn, xây dựng nông thôn mới theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mà còn làm tăng thêm thu nhập cho đông đảo người dân sống ở nông thôn.
Tính đến nay, Du lịch thành phố Uông Bí đã tạo ra công ăn việc làm cho một lực lượng lớn lao động, số lao động trực tiếp trong ngành du lịch bao gồm cả quản lí và lao động tại công ty lữ hành, cơ sở lưu trú, nhà hàng dịch vụ, các doanh nghiệp, khu du lịch tính đến năm 2022 là 2.119 người. Luận văn: Tác động kinh tế du lịch tại thành phố Uông Bí.
Bảng 3.1: Biểu mẫu thống kê nhân lực du lịch thành phố Uông Bí
| Năm | 2015 | 2016 | 2017 | 2018 | 2019 | 2020 | 2021 | 2022 |
| Nhà nghỉ, khách sạn | 120 | 195 | 230 | 310 | 385 | 420 | 491 | 491 |
| Vận chuyển | 60 | 64 | 80 | 118 | 120 | 138 | 146 | 151 |
| Khu, điểm du lịch | 137 | 175 | 230 | 298 | 350 | 486 | 520 | 520 |
| Nhà hàng | 180 | 225 | 228 | 265 | 310 | 420 | 552 | 625 |
| Nơi bán đồ lưu niệm | 8 | 8 | 9 | 21 | 21 | 30 | 48 | 48 |
| Điểm Karaoke | 80 | 80 | 105 | 85 | 78 | 160 | 110 | 96 |
| Lao động quản lý | 180 | 180 | 180 | 180 | 180 | 182 | 183 | 183 |
| Tổng | 765 | 927 | 1062 | 1277 | 1444 | 1836 | 2055 | 2119 |
(Nguồn: Phòng VH&TT thành phố Uông Bí năm 2024)
Ngoài số lao động trực tiếp này còn có số lao động không trực tiếp, lao động mang tính mùa vụ của các nông dân sinh kế ở vùng du lịch. Luận văn: Tác động kinh tế du lịch tại thành phố Uông Bí.
Có thể thấy ngành du lịch là một trong những ngành có tác động rất lớn, đó là tính chất liên ngành của du lịch. Để vận hành và bảo dưỡng được các công trình dịch vụ du lịch đã xây dựng kết cấu hạ tầng cho ngành du lịch, du lịch cần một khối lượng lao động rất lớn. Việc du lịch tạo ra việc làm ảnh hưởng tích cực tới sự ổn định xã hội như: tránh sự hoạt động riêng rẽ của các cộng đồng xã hội, tránh được các tệ nạn xã hội đi theo, củng cố tính đồng nhất và lòng tự hào về di sản địa phương, tăng thu nhập của dân địa phương qua việc cung cấp những sản phẩm thủ công, sản vật địa phương cho khách…du lịch cũng là một hoạt động kích cầu trong thương mại. Việc làm của ngành du lịch tạo ra cũng mang một đặc trưng riêng biệt. Bởi lẽ hoạt động du lịch là rất đa dạng với nhiều loại hình phong phú nên có tính thời vụ rất cao. Đến các “mùa du lịch”, thì nhu cầu lao động phục vụ cho ngành tăng cao dù là trực tiếp hay gián tiếp.
3.2.2. Là một trong những công cụ hữu hiệu để giải quyết tình trạng đói nghèo
Qua thực tế cho thấy du lịch có thể tạo ra những cơ hội để nâng cao mức sống của người dân nhờ việc đem đến cho họ việc làm trực tiếp hoặc gián tiếp, bởi đây là ngành thu hút mọi hình thức làm việc để phục vụ nó. Du lịch thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ, du lịch phát triển tạo thu nhập làm tăng GDP trong cơ cấu kinh tế. Phát triển du lịch còn tạo sự phát triển và mở rộng nhiều ngành nghề, tác động mạnh mẽ đến nông nghiệp, phá vỡ sự khép kín làm thay đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp, lâm, ngư nghiệp, làm cho nông nghiệp chuyển từ trang thái thuần nông sang nền nông nghiệp thương phẩm, nông nghiệp sinh thái đa ngành nghề.
Nói đến du lịch Uông Bí, nơi đầu tiên phải nhắc đến chính là Yên Tử.
Lượng khách đến Uông Bí tập trung phần lớn tại Yên Tử, doanh thu du lịch từ Yên Tử là lớn nhất. Các dự án đầu tư trong thời gian tới cũng tập trung chủ yếu tại Yên Tử. Điểm du lịch Yên Tử đã tạo ra nhiều loại hình sinh kế như kinh doanh cố định, kinh doanh di động… mang lại hiệu quả kinh tế, dù bất kì loại hình nào cũng cho thu nhập hơn hẳn việc “bán mặt cho đất, bán lưng cho trời” trên những mảnh ruộng kém màu mỡ. Hay nói khác đi, nhờ vào điểm du lịch Yên Tử mà cuộc sống của những người dân nơi đây đã thay đổi và được cải thiện rất nhiều. Điển hình là thôn Nam Mẫu 2, xã Thượng Yên Công, việc “bám” vào điểm du lịch để thực hiện sinh kế của người dân đã diễn ra trên dưới 20 năm. Người dân nơi đây đều cảm nhận thấy những thay đổi qua từng năm, từng tháng, những ngôi nhà mới to đẹp mọc lên, ruộng một phần bị bỏ hoang, một phần chỉ cấy một vụ, một phần bị lấp đi để thay đổi mục đích sử dụng, bộ mặt của thôn có nét giống với một góc đô thị nếu quan sát từ trên cao. So với các thôn khác trong xã Thượng Yên Công, Nam Mẫu 2 được coi là thôn giàu có nhất.
Các báo cáo tổng kết hàng năm của xã Thượng Yên Công đều khẳng định vai trò của điểm du lịch Yên Tử trong việc giải quyết công ăn việc làm, tạo nguồn thu nhập cho cộng đồng địa phương. Trong số các hộ thoát nghèo có những hộ tận dụng điểm du lịch để thực hiện các sinh kế phụ, kinh doanh theo mùa lễ hội. Việc giảm số lượng hộ nghèo đã cho thấy tính hiệu quả của sinh kế dựa vào điểm du lịch Yên Tử. Riêng với thôn Nam Mẫu 2, số lượng hộ nghèo khá cao do đây là thôn có số hộ, khẩu lớn nhất xã. Các hộ nghèo này thường nằm xa khu ngã tư Nam Mẫu, hoàn toàn không tham gia thực hiện sinh kế tại điểm du lịch Yên Tử.
Như vậy, từ một sinh kế phụ, mang tính chất tranh thủ lợi thế của điểm du lịch để tăng thêm thu nhập nhưng sinh kế này lại đạt hiệu quả cao đến mức người nông dân “nhạt” dần với truyền thống nông nghiệp. Sinh kế phụ ấy trở thành công cụ đắc lực, góp phần lớn trong việc xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống cho người dân xung quanh các điểm du lịch nói riêng và doanh thu của thành phố nói chung
3.2.3. Góp phần nâng cao dân trí Luận văn: Tác động kinh tế du lịch tại thành phố Uông Bí.
Du lịch làm tăng tầm hiểu biết chung về xã hội của người dân thông qua người ở địa phương khác, khách nước ngoài (về phong cách sống, thẩm mỹ, ngoại ngữ…), làm tăng thêm tình đoàn kết, hữu nghị, mối quan hệ hiểu biết cá nhân giữa các vùng với nhau và của nhân dân giữa các quốc gia với nhau.
Ngày 23-11-1945, Hồ Chủ Tịch ký sắc lệnh số 65 quy định “Cấm phá hủy đình chùa, đền miếu hoặc những nơi thờ tự khác nhau như cung điện, thành quách cùng lăng mộ (chưa được bảo tồn). Cấm phá hủy những bức ký đồ vật chiểu sắc, văn bằng giấy, sách vở có tính cách tôn giáo nhưng có ích cho lịch sử” [57, tr58]. Qua đây các địa phương có điểm du lịch phải chủ động tìm hiểu, sưu tầm cùng sự giúp đỡ của các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu, các học giả để bảo tồn, tu bổ khôi phục các giá trị tài nguyên nhân văn. Quá trình đó làm người dân có nhận thức sâu sắc về tiềm năng du lịch ở địa phương, từ đó biết trân trọng các tiềm năng đó và có ý thức bảo vệ, giữ gìn.
Bên cạnh đó, việc tăng cường tuyên truyền, phổ biến, vận động nhân dân tự giác và tích cực tham gia giữ gìn an ninh trật tự, vệ sinh môi trường, tích cực tham gia xây dựng điểm đến “An toàn – Thân thiện – Chất lượng”, tăng cường thực hiện nếp sống văn minh, lịch sự, tôn trọng pháp luật. Xây dựng phong trào ứng xử văn minh, có thái độ cởi mở, chân thành đối với khách du lịch. Với những thông tin tuyên truyền qua sách báo, các đĩa DVD, pano…, tuyên truyền và hưởng ứng các chương trình kích cầu du lịch nội địa, phát động và thực hiện
Cuộc vận động “Người Việt Nam ưu tiên du lịch Việt Nam”.
Ngoài ra, tiếp tục tuyên truyền, phổ biến, giáo dục Luật Du lịch, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Du lịch, Nghị định và các văn bản hướng dẫn thi hành…Thông qua đó để nâng cao ý thức thực hiện pháp luật về du lịch của các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và người dân, tìm hiểu, hướng dẫn cho cư dân địa phương để làm du lịch, từng bước nâng cao hiểu biết về tiềm năng tự nhiên và nhân văn đã bước đầu giáo dục lòng yêu nước, giữ gìn nâng cao truyền thống của dân tộc.
3.2.4. Góp phần phát huy các giá trị văn hóa dân tộc
Nhận thức được vai trò của du lịch trong việc phát huy các giá trị văn hoá và vai trò của cộng đồng trong phát triển du lịch, Nhà nước Việt Nam luôn xác định phát triển du lịch phải gắn liền với mục tiêu bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá góp phần phát triển bền vững. Tư tưởng này đã được cụ thể hoá trong nội dung Luật Du lịch, 2015, theo đó một trong những nguyên tắc cơ bản để phát triển du lịch là “phát triển có trọng tâm, trọng điểm theo hướng du lịch văn hóa – lịch sử, …..bảo tồn, tôn tạo, phát huy giá trị của tài nguyên du lịch”[37, tr9]. Luận văn: Tác động kinh tế du lịch tại thành phố Uông Bí.
Dựa trên quan điểm về phát triển bền vững và kế thừa những tư tưởng và kết quả đạt được từ Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam thời kỳ 2011-2020,
Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2040 đưa ra một số quan điểm phát triển trong đó quan điểm về “Phát triển du lịch phải gắn với bảo tồn và phát huy văn hoá truyền thống dân tộc..tôn trọng văn hoá trong mối quan hệ với cộng đồng điểm đến…” được nhấn mạnh.[7]
Với các chủ trương chính sách của Đảng bộ thành phố Uông Bí, cùng các chính sách đầu tư thích đáng, tu bổ, nâng cấp một số di tích trọng điểm tại các địa phương, góp phần làm cho những di tích ấy trường tồn với thời gian và trở thành những “điểm sáng” văn hóa tại địa phương, được nhân dân mến mộ, cảm kích.
Các loại hình du lịch ở Uông Bí được duy trì và hoạt động có hiệu quả tốt, điển hình nhất là du lịch tâm linh tại điểm chùa Yên Tử, chùa Ba Vàng và du lịch văn hóa tại 27 điểm du lịch, du lịch sinh thái tại Khu rừng quốc gia Yên
Tử, Hồ Yên Trung, Lựng Xanh… Các tài sản văn hóa phi vật thể như các Hội xuân Yên Tử, Hội chùa Ba Vàng hòa đồng với các lễ hội mang tín ngưỡng dân gian đầu xuân đậm nét văn hóa làng quê Việt Nam như Hội đình Lạc Thanh, Hội đền Hang Son, Hội đình Đền Công… tạo nên những giá trị văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc. Từ đó, các giá trị truyền thống được bảo tồn và phát huy. Nhân dân trong và ngoài tỉnh biết nhiều hơn và quan tâm hơn đến truyền thống văn hóa đặc sắc và đa dạng của thành phố Uông Bí. Nhờ có du lịch, hàng năm trung bình có khoảng hai triệu du khách đến thành phố Uông Bí, họ được hiểu sâu hơn về đất và người Uông Bí, được tận mắt chứng kiến sự phát triển từng ngày trong đời sống kinh tế, xã hội địa phương.
Tiểu kết chương 3
Từ sau năm 1996, cùng với sự đổi mới của đất nước, của tỉnh Quảng Ninh nói chung, tình hình kinh tế, xã hội của thành phố cũng có nhiều thay đổi. Những chủ trương, quyết sách của Đảng đã được cụ thể hóa bằng các chương trình hành động, chương trình công tác của các cấp chính quyền và đoàn thể, được tổ chức triển khai nhanh chóng và hiệu quả nhờ sự tham gia, ủng hộ mạnh mẽ của nhân dân. Luận văn: Tác động kinh tế du lịch tại thành phố Uông Bí.
Du lịch Uông Bí đã trở thành một yếu tố thúc đẩy sự chuyển biến kinh tế – xã hội của toàn thành phố, góp phần tích cực vào việc làm tăng ngân sách địa phương, du lịch là chất xúc tác, là động lực tạo ra sự dịch chuyển cơ cấu kinh tế và thúc đẩy các ngành kinh tế khác. Sự giao lưu, quảng bá giới thiệu du lịch đã tạo cho dân cư cơ hội học hỏi, qua đó nâng cao nhận thức và ý thức tự học cho một bộ phận lớn thanh niên địa phương. Du lịch đã tạo ra nhiều cơ hội việc làm cho một lực lượng lớn lao động tham gia vào hoạt động của mình, là công cụ hữu hiệu để giải quyết tình trạng đói nghèo, du lịch góp phần nâng cao dân trí, phát huy các giá trị văn hóa dân tộc, sự phát triển của hoạt động du lịch tạo ra cơ hội cho một lực lượng lớn lao động được học nghề tại chỗ …
Mặc dù vậy, du lịch Uông Bí cũng bộc lộ những mặt cần khắc phục. Sự đi lại lưu trú trong thời gian ngắn của một số lượng người nhất định cũng đặt ra nhiều vấn đề về môi trường và xã hội. Hiện tượng ô nhiễm môi trường đặc biệt là môi trường nước ở những điểm du lịch, việc xâm phạm vô ý thức không hiểu biết của khách du lịch làm cho cảnh quan sinh thái bị biến dạng, khắc chữ, phóng uế, cá biệt còn di chuyển di tích….Các tệ nạn xã hội cũng du nhập, làm tổn hại đến phong tục tập quan của một bộ phận dân cư, sự lai tạp giữa các nghi lễ tín ngưỡng dẫn đến sự lai căng kệch cỡm các lễ hội.
Nguồn nhân lực phục vụ trong ngành du lịch thiếu hiểu biết về Luật du lịch, kỹ năng ngoại ngữ của đội ngũ hướng dẫn viên còn yếu, chưa thực sự am hiểu về các giá trị của tài nguyên du lịch địa phương dẫn đến những hạn chế trong giao tiếp, quảng bá cho hình ảnh của du lịch địa phương, chưa tạo được ấn tượng sâu đậm trong lòng du khách. Vì vậy mà nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực có tay nghề, có kiến thức chuyên môn của ngành luôn là một vấn đề cấp bách. Hệ thống tổ chức du lịch hiện nay tuy đã được tinh giảm nhưng vẫn còn rất cồng kềnh, hình thức tổ chức quản lý còn chưa thực sâu rộng, chưa nắm bắt được sự biến động của tình hình thực tế. Thiếu những nhà khoa học nghiên cứu chiến lược phát triển du lịch dài hạn, thiếu đội ngũ cán bộ quản lý, những doanh nghiệp giỏi… Các ngành, các cấp chưa có được sự quan tâm đồng nhất, chưa dành sự ưu tiên phát triển kinh tế du lịch.
Hạ tầng giao thông kết nối các điểm du lịch tiềm năng chậm hoàn thiện, thiếu tính liên kết và không gian du lịch, khách lưu trú chiếm tỷ trọng thấp, chủ yếu là đi trong ngày, ảnh hưởng tới doanh thu và tỷ trọng đóng góp của du lịch vào GDP của thành phố, sản phẩm du lịch chưa tương xứng với tiềm năng thế mạnh của địa phương, mới tập trung phát triển du lịch tâm linh, du lịch cộng đồng chưa được khai thác và đầu tư thích đáng. Thiếu các cơ sở lưu trú, nghỉ dưỡng, ẩm thực, các trung tâm thương mại, các điểm mua sắm, vui chơi giải trí có chất lượng cao, sản phẩm lưu niệm, sản phẩm hàng hóa mang tính đặc trưng của địa phương còn nghèo, công tác tuyên truyền, quảng bá và xúc tiến du lịch còn chưa bài bản và thiếu chuyên nghiệp…
Những hạn chế, yếu kém này sẽ trở thành rào cản lớn cho sự phát triển đi lên của du lịch và kinh tế du lịch Uông Bí. Để khai thác hết vai trò của du lịch với tư cách là một thành phần kinh tế quốc dân là cả một quá trình. Sự định hướng của các ban ngành chức năng sẽ từng bước khắc phục những tiêu cực, giúp du lịch Uông Bí không ngừng phát triển, biến khát vọng chuyển đổi cơ cấu phát triển kinh tế từ “nâu” sang “xanh” thành hiện thực.
KẾT LUẬN Luận văn: Tác động kinh tế du lịch tại thành phố Uông Bí.
Thành phố Uông Bí được lịch sử, thiên nhiên ban tặng nhiều tiềm năng phát triển du lịch. Nhiều di tích lịch sử văn hóa, danh thắng gắn liền với bề dày lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước của dân tộc, trong đó khu di tích lịch sử và danh thắng Yên Tử được xếp hạng di tích Quốc gia đặc biệt, là trung tâm Phật giáo của cả nước, có giá trị lớn về văn hoá lịch sử. Nhiều cảnh quan thiên nhiên có giá trị và tiềm năng phát triển du lịch khác, điển hình như Hang Son, Hồ Yên Trung, Thác Lựng xanh… hệ thống sông ngòi, hồ đầm bao quanh có nhiều tiềm năng phát triển kinh tế vườn đồi, trang trại tổng hợp, vùng cây ăn quả, vùng nuôi trồng thủy sản tập trung có thể trở thành các sản phẩm du lịch đặc sắc của địa phương.
Trong những năm gần đây, đặc biệt từ năm 2010, nhờ sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, của tỉnh và sự vào cuộc tích cực của các cấp lãnh đạo thành phố, các chủ trương và giải pháp thực hiện đúng đắn, tích cực, phù hợp với tình hình địa phương đã được tiến hành để hiện thực hóa mục tiêu “Du lịch thật sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn”. Ngành du lịch của thành phố đã thực sự chuyển mình và phát triển với tốc độ nhanh và bền vững. Những đường lối, quyết sách được triển khai đã tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển toàn diện của thành phố nói chung và ngành kinh tế du lịch nói riêng.
Cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch như: khách sạn, nhà hàng, phương tiện giao thông vận tải, các khu nhà giải trí, cửa hàng, công viên, đường sá, hệ thống thoát nước, mạng lưới điện trong khu vực được huy động tham gia vào việc khai thác các tài nguyên du lịch nhằm tạo ra và thực hiện các dịch vụ hàng hóa thỏa mãn nhu cầu của du khách trong những chuyến hành trình của họ.
Ngoài ra, những công trình văn hóa như sân thể thao, nhà hát… được đầu tư thích đáng đóng vai trò quan trọng trong quá trình kích thích phát triển và tiêu thụ sản phẩm du lịch. Đến nay, du lịch đã trở thành một ngành kinh tế phát triển đa dạng về loại hình, đạt hiệu quả cao, giữ một vị trí quan trọng trong tỷ trọng kinh tế của thành phố Uông Bí. Doanh thu về du lịch liên tục tăng qua các năm, đặc biệt năm 2023 với số tiền thu được là 447 tỉ, một con số khá cao so với một số khu vực khác. Điều đó đã thể hiện trình độ phát triển du lịch của địa phương.
Uông Bí được biết đến với các sản phẩm du lịch phong phú, điển hình như: Du lịch tâm linh, du lịch văn hóa, du lịch lễ hội… Các du khách khi đến đây đều thỏa mãn với kỳ vọng của mình, được về vùng đất Phật linh thiêng, tìm thấy sự thanh thản trong tâm hồn, đắm chìm trong các lễ hội đầy ý nghĩa, thưởng ngoạn những cảnh quan đặc sắc, ấn tượng và thú vị. Sự cởi mở, hiếu khách, hồn hậu, văn minh- lịch sự của con người Uông Bí hứa hẹn sự trở lại của các du khách đã từng đến với mảnh đất nơi đây.
Kinh tế du lịch Uông Bí đã có những tác động mạnh mẽ đến kinh tế- xã hội địa phương. Những tác động này góp phần thay đổi bộ mặt của thành phố Uông Bí, tạo hình ảnh điểm đến, khẳng định thương hiệu du lịch Uông Bí trong hiện tại cũng như tương lai. Luận văn: Tác động kinh tế du lịch tại thành phố Uông Bí.
Một nguyên tắc bất dịch là, mỗi ngành kinh tế cùng với sự phát triển của mình thì đều kéo theo những mặt trái của nó. Và ngành du lịch cũng vậy, những chuyển biến tích cực mà ngành du lịch đạt được không thể tránh khỏi những hạn chế tiêu cực, nhưng những hạn chế này hoàn toàn có thể khắc phục được nếu có những chủ trưởng và quyết sách đúng đắn.
Để đưa hoạt động kinh tế du lịch xứng đáng là một ngành kinh tế mũi nhọn của thành phố, theo tác giả, những vấn đề và nhóm giải pháp cần tập trung giải quyết đó là:
Giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường
Chính quyền Thành phố cần tăng cường công tác quản lý và xử lý môi trường trên địa bàn Thành phố, bao gồm xử lý rác thải, xử lý ô nhiễm tài nguyên nước, nước thải và không khí, tiếng ồn. Giảm tối đa mức độ ảnh hưởng tác động đến khu vực du lịch, bằng cách: Tuân thủ Chiến lược Quốc gia về tăng trưởng xanh, với mục tiêu chung là đạt được tăng trưởng xanh, hướng đến nền kinh tế cac-bon thấp và bắt buộc cắt giảm lượng khí phát thải và khí nhà kính.
Phát triển môi trường đô thị xanh, sạch, cân bằng tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên.
Ưu tiên và đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng nhằm giảm sự suy thoái của môi trường. Các doanh nghiệp, nhà máy công nghiệp, hầm mỏ cũng như bệnh viện, chợ và các khu vực dân cư khác cần phải có hệ thống quản lý và kiểm soát chất thải nhằm ngăn ngừa nước thải và chất thải rắn, khí thải nguy hại phân tán ra ngoài môi trường. Đầu tư một hệ thống quản lý chất thải hiện đại, đáp ứng nhu cầu hiện tại và tương lai của thành phố.
Có cơ chế, chính sách hợp lý
Chính sách về thuế: Ưu tiên về vốn vay, hỗ trợ giải phóng mặt bằng và hỗ trợ thuế đất ổn định lâu dài đối với các dự án đầu tư phát triển sản phẩm du lịch đặc trưng có sức cạnh tranh. Áp dụng biện pháp ưu đãi (về thuế, lệ phí, tiền sử dụng đất, cho vay vốn…) đối với các dự án thuộc danh mục các dự án trọng điểm ưu tiên đầu tư. Có chính sách khuyến khích để thu hút các nhà đầu tư phát triển các sản phẩm du lịch, đồng thời đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính để tháo gỡ những khó khăn vướng mắc các nhà đầu tư trong việc giao đất, thuế đất đầu tư phát triển du lịch, nhất là sản phẩm du lịch mới, đặc thù hấp dẫn. ..
Đẩy mạnh xúc tiến, thu hút và có cơ chế, chính sách ưu đãi để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Thu hút nguồn vốn đầu tư từ cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài. Huy động tối đa các nguồn vốn đảm bảo nhu cầu đầu tư phát triển du lịch. Phát huy vài trò năng động của thị trường tài chính trong nhân dân, tạo cơ chế để các thành phần kinh tế, kể cả kinh tế hộ gia đình, cá nhân có thể tham gia vào đầu tư phát triển sản phẩm du lịch, đầu tư, bảo về, tôn tạo di tích, thắng cảnh, các lễ hội, hoạt động văn hóa dân gian, các làng nghề truyền thống – nhằm phục vụ phát triển sản phẩm du lịch.
Tăng cường đầu tư vào cơ sở hạ tầng du lịch
Chú trọng phát triển kết cấu hạ tầng và cơ sở vật chất kỹ thuật phát triển du lịch gồm hạ tầng kỹ thuật giao thông, giao thông, thông tin, năng lượng, cấp thoát nước, môi trường và hạ tầng xã hội bao gồm : Y tế, giáo dục, hệ thống dịch vụ lưu trú, ăn uống, cơ sở khám chữa bệnh… đảm bảo đủ điều kiện phục vụ khách du lịch.
Thành phố cần khuyến khích các hoạt động đầu tư vào cơ sở hạ tầng du lịch như các khách sạn cao cấp và nhà hàng đạt tiêu chuẩn quốc tế nhằm thu hút khách du lịch ở lại Uông Bí lâu hơn, đầu tư vào các cơ sở hạ tầng du lịch như trung tâm giải trí, các hoạt động văn hóa và khu mua sắm nhằm khuyến khích du khách tham gia vào nhiều hoạt động tại Uông Bí hơn, khi đó người dân Uông Bí cũng có thể được hưởng nhiều lợi ích hơn. Luận văn: Tác động kinh tế du lịch tại thành phố Uông Bí.
Đẩy mạnh liên kết vùng miền và hợp tác trong nước và quốc tế
Các địa phương ở tỉnh Quảng Ninh có nhiều điểm danh lam thắng cảnh thu hút du lịch. Tuy nhiên, hiện nay còn thiếu một trải nghiệm du lịch xuyên suốt kết nối các địa điểm trên toàn Tỉnh. Trong thời gian sắp tới, Uông Bí sẽ hợp tác với các thành phố lớn và huyện khác ở Quảng Ninh để phát triển các cụm và tuyến du lịch.
Thiết lập chiến lược quảng bá chung giữa các địa phương nhằm khuyến khích khách du lịch thăm quan nhiều địa điểm du lịch trong Tỉnh.. Hợp tác với các cơ quan ban ngành của Trung ương và liên kết với các tỉnh lân cận trong lĩnh vực quy hoạch thiết kế và xúc tiến đầu tư xây dựng mới và nâng cấp mở rộng mạng lưới đường bộ liên vùng, cầu, bãi đỗ xe và trạm nghỉ đứng chân, phương tiện giao thông vận tải ở các địa bàn trọng điểm của hệ thống sản phẩm du lịch được xác định.
Phát triển sản phẩm lưu niệm, quà tặng du lịch
Sản phẩm lưu niệm và quà tặng du lịch là một trong những yếu tố góp phần tăng sức hấp dẫn cho điểm đến, giữ chân du khách, khuyến khích chi tiêu và quảng bá hình ảnh du lịch hiệu quả. Khai thác các sản phẩm du lịch để kéo dài thời gian lưu trú và tăng khả năng chi tiêu của khách nhằm mang lại chất lượng và lợi nhuận cao trong hoạt động du lịch là một trong những vấn đề cần được quan tâm và có định hướng phát triển phù hợp. Do vậy, để sản phẩm đồ lưu niệm và quà tặng du lịch đáp ứng nhu cầu của mọi đối tượng khách du lịch, Uông Bí cần nhanh chóng thực hiện một số việc về: Tổ chức thi thiết kế và sáng tạo sản phẩm đồ lưu niệm và quà tặng du lịch Uông Bí. Nghiên cứu nhu cầu của từng thị phần khách du lịch đối với sản phẩm quà lưu niệm. Sản phẩm quà lưu niệm cần được phối hợp với các nhà sản xuất chuyên nghiệp, bảo đảm yếu tốt chính xác mỹ thuật, bền vững, tiện lợi, có đăng ký bản quyền sở hữu trí tuệ, mỗi mặt hàng phải trở thành một tác phẩm nghệ thuật hoàn hảo và có giá cả phù hợp.
Phát triển văn hóa ẩm thực Uông Bí phục vụ khách du lịch
Trong những năm gần đây, văn hóa ẩm thực đã và đang trở thành một yếu tố quan trọng trong phát triển du lịch, ẩm thực không còn chỉ đóng vai trò là yếu tố hỗ trợ, phục vụ cho nhu cầu của khách về ăn uống đơn thuần mà đã trở thành mục đích của các chuyến du lịch. Trước xu thế này, vấn đề khai thác các giá trị của văn hóa ẩm thực để thu hút khách du lịch cần được quan tâm đặc biệt, và Uông Bí cần thực hiện: Xây dựng quy trình khai thác và sử dụng các món ăn tiêu biểu để xúc tiến du lịch. Thường xuyên tổ chức các hoạt động quảng bá ẩm thực đặc trưng Uông Bí như: Trình diễn quá trình, chế biến một cách trực tiếp và có sự trải nghiệm của khách hàng, tổ chức chế biến và phục vụ tại các nhà hàng, khách sạn, trình chiếu các phim phóng sự, băng hình và sử dụng các hình ảnh về văn hóa ẩm thực, tổ chức Lễ hội sản vật thường niên, tổ chức tuần văn hóa ẩm thực Uông Bí, Hội thi đầu bếp giỏi…
Xây dựng một trang web để quảng bá du lịch của Uông Bí
Xây dựng một trang web du lịch chính thức của Uông Bí, trở thành nguồn cung cấp tất cả các thông tin tổng hợp liên quan đến du lịch Uông Bí cho du khách như tour du lịch, giá cả, khách sạn, điểm đến, đồ lưu niệm, ẩm thực… để du khách có thể chủ động trong việc lựa chọn phương thức du lịch của bản thận. Trang web này liên kết với trang web giới thiệu vịnh Hạ Long của Hạ Long, vịnh Bái Tử Long của Cẩm Phả, di tích nhà Trần của Đông Triều và phát triển trở thành một cụm trang web giới thiệu và phát triển du lịch tỉnh Quảng Ninh. Với sự nổi tiếng của vịnh Hạ Long và vịnh Bái Tử Long, cụm trang web này sẽ trở thành phương tiện hữu hiệu để giới thiệu thương hiệu Yên Tử nói riêng cũng như du lịch thành phố Uông Bí nói chung với khách du lịch trong nước và quốc tế. Luận văn: Tác động kinh tế du lịch tại thành phố Uông Bí.
Phát triển Chợ văn hóa trong khu vực Thượng Yên công để làm nơi buồn bán những sản vật truyền thống đặc trưng
Mặc dù hiện nay chợ Thượng Yên Công là khu chợ dân sinh những đã có nhiều sản vật đặc trưng hấp dẫn du khách. Vì vậy du khách đến Yên Tử vẫn thường ghé qua chợ mua các sản phẩm người dân bầy bán. Điều này mặc dù góp phần tăng thu nhập cho người dân nhưng xét về vấn đề môi trường, có thể thấy đây là khu chợ dân sinh nhiều mặt hàng tự phát, không được quản lý chặt chẽ, vấn đề vệ sinh chưa được thực hiện tốt sẽ để lại một số ấn tượng không tốt đối với du khách gây ảnh hưởng đến hình ảnh của khu di tích Yên Tử, vì vậy cần trùng tu lại chợ trong khu vực Thượng Yên Công thành khu chợ Văn hóa để làm nơi buôn bán hững sản vật truyền thống đặc trưng mang đậm nét văn hóa nhưng vẫn đảm bảo giữ nguyên cảnh quan truyền thống.
Có giải pháp đào tạo nguồn nhân lực phục vụ du lịch, đồng thời đẩy mạnh việc ứng dụng khoa học công nghệ trong hoạt động du lịch.
Tăng cường năng lực đội ngũ quản lý từ cấp tỉnh đến thành phố trên cơ sở bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ quản lý, có chính sách ưu đãi tuyển dụng cán bộ trẻ có năng lực làm nguồn cho công tác quản lý, từng bước thực hiện chuẩn hóa nguồn nhân lực du lịch phục vụ trong ngành, xây dựng đội ngũ lao động đáp ứng yêu cầu về ngành nghề đạo tạo, mang tính chuyên nghiệp, góp phần nâng cao chất lượng đáp ứng nhu cầu xã hội.
Quản lý chất lượng sản phẩm du lịch.
Phối hợp với các tổ chức tư vấn và tham khảo các quy định pháp lý có liên quan để xây dựng hệ thống các tiêu chuẩn về chất lượng sản phẩm du lịch.
Tăng cường năng lực quản lý nhà nước về quản lý chất lượng sản phẩm du lịch trên địa bàn thành phố Uông Bí, theo đó sẽ xây dựng bộ phận chuyên trách quản lý chất lượng sản phẩm du lịch thuộc Phòng văn hóa thông tin thành phố. Tổ chức các kênh thông tin để du khách có thể phản ánh về chất lượng dịch vụ, chất lượng sản phẩm du lịch khi họ đến tham quan du lịch trên dịa bàn Thành phố. Kiểm tra và xử lý kịp thời để đảm bảo quyền lợi cho du khách song cũng là dịp để chấn chỉnh về chất lượng sản phẩm du lịch trên địa bàn Thành phố.
Trong khuôn khổ luận văn này, tác giả đã tập trung khai thác các tiềm năng du lịch và giới thiệu các sản phẩm du lịch đặc trưng của thành phố, phân tích những mặt mạnh, đã làm được và những tồn tại hạn chế mà ngành du lịch thành phố cần khắc phục để đưa kinh tế du lịch của thành phố Uông Bí nói riêng, tỉnh Quảng Ninh nói chung phát triển xứng tầm với tiềm năng, trở thành ngành kinh tế mũi nhọn và là động lực thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển. Với những tìm hiểu và phân tích, nghiên cứu của mình, tác giả đã mổ xẻ các nguyên nhân, đưa ra các hạn chế cốt lõi kìm hãm sự phát triển của kinh tế du lịch. Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất các giải pháp cùng một vài kiến nghị, hy vọng sẽ góp phần cải thiện và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước của thành phố Uông Bí trong lĩnh vực du lịch, đưa ngành du lịch của thành phố phát triển lên vị cao, để hình ảnh Uông Bí sẽ đẹp hơn, lưu lại lâu hơn trong tâm trí du khách trong nước và quốc tế. Luận văn: Tác động kinh tế du lịch tại thành phố Uông Bí.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Kinh tế Du lịch ở thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh
