Luận văn: Kinh tế Du lịch ở thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Kinh tế Du lịch ở thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Kinh tế Du lịch ở thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh (1996 -2023) dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Du lịch ngày nay đã trở thành một hiện tượng kinh tế – xã hội không thể thiếu của nhân loại. Đây là ngành kinh tế mũi nhọn, chiếm giữ một vị trí quan trọng trong công cuộc xây dựng và phát triển, đổi mới nền kinh tế của nhiều quốc gia. Vì vậy, ngành công nghiệp du lịch đã và đang được các nước trên thế giới coi như “Con gà đẻ trứng vàng”, “Ngành công nghiệp không khói”… Du lịch phát triển góp phần tăng nguồn thu ngoại tệ cho các quốc gia và giải quyết nhiều công ăn việc làm cho xã hội, thúc đẩy sự phát triển của các ngành liên quan như xây dựng, thương mại, sản xuất hàng tiêu dùng, bảo hiểm, giao thông vận tải, bưu chính viễn thông,…

Hiện nay, du lịch đã được nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam, chọn là ngành ưu tiên phát triển số một trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội. Điều này được thể hiện trong chiến lược Phát triển kinh tế – xã hội quốc gia từ năm 2021 – 2030 là “Tập trung phát triển một số ngành dịch vụ có lợi thế, có hàm lượng tri thức và công nghệ cao như du lịch, hàng hải, hàng không, viễn thông, công nghệ thông tin, y tế. Hình thành một số trung tâm dịch vụ, du lịch có tầm cỡ khu vực và quốc tế. Đa dạng hóa sản phẩm và các loại hình du lịch, nâng cao chất lượng để đạt tiêu chuẩn quốc tế”[23, tr.9].

Việt Nam là một nước có nhiều tài nguyên du lịch với bờ biển 3.200 km, rừng núi, đồng bằng trù phú và chiều dày lịch sử, nền văn hóa dân tộc nhiều màu sắc. Đặc biệt là truyền thống hiếu khách và khả năng giao tiếp với bạn bè trên thế giới. Một chuyên gia của Tổ chức du lịch quốc tế (OMT) đã nhận định: “Sự phồn vinh ngày nay về du lịch của một số nước Đông Nam Á sẽ là tương lai của du lịch Việt Nam”[57] .Vấn đề đặt ra là Việt Nam cần xây dựng được một môi trường du lịch hoàn hảo và hấp dẫn, các loại hình dịch vụ có chất lượng cao đạt tiêu chuẩn phục vụ cho khách quốc tế, từng bước khơi dậy tiềm năng du lịch của các địa phương và tăng cường sự giao lưu với thế giới. Thông qua du lịch, có thể khai thác tài nguyên thiên nhiên tiềm năng du lịch đất nước một cách có hiệu quả, góp phần phát triển kinh tế đất nước. Luận văn: Kinh tế Du lịch ở thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh.

Quảng Ninh là một tỉnh ở địa đầu phía Đông Bắc Việt Nam, có địa hình độc đáo. Đồi trung du tiếp nối đồng bằng duyên hải, núi kề với biển, hàng nghìn đảo nhấp nhô cắm trên mặt vịnh, chỗ thì ken dầy như lũy, nơi lại tách biệt từng hòn đón sóng, tạo nên bức tranh thiên nhiên nhiều màu vẻ. Than kết tụ những vỉa lớn ẩn trong các tầng đất. Nơi đây ghi dấu những chiến công oanh liệt, hiển hách đập tan các đạo quân xâm lược phương Bắc trên sông Bạch Đằng và Vân Đồn – Cửa Lục. Cuối thế kỷ XIII, vua Trần Nhân Tông khơi nguồn sáng lập Thiền phái Trúc Lâm mang đậm bản sắc Việt Nam. Một vùng đất, vùng trời, vùng biển giàu đẹp gắn với những sự kiện tiêu biểu trong cuộc sinh tồn của cả dân tộc tạo nên tiền đề phát triển đủ các loại hình du lịch.

Là một thành phố trẻ nằm ở phía tây tỉnh Quảng Ninh, Uông Bí có vị trí đặc biệt quan trọng về quốc phòng, an ninh, là tuyến phòng thủ phía Đông Bắc của Việt Nam, 80% diện tích là đồi núi. Vùng rừng núi trập trùng phía Bắc có đỉnh Yên Tử cao 1.068m, vùng giữa núi đồi thấp dần thành một cánh đồng trung du, vùng phía Nam đất trũng thành những bãi bồi liền xuống dòng sông Đá Bạc. Uông Bí giàu tài nguyên thiên nhiên, có giao thông thủy bộ thuận lợi, có cơ cấu kinh tế đa dạng. Sau công nghiệp, Uông Bí có sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp phát triển, thu hút nhiều lao động. Uông Bí hiện nay đang phát triển mạnh thương mại và dịch vụ. Nơi đây có khu thắng cảnh nổi tiếng Yên Tử được xem là cội nguồn của dòng Thiền Trúc Lâm Việt Nam, với nhiều chùa và di tích văn hoá quý. Ngoài ra, lễ hội mùa xuân với những phong tục, tập quán độc đáo hàng năm thu hút khách du lịch vãn cảnh chùa đông không kém hội chùa Hương. Trên địa bàn thành phố Uông Bí còn có hồ Yên Trung nằm gần Yên Tử, với rất nhiều tiềm năng phát triển du lịch trong quần thể của khu di tích – danh thắng Yên Tử. Các điểm du lịch và văn hóa chính của thành phố như Núi Yên Tử, Khu di tích Yên Tử, Hồ Yên Trung, Lựng Xanh, Chùa Ba Vàng, chùa Hang Son, Đình Đền Công… tạo nên sức hút vô cùng mạnh mẽ.

Đây là điều kiện quan trọng để Uông Bí trở thành thành phố du lịch trọng điểm của Quảng Ninh, đồng thời tạo nên những nét đặc trưng về lịch sử văn hóa của thành phố, tạo ra sự chuyển biến rõ nét không chỉ về kinh tế mà cả về xã hội của thành phố Uông Bí nói riêng và tỉnh Quảng Ninh nói chung.

Từ những nhận thức trên, tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Kinh tế Du lịch ở thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh (1996 -2023)” làm luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Hỗ Trợ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Du Lịch

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Đóng vai trò là một ngành kinh tế có vị trí vai trò quan trọng trong khu vực dịch vụ nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung, du lịch hay kinh tế du lịch đã trở thành đề tài nghiên cứu của rất nhiều tác giả, các nhà nghiên cứu, các nhà kinh tế học… Có thể kể đến công trình “Kinh tế du lịch”, NXB Thế giới năm 2003, của tác giả Robert Lanquar được coi là người tiên phong phân tích kinh tế học du lịch. Tác giả đã đưa ra những công cụ và phương tiện phân tích của kinh tế học du lịch, Kinh tế học về kinh doanh du lịch [39]. Luận văn: Kinh tế Du lịch ở thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh.

Cuốn sách “Du lịch và kinh doanh Du lịch” của tác giả Trần Nhạn được NXB Văn hoá Thông tin xuất bản năm 2006. Trên cơ sở khái niệm về du lịch và kinh doanh du lịch, các loại hình du lịch, cuốn sách tập trung nghiên cứu về tài nguyên du lịch cũng như những tác động của hoạt động kinh doanh du lịch đối với các ngành kinh tế khác [31].

Cuốn “Pháp lệnh du lịch”, NXB Chính trị quốc gia, 2009, văn bản pháp lí được Quốc hội khóa X thông qua, có hiệu lực từ ngày 1/ 5/2009. Pháp lệnh là cơ sở để phát triển du lịch trong nước và du lịch quốc tế đẩy mạnh giao lưu, hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc, tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước về du lịch góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nước [32].

Cuốn sách “Kinh tế du lịch” của tác giả Nguyễn Hồng Giáp, NXB Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 2010, đã làm rõ khái niệm kinh tế du lịch, tiềm năng du lịch, đặc điểm các loại hình du lịch. Trên cơ sở nghiên cứu lí luận, tác giả đưa ra được những tác động của kinh tế du lịch đến kinh tế – xã hội [25].

Cuốn sách “Kinh tế du lịch và du lịch học” của tác giả Đổng Ngọc Minh (NXB trẻ, 2011). Cuốn sách đã cung cấp thông tin chi tiết về du lịch, kinh tế du lịch, đặc điểm các loại hình du lịch, đứng trên góc độ nghiên cứu tác giả đề cập đến vấn đề nghiên cứu học thuật đối với hoạt động du lịch [28].

Cuốn “Giáo trình kinh tế Du lịch”, NXB Lao Động – Xã hội Hà Nội 2014 của tác giả GS.TS Nguyễn Văn Đính và TS. Trần Thị Minh Hoà. Là cuốn giáo trình dành cho sinh viên khoa du lịch, tìm hiểu về du lịch với vai trò là một ngành kinh tế. Cuốn sách đã đề cập đến khái niệm du lịch, kinh tế du lịch, vị trí vai trò của du lịch cũng như các loại hình du lịch hiện có [24].

Cuốn “Luật Du lịch” của NXB Lao động cho biết Luật được Quốc hội khoá XI, kỳ họp thứ VII, thông qua ngày 14/6/2015, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2016. Việc xây dựng Luật này nhằm thể chế hoá Nghị quyết của Đảng và Nhà nước về phát triển du lịch thành một ngành kinh tế mũi nhọn, kích thích đầu tư và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, góp phần xoá đói giảm nghèo ở những vùng có tiềm năng phát triển du lịch [37].

Cuốn “Địa lý du lịch Việt Nam”, NXB Giáo dục Việt Nam năm 2023 do tác giả Nguyễn Minh Tuệ chủ biên. Bằng hệ thống kiến thức cơ bản tạo điều kiện để hiểu rõ hơn về tổng quan Địa lý du lịch Việt Nam, về những nội dung liên quan đến Địa lý du lịch [66].

Cuốn “Tuyến điểm du lịch Việt Nam”, NXB Giáo dục Việt Nam năm 2024 của tác giả Bùi Hải Yến phần nào cung cấp được khối kiến thức cơ bản và tương đối toàn diện về những tuyến điểm du lịch tiêu biểu, tài nguyên du lịch cơ bản và cách thức quy hoạch. Các cuốn sách dày dặn về số lượng, phong phú về nội dung cũng như đa dạng trong các mô hình tuyến điểm, tài nguyên du lịch [85].

Bên cạnh các giáo trình, sách chuyên khảo đề cập về kinh tế du lịch, còn có những các bài viết trên tạp chí khoa học, luận án, luận văn khoa học của các tác giả trong nước. Có thể kể đến Luận án Tiến sĩ của Vũ Đình Thụy với đề tài “Những điều kiện và giải pháp chủ yếu để phát triển Du lịch Việt Nam thành ngành kinh tế mũi nhọn…” tại Đại Học Kinh tế quốc dân – Hà Nội năm 2006 đây là công trình khoa học làm rõ sự phát triển của ngành du lịch Việt Nam từ 1996 và đưa ra những giải pháp chủ yếu để du lịch trở thành ngành Kinh tế mũi nhọn [68]. Luận văn: Kinh tế Du lịch ở thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh.

Cùng với tác phẩm trên còn có rất nhiều các công trình khác tìm hiểu về du lịch như: “Tài nguyên Du lịch Việt Nam” của Nguyễn Văn Thành (2012) [61], “Vài suy nghĩ về phát triển Du lịch Việt Nam – Du lịch nhân dân và Du lịch quốc tế”, Dương Minh Trung (2014[64]…được in trong Tạp chí du lịch Việt Nam – Tổng cục du lịch. Chủ yếu khai thác về tài nguyên – tiềm năng của du lịch Việt Nam.

Ở Quảng Ninh, với mục đích từng bước đưa du lịch trở thành một ngành kinh tế quan trọng của tỉnh, Sở văn hóa thông tin và du lịch đã phối hợp cùng các sở ban ngành, các nhà nghiên cứu để đánh giá tiềm năng du lịch của địa phương. Cụ thể là các bài viết: “Để du lịch Quảng Ninh trở thành ngành trọng điểm” – Báo cáo tham luận tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XI của đồng chí Nguyễn Đình Thuận [63], Giám đốc Sở Du lịch tỉnh Quảng Ninh đã đưa ra những định hướng chung để du lịch Quảng Ninh thực sự phát triển. Bài viết “Phát huy nội lực, khai thác mọi tiềm năng, xây dựng và phát triển du lịch dịch vụ trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh” – Báo cáo tham luận tại Đại hội Đảng bộ tỉnh Quảng Ninh lần thứ XI của đồng chí Đặng Hải, Bí thư Thị ủy Uông Bí. [27] Qua bài viết đã nêu bật được những tiềm năng du lịch quan trọng ở Quảng Ninh và con đường để phát huy các tiềm năng đó. Bài viết: “Đại hội Đảng bộ thị xã Uông Bí lần thứ 14- Tiềm năng kinh tế và trách nhiệm của tổ chức Đảng” của tác giả Nguyễn Hùng chỉ ra cụ thể tiềm năng kinh tế của thành phố và nâng cao trách nhiệm của Đảng đế phát huy lợi thế địa phương [26].

Bài viết: “Non thiêng Yên Tử: Truyền thuyết” của tác giả Nguyễn Thi – Chi hội văn nghệ Uông Bí đã giới thiệu khá sinh động về cõi thiêng Yên Tử, giúp người đọc có cách cảm và cách nhìn sâu lắng [62].

Luận Văn “Sinh kế của cộng đồng địa phương dựa vào điểm du lịch Yên Tử (thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh)” của tác giả Đoàn Văn Thắng, trường Đại học khoa học xã hội và nhân văn. Đề tài có những đóng góp nhất định trong việc mô tả các loại hình sinh kế cụ thể dựa vào điểm du lịch Yên Tử, điểm du lịch thu lại được điều gì, người dân địa phương được gì và mất gì [60]. Luận văn ” Phát triển du lịch trên địa bàn thành phố Uông Bí đến năm 2040″ của tác giả Đỗ Thị Bích Ngọc, trường Đại học Ngoại thương [30]. Đề tài đã phân tích được thực trạng du lịch Uông Bí. Trong đó nêu bật những mặt tích cực, nguyên nhân, hạn chế về du lịch trên địa bàn thành phố Uông Bí. Luận văn: Kinh tế Du lịch ở thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh.

Với mục đích là từng bước đưa du lịch Thành phố Uông Bí trở thành một mũi nhọn kinh tế quan trọng của tỉnh, Sở văn hóa thông tin và du lịch đã phối hợp cùng các ban ngành, các nhà văn hóa, nhà khoa học triển khai những nghiên cứu đánh giá tiềm năng du lịch của tỉnh nhà nói chung và Uông Bí nói riêng:

Cuốn sách “Lịch sử Đảng bộ Thành phố Uông Bí” (của Ban chấp hành Thành phố Uông Bí năm 2021) đã khái quát quá trình phát triển Đảng bộ Thành phố Uông Bí trong việc lãnh đạo nhân dân trong thành phố thực hiện các nhiệm vụ kinh tế – xã hội của địa phương. Đây là nguồn tư liệu, những kinh nghiệm quý báu từ thực tiễn xây dựng và bảo vệ tổ quốc trên mảnh đất Uông Bí anh hùng [3]. Cuốn sách “Địa chí Quảng Ninh” của Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh. Đây là một công trình khoa học nhằm nghiên cứu, miêu tả một cách cơ bản, hệ thống, toàn diện tỉnh Quảng Ninh về địa lý – lịch sử, kinh tế – chính trị, văn hóa – xã hội [81; 82]… Cuốn sách “Quảng Ninh và năm du lịch 2000” của Sở văn hóa và thông tin Quảng Ninh. Cuốn sách giới thiệu về sự nghiệp phát triển du lịch Việt Nam. Năm du lịch Việt Nam bên cạnh những nét chung giống năm du lịch các nước khác, đồng thời có nét riêng biệt không giống với nước nào [57]. Cuốn sách “Uông Bí đất và người” do Tiến sĩ Phạm Hồng Tung tổng chủ biên. Đây là cuốn sách giới thiệu sâu hơn về vùng đất, con người, quá trình lịch sử, những nét văn hóa đặc sắc của Uông Bí. Bên cạnh đó cuốn sách còn rút ra những bài học kinh nghiệm hữu ích cho từng giai đoạn lịch sử, đánh giá một cách khách quan thế mạnh, những nguồn lực của vùng đất và con người Uông Bí [65]. Cuốn sách: “Thị xã Uông Bí 30 năm chiến đấu xây dựng và trưởng thành- Quảng Ninh” NXB Quảng Ninh, 2001 [4], sách “Dự thảo quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế- xã hội thị xã Uông Bí thời kỳ 2011- 2020- Quảng Ninh”, Uỷ ban nhân dân thị xã Uông Bí”, 2010 [73].

Nội dung các cuốn sách là những nghiên cứu chung về các mặt kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của tỉnh Quảng Ninh nói chung, đề cập một phần rất nhỏ về Thành phố Uông Bí. Có rất nhiều sách viết về Yên Tử, nhưng chủ yếu khai thác khía cạnh lịch sử và mặt tâm linh trong đời sống con người, về Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử mà chưa đề cập đến vấn đề kinh tế du lịch tại nơi này, bên cạnh đó còn có các bài viết trên các ấn phẩm tạp chí cũng chỉ dừng lại đưa ra điểm du lịch, những hoạt động du lịch đơn lẻ không có hệ thống như là một ngành kinh tế. Nhìn chung, cho đến nay chưa có một nghiên cứu chuyên sâu nào trình bày chi tiết và có hệ thống về hoạt động kinh tế du lịch trong gần 30 năm sau đổi mới ở Thành phố Uông Bí.

3. Đối tượng, mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động du lịch của Thành phố Uông Bí, hướng vào hoạt động du lịch tâm linh là hoạt động du lịch trọng điểm của thành phố. Trên cơ sở đó, tập trung giải thích và làm rõ tình hình du lịch Uông Bí nói riêng và tác động, ảnh hưởng của nó đối với hoạt động du lịch của tỉnh Quảng Ninh. Tìm ra cơ sở khoa học cho việc tìm ra các chính sách, giải pháp để phát triển du lịch thành phố Uông Bí. Luận văn: Kinh tế Du lịch ở thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh.

3.2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở tìm hiểu những đặc điểm tự nhiên, dân cư và xã hội thấy được tiềm năng phát triển du lịch ở Thành phố Uông Bí, đi sâu nghiên cứu đánh giá Uông Bí đã khai thác và phát huy các lợi thế tiềm năng để du lịch phát triển và đóng góp của hoạt động du lịch đối với sự phát triển kinh tế xã hội và văn hóa ở thành phố Uông Bí.

Nhiệm vụ nghiên cứu: Với đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu và từ mục đích này, nhiệm vụ nghiên cứu của Luận văn là:

  • Làm rõ những yếu tố tự nhiên, dân cư, xã hội để thấy được tiềm năng khai thác du lịch như một ngành kinh tế đóng góp cho công cuộc xây dựng của địa phương.
  • Trên cơ sở những tiềm năng đó, hoạt động du lịch được khai thác như thế nào tại địa phương, kết quả cụ thể của việc khai thác đó theo chiến lược phát triển kinh tế của tỉnh, ngành du lịch và địa phương. Những thành công và chưa thành công trong khai thác tiềm năng, phát triển ngành du lịch trong giai đoạn 1996-2023.
  • Đánh giá được sự ảnh hưởng của hoạt động kinh tế du lịch đối với sự phát triển kinh tế xã hội của thành phố. Trên cơ sở của sự phân tích đó, làm rõ những tác động hai chiều mà hoạt động kinh tế này mang lại.
  • Đưa ra được những dự báo, đề xuất có tính chất định hướng trong chiến lược phát triển của ngành và địa phương trong thời gian gần nhất.

3.3. Phạm vi nghiên cứu

Về không gian, luận văn nghiên cứu tại địa bàn thành phố Uông Bí. Tuy nhiên, luận văn cũng khai thác những hoạt động du lịch ở một số địa phương khác trong tỉnh để lấy cơ sở cho việc đánh giá vai trò của ngành trong chiến lược kinh tế chung của Tỉnh. Về thời gian, đề tài tập trung nghiên cứu khoảng thời gian chủ yếu từ năm 1996 cho đến năm 2023. Nghĩa là, từ thời điểm đất nước bước vào đổi mới đến năm 2023 khi Chính phủ đã ban hành quyết định công nhận thành phố Uông Bí là đô thị loại II.

4. Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu

4.1. Nguồn tài liệu

Nguồn tài liệu chung gồm: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc và của Đảng Bộ tỉnh Quảng Ninh và thành phố Uông Bí. Các sách, báo chuyên khảo về du lịch: Tạp chí du lịch, báo Đầu tư, các sách giáo trình kinh tế học, kinh tế du lịch của một số trường Đại học. Các công trình nghiên cứu có liên quan đến hoạt động kinh tế, xã hội của thành phố Uông Bí

Nguồn tài liệu địa phương: Gồm các báo cáo thống kê của Cục thống kê tỉnh Quảng Ninh; Báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ hàng năm của Phòng Văn hóa và thông tin thành phố Uông Bí; Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội thành phố Uông Bí.

Tư liệu điền dã: Thông tin qua dân cư sinh sống trong các khu quy hoạch du lịch của địa phương như xã Thượng Yên Công, Điền Công, phường Bắc Sơn, phường Quang Trung…tranh ảnh có liên quan đến hoạt động du lịch, các di tích, danh thắng, sinh hoạt văn hóa.. Luận văn: Kinh tế Du lịch ở thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh.

4.2. Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, người viết đã có quá trình sưu tầm và tập hợp hệ thống các nguồn tài liệu. Khi tiến hành nghiên cứu, đã sử dụng những phương pháp sau:

Phương pháp lịch sử và phương pháp logic được vận dụng để tái hiện quá khứ thông qua tư liệu, đồng thời nhìn nhận vấn đề hiện tại một cách toàn diện, khách quan.

Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp để trình bày các sự kiện, vấn đề theo mối liên hệ có tính biện chứng của lịch sử xã hội, nhằm đảm bảo tính hệ thống, chính xác và khoa học.

Đề tài còn sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành kết hợp phương pháp chuyên ngành trong mối quan hệ tổng thể. Đây được coi là cách thức có hiệu quả cao để hiểu được một cách tương đối đầy đủ và toàn diện về kinh tế du lịch thành phố Uông Bí trong một giai đoạn 1996-2023.

5. Đóng góp của luận văn

Trên cơ sở tìm hiểu về hoạt động du lịch Thành phố Uông Bí, đánh giá được đầy đủ hơn và khai thác tối đa tiềm năng sẵn có của mình, có những giải pháp huy động các nguồn lực để hướng tới sự phát triển bền vững trong xu thế hội nhập và toàn cầu hóa.

Việc đánh giá được những đóng góp của hoạt động kinh tế và những ảnh hưởng tiêu cực của nó sẽ giúp các địa phương đưa ra những giải pháp và điều chỉnh hợp lý để tạo điều kiện cho hoạt động thương mại dịch vụ phát triển.

Bản thân là giáo viên dạy Lịch sử, đây là nguồn tư liệu phong phú để dạy học lịch sử địa phương.

6. Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục. Nội dung chính của luận văn gồm có 3 chương:

  • Chương 1: Tiềm năng du lịch thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh.
  • Chương 2: Hoạt động kinh tế du lịch thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh (1996 -2023).
  • Chương 3: Tác động của kinh tế du lịch đối với kinh tế – xã hội thành phố Uông Bí (1996 -2023).

Chương 1 TIỀM NĂNG DU LỊCH CỦA THÀNH PHỐ UÔNG BÍ TỈNH QUẢNG NINH Luận văn: Kinh tế Du lịch ở thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh.

1.1. Một số khái niệm

1.1.1. Du lịch

Thuật ngữ du lịch ngày nay được sử dụng phổ biến trên thế giới. Tuy nhiên, có nhiều ý kiến khác nhau về nguồn gốc của thuật ngữ này. Theo Robert

Lanquar (năm 1980), từ “Tourism” (du lịch) lần đầu tiên xuất hiện trong tiếng Anh khoảng năm 1980 và được quốc tế hóa trên nên nhiều nước đã sử dụng trực tiếp mà không dịch nghĩa. Một số học giả khác lại cho rằng du lịch không phải xuất phát từ tiếng Hi Lạp mà từ tiếng pháp “le tour”, có nghĩa là một cuộc hành trình đến nơi nào đó và quay trở lại, sau đó từ gốc này ảnh hưởng ra phạm vi toàn thế giới… Như vậy, nhìn chung chưa có một sự thống nhất về nguồn gốc thuật ngữ du lịch, song điều cơ bản của thuật ngữ này đều bắt nguồn từ gốc là cuộc hành trình đi một vòng, từ một nơi này đến một nơi khác và có quay trở lại. Trong tiếng Việt, thuật ngữ du lịch được giải nghĩa theo âm Hán – Việt: du có nghĩa là đi chơi, lịch có nghĩa là sự từng trải. Năm 1811, định nghĩa về du lịch lần đầu tiên xuất hiện tại nước Anh: “Du lịch là sự phối hợp nhịp nhàng giữa lý thuyết và thực hành của các cuộc hành trình với mục đích giải trí”. Khái niệm này tương đối đơn giản và coi giải trí là động cơ chính của hoạt động du lịch.

Hai học giả Hunziker và Krapf, những người đặt nền móng cho lý thuyết về cung- cầu du lịch, đưa ra định nghĩa: “Du lịch là tập hợp của các mối quan hệ và các hiện tượng phát sinh trong các cuộc hành trình và lưu trú của những người ngoài địa phương, nếu việc lưu trú đó không thành cư trú thường xuyên và không liên quan đến hoạt động kiếm lời”[66, tr6]. So với các quan niệm trên, quan niệm của Hunziker và Krapf đã thể hiện tương đối đầy đủ và bao quát các hiện tượng du lịch. Tuy nhiên quan niệm này chưa làm rõ được đặc trưng của các hiện tượng và của mối quan hệ du lịch (các mối quan hệ nào và hiện tượng nào thuộc loại kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa…). Ngoài ra, định nghĩa bỏ sót hoạt động của các công ty giữ nhiệm vụ trung gian, nhiệm vụ tổ chức du lịch và nhiệm vụ sản xuất hàng hóa, dịch vụ đáp ứng nhu cầu của khách du lịch. Hội nghị lần thứ 27 (năm 2003) của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO) đã đưa ra khái niệm du lịch thay thế cho khái niệm năm 1963: “Du lịch là hoạt động về chuyến đi đến một nơi khác với môi trường sống thường xuyên (usual environment) của con người và ở lại đó để tham quan, nghỉ ngơi, vui chơi giải trí hay các mục đích khác ngoài các hoạt động để có thù lao ở nơi đến với thời gian liên tục ít hơn 1 năm”.[66, tr6]. Trong luật Du lịch Việt Nam (ban hành năm 2015), tại điều 4, chương I định nghĩa: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú và thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”[37, tr6] .

Như vậy, có thể thấy rõ sự khác nhau về quan niệm du lịch. Tuy nhiên theo thời gian, các quan niệm này dần hoàn thiện. Trong điều kiện của nước ta hiện nay, quan điểm phổ biến được công nhận rộng rãi là quan niệm được trình bày trong Luật Du lịch Việt Nam được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 14 tháng 6 năm 2015.

1.1.2. Kinh tế du lịch Luận văn: Kinh tế Du lịch ở thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh.

Theo một số nhà nghiên cứu, kinh tế du lịch (Tourism Economics) là một môn khoa học kinh tế nghiên cứu các vấn đề liên quan đến du lịch. Những khía cạnh kinh tế được đề cập ở đây bao gồm: Về tổng quan du lịch, là các khái niệm về khách du lịch, sản phẩm du lịch, các xu hướng trong du lịch, cung- cầu trong du lịch. Về kinh doanh du lịch, là việc nghiên cứu về nhu cầu du lịch, động cơ du lịch, các loại hình du lịch, các loại hình kinh doanh du lịch. Về điều kiện phát triển du lịch, bao gồm những điều kiện để phát triển kinh doanh du lịch, điều kiện đặc trưng để phát triển du lịch, tính thời vụ trong kinh doanh du lịch. Về lao động trong du lịch: là đặc trưng của nguồn nhân lực trong ngành du lịch, quản lý nguồn nhân lực trong doanh nghiệp du lịch. Về chất lượng dịch vụ du lịch, là sự mong đợi (kỳ vọng của khách hàng), việc đo lường được chất lượng dịch vụ. Qua đó cho thấy, việc giải quyết được các nội dung được đề cập như trên là một thành công trong nghiên cứu về kinh tế du lịch về một địa phương cụ thể, và điều đó sẽ làm rõ hơn khái niệm kinh tế du lịch.

1.2. Tiềm năng du lịch của thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh

1.2.1. Địa lý tự nhiên

Nằm ở vị trí cửa ngõ vùng biển Đông Bắc của Tổ quốc, thành phố Uông Bí có vị thế quan trọng về nhiều mặt: địa văn hóa, địa sinh thái, địa chính trị và địa kinh tế. Là thành phố giàu tài nguyên thiên nhiên, có nhiều lợi thế trong phát triển và liên kết kinh tế, giao lưu văn hóa – xã hội, thu hút vốn đầu tư trong nước và quốc tế, được đánh giá là một trong những địa bàn chiến lược quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh Quảng Ninh. Nằm ở phía Tây Nam tỉnh Quảng Ninh, trên trục quốc lộ 18A, cách Hà Nội 120 km, Hải Phòng 19 km và cách thành phố Hạ Long 40 km về phía Tây. Địa giới hành chính Uông Bí ở phía Đông giáp huyện Hoành Bồ, phía Đông Nam giáp huyện Yên Hưng, phía Tây giáp huyện Đông Triều, phía Bắc giáp huyện Sơn Động, tỉnh Bắc Giang, phía Nam qua sông Đá Bạc giáp huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Uông Bí hiện có 11 phường xã, trong đó có 9 phường (Phương Nam, Phương Đông, Yên Thanh, Nam Khê, Quang Trung, Trưng Vương, Thanh Sơn, Bắc Sơn, Vàng Danh) và 2 xã (Thượng Yên Công, Điền Công). Uông Bí có diện tích rộng 256,3 km2, chiếm 4,1% tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh Quảng Ninh. Năm 2023, dân số Uông Bí là 115.752 người, trong đó dân số thành thị là 108.126 người, dân số tạm trú là 56.000 người, mật độ dân số bình quân 462 người/km2. Luận văn: Kinh tế Du lịch ở thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh.

Uông Bí đa dạng về địa hình, bao gồm các kiểu địa hình núi, đồi và đồng bằng phân bố thấp dần từ Bắc xuống Nam. Dải núi phía Bắc có sườn tương đối dốc, các bề mặt địa hình ở các bậc độ cao 800 – 1.000m, 400 – 600m, 200 – 300m và 80- 100m tạo ra những bậc thang thiên tạo. Cảnh quan Yên Tử có dáng vẻ đồ sộ bề thế, được che phủ bởi các kiểu thảm rừng kín cây lá rộng thường xanh nhiệt đới ẩm và á nhiệt đới ẩm. Vào mùa đông, mây vờn đỉnh núi và sương mù huyền ảo. Vào mùa hạ, thời tiết trên đỉnh núi mát mẻ bởi sự chênh lệch nhiệt độ so với đồng bằng phía chân núi lên đến 6oC. Những dòng suối cắt sâu vào lòng núi được cấu tạo bởi sự luân phiên các lớp đá thấm nước và lớp đá không thấm nước cùng tính phân bậc độ cao của địa hình tạo nên những dòng thác bạc. Uông Bí nằm ở sườn phía Nam của dãy núi Yên Tử thuộc cánh cung núi Đông Triều hùng vĩ ở vùng Đông Bắc của đất nước. Dãy núi Yên Tử với đỉnh cao nhất 1.068m án ngữ ngay của ngõ Đông Bắc của đồng bằng Bắc Bộ, từ lâu đã nổi tiếng về lịch sử tôn giáo và cảnh quan thiên nhiên. Uông Bí là địa bàn án ngữ đường thủy và đường bộ từ Thăng Long – Hà Nội về vùng biển Đông Bắc của Tổ quốc. Sông Đá Bạc chảy qua Uông Bí, là thượng lưu của Bạch Đằng giang, tiếp nối với dòng Kinh Thầy, sông Đuống, sông Hồng tạo thành tuyến đường thủy từ vùng ven biển Đông Bắc về Thăng Long – Hà Nội. Vùng cửa sông Bạch Đằng có địa thế hiểm trở và chế độ nhật triều đều, biên độ thuộc loại lớn nhất trong các vùng biển ở nước ta. Chính nơi đây đã chứng kiến các chiến thắng hiển hách trong lịch sử dân tộc:

Ngô Quyền phá tan quân Nam Hán (năm 938), Lê Hoàn cùng quân dân Đại Cồ Việt đánh thắng quân Tống (năm 981), quân dân nhà Trần lần thứ ba đại thắng quân Mông – Nguyên (năm 1288).

Thành phố có hệ thống giao thông đường thủy, bộ thuận lợi cho phát triển kinh tế: sông Đá Bạc, quốc lộ 18A và 18B, tuyến đường sắt Yên Viên – Hạ Long tạo điều kiện cho việc vận chuyển hành khách và hàng hóa. Thành phố Uông Bí nằm trên trục đường tam giác tăng trưởng kinh tế trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc: Hà Nội, Hải Phòng, Quảng Ninh (Hạ Long), là đầu mối giao cắt giữa ba tuyến đường giao thông chính: đường 18A nối Hà Nội (trung tâm hành chính, văn hóa, khoa học, giáo dục, trung tâm công nghiệp, thương mại, dịch vụ, giao lưu quốc tế của cả nước) với Hạ Long (trung tâm du lịch, cảng biển, công nghiệp than, điện, giao lưu quốc tế), đường 10 qua Hải Phòng (trung tâm cảng biển, công nghiệp, du lịch), Ninh Bình, Nam Định, Thái Bình với Quảng Ninh. Hiện nay, đường cao tốc 18B (có đoạn chạy qua địa phận Uông Bí) đã xây dựng xong, là tuyến đường huyết mạch nối Hà Nội với Hạ Long, góp phần quan trọng vào phát triển kinh tế trong toàn vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc. Vai trò kết nối của Uông Bí góp phần tạo thành chuỗi đô thị phát triển năng động trong mạng lưới đô thị quan trọng của tỉnh Quảng Ninh.

Uông Bí nằm trên bể than của tỉnh Quảng Ninh kéo dài từ Cẩm Phả qua Hạ Long, tới Uông Bí, Đông Triều – Mạo Khê với trữ lượng tương đối lớn (khoảng 1,4 tỉ tấn) và có chất lượng tốt. Tài nguyên đất đa dạng, quỹ đất cho phát triển đô thị và dịch vụ lớn. Tài nguyên rừng ở Uông Bí phong phú, trong đó rừng quốc gia Yên Tử có nhiều loại đặc hữu và quý hiếm. Tài nguyên thiên nhiên được xem là các nguồn lực quan trọng, góp phần thúc đẩy kinh tế thành phố phát triển.

Uông Bí là một mắt xích quan trọng trong hệ thống cảnh quan du lịch và di tích lịch sử của cả vùng từ Côn Sơn- Kiếp Bạc đến vịnh Hạ Long, đền Cửa Ông, Bái Tử Long. Là một trong bốn trung tâm du lịch lớn của tỉnh Quảng Ninh (Hạ Long và vùng phụ cận, Đông Triều- Quảng Yên- Uông Bí- Vân Đồn, Móng Cái- Trà Cổ) với những khu du lịch ngày càng nổi tiếng: Yên Tử, chùa Ba Vàng, Hang Son, khu du lịch Hồ Yên Trung, thác Lựng Xanh… đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của khách du lịch trong nước và quốc tế. Luận văn: Kinh tế Du lịch ở thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh.

Vị thế địa chiến lược cùng các nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, trong đó nổi bật là khoáng sản, quỹ đất, tài nguyên rừng và đa dạng sinh học, tạo nguồn lực tự nhiên cho Uông Bí phát triển nền kinh tế đa ngành với một số ngành, lĩnh vực mang tính chuyên môn hóa cao.

Uông Bí nằm ở dải chuyển tiếp giữa vùng đồi núi và đồng bằng ven biển nên khí hậu mang tính chất chuyển tiếp giữa vùng đồi núi Đông Bắc và vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng. Địa hình Uông Bí có sự phân hóa, nhưng do nằm gần biển nên khí hậu tương đối ôn hòa, thuận lợi cho đời sống và sản xuất. Vào mùa hè, nhiệt độ cao, độ ẩm lớn, bốc hơi mạnh, các loại gió thịnh hành hoạt động thường xuyên hơn với tốc độ lớn hơn. Vào mùa đông, trời nhiều mây, cường độ bức xạ mặt trời giảm, gió mùa Đông Bắc chiếm ưu thế, nhiệt độ không khí và nhiệt độ mặt đất giảm. Các hiện tượng khí hậu thời tiết cực đoan như gió mạnh, bão, lốc có xảy ra nhưng với cường độ không quá lớn, tần suất không quá cao nên ít ảnh hưởng đến đời sống và sản xuất. Do vị trí địa lí và địa hình nằm trong cánh cung Đông Triều – Móng Cái, có nhiều dãy núi cao ở phía bắc và thấp dần xuống ở phía nam đã tạo cho Uông Bí một chế độ khí hậu đa dạng, phức tạp vừa mang tính chất khí hậu miền núi, vừa mang tính chất khí hậu duyên hải. Căn cứ vào sự phân hóa của các yếu tố khí hậu có thể chia Uông Bí thành bốn tiểu vùng khí hậu: Tiểu vùng khí hậu miền núi, phân bố phía bắc đường 18B, gồm các dải núi Yên Tử, Bảo Đài, nhiệt độ thường thấp hơn trung tâm thành phố Uông Bí khoảng 4 – 6°C, mùa đông lạnh hơn, mùa hè mát hơn vùng thấp, gió mạnh và nhiều mây, mưa nhiều. Tiểu vùng khí hậu thung lũng, nằm dọc đường 18B, ít mưa, mùa hè nóng, mùa đông lạnh, biên độ nhiệt trong ngày và giữa các mùa trong năm lớn hơn các tiểu vùng khác, mùa hè hay xuất hiện giông lốc vào các tháng 7,8, mùa đông hay xuất hiện sương mù trong tháng 1,2. Tiểu vùng khí hậu vùng núi thấp và đồi, phân bố phía nam đường 18B và phía bắc đường 18A, nhiệt độ thấp hơn trung tâm thành phố Uông Bí khoảng 3 – 4°C, mưa nhiều, khí hậu tương đối lạnh vào mùa đông. Tiểu vùng khí hậu đồng bằng ven sông Đá Bạc, vùng thấp phía nam đường 18A kéo dài đến hạ lưu sông Đá Bạc có tính chất khí hậu miền đồng bằng. Mùa hè nhiệt độ cao, mùa đông ấm hơn so với các tiểu vùng khí hậu khác. Gió khá mạnh và độ ẩm tương đối của nhiều tháng trong năm cao hơn các tiểu vùng khác.

Nhìn chung, nền khí hậu của khu vực khá thích hợp với sức khỏe của con người, thuận lợi cho các hoạt động du lịch. Tuy nhiên, cần lưu ý phòng tránh các hiện tượng thời tiết cực đoan như giông lốc, bão gió để đảm bảo an toàn cho du khách và hạn chế tổn thất cho các công trình văn hóa, du lịch lâu đời. Luận văn: Kinh tế Du lịch ở thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh.

Hệ thống sông, suối của Uông Bí mang những đặc điểm chung của hệ thống sông suối Quảng Ninh là ngắn và dốc, phân hóa mạnh theo mùa, tốc độ dòng chảy và lưu lượng dòng chảy lớn, đặc biệt vào mùa lũ. Sông lớn nhất và có ảnh hưởng tới chế độ thủy văn của thành phố Uông Bí là sông Đá Bạc. Sông Đá Bạc nằm trong hệ thống sông Thái Bình, là đoạn hạ lưu của sông Kinh Thầy. Phía cuối sông Đá Bạc chia thành sông Bạch Đằng và sông Rút trước khi đổ ra vịnh Bắc Bộ. Sông Đá Bạc chảy qua địa phận tỉnh Quảng Ninh từ Đông Triều, Uông Bí, Quảng Yên có chiều dài khoảng 60km. Hệ thống sông này tạo ra 8 lạch triều lớn nhỏ, chạy theo dọc hướng chính từ bắc xuống nam và nhiều hướng khác, được phát triển theo hình dạng rễ cây rất phức tạp. Trong 8 lạch triều đó có các lạch triều lớn, được gọi là sông Uông, sông Sinh, sông Sến, sông Hang Ma (Phương Nam), chảy theo hướng Bắc – Nam. Đây là các phụ lưu nhỏ đều bắt nguồn từ vùng đồi núi phía Nam dãy Yên Tử – Bảo Đài đổ ra sông Đá Bạc. Sông Uông tiếp nối với suối vàng Danh và kết thúc ở địa phận phường

Quang Trung, được gọi là ranh giới của khu vực nước mặn và nước ngọt và có đập tràn dùng cho mục đích sử dụng nước sản xuất điện của Nhà máy Nhiệt điện Uông Bí. Phía Bắc của thành phố, suối Vàng danh có lưu lượng nước khá lớn, sông Sến, sông Tân Yên đổ về sông Hang Ma. Sông Sinh với chiều dài 15km bắt nguồn từ nguồn núi phía tây bắc Uông Bí chảy qua trung tâm thành phố (giữa phường Yên Thanh, Thanh Sơn và phường Quang Trung). Vào mùa mưa, các hệ thống lạch triều này bị ngọt hóa hoàn toàn, không thể sử dụng để nuôi các loại thủy sản nước lợ (trừ trường hợp sử dụng ao chứa nước lợ lấy từ mùa khô), vì vậy, giai đoạn này chỉ phù hợp cho việc nuôi các loại thủy sản nước ngọt. Sông Đá Bạc nhận nước ngọt từ trên thượng nguồn thuộc phần lưu của hệ thống sông Thái Bình và một phần nhỏ lượng nước từ trên dãy Yên Tử

(vào mùa mưa). Lưu lượng nước từ hai nguồn này không đủ lớn (vào mùa khô) để đẩy nước ngọt lấn ra biển, mà ngược lại thủy triều lại đẩy nước mặn lấn sâu vào trong, làm cho các hợp chất hữu cơ lơ lửng từ thượng nguồn đổ xuống bị đọng lại hình thành nên các barie địa hóa và đưa vào các đầm nuôi khu vực ven sông Đá Bạc, do đó các vùng này rất giàu dinh dưỡng và phù hợp cho phát triển nuôi trồng thủy sản. Ngoài hệ thống sông suối, Uông Bí còn có hệ thống ao hồ, đáng chú ý là hồ Yên Trung rộng 50ha, hồ Tân Lập rộng 16ha, hai hồ lớn này có khả năng cung cấp nước cho sản xuất và có thể tổ chức thành những điểm nghỉ ngơi, vui chơi giải trí cho khách du lịch. Tuy nhiên khả năng cung cấp nước của các hồ này rất hạn chế vào mùa khô, vì vậy phải đưa nước hồ Yên Lập từ thành phố Hạ Long về.

Nhìn chung, tài nguyên nước của thành phố tương đối dồi dào, chất lượng tốt, ít bị ô nhiễm. Nguồn tài nguyên này có giá trị lớn trong phát triển kinh tế xã hội và đời sống của nhân dân nhất là hoạt động du lịch.

Uông Bí có địa hình đa dạng, từ núi trung bình, núi thấp, thung lũng, đến đông bằng và vùng thấp trũng ven sông. Khí hậu vừa mang tính chất khí hậu miền núi vừa mang tính chất khí hậu miền duyên hải. Vì vậy, Uông Bí là vùng đất có tính đa dạng sinh học tương đối cao, đặc biệt là khu vực rừng núi Yên Tử. Thành phố Uông Bí không có lợi thế về biển như các huyện khác trong tỉnh Quảng Ninh nên đa dạng sinh học chủ yếu là đa dạng hệ sinh thái trên cạn và đa dạng sinh học ở khu ngập mặn Yên Thanh, Phương Đông. Thành phố Uông Bí có diện tích rừng khá lớn, năm 2001, toàn thành phố có 13.057ha, chiếm 53,35% tổng diện tích tự nhiên. Nhưng việc phá rừng lấy đất sản xuất nông nghiệp, khai thác rừng lấy gỗ và khai thác khoáng sản đã làm cho diện thích rừng tự nhiên bị suy giảm nhanh. Năm 2003, diện tích rừng chỉ còn 7.381ha, chiếm 30,16% giảm 5.676ha (43,47%) so với năm 2001. Từ năm 2004, thực hiện Chương trình 327 (Chương trình khoanh nuôi, bảo vệ, trồng rừng), Chương trình 661, diện tích rừng tăng lên nhanh. Đến năm 2021, diện tích rừng là 12.694,11ha, chiếm 4410,11ha, chiếm 49,53% diện tích tự nhiên, trong đó rừng tự nhiên là 5.935,98ha và rừng trồng là 6.758,13ha. Rừng Uông Bí chủ yếu là rừng nghèo, rừng đạt tiêu chuẩn khai thác không đáng kể, chủ yếu là các loại rừng gỗ, tre, nứa hỗn giao, tuy nhiên vẫn có một số loại gỗ quý hiếm như lát hoa, lim xanh, sến, táu. Ngoài ra, rừng Uông Bí còn cung cấp các loại cây khác có giá trị như song, mây, hèo là nguyên liệu làm đồ mĩ nghệ và những cây cho dầu, cây làm thuốc, cây cho sợi, nhựa thông…

Rừng ở Uông Bí có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc phát triển kinh tế – xã hội, bảo vệ môi sinh khu vực, giữ nguồn nước, tạo cảnh quan, giữ gìn các di tích lịch sử – văn hóa. Vì vậy, cần phải có chính sách đầu tư, khai thác hợp lý và bảo vệ nguồn tài nguyên rừng. Luận văn: Kinh tế Du lịch ở thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh.

Thực vật ở khu vực Uông Bí tương đối phong phú và đa dạng, bao gồm 1.271 loài, trong đó 1.102 loài tự nhiên và 169 loài cây trồng thuộc 179 họ của 3 ngành thực vật: khuyết thực vật, hạt trần, hạt kín. Hệ thực vật của khu vực (chỉ tính riêng các loài tự nhiên, loài tự nhiên của khu vực có gây trồng, các loài cây trồng bị hoang dại hóa) có 1.102 loài thuộc 162 họ của 3 ngành trên, trong đó có 22 loài quý hiếm. Thảm thực vật tự nhiên của khu vực bao gồm các kiểu thảm đặc trưng cho khí hậu nhiệt đới ẩm có mùa đông khô hơi dài và khí hậu á nhiệt đới ẩm, các kiểu thảm của vùng cửa sông ven biển. Sự phân hóa của các điều kiện nhiệt – ẩm trên nền địa hình của thành phố Uông Bí đã tạo nên các đai thực vật đặc trưng theo độ cao. Ở độ cao dưới 600m, khí hậu mang tính chất chuyển tiếp giữa nhiệt đới ẩm và hơi ẩm với một mùa đông ngắn, kiểu thảm thực vật đặc trưng là rừng kín cây lá rộng thường xanh xen lẫn một số lượng đáng kể các cây rụng lá vào thời kì mùa đông. Ở độ cao trên 600m, khí hậu mang tính chất á nhiệt đới ẩm với kiểu rừng đặc trưng là rừng kín cây lá rộng thường xanh á nhiệt đới ẩm. Vùng cửa sông ven biển trên sông Đá Bạc chịu ảnh hưởng của chế độ nhật triều đều. Tại những khu vực ở trong bãi có độ mặn thấp, phân bố phổ biến các cây có biên độ muối rộng, chịu được nồng độ muối trung bình như: sú, vẹt tách… Khu vực ven sông phổ biến các cây có biên độ muối hẹp, nồng độ muối thấp như: bần, bình bát, ráng đại…

Dưới tác động tổng hợp của các điều kiện khí hậu, địa chất, địa hình, thủy văn, hải văn, thổ nhưỡng đã hình thành nên thảm thực vật tự nhiên rất phong phú và đa dạng, bao gồm rừng kín cây lá rộng thường xanh á nhiệt đới ẩm trên đất feralit địa đới ở vùng đồi núi, rừng đầm lầy – nước ngọt trên đất nội địa đới ngập nước ngọt, rừng ngập mặn trên đất nội địa đới ngập nước mặn. So sánh với các khu vực lân cận như Cát Bà, Hạ Long và phụ cận, có thể thấy, thực vật khu vực nghiên cứu thuộc vào loại phong phú. Nguyên nhân chính là môi trường sống ở đây rất đa dạng: từ vùng núi khá cao đến vùng đất ngập ven biển, nền đất đa dạng, khí hậu tương đối thuận lợi, ngoài một số diện tích rừng tự nhiên có thành phần loài phong phú, khu vực nghiên cứu còn có sự xuất hiện một số loài cây trồng mới trong các khu dân cư. Hệ thực vật của khu vực (chỉ tính riêng các loài tự nhiên, loài tự nhiên ở khu vực có gây trồng, các loài cây trồng bị hoang dại hóa) có 1.105 loài thuộc 165 họ.

Đa dạng sinh học hệ thực vật là thành tố quan trọng của đa dạng sinh học của một số vùng bằng chính giá trị của từng loài thực vật, đồng thời còn đóng góp bằng sự tổ hợp của chúng hình thành nên các kiểu thảm thực vật, các hệ sinh thái và các dịch vụ hệ sinh thái đa dạng đảm bảo cho sự phát triển bền vững của đa dạng sinh học và kinh tế – xã hội của cộng đồng. Đa dạng thảm thực vật: thảm thực vật ở Uông Bí rất phong phú, đa dạng về thành phần loài.

Rừng đặc dụng Yên Tử nằm trên địa bàn xã Thượng Yên Công, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, được thành lập theo quyết định số 194/CP, ngày 9-6-1996 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ). Ngày 26-9-2021, Phó Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 1671/TTg thành lập Khu rừng quốc gia Yên Tử, tỉnh Quảng Ninh, thuộc loại khu rừng lịch sử – văn hóa – môi trường. Khu rừng Yên Tử có hệ sinh thái độc đáo, có tính đa dạng sinh học phong phú với nhiều nguồn gen động, thực vật quý hiếm và các mẫu chuẩn hệ sinh thái rừng của vùng Đông Bắc Việt Nam. Nơi đây còn là một trong những danh lam thắng cảnh, điểm tham quan du lịch, lễ hội truyền thống của cả nước, đồng thời là một trung tâm Phật giáo Việt Nam.

Khu di tích Yên Tử quản lý có diện tích 2.783ha rừng, trong đó có 2.060,3ha rừng tự nhiên, được bao bọc ba mặt bởi hệ thống núi Yên Tử. Hệ thống núi chính Yên Tử nằm theo hướng bắc nam bắt nguồn từ đỉnh 660m đến đỉnh 908m, nơi có đèo Mật Lộn với hai giông phụ cùng hướng. Giông núi phía tây bắt nguồn từ đỉnh 660m xuôi về hướng Vàng Tân. Giông núi phía đông bắt nguồn từ đỉnh 908m xuôi về suối Bãi Dâu. Trên hệ thống núi chính Yên Tử có đỉnh cao nhất vùng Đông Bắc là đỉnh Yên Tử 1.068m. Địa hình trong khu vực bị chia cắt mạnh bởi nhiều giông núi nhỏ và khe suối, độ dốc trung bình 20 – 25°, nhiều nơi có độ dốc 35 – 40° xen kẽ, đôi chỗ có độ dốc 60 – 70° rất hiểm trở. Hai suối chính trong khu vực là Vàng Tân và suối Giải Oan đều bắt nguồn từ chân núi Yên Tử chảy về hướng nam, góp phần chia cắt địa hình khu vực.

Tác động tổng hợp của các điều kiện sinh thái như ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm, dinh dưỡng đất,…cùng các yếu tố lịch sử phát triển khu hệ sinh vật đã tạo ra tại khu vực Yên Tử nguồn tài nguyên sinh vật phong phú và đa dạng sinh học cao.

Khu di tích lịch sử Yên Tử có 830 loài thực vật trong 509 chi, của 171 họ thực vật được đánh giá là phong phú về loài, về chi loài thực vật. Rừng Yên Tử hiện nay thuộc vùng phân bố táu mật, sao Hòn Gai, lim xanh, gụ lau, sến mật, hồng tùng, trầu tiên, sú rừng, mai vàng,… Đặc biệt, trong đó có 38 loài thực vật quý hiếm có tên trong sách đỏ Việt Nam cần được ưu tiên bảo tồn và phát triển như: lim xanh, táu mật, lát hoa, thông tre, la hán rừng, vù hương, kim giao…

Thực vật Yên Tử đang có chiều hướng phục hồi tốt, đòi hỏi cần có đầu tư phát triển tài nguyên thực vật, có đội ngũ cán bộ quản lý thông hiểu về kỹ thuật lâm sinh để trồng và bảo vệ. Đầu tư bảo vệ và phát triển Khu di tích lịch sử Yên Tử thông qua đầu tư xây dựng hạ tầng cơ sở, đầu tư cho công tác phục hồi hệ sinh thái rừng tự nhiên, đầu tư cho công tác tổ chức quản lý bảo vệ rừng và tổ chức lại sản xuất cho nhân dân trong khu di tích và vùng đệm là vấn đề có tính khách quan và cấp bách, có ý nghĩa cao không chỉ về bảo tồn, phát triển tài nguyên mà còn mang giá trị nhân văn sâu sắc.

Khu hệ động vật Yên Tử khá đa dạng. Mặc dù mới chỉ được khảo sát sơ bộ, cũng đã thống kê được 151 loài. Con số này tương đương với khu hệ động vật của nhiều khu bảo tồn thiên nhiên khác. Mặc dù rừng quốc gia Yên Tử có diện tích không lớn, gần đô thị và bị tàn phá mạnh trước đây, nhưng yếu tố đặc hữu của khu hệ động vật khá cao, và cao hơn một số vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên trong vùng Đông Bắc Việt Nam. Trong đó, có ba loài đặc hữu là voọc mũi hếch, nhông cá sấu, và ếch ang là những phát hiện mới trong khoa học. Các loài đặc hữu và quý hiếm là đối tượng chính cần được quan tâm bảo vệ tại khu rừng quốc gia sau này. Kết quả khảo sát, nghiên cứu đa dạng sinh học tại khu vực đặc dụng Yên Tử cho thấy nơi đây còn chứa đựng nhiều nguồn gen động, thực vật quý hiếm. Hệ động vật đa dạng và phong phú, trong đó có 23 loài đặc hữu quý hiếm được ghi trong sách đỏ Việt Nam có giá trị cao trong việc bảo tồn nguồn gen, nghiên cứu khoa học, giáo dục và du lịch. Nguồn tài nguyên sinh vật tương đối đa dạng của Uông Bí đã mở ra nhiều cơ hội cho việc phát triển du lịch sinh thái, góp phần làm phát triển du lịch nhiều loại hình ở mảnh đất này. Luận văn: Kinh tế Du lịch ở thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh.

Có thể thấy, thiên nhiên đã ưu đãi Uông Bí, tặng cho mảnh đất này những điều kiện tự nhiên thuận lợi và nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng dồi dào. Trong xu thế hội nhập của đất nước, dựa vào nguồn tài nguyên sẵn có này, Uông Bí đang nỗ lực phát triển đa dạng và phong phú các loại hình du lịch, tạo ra ngành kinh tế du lịch có thể khai thác tối đa tiềm năng của mình. Qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả cho quá trình phát triển du lịch của tỉnh Quảng Ninh.

1.2.2. Con người và tài nguyên nhân văn

1.2.2.1. Dân cư, dân tộc

Thành phố Uông Bí hiện nay có 11 đơn vị hành chính gồm 9 phường, 2 xã, bao gồm các phường: Vàng Danh, Bắc Sơn, Yên Thanh, Trưng Vương, Quang Trung, Thanh Sơn, Nam Khê, Phương Đông, Phương Nam và 2 xã:

Thượng Yên Công và Điền Công.

Bảng 1.1: Đơn vị hành chính, diện tích, dân số Uông Bí năm 2023

STT Tên đơn vị hành chính Di ện tích  tự nhiên (ha)  Dân số thực tế thường trú (người) Số thôn, khu
Khu vực nội thành: 17.617,5 110.531 90
1 Phường Vàng Danh 5.415,91 16.366 12
2 Phường Thanh Sơn 945,71 14.780 11
3 Phường Bắc Sơn 2.744,93 6.362 9
4 Phường Quang Trung 1.404,88 20.417 13
5 Phường Trưng Vương 352,67 8.033 7
6 Phường Nam Khê 748,50 9.401 5
7 Phường Yên Thanh 1.441,05 8.521 7
8 Phường Phương Đông 2.397,81 13.567 12
9 Phường Phương Nam 2.172,49 13.084 14
Khu vực ngoại thành: 8.013,27 7.797 11
1 Xã Điền Công 1.246,00 1.853 3
1 Xã Thượng Yên Công 6.767,27 5.944 8
Tổng số toàn thành phố 25.630,77 118.328 101

(Nguồn: Phòng VH&TT thành phố Uông Bí) Luận văn: Kinh tế Du lịch ở thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh.

Thời Pháp thuộc, dân số Uông Bí có khoảng 3.000 người với hai dân tộc là Kinh và Hoa. Đến trước năm 1965, dân số Uông Bí đã tăng mạnh lên đến 15.000 người, phần lớn là công nhân ở các nơi chuyển đến tập trung ở mỏ Vàng Danh, một số mang theo gia đình, vợ con. Trải qua nhiều thay đổi về mặt kinh tế – xã hội, quy mô dân số Uông Bí không ngừng mở rộng, đến năm 2016, sau khi mở rộng địa giới hành chính, dân số Uông Bí lên đến 97.975 người. Đến năm 2019, theo tổng điều tra dân số, quy mô dân số đã lên tới 105.755 người, chiếm 9,2% dân số tỉnh Quảng Ninh. Uông Bí là thành phố có số dân đứng thứ năm trong các thành phố, thị xã và huyện của tỉnh Quảng Ninh (sau thành phố Hạ Long, Cẩm Phả, huyện Đông Triều và thị xã Quảng Yên). Trong những năm gần đây, tỉ lệ dân thành thị có xu hướng tăng nhanh, từ 66.616 người (năm 2010) lên 108.126 (năm 2023). Cơ cấu dân số thành thị và nông thôn có sự dịch chuyển đáng kể, từ dân số thành thị chiếm 72% (năm 2010) tăng lên đến 93% (năm 2023).

Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở tính đến ngày 1-4-2019, Uông Bí có 105.755 nhân khẩu, trong đó có 74.678 khẩu thành thị (chiếm 70,61%) và 31.077 khẩu nông thôn (chiếm 29,39%). Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,37%; tỷ lệ tăng dân số cơ học là 0,31%; mật độ dân số bình quân 413 người/km². Dân cư của thành phố phân bố không đồng đều giữa các vùng, mật độ dân số cao nhất là khu trung tâm thành phố lên tới 1.400 người/km², thấp nhất là xã Thượng Yên Công 75 người/km².

Bảng 1.2: Quy mô dân số Uông Bí thời kỳ 2010 – 2023

Năm Tổng số Trong đó
Thành thị Nông thôn
2010 92.186 66.616 25.570
2011 93.302 67.337 25.965
2012 94.504 68.568 25.936
2013 95.797 69.916 25.881
2014 96.558 70.545 26.013
2015 97.344 71.397 25.947
2016 98.270 71.512 26.758
2017 102.488 73.305 29.183
2018 103.788 74.263 29.525
2019 105.986 75.049 30.937
2020 108.146 76.321 31.825
2021 110.798 78.223 32.575
2022 113.217 105.743 7.474
2023 115.752 108.126 7.626

(Nguồn: UBND thành phố Uông Bí) Luận văn: Kinh tế Du lịch ở thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh.

Quy mô dân số của thành phố Uông Bí theo số liệu từ niên giám thống kê của thành phố tính sơ bộ đến năm 2023 là 115.725 người, trong đó dân số nội thành là 108.126 người, chiếm 93,4% tổng dân số toàn thành phố; dân số ngoại thành là 7.626 người, chiếm 6,6%. Dân số thành thị tăng đột biến từ 71% (năm 2021) lên 93% (năm 2022) do việc thành lập hai phường Phương Đông và Phương Nam trên cơ sở hai xã trước đó đã chuyển dân số của hai địa bàn này từ nông thôn sang thành thị. Quy mô dân số của các phường, xã trong thành phố tăng qua các giai đoạn, đặc biệt có xu hướng tăng nhanh sau năm 2020. Giai đoạn 2010-2019, tốc độ tăng dân số trung bình trên toàn thành phố là 0,8%/năm, giai đoạn 2020- 2023, tốc độ tăng dân số trung bình lên đến 1,7%/năm.

Cơ cấu dân số theo độ tuổi trong thành phố cũng có sự biến động mạnh mẽ. Căn cứ vào số liệu tổng điều tra dân số và nhà ở giai đoạn 2009 – 2019, nhóm tuổi 0 – 14 có xu hướng giảm dần, nhóm tuổi tuổi từ 15 – 64 và trên 65 có xu hướng tăng lên. Cơ cấu dân số có sự chuyển dịch từ kết cấu dân số trẻ sang kết cấu dân số già, đây là kết quả tích cực từ chính sách dân số và phản ánh phần nào chất lượng cuộc sống đang được nâng lên. Năm 2019, phần đông dân cư đang ở độ tuổi lao động, tạo nguồn lực quan trọng cho việc phát triển kinh tế – xã hội, nhưng đồng thời cũng là những thách thức không nhỏ từ sức ép dân số lên chất lượng sống, môi trường và việc làm.

Nghiên cứu cơ cấu theo trình độ văn hóa có ý nghĩa quan trọng trong dân số học, vì nó phản ánh trình độ dân trí, học vấn của dân cư một quốc gia, một vùng hay của toàn thế giới. Liên hợp quốc đã đưa ra hai chỉ số đánh giá trình độ văn hóa của dân cư: chỉ số người lớn biết chữ và chỉ số nhập học các cấp (hoặc số năm đến trường). Tỷ lệ người lớn biết chữ: Nhờ những chủ trương, đường lối đúng đắn, cùng với sự quan tâm, chú trọng đầu tư cho giáo dục mà tỷ lệ người lớn biết chữ của Uông Bí liên tục tăng, đạt 97,3% năm 2019, trong đó khu vực thành thị đạt 98,1%, khu vực nông thôn là 95,2%. Có thể nói, những đầu tư cho phát triển giáo dục đã được triển khai và thực hiện có hiệu quả góp phần tích cực nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân trên địa bàn thành phố. Trong đó nổi bật là một số phường như Vàng Danh, Trưng Vương, Quang Trung, Nam Khê, Thanh Sơn, Phương Đông với tỷ lệ là 98%. Tất cả các phường, xã đều đạt trên 92%, chứng tỏ trình độ dân trí của thành phố đã được cải thiện đáng kể.

Tỷ lệ nhập học các cấp: Những năm gần đây, giáo dục- đào tạo của thành phố tiếp tục phát triển cả về quy mô và nâng cao chất lượng ở các ngành học, cấp học, giữ vững phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, hoàn thành phổ cập trung học cơ sở. Công tác quản lý nhà nước về giáo dục- đào tạo được tăng cường gắn với thực hiện các cuộc vận động đạt kết quả tốt. Đến năm 2021 đã hoàn thành 41/41 trường thuộc cả ba cấp học (mầm non, tiểu học, trung học cơ sở) do thành phố quản lý đạt chuẩn quốc gia.

Nhìn chung, hệ thống trường lớp cơ bản hoàn chỉnh, chất lượng trường tương đối tốt, 100% số trường đã được xây dựng kiên cố, cao tầng. Chất lượng giáo dục toàn thành phố có nhiều chuyển biến, tỷ lệ huy động trẻ đến trường đúng độ tuổi đạt 100%, tỷ lệ lên lớp và hoàn thành chương trình giáo dục đào tạo thuộc ba cấp nêu trên đều ở mức cao. Hệ thống các trường cao đẳng, trung học chuyên nghiệp, trường dạy nghề mở rộng quy mô trường lớp, đổi mới và nâng cao chất lượng đào tạo. Tính đến cuối năm 2023, Uông Bí giữ vững kết quả phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập trung học đúng cơ sở tại 11/11 xã, phường. Tổng số trường đạt chuẩn ở mức độ 2 lên đến 16/28 trường, đạt tỷ lệ 57,1%. Tuy nhiên, phong trào giáo dục phát triển không đồng đều ở các địa phương, ngành học, trình độ học sinh ở các xã, vùng xa còn chênh lệch so với vùng trung tâm thành phố. Luận văn: Kinh tế Du lịch ở thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh.

Dân số Uông Bí tính đến cuối năm 1955 có khoảng 3.000 người với hai dân tộc là Kinh và Hoa. Năm 1964, dân số lên đến 15.000 người. Đến năm 1978, số lượng Hoa kiều giảm mạnh. Đến nay, trên mảnh đất Uông Bí là nơi hội tụ nhiều dân tộc anh em sinh sống như: Kinh, Dao, Hoa, Tày, Nùng, Sán Dìu, Mường, Thổ, Cao Lan, Thái… Người Kinh phân bố đều ở các phường, xã trong thành phố, các dân tộc thiểu số sinh sống chủ yếu ở khu vực xã Thượng

Yên Công, nơi có địa hình núi cao, mức độ chia cắt lớn. Người Kinh chiếm 95,9% dân số thành phố, người Dao chiếm 2,8% dân số toàn thành phố, rồi đến người Tày, người Hoa và các dân tộc khác. Theo số liệu điều tra dân số và nhà năm 2019, Uông Bí có 584 người theo Công giáo, sống chủ yếu tập trung ở khu vực xã Phương Nam (nay là phường Phương Nam). Đây là khu vực giáo sứ đã hình thành từ chương trình di dân của Nhà nước năm 1963, khi chuyển giáo sứ Yên Trì, xã Hiệp Hòa, huyện Yên Hưng sang lập nghiệp tại đất Phương Nam.

Bên cạnh người Công giáo, Uông Bí còn có 261 người theo Phật giáo, trong đó gần một nửa sống ở khu vực phường Thanh Sơn và 20 người theo đạo Tin Lành, cư trú chủ yếu ở phường Phương Nam.

1.2.2.2. Tài nguyên nhân văn

Uông Bí là mảnh đất địa linh nhân kiệt và những địa danh nổi tiếng như danh sơn Yên Tử, Tổ sơn của vùng Đông Bắc, có cảnh đẹp kỳ vĩ, có thác đổ, suối reo có tùng linh khí, tùng hổ phách và các rừng trúc bạt ngàn, rừng mai vàng rực rỡ với thảm thực vật phong phú tạo nên khu bảo tồn thiên nhiên đa dạng sinh học của quốc gia cùng với hệ thống chùa tháp của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử tạo nên khu di tích và danh thắng quốc gia đặc biệt. Uông Bí có dãy núi đá vôi Chu Cốc với các di tích chùa Hang Son, hang Núi Xếp Bằng, hang núi Hổ tạo nên một khu danh thắng sơn thủy hữu tình nổi tiếng từ thời Trần. Khu danh thắng Thành Đẳng Sơn và chùa Ba Vàng cũng là một danh lam cổ tích, chùa Ba Vàng mới được tôn tạo thành một trong những ngôi chùa có phong cảnh tuyệt đẹp. Ngoài ra, Uông Bí còn có thác suối Lựng Xanh, hồ Yên Trung là những thắng cảnh thiên nhiên thơ mộng, đang trở thành điểm du lịch hấp dẫn của thành phố và của du khách trong nước.

Uông Bí có những di tích kiến trúc tôn giáo Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử như: Chùa Bí Thượng (chùa Trình), Chùa Suối Tắm, Chùa Lân, Chùa Hoa Yên, Chùa Một Mái Chùa Bảo Sái, Chùa Vân Tiêu, Tượng An Kỳ Sinh, Tượng Phật Hoàng Trần Nhân Tông trên núi Yên Tử, Chùa Đồng… Ngoài ra còn có các di tích khác như: Di tích đình Đền Công, Miếu Cu Linh, Chùa Ba Vàng, Chùa Hang Son, Cụm di tích Đình, Nghè, Chùa Lạc Thanh, Đình Lạc Thanh, Nghè Lạc Thanh, Chùa Lạc Thanh, Chùa Phổ Am…Các di tích cánh mạng: Đài tưởng niệm Bác Hồ, Nhà máy điện Uông Bí. Các lễ hội tiêu biểu: Lễ hội Yên Tử, Lễ hội đình Đền Công, Lễ hội đình Lạc Thanh. Các khu sinh thái, nghỉ dưỡng: Rừng quốc gia Yên Tử, Thác suối Lựng Xanh, Hồ Yên Trung.

Bảng 1.3: Các di tích lịch sử văn hóa, danh thắng được xếp hạng

TT Tên di tích  lịch sử  văn hóa Địa điểm (phường) Loại hình di tích Loại công trình Xếp hạng
Chùa Danh thắng Đền, Miếu,

Đình

Quốc gia Cấp tỉnh
1 Khu di tích

Yên Tử

Phường Phương Đông và Xã Thượng Yên Công Danh thắng,

Lịch Sử, Văn hóa

x x Đặc biệt

quốc gia

2 Chùa  Ba Vàng Phường Quang Trung Văn hóa x x
3 Chùa Hang Son Phường Phương Nam Văn hóa x x
4 Đình  Lạc Thanh Phường Yên Thanh Văn hóa x x
5 Đình  Điền Công Xã Điền Công Văn hóa, Lịch Sử x x x

(Nguồn: Báo cáo công tác kiểm kê các di tích trên địa bàn thành phố Uông Bí)

1.2.3. Điều kiện kinh tế Luận văn: Kinh tế Du lịch ở thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh.

Uông Bí ngày nay đã có nhiều thay đổi rõ rệt, bộ mặt đô thị ngày càng khang trang, to đẹp. Có các nhà máy, công ty lớn hoạt động với công suất lớn, đường xá mở rộng, nhiều khu vui chơi giải trí được xây dựng… đời sống nhân dân ngày được nâng cao. Các cấp lãnh đạo của thành phố đã biết tận dụng và khai thác hiệu quả các tiềm năng vốn có của vùng đất giàu tiềm năng. Đã xác định được ngành kinh tế trọng điểm của vùng, đồng thời tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH- HĐH.

Trong nhiều năm qua, ngành kinh tế chủ đạo của thành phố vẫn là sản xuất Công nghiệp- Tiểu thủ công nghiệp và vẫn luôn giữ mức tăng trưởng khá.

Giá trị sản xuất Công nghiệp- TTCN địa phương thực hiện năm 2023 đạt 666 tỷ đồng. Các sản phẩm chủ yếu: Rượu bia, nước giải khát đạt 14 triệu lít, giầy da xuất khẩu đạt 1,75 triệu đôi, cơ khí cửa sắt, kính khung nhôm đạt 195.000 m2;

Vôi củ đạt 67.000 tấn, gạch nung đạt 50 triệu viên, khai thác đá các loại đạt 1,12 triệu m3; chế biến gỗ đạt 67.000 m3.

Các doanh nghiệp trung ương, doanh nghiệp địa phương, tổ chức kinh tế trên địa bàn đã có nhiều cố gắng khắc phục khó khăn, duy trì ổn định và từng bước phát triển sản xuất, kinh doanh. Các doanh nghiệp ngành than, cơ khí, sản xuất vật liệu xây dựng tập trung cơ cấu lại bộ máy quản lý, tổ chức sản xuất, cố gắng duy trì kế hoạch sản xuất, bảo đảm công ăn việc làm, thu nhập cho người lao động. Trong sản xuất nông- lâm, ngư nghiệp và kinh tế nông thôn: Theo số liệu 2023, diện tích gieo trồng cả năm 2023 là 3.268 ha, năng suất lúa bình quân cả năm đạt 50,6 tạ/ha. Tổng sản lượng lương thực cả năm: 13.382 tấn. Công tác khuyến nông hướng mạnh về cơ sở, tập trung vào việc chuyển giao kỹ thuật sản xuất giống mới, hướng dẫn thực hiện các mô hình dự án chuyển đổi giống cây, con, có tác dụng tốt đối với chuyển đổi cơ cấu và tăng giá trị sản xuất nông nghiệp. Mặc dù diện tích cây lúa có giảm nhưng do chuyển đổi trong nông nghiệp từ trồng trọt sang chăn nuôi có giá trị cao như vải chín sớm Phương Nam, Thanh Long ruột đỏ, mai vàng Yên Tử, lợn hướng nạc …. làm cho giá trị sản xuất nông, lâm ngư nghiệp tăng lên.

Thành phố tích cực thực hiện quy hoạch vùng sản xuất, phát triển diện tích trồng cây Thanh Long ruột đỏ theo dự án thành lập nhãn hiệu chứng nhận cho sản phẩm Thanh Long của thành phố Uông Bí và vùng quy hoạch sản xuất vải chín Phương Nam, đến nay tổng diện tích Thanh Long đạt 35ha, sản lượng Thanh Long ruột đỏ thu hoạch trong năm đạt 190 tấn, doanh thu 8,5 tỷ đồng, tổng diện tích vải chín sớm Phương Nam đạt 288ha, sản lượng năm 2023 đạt 500 tấn, doanh thu 14 tỷ đồng. Về chăn nuôi, thành phố thường xuyên đôn đốc, kiểm tra việc chấp hành các quy định về chăn nuôi, vệ sinh thú y trên địa bàn, kiểm soát các điểm giết mổ gia súc, gia cầm. Tình hình dịch bệnh được kiểm soát chặt chẽ, phát hiện xử lý kịp thời để không lây diện rộng. Về lâm nghiệp, công tác  quản lý, bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng được thực hiện tốt. Diện tích rừng được trồng bổ sung thường xuyên, tỷ lệ che phủ của rừng đạt 49,8%, khai thác nhựa thông đạt 240 tấn. Về thủy lợi và nuôi trồng thủy sản, thành phố thường xuyên chỉ đạo các xã, phường và các trạm thủy nông kiểm tra, củng cố, nâng cấp các công trình thủy lợi, đảm bảo nguồn nước tưới tiêu phục vụ sản xuất, an toàn trong mùa mưa bão. Sản lượng thủy sản đạt 1.795 tấn.

Trong lĩnh vực khoa học và công nghệ: Các doanh nghiệp ngành than, điện, cơ khí, sản xuất vật liệu xây dựng đã có nhiều cố gắng đầu tư dây chuyền công nghệ mới vào sản xuất nhằm tăng năng suất, giảm chi phí, giá thành sản xuất, đặc biệt là áp dụng các công nghệ mới trong việc giảm thiểu ô nhiễm môi trường, như: hệ thống lọc bụi tĩnh điện của các nhà máy điện, xi măng; hệ thống xử lý nước thải hầm lò của các doanh nghiệp ngành than, công nghệ đúc hóa khí, đúc áp lực, đúc chân không của Nhà máy cơ khí Quang Trung… Chuyển dịch cơ cấu giống cây trồng và cơ cấu mùa vụ, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp được quan tâm chỉ đạo. Tích cực phối hợp với Sở khoa học và Công nghệ, các đơn vị tư vấn triển khai 5 dự án xây dựng thương hiệu nông sản đặc trưng của Thành phố, đến nay đã cơ bản hoàn thành yêu cầu và đã có 03 sản phẩm được chứng nhận thương hiệu. Đối với Dự án phát triển giống hoa Mai vàng Yên Tử, đến hết năm 2023 thực hiện xong 7/7 gói thầu, giải ngân toàn bộ kinh phí Tỉnh cấp 2.320 triệu đồng.

Tiểu kết chương 1 Luận văn: Kinh tế Du lịch ở thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh.

Thành phố Uông Bí nằm trong vùng kinh tế năng động của tỉnh Quảng Ninh, đã và đang được quan tâm đầu tư phát triển để trở thành điểm nối giao lưu của tỉnh Quảng Ninh với các tỉnh lân cận và khu vực đồng bằng Bắc Bộ. Trong quá trình phát triển, song song việc phát huy thế mạnh của thành phố, Đảng bộ và nhân dân thành phố luôn cố gắng nỗ lực đa dạng hóa các hoạt động kinh tế, tìm kiếm vốn đầu tư, khai thác tiềm lực, phát huy nội lực để nâng cao đời sống. Bên cạnh sự ổn định của hoạt động kinh tế nông nghiệp, sự chuyển mình nhanh chóng của công- thương nghiệp làm cơ sở hạ tầng không ngừng được cải thiện, mở ra cơ hội cho hoạt động du lịch dịch vụ có điều kiện phát triển.

Nơi đây với nhiều tiềm năng du lịch, phong phú cả về tài nguyên du lịch tự nhiên lẫn tài nguyên du lịch nhân văn. Tự nhiên và lịch sử đã mang đến cho mảnh đất này nhiều danh lam thắng cảnh đẹp như khu di tích lịch sử văn hóa Yên Tử, đền- chùa Hang Son, chùa Phổ Am, đài kỷ niệm Bác Hồ, khu sinh thái hồ Yên Trung, khu sinh thái Lựng Xanh…

Đến với thành phố Uông Bí, du khách không chỉ được về vùng đất Phật giáo linh thiêng của cả nước, mà còn được đắm mình trong không gian của các lễ hội cổ với những phong tục, tập quán riêng đậm đà bản sắc dân tộc. Thắng cảnh của thành phố Uông Bí còn giữ được nhiều vẻ hoang sơ, không gian thiên nhiên trong lành, khoáng đạt, không ô nhiễm, hấp dẫn khách du lịch. Cùng với cảnh sắc thiên nhiên, con người Uông Bí thân thiện, hòa đồng là yếu tố ghi dấu hình ảnh Quảng Ninh đối với những người từng đặt chân đến vùng đất này. Đây chính là tiền đề quan trọng để phát triển du lịch, tạo điều kiện tổ chức được nhiều loại hình du lịch như: du lịch tâm linh, du lịch văn hóa, du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái… Luận văn: Kinh tế Du lịch ở thành phố Uông Bí tỉnh Quảng Ninh.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Hoạt động kinh tế du lịch thành phố Uông Bí

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *