Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Tác động hành vi đám đông lên thị trường chứng khoán hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Tác động của hành vi đám đông lên thị trường chứng khoán Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT
- Tên đề tài:
Tác động của hành vi đám đông lên thị trường chứng khoán Việt Nam
- Tóm tắt
Hành vi đám đông là biểu hiện của hành động bắt chước một cách vô thức hoặc có chủ ý nhưng cũng không hiểu rõ về vấn đề. Hiệu ứng đám đông xảy ra ở mọi nơi trên mọi lĩnh vực. Luận văn này nghiên cứu tác động của hành vi đám đông lên thị trường chứng khoán Việt Nam dựa trên mô hình của Chang và cộng sự (2000), đi sâu vào đánh giá yếu tố đám đông trong từng nhóm cổ phiếu được sắp xếp theo giá trị vốn hóa và tỷ số giá sổ sách trên giá thị trường dưới từng điều kiện thị trường. Kết quả chỉ ra rằng hành vi đám đông thể hiện mạnh hơn khi thị trường đang trong xu hướng tăng điểm. Ngoài ra, khi thị trường đang đi xuống, những doanh nghiệp có quy mô nhỏ và những doanh nghiệp thuộc nhóm cổ phiếu tăng trưởng thể hiện mức độ hành vi đám đông rõ rệt hơn so với doanh nghiệp có quy mô lớn và doanh nghiệp thuộc nhóm cổ phiếu giá trị. Lý thuyết tài chính hành vi và thực tế giao dịch trên thị trường được vận dụng để giải thích cho kết quả thu được. Cuối cùng, các kiến nghị được đề xuất cho cả nhà đầu tư và cơ quan quản lý nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực do hành vi đám đông gây ra.
- Từ khóa:
Hành vi đám đông, thị trường chứng khoán.
ABSTRACT
- Title
An examination of herding behavior in Vietnam stock market
- Abstract Luận văn: Tác động hành vi đám đông lên thị trường chứng khoán.
Herding behavior is an expression of an unintentional action or intentional action but also a lack of understanding of the subject matter to copy the behavior of other investors. The herding effect occurs everywhere in every field. This study investigates the presence of herding in Vietnam stock market by using the sample of all listed company in Ho Chi Minh Stock Exchange. The sutdy employs the methodology proposed by Chang et al. (2000) to measuring the herding on stock maket. The author conducted the herding measures in each specific group of stocks sorted by market capitalization and book-to-market ratio under each market condition. The results show that the herding behavior is stronger when the market is in an uptrend. When the market is going downtrend, small firms and growth stock exhibit a more pronounced degree of herding behavior than large firms and value stock. Moreover, behavioral finance theory and market trading practice are applied to explain the results obtained. Finally, recommendations are proposed to both investors and regulators to minimize the negative impact caused by herding behaviour.
- Keywords:
Herding behavior, stock maket.
Chương 1: Giới thiệu
1.1. Đặt vấn đề
Trong tài chính hành vi, yếu tố tâm lý đóng vai trò quan trọng trong các quyết định được đưa ra bởi nhà đầu tư. Tài chính hành vi giải thích rằng hành vi con người là phi lý trí dựa trên cảm xúc của chính bản thân và vì thế có phần thiên vị khi đưa ra các quyết định đầu tư. Trong khi đó, tài chính truyền thống thường cố gắng chứng minh rằng các nhà đầu tư không đưa ra quyết định tài chính dựa trên cảm xúc mà dựa trên lý trí. Nhà đầu tư thu thập tất cả thông tin họ cần và thực hiện phân tích, chạy các mô hình tài chính dựa trên dữ liệu đó để đưa ra lựa chọn tối ưu. Trên thực tế thì phân tích và tính toán hoàn toàn có thể xảy ra sai sót do hạn chế về tri thức và sự bất cân xứng thông tin giữa các chủ thể trên thị trường. Hơn nữa, con người thường dễ bị chi phối bởi cảm xúc và các ý kiến chủ quan nên dễ thực hiện các hành động phi lý trí dẫn đến các quyết định đầu tư sai lầm. Do đó, nghiên cứu tài chính hành vi sẽ giúp xác định những xu hướng dẫn đến những hành xử bất hợp lý của con người và đưa ra các quyết định tối ưu.
Hành vi đám đông trên thị trường là một dạng của tài chính hành vi, trong đó các nhà đầu tư quyết định bắt chước các quyết định của người khác hoặc thực hiện theo sự đồng thuận của thị trường thay vì đưa ra các quyết định riêng dựa trên thông tin họ có. Việc bắt chước này có thể khiến giá của cổ phiếu lệch khỏi giá trị cơ bản của chúng và tạo ra các cơ hội đầu tư thu về lợi nhuận hoặc khiến cho thị trường đang đi xuống càng trở nên nghiêm trọng hơn. Nó không những tồn tại mà thực sự trở nên phổ biến trên thị trường chứng khoán. Các nhà đầu tư trên thị trường, đặc biệt là nhà đầu tư cá nhân nhỏ lẻ, những người gặp hạn chế trong tiếp cận thông tin hoặc thiếu kiến thức mà bỏ qua các thông tin mình có, sẽ dễ dàng bị cuốn vào xu thế trên thị trường, kể cả khi chứng khoán bị thao túng và làm giá. Vì vậy nghiên cứu về tài chính hành vi nói chung và hành vi đám đông nói riêng giúp nhà đầu tư có đủ kiến thức để phần nào nhận ra các xu hướng tốt và xấu trên thị trường và đưa ra các quyết định phù hợp mà không chịu tác động từ yếu tố đám đông. Luận văn: Tác động hành vi đám đông lên thị trường chứng khoán.
Hành vi đám đông là một hướng nghiên cứu tương đối mới tại Việt Nam hiện nay. Có rất ít nghiên cứu liên quan đến hành vi đám đông trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam. Việc kiểm tra sự tồn tại của hành vi đám đông trên thị trường là cần thiết và xuất phát từ tác động của nó đối với thị trường chứng khoán nói riêng và hệ thống tài chính nói chung. Từ đó, cơ sở lý thuyết về hành vi và thực tế giao dịch thị trường sẽ được vận dụng để giải thích cho các kết quả thu được về những tồn tại trên thị trường chứng khoán Việt Nam có liên quan đến hành vi đám đông, qua đó đưa ra các khuyến nghị cho nhà đầu tư cũng như đề xuất những giải pháp về mặt chính sách điều hành để hạn chế các tác động tiêu cực liên quan hành vi trên thị trường.
1.2. Sự cần thiết của việc nghiên cứu hành vi đám đông
Sự tồn tại của hành vi đám đông trong một thị trường cũng được cho là có thể gây ra sự gián đoạn đối với tính ổn định của thị trường (Demirer và Kutan, 2006). Các hành vi chạy theo đám đông có thể dẫn đến sai sót trong việc định giá tài sản và sẽ làm cho thị trường bất ổn hơn (Lao và Singh, 2011). Nhà đầu tư nhỏ lẻ thường xuyên đối mặt với tình trạng thiếu thông tin và không đủ kiến thức về tài chính sẽ dễ bị chi phối theo hiệu ứng đám đông trên thị trường. Theo thống kê của Ủy ban chứng khoán Nhà nước thì số trường hợp vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán có chiều hướng gia tăng qua các năm, số trường hợp xử phạt vi phạm năm 2019 đã tăng khoảng 30% so với năm 2018. Nghiên cứu của Trần (2020) nên ra việc xử lý các vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng khoán là chưa hiệu quả, nhiều vụ nghi vấn nhưng không xác định được vi phạm hoặc xác định được nhưng hình thức xử lý rất nhẹ. Điều này cho thấy hàng loạt vi phạm về công bố thông tin, giao dịch bất hợp pháp, thao túng giá cùng với khung pháp lý chưa đủ sức chế tài khiến thị trường thiếu sự minh bạch và kém hiệu quả hơn. Bikhchandani và cộng sự (1992) cho rằng sự không minh bạch của thị trường là một trong những lý do chính dẫn đến gia tăng hiệu ứng đám đông.
Theo công bố “Thông tin từ hoạt động ngân hàng trong tuần từ 28-31/12/2020” của Ngân hàng Nhà nước”, “Mặt bằng lãi suất tiền gửi bằng VND của TCTD có xu hướng giảm so với cuối năm 2019. Hiện lãi suất tiền gửi bằng VND phổ biến ở mức 0,1-0,2%/năm đối với tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn dưới 1 tháng; 3,2-3,9%/năm đối với tiền gửi có kỳ hạn từ 1 tháng đến dưới 6 tháng”. Thực tế thị trường tại Việt Nam cho thấy, khi lãi suất huy động năm 2020, 2021 của các Ngân hàng thương mại Việt Nam giảm sâu, một lượng tiền đầu tư lớn giải ngân vào thị trường chứng khoán như là một kênh thay thế cho gửi tiết kiệm. Trong khi đó, theo số liệu từ Trung tâm lưu ký chứng khoán, tháng 12/2021 “là tháng có số tài khoản nhà đầu tư trong nước mở mới cao nhất trong lịch sử, tăng hơn 6.000 tài khoản so với tháng kỷ lục trước đó. Đây cũng là tháng thứ 10 liên tiếp số tài khoản mở mới của cá nhân trong nước duy trì ở mức trên 100.000 mỗi tháng và là tháng thứ 2 liên tiếp có trên 200.000 tài khoản được mở mới.” Thị trường chứng khoán Việt Nam liên tiếp lập kỷ lục về giá trị thanh khoản và số tài khoản mở mới. Điều đó cho thấy, số lượng lớn nhà đầu tư sẵn sàng đi theo xu hướng của dòng tiền trên thị trường, dễ dàng ra các quyết định đầu tư theo số đông cho dù hạn chế về thông tin cũng như kiến thức liên quan. Điều này khiến cho giá chứng khoán tăng cao vượt giá trị định giá cơ bản và gây rủi ro cao cho các nhà đầu tư.
Xem xét ba mã cổ phiếu được lựa chọn ngẫu nhiên thuộc ba ngành nghề kinh doanh khác nhau gồm xây dựng (HBC: Công ty cổ phần Tập đoàn Xây dựng Hoà Bình), hóa chất (HAI: Công ty Cổ phần Nông dược H.A.I) và sản xuất công nghiệp (AAA: Công ty Cổ phần Nhựa An Phát Xanh) sau đây để thấy rõ một tình huống điển hình là giá trị thị trường của chứng khoán hoàn toàn không đi theo cách định giá cơ bản mà phụ thuộc vào hành vi của nhà đầu tư trên thị trường.
Bảng 1: Số liệu tổng hợp mã cổ phiếu HBC, HAI, AAA
(Đơn vị: nghìn đồng) Luận văn: Tác động hành vi đám đông lên thị trường chứng khoán.
| Mã chứng khoán | 31/12/2019 | 31/12/2020 | 31 /12/20 | 21 | |||
| EPS | Giá thị trường | EPS | Giá thị trường | EPS | Giá thị trường | P/E | |
| HBC | 1.928 | 10.7 | 0.374 | 16.05 | 0.441 | 30.25 | 68.59 |
| HAI | 0.083 | 2.82 | 0.032 | 2.92 | 0.037 | 8.1 | 217.63 |
| AAA | 2.69 | 12.7 | 1.367 | 14.4 | 1.042 | 20.2 | 19.39 |
Nguồn số liệu: tổng hợp từ www.vietstock.vn
- EPS (Earning per share): Mức lợi nhuận kiếm được từ một đơn vị cổ phiếu
- P/E (Price to Earning ratio): Mức tỷ số phản ánh giá chứng khoán trên thu nhập
Số liệu tổng hợp cho thấy rằng EPS của 3 doanh nghiệp trên giảm mạnh qua ba năm từ 2019 đến 2021, HBC giảm 77%, HAI giảm 55% và AAA giảm 61%. Tuy nhiên, giá thị trường của những cổ phiếu lại thể hiện điều ngược lại, tất cả đều tăng rất cao và bất hợp lý HBC tăng 183%, và HAI tăng 187% và AAA tăng 59%. Đáng chú ý là tỷ số P/E của doanh nghiệp ở mức rất cao, vượt trội so với P/E bình quân ngành, (xây dựng: 11.45, hóa chất: 8.61, sản xuất công nghiệp: 12.3, nguồn dữ liệu: Điều này hoàn toàn không phù hợp tình hình kinh doanh với lợi nhuận sụt giảm nghiêm trọng và triển vọng không khả quan của công ty. Đây là ba cổ phiếu được xếp vào nhóm đầu cơ với biên độ giao động giá lớn, thanh khoản luôn ở mức cao thể hiện sự quan tâm của nhà đầu tư đối với những cổ phiếu này. Mặc dù tình hình kinh doanh rất không khả quan nhưng giá chứng khoán lại tăng cao gấp nhiều lần, điều đó cho thấy có sự tác động từ đám đông nhà đầu tư muốn tìm kiếm mức tỷ suất sinh lợi vượt trội, đẩy giá cổ phiếu vượt xa giá trị định giá cơ bản, rủi ro đối với nhóm cổ phiếu này cũng rất cao.
Vì vậy, nghiên cứu về hiệu ứng đám đông cũng như tác động của hiệu ứng này lên từng nhóm cổ phiếu khác nhau trong từng điều kiện thị trường là cần thiết, từ đó giúp các nhà đầu tư cá nhân lẫn tổ chức có sự chọn lọc thông tin đúng đắn và đưa ra quyết định mà không phụ thuộc vào các hành vi không chắc chắn trên thị trường.
Luận văn này cung cấp một cơ sở khoa học mang tính tham khảo cho các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán và các nhà quản lý hoạch định chính sách. Đầu tiên, cần khẳng định hiệu ứng đám đông là có tồn tại trên thị trường và không thể loại bỏ hoàn toàn. Do đó, nhà đầu tư cần tích lũy kiến thức và khả năng phân tích thông tin để đưa ra quyết định đầu tư hợp lý, tránh chạy theo đám đông và đưa ra các quyết định sai lầm.
1.3. Mục tiêu nghiên cứu Luận văn: Tác động hành vi đám đông lên thị trường chứng khoán.
Nghiên cứu này có mục tiêu chính là xem xét tác động của hành vi đám đông lên thị trường chứng khoán Việt Nam giai đoạn từ 01/01/2007 đến 31/12/2020. Từ đó, đưa ra các khuyến nghị cho nhà đầu tư và nhà hoạch định chính sách nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực của hành vi đám đông lên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Để xem xét tác động của tâm lý đám đông trên thị trường, nghiên cứu này sẽ đánh giá từng khía cạnh theo ba mục tiêu cụ thể như sau.
Thứ nhất, tiến hành xem xét tác động của hành vi đám đông lên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Thứ hai, đánh giá tác động của hành vi đám đông trong từng nhóm danh mục riêng biệt dưới các điều kiện thị trường khác nhau trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Các điều kiện thị trường bao gồm: thị trường tổng hợp, thị trường đang tăng điểm và thị trường giảm điểm. Phân nhóm danh mục dựa trên giá trị vốn hóa và tỷ số giá sổ sách trên giá thị trường
Cuối cùng, dựa trên kết quả thực nghiệm là cơ sở để đưa ra các khuyến nghị cho nhà đầu tư và nhà hoạch định chính sách nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực của hành vi đám đông lên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Từ mục tiêu cụ thể trình bày như trên, nghiên cứu này đặt ra các câu hỏi nghiên cứu như sau:
- Có sự tác động của hành vi đám đông lên thị trường chứng khoán Việt Nam hay không?
- Độ tác động của hành vi đám đông trong từng nhóm danh mục dưới các điều kiện thị trường khác nhau lên thị trường chứng khoán Việt Nam như thế nào?
- Các khuyến nghị nào cho nhà đầu tư và nhà hoạch định chính sách cần đưa ra nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực của hành vi đám đông lên thị trường chứng khoán Việt Nam?
1.4. Khái quát về phương pháp nghiên cứu
Có nhiều phương pháp để kiểm tra hành vi của đầu tư trên thị trường chứng khoán. Một phương pháp thường hay sử dụng để nghiên cứu tài chính hành vi là kết hợp giữa định lượng và định tính. Theo đó, phương pháp định lượng được thực hiện bằng cách phát hành một bản khảo sát với các câu hỏi được đề xuất liên quan đến từng loại hành vi của nhà đầu tư trên thị trường, các câu trả lời sẽ được thu thập trực tiếp từ các nhà đầu tư và cá nhân trên thị trường. Thông qua việc phân tích số liệu khảo sát để xác định được hành vi và các quyết định liên quan của nhà đầu tư. Ngoài ra phương pháp định tính sẽ được áp dụng kèm theo thông qua việc giải thích và phân tích các quyết định của số đông nhà đầu tư dựa trên lý thuyết và kinh nghiệm.
Mục tiêu của nghiên cứu này sẽ chỉ tập trung xem xét hành vi đám đông trên thị trường chứng khoán, vì vậy phương pháp tiếp cận bằng nghiên cứu định lượng sẽ được áp dụng. Tuy nhiên, nghiên cứu sẽ không theo hướng phát hành câu hỏi khảo sát, thay vào đó sẽ áp dụng mô hình hồi quy phi tuyến tính dựa trên dữ liệu lịch sử trên thị trường để phát hiện sự tồn tại của hành vi đám đông và mức độ của nó. Phương pháp này hoàn toàn phù hợp và có độ chính xác cao vì dựa trên dữ liệu lịch sử chính xác.
Ngoài ra, nó còn có ưu điểm lớn là tiết kiệm thời gian và nguồn lực rất nhiều so với phương pháp truyền thống là phát hành bản câu hỏi khảo sát. sẽ đám đông trên thị trường đã được các nhà nghiên cứu sử dụng. Luận văn: Tác động hành vi đám đông lên thị trường chứng khoán.
Có nhiều nghiên cứu về hành vi đám đông trên thị trường tài chính, nhiều nghiên cứu tập trung vào phân loại các hành vi, trong khi nhiều lý thuyết khác lại chỉ ra tác động của hiệu ứng đám đông lên hệ thống tài chính. Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã đưa ra mô hình đo lường hành vi đám đông ví dụ như: mô hình của Lakonishok, Schleifer và Vishny (1991), mô hình của Christie và Huang (1996), mô hình của Chang và cộng sự (2000), mô hình của Huang và Salmon (2001)… Trong phạm vi của luận văn này, mô hình của Chang và cộng sự (2000) được lựa chọn để đo lường mức độ hành vi đám đông trong từng điều kiện thị trường.
Tại Việt Nam, có nghiên cứu cho thấy bằng chứng về sự tồn tại của hành vi đám đông trên thị trường chứng khoán nhưng chưa có nghiên cứu nghiên cứu thực nghiệm nào xem xét từng mức độ hành vi trong từng nhóm cổ phiếu sắp xếp theo quy mô và tỷ số giá trị sổ sách trên giá thị trường cho từng điều kiện thị trường cụ thể.
1.5. Dữ liệu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu chính là hành vi đám đông trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Vì thế không gian nghiên cứu sẽ bao gồm tất cả các doanh nghiệp niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh.
Về thời gian nghiên cứu, dữ liệu sẽ được tập hợp trong giai đoạn từ 01/01/2007 đến 31/12/2020. Đây là giai đoạn có sự biến động mạnh của chỉ số chứng khoán tại thị trường Việt Nam, từ sự bùng nổ và đi lên của thị trường từ năm 2007 khi mà chỉ số Vnindex có lúc đạt trên 1200 điểm, ngay sau đó là giai đoạn đi xuống do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế vào 2008, tác động tiêu cực kéo dài nhiều năm về sau phản ánh lên chỉ số Vnindex có thời điểm tiệm cận 300 điểm. Giai đoạn sau này cũng chứng kiến sự biến động với biên độ lớn của thị trường khi kinh tế phục hồi và phát triển cũng như tác động tiêu cực của đại dịch ảnh hưởng chung đến nền kinh tế toàn cầu. Số lượng mẫu giai đoạn này bao quát nhiều thời điểm biến động của thị trường, vì thế sẽ phản ánh kết quả có sức thuyết phục cao.
Dữ liệu nghiên cứu:
- Sử dụng dữ liệu giá chứng khoán niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
- Tỷ số giá trị sổ sách trên giá thị trường của tất cả chứng khoán niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
- Vốn hóa thị trường của tất cả chứng khoán niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh.
1.6. Đóng góp của luận văn Luận văn: Tác động hành vi đám đông lên thị trường chứng khoán.
Nghiên cứu này góp phần cung cấp một cơ sở khoa học mang tính tham khảo về tác động của hành vi đám đông trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Kết quả nghiên cứu khẳng định rằng hiệu ứng đám đông là có tồn tại trên thị trường và không thể loại bỏ hoàn toàn. Ngoài ra, kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nhóm danh mục phân loại theo giá trị vốn hóa và mức định giá nào sẽ chịu tác động của hành vi đám đông mạnh hơn trong từng điều kiện thị trường đang lên hoặc đang giảm điểm cụ thể. Các kết quả thu được sẽ được thảo luận và giải thích dựa trên lý thuyết về tài chính hành vi và thực tế giao dịch trên thị trường. Từ đó, nghiên cứu cũng là tài liệu tham khảo cho các nhà đầu tư, các cơ quan quản lý nhằm giảm bớt hiệu quả tiêu cực của hiệu ứng đám đông, góp phần giúp thị trường giao dịch hiệu quả hơn.
1.7. Bố cục luận văn
Các phần tiếp theo của nghiên cứu này được tổ chức theo bố cục như sau:
chương 2 tổng quan lý thuyết và các kết quả nghiên cứu trước về tâm lý đám đông trên thị trường tài chính; chương 3 giới thiệu phương pháp và mô hình nghiên cứu được sử dụng; chương 4 trình bày các kết quả nghiên cứu và chương cuối là kết luận và các khuyến nghị đề xuất cho nhà đầu tư cũng như cơ quan quản lý. Nội dung cụ thể sẽ gồm các chương sau:
- Chương 1: Giới thiệu
- Chương 2: Tổng quan về cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước có liên quan.
- Chương 3: Phương pháp và mô hình nghiên cứu
- Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
- Chương 5: Kết luận và kiến nghị
- Kết luận chương 1
Với sự phát triển và tăng trưởng không ngừng của thị trường chứng khoán Việt Nam, nghiên cứu hành vi đám đông đóng góp một phần quan trọng trong việc giải thích sự tăng giảm không theo quy luật của thị trường. Chương 1 khảo cứu các nghiên cứu cả trong và ngoài nước về tác động tiêu cực của hành vi đám đông, để chứng minh rằng sự tồn tại của hành vi đám đông tác động tiêu cực đến tính ổn định của thị trường, hay tác động từ đám đông nhà đầu tư sẽ đẩy giá cổ phiếu vượt xa định giá cơ bản, qua đó thấy được sự cần thiết của nghiên cứu. Từ đó đề xuất mục tiêu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và phương pháp thực hiện cho luận văn. Kết quả của nghiên cứu đóng góp một nguồn tham khảo đáng tin cậy cho nhà đầu tư cũng cơ quan quản lý để thị trường giao dịch hiệu quả hơn.
Chương 2: Tổng quan về cơ sở lý thuyết và các kết quả nghiên cứu trước có liên quan Luận văn: Tác động hành vi đám đông lên thị trường chứng khoán.
2.1. Lý thuyết về tài chính hành vi
Barberis và Thaler (2005) đã hệ thống hóa các nghiên cứu về tài chính hành vi và đưa ra khái niệm cơ bản. Theo đó, tài chính hành vi là một lĩnh vực thuộc kinh tế học hành vi, nó dựa trên tâm lý học để đề xuất các lý thuyết, giải thích các sự kiện bất thường trên thị trường chứng khoán, ví dụ như sự tăng giảm không theo quy luật của giá cổ phiếu, các hành vi bán tháo của nhà đầu tư, hay đơn giản giá trị cổ phiếu bị định giá cao mặc dù doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả. Phần lớn các lý thuyết về kinh tế và tài chính truyền thống thường dựa trên giả định rằng hành động của nhà đầu tư là phù hợp với thị trường thông qua phân tích tất cả thông tin sẵn có trong quá trình ra quyết định. Trong khi đó, tài chính hành vi không dựa trên giả định này mà khám phá cách các nhà đầu tư thực sự hành động trên thị trường bằng cách cố gắng quan sát và giải thích. Không phải ai cũng có đủ kiến thức cũng như thông tin để thực hiện các phân tích tổng hợp trước khi ra quyết định đầu tư hoặc khi có đủ thông tin thì nỗ lực phân tích cũng sẽ tốn rất nhiều thời gian và công sức để đưa ra quyết định hợp lý, vì thế mà nhiều quyết định được đưa ra trong điều kiện không chắc chắn. Cách tiếp cận này trái ngược với các lý thuyết truyền thống về ra quyết định tài chính.
Kahneman và Tversky (1979) đưa ra lý thuyết triển vọng mô tả về cách con người ra quyết định trong điều kiện không chắc chắn và có xác suất rủi ro. Theo đó, khi mọi người phải đối mặt với các tình huống ra quyết định phức tạp đòi hỏi thời gian và công sức đáng kể, họ gặp khó khăn trong việc đưa ra lựa chọn phù hợp trong vô số trường hợp có thể xảy ra của một vấn đề. Đối mặt với sự không chắc chắn và lượng thông tin dồi dào để xử lý, các cá nhân có thể không mô tả vấn đề một cách có hệ thống, ghi lại dữ liệu cần thiết hoặc tổng hợp thông tin để tạo ra các quy tắc đưa ra quyết định. Thay vào đó, nhà đầu tư có thể chọn cách tiếp cận theo hướng chủ quan hơn bằng cách dựa vào trí nhớ, phán đoán và sở thích của chính bản thân để đưa ra quyết định phù hợp nhất. Vì thế mà người ra quyết định có thể không có thời gian cũng như khả năng đi đến một quyết định hoàn toàn tối ưu. Các cá nhân cố gắng đưa ra quyết định đúng đắn bằng cách đơn giản hóa các lựa chọn có sẵn và loại bỏ một số lựa dựa trên kinh nghiệm và sở thích của bản thân. Họ chấp nhận một giải pháp khả thi và đủ tốt đối với họ hơn là cố gắng tìm ra câu trả lời tối ưu. Vì vậy, nhà đầu tư có thể vô tình làm sai lệch quá trình ra quyết định. Những sai lệch này có thể dẫn đến những hành vi và quyết định không hợp lý.
Bằng cách nghiên cứu các sai lệch về hành vi, các nhà đầu tư có thể cải thiện hiệu quả kinh tế đầu ra. Để làm được điều này, nhà đầu tư phải tìm hiểu và xác định sai lệch hành vi của chính bản thân cũng như của những người khác trên thị trường. Khi đã xác định được có sự sai lệch về hành vi, nhà đầu tư hoàn toàn có thể làm giảm, triệt tiêu các sai lệch đó hoặc thích ứng với sự sai lệch đó để các quyết định tài chính trở nên chặt chẽ và phù hợp so với giả định của tài chính truyền thống. Kết hợp kiến thức của tài chính hành vi và tài chính truyền thống có thể dẫn đến một kết quả vượt trội.
Ở phần tiếp theo, lần lượt các sai lệch liên quan đến hành vi sẽ được phân loại và trình bày để có cái nhìn khái quát về lý thuyết tài chính hành vi.
2.2. Các dạng sai lệch trong hành vi Luận văn: Tác động hành vi đám đông lên thị trường chứng khoán.
Nghiên cứu của Fernandes và cộng sự (2007) đã tổng hợp và phân loại sai lệch trong trong tài chính hành vi thành hai loại là sai lệch nhận thức và sai lệch cảm xúc. Theo tài chính hành vi sai lệch nhận thức là các lỗi cơ bản về thao tác, thống kê và xử lý thông tin khiến việc ra quyết định đi lệch khỏi các quyết định hợp lý của tài chính truyền thống. Trong khi đó, sai lệch về cảm xúc phát sinh do thái độ và cảm xúc có thể khiến quyết định đó đi chệch hướng so với các quyết định hợp lý của tài chính truyền thống.
Lý thuyết về hành vi cũng chỉ ra rằng sai sót về nhận thức dễ dàng sửa chữa hơn sai lệch về cảm xúc. Mọi người hoàn toàn có thể điều chỉnh hành vi hoặc sửa đổi các quy trình của họ nếu xác định được nguồn gốc vấn đề do sai lệch về nhận thức bằng cách nâng cao kiến thức hoặc chứng minh được cách hiểu của họ là sai. Một khi họ nhận thấy sự sai sót thì sẽ dễ dàng tự động điều chỉnh hành vi cho phù hợp. Do đó lỗi nhận thức bắt nguồn từ thông tin hoặc suy luận sai lầm thì thông qua giáo dục để nâng cao kiến thức hoặc tiếp thu được lời khuyên đúng đắn thì có thể giúp chúng ta sửa đổi được. Vì thế, hầu hết các sai lệch về nhận thức hoàn toàn có thể được kiểm soát được để giảm thiểu ảnh hưởng trong quá trình ra quyết định.
Trong khi đó, cảm xúc là một trạng thái tinh thần phát sinh một cách tự phát chứ không phải thông qua nỗ lực để có được như ý thức. Do đó, sai lệch về cảm xúc cũng bắt nguồn từ sự bộc phát thông qua trực giác của chính bản thân, đôi khi những phán đoán này là thiếu căn cứ. Vì thế, những gì liên quan đến cảm xúc thì khó có thể sửa chữa hơn. Trong thế giới đầu tư, cảm xúc có thể khiến các nhà đầu tư đưa ra những quyết định không tối ưu.
Phân biệt rõ nhận thức và cảm xúc sẽ giúp nhà đầu tư xác định khi nào và làm sao để điều chỉnh những sai lệch về hành vi trong quá trình ra quyết định tài chính. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng một sai lệch hành vi cụ thể cũng có thể có cả một số khía cạnh chung của cả nhận thức và cảm xúc. Trong khuôn khổ nghiên cứu này sẽ không đi sâu vào phân tích tác động của nhiều sai lệch trong một hành vi cụ thể. Nghiên cứu này sẽ trình bày lý thuyết về một số sai lệch được công nhận nhiều hơn trong khuôn khổ nhận thức – cảm xúc. Luận văn: Tác động hành vi đám đông lên thị trường chứng khoán.
2.3. Sai lệch nhận thức
Thuật ngữ “sai lệch nhận thức” (cognitive bias) lần đầu tiên được đưa ra bởi Kahneman và Tversky (1979), hai nhà tâm lý học người Israel. Sai lệch về nhận thức được phân thành hai loại chính là sai lệch kiên trì về niềm tin và lỗi xử lý.
Sự kiên trì về niềm tin là xu hướng hành động dựa vào niềm tin đã khắc sâu trong tâm trí của một người một cách phi lý hoặc phi logic. Loại sai lệch nhận thức thứ hai liên quan đến “lỗi xử lý”, mô tả cách thông tin có thể được xử lý và sử dụng một cách phi lý hoặc phi lý trong quá trình ra quyết định tài chính. Có tất cả chín sai lệch về nhận thức được phân thành hai loại như trên, bao gồm:
Sai lệch kiên trì về niềm tin gồm các lỗi: tính bảo thủ, tính xác nhận, tính đại diện, ảo tưởng về khả năng kiểm soát và nhận thức muộn.
Lỗi xử lý gồm các lỗi: neo và điều chỉnh, kế toán nhận thức, đóng khung tâm lý và định kiến sẵn có.
2.3.1. Sai lệch kiên trì về niềm tin
Những sai lệch về lòng tin kiên trì có liên quan mật thiết đến khái niệm tâm lý về sự bất hòa nhận thức được Anderson và cộng sự (1980) đưa ra thảo luận. Theo đó sự bất hòa về nhận thức là sự khó chịu về mặt tinh thần xảy ra khi thông tin mới xung đột với niềm tin hoặc nhận thức đã tồn tại trước đó. Để giải quyết sự bất hòa này, con người chỉ tiếp nhận thông tin mà mình quan tâm, bỏ qua hoặc sửa đổi thông tin mâu thuẫn với nhận thức hiện tại, hoặc chỉ nhớ và xem xét thông tin đúng với nhận thức hiện có. Các khía cạnh của những hành vi này được phân loại trong nhóm sai lệch kiên trì về niềm tin bao gồm tính bảo thủ, tính xác nhận, tính đại diện, ảo tưởng về khả năng kiểm soát và nhận thức muộn màng.
2.3.1.1. Tính bảo thủ
Edwards (1968) đã đưa ra khái niệm về tính bảo thủ trong thí nghiệm của mình. Theo đó, sai lệch do tính bảo thủ là sai lệch về sự kiên trì về niềm tin, trong đó con người duy trì quan điểm của họ bằng cách kết hợp không đầy đủ thông tin mới. Sự thiên lệch này có các khía cạnh của cả lỗi thống kê và xử lý thông tin. Chủ nghĩa bảo thủ làm cho các cá nhân tin rằng xác suất và khả năng xảy ra của những gì họ tin tưởng là cao hơn và xem nhẹ các thông tin mới; họ thường khó thay đổi niềm tin và hành động của mình trong phạm vi được chứng minh một cách hợp lý bởi thông tin mới. Do sai lệch liên quan tính bảo thủ, các nhà đầu tư có thể phản ứng kém hoặc không thực hiện theo thông tin mới và tiếp tục duy trì niềm tin dựa trên các ước tính và thông tin trước đó. Luận văn: Tác động hành vi đám đông lên thị trường chứng khoán.
2.3.1.2. Tính xác nhận
Sai lệch về tính xác nhận là một trong những sai lệch về sự kiên trì niềm tin, trong đó con người có xu hướng tìm kiếm và chú ý đến những gì xác nhận cho niềm tin của họ, và bỏ qua hoặc đánh giá thấp những thông tin mâu thuẫn với niềm tin của họ. Đây là một phản ứng hoàn toàn tự nhiên đối với sự mâu thuẫn về nhận thức và để thuyết phục bản thân về những gì chúng ta muốn tin bằng cách đưa ra nhiều bằng chứng xác nhận niềm tin của chúng ta và bỏ qua hoặc sửa đổi các thông tin và bằng chứng mâu thuẫn. Thông tin tích cực là thông tin xác nhận và củng cố cho niềm tin của họ và ngược lại sẽ là thông tin tiêu cực nếu như mâu thuẫn hoặc bác bỏ quan điểm của họ. Nhà đầu tư nếu có hành vi sai lệch liên quan tính xác nhận sẽ thiên vị thông tin tích cực và bỏ qua thông tin tiêu cực đối với họ.
2.3.1.3. Tính đại diện
Sai lệch liên quan tính đại diện là một dạng sai lệch về sự kiên trì niềm tin, trong đó con người có xu hướng phân loại thông tin mới dựa trên kinh nghiệm của bản thân để tạo ra một khung tham chiếu đại diện phù hợp. Khi đối mặt với thông tin mới, họ gán những thông tin này vào các lớp đã được phân loại trong khung tham chiếu để đưa ra các quyết định tương ứng. Sự sai lệch này xảy ra khi con người cố gắng hợp lý hóa các thông tin để phù hợp với các nhóm đã được phân lạo dựa trên kinh nghiệm của chính bản thân. Mặc dù đây có vẻ là một mô hình thích hợp để xử lý thông tin mới, nhưng nó có thể dẫn đến các lỗi xử lý thông tin và thống kê. Thông tin mới về bề ngoài giống hoặc đại diện cho các yếu tố quen thuộc đã được phân loại, nhưng trên thực tế nó có thể rất khác. Trong những trường hợp này, phản xạ phân loại đánh lừa mọi người, tạo ra sự hiểu biết không chính xác thường tồn tại và làm sai lệch mọi suy nghĩ trong tương lai về thông tin.
2.3.1.4. Ảo tưởng khả năng kiểm soát
Theo Langer (1975), ảo tưởng về sự kiểm soát được định nghĩa là kỳ vọng của một người vào xác suất thành công cao hơn xác suất khách quan một cách không hợp lý. Ảo tưởng về khả năng kiểm soát là một sai lệch trong đó con người có xu hướng tin rằng họ có thể kiểm soát hoặc ảnh hưởng đến kết quả trong khi thực tế là họ không thể. Đây là một dạng sai lệch làm hạn chế việc ra quyết định hợp lý của con người. Sai lệch này làm cho con người tin rằng họ có khả năng kiểm soát kết quả đầu ra hơn so với thực tế. Nhưng thực tế thì không như vậy, đơn giản là chúng ta thường đánh giá quá cao khả năng của mình trong việc kiểm soát kết quả đầu ra trong thực tế.
2.3.1.5. Nhận thức muộn
Sai lệch về nhận thức muộn là một hiện tượng tâm lý trong đó mô tả con người có xu hướng biết trước kết quả sau khi nó đã xảy ra, hay nói cách khác là chỉ dự đoán được kết quả sau khi nó xảy ra. Hành vi này dựa trên một thực tế rằng con người có xu hướng xem những điều đã xảy ra là tất nhiên không thể tránh khỏi và đã được dự đoán trước, nhưng thực tế lại không phải vậy. Khi một sự vật hiện tưởng xảy ra, họ có xu hướng nhìn lại quá khứ, tìm kiếm những bằng chứng, sự kiện mà họ muốn tin tưởng để lấp đầy khoản trống trong lập luận là đã đoán trước được kết quả xảy ra. Khi sai lệch này diễn ra thường xuyên thì con người dần dần ngăn cản chính bản thân học hỏi từ quá khứ vì nghĩ rằng đã biết và kiểm soát được vấn đề.
2.3.2. Lỗi xử lý Luận văn: Tác động hành vi đám đông lên thị trường chứng khoán.
Loại thứ hai trong sai lệch nhận thức bao gồm lỗi hoặc sai lệch trong việc xử lý thông tin. Atkinson và Shiffrin (1968) gắn liền với lý thuyết xử lý thông tin nhận thức. Hai nhà khoa học này đề xuất một lý thuyết nhiều giai đoạn của trí nhớ trong nghiên cứu về trí nhớ con người, họ giải thích rằng kể từ khi hệ thống xử lý nhận được thông tin, nó sẽ trải qua các giai đoạn khác nhau để được lưu trữ đầy đủ. Họ chia nhỏ điều này thành trí nhớ giác quan, trí nhớ ngắn hạn và trí nhớ dài hạn. Các sai lệch trong xử lý thông tin dẫn đến việc thông tin được xử lý và sử dụng một cách không đúng hoặc không hợp lý. Trái ngược với sai lệch về sự kiên trì niềm tin, những thành kiến này ít liên quan đến sai sót của trí nhớ mà chủ yếu liên quan đến cách xử lý thông tin.
2.3.2.1. Neo và điều chỉnh
Dạng sai lệch neo và điều chỉnh là sai lệch liên quan đến xử lý thông tin, trong đó việc sử dụng tâm lý dựa trên kinh nghiệm ảnh hưởng đến cách con người ước lượng xác suất. Khi được yêu cầu ước lượng một giá trị có độ lớn không xác định, chúng ta thường bắt đầu bằng cách xác định một số mặc định ban đầu, hay nói cách khác là neo một giá trị mặc định và tiếp tục điều chỉnh lên hoặc xuống để phản ánh thông tin tiếp theo có và phân tích được. Phương án neo và điều chỉnh là phương án tốt bởi vì đặt giá trị ước tính ban đầu và thường xuyên điều chỉnh tăng độ chính xác so với định một số liệu tuyệt đối.
Tuy nhiên, bất kể giá trị neo ban đầu là bao nhiêu, con người thường có xu hướng điều chỉnh giá trị đó không phản ánh đầy đủ để tạo ra các giá trị gần đúng cuối cùng, vì thế mà sai lệch xảy ra. Sai lệch này có liên quan mật thiết đến sai lệch do tính bảo thủ. Theo khuynh hướng của tính bảo thủ thì thông tin quá khứ được đánh giá cao hơn so với thông tin mới.
2.3.2.2. Kế toán nhận thức
Sai lệch kế toán nhận thức là một dạng lỗi xử lý thông tin trong đó mọi người xử lý một khoản tiền khác với một khoản tiền có quy mô tương đương dựa trên tài khoản kế toán mà khoản tiền đó được chỉ định. Thaler (1980) mô tả kế toán nhận thức là một quá trình trong đó con người phân loại và đánh giá kết quả kinh tế bằng cách nhóm tài sản của họ vào các tài khoản kế toán không thể thay thế. Hay nói cách khác, họ thường phân loại tiền vào các nhóm tài khoản có mục đích sử dụng khác nhau, từ đó đưa ra các quyết định chi tiêu hay đầu tư trong mức hợp lý. Sai lệch kế toán nhận thức xảy ra khi nhà đầu tư tách biệt các tài sản này một cách rời rạc mà không quan tâm đến sự tương quan giữa các tài sản này. Vì thế họ có thể phải bỏ qua các cơ hội để giảm thiểu rủi ro bằng cách kết hợp các tài sản có mức độ tương quan thấp dẫn đến hiệu suất danh mục đầu tư không tối ưu.
2.3.2.3. Đóng khung tâm lý Luận văn: Tác động hành vi đám đông lên thị trường chứng khoán.
Đóng khung tâm lý là một dạng xử lý thông tin trong đó một người có thể trả lời một câu hỏi theo cách khác nhau dựa trên cách mà câu hỏi đó được đặt ra. Thông tin được xử lý như thế nào phụ thuộc vào cách đóng khung câu hỏi. Khung quyết định là quan niệm chủ quan của người ra quyết định về các hành vi, kết quả và các trường hợp bất thường liên quan đến một lựa chọn cụ thể. Khung mà người ra quyết định áp dụng được kiểm soát một phần bởi việc hình thành vấn đề và một phần bởi các tiêu chuẩn, thói quen và đặc điểm cá nhân của người ra quyết định. Ví dụ, một nhà đầu tư được tư vấn lựa chọn hai danh mục đầu tư A và B, hai danh mục này giống nhau về rủi ro và lợi tức kỳ vọng, chỉ khác nhau loại tài sản đầu tư. Nhà đầu tư được cho biết rằng danh mục đầu tư A cung cấp 70% cơ hội đạt được các mục tiêu tài chính, và danh mục đầu tư B cung cấp 30% cơ hội không đạt được các mục tiêu tài chính. Nhà đầu tư có khả năng chọn danh mục đầu tư A vì cách đóng khung câu hỏi tích cực, mặc dù danh mục B là loại tài sản mà nhà đầu tư mong muốn.
2.3.2.4. Định kiến sẵn có
Định kiến sẵn có là một xu hướng xử lý thông tin trong đó con người áp dụng phương pháp tự nghiệm để ước tính xác suất của một kết quả dựa trên mức độ dễ dàng xuất hiện trong đầu của kết quả. Những kết quả dễ nhớ lại thường được coi là có nhiều khả năng xảy ra hơn những kết quả khó nhớ hoặc khó hiểu hơn. Mọi người thường vô thức cho rằng những suy nghĩ, ý tưởng hoặc hình ảnh có sẵn đại diện cho các ước tính mà mình mong muốn, vì thế mà không khách quan trong việc xử lý thông tin. Mọi người quyết định xác suất của một sự kiện bằng cách họ có thể dễ dàng nhớ lại ký ức về sự kiện đó như thế nào. Vì thế mà sai lệch xuất hiện khi trí nhớ của họ không hoàn toàn chính xác hoặc các sự kiện xuất hiện gần đây thường được nhớ và ưu tiên hơn.
2.4. Sai lệch về cảm xúc
Cảm xúc không có định nghĩa duy nhất được chấp nhận rộng rãi, nhưng một cảm xúc có thể được coi là một trạng thái tinh thần phát sinh một cách tự phát chứ không phải thông qua nỗ lực có ý thức. Do phát sinh một cách bộc phát nên các cảm xúc có thể phát sinh một cách không mong muốn đối với các cá nhân cảm nhận chúng. Vì thế mà rất khó để kiểm soát cảm xúc và phản ứng với nó. Những sai lệch về cảm xúc khó sửa chữa hơn những sai sót về nhận thức vì chúng bắt nguồn từ sự bốc đồng hoặc trực giác và không suy tính so với những tính toán thuộc về nhận thức. Trong trường hợp sai lệch cảm xúc xảy ra, cách tốt nhất là cố gắng nhận diện ra sự sai lệch đó và thích ứng với nó hơn là sửa chữa nó.
Cảm xúc liên quan đến cách con người cảm thấy hơn là những gì và cách họ nghĩ, do đó nó hiếm khi được xác định và ghi lại trong quá trình ra quyết định. Những sai lệch về cảm xúc có thể khiến các nhà đầu tư thực hiện những hành động và quyết định không tối ưu. Có tất cả sáu sai lệch liên quan đến cảm xúc lần lược được mô tả sau đây, bao gồm: lo ngại mất mát, quá tự tin, tự kiểm soát, định kiến nguyên trạng, sự sở hữu và lo ngại hối tiếc.
2.4.1. Lo ngại mất mát Luận văn: Tác động hành vi đám đông lên thị trường chứng khoán.
Sai lệch về lo ngại mất mát được đưa ra bởi Kahneman và Tversky (1979) khi đang nghiên cứu phát triển lý thuyết triển vọng. Theo lý thuyết triển vọng, thành kiến lo ngại mất mát là một sai lệch trong đó con người có xu hướng tìm cách để tránh thua lỗ hơn là đạt được lợi nhuận. Về mặt tâm lý, tổn thất có tác động mạnh hơn đáng kể so với lợi nhuận. Vì thế, lo ngại rủi ro khiến nhà đầu tư giữ lại khoản đầu tư thua lỗ của mình ngay cả khi đây là một khoản đầu tư nhỏ hoặc có rất ít cơ hội chuyển sang có lãi. Ngoài ra, sai lệch lo ngại mất mát dẫn đến việc nhà đầu tư e dè trước cơ hội được đánh giá là tiềm năng. Họ có thể hiện thực hóa lợi nhuận mặc dù chưa đạt mức lãi kỳ vọng.
2.4.2. Quá tự tin
Theo Shiller (2015), quá tự tin là một dạng sai lệch trong đó con người thể hiện niềm tin quá mức vào khả năng suy luận, phán đoán hoặc nhận thức trực quan của chính bản thân. Sự tự tin thái quá này có thể là kết quả của việc đánh giá quá cao trình độ kiến thức và khả năng tiếp cận thông tin. Ví dụ, một người có khả năng tư duy và phân tích kém, nhưng lại nghĩ là đã làm tốt vì tin rằng họ có đầy đủ kiến thức và có nhiều thông tin hơn so với thực tế. Sai lệch quá tự tin có những khía cạnh của cả sai lệch nhận thức và cảm xúc nhưng được xếp vào loại cảm xúc vì sự sai lệch này chủ yếu là kết quả của cảm xúc. Rất khó để sửa đổi vì người quá tự tin ít khi nhận thấy hạn chế về nhận thức và khả năng của mình. Trong tài chính, nhà đầu tư có hành vi sai lệch này thường đánh giá quá cao khả năng dự đoán của bản thân cũng như độ chính xác của thông tin mà họ đưa ra. Những người này khó chấp nhận thất bại và tìm cách đẩy trách nhiệm, hay nói cách khác, thành công được cho là do kỹ năng của cá nhân, trong khi thất bại được cho là do các yếu tố bên ngoài. Luận văn: Tác động hành vi đám đông lên thị trường chứng khoán.
2.4.3. Tự kiểm soát
Sai lệch tự kiểm soát là một dạng sai lệch cảm xúc trong đó con người không thể đạt được các mục tiêu dài hạn của chính bản thân do thiếu tính kỷ luật và tự giác. Trong quá trình đầu tư, luôn tồn tại sự mâu thuẫn giữa thỏa mãn lợi ích ngắn hạn và việc đạt được mục tiêu dài hạn. Ví dụ một người luôn muốn thực hiện mục tiêu là dành một khoản tiết kiệm cho việc nghỉ hưu sau này, nhưng họ sẽ gặp khó khăn trong việc cắt giảm tiêu dùng thời điểm hiện tại, nếu thiếu kiểm soát thì mục tiêu tiết kiệm để nghỉ hưu sẽ không đạt được. Khi giao dịch trên thị trường, nhà đầu tư hành động theo quy tắc riêng dựa trên kiến thức và kinh nghiệm của mình, nhưng thực tế giao dịch thường bị cảm xúc chi phối và không thực hiện theo nguyên tắc đưa ra, đó là dấu hiệu của sai lệch trong hành vi tự kiểm soát.
2.4.4. Định kiến nguyên trạng
Định kiến nguyên trạng là một dạng sai lệch cảm xúc, trong đó con người chọn không hành động, tức là giữ nguyên hiện trạng thay vì thực hiện thay đổi. Điều này xuất phát từ tâm lý đa số cảm thấy thoải mái hơn khi giữ nguyên mọi thứ hơn là thay đổi vì không chắc chắn về những cơ hội mà thay đổi mang lại. Do đó, nếu trong một tình huống mà đòi hỏi phải đưa ra quyết định thì sự lựa chọn mặc định ban đầu sẽ được ưu tiên xem xét, thay vì tìm kiếm một lựa chọn khác. Sai lệch này khiến cho nhà đầu tư ngại thay đổi, khó tiếp cận cái mới, tụt hậu so với thị trường sôi động, thay đổi từng ngày.
2.4.5. Sự sở hữu
Sai lệch về sở hữu là một dạng sai lệch về cảm xúc, trong đó con người có xu hướng đánh giá cao giá trị tài sản mà họ đang nắm giữ so với thực tế. Tâm lý mua thấp bán cao đã mặc định trong tâm trí, vì vậy giá bán tối thiểu cho một hàng hóa được định giá cao hơn giá mua đã bỏ ra. Trong lĩnh vực tài chính, sai lệch này khiến nhà đầu tư có thể nắm giữ chứng khoán một cách bất hợp lý, đặc biệt là đối với chứng khoán được thừa kế, mang giá trị tinh thần nhiều hơn. Những nhà đầu tư này thường sẽ không bán ra dù cho chứng khoán này đang đi xuống, hoặc chỉ chấp nhận bán ra khi giá trị vượt quá định giá tại thời điểm thừa kế.
2.4.6. Lo ngại hối tiếc
Thành kiến lo ngại hối tiếc là một sai lệch về cảm xúc, trong đó con người có xu hướng tránh đưa ra các quyết định cho dù là không hợp lý để tránh sự hối tiếc có thể phát sinh trong tương lai. Nói một cách đơn giản, con người cố gắng tránh né sự hối hận liên quan đến những quyết định tồi tệ. Xu hướng này đặc biệt phổ biến trong quá trình ra quyết định đầu tư. Sự chán ghét hối tiếc có thể khiến các nhà đầu tư giữ vị thế quá lâu. Họ không muốn bán vì họ sợ rằng tài sản đó sẽ tiếp tục tăng giá trị và sau đó sẽ hối tiếc vì đã bán nó.
Ở chiều ngược lại, lo ngại sự hối tiếc cũng có thể khiến các nhà đầu tư đứng ngoài thị trường đang biến động xấu. Sau khi thua lỗ, bản năng mách bảo rằng tiếp tục đầu tư là rất rủi ro. Tuy nhiên, giai đoạn giá giảm có thể mang lại cơ hội mua lớn. Lo ngại sự hối tiếc có thể thuyết phục chúng ta đứng ngoài thị trường chứng khoán và chở đợi thời điểm thích hợp đến, bỏ qua các cơ hội hiện tại. Luận văn: Tác động hành vi đám đông lên thị trường chứng khoán.
Lo ngại sự hối tiếc là khởi nguồn của hành vi đám đông trên thị trường bằng cách dẫn dắt các nhà đầu tư tránh cảm giác hối tiếc do quyết định đầu tư không tốt. Nhà đầu tư sẽ cảm thấy hối tiếc nếu phát sinh chi phí cơ hội hoặc phát sinh khoản lỗ khi không chạy theo đám đông trên thị trường. Nó không chỉ là mất mát tài chính, đó cũng là cảm giác có trách nhiệm với quyết định đã dẫn đến mất mát. Để tránh gánh nặng trách nhiệm, lo ngại sự hối tiếc có thể khuyến khích các nhà đầu tư thực hiện các hành động tương tự như đám đông trên thị trường.
Tham gia theo hành vi đám đông, các nhà đầu tư có thể cảm thấy an toàn hơn để hạn chế những hối tiếc có thể xảy ra trong tương lai. Thực tế là chúng ta sẽ cảm thấy an toàn hơn khi hành động cùng người khác. Tuy nhiên, sai lệch hành vi do lo ngại sự hối tiếc có thể dẫn đến việc thực hiện đầu tư vào cổ phiếu của các công ty không quen thuộc. Việc chọn cổ phiếu của các công ty ít quen thuộc và chưa phân tích tìm hiểu qua được coi là rủi ro hơn.
2.5. Lý thuyết về hành vi đám đông
Bắt đầu từ một khái niệm gọi là “hiệu ứng bầy cừu” được đề cập trong tác phẩm văn học cổ điển “Bầy cừu của lái buôn Panurge” của nhà văn Pháp Rabelais. Chuyện kể rằng do hiềm khích cá nhân của nhân vật Panurge và người lái buôn cừu, ông ta đã lên kế hoạch để hại người lái buôn kia. Panurge đã lên tàu có cả một bầy cừu của người lái buôn kia và giả vờ mua một con cừu, sau đó vứt nó xuống biển, con cừu dưới biển liên tục kêu lên, thu hút sự chú ý của cả bầy cừu, cả đoàn theo đó mà nhảy xuống biển. “Hiệu ứng bầy cừu” xuất phát từ đây, dùng để chỉ một người hoặc một nhóm người dù không biết chuyện gì xảy ra ở phía trước vẫn sẵn sàng hành động theo người khác, điều này có thể đúng vì khiến bản thân cảm thấy an toàn hơn khi hành động theo tập thể, tuy nhiên chỉ cần một lần thực hiện theo hành vi sai, hậu quả có thể trở nên rất xấu, tương tự như bầy cừu ở dưới biển đã bị sóng cuốn trôi. Đây là tiền đề cho thuật ngữ “tâm lý đám đông” hay “hiệu ứng đám đông” xuất hiện sau này.
Vào cuối thế kỷ 19, Gustave Le Bon một nhà khoa học người Pháp đã nghiên cứu và đặt nền móng cho tâm lý học hiện đại. Ông đã nghiên cứu về tâm lý đám đông và chỉ ra rằng, khi một người là một thành viên trong đám đông nào đó thì họ sẽ cảm thấy không có trách nhiệm và dễ bị ảnh hưởng. Không có trách nhiệm có nghĩa là khi một người ở trong đám đông, họ sẽ thực hiện các hành động theo đám đông và không có trách nhiệm kiểm soát hành vi ấy, vì lẽ ra họ sẽ không thực hiện các hành vi này nếu họ không ở trong đám đông. Dễ bị ảnh hưởng có nghĩa là khi một người ở trong đám đông, họ sẵn sàng bỏ qua niềm tin cá nhân của mình và dần dần thích nghi với niềm tin của những người khác trong tập thể.
Những ý tưởng về hiệu ứng đám đông đã có một lịch sử lâu dài trong cả triết học và tâm lý học. Bikhchandani và cộng sự (1992) đã lập luận rằng “tầng thông tin“ (Informational cascades) có thể giải thích được các hành vi lập lại theo đám đông trên rất nhiều lĩnh vực khác nhau như chính trị, khoa học, văn hóa đại chúng. Một tầng thông tin xảy ra khi nó là tối ưu cho một cá nhân, sau khi quan sát hành động của những người đi trước và làm theo hành vi của cá nhân đi trước mà không quan tâm đến thông tin của chính bản thân.
Hành vi đám đông là một thiên vị trong các tình huống điển hình của tài chính hành vi. Hành vi đám đông luôn tồn tại trong quá trình ra quyết định của nhà đầu tư, bất kể việc họ có kinh nghiệm hay không. Ảnh hưởng của loại tâm lý này càng rõ nét khi nhà đầu tư đứng trước áp lực phải đưa ra quyết định nhanh chóng, mà không có đủ thông tin cần thiết. Khi một cá nhân đối mặt với ý kiến của cả tập thể , họ có xu hướng thay đổi những câu trả lời của mình cho phù hợp với tập thể, vì họ nghĩ rằng, tất cả hành động theo tập thể thường không sai và khiến họ cảm thấy an toàn hơn.
2.6. Lý thuyết về tác động của hành vi đám đông lên thị trường chứng khoán Luận văn: Tác động hành vi đám đông lên thị trường chứng khoán.
Hành vi đám đông là một trong những hiện tượng hành vi có liên quan mật thiết đến thị trường tài chính nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng. Bikhchandani và Sharma (2001) đã định nghĩa hành vi đám đông là sự trùng lặp có chủ ý hoặc vô tình với hành vi của các nhà đầu tư khác trên thị trường chứng khoán. Đây là xu hướng bắt chước các hành vi tài chính của nhóm người chiếm đa số. Tâm lý này thường cuốn các nhà đầu tư vào “ma trận” tin đồn thị trường như cổ phiếu “nóng”, cơ hội đầu tư hấp dẫn, khiến độ rủi ro tăng lên gấp nhiều lần.
Nghiên cứu của Bikhchandani và Sharma (2001) còn phân chia hành vi đám đông thành hai loại: “hiệu ứng đám đông giả” (spurious herding) còn gọi là hiệu ứng đám đông cơ bản (fundamental herding), và “hiệu ứng đám đông có chủ ý” (intentional herding) hay còn gọi là hiệu ứng đám đông không cơ bản (non fundamental herding). Hành vi đám đông giả là hành vi mà các nhà đầu tư cùng thực hiện để phản ứng lại một hoặc nhiều thông tin hiện có trên thị trường, tức là khi có một tín hiệu hoặc thông tin được công bố trên thị trường thì nhà đầu tư đều biết mình phải làm gì để đáp ứng lại những thông tin đó, điều này dẫn đến những hành động và các quyết định tương tự nhau trên thị trường và gây ra hành vi đám đông. Ví dụ, khi tín hiệu tăng lãi suất huy động được phát ra từ ngân hàng trung ương, nhà đầu tư có xu hướng lựa chọn gửi tiết kiệm do mức lãi suất hấp dẫn hơn, vì thế sẽ bán cổ phiếu và rút tiền khỏi thị trường chứng khoán, nhiều nhà đầu tư cùng hành động tương tự tạo ra hiệu ứng đám đông giả trên thị trường. Luận văn: Tác động hành vi đám đông lên thị trường chứng khoán.
Ngược lại, hành vi “đám đông có chủ ý” lại không xuất phát từ những thông tin định hướng ban đầu mà thể hiện ý định rõ ràng của các nhà đầu tư là thực hiện theo hành vi của những người khác, cho dù họ có hay không thông tin củng cố cho quyết định của mình. Các hành vi của nhà đầu tư là sự lập lại và sao chép của nhau do tâm lý hành động theo tập thể, đứng trong tập thể sẽ khiến bản thân cảm thấy an toàn hơn, điều này dẫn đến tâm lý đám đông tồn tại trên thị trường. Có thể thấy rằng, quy mô “đám đông có chủ ý” nếu phát triển vượt mức sẽ dẫn đến các biến động thái quá và thậm chí là gây ra bất ổn định về tài chính. Trong khi đó, nếu có sự nghiên cứu để điều chỉnh một cách hợp lý, cơ quan quản lý hoàn toàn có thể tạo ra “đám đông giả” bằng cách đưa ra chính sách, thông tin định hướng để làm tăng hiệu quả của thị trường tài chính.
Banerjee (1992) khẳng định rằng hành vi đám đông là một xu hướng của một nhóm nhà đầu tư sẵn sàng sao chép hầu hết các quyết định của nhà đầu tư khác. Khi một nhóm nhà đầu tư thực hiện theo đám đông, nó có thể có tác động tích cực hoặc tiêu cực đến tỷ suất sinh lợi của chứng khoán. Giá của chứng khoán vì thế sẽ không phản ánh đúng hiện trạng thị trường dưới các điều kiện kinh tế khác nhau. Do đó, nó sẽ tạo ra một khoảng chênh lệch đáng kể giữa giá thị trường và định giá vốn có của chứng khoán, điều này dẫn đến sai lầm trong việc đánh giá rủi ro và lợi nhuận kỳ vọng của nhà đầu tư. Dễ dàng nhận thấy rằng, đám đông hành động sẽ tác động đáng kể đến cán cân cung cầu trên thị trường, làm cho giá chứng khoán vượt xa định giá cơ bản. Do đó, giá thị trường của chứng khoán trong ngắn hạn là có phản ánh hành động của đám đông nhà đầu tư. Đây cũng là cơ sở để xác định mức độ hành vi đám đông dựa trên độ phân tán của tỷ suất sinh lợi thị trường được Chang và cộng sự (2000) đề xuất. Khi có sự đồng thuận của đám đông nhà đầu tư, giá của từng chứng khoán sẽ cùng cùng hướng với biến động của toàn thị trường, khi đó độ phân tán của tỷ suất sinh lợi toàn thị trường sẽ giảm thấp. Ngược lại, khi các quyết định riêng lẻ được đưa ra, không đi theo đám đông, giá từng chứng khoán sẽ đi theo các hướng khác nhau, vì thế độ phân tán của tỷ suất sinh lợi tăng cao.
2.7. Lược khảo các nghiên cứu tại Việt Nam và trên thế giới
2.7.1 Một số nghiên cứu trước trên thế giới
Trên thế giới, nhiều nghiên cứu thực nghiệm được tiến hành để xem xét sự hiện diện của hành vi đám đông trên thị trường chứng khoán. Đặc biệt, một số nghiên cứu điều tra hiện tượng này trong bối cảnh đa thị trường (Borensztein và Gelos 2003; Chang và cộng sự 2000; Chiang và Zheng 2010; Choi và Skiba 2015; Hwang và Salmon 2001). Borensztein & Gelos (2003) nghiên cứu hành vi đám đông trong quỹ tương hỗ của 400 thị trường mới nổi và cho thấy bằng chứng quan trọng trong các điều kiện thị trường khác nhau từ giai đoạn yên bình đến khủng hoảng. Gần đây, Choi & Skiba (2015) sử dụng một tập hợp dữ liệu của các công ty theo quý bao gồm 41 quốc gia trong mẫu và ghi lại sự tồn tại của xu hướng đám đông. Một số lượng lớn nghiên cứu khác lại tập trung kiểm tra sự tồn tại của hành vi đám đông trong một thị trường cụ thể. Huang, Lin và Yang (2015) kiểm tra các mô hình hành vi đám đông dưới các danh mục IVOL khác nhau trên thị trường chứng khoán Đài Loan, điều này làm chúng ta phát hiện ra hành vi đám đông có chủ ý bằng cách so sánh các hệ số tâm lý đám đông trong các danh mục đầu tư khác nhau của IVOL. Đáng chú ý là nghiên cứu của Hilliard và Zhang (2015) đưa ra báo cáo về hành vi đám đông trong thị trường chứng khoán Trung Quốc từ giữa năm 2002 đến năm 2012, cho thấy rằng mức độ đám đông đã giảm sau năm 2006 vì các vấn đề bất cân xứng thông tin đã được giảm bớt. Ngoài ra, một số các nghiên cứu tại các quốc gia liên quan đến hành vi đám đông được ghi nhận như: Mỹ (Nofsinger và Sias 1999), Hàn Quốc (Choe và cộng sự 1999), Anh (Wylie 2005), Nhật Bản (Kim và Nofsinger 2005), Đức (Walter và Weber 2006), Hy Lạp (Caporale và cộng sự 2008), Trung Quốc (Pu và Jun 2017).
2.7.2 Một số nghiên cứu ở Việt Nam Luận văn: Tác động hành vi đám đông lên thị trường chứng khoán.
Tại Việt Nam, các nghiên cứu về hành vi đám đông trên thị trường là chưa nhiều và không phổ biến nhưng dựa trên các kết quả của các nghiên cứu đã thực hiện đều khẳng định, có tồn tại hành vi đám đông trên thị trường. Nghiên cứu của Võ và Phan (2016) sử dụng mô hình của Chang và cộng sự (2000) đưa ra bằng chứng chứng minh sự tồn tại của hành vi đám đông trên thị trường chứng khoán Việt Nam. Nghiên cứu của Võ và Phan (2019) tiếp tục khẳng định sự hiện diện của hành vi đám đông trên thị trường khi thực nghiệm trên bộ dữ liệu mẫu hơn 13 năm, nghiên cứu này còn chỉ ra rằng hành vi đám đông thể hiện rõ ràng hơn đối với các cổ phiếu có tính thanh khoản cao và trung bình. Hiện tại, chưa có nghiên cứu nào xem xét hành vi đám đông dưới tác động của lãi suất và tỷ giá tại thị trường Việt Nam. Đây là hai biến vĩ mô quan trọng ảnh hưởng đến nền kinh tế nói chung và thị trường chứng khoán nói riêng, xem xét tác động của lãi suất và tỷ giá là cần thiết trong giai đoạn hiện nay.
Bảng 2: Tổng hợp các nghiên cứu có liên quan tại nhiều thị trường khác nhau
| Tác giả | Mô hình nghiên cứu | Kết luận chính |
| Nofsinger và Sias (1999) | Đưa ra mô hình NS để điều tra mối quan hệ giữa sự thay đổi trong quyền sở hữu của tổ chức và tỷ suất sinh lợi để đánh giá mức độ hành vi đám đông giữa nhà đầu tư cá nhân và tổ chức. | Kết quả của nghiên cứu cho thấy có sự hiện diện của hành vi đám đông trong cả nhà đầu tư cá nhân và tổ chức tại Mỹ. Tuy nhiên độ ảnh hưởng của hành vi đám đông trong tổ chức lớn hơn so với nhà đầu tư cá nhân. |
| Borensztein và Gelos (2003) | Sử dụng mô hình của Lakonishok và cộng sự. (1992) đề xuất để đo lường hành vi đám đông. | Tác giả tìm thấy bằng chứng về hành vi đám đông trong các điều kiện thị trường khác nhau từ giai đoạn yên bình đến khủng hoảng. |
| Choe và cộng sự (1999) | Sử dụng mô hình của Lakonishok, Shleifer và Vishny (1992) đề xuất để đo lường hành vi đám đông. | Hành vi đám đông được tìm thấy trong các nhà đầu tư nước ngoài tại Hàn Quốc trước khủng hoảng kinh tế. Tuy nhiên, hiện tượng đám đông giảm trong thời kỳ khủng hoảng và không có bất ổn nào ảnh hưởng đến thị trường chứng khoán Hàn Quốc trong toàn bộ mẫu. |
| Wylie (2005) | Sử dụng mô hình của Lakonishok, Shleifer và Vishny (1992) đề xuất để đo lường hành vi đám đông. Luận văn: Tác động hành vi đám đông lên thị trường chứng khoán. | Một số lượng đáng kể về hành vi đám đông của các nhà quản lý quỹ được tìm thấy trong các cổ phiếu lớn nhất và nhỏ nhất của Anh sau khi điều chỉnh theo xu hướng tích cực trong phương pháp đo lường hiệu ứng LSV. |
| Kim và Nofsinger (2005) | Sử dụng mô hình của Nofsinger và Sias (1999) đề xuất để đo lường hành vi đám đông. | Các tác giả nhận thấy sự hiện diện của hành vi đám đông ở Nhật Bản có tác động lớn đến chuyển động của giá. Ngoài ra, các ảnh hưởng và hành vi đám đông của tổ chức phụ thuộc vào điều kiện kinh tế và môi trường pháp lý. |
| Walter và Weber (2006) | Sử dụng mô hình của Lakonishok, Shleifer và Vishny (1992) đề xuất để đo lường hành vi đám đông. | Các kết quả cung cấp bằng chứng về hiệu ứng đám đông của các nhà quản lý quỹ tương hỗ tại Đức. Hơn nữa, các tác giả nhận thấy rằng một phần đáng kể hiệu ứng đám đông được phát hiện trên thị trường Đức có liên quan đến hành vi đám đông giả. |
| Caporale và cộng sự (2008) | Sử dụng mô hình của Christie và Huang (1995) đề xuất để đo lường mức hành vi đám đông. | Hành vi đám đông có tồn tại trên thị trường chứng khoán Athens. |
| Chang và cộng sự (2008) | Đề xuất mô hình CSAD | Kết quả cho thấy sự hiện diện của hành vi đám đông trong thị trường vốn |
| Choi và Skiba (2015) | Sử dụng mô hình đề xuất bởi Sias (2004) | Kết quả cho thấy hành vi đám đông của các nhà đầu tư tổ chức có thể được thúc đẩy bởi các tín hiệu tương quan từ thông tin cơ bản |
| Hwang và Salmon (2001) | Hwang and Salmon (2001) đề xuất mô hình đo lường mức hành vi đám đông. | Chứng minh tác động của hành vi đám đông dựa trên beta. |
| Huang, Lin và Yang (2015) | Sử dụng mô hình CSSD và CSAD Luận văn: Tác động hành vi đám đông lên thị trường chứng khoán. | Nghiên cứu hành vi đám đông trên thị trường vốn Đài Loan và chỉ ra ảnh hưởng của nó lên một số nhóm ngành cụ thể |
| Hilliard và Zhang (2015) | Sử dụng mô hình CSAD của Chang và cộng sự (2000) | Chứng minh hành vi đám đông là một biến thông tin quan trọng trong mô hình định giá bốn yếu tố. |
| Vo và Phan (2016) | Sử dụng mô hình của Christie và Huang (1995) và mô hình Chang và cộng sự (2000) đề xuất để đo lường mức hành vi đám đông. | Hành vi đám đông được tìm thấy ở thị trường chứng khoán Việt Nam. Kết quả cũng chỉ ra rằng hành vi đám đông trong giai đoạn khủng hoảng thể hiện mạnh hơn so với sau khủng hoảng. |
| Pu và Jun (2017) | Sử dụng mô hình của Chang và cộng sự (2000) đề xuất để đo lường mức hành vi đám đông. | Các thông báo chính sách tiền tệ của Ngân hàng trung ương có ảnh hưởng đến hiệu ứng đám đông trên thị trường. |
| Vo và Phan (2019) | Sử dụng mô hình của Christie và Huang (1995) và mô hình Chang và cộng sự (2000) đề xuất để đo lường mức hành vi đám đông. | Có bằng chứng cho thấy hành vi đám đông xuất hiện tại thì trường chứng khoán Việt Nam và thể hiện rõ ràng hơn trong nhóm các cổ phiếu có tính thanh khoản cao và trung bình. |
Nguồn: tác giả tổng hợp
Kết luận chương 2
Chương 2 trình bày các cơ sở lý thuyết về tài chính hành vi và hành vi đám đông trên thị trường chứng khoán, theo đó hành vi đám đông là một dạng của tài chính hành vi có tác động không chỉ trên thị trường tài chính mà còn cả nền kinh tế nói chung. Lý thuyết và các sai lệch trong tài chính hành vi sẽ là nền tảng góp phần giải thích các hiện tượng, kết quả thu được trong nghiên cứu này, từ đó đề xuất các khuyến nghị phù hợp giúp cho thị trường giao dịch hiệu quả hơn. Chương này cũng lược khảo và trình bày một số nghiên cứu trên thế giới và tại Việt Nam liên quan đến hành vi đám đông trên thị trường chứng khoán. Bằng chứng thực nghiệm cho thấy rằng, hành vi đám đông trên thị trường là tình huống điển hình, tồn tại ở nhiều thị trường tài chính trên thế giới. Tại Việt Nam chưa có nghiên cứu nghiên cứu thực nghiệm nào xem xét từng mức độ hành vi trong từng nhóm cổ phiếu sắp xếp theo quy mô và mức định giá cổ phiếu cho từng điều kiện thị trường cụ thể, vì vậy đây là khoản trống mà nghiên cứu này sẽ tập trung xem xét để làm rõ hành vi đám đông của nhà đầu tư trên thị trường sẽ thể hiện mạnh hơn ở nhóm cổ phiếu nào. Luận văn: Tác động hành vi đám đông lên thị trường chứng khoán.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: PPNC hành vi đám đông lên thị trường chứng khoán

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

