Luận văn: Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

TÓM TẮT

Sự phát triển ổn định và bền vững của hệ thống ngân hàng sẽ tạo ra nền tảng cho sự phát triển của các ngành nghề khác trong nền kinh tế. Nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 2006-2007 với làn sóng chuyển đổi các ngân hàng nông thôn đã tạo nên sự tăng trưởng nóng về số lượng và quy mô ngân hàng. Tuy nhiên, đi kèm với đó là sự yếu kém về năng lực tài chính và khả năng quản trị đã tạo ra những bất ổn trên thị trường ngân hàng nói riêng và toàn nền kinh tế nói chung. Thực tiễn cho thấy giai đoạn 2011-2012 ngành ngân hàng Việt Nam đã phải tiến hành tái cơ cấu để giảm số lượng ngân hàng, sáp nhập các ngân hàng yếu kém, cải thiện khả năng cạnh tranh của các ngân hàng trong nước. Qua đó, có thể thấy cạnh tranh luôn xuất hiện trong ngành ngân hàng và việc nghiên cứu về tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng là cần thiết. Luận văn đã đưa ra các mục tiêu nghiên cứu là phân tích tác động của cạnh tranh, đo lường cạnh tranh, chiều hướng tác động của cạnh tranh và các yếu tố khác liên quan đến sự ổn định ngân hàng tại Việt Nam. Từ đó, đề xuất các hàm ý quản trị phù hợp để gia tăng sự ổn định của hệ thống ngân hàng tại Việt Nam.

Luận văn dựa trên dữ liệu thu thập từ 28 ngân hàng thương mại tại Việt Nam trong giai đoạn 2011–2023, sử dụng chỉ số Lerner để đo lường mức độ cạnh tranh, chỉ số Z-score để đo lường mức độ ổn định và các yếu tố khác để ước lượng mức độ tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng bằng phương pháp OLS, mô hình FEM, mô hình REM và phương pháp GLS. Kết quả nghiên cứu cho thấy cạnh tranh có tác động cùng chiều đến sự ổn định ngân hàng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam. Trong khi các yếu tố như tốc độ tăng trưởng tín dụng (GRW), tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (CAP), hình thức sở hữu (GOV), tăng trưởng GDP (GDP) và lạm phát (INF) ảnh hưởng cùng chiều thì quy mô tổng tài sản (SIZE) có tác động ngược chiều đến ổn định ngân hàng.

Từ khóa: Cạnh tranh, ngân hàng thương mại Việt Nam, ổn định ngân hàng.

ABSTRACT Luận văn: Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

The stable and sustainable development of the banking system is the foundation for the development of other industries in the economy. Vietnam’s economy in the period 2006-2007 with the wave of conversion of rural banks has created hot growth in the number and scale of banks. However, along with that comes weak financial capacity and management, which has created instability in the banking system in particular and the whole economy in general. Reality shows that in the period 20112012, the Vietnamese banking system had to restructure to reduce the number of banks, merge weak banks, and improve the competitiveness of domestic banks. Thereby, it can be seen that competition always appears in the banking industry and research on the impact of competition on banking stability is necessary. The thesis has given the research objectives of determining the impact of competition, measuring competitiveness, trend and the impact level of competition and other factors related to banking stability in Vietnam. From there, the thesis gives some suitable policy implications to increase the banking stability in Vietnam.

The thesis is based on data collected from 28 commercial banks in Vietnam during the period 2011–2023, using the Lerner index to measure the level of competition, the Z-score index to measure the level of stability and other factors. another to estimate the impact of competition on banking stability using the OLS method, FEM model, REM model and GLS method. Research results show that competition has a positive impact on banking operations in Vietnamese commercial banks. While factors such as credit growth rate (GRW), equity to total assets ratio (CAP), ownership form (GOV), GDP growth (GDP) and inflation (INF) influence in the same trend, the size of total assets (SIZE) has a negative impact on banking stability.

KEYWORDS: Competition, banking stability, Vietnamese commercial banks.

CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU

1.1. Lý do chọn đề tài

Trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu có nhiều biến động do xung đột thương mại và thay đổi địa chính trị đã đe dọa đến sự ổn định của kinh tế vĩ mô nói chung và hệ thống tài chính ngân hàng nói riêng. Tại Việt Nam, nơi mà nền kinh tế được coi là dựa vào ngân hàng thì sự ổn định của hệ thống ngân hàng được đặt lên hàng đầu. Sự ổn định của ngân hàng có thể được định nghĩa là trạng thái mà ngân hàng hoạt động hiệu quả trong việc phân bổ nguồn lực, phân tán rủi ro và phân bổ thu nhập (Jahn & Kick, 2012), giúp ngân hàng đối phó tốt với các vấn đề bên trong và bên ngoài, đặc biệt là các cú sốc kinh tế. Sự ổn định của ngân hàng gắn liền với sự ổn định của hệ thống tài chính và tăng trưởng GDP (Jokipii & Monnin, 2013).

Với vai trò quan trọng trong nền kinh tế, cạnh tranh giữa các ngân hàng với nhau ngày càng gay gắt, không chỉ trong nước mà còn phải cạnh tranh với các ngân hàng nước ngoài. Là một trong các yếu tố thể hiện sức mạnh thị trường của các ngân hàng, Boyd & De Nicolo (2005) cho rằng sức mạnh thị trường (hoặc cạnh tranh thấp hơn) làm giảm sự ổn định tài chính. Trong khi đó, khi cạnh tranh gia tăng, giá trị vốn điều lệ của ngân hàng suy giảm, từ đó tạo động lực để ngân hàng chấp nhận rủi ro cao hơn và dễ gây bất ổn cho hệ thống tài chính hơn (Arping, 2019). Khi nghiên cứu về cạnh tranh, các tác giả thường đề cập đến tập trung ngành vì mức độ cạnh tranh trong một thị trường thường được đánh giá thông qua mức độ tập trung ngành. Sự tập trung càng cao thì sức mạnh thị trường càng lớn (cạnh tranh thấp), khả năng kiểm soát thị trường càng lớn và độc quyền thị trường càng lớn (Nguyễn Thế Bính, 2023). Luận văn: Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

Bên cạnh đó, từ sau cuộc khủng hoảng năm 2008, các nước đã tiến hành cải cách mạnh mẽ hệ thống tài chính của mình mà trọng tâm là hệ thống ngân hàng. Ý tưởng sáp nhập, mua lại các ngân hàng yếu kém đã được nhiều quốc gia áp dụng, trong đó có Việt Nam. Qua đó, số lượng ngân hàng giảm mạnh nhưng tài sản lại tăng đáng kể, góp phần tăng tính lành mạnh cho hệ thống ngân hàng. Điều này nêu bật vai trò của tập trung ngành đã giúp tạo ra các ngân hàng tốt hơn để cải thiện sự ổn định hệ thống tài chính. Tuy nhiên, cũng có quan điểm cho rằng tập trung ngành là biểu hiện của độc quyền nhóm (Stigler, 2021) và nó không có lợi cho sự phát triển tài chính. Ngân hàng độc quyền có xu hướng cho vay quá mức dựa trên ý tưởng “quá lớn để thất bại” dẫn đến rủi ro và hoạt động kém hiệu quả của toàn hệ thống.

Có thể thấy rằng, mối quan hệ giữa cạnh tranh hay tập trung ngành và sự ổn định của hệ thống ngân hàng đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và đưa ra nhiều quan điểm đối lập nhau. Thời gian gần đây, trên thế giới đã chứng kiến nhiều sự sụp đổ của các ngân hàng tại Mỹ như Silicon Valley Bank, Signature Bank, First Republic Bank hay thậm chí ngân hàng tưởng chừng “too big to fail” như ngân hàng Credit Suisse của Thụy Sỹ đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ thống tài chính toàn cầu. Tại Việt Nam, theo Đề án “Cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng gắn với xử lý nợ xấu giai đoạn 2021-2025”, đến năm 2025 ngành ngân hàng phải xử lý cơ bản các ngân hàng yếu kém. Theo đó, có 5 ngân hàng thương mại (NHTM) yếu kém thuộc diện tái cơ cấu là ngân hàng Đông Á, Xây dựng, Đại dương, Dầu khí toàn cầu và Xăng dầu Petrolimex. Ngoài ra, vào tháng 10/2022, NHTM Cổ phần Sài Gòn (SCB) đã bị NHNN đưa vào diện kiểm soát đặc biệt. Từ đó, có thể thấy ngành ngân hàng tại Việt Nam mà cơ quan chủ quản là NHNN có vai trò đặc biệt quan trọng trong điều hành ổn định vĩ mô, thực thi linh hoạt chính sách tiền tệ và phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa. Dù vậy, các nghiên cứu về tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng tại Việt Nam chưa nhiều và kết quả còn nhiều tranh luận. Lê Hải Trung (2015) nghiên cứu về tập trung ngành và cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam giai đoạn 2007-2012, hay Phạm Thủy Tú & Đào Lê Kiều Oanh (2021) đánh giá tác động của năng lực cạnh tranh đến mức độ ổn định tài chính của các NHTM Việt Nam trước bối cảnh tham gia Hiệp định CPTPP, trong khi Dư Thị Lan Quỳnh & Lê Hoàng Anh (2023) nghiên cứu về tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng tại một số nước ASEAN. Các tác giả chủ yếu bàn luận về tập trung ngành, cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng trong giai đoạn thời gian cụ thể, một bối cảnh cụ thể. Qua đó, có thể thấy rằng cạnh tranh luôn xuất hiện trong lĩnh vực ngân hàng. Tuy nhiên, trong từng giai đoạn, từng bối cảnh cụ thể mà tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng sẽ khác nhau. Vì vậy việc nghiên cứu về cạnh tranh trong giai đoạn 2011-2023 mang tính cấp thiết trong bối cảnh hiện nay. Bên cạnh đó, tác động của yếu tố chi phí đầu tư cho công nghệ trong thời buổi chạy đua công nghệ giữa các ngân hàng là những điểm mới trong đề tài “Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam” mà tác giả lựa chọn. Thông qua đề tài, tác giả sẽ xác định tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng tại các NHTM Việt Nam giai đoạn 2011-2023 và đề xuất các hàm ý quản trị góp phần cải thiện sự ổn định của hệ thống ngân hàng.

1.2. Mục tiêu nghiên cứu Luận văn: Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

1.2.1. Mục tiêu tổng quát:

Đánh giá tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng tại các NHTM Việt Nam. Đưa ra các khuyến nghị nhằm cải thiện sự ổn định ngân hàng tại các NHTM Việt Nam.

1.2.2.  Mục tiêu cụ thể:

  • Thứ nhất, nghiên cứu mức độ tác động của cạnh tranh đến sự ổn định ngân hàng tại các NHTM Việt Nam.
  • Thứ hai, đề xuất các hàm ý quản trị nhằm cải thiện sự ổn định ngân hàng tại các NHTM Việt Nam.

1.3. Câu hỏi nghiên cứu

  • Thứ nhất, mức độ tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng tại các NHTM Việt Nam như thế nào?
  • Thứ hai, các hàm ý quản trị nào được thực thi để cải thiện ổn định ngân hàng tại các NHTM Việt Nam?

1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1. Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng tại các NHTM Việt Nam.

1.4.2. Phạm vi nghiên cứu:

Không gian: 28 NHTM Việt Nam (bao gồm 27 NHTM niêm yết và 1 NHTM 100% vốn nhà nước không niêm yết), đại diện cho hệ thống ngân hàng Việt Nam. Theo thống kê của NHNN, tính đến thời điểm 31/12/2023, có 35 ngân hàng NHTM Việt Nam (bao gồm 4 NHTM nhà nước và 31 NHTM cổ phần). Tổng tài sản của 35 ngân hàng NHTM Việt Nam là 17.313.210 tỷ đồng (thời điểm 31/12/2023), trong đó 28 NHTM được tác giả sử dụng có tổng tài sản tại thời điểm 31/12/2023 là 16.712.857 tỷ đồng, chiếm 96,53% tổng tài sản của các NHTM Việt Nam. Vì vậy, 28 NHTM được sử dụng trong luận văn đảm bảo đại diện cho các NHTM Việt Nam. Ngoài ra, đa số các NHTM sử dụng trong luận văn được niêm yết sẽ đảm bảo được tính minh bạch trong báo cáo tài chính do đã được kiểm toán và khả năng tiếp cận dữ liệu báo cáo tài chính cao hơn.

Thời gian: thời gian nghiên cứu từ năm 2011 – 2023, đây là giai đoạn mà hệ thống ngân hàng Việt Nam tiến hành tái cơ cấu và trải qua giai đoạn khủng hoảng kinh tế do đại dịch Covid-19.

1.5. Phương pháp nghiên cứu Luận văn: Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

Nghiên cứu được thực hiện thông qua hai phương pháp chính là phương pháp định tính và phương pháp định lượng.

1.5.1. Phương pháp định tính

Phương pháp định tính bao gồm thống kê, tổng hợp và phân tích được thực hiện trong lược khảo các tài liệu, các nghiên cứu có liên quan và xử lý dữ liệu của các NHTM thu thập từ BCTC đã kiểm toán, báo cáo thường niên, các dữ liệu liên quan đến kinh tế vĩ mô như GDP, tỷ lệ lạm phát thu thập được thu thập từ datastream.

Mục tiêu: kết quả của nghiên cứu định tính được sử dụng để làm cơ sở lý thuyết cho luận văn, xây dựng, hoàn chỉnh mô hình nghiên cứu và cung cấp dữ liệu để ước lượng các tham số của mô hình nghiên cứu.

1.5.2. Phương pháp định lượng

Phương pháp định lượng sử dụng phương pháp hồi quy gộp (Pooled OLS), mô hình hiệu ứng cố định (Fixed Effects Model), mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên (Random Effects Model), phương pháp bình phương tối thiểu tổng quát (GLS) và các kiểm định liên quan để xác định mức độ và chiều tác động của cạnh tranh và các yếu tố khác đến ổn định ngân hàng thông qua phần mềm Stata17.0.

Mục tiêu: kết quả của nghiên cứu định lượng được sử dụng để đánh giá tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng tại các NHTM Việt Nam. Từ đó, tác giả đề xuất các hàm ý quản trị để cải thiện ổn định hệ thống ngân hàng tại các NHTM Việt Nam.

1.6. Đóng góp của luận văn

Kết quả nghiên cứu sẽ giúp cho các NHTM Việt Nam hiểu rõ hơn về hiện trạng mức độ cạnh tranh, mức độ ổn định, chiều hướng và mức độ tác động của cạnh tranh và các yếu tố tác động khác tới sự ổn định ngân hàng của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2011-2023. Thông qua đó luận văn đưa các giải pháp nhằm cải thiện sự ổn định ngân hàng của các NHTM Việt Nam bên cạnh các hàm ý quản trị được đề xuất trong luận văn. Luận văn: Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

1.7. Kết cấu của luận văn

Cấu trúc của luận văn bao gồm 5 chương:

Chương 1: Giới thiệu tổng quan về nghiên cứu

Trình bày tổng quan về bối cảnh thực hiện nghiên cứu và lý do chọn đề tài, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, nội dung nghiên cứu, đóng góp của luận văn và kết cấu của luận văn.

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan lĩnh vực nghiên cứu

Đưa ra các lý thuyết và lược khảo các nghiên cứu có liên quan để hình thành khung lý thuyết cho luận văn.

Chương 3: Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu

Trình bày cách thức thu thập và xử lý dữ liệu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, phát triển mô hình và các giả thuyết nghiên cứu.

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Trình bày kết quả nghiên cứu về mối quan hệ của cạnh tranh và ổn định ngân hàng, chiều hướng và mức độ tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng tại các NHTM Việt Nam giai đoạn 2011-2023.

Chương 5: Kết luận và hàm ý quản trị

Trình bày kết luận chính của luận văn, đề xuất các hàm ý quản trị và nêu lên những hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo.

Kết luận chương 1

Trong chương 1, tác giả đã giới thiệu khái quát về luận văn, tạo nên bức tranh tổng thể cho nghiên cứu về tính cấp thiết trong việc nghiên cứu tác động của cạnh tranh ngành đến ổn định ngân hàng, và đặc biệt là khi hệ thống ngân hàng Việt Nam đang trong giai đoạn tái cơ cấu nhằm sáp nhập các ngân hàng yếu kém, tạo vị thế cạnh tranh cho các ngân hàng nội địa không chỉ trong nước mà còn ở thị trường quốc tế. Đồng thời, trong chương này tác giả đã xác định mục tiêu, phạm vi và phương pháp nghiên cứu, cũng như những kỳ vọng về đóng góp của nghiên cứu xuất phát từ khe hở của các nghiên cứu trước. Chương 1 là tiền đề để tác giả tiếp tục thực hiện các nội dung tiếp theo.

CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU

2.1. Một số khái niệm liên quan đến nghiên cứu

2.1.1. Khái niệm về cạnh tranh Luận văn: Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

Cạnh tranh ra đời cùng với sự xuất hiện của nền kinh tế hàng hóa và đi cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa theo thời gian. Các nhà khoa học đã có nhiều nghiên cứu về cạnh tranh và cũng có nhiều khái niệm về cạnh tranh, tuy nhiên chưa có khái niệm nào thỏa mãn được các nhà khoa học. Tùy thuộc vào quan điểm, hướng tiếp cận mà các nhà nghiên cứu có các định nghĩa khác nhau về cạnh tranh.

Các nhà khoa học theo trường phái cổ điển như Adam Smith (1776) cho rằng cạnh tranh có thể điều tiết sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và nhu cầu xã hội do các bên tham gia thị trường phải theo dõi biến động thị trường, biến động cung cầu và áp lực cạnh tranh để điều chỉnh sản lượng cho thích ứng. Tuy nhiên, Adam Smith chỉ mới dừng lại ở lợi ích của thương mại tự do cạnh tranh, chưa xem xét đến các yếu tố tác động đến cạnh tranh mà đặc biệt là sự can thiệp của nhà nước. Kế thừa các nghiên cứu của Adam Smith, David Ricardo nhấn mạnh rằng những nước có lợi thế tuyệt đối hoặc bị kém lợi tuyệt đối so với các nước khác trong mọi sản phẩm thì vẫn có thể có lợi ích từ thương mại bằng việc chuyên môn hóa sản xuất và sản phẩm mà nước đó có lợi thế so sánh. Cả Adam Smith và David Ricardo đều cho rằng, giá trị và giá trị sử dụng của sản phẩm là yếu tố quan trọng quyết định năng lực cạnh tranh của sản phẩm.

Các nhà kinh tế theo trường phái tân cổ điển cho ra đời tư tưởng về cạnh tranh hoàn hảo, lấy đó làm lý luận cơ bản. Theo đó, giá cả trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo sẽ tự động duy trì ở trạng thái cân bằng bởi tác động của cân nhắc về lợi ích, chi phí của nhà sản xuất và người tiêu dùng. Thị trường cạnh tranh hoàn hảo dựa trên các giả định không có độc quyền, không có sự khác biệt đáng kể giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng hay bất cứ ai cũng như tất cả thành viên tham gia thị trường đều có thông tin đầy đủ như nhau. Tuy nhiên, thực tế không có đủ điều kiện như thế nên thị trường hoàn hảo bị phê phán mang tính lý thuyết.

Theo Michael Porter (1980), cạnh tranh là việc giành thị phần, thực chất có nghĩa là tìm kiếm lợi nhuận cao hơn mức trung bình mà doanh nghiệp hiện có. Kết quả của cạnh tranh dẫn đến trung bình lợi nhuận trong ngành theo hướng cải tiến sâu dẫn đến giá giảm.

Paul Samuelson & W.D. Nordhaus (1985) khẳng định “cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp với nhau nhằm để giành khách hàng hoặc thị trường”. Luận văn: Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD, 1993) đưa ra khái niệm “cạnh tranh là một tình huống trong một thị trường mà tại đó người bán hoặc các công ty cố gắng có được sự quan tâm, chú ý của người mua để đạt được mục tiêu kinh doanh nhất định như doanh thu, lợi nhuận, thị phần”. Để tồn tại, các doanh nghiệp phải đưa ra được các sản phẩm, dịch vụ với giá bán thấp hơn và hiệu quả cao hơn nhằm kích thích thị hiếu người tiêu dùng, từ đó tạo ra phúc lợi cho nền kinh tế.

Frank & Bernanke (2004) cho rằng cạnh tranh có 4 hình thức chính: cạnh tranh độc quyền, cạnh tranh hoàn hảo, độc quyền và độc quyền nhóm. Cạnh tranh hoàn hảo là khi giá thị trường của sản phẩm không bị ảnh hưởng đáng kể bởi bất kỳ nhà cung cấp hoặc cá nhân nào. Cạnh tranh độc quyền là một hình thức cạnh tranh trong đó các sản phẩm được bán bởi các nhà cung cấp có sự khác biệt với nhau và gần như có thể thay thế cho các sản phẩm khác. Khi không có sản phẩm thay thế và chỉ có một nhà sản xuất trên thị trường thì được gọi là độc quyền. Độc quyền nhóm là sự độc quyền trong đó chỉ có một vài đối thủ cạnh tranh có sản phẩm thay thế. Vì vậy, độc quyền không làm cho nền kinh tế phát triển vì không đạt được hiệu quả sản xuất do không có áp lực cạnh tranh.

Như vậy, có thể nói rằng cạnh tranh là sự ganh đua giữa các chủ thể trong nền kinh tế. Các nhà sản xuất cạnh tranh với nhau để có được những lợi thế và những thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Từ đó, thu được nhiều lợi ích cho mình.

2.1.2. Khái niệm về ổn định ngân hàng

Ổn định ngân hàng được khái quát dựa trên khái niệm ổn định tài chính. Hiện nay, có nhiều khái niệm ổn định tài chính được đưa ra nhưng vẫn còn nhiều tranh luận về tính thống nhất. Theo Jahn & Kick (2012) định nghĩa “sự ổn định tài chính của ngân hàng chính là sự ổn định mà khi đó ngân hàng thực hiện hiệu quả các chức năng của nó như phân phối nguồn lực, phân tán rủi ro và phân phối thu nhập”. Trong khi đó Crockett (1997) lại cân nhắc rằng sự ổn định tài chính là không có mặt của sự căng thẳng tài chính, điều mà ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế gây ra phá sản ở các ngân hàng nhỏ và tổn thất ở các ngân hàng lớn hơn. Hay trong nghiên cứu của Brunnermeier & ctg (2009) thống nhất rằng ổn định trong hệ thống ngân hàng là không có khủng hoảng ngân hàng, đạt được thông qua sự ổn định của tất cả các ngân hàng trong hệ thống hoặc lĩnh vực ngân hàng.

Ngân hàng Trung ương Thụy Sĩ định nghĩa ổn định tài chính là một hệ thống tài chính mà các chủ thể: trung gian tài chính, thị trường tài chính và cơ sở hạ tầng tài chính thực hiện tốt chức năng của mình và có khả năng chống đỡ những cú sốc tiềm ẩn có thể xảy ra.

Ngân hàng Trung ương Đức cho rằng ổn định tài chính là khả năng vận hành tốt các chức năng chính của hệ thống tài chính, kể cả trong những thời kỳ kinh tế căng thẳng và các giai đoạn điều chỉnh cơ cấu nhằm giúp phân bổ hiệu quả các nguồn lực và rủi ro tài chính cũng như tạo ra cơ sở hạ tầng tài chính hiệu quả.

Ngân hàng Trung ương Úc cho rằng ổn định hệ thống tài chính là một trạng thái mà trong đó các trung gian tài chính, thị trường và hạ tầng tài chính phân bổ tốt các luồng vốn giữa tiết kiệm và đầu tư, nhờ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Ngân hàng Trung ương Anh tin rằng sự ổn định tài chính bao hàm việc xác định các rủi ro trong hệ thống tài chính và thực hiện hành động để giảm thiểu chúng. Luận văn: Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

Ngân hàng Trung ương Châu Âu cho rằng ổn định tài chính là trạng mà hệ thống tài chính, bao gồm các trung gian tài chính, thị trường và cơ sở hạ tầng tài chính có thể liên tục hỗ trợ và chống đỡ với các sự kiện bất lợi gây ra bởi những cú sốc và rủi ro do mất cân đối tài chính. Từ đó làm giảm khả năng sụp đổ của các trung gian tài chính vốn tác động tiêu cực đến việc phân bổ tiết kiệm và đầu tư.

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam định nghĩa một hệ thống tài chính ổn định và an toàn là một hệ thống có thể trụ vững được trước những biến động bất thường của nền kinh tế và trước các cú sốc tài chính nảy sinh từ bên trong hoặc bên ngoài hệ thống tài chính.

Như vậy, thông qua các nghiên cứu và định nghĩa của các nhà kinh tế, có thể hiểu ổn định ngân hàng là (i) trạng thái mà các ngân hàng riêng lẻ trong hệ thống ngân hàng thực đầy đủ và hiệu quả chức năng trung gian tài chính của mình, góp phần phân bổ hiệu quả nguồn lực trong nền kinh tế, có khả năng chịu được các cú sốc từ bên trong và bên ngoài và không tự gây cú sốc ảnh hưởng đến nền kinh tế; (ii) các rủi ro hệ thống được quản lý hiệu quả và đánh giá để giảm thiểu rủi ro, tránh sụp đổ hệ thống tài chính; (iii) sự phối hợp của cơ quan nhà nước mà chủ yếu là các ngân hàng trung ương để bảo đảm ổn định tài chính.

2.2. Cơ sở lý thuyết Luận văn: Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

2.2.1. Lý thuyết về cạnh tranh

Lý thuyết cạnh tranh cổ điển: trường phái lý thuyết cạnh tranh cổ điển ra đời vào khoảng thế kỷ 18 ở Anh, được đại diện bởi Adam Smith (1723-1790). Ông cho rằng cạnh tranh và kinh tế nếu phối hợp một cách hợp lý sẽ mang lại nhiều lợi ích cho xã hội: “Nếu trong cạnh tranh tự do, các cá nhân áp bức lẫn nhau thì cạnh tranh buộc mỗi cá nhân phải cố gắng làm đúng công việc của mình”. Vì vậy, Adam Smith chủ trương coi chủ nghĩa cá nhân là nền tảng cho mọi lý thuyết về kinh tế tự do cổ điển. Tuy mỗi người thực chất đều vì lợi ích riêng của mình, nhưng lợi ích đó nhất quán với lợi ích xã hội. Nhờ cạnh tranh, các hành động được thực hiện một cách hài hòa và ngày càng thúc đẩy sự phát triển xã hội. Do đó, cạnh tranh tự do sẽ giúp phát huy nhiều nỗ lực hơn trong công việc, không ngừng sáng tạo để tăng năng suất lao động, của cải vật chất của đất nước cũng tăng lên. Bên cạnh đó, cạnh tranh tự do có thể giúp tự điều chỉnh quan hệ cung cầu và sản lượng thị trường thông qua giá cả và tổ chức phân công lao động hợp lý, từ đó tạo ra sự cân bằng trong xã hội mà không cần sự can thiệp của Chính phủ. Cùng quan điểm với Adam Smith, John Stuart Mill cũng khẳng định cạnh tranh góp phần thúc đẩy phát triển xã hội. John Stuart Mill coi trọng chủ nghĩa cá nhân, nhưng ông tin rằng xã hội cần can thiệp để ngăn chặn các cá nhân thực hiện những hành động gây hậu quả xấu, thậm chí có thể can thiệp bằng vũ lực. Karl Marx cũng có nhiều đóng góp cho hệ thống lý thuyết về cạnh tranh trong thời kỳ này. Nội dung chính của Karl Marx xoay quanh sự cạnh tranh chủ yếu diễn ra trên ba khía cạnh: Cạnh tranh về giá thông qua tăng năng suất lao động; Cạnh tranh về chất lượng thông qua nâng cao giá trị sử dụng của hàng hóa; Cạnh tranh giữa các ngành thông qua sự di chuyển ngày càng tăng để phân chia giá trị thặng dư. Như vậy, cạnh tranh tư bản chủ nghĩa trong thời kỳ này chủ yếu diễn ra từ việc quyết định, thực hiện và phân chia giá trị thặng dư.

Lý thuyết cạnh tranh của trường phái tân cổ điển: chủ nghĩa tư bản có sự chuyển biến mạnh mẽ sang chủ nghĩa tư bản độc quyền vào cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Lý thuyết kinh tế của Karl Marx đóng vai trò ngày càng quan trọng trong việc xem xét và đánh giá các hiện tượng kinh tế. Các học giả đương thời đã xây dựng hệ thống lý thuyết về cạnh tranh trên cơ sở phát triển các lý thuyết kinh tế từ các thời kỳ trước. Những nhân vật đáng chú ý gồm có: W.S.Jevons (1835-1882), Walras (1834-1910) và Marshall (1842 – 1924). Mục đích chính là phác thảo những nguyên tắc cơ bản của sự vận động của chế độ tư bản chủ nghĩa nhằm chỉ đạo các hoạt động cạnh tranh. Kết quả nghiên cứu trong thời kỳ này hay còn gọi là lý thuyết cạnh tranh tân cổ điển đã cho ra đời cách tiếp cận tĩnh về cạnh tranh với 4 hình thức: Cạnh tranh hoàn hảo, Cạnh tranh độc quyền, Độc quyền và Độc quyền nhóm. Luận văn: Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

Lý thuyết cạnh tranh hiện đại: Nếu trường phái tân cổ điển coi cạnh tranh là một quá trình tĩnh thì ngược lại, các nhà kinh tế của trường phái hiện đại, trường phái Áo cho rằng cần loại bỏ quan điểm về một thị trường cạnh tranh hoàn hảo lý tưởng, phi thực tế trong lý thuyết cạnh tranh hiện đại. Thay vào đó, cạnh tranh được coi là một quá trình năng động, không ngừng phát triển và thay đổi. Vì vậy, chính sách giá không còn được quyết định dựa trên các giả định và tiền đề định trước mà phải được đặt trong các điều kiện hiện có. Trong quá trình cạnh tranh, các yếu tố cạnh tranh được kết hợp với nhau bằng tiến bộ và đổi mới kỹ thuật. Lý thuyết của trường phái cạnh tranh hiện đại hoàn toàn độc lập với lý thuyết về giá cả và giá trị hàng hóa của các trường phái trước đây. Tóm lại, cạnh tranh đơn giản là hành động tranh đua giữa các chủ thể và được coi là nỗ lực tìm ra phương pháp tốt hơn đối thủ của mình.

Một trong những lý thuyết cạnh tranh hiện đại phải kể đến là lý thuyết “lợi thế cạnh tranh” của Michael Porter, cho rằng các doanh nghiệp khi tham gia thị trường thương mại quốc tế cần có “lợi thế cạnh tranh” và “lợi thế so sánh”. Ông phân tích “lợi thế cạnh tranh” là sức mạnh nội sinh của doanh nghiệp và đất nước, trong khi “lợi thế so sánh” là điều kiện tài nguyên thiên nhiên, lao động và môi trường tạo cho doanh nghiệp. Cạnh tranh là sự ganh đua giữa các cá nhân, tập thể, đơn vị kinh tế có cùng chức năng thông qua hành động, nỗ lực, biện pháp để giành chiến thắng trong cuộc đua, nhằm thỏa mãn mục tiêu của mình có thể là thị phần, lợi nhuận, hiệu quả, an toàn, thương hiệu,…

2.2.2. Phương pháp đo lường cạnh tranh Luận văn: Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

Các nhà khoa học trên thế giới đã phát triển nhiều phương pháp đo lường cạnh tranh xuất phát từ nền tảng lý thuyết về cạnh tranh và được ứng dụng phổ biến trong lĩnh vực ngân hàng có thể kể đến như chỉ số Lerner (1930), chỉ số H (Rosse&Panzar, 1987) và chỉ số Boone (2008). Các chỉ số trên đều có những ưu và nhược điểm khác nhau do góc độ tiếp cận khác nhau nhưng nhìn chung đều được sử dụng rộng rãi trong nhiều nghiên cứu thực nghiệm trên toàn thế giới.

Chỉ số Lerner: được trình bày lần đầu tiên như một chỉ số thể hiện sức mạnh độc quyền (Lerner, A.P, 1934) và được tính bằng công thức như sau: Lerner = (P – MC)/P. Trong đó: P: Giá đầu ra trung bình của ngân hàng, được tính bằng tỷ lệ giữa tổng doanh thu và tổng tài sản (Carbó, S, Humphrey, D, Maudos, 2009). MC: Chi phí cận biên của ngân hàng, không được quan sát trực tiếp nên MC được ước tính dựa trên hàm tổng chi phí.

Khi giá của sản phẩm bằng với chi phí cận biên trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo chỉ số Lerner bằng 0. Khi giá của sản phẩm lớn hơn chi phí cận biên thì chỉ số Lerner tương ứng lớn hơn 0. Độ lớn của chỉ số Lerner nằm trong khoảng 0 và 1. Chênh lệch giữa giá của sản phẩm và chi phí cận biên càng lớn thì sức mạnh thị trường của doanh nghiệp càng lớn. Chỉ số Lerner đo lường sức mạnh thị trường của một doanh nghiệp trong quá trình hoạt động thực tế và không phản được tiềm năng của doanh nghiệp.

Chỉ số H: được giới thiệu lần đầu tiên vào năm 1987 bởi Rosse và Panzar, dùng để đo lường khả năng cạnh tranh của ngành ngân hàng. Lấy ý tưởng từ chiến lược kinh doanh dựa trên giá cả của các ngân hàng trước những thay đổi về chi phí đầu vào trong thị trường, đây được coi là phương pháp phân tích kỹ thuật đầu tiên dựa trên các lý thuyết kinh doanh mới và được áp dụng vào ngành ngân hàng. Mô hình này được xác định theo phương trình: log(TR) = α + ∑βlog(ω) + ∑log(CF) + error với TR là tổng thu nhập, ω là các yếu tố chi phí đầu vào và CF là các biến kiểm soát. Các biến kiểm soát bao gồm: Tổng tài sản, tỷ lệ VCSH/TTS, tỷ lệ nợ/tổng tài sản (Chortareas & ctg, 2012). Trong đó β là hệ số giá tiền gửi, giá lao động và giá vốn vật chất (Chortareas & ctg, 2013). Cụ thể:

  • Nếu H € (0,1): Cạnh tranh độc quyền
  • Nếu H = 1: Cạnh tranh hoàn hảo
  • Nếu H < 1: Độc quyền.

Chỉ số Boone: Ra đời sau chỉ số Lerner và chỉ số H, chỉ số Boone được các nhà khoa học đánh giá là có nhiều ưu điểm hơn và khắc phục được những hạn chế của chỉ số Lerner và chỉ số H, được ứng dụng rộng rãi trong đo lường cạnh tranh ngân hàng. Chỉ số Boone được đo lường theo phương trình: Ln(π) = α + βln(MCA) + ε.

Trong đó với π là lợi nhuận của ngân hàng; MCA là chi phí cận biên của ngân hàng và β là chỉ số Boone. MCA được xác định bởi tổng chi phí (chi phí lãi vay, chi phí tiền lương và chi phí hoạt động khác) và tổng thu nhập. Chỉ số Boone được coi là có giá trị tuyệt đối, giá trị càng cao thể hiện mức độ cạnh tranh giữa các ngân hàng càng lớn. Chỉ số này có giá trị âm cho thấy nếu ngân hàng có chi phí cận biên lớn hơn thì lợi nhuận sẽ giảm. Luận văn: Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

Mỗi mô hình phản ánh mức độ cạnh tranh của các ngân hàng theo từng cách tiếp cận khác nhau. Nếu như mô hình Lerner đo lường sức mạnh thị trường của từng ngân hàng thì mô hình Rosse-Panzar (1987) chỉ dừng lại ở biến động giá đầu vào trong doanh thu của ngân hàng. Chỉ số Boone (2008) được xem là một bước phát triển mới nó thể hiện mức độ cạnh tranh của ngân hàng qua từng năm.

Phan Thị Thơm và Thân Thị Thu Thủy (2015) cho rằng chỉ số Lerner phù hợp hơn chỉ số H, chỉ số Boone trong mô hình tiếp cận mới và các chỉ số đo lường cạnh tranh truyền thống còn lại. Kế thừa từ nghiên cứu của Beck & ctg (2013), Fungáčová & ctg (2013), Fu & ctg (2014), luận văn lựa chọn chỉ số Lerner nhằm đo lường khả năng cạnh tranh của các NHTM tại Việt Nam.

2.2.3. Lý thuyết về ổn định ngân hàng

Lý thuyết quá lớn để sụp đổ “Too big to fail”: đề cập đến mối quan hệ giữa quy mô ngân hàng và rủi ro ngân hàng. Thứ nhất, thuật ngữ “Too-big-to-fail” là một thuật ngữ quốc tế, được Nghị sĩ Stewart McKinney (1984) nhắc đến trong phiên điều trần Quốc hội Mỹ khi thảo luận về gói cứu trợ Tập đoàn Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang cho Ngân hàng Continental Illinois để tránh sự sụp đổ. Lý thuyết quá lớn để sụp đổ cho rằng các ngân hàng hoặc tổ chức tài chính có quy mô lớn, có phạm vi rộng và liên kết với nhiều thành phần kinh tế khác, có ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế của một quốc gia nên nguy cơ phá sản sẽ là thảm họa cho toàn bộ nền kinh tế, vì vậy cần có sự hỗ trợ phù hợp từ Chính phủ khi họ gặp khó khăn.

Giải thích vấn đề này đối với sự ổn định của hệ thống ngân hàng, Boyd và Runkle (1993) cho rằng nó xuất phát từ thực tế là các ngân hàng hoạt động trong một thị trường có ít cạnh tranh có thể trở nên quá lớn hoặc quá quan trọng đối với nền kinh tế và có mối liên hệ chặt chẽ với nhau đến mức những thất bại của họ có xu hướng gây ảnh hưởng lâu dài đến nền kinh tế thực và gây ra những chi phí xã hội tốn kém. Mặt khác, quy mô của một ngân hàng tỷ lệ thuận với mức độ phức tạp của nó nên các ngân hàng nhỏ sẽ dễ quản lý, giám sát hơn các ngân hàng lớn. Các ngân hàng lớn cũng thường gắn liền với những vấn đề quá lớn để có thể theo dõi. Thực tiễn này có thể góp phần làm các ngân hàng chấp nhận rủi ro ở mức cao hơn vì họ cho rằng cơ quan quản lý có thể không phát hiện ra những rủi ro mà ngân hàng đang chấp nhận.

Lý thuyết người đại diện: được đề ra bởi Michael và William (1976) ngụ ý rằng chủ sở hữu công ty và người điều hành không có cùng mục tiêu; các quyết định và hành động của nhà quản lý chắc chắn thiên về lợi ích cá nhân, mâu thuẫn với lợi ích của cổ đông. Lý thuyết này dựa trên tâm lý học đó là con người vốn có khuynh hướng cá nhân chủ nghĩa, cơ hội, tư lợi. Tuy nhiên, vấn đề ở đây là làm sao để các cá nhân dung hòa được lợi ích của mình để cùng có lợi và cùng phát triển. Nghiên cứu của nhóm tác giả này cho thấy người sở hữu vốn quan tâm đến giá trị công ty và giá cổ phiếu (cũng là lợi ích của chính họ). Trong khi đó, các nhà quản trị về cơ bản không quan tâm nhiều đến lợi ích của cổ đông mà thường chỉ quan tâm đến lợi ích của bản thân (lương, thưởng, phụ cấp, các nguồn thu nhập khác tùy theo chức vụ của mình). Điều này làm phát sinh một loạt “Chi phí người đại diện”. Trên cơ sở đó, các nhà kinh tế tiếp tục nghiên cứu mối quan hệ người đại diện cũng như các loại phí người đại diện.

Fama và Jensen (1983) đã nghiên cứu chi phí người đại diện và kết luận rằng trong một công ty luôn có sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền kiểm soát. Nói cách khác, chủ sở hữu thực sự của công ty không tham gia quản lý công ty và chi phí người đại diện sẽ phát sinh do sự bất cân xứng thông tin giữa người quản lý và cổ đông. Các nhà quản lý có nhiều thông tin về tình hình công ty và họ sẽ sử dụng quyền lực quản lý để thu lợi cho mình. Luận văn: Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

Lý thuyết đầu tư hiện đại: được Harry Markowitz chính thức công bố vào năm 1959 (Markowitz, 1976). Lý thuyết này cho rằng các nhà đầu tư có thể giảm thiểu rủi ro thị trường để đạt được tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng bằng cách xây dựng danh mục đầu tư đa dạng. Lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại nhấn mạnh đến việc đa dạng hóa danh mục đầu tư hơn là lựa chọn các chứng khoán riêng lẻ. Một sự đơn giản hóa của lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại là “không bỏ tất cả trứng vào một giỏ”. Lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại đã thiết lập khái niệm “đường biên hiệu quả”.

Một danh mục đầu tư hiệu quả là một danh mục đầu tư có mức rủi ro thấp nhất với tỷ suất lợi nhuận kỳ vọng cho trước. Rủi ro cao hơn sẽ đi kèm với lợi nhuận kỳ vọng cao hơn. Lý thuyết đa dạng hóa danh mục đầu tư do Markowitz và Jame phát triển, được Levy & Sarnat (1970) trích dẫn trong bài viết cho thấy rằng rủi ro cá nhân sẽ giảm đi khi đa dạng hóa danh mục đầu tư. Đa dạng hóa danh mục đầu tư có thể mang lại lợi nhuận nhưng mức độ đa dạng hóa có thể làm giảm rủi ro phụ thuộc vào mối tương quan giữa các khoản đầu tư trong danh mục đầu tư.

2.2.4. Phương pháp đo lường ổn định ngân hàng

Sự ổn định tài chính của hệ thống ngân hàng được xác định từ các phương pháp đo lường sự ổn định của các doanh nghiệp được thành lập từ những năm 1930. Đây là thời kỳ chủ nghĩa tư bản bắt đầu bộc lộ những khuyết điểm của hệ thống tài chính trong nền kinh tế các nước. Hầu hết các nhà kinh tế lúc này đánh giá sự ổn định tài chính của các doanh nghiệp trong nền kinh tế thông qua việc đo lường sự bất ổn tài chính của các doanh nghiệp này bằng cách sử dụng chỉ số dự đoán phá sản của các công ty.

Ban đầu, các nhà nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tỷ lệ, sau đó là phương pháp phân tích đơn biến và cuối cùng là phương pháp phân tích kết hợp các chỉ số được áp dụng vào những năm 1968 bởi Edward I. Altman khi đề xuất bài toán dự đoán xác suất phá sản của một doanh nghiệp bằng chỉ số Z-Score. Kế thừa và phát triển dựa trên nghiên cứu của Edward I. Altman, hàng loạt nghiên cứu thực nghiệm khác còn sử dụng các chỉ số như: ROA, ROE, RARROA, RARROE…. để đo lường toàn diện hơn sự ổn định của ngân hàng.

Phương pháp phân tích tỷ lệ: dựa trên ý tưởng so sánh các chỉ số của từng doanh nghiệp cụ thể với các chỉ số chuẩn tương ứng để đánh giá mức độ ổn định của doanh nghiệp. Chỉ số chuẩn là giá trị trung bình của mỗi 24 chỉ số được The Bureau of Business Reseach nghiên cứu từ 29 công ty thành công. Dựa trên kết quả đối sánh của chỉ số chuẩn và chỉ số cụ thể của doanh nghiệp mà đưa ra dự đoán sự thành công hay thất bại của các công ty còn lại trong nền kinh tế. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu thực nghiệm của các nhà kinh tế sau này cho thấy rằng phương pháp phân tích tỷ lệ vốn hiệu quả với các công ty công nghiệp trước đây không phù hợp với các ngành đặc thù khác, đặc biệt là các công ty trong lĩnh vực tài chính.

Phương pháp phân tích đơn biến: được phát triển từ năm 1965 nhằm dự báo khả năng phá sản của công ty tập trung vào một số chỉ tiêu tài chính. Điển hình, nghiên cứu của Beaver, W.H., (1966) cho rằng nguyên nhân khiến các công ty rơi vào tình trạng bất ổn tài chính là do có quá nhiều khoản phải thu trong khi quỹ tiền mặt và hàng tồn kho quá ít. Từ đó, Baever cho rằng tỷ lệ dòng tiền ròng/tổng nợ phải trả là chỉ số dùng để dự báo hoặc đánh giá khả năng phá sản của một công ty. Ngoài ra, Baever còn sử dụng chỉ số Tỷ suất sinh lời của tài sản (thu nhập ròng/TTS) để đánh giá hiệu quả kinh doanh và chỉ số Tỷ lệ nợ (Tổng nợ/TTS) để đánh giá mức độ rủi ro tài chính. Ưu điểm của chỉ số Baever là ứng dụng khá đơn giản, dễ thực hiện với độ tin cậy tương đối cao. Tuy nhiên, nhược điểm lớn nhất trong những tình huống nhất định thì các chỉ tiêu này trở nên mâu thuẫn với nhau dẫn đến việc đánh giá toàn diện còn hạn chế. Luận văn: Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

Phương pháp phân tích đa biến: ra đời nhằm khắc phục những nhược điểm của chỉ số Baever, nhà kinh tế học người Mỹ Edward I. Altman vào năm 1968 đã đưa ra phương pháp phân tích kết hợp các chỉ số (phương pháp phân tích đa biến) để dự đoán rủi ro phá sản. Ông đề xuất mô hình Z-Score bao gồm 5 yếu tố để xác định rủi ro của công ty khi điểm số nằm trong một phạm vi nhất định. Mô hình này dự đoán xác suất rất cao đối với mẫu nghiên cứu (xác suất 95% trong một năm trước khi công ty phá sản). Sau đó, nó giảm trong một khoảng thời gian dài hơn (72% trong 2 năm, 48% trong 3 năm và 29% trong 4 năm).

Do góc nhìn của các nhà kinh tế khác nhau dẫn đến sự thay đổi từ phương pháp đánh giá mức độ thất bại (phương pháp phân tích tỷ lệ) sang dự đoán khả năng phá sản (phương pháp phân tích đơn biến và đa biến) là do góc nhìn của các nhà kinh tế khác nhau. Trong khi một số nhà khoa học cho rằng “thất bại” là khi một công ty nộp đơn xin phá sản hoặc giải thể một số khác cho rằng đó là tình trạng căng thẳng về tài chính hoặc không có khả năng thanh toán các nghĩa vụ tài chính. Tuy nhiên, gần đây, hầu hết tất cả các nghiên cứu đều đồng ý rằng việc phá sản của một công ty là đáng đo lường vì họ tin rằng phá sản là “thất bại” cuối cùng. Kể từ nghiên cứu của Altman, số lượng và độ phức tạp của các mô hình dự đoán phá sản cũng tăng lên đáng kể.

Đo lường ổn định ngân hàng sử dụng chỉ số Zscore: khi áp dụng mô hình Zscore 5 yếu tố để đo lường sự ổn định của ngân hàng gặp rất nhiều khó khăn trong tính toán. Mercieca & ctg (2007) đã đề xuất phương trình ước lượng Zscore với các hệ số có thể ước lượng để khắc phục những nhược điểm trên như sau:

Mặc dù tồn tại nhiều phương pháp đo lường sự ổn định của ngân hàng nhưng phương pháp sử dụng chỉ số Zscore của Mercieca & ctg (2007) được áp dụng khá phổ biến trong nhiều nghiên cứu mang tính thử nghiệm và ngày càng phù hợp với đặc điểm hệ thống ngân hàng của hầu hết các nước hiện nay. Vì tính phổ biến cũng như ưu điểm là tính linh hoạt, dễ tính toán các chỉ số trong công thức mà vẫn phản ánh đầy đủ ý nghĩa kinh tế nên tác giả lựa chọn chỉ số Zscore trong luận văn này.

2.2.5. Lý thuyết về tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng Luận văn: Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

Có nhiều lý thuyết khác nhau liên quan đến mối quan hệ giữa cạnh tranh và ổn định ngân hàng, một trong số đó có thể kể đến là lý thuyết sức mạnh thị trường (Market power theory). Lý thuyết này đề cập đến một hoặc một số nhóm doanh nghiệp không phải chịu cạnh tranh thị trường nên họ có khả năng tăng giá trên giá thị trường hay giảm chất lượng sản phẩm hoặc sản lượng sản xuất mà vẫn có lãi (OECD, 2002). Theo Chortareas, Garza‐Garcia & Girardone (2011), hiện tại có hai cách tiếp cận lý thuyết sức mạnh thị trường là lý thuyết cấu trúc – hành vi – hiệu quả (structure – conduct – performance (SCP)) và lý thuyết sức mạnh thị trường tương đối (relative market power (RMP)).

Được phát triển bởi Brain, Daniel & Greenfield (1951), SCP hàm ý rằng việc tập trung quá mức của các doanh nghiệp sẽ làm giảm sự cạnh tranh trên thị trường bởi xu hướng hợp tác giữa các doanh nghiệp để thao túng thị trường (Chortareas & ctg, 2011). Mishkin (1999) cho rằng các ngân hàng trong một thị trường tập trung cao thường có thường được công chúng tín nhiệm, điều này dẫn đến các rủi ro về đạo đức và các ngân hàng có xu hướng đầu tư rủi ro hơn. Van Hoose (2010) đưa ra minh chứng rằng tập trung ngành cao sẽ tạo điều kiện cho các ngân hàng thao túng thị trường bằng cách áp đặt lãi suất cho vay cao và lãi suất huy động thấp. Lãi suất vay cao sẽ tác động tiêu cực tới người vay, làm tăng tỷ lệ vỡ nợ từ đó dẫn tới một cuộc khủng hoảng (Segoviano Basurto & Goodhart, 2009). Fu, Lin, & Molyneux (2014) nhận định rằng sự tập trung cao hơn làm tăng sự mong manh tài chính của các ngân hàng.

Tuy nhiên, lý thuyết trên vấp phải nhiều tranh luận từ những nhà nghiên cứu ủng hộ lý thuyết sức mạnh thị trường tương đối (RMP). Lý thuyết RMP hàm ý rằng ngân hàng càng lớn thì càng trở nên độc quyền và kiếm được nhiều lợi nhuận hơn bởi thị phần lớn và nguồn thu nhập đa dạng. Giai đoạn các doanh nghiệp mở rộng thị phần và gia tăng quy mô, khả năng tạo lợi nhuận cao hơn sẽ dẫn tới mức tập trung cao hơn (Berger, 2008). Các ngân hàng lớn sẽ có năng lực hơn trong thu thập thôn tin, sàng lọc và giám sát hoạt động tín dụng qua đó làm giảm nợ xấu. Ngoài ra, các ngân hàng lớn còn có khả năng cung ứng nhiều dịch vụ đa dạng mà qua đó duy trì mối quan hệ với khách hàng, góp phần làm giảm nguy cơ rủi ro đạo đức và lựa chọn bất lợi.

Trong nghiên cứu của Matutes & Vives (2000), các tác giả đưa ra kết quả rằng sức mạnh thị trường cao làm giảm xác xuất vỡ nợ của ngân hàng thông qua mô hình cạnh tranh không hoàn hảo. Hellmann, Murdock & Stiglitz (2000) bằng mô hình động rủi ro đạo đức (moral hazard dynamic model) tìm thấy bằng chứng rằng cạnh tranh ngân hàng có tác động tiêu cực đến sự thận trọng trong các quyết định đầu tư rủi ro của ngân hàng.

2.3. Tổng quan một số nghiên cứu có liên quan gần đây Luận văn: Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

Dựa vào nền tảng các lý thuyết đã trình bày, có thể thấy rằng có sự mâu thuẫn trong về tác động của cạnh tranh, tập trung ngành đến ổn định ngân hàng. Tương tư vậy, các nghiên cứu thực nghiệm cũng cho ra các kết quả trái ngược nhau về vấn đề này. Trong phần này, tác giả trình bày các nghiên cứu có liên quan thời gian đây để củng cố lý thuyết và làm cơ sở xây dựng các biến trong mô hình nghiên cứu của luận văn.

2.3.1. Các nghiên cứu nước ngoài

Các  kết quả thực nghiệm về tác động của cạnh tranh ngân hàng đến sự ổn định của ngân hàng tồn tại hai luồng quan điểm là “cạnh tranh – ổn định” và “cạnh tranh – dễ tổn thương”.

Quan điểm “cạnh tranh – ổn định”, tác động tích cực của cạnh tranh ngân hàng đến sự ổn định của ngân hàng có thể được tìm thấy trong nhiều nghiên cứu, chẳng hạn như:

Amidu & Wolfe (2013) nghiên cứu mức độ cạnh tranh ảnh hưởng như thế nào đến sự đa dạng hóa và sự ổn định bằng cách sử dụng mẫu gồm 978 ngân hàng ở 55 quốc gia mới nổi và đang phát triển trong khoảng thời gian 8 năm 2000-2007. Các tác giả chứng minh mối quan hệ cạnh tranh-ổn định bằng cách kiểm tra sự tương tác phức tạp giữa ba biến số chính: mức độ sức mạnh thị trường ngân hàng, sự đa dạng hóa và sự ổn định. Các chỉ số khác nhau được sử dụng như các biến phụ thuộc đại diện cho sự ổn định của ngân hàng: chỉ số Z-score làm thước đo rủi ro tổng thể của ngân hàng, lợi nhuận được điều chỉnh theo rủi ro là thước đo khả năng sinh lời, khối lượng nợ xấu trên tổng cho vay được sử dụng để đo lường rủi ro danh mục cho vay của ngân hàng và tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản để tính đến mức vốn hóa của ngân hàng. Bài viết sử dụng phương pháp ước lượng 3SLS và GLS kết hợp 2SLS như một bài kiểm tra độ bền. Kết quả cho thấy mối quan hệ tích cực và có ý nghĩa giữa cạnh tranh và ổn định. Phát hiện cốt lõi là cạnh tranh làm tăng sự ổn định khi đa dạng hóa trong và ngoài, cả thu nhập lãi và ngoài lãi của ngân hàng tăng lên. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng đa dạng hóa doanh thu là một kênh mà qua đó cạnh tranh ảnh hưởng đến rủi ro phá sản ngân hàng ở các nước mới nổi. Luận văn: Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

Goetz (2018) sử dụng bộ dữ liệu của 8412 NHTM tại Hoa Kỳ trong giai đoạn 1978-2006 để đánh giá mối quan hệ giữa cạnh tranh và ổn định ngân hàng. Trong nghiên cứu này, Goetz (2018) đo lường ổn định của hệ thống ngân hàng thông qua hệ số Z-score và mức độ tập trung ngành thông qua chỉ số HHI. Thông qua ước lượng Pool OLS và tác động cố định theo năm và quốc gia, tác giả đưa ra các kết luận chính là mức độ cạnh tranh gia tăng sẽ (i) cải thiện khả năng sinh lợi của ngân hàng thương mại, (ii) giảm bớt sự biến động của lợi nhuận, (iii) nâng cao chất lượng tài sản của ngân hàng; kết quả là cạnh tranh giúp củng cố sự lành mạnh của hệ thống ngân hàng. Ngoài ra, các phát hiện quan trọng khác trong nghiên cứu này là quy định “giới hạn chi nhánh ngân hàng trên một bang” được giở bỏ giúp nâng cao mức độ ổn định của ngân hàng, trong khi ngân hàng có sự đa dạng về mặt địa lý và có chi nhánh trên thị trường ngân hàng khác thì mức độ ổn định của các ngân hàng này lại giảm xuống. Các kết quả khác là quy mô tổng tài sản, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tài sản và tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người có tác động tích cực đối với ổn định ngân hàng.

Noman, Gee & Isa (2018) nghiên cứu vai trò của quy định ngân hàng đối với mối quan hệ giữa cạnh tranh và ổn định tài chính thông qua dữ liệu từ 180 ngân hàng thương mại tại các nước Đông Nam Á trong giai đoạn 1990–2014. Bằng phương pháp tổng quát về thời điểm (GMM), tác giả đo lường ổn định của hệ thống ngân hàng bằng hệ số Z-score và tỷ lệ nợ xấu (NPL). Các biến giải thích chính trong mô hình nghiên cứu gồm (i) các chỉ số hạn chế hoạt động, chỉ số yêu cầu về vốn, chỉ số quyền lực giám sát, bảo hiểm tiền gửi; (ii) các biến kiểm soát thuộc về ngân hàng như quy mô ngân hàng, tỷ lệ cho vay, tỷ lệ dự phòng cho vay, chỉ số hiệu quả hoạt động, sở hữu nước ngoài, (iii) các biến môi trường vĩ mô như tăng trường GDP, tỷ lệ lạm phát. Nghiên cứu này cho thấy cạnh tranh thúc đẩy sự ổn định tài chính và giảm rủi ro tín dụng. Hơn nữa, yêu cầu về vốn và giám sát chính thức là những quy định ngân hàng đơn giản và hiệu quả nhất nhằm thúc đẩy sự ổn định tài chính bất kể mức độ cạnh tranh. Các hạn chế hoạt động chỉ có hiệu quả trong việc hình thành sự ổn định tài chính trong môi trường cạnh tranh cao, trong khi bảo hiểm tiền gửi thúc đẩy sự ổn định tài chính trong môi trường ít cạnh tranh hơn. Nghiên cứu này cung cấp một khuôn khổ để xác định quy định ngân hàng phù hợp nhất nhằm thúc đẩy sự ổn định tài chính thông qua kênh cạnh tranh.

Islam & ctg (2020) phân tích tác động của cạnh tranh thị trường sản phẩm đến sự ổn định và tỷ lệ an toàn vốn của các NHTM Đông Nam Á. Nghiên cứu sử dụng kỹ thuật ước lượng dữ liệu bảng động sys-GM, dựa trên dữ liệu được trích xuất từ 63 NHTM trong ASEAN trong giai đoạn 2009 đến 2017, tổng cộng có 567 quan sát. Tác giả đo lường cạnh tranh qua hệ số Lerner và ổn định của hệ thống ngân hàng bằng hệ số Z-score. Các phát hiện thực nghiệm cho thấy cạnh tranh có tác động tích cực và đáng kể đến sự ổn định tại các ngân hàng Malaysia và Singapore trong khi đó tác động tiêu cực đến sự ổn định đối với các ngân hàng Indonesia và Thái Lan. Nghiên cứu không tìm thấy có mối quan hệ đáng kể nào giữa cạnh tranh và ổn định tại các NHTM Philippines. Ngoài ra, tác giả còn sử dụng các biến kiểm soát thuộc về ngân hàng như tỷ lệ tài sản thanh khoản (LATA), tỷ lệ chi phí hoạt động trên thu nhập (EFF), tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản (LTA), quy mô ngân hàng (SIZE), và các biến đại diện cho tác động vĩ mô như tăng trưởng GDP (GDP), tỷ lệ lạm phát (INFL). Kết quả nghiên cứu còn cho thấy cạnh tranh trên thị trường sản phẩm có ảnh hưởng tích cực đáng kể đến tỷ lệ vốn tại các ngân hàng ở Malaysia, Singapore, Indonesia và Thái Lan. Ngược lại, mối quan hệ giữa cạnh tranh thị trường sản phẩm và tỷ lệ vốn có ý nghĩa tiêu cực tại các ngân hàng ở Philippines. Nghiên cứu này ủng hộ quan điểm cạnh tranh-ổn định và gợi ý rằng các ngân hàng ở các thị trường cạnh tranh hơn nên duy trì tỷ lệ an toàn vốn cao hơn để có thể hấp thụ những khoản lỗ bất ngờ. Luận văn: Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

Các tác giả này cho rằng cạnh tranh là cần thiết để nâng cao sự ổn định tài chính và khắc phục những hạn chế của thị trường độc quyền. Trong thời đại các tổ chức tài chính tăng trưởng nhanh chóng, GC & Sharma (2020)cho thấy mối quan hệ tích cực giữa cạnh tranh ngân hàng và sự ổn định tài chính ở Nepal, cung cấp bằng chứng cho quan điểm “cạnh tranh-ổn định”. Tuy nhiên, tác động tích cực của cạnh tranh ngân hàng đối với sự ổn định của ngân hàng phụ thuộc vào mức độ mà các ngân hàng có thể hưởng lợi từ trợ cấp vì chúng được coi là “quá lớn để thất bại” (Mishkin, 1999).

Ngược lại quan điểm “cạnh tranh – dễ tổn thương” có thể thấy trong nhiều nghiên cứu được thực hiện ở các khu vực khác nhau trên thế giới, chẳng hạn như:

Saif-Alyousfi, Saha & Md-Rus (2018) sử dụng bộ dữ liệu 70 ngân hàng được niêm yết trên thị trường chứng khoán các quốc gia thuộc Hội đồng Hợp tác Vùng Vịnh (Gulf Cooperation Council – GCC) giai đoạn 1998-2016 để đánh giá mức độ tập trung ngành và cạnh tranh đến rủi ro của hệ thống ngân hàng khu vực GCC. Trong nghiên cứu này, để đo lường được mức độ rủi ro của hệ thống ngân hàng, tác giả đã sử dụng chỉ tiêu nợ xấu, độ lệch chuẩn ROA và độ lệch chuẩn ROE. Thông qua hồi quy GMM hệ thống hai giai đoạn (Two-step System GMM) các tác giả đã đề xuất các kết quả: (i) mức độ tập trung ngành đo lường thông qua chỉ số HHI càng cao thì sẽ càng làm hệ thống ngân hàng mong manh hơn, nghĩa là ít ổn định hơn; (ii) sức mạnh thị trường đo lường thông qua chỉ số Lerner càng cao giúp cải thiện hơn sự ổn định của hệ thống ngân hàng; (iii) mức độ cạnh tranh ngành đo lường thông qua chỉ số Boone, kết quả hồi quy đã khẳng định sự cạnh tranh dẫn đến sự gia tăng chấp nhận rủi ro của các ngân hàng và do vậy, mức độ ổn định của ngân hàng giảm xuống; (iv) các yếu tố thuộc nội tại ngân hàng là quy mô vốn chủ sở hữu, quy mô ngân hàng và thanh khoản giúp cải thiện mức độ ổn định của ngân hàng trong khi thu nhập ngoài lãi và tỷ lệ chi phí trên thu nhập tác động tiêu cực đến ổn định ngân hàng; (v) đối với các yếu tố vĩ mô thì tốc độ tăng trưởng GDP làm tăng mức độ ổn định của hệ thống ngân hàng và ngược lại lạm phát thì làm suy giảm sự ổn định của hệ thống ngân hàng. Bên cạnh các kết quả trên, trong nghiên cứu này, các tác giả cũng chia khoảng thời gian nghiên cứu thành 3 giai đoạn: trước khủng hoảng (19982006), giai đoạn khủng hoảng (2007-2008) và giai đoạn hậu khủng hoảng (20092016). Thông qua ước lượng tác động cố định thời gian và tác động cố định quốc gia, kết quả cho thấy mức độ biến động ROA và ROE trong giai đoạn khủng hoảng là cao hơn và có ý nghĩa thống kê, điều này hàm ý rằng hệ thống ngân hàng giai đoạn khủng hoảng tài chính thế giới những năm 2007-2008 tại khu vực GCC rủi ro hơn so với các giai đoạn khác. Đáng chú ý, Saif-Alyousfi & ctg (2018) phát hiện rằng, trung bình nợ xấu trong giai đoạn khủng hoảng lại thấp hơn so với các giai đoạn khác, họ cho rằng, trong giai đoạn này, các ngân hàng đã thu hẹp hoạt động cho vay và điều này khiến nợ xấu bình quân trong hệ thống ngân hàng cũng giảm xuống.

Phan & ctg (2019), nghiên cứu này xem xét mối quan hệ giữa cạnh tranh, hiệu quả và sự ổn định trong hệ thống ngân hàng của 4 nước Đông Á (Trung Quốc, Hồng Kông, Malaysia và Việt Nam) giai đoạn 2004–2014. Các kết quả ủng hộ quan điểm cạnh tranh-dễ tổn thương và cho rằng tăng sự cạnh tranh có thể dẫn đến giảm sự ổn định. Tương tự, rủi ro tín dụng, quy mô ngân hàng và tập trung thị trường có thể tác động tích cực đến sự ổn định của ngân hàng. Ngược lại, các ngân hàng có rủi ro thanh khoản và đa dạng hóa doanh thu cao hơn có thể trở nên kém ổn định hơn. Phân tích thực nghiệm cho thấy rằng sự ổn định của khu vực ngân hàng bị ảnh hưởng tiêu cực bởi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Các ngân hàng niêm yết có thể kém ổn định hơn so với các công ty cùng ngành không niêm yết. Môi trường kinh tế vĩ mô (được đo bằng tỷ lệ lạm phát và tăng trưởng GDP) cũng ảnh hưởng đến sự ổn định của ngân hàng. Luận văn: Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

López-Penabad, Iglesias-Casal & Neto (2021) nhận thấy rằng mối quan hệ giữa cạnh tranh ngân hàng và ổn định tài chính vẫn là một vấn đề gây tranh cãi và được thảo luận rộng rãi trong cộng đồng học thuật và chính trị. Sử dụng mẫu gồm 117 ngân hàng niêm yết tại 16 quốc gia Châu Âu trong giai đoạn 2011 đến 2018, nhóm tác giả tìm hiểu tác động của sức mạnh thị trường, được đo bằng chỉ số Lerner, đối với sự ổn định của ngân hàng, được đo bằng distance-to-default (DD) và chỉ số Zscore. Ngoài ra, tác giả sử dụng nhóm các biến kiểm soát thuộc về ngân hàng tỷ lệ VCSH, tỷ lệ VCSH trên tài sản rủi ro, quy mô ngân hàng (logarit tổng tài sản), tỷ lệ thu nhập ngoài lãi, tỷ lệ bán buôn, tỷ lệ nợ, tỷ lệ tài sản thanh khoản, tỷ lệ chi phí trên thu nhập; và nhóm các biến vĩ mô là lạm phát và tăng trưởng GDP. Kết quả cho thấy rằng sức mạnh thị trường cao hơn trong ngân hàng sẽ làm giảm hành vi rủi ro của các ngân hàng, khẳng định quan điểm “cạnh tranh-dễ tổn thương”. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, ở những quốc gia có hệ thống ngân hàng kém ổn định về mặt tài chính, sự cạnh tranh gia tăng dẫn đến việc ngân hàng chấp nhận rủi ro nhiều hơn. Ở những quốc gia có hệ thống ngân hàng ổn định hơn, sức mạnh thị trường dường như không ảnh hưởng đến sự ổn định tài chính của ngân hàng.

Các tác giả trên đều cho rằng cạnh tranh thúc đẩy các ngân hàng chấp nhận rủi ro, điều này làm tăng tính mong manh của ngân hàng.

Đặc biệt, Martinez-Miera & Repullo (2010) cho thấy khả năng phá sản tăng lên nhưng sau đó lại giảm đi sau khi xảy ra một mức độ cạnh tranh ngân hàng nhất định, dẫn đến mối quan hệ phi tuyến tính hình chuông giữa cạnh tranh và ổn định tài chính. Theo các tác giả, khi mức độ cạnh tranh không vượt quá mức tối ưu thì giả thuyết “cạnh tranh – ổn định” được giữ vững và giả thuyết “cạnh tranh – dễ tổn thương” được chấp nhận khi sự cạnh tranh của ngân hàng vượt quá mức tối ưu. Tương tự, mối quan hệ hình chữ U ngược có thể được thấy trong nghiên cứu của Tabak, Fazio & Cajueiro (2012) ở Mỹ Latinh, Jiménez, Lopez & Saurina (2013) ở Tây Ban Nha.

Bên cạnh đó, Uddin, Mollah, & Ali (2020) trong nghiên cứu về tác động của chi tiêu công nghệ đến ổn định ngân hàng với mẫu dữ liệu từ 43 quốc gia trên toàn cầu đã chỉ ra rằng, sự ổn định của ngân hàng có thể được cải thiện nhờ đầu tư vào công nghệ tuy nhiên khi đạt đến một ngưỡng nhất định, việc gia tăng chi tiêu hơn nữa sẽ ảnh hưởng xấu đến sự ổn định của các ngân hàng.

2.3.2. Các nghiên cứu trong nước Luận văn: Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

Mối quan hệ giữa cạnh tranh và ổn định ngân hàng ở Việt Nam cũng là vấn đề được các nhà nghiên cứu quan tâm. Tác giả Võ Xuân Vinh & Đặng Bửu Kiếm (2016) nghiên cứu tác động của năng lực cạnh tranh đến lợi nhuận và sự ổn định của các ngân hàng Việt Nam trong bối cảnh hội nhập. Dữ liệu nghiên cứu bao gồm các báo cáo tài chính đã được kiểm toán hàng năm của 37 NHTM Việt Nam giai đoạn 2006– 2014. Tác giả sử dụng ước lượng dữ liệu bảng và chỉ số Lerner để đo lường năng lực cạnh tranh của các ngân hàng. Kết quả nghiên cứu cho thấy việc nâng cao năng lực cạnh tranh giúp ngân hàng tạo ra lợi nhuận cao hơn và ổn định hơn (được điều chỉnh theo rủi ro). Ngoài ra, các yếu tố liên quan đến đặc điểm ngân hàng như tỷ lệ huy động vốn, cho vay và niêm yết cũng ảnh hưởng đến lợi nhuận và sự ổn định của ngân hàng.

Phạm Thủy Tú & Đào Lê Kiều Oanh (2021) trong nghiên cứu “Tác động của năng lực cạnh tranh đến mức độ ổn định tài chính của các NHTM Việt Nam trong bối cảnh tham gia hiệp định CPTPP” sử dụng bộ dữ liệu của 31 NHTM tại Việt Nam giai đoạn 2010 – 2018. Nghiên cứu sử dụng chỉ số Lerner để đo lường năng lực cạnh tranh, chỉ số Z-score để ước tính mức độ ổn định tài chính ngân hàng và các yếu tố tác động (biến độc lập) được lựa chọn dựa trên khung phân tích CAMELS (IMF) như Chỉ số đo lường sự ổn định tài chính của ngân hàng trong năm trước, Quy mô VCSH, Quy mô tài sản, Quy mô tín dụng, Thị phần huy động vốn, Tỷ lệ chi phí dự phòng rủi ro tín dụng, Khả năng đa dạng hóa thu nhập, Tốc độ tăng trưởng tổng tài sản, Hình thức sở hữu. Ngoài ra, nghiên cứu còn xác định tác động của các yếu tố môi trường cạnh tranh như Số lượng chi nhánh ngân hàng nước ngoài, Tỷ trọng tổng tài sản NHNNg trong toàn hệ thống và nhóm các yếu tố kinh tế vĩ mô gồm Tốc độ tăng trưởng GDP, Tỷ lệ lạm phát. Thông qua phương pháp hồi quy OLS, mô hình FEM, REM và các kiểm định liên quan, kết quả nghiên cứu hàm ý rằng năng lực cạnh tranh càng tăng thì mức độ ổn định tài chính của hệ thống ngân hàng Việt Nam càng tăng, ủng hộ cho quan điểm “cạnh tranh – ổn định”. Ngoài ra, kết qủa nghiên cứu cũng cho thấy rằng trong khi quy mô VCSH, quy mô tín dụng, khả năng đa dạng hoá thu nhập, tốc độ tăng trưởng GDP, tỷ lệ lạm phát, tỷ trọng tổng tài sản NHNNg trong toàn hệ thống có tác động tích cực đến ổn định ngân hàng thì Quy mô ngân hàng, thị phần huy động vốn, tốc độ tăng trưởng tổng tài sản và hình thức sở hữu tác động tiêu cực đến ổn định ngân hàng.

Ngược lại, Tô Vĩnh Sơn (2022) trong nghiên cứu phân tích tác động của cạnh tranh đối với rủi ro của ngân hàng Việt Nam đã sử dụng dữ liệu bảng không cân bằng, bao gồm 390 quan sát của 30 ngân hàng từ năm 2008-2020. Tác giả đã sử dụng phương pháp Pooled OLS, mô hình FEM, mô hình REM và phương pháp SGMM.

Cụ thể, bài viết đã kiểm tra tác động của cạnh đến rủi ro và đo lường biến cạnh tranh là Chỉ số Herfindahl – Hirschman và Tỷ lệ nợ xấu/tổng dư  nợ. Kết quả chỉ ra rằng các ngân hàng có xu hướng chấp nhận rủi ro nhiều hơn khi phải đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng gia tăng. Bên cạnh đó, các yếu tố khác như quy mô ngân hàng, tỷ lệ vốn huy động/tổng tài sản có tác động tích cực với rủi ro ngân hàng, yếu tố tốc độ tăng trưởng GDP tác động tiêu cực với rủi ro ngân hàng.

Bảng 2.1. Tóm tắt các nghiên cứu liên quan Luận văn: Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

Tác giả, năm Mô hình nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu Kết quả nghiên cứu
Cạnh tranh – ổn định
Amidu & Wolfe (2013) Mô hình 2SLS, 3SLS, phương pháp GLS Tác động của cạnh tranh và đa dạng hóa đến ổn định ngân hàng. – Cạnh tranh làm tăng sự ổn định khi đa dạng hóa trong và ngoài, cả thu nhập lãi và ngoài lãi của ngân hàng tăng lên.

– Dữ liệu của 978 ngân hàng ở 55 quốc gia mới nổi và đang phát triển trong khoảng thời gian 8 năm 2000-2007.

Võ Xuân Vinh & Đặng Bửu Kiếm (2016) Hồi quy dữ liệu bảng, phương pháp GMM Ảnh hưởng của rủi ro và năng lực cạnh tranh đến khả năng sinh lời của các ngân hàng – Nâng cao năng lực cạnh tranh giúp ngân hàng tạo ra lợi nhuận cao hơn và ổn định hơn (được điều chỉnh theo rủi ro).

– Dữ liệu của 37 NHTM Việt Nam giai đoạn 2006–2014.

Goetz (2018) Mô hình FEM, phương pháp Pooled OLS Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng -Cạnh tranh giúp củng cố sự lành mạnh của hệ thống ngân hàng.

– Dữ liệu của 8412 NHTM tại Hoa Kỳ trong giai đoạn 1978- 2006

Noman, Gee & Isa (2018) Mô hình FEM, phương pháp GMM Mối quan hệ giữa quy định ngân hàng với cạnh tranh và ổn định tài chính – Cạnh tranh thúc đẩy sự ổn định tài chính và giảm rủi ro tín dụng. – Dữ liệu từ 180 ngân hàng thương mại tại các nước Đông Nam Á trong giai đoạn 1990– 2014.
Islam & ctg (2020) Hồi quy dữ liệu bảng, phương pháp GMM Tác động của cạnh tranh thị trường đến ổn định và tỷ lệ của ngân hàng. Luận văn: Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng. – Nghiên cứu chỉ ra rằng các ngân hàng ở các thị trường cạnh tranh hơn nên duy trì tỷ lệ an toàn vốn cao hơn để có thể hấp thụ những khoản lỗ bất ngờ.

– Dữ liệu từ 63 NHTM trong ASEAN trong giai đoạn 2009 đến 2017.

Phạm Thủy Tú & Đào Lê Kiều Oanh (2021) Hồi quy dữ liệu bảng, phương pháp OLS Tác động của năng lực cạnh tranh đến mức độ ổn định tài chính – Năng lực cạnh tranh càng tăng thì mức độ ổn định tài chính của hệ thống ngân hàng Việt Nam càng tăng.

– Dữ liệu của 31 NHTM tại Việt Nam giai đoạn 2010 – 2018.

Cạnh tranh – dễ tổn thương
Saif-Alyousfi, Saha & Md- Rus (2018) Hồi quy dữ liệu bảng, phương pháp GMM Tác động của cạnh tranh và tập trung ngân hàng đến hành vi chấp nhận rủi ro và sự ổn định của ngân hàng – Cạnh tranh dẫn đến sự gia tăng chấp nhận rủi ro của các ngân hàng và do vậy, mức độ ổn định của ngân hàng giảm xuống. – Dữ liệu 70 ngân hàng niêm yết vùng GCC giai đoạn 1998- 2016.
Phan & ctg (2019) Hồi quy dữ liệu bảng, phương pháp GMM Mối quan hệ giữa cạnh tranh, hiệu quả và sự ổn định trong hệ thống ngân hàng – Cạnh tranh có thể dẫn đến giảm sự ổn định.

– Dữ liệu của hệ thống ngân hàng 4 nước Đông Á (Trung Quốc, Hồng Kông, Malaysia và Việt Nam) giai đoạn 2004– 2014.

LópezPenabad, Iglesias-Casal & Neto (2021) Hồi quy dữ liệu bảng, phương pháp GMM Mối quan hệ giữa cạnh tranh và ổn định tài chính tại các ngân hàng niêm yết châu Âu. – Sức mạnh thị trường cao hơn trong ngân hàng sẽ làm giảm hành vi rủi ro của các ngân hàng.

– Dữ liệu 117 ngân hàng niêm yết tại 16 quốc gia Châu Âu trong giai đoạn 2011 đến 2018

Tô Vĩnh Sơn (2022) Hồi quy dữ liệu bảng, phương pháp SGMM Tác động của cạnh tranh đối với rủi ro của ngân hàng Luận văn: Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng. – Ngân hàng có xu hướng chấp nhận rủi ro nhiều hơn khi phải đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng gia tăng.

– Dữ liệu của 30 ngân hàng tại Việt Nam từ năm 2008-2020.

Martinez- Miera & Repullo (2010) Mô hình Moral hazard Mối quan hệ giữa cạnh tranh và rủi ro phá sản của ngân hàng Phát hiện mối quan hệ phi tuyến tính hình chuông giữa cạnh tranh và ổn định tài chính.

 

Nguồn: Tác giả tổng hợp

2.4. Khe hở nghiên cứu Luận văn: Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

Dựa trên việc tổng hợp khung lý thuyết liên quan đến tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng và đối sánh với các nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước, tác giả nhận thấy khe hở về không gian nghiên cứu của các đề tài tương tự khi đa số nghiên cứu trong giai đoạn từ 2018 trở về trước, không bao gồm thời kỳ khủng hoảng kinh tế do đại dịch Covid-19 và bối cảnh phục hồi kinh tế hậu Covid-19. Vì vậy, đề tài chọn khoảng thời gian từ năm 2011-2023 là giai đoạn ngành ngân hàng Việt Nam tiến hành tái cơ cấu, xảy ra nhiều đại án ngân hàng và trải qua đại dịch Covid-19. Bên cạnh đó, hầu hết các nghiên cứu tập trung xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố nội tại ngân hàng truyền thống đến ổn định ngân hàng, hiếm có nghiên cứu đề cập đến mức độ ảnh hưởng của yếu tố chi tiêu cho công nghệ, đặc biệt là bối cảnh ngày nay khi mà chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ trong mọi lĩnh vực trong đó có ngành ngân hàng. Do đó, luận văn có đưa thêm yếu tố chi tiêu cho công nghệ vào mô hình để đánh giá mức độ, chiều hướng tác động của yếu tố này đến ổn định ngân hàng tại Việt Nam. Đó là những khe hỏng nghiên cứu mà tác giả sẽ lấp đầy trong luận văn.

Kết luận chương 2

Trong chương 2, tác giả đã trình bày cơ sở lý thuyết về cạnh tranh và ổn định ngân hàng bên cạnh tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng. Đồng thời tác giả cũng lược khảo các nghiên cứu trước có liên quan về tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng, theo đó, các kết quả nghiên cứu vẫn còn mâu thuẫn và chủ yếu theo 2 quan điểm chính là “cạnh tranh – dễ tổn thương” và “cạnh tranh – ổn định”. Đây là cơ sở nhằm xây dựng phương pháp nghiên cứu và mô hình ước lượng phù hợp trình bày trong chương tiếp theo. Luận văn: Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: PPNC Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Tác động của cạnh tranh đến ổn định ngân hàng […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537