Luận văn: Quy định về lỗi vô ý trong pháp luật hình sự Việt Nam

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quy định về lỗi vô ý trong pháp luật hình sự Việt Nam hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Các quy định về lỗi vô ý trong pháp luật hình sự Việt Nam dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. Lỗi vô ý trong quá trình phát triển của luật hình sự Việt Nam

Lịch sử lập pháp hình sự nói chung, lịch sử lập pháp hình sự về lỗi vô nói riêng được chúng tôi nghiên cứu dựa trên lịch sử dân tộc Việt Nam qua các thời kỳ: thời kỳ Nhà nước phong kiến (trước Cách mạng tháng Tám năm 1945), thời kỳ từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 cho đến trước khi pháp điển hóa luật hình sự lần thứ nhất (năm 1985), thời kỳ áp dụng BLHS năm 1985 và thời kỳ từ khi pháp điển hóa luật hình sự lần thứ 2 (năm 1999) cho đến nay (thời kỳ áp dụng BLHS). Đây là một quá trình đi từ việc quy định tản mạn, rời rạc các văn bản pháp luật về lỗi vô ý cho đến các quy định ngày càng khái quát và có hệ thống. Nghiên cứu một cách tổng thể lịch sử lập pháp luật hình sự Việt Nam về lỗi vô ý sẽ giúp chúng ta có được một cái nhìn toàn diện, khái quát về quá trình phát triển của chế định lỗi vô ý trong luật hình sự, tạo cơ sở đánh giá đúng đắn thực trạng pháp luật hình sự hiện hành, từ đó đưa ra kiến nghị để hoàn thiện các quy phạm này.

2.1.1. Các quy định về lỗi vô ý trong pháp luật hình sự Việt Nam thời kỳ Nhà nước phong kiến (trước Cách mạng tháng Tám năm 1945)

Trong lịch sử tồn tại và phát triển hàng nghìn năm, các nhà nước quân chủ và phong kiến ở Việt Nam đã nhận thức được vai trò của luật pháp và quan tâm đến việc ban hành pháp luật. Hệ thống pháp luật Việt Nam thời kỳ này gồm các bộ luật tổng hợp và các văn bản pháp luật khác như: Chiếu, Chi, Lệ, Lệnh, Dụ, Sắc,… Có thể nhận thấy, dưới các triều đại thời kỳ này, các Vua chúa cũng đã có những quy định riêng về lỗi vô ý. Tuy nhiên, trước thời kỳ nhà Lê thì hầu như không có pháp luật thành văn (thời kỳ này pháp luật chủ yếu dựa theo phán xét của nhà vua) hoặc tài liệu ghi chép còn lại cho đến nay là rất ít nên chúng ta không biết được có quy định vào về lỗi vô ý hay không.

Đến thời kỳ vua Lê Thánh Tông, năm 1483, ông đã ban hành Quốc triều hình luật hay còn gọi là Bộ luật Hồng Đức, gồm 6 quyển với 13 chương, 722 điều. Đây được coi là công trình pháp điển hóa lớn nhất Việt Nam thời kỳ trung cổ. Pháp luật hình sự thời kỳ này có đề cập đến hình thức lỗi vô ý nhưng không nhắc đến khái niệm của nó và không quy định tội nào thực hiện với lỗi vô ý mà chỉ quy định về sự phân hóa TNHS và hình phạt trong một số trường hợp phạm tội do lỗi vô ý, trong đó TNHS đối với tội do lỗi cố ý nặng hơn so với lỗi vô ý. Luận văn: Quy định về lỗi vô ý trong pháp luật hình sự Việt Nam.

Ví dụ: Các nhà làm luật thời Lê thường nghiêm trọng hóa hành vi gây thiệt hại với lỗi cố ý và khoan dung độ lượng đối với hành vi do lỗi cố ý, điều này được thể hiện khá rõ. Hình phạt và bồi thường thiệt hại do những hành vi phạm pháp với lỗi vô ý, sơ ý gây ra sẽ được giảm bớt. Chẳng hạn:

Điều 47: “Những người phạm tội, tuy tên gọi tội giống nhau, nhưng phải phân biệt vì lầm lỡ hay vì cố ý, phải xét tội nặng nhẹ mà thêm bớt, không nên câu nệ để hợp với ý nghĩa xử hình án. Tha người lầm lỡ không kể tội nặng, bắt tội người cố ý không kể tội nhẹ” [58].

Điều 479: “Đánh chết người thì xử tội giảo, đánh chết không phải bằng mũi nhọn và không phải cố ý giết người thì xử tội lưu đi châu xa” [58].

Hoặc các Điều 494, 498,… của Bộ luật cũng đã quy định về hành vi vô ý gây thương tích, vô ý làm chết người,… và hình phạt được áp dụng để phân biệt với hành vi cố ý.

Bên cạnh Bộ luật Hồng Đức nhà Lê thì thời nhà Nguyễn còn có bộ luật Hoàng Việt luật lệ hay còn gọi là Bộ luật Gia Long. Điểm tiến bộ hơn so với Quốc triều hình luật là Hoàng Việt luật lệ mang tính khái quát hơn, việc chia bộ luật thành các quyển khác nhau trên cơ sở phân ngành đã tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình áp dụng pháp luật trong thời kỳ này. Giống như pháp luật hình sự nhà Lê, pháp luật hình sự nhà Nguyễn cũng đề cập đến các loại tội với lỗi cố ý và vô ý, TNHS đối với các loại tội do lỗi cố ý được quy định nặng hơn đối với các loại tội với lỗi vô ý.

Ví dụ: Điều 265 – Xe, ngựa làm người bị thương, chết người – Hoàng Việt luật lệ quy định: “Phàm vô cớ không được cho ngựa chạy nhanh tha hồ nơi tiệm buôn, phố chợ. Nhân đó làm cho người ta bị thương thì giảm một bậc theo thường nhân đánh lộn có thương tích. Nếu nhân đó chết người, phạt 100 trượng, lưu 3.000 dặm” [29].

Sau giai đoạn rực rỡ nhất về mặt pháp điển hóa pháp luật hình sự thời phong kiến, Nhà nước Việt Nam lại rơi vào tình trạng tăm tối dưới ách thống trị của thực dân Pháp. Trong giai đoạn này, pháp luật được áp dụng chính thức là pháp luật của chính quốc. Chế định lỗi nói chung và lỗi vô ý nói riêng không được thừa nhận một cách triệt để. Đa số việc chém giết, xử tù đều do thực dân Pháp tự định đoạt. Luận văn: Quy định về lỗi vô ý trong pháp luật hình sự Việt Nam.

Tóm lại, đặc trưng nổi bật của những quy định về lỗi vô ý trong pháp luật hình sự cả thời kỳ phong kiến được thể hiện ở việc phân hóa TNHS và hình phạt. Ở mức độ nhất định, chính sách pháp luật thời kỳ này đã thể hiện sự công bằng trong việc xử phạt người phạm tội. Người thực hiện hành vi phạm tội với lỗi vô ý sẽ chịu TNHS nhẹ hơn so với người thực hiện do lỗi cố ý.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Hỗ Trợ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Luật

2.1.2. Các quy định về lỗi vô ý trong pháp luật hình sự Việt Nam thời kỳ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến trước năm 1985

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa được thành lập, đánh dấu mốc quan trọng trong lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam. Thời kỳ này nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa vừa phải tiến hành hai cuộc kháng chiến trường kỳ, vừa phải tiến hành công cuộc xây dựng lại đất nước, nên việc xây dựng pháp luật nói chung, pháp luật hình sự nói riêng, đặc biệt các quy phạm về lỗi vô ý còn nhiều hạn chế. Định nghĩa pháp lý về lỗi, lỗi vô ý chưa được chính thức ghi nhận trong văn bản luật hình sự. Các quy định liên quan đến lỗi vô ý không được tập hợp một cách thống nhất, chúng nằm rải rác ở các văn bản pháp luật khác nhau, thậm chí cả ở văn bản pháp luật phi hình sự. Đáng chú ý là trong báo cáo tổng kết có tính chất hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ của ngành Tòa án đã có sự phân biệt vô ý vì quá tự tin và vô ý vì cẩu thả.

Một số văn bản sau đây có quy phạm về lỗi vô ý:

Sắc lệnh số 267-SL ngày 15/6/1956 trừng trị những âm mưu và hành động phá hoại tài sản của Nhà nước, của hợp tác xã, của nhân dân và cản trở việc thực hiện chính sách, kế hoạch Nhà nước cũng đã quy định một số tội do lỗi vô ý, ví dụ: Điều 10 quy định: Luận văn: Quy định về lỗi vô ý trong pháp luật hình sự Việt Nam.

Kẻ nào vì thiếu trách nhiệm mà trong công tác mình phụ trách đã để lãng phí, để hư hỏng máy móc, dụng cụ, nguyên vật liệu, để lộ bí mật Nhà nước, để xảy ra tai nạn,… làm thiệt hại một cách nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước, của hợp tác xã, của nhân dân, làm cản trở việc thực hiện chính sách, kế hoạch Nhà nước, sẽ bị phạt từ 3 tháng đến 2 năm tù [63].

Tại Bản tổng kết thực tiễn xét xử số 10-NCPL ngày 08/1/1968 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn đường lối xử lý tội “thiếu tinh thần trách nhiệm vi phạm quy tắc an toàn lao động, gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản” đã định nghĩa lỗi vô ý vì quá tự tin, lỗi vô ý vì cẩu thả và thái độ vô trách nhiệm. Theo đó:

  • Bị cáo đã thấy trước khả năng gây ra thiệt hại nghiêm trọng, nhưng vì chủ quan, thiếu thận trọng, nhẹ dạ tin vào những tình tiết, những biện pháp phòng ngừa không đầy đủ cho nên hậu quả tác hại đã xảy ra. Đây là hình thức lỗi vô ý vì quá tự tin.
  • Bị cáo không thấy trước khả năng gây ra thiệt hại nghiêm trọng, nhưng đáng lẽ phải thấy và có thể thấy trước khả năng đó, vì đã được học tập về bảo hộ lao động, huấn luyện về phương pháp làm an toàn; hậu quả xảy ra do thiếu sự chú ý cần thiết. Đây là hình thức lỗi sơ suất vì cẩu thả.
  • Bị cáo thấy trước khả năng gây ra thiệt hại nghiêm trọng. Một mặt, họ không chắc chắn rằng tác hại sẽ xảy ra, mặt khác họ cũng không tin rằng nhất định nó sẽ xảy ra. Họ cũng không mong muốn gây ra hậu quả tác hại hay bất cứ một hậu quả xấu nào nói chung, nhưng họ cứ thực hiện hành vi vi phạm với ý nghĩ rằng nếu hậu quả tác hại xảy ra thì cũng thôi. Đây là thái độ vô trách nhiệm, làm bừa, làm ẩu [63].

Và văn bản này còn phân biệt rõ ràng rằng: “Khái niệm lỗi trong tội vi phạm quy tắc an toàn lao động không đồng nhất với khái niệm lỗi sơ suất, nó rộng hơn khái niệm lỗi sơ suất” [63].

Đối với tội “vi phạm luật lệ giao thông gây tai nạn” thì tại Bản sơ kết kinh nghiệm về đường lối xét xử tội vi phạm luật lệ giao thông gây tai nạn (Công văn số 949-NCPL ngày 25/11/1969 của Tòa án nhân dân tối cao) đã quy định:

Tội vi phạm luật lệ giao thông gây tai nạn xâm hại nền an toàn giao thông vốn thuộc về loại tội khinh xuất hoặc sơ suất… Người lái xe có hành vi vi phạm nghiêm trọng là do thiếu tinh thần trách nhiệm không chú ý kiểm tra an toàn của phương tiện vận chuyển, phóng bừa, vượt ẩu, không tuân thủ luật lệ giao thông vận tải [63].

Trong Công văn này cũng đã nhắc tới hình phạt quá mức đối với người vi phạm trong trường hợp có hỗn hợp lỗi của lái xe và nạn nhân hoặc xử phạt lái xe mặc dù tai nạn hoàn toàn do lỗi của nạn nhân gây nên.

Hay trong Bản chuyên đề tổng kết thực tiễn xét xử loại tội giết người tại Công văn số 452-HS2 ngày 10/8/1970 của Tòa án nhân dân tối cao cũng đã phân biệt giữa tội giết người và tội vô ý làm chết người như sau:

Mặt khách quan rất giống nhau: cũng là một hành vi làm chết người khác. Nhưng mặt chủ quan, và tính chất nguy hiểm cho xã hội, thì rất khác nhau. Ở tội vô ý làm chết người, không những can phạm không mong muốn cho hậu quả chết người xảy ra, hoặc không có thái độ thờ ơ mặc kệ cho hậu quả đó xảy ra mà còn không thấy được trước hậu quả đó mà đáng lẽ phải thấy và có thể thấy, hoặc tuy có thấy trước hậu quả có thể xảy ra, nhưng chủ quan tin vào một điều kiện cụ thể nào đó sẽ làm cho hậu quả không xảy ra [63]. Luận văn: Quy định về lỗi vô ý trong pháp luật hình sự Việt Nam.

Văn bản này còn phân biệt rõ ràng giữa cố ý gián tiếp làm chết người với vô ý quá tự tin làm chết người và phân biệt giữa trường hợp định giết người này nhưng lại làm chết người khác.

Như vậy, có thể thấy pháp luật hình sự trong thời kỳ xây dựng xã hội chủ nghĩa đã có những bước tiến rất lớn về mặt lập pháp. Trong các văn bản pháp luật, quy định về lỗi vô ý tuy chưa đồng bộ, thiếu tính thống nhất nhưng chúng đã ngày càng được chú trọng, văn bản hướng dẫn tương đối hợp lý, cụ thể, tạo điều kiện cho người có thẩm quyền áp dụng pháp luật một cách dễ dàng, thuận lợi, đảm bảo xét xử công bằng.

2.1.3. Các quy định về lỗi vô ý trong pháp luật hình sự Việt Nam kể từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1999

Ra đời trong hoàn cảnh đất nước đã thống nhất, cả nước đang đi lên xây dựng công nghiệp hóa, hiện đại hóa, BLHS năm 1985 đã kế thừa và phát triển những thành tựu của luật hình sự Việt Nam. Sau bốn lần sửa đổi (28/12/1989; 12/8/1990, 22/2/1992; 10/5/1997), BLHS năm 1985 đã phần nào đáp ứng được đòi hỏi của xã hội về công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm và dự báo được tình hình tội phạm trong thời gian tới.

Định nghĩa pháp lý của các hình thức lỗi vô ý lần đầu tiên được chính thức ghi nhận tại Điều 10 BLHS năm 1985:

Vô ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây:

  • Người phạm tội do cẩu thấy trước khả năng gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước.
  • Người phạm tội tuy thấy hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được [53]. Luận văn: Quy định về lỗi vô ý trong pháp luật hình sự Việt Nam.

Định nghĩa đã phân biệt được lỗi vô ý vì quá tự tin và vô ý do cẩu thả. Điều này có ý nghĩa rất lớn đối với người đọc cũng như chủ thể áp dụng pháp luật (ADPL). Bởi lẽ, ghi nhận hình thức lỗi trong BLHS chính là đảm bảo thực hiện các nguyên tắc pháp luật nói chung, nguyên tắc pháp luật hình sự nói riêng như: nguyên tắc công bằng, nguyên tắc nhân đạo, nguyên tắc TNHS trên cơ sở có lỗi, v.v.. Ghi nhận hình thức lỗi vô ý còn có ý nghĩa phát huy tối đa hiệu quả áp dụng các chế tài, góp phần đấu tranh phòng, chống tội phạm một cách tích cực nhất.

Với hơn 20 điều luật về tội phạm do lỗi vô ý ở Phần các tội phạm, BLHS năm 1985 đã phần nào thể hiện được một cách hệ thống các tội do lỗi vô ý cần được điều chỉnh tại thời điểm lúc bấy giờ. Trong đó, có những tội được nhà làm luật quy định hẳn trong cấu thành tội phạm cơ bản là hành vi được thực hiện do lỗi vô ý, ví dụ: tội vô ý làm lộ bí mật Nhà nước (Điều 93); tội vô ý làm chết người (Điều 104); tội vô ý gây thương tích nặng hoặc gây tổn hại nặng cho sức khỏe của người khác (Điều 110),… Nhưng một số tội đòi hỏi chúng ta phải tự xác định hình thức lỗi, bởi vì trong cấu thành tội phạm không quy định rõ ràng, ví dụ: tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản xã hội chủ nghĩa (Điều 139); tội vi phạm các quy định về an toàn giao thông vẫn tải (Điều 186),…

Cấu thành tội phạm của các tội do lỗi vô ý thường được BLHS năm 1985 quy định là cấu thành tội phạm vật chất, ví dụ: “Người nào vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản xã hội chủ nghĩa thì bị phạt…” (Khoản 1 Điều 140), “Người nào vô ý làm chết người thì bị phạt tù…” (Khoản 1 Điều 104), “Người nào vô ý làm lộ bí mật công tác hoặc làm mất tài liệu bí mật công tác gây hậu quả nghiêm trọng…” (Khoản 1 Điều 223), v.v…

Các cấu thành tội phạm trên có nhược điểm là quy định quá chung chung, không cụ thể về dấu hiệu lỗi vô ý trong cấu thành tội phạm cơ bản; một số hành vi phạm tội có thể được thực hiện do các hình thức lỗi khác nhau nhưng lại quy định trong cùng một điều luật với cùng một chế tài;… Điều này dẫn đến tình trạng không đảm bảo các nguyên tắc chung của pháp luật hình sự Việt Nam, không đảm bảo được sự hợp lý, công bằng trong xét xử.

Để hướng dẫn áp dụng các tội vô ý của BLHS năm 1985, thời kỳ này đã có rất nhiều văn bản dưới luật được ban hành.

Ví dụ:

Tại mục 3 Chương II của Nghị quyết 04-HĐTP ngày 29/11/1986 của Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân cao hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần các tội phạm của BLHS đã hướng dẫn về hành vi khách quan của các tội tại Điều 104, 186, 187, 188 BLHS năm 1985 như sau: Luận văn: Quy định về lỗi vô ý trong pháp luật hình sự Việt Nam.

  • Hành vi do cẩu thả hoặc quá tự tin mà làm chết người, thì nói chung bị xử lý về tội vô ý làm chết người (Điều 104, Khoản 1) như: người đi săn ban đêm do lầm lẫn mà bắn chết người.
  • Hành vi vô ý làm chết người di vi phạm quy tắc nghề nghiệp (như: công dân mắc đường dây dẫn điện do làm việc không cẩn thận gây chết người qua đường) hoặc vi phạm quy tắc hành chính (như: chặt cây công cộng trái với quy định của cơ quan có thẩm quyền, làm gẫy cành cây, đứt dây dẫn điện, gây chết người qua đường,…) thì bị xử lý theo quy định của Điều 104, Khoản 2.
  • Hành vi vô ý gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe người khác do vi phạm một quy định hành chính cụ thể mà điều luật quy định riêng (như các Điều 186, 187, 188, 190,…) thì bị xử lý theo điều luật tương ứng. Thí dụ: lái xe phóng nhanh, vượt ẩu gây tai nạn chết người bị xử lý theo Điều 186 về tội vi phạm các quy định về an toàn giao thông vận tải gây hậu quả nghiêm trọng [63].

Hay tại Phần VIII của Nghị quyết số 1-89/HĐTP ngày 19/4/1989 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn bổ sung việc áp dụng một số quy định của BLHS đã hướng dẫn về hành vi của tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản xã hội chủ nghĩa như sau:

Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản xã hội chủ nghĩa là các trường hợp vì thiếu trách nhiệm nên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ được giao mà để cho tài sản xã hội chủ nghĩa do mình trực tiếp quản lý bị mất mát, hư hỏng, lãng phí,… [63].

Như vậy, với việc ghi nhận chính thức chế định lỗi vô ý trong BLHS năm 1985, đã cho ta thấy sự phát triển trong pháp điển hóa luật hình sự cũng như trình độ lập pháp của các nhà làm luật trong thời kỳ này. Thể hiện chính sách hình sự trong BLHS năm 1985 đó chính là TNHS của những tội do lỗi vô ý sẽ nhẹ hơn so với tội do lỗi cố ý.

2.2. Các quy định về lỗi vô ý trong Bộ luật hình sự hiện hành Luận văn: Quy định về lỗi vô ý trong pháp luật hình sự Việt Nam.

Do tình hình kinh tế – văn hóa – xã hội đang phát triển, an ninh trật tự ngày càng phức tạp, kéo theo các hành vi nguy hiểm cho xã hội do lỗi vô ý xảy ra ngày càng nhiều. Bởi vậy, BLHS năm 1985 mặc dù đã qua bốn lần sửa đổi, bổ sung nhưng vẫn bộc lộ nhiều bất cập, không còn phù hợp với hoàn cảnh lúc bấy giờ. Từ thực tế đó, đòi hỏi chính sách pháp luật hình sự Việt Nam phải điều chỉnh vấn đề này một cách kịp thời, góp phần đấu tranh phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý các hành vi phạm tội.

BLHS năm 1999 ra đời đã góp phần quan trọng vào việc quản lý xã hội theo trật tự do Đảng và Nhà nước đề ra. Tuy nhiên, các quy định của BLHS năm 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009 (sau đây gọi tắt là BLHS hiện hành) nói chung cũng như các quy định về lỗi vô ý nói riêng vẫn còn có nhiều điểm hạn chế, đòi hỏi phải sửa đổi bổ sung kịp thời trong những giai đoạn tiếp theo của tiến trình phát triển lập pháp hình sự để phù hợp với xu hướng phát triển chung của thời đại.

2.2.1. Trong Phần chung của Bộ luật hình sự hiện hành

Phần chung của BLHS hiện hành bao gồm các vấn đề quan trọng nhất để làm rõ hai nội dung cơ bản, chủ yếu của luật hình sự đó là tội phạm và hình phạt. Bao gồm các quy phạm về nhiệm vụ, nguyên tắc, hiệu lực, khái niệm tội phạm, lỗi, vấn đề năng lực TNHS, các trường hợp loại trừ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi, các vấn đề liên quan đến thời hiệu truy cứu TNHS, các vấn đề về hình phạt và quyết định hình phạt, v.v… Lỗi vô ý là một trong hai hình thức lỗi, là dấu hiệu bắt buộc trong nhiều CTTP, nó không những quy định tại một điều luật riêng để xác định khái niệm lỗi vô ý mà còn quy định tại nhiều chế định liên quan khác của BLHS hiện hành. Luận văn: Quy định về lỗi vô ý trong pháp luật hình sự Việt Nam.

Kế thừa sự quy định về lỗi vô ý tại Điều 10 và các điều luật khác liên quan đến lỗi vô ý trong BLHS năm 1985, kế thừa những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm trong nhiều thập kỷ qua, BLHS hiện hành đã xây dựng một số quy phạm pháp luật về lỗi vô ý và những quy phạm phạm pháp về TNHS của một người khi thực hiện hành vi phạm tội với lỗi vô ý tại Phần chung. Tuy phần này có rất ít quy phạm liên quan đến lỗi vô ý nhưng nhà làm luật phần nào cũng đã quy định được một cách khái quát, hệ thống về các quy định chung nhất về lỗi vô ý để có thể trả lời cho các câu hỏi: lỗi vô ý là gì? hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện do lỗi vô ý có bị coi là tội phạm không? trong những trường hợp nào thì lỗi vô ý sẽ được coi là tình tiết tăng, giảm hoặc miễn TNHS? ý nghĩa của lỗi vô ý đối với các chế định liên quan, v.v… Điều 10 BLHS hiện hành là một trong những quy phạm pháp luật quan trọng tại Phần chung để trả lời các câu hỏi này. Đây có thể coi là cơ sở pháp lý trực tiếp, là tiền đề cho việc áp dụng các quy phạm khác liên quan đến lỗi vô ý.

Mặc dù BLHS chưa có định nghĩa chính thức thế nào là “lỗi vô ý” nhưng dựa vào yếu tố lý trí và ý chí thì điều luật đã chỉ ra và định nghĩa được hai hình thức của lỗi vô ý. Theo đó: Vô ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây:

Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được (Khoản 1 Điều 10 BLHS). Đây là trường hợp mà khoa học luật hình sự và thực tiễn xét xử gọi là lỗi vô ý vì quá tự tin.

Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó (Khoản 2 Điều 10 BLHS). Đây là trường hợp mà khoa học luật hình sự và thực tiễn xét xử gọi là lỗi vô ý do cẩu thả. Luận văn: Quy định về lỗi vô ý trong pháp luật hình sự Việt Nam.

Xây dựng Điều 10 BLHS hiện hành có ý nghĩa to lớn trong pháp luật hình sự nước ta. Thứ nhất: giúp cho nhà nghiên cứu, nhà hoạt động thực tiễn có thể nhận diện chính xác về lỗi vô ý, các trường hợp cụ thể của lỗi vô ý, qua đó góp phần vào sự nhận thức chung để xác định đúng đắn tội phạm. Thứ hai: điều luật giúp chúng ta có thể phân biệt rõ ràng giữa lỗi vô ý với hình thức lỗi cố ý tại Điều 9 BLHS, phân biệt lỗi vô ý với những trường hợp không có lỗi đó là trường hợp phạm tội trong sự kiện bất ngờ được quy định tại Điều 11 BLHS. Thứ ba: nó là quy chuẩn, là cơ sở để áp dụng các điều luật khác, để từ đó xác định hành vi phạm tội, TNHS, hình phạt,… một cách chính xác, hợp lý, công bằng đối với người thực hiện hành vi phạm tội do lỗi vô ý.

Lỗi vô ý không những được quy định thành một điều luật riêng để làm rõ khái niệm và các trường hợp cụ thể mà nó còn được trong Phần chung của BLHS ở những điều luật khác liên quan đến lỗi vô ý như:

Khái niệm tội phạm: Khoản 1 Điều 8 BLHS quy định: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý…”. Như vậy, một hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện do lỗi vô ý cũng bị coi là tội phạm, đó là một trong hai trường hợp lỗi để xác định tội phạm. Đây là khái niệm cơ bản nhất trong luật hình sự Việt Nam, nó manh tính khoa học thể hiện tập trung quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về tội phạm. Là cơ sở pháp lý thống nhất cho việc xác định tội phạm cụ thể nói chung, tội phạm được thực hiện do lỗi vô ý nói riêng. Mặt khác, nó cũng thể hiện rõ nét một trong những nguyên tắc cơ bản của luật hình sự Việt Nam, đó là “nguyên tắc trách nhiệm hình sự trên cơ sở lỗi” – một người phải chịu TNHS theo luật hình sự Việt Nam không chỉ đơn thuần vì đã có hành vi nguy hiểm cho xã hội, mà vì họ còn có lỗi trong việc thực hiện hành vi đó. Đây chính là việc thừa nhận và tôn trọng sự tự do thực sự của con người. Nó là cơ sở đảm bảo cho TNHS có khả năng khách quan thực hiện được với mục đích “…không chỉ nhằm trừng trị người phạm tội mà còn giáo dục họ… có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa họ phạm tội mới…” (Điều 27 BLHS). Luận văn: Quy định về lỗi vô ý trong pháp luật hình sự Việt Nam.

Tuổi chịu TNHS: tại khoản 2 Điều 12 BLHS có quy định: “Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu TNHS về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”. Có nghĩa là, một người từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 16 tuổi nếu thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội gây hậu quả rất nghiêm trọng và thuộc vào tội phạm rất nghiêm trọng nhưng với lỗi vô ý hoặc tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng thì không phải chịu TNHS về hành vi của mình. Quy định này xuất phát từ hậu quả của tội phạm, cũng như tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội được thực hiện với lỗi vô ý là ít nguy hiểm hơn so với lỗi cố ý và xuất phát từ tính nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam, cũng như thể hiện chính sách hình sự của nước ta đối với người chưa thành niên phạm tội, đặc biệt là trong lứa tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi mà luật hình sự đã không đặt ra vấn đề truy cứu TNHS đối với trường hợp mà người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, hoặc là rất nghiêm trọng do vô ý.

Về vấn đề tái phạm, tái phạm nguy hiểm: Khoản 1 Điều 49 BLHS quy định: “Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội do cố ý hoặc phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do vô ý” [54]. Có thể thấy, trường hợp phạm tội với lỗi vô ý cũng là cơ sở, căn cứ để tính tái phạm, tuy nhiên, chỉ hành vi nào phạm tội do lỗi vô ý nào gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng mới là căn cứ để xét tái phạm. Như vậy, xuất phát từ thái độ rõ ràng và kiên quyết của Nhà nước ta trong luật hình sự đối với trường hợp phạm tội trong trường hợp tái phạm, chỉ cần người phạm tội trong trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội đặc biệt nghiêm trọng với lỗi vô ý là đã đủ căn cứ để tính tái phạm cho người phạm tội, buộc họ phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi cao hơn các trường hợp khác. Còn đối với trường hợp xác định tái phạm nguy hiểm điểm a Khoản 2 Điều 49 BLHS quy định: “Đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng,… do cố ý” [54], thì cũng thấy hành vi phạm tội được thực hiện do lỗi vô ý sẽ không bị áp dụng điều luật này. Luận văn: Quy định về lỗi vô ý trong pháp luật hình sự Việt Nam.

Giai đoạn phạm tội: Các giai đoạn thực hiện tội phạm là các mức độ thực hiện tội phạm cố ý, bao gồm chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tội phạm hoàn thành.

Điều 17 BLHS quy định: “Chuẩn bị phạm tội là tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm…” [54]. Điều 18 BLHS quy định: “Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài muốn của người phạm tội…” [54]. Hay Điều 19 BLHS quy định: ” Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản…” [54]. Theo khoa học luật hình sự, không phải hành vi phạm tội nào cũng phải trải qua các giai đoạn phạm tội này. Chỉ có hành vi được thực hiện với lỗi cố ý (thường là lỗi cố ý trực tiếp) mới có giai đoạn chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội. Đối với hành vi do lỗi vô ý, chúng ta chỉ đặt ra trường hợp có tội hay không có tội, người phạm tội không mong muốn tội phạm xảy ra cho nên không thể có việc “chuẩn bị” hay “chưa đạt” để buộc họ phải chịu TNHS về điều chưa xảy. Vì vậy, hành vi phạm tội nào thực hiện do lỗi vô ý thì sẽ không bị áp dụng các điều luật này.

Đồng phạm: Khoản 1 Điều 20 BLHS quy định: “Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm” [54]. Về mặt chủ quan, đồng phạm đòi hỏi những người phạm tội cùng thực hiện tội phạm đều có lỗi cố ý, có nghĩa là khi thực hiện hành nguy hiểm cho xã hội, mỗi người đồng phạm không chỉ cố ý đối với hành vi của mình mà còn biết và mong muốn sự cố ý tham gia của những người đồng phạm khác để cùng thực hiện chung một mục đích. Cũng từ điều luật này ta có thể thấy rằng hai người cùng vô ý thực hiện một tội phạm thì không bao giờ có sự tiếp nhận ý chí của nhau, do đó không phải là đồng phạm với nhau.

Không tố giác tội phạm: Khoản 1 Điều 22 BLHS quy định: “Người nào biết rõ tội phạm đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà không tố giác,…” [54]. Hành vi không tố giác tội phạm chỉ được thực hiện bởi lỗi cố ý, người phạm tội nhận thức được hành vi không tố giác của mình là nguy hiểm cho xã hội, mặc dù có khả năng thực tế để tố giác tội phạm nhưng đã không sử dụng khả năng đó, tạo điều kiện để người phạm tội trốn tránh sự trừng phạt của pháp luật, gây cản trở cho việc điều tra, truy tố, xét xử người phạm tội. Hành vi không tố giác này không thể thực hiện với lỗi vô ý được bởi lẽ, người phạm tội đã biết rõ là tội phạm đang được thực hiện hoặc đã thực hiện thì không thể có trường hợp là vô ý không tố giác.

2.2.2. Trong Phần các tội phạm của Bộ luật hình sự hiện hành Luận văn: Quy định về lỗi vô ý trong pháp luật hình sự Việt Nam.

Nghiên cứu tổng thể Phần các tội phạm của BLHS hiện hành ta thấy có 51 điều luật quy định về tội do lỗi vô ý và rất nhiều CTTP tăng nặng, đặc biệt tăng nặng liên quan đến lỗi vô ý. Với số lượng điều luật quy định về lỗi vô ý nhiều như vậy, thì phần nào BLHS cũng đã điều chỉnh bao quát được hầu hết các quan hệ xã hội thuộc lĩnh vực này.

Trên cơ sở số liệu tại Phụ lục 1 ta có thể rút ra một số nhận xét về sự thể hiện của lỗi vô ý trong các điều luật về tội phạm trong Phần các tội phạm của BLHS hiện hành như sau:

Thứ nhất, trong tổng số 24 chương trong phần các tội phạm của BLHS hiện hành, chỉ có 7 chương quy định các tội phạm thực hiện bằng lỗi vô ý. Trong tổng số 272 điều luật về tội phạm thì cũng chỉ có 51 điều luật quy định tội phạm vô ý, chiếm tỷ lệ 18,8%, được phân bố không đồng đều tại các chương, cao nhất là chương XIX quy định các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng (với 31/59 điều luật, chiếm 52,5% của chương đó).

Thứ hai, tỷ lệ số khung hình phạt của tội phạm được thực hiện do lỗi vô ý trên tổng số khung hình phạt trong Phần các tội phạm của BLHS chiếm tỷ lệ thấp là 20,4%, cao nhất vẫn là chương XIX quy định các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng (chiếm 55,6% của chương đó).

So sánh hình phạt của các tội do lỗi vô ý với tội do lỗi cố ý có hành vi khách quan tương tự, cho thấy mức tối thiểu của khung hình phạt tại CTTP cơ bản của tội do lỗi vô ý thấp hơn so với các tội do lỗi cố ý. Mức hình phạt tối đa trong khung hình phạt nặng nhất của tội do lỗi vô ý thường là mười lăm năm, trong khi đó đối với các tội do lỗi cố ý, mức tối đa có thể là tù chung thân hoặc tử hình. Luận văn: Quy định về lỗi vô ý trong pháp luật hình sự Việt Nam.

Ví dụ: Cùng là hành vi xâm phạm tính mạng của người khác, trong khi Khoản 2 Điều 93 BLHS quy định hình phạt tù áp dụng từ bảy năm đến mười lăm năm, nhưng Khoản 1 Điều 98 BLHS về tội vô ý làm chết người lại chỉ quy định hình phạt tù từ sáu tháng đến năm năm; cùng là hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác: Khoản 1 Điều 104 BLHS quy định hình phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm, nhưng Khoản 1 Điều 108 BLHS lại quy định hình phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến hai năm, v.v…

Quy định như vậy là phù hợp với các nguyên tắc của luật hình sự.

Thứ ba, nhìn chung BLHS hiện hành đã có những bước phát triển đáng kể so với BLHS năm 1985 khi xây dựng các quy phạm có liên quan đến lỗi vô ý:

BLHS đã mở rộng phạm vi truy cứu TNHS thông qua hình thức tội phạm hóa một số hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện do lỗi vô ý mà BLHS năm 1985 không coi là tội phạm. Ví dụ: Tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin trên mạng máy tính, mạng viễn thông, mạng Internet (Điều 226 BLHS); tội vi phạm quy định về sử dụng lao động trẻ em (Điều 228 BLHS), v.v…

Mặt khác, BLHS hiện hành đã thực hiện phi tội phạm hóa các hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện do lỗi vô ý nhưng chưa đến mức phải xử lý hình sự hoặc hiện tại nó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa. Đó là những hành vi phạm pháp luật có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội không lớn hoặc hậu quả thiệt hại xảy ra là không đáng kể, vì thế BLHS đã phi tội phạm hóa chúng bằng cách nâng mức xác định hậu quả thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra trong CTTP cơ bản của tội đó. Ví dụ: Một loạt các tội do lỗi vô ý được BLHS năm 1985 quy định hậu quả là gây “thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe và gây hậu quả nghiêm trọng đến tài sản” thì nay đã được BLHS hiện hành quy định là gây “thiệt hại cho tính mạng, thiệt hại nghiêm trọng cho sức khỏe và tài sản”. Như vậy, những hành vi được thực hiện do lỗi vô ý nào mà gây thiệt hại ít nghiêm trọng cho sức khỏe và tài sản thì có thể sẽ không bị coi là tội phạm nữa, ví dụ: Luận văn: Quy định về lỗi vô ý trong pháp luật hình sự Việt Nam.

  • Tội cản trở giao thông đường bộ (Điều 203 BLHS), tội cản trở giao thông đường sắt (Điều 209 BLHS), tội cản trở giao thông đường không (Điều 217 BLHS), so với Điều 187 BLHS năm 1985.
  • Tội vi phạm các quy định về khám bệnh, chữa bệnh, sản xuất, pha chế thuốc, cấp phát thuốc, bán thuốc hoặc dịch vụ y tế khác (Điều 242 BLHS), so với Điều 196 BLHS năm 1985.
  • Tội gây rối trật tự công cộng (Điều 245 BLHS), so với Điều 198 BLHS năm 1985.
  • Tội vi phạm các quy định về bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hóa, danh lam, thắng cảnh gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 272 BLHS), so với Điều 216 BLHS năm 1985, v.v…

Một điểm tiến bộ nữa của BLHS hiện hành đó là nhà làm luật đã tách rất nhiều tội do lỗi vô ý trong cùng một điều luật của BLHS năm 1985 thành nhiều điều luật riêng biệt để phù hợp với sự phát triển của xã hội và sự thay đổi về tầm quan trọng của các quan hệ xã hội. Rõ ràng việc quy định nhiều hành vi nguy hiểm cho xã hội khác nhau trong cùng một điều luật, chịu cùng một khung hình phạt là không hợp lý. Ví dụ: Điều 186 BLHS năm 1985 đã tách thành các Điều 202, 208, 212, 216 BLHS; Điều 187 BLHS năm 1985 đã tách thành các Điều 203, 209, 213, 217 BLHS; Điều 188 BLHS năm 1985 đã tách thành các Điều 204, 205, 210, 211, 214, 215, 218, 219 BLHS; v.v…

Thứ tư, đa số CTTP cơ bản của các tội do lỗi vô ý trong BLHS hiện hành đều được xây dựng dưới dạng CTTP vật chất, thể hiện bằng quy định “gây hậu quả nghiêm trọng”, hậu quả này có thể là thiệt hại tính mạng, thiệt hại nghiêm trọng sức khỏe hoặc tài sản. Luận văn: Quy định về lỗi vô ý trong pháp luật hình sự Việt Nam.

Ví dụ: Khoản 1 Điều 285 BLHS quy định: “Người nào vì thiếu trách nhiệm mà không thực hiện hoặc thực không đúng nhiệm vụ được giao gây hậu quả nghiêm trọng,…” [54]. Khoản 1 Điều 301 BLHS quy định: “Người nào trực tiếp quản lý, canh gác, dẫn giải người bị giam, giữ mà thiếu trách nhiệm để người đó trốn gây hậu quả nghiêm trọng,…” [54]. Hay Khoản 1 Điều 317 BLHS quy định: “Người nào chấp hành mệnh lệnh một cách lơ là, chậm trễ, tùy tiện gây hậu quả nghiêm trọng, v.v…” [54].

Quy định trên là phù hợp với khoa học luật hình sự. Vì chúng ta thường không thể xác định được tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được thực hiện do lỗi vô ý qua mối liên hệ với: động cơ, mục đích, công cụ, phương tiện phạm tội hoặc qua các giai đoạn như chuẩn bị phạm tội,… như đối với lỗi cố ý. Ta chỉ có thể xét tính chất, mức độ nguy hiểm của nó thông qua hậu quả xảy ra. Chỉ trong một số trường hợp đặc biệt, do tầm quan trọng của quan hệ xã hội bị xâm hại nên TNHS vẫn được đặt ra đối với người thực hiện hành vi phạm tội do lỗi vô ý mà hậu quả thực tế chưa xảy ra và CTTP của những tội này là CTTP hình thức. Ví dụ: tội đưa vào sử dụng phương tiện giao thông đường không không đảm bảo an toàn (Điều 218 BLHS); tội điều động hoặc giao cho người không đủ điều kiện điều khiển các phương tiện giao thông đường không (Điều 219 BLHS); tội vô ý làm lộ bí mật nhà nước, tội làm mất tài liệu bí mật nhà nhà nước (Điều 264 BLHS); tội vô ý làm lộ bí mật công tác quân sự, tội làm mất tài liệu bí mật công tác quân sự (Điều 328 BLHS); v.v…

Thứ năm, các tội do lỗi vô ý trong Phần các tội phạm của BLHS quy định về dấu hiệu lỗi vô ý dưới nhiều cách thức khác nhau:

Cách thứ nhất: dấu hiệu lỗi vô ý được mô tả cùng với hành vi khách quan và tên tội thường là “tội vô ý…”. Ví dụ: Tội vô ý làm chết người (Điều 98 BLHS), tội vô ý làm chết người do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Điều 99 BLHS), tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 108 BLHS), tội vô ý gây thương thích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính (Điều 109 BLHS), tội vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản (Điều 145 BLHS), tội vô ý làm lộ bí mật Nhà nước (Điều 264 BLHS), v.v…

Cách thứ hai: dấu hiệu lỗi vô ý không được mô tả cùng với hành vi khách quan mà có thể được mô tả gắn liền với hậu quả. Từ đó, CTTP loại tội này có thể được quy định là: “Người nào vi phạm quy định về… (vô ý) gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội…”. Những điều luật này chiếm đa số trên tổng các tội do lỗi vô ý. Vì vậy, nó đòi hỏi người áp dụng pháp luật phải có trình độ chuyên môn nhất định để hiểu và áp dụng được. Ví dụ: Tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước (Điều 144 BLHS), tội vi phạm quy định về sử dụng lao động trẻ em (Điều 228 BLHS), tội vi phạm quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 229 BLHS), tội vi phạm quy định về quản lý chất phóng xạ (Điều 237 BLHS), tội vi phạm quy định về an toàn vận hành công trình điện (Điều 241 BLHS), tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 285 BLHS), v.v…

Cách thứ ba: một số trường hợp đặc biệt thì trong CTTP cơ bản, dấu hiệu lỗi vô ý được quy định song song với dấu hiệu lỗi cố ý của cùng một hành vi khách quan. Người phạm tội thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội vi phạm do lỗi cố ý hoặc lỗi vô ý đều có thể bị áp dụng điều luật này. Đây cũng là một hạn chế lớn của BLHS hiện hành. Các CTTP này không rõ ràng dẫn đến sự tùy tiện trong áp dụng pháp luật. Ví dụ: Tội điều khiển tàu bay vi phạm các quy định về hàng không của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 222 BLHS), tội điều khiển phương tiện hàng hải vi phạm các quy định về hàng hải của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 223 BLHS), tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin trên mạng mánh tính, mạng viễn thông, mạng internet (Điều 226 BLHS), v.v… Luận văn: Quy định về lỗi vô ý trong pháp luật hình sự Việt Nam.

Thứ sáu, hậu quả nguy hiểm cho xã hội được nêu trong tội do lỗi cố ý thường thấp hơn hậu quả được nêu trong tội do lỗi vô ý.

Ví dụ: Hành vi vô ý gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản được coi là đáng kể và bị coi là tội phạm khi giá trị tài sản bị thiệt hại là năm mươi triệu (Khoản 1 Điều 145 BLHS), nhưng tội phạm do lỗi cố ý gây thiệt hại cho tài sản chỉ ở mức hai triệu đồng đã được coi là đáng kể và bị coi là tội phạm (Khoản 1 Điều 143 BLHS). Tương tự như vậy, hành vi vô ý gây thương tích đáng kể và bị coi là tội phạm khi nó gây thương tích cho người khác với tỷ lệ thương tật từ 31% (Khoản 1 Điều 108 BLHS), nhưng tội phạm do lỗi cố ý gây thương tích chỉ ở mức 11% là đã được coi là đáng kể và bị coi là tội phạm (Khoản 1 Điều 104 BLHS), v.v…

Thứ bảy, dấu hiệu lỗi vô ý không những được thể hiện ở CTTP cơ bản mà nó còn được quy định trong các CTTP tăng nặng hoặc đặc biệt tăng nặng TNHS và khoa học luật hình sự gọi là “hỗn hợp lỗi”. Theo đó, hỗn hợp lỗi là trường hợp trong một CTTP tồn tại hai loại lỗi (cố ý và vô ý). Hỗn hợp lỗi chỉ có thể xảy ra ở những CTTP tăng nặng, đặc biệt tăng nặng của những tội do cố ý có tình tiết tăng nặng, đặc biệt tăng nặng TNHS là những hậu quả nguy hiểm cho xã hội và người phạm tội có lỗi vô ý đối với hậu quả đó.

Ví dụ: CTTP cơ bản của tội hiếp dâm (Khoản 1 Điều 111 BLHS) có dấu hiệu lỗi cố ý và CTTP tăng nặng của tội này có tình tiết tăng nặng là hậu quả chết người (điểm C Khoản 3 Điều 111 BLHS), người phạm tội vô ý đối với hậu quả này. Hoặc CTTP cơ bản của tội cố ý gây thương tích (Khoản 1 Điều 104 BLHS) có dấu hiệu lỗi cố ý và CTTP tăng nặng của tội này có tình tiết tăng nặng là hậu quả chết người (Khoản 3 Điều 104 BLHS), người phạm tội vô ý đối với hậu quả này. Trong các CTTP tăng nặng này có hai hình thức lỗi khác nhau: lỗi cố ý với tình tiết khách quan mà CTTP cơ bản phản ánh và lỗi vô ý đối với hậu quả đã xảy ra – đây cũng là tình tiết khách quan định khung tăng nặng.

Như vậy, bằng việc ghi nhận chính thức dấu hiệu lỗi vô ý tại Phần chung và Phần các tội phạm, BLHS hiện hành đã tạo hành lang pháp lý vững chắc để các cơ quan bảo vệ pháp luật và Tòa án nhận thức, áp dụng thống nhất về lỗi vô ý. Góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng nguyên tắc TNHS trên cơ sở lỗi và nguyên tắc phân hóa tối đa TNHS trong thực tiễn áp dụng.

2.3. Những tồn tại, hạn chế trong các quy định của Bộ luật hình sự hiện hành về lỗi vô ý Luận văn: Quy định về lỗi vô ý trong pháp luật hình sự Việt Nam.

BLHS hiện hành là kết quả sau năm lần sửa đổi, bổ sung và thay thế các BLHS trước đó. Nhưng dường như nó vẫn chưa được hoàn thiện về mặt kỹ thuật lập pháp, nhất là việc xây dựng các quy định liên quan đến lỗi vô ý. Nghiên cứu từng điều luật trong BLHS cho thấy việc xây dựng hệ thống quy định về lỗi vô ý tại Phần chung hay các CTTP có dấu hiệu lỗi vô ý tại Phần các tội phạm chưa tuân theo một cách đầy đủ, triệt để các nguyên tắc chung và do vậy Bộ luật còn bộc lộ nhiều hạn chế dẫn đến sự nhận thức không thống nhất, cần phải được khắc phục kịp thời.

Thứ nhất, dấu hiệu lỗi hình sự nói chung là một trong những dấu hiệu bắt buộc của mọi CTTP cơ bản. Nó cho phép khẳng định được một hành vi nguy hiểm cho xã hội có phải là tội phạm hay không? nếu là tội phạm thì việc phân hóa TNHS như thế nào? v.v… Tuy vậy, nghiên cứu cho thấy trái ngược với vai trò to lớn như vậy, chế định lỗi, đặc biệt là lỗi vô ý lại chưa được chú trọng trong Phần chung của BLHS hiện hành. Hạn chế lớn nhất của BLHS là mới chỉ đề cập đến khái niệm của các hình thức lỗi vô ý mà chưa quy định được khái niệm chung về lỗi vô ý. Và quy định này cũng chỉ dừng lại ở việc mô tả các cấu trúc tâm lý của những trường hợp có lỗi vô ý mà không nêu được bản chất chung của chúng. Từ đó sẽ gây khó khăn cho chủ thể áp dụng pháp luật, để xác định được lỗi vô ý là gì thì họ chỉ có thể dựa vào văn bản hướng dẫn, thực tiễn áp dụng hoặc dựa vào các phân tích, kết luận trong khoa học pháp luật hình sự chứ cho đến nay chưa có một văn bản chính thức nào làm căn cứ pháp lý để áp dụng.

Thứ hai, dấu hiệu lỗi cố ý ở một số trường hợp không bắt buộc phải mô tả trong CTTP cơ bản vì bản thân tên tội danh đó đã chứa đựng nội dung lỗi cố ý, ví dụ như: tội giết người (Điều 93 BLHS), tội hiếp dâm (Điều 111 BLHS), tội cướp tài sản (Điều 133 BLHS) hoặc những tội danh khác có hành khách quan là dùng vũ lực, có mục đích là nhằm chiếm đoạt. Nhưng đối với tội do lỗi vô ý thì việc mô tả dấu hiệu lỗi trong CTTP là bắt buộc. “Nếu trong cấu thành tội phạm không mô tả dấu hiệu lỗi thì theo nguyên tắc có lợi cho người phạm tội phải hiểu đó chỉ có thể là lỗi cố ý” [28]. Vì vậy, nguyên tắc là phải có điều luật nào tại Phần các tội phạm quy định cụ thể, trực tiếp về dấu hiệu lỗi vô ý trong CTTP thì hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện do lỗi vô ý tương ứng với các điều luật đó mới bị coi là tội phạm. Nhưng những tội danh có hình thức lỗi vô ý được chỉ ra ngay trong CTTP cơ bản chiếm rất ít (ví dụ: Điều 98, 99, 108, 109, v.v.. BLHS). Trong khi đó, Phần chung BLHS lại không có quy phạm nào khẳng định rứt khoát vấn đề này. Câu hỏi đặt ra là khi một hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện do lỗi vô ý đã gây hậu quả rất nghiêm trọng nhưng không có điều luật nào đáp ứng tất cả các dấu hiệu của hành vi này, chỉ có những điều luật tương tự (khác về một số dấu hiệu như: có là chủ thể đặc biệt hay không? hậu quả như thế nào?…) thì có được áp dụng không? Vấn đề này nhất thiết phải được quy định rõ trong Phần chung của BLHS. Luận văn: Quy định về lỗi vô ý trong pháp luật hình sự Việt Nam.

Thứ ba, như đã phân tích ở hạn chế thứ hai, việc chỉ rõ dấu hiệu lỗi vô trong CTTP cơ bản của từng điều luật là một nguyên tắc bắt buộc. Nhưng số lượng điều luật trong Phần các tội phạm BLHS được quy định như vậy không nhiều (ví dụ: tội vô ý làm chết người (Điều 98 BLHS), tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 108 BLHS), tội vô ý làm lộ bí mật nhà nước (Điều 264 BLHS), v.v…) còn lại đa số các tội chưa được quy định rõ ràng về hình thức lỗi này trong CTTP cơ bản, đòi hỏi người đọc phải tự xác định (ví dụ: tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ (Điều 202 BLHS), tội vi phạm quy định về xây dựng gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 229 BLHS), tội vi phạm quy định về quản lý chất phóng xạ (Điều 237 BLHS), v.v..). Hạn chế này của BLHS ảnh hưởng lớn đến việc ADPL của các cơ quan bảo vệ pháp luật. Quy định chung chung dễ gây cho người đọc sự nhầm lẫn, áp dụng một cách suy đoán, không thống nhất. Để xác định chính xác tội danh đối với các tội không được quy định rõ ràng này, hầu hết chủ thể ADPL phải dựa trên lý luận của khoa học luật hình sự hoặc dựa trên thực tiễn xét xử. Điều này là trái với các nguyên tắc pháp chế của nước ta, vì nước ta không coi án lệ là nguồn của pháp luật, những giải thích ngoài văn bản pháp luật sẽ bị coi là không chính thống và không có giá trị pháp lý.

Thứ tư, BLHS hiện hành đang tồn tại tình trạng quy định ghép hai hình thức lỗi khác nhau vào trong một CTTP cơ bản của cùng một điều luật, cùng một khung hình phạt. Cách thức xây dựng điều luật như vậy là không hợp lý, không thể hiện được nguyên tắc của pháp luật hình sự, đặc biệt là nguyên tắc phân hóa TNHS và nguyên tắc công bằng. Ví dụ: Tội điều khiển tàu bay vi phạm các quy định về hàng không của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 222 BLHS), tội điều khiển phương tiện hàng hải vi phạm các quy định về hàng hải của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 223 BLHS), tội đưa hoặc sử dụng trái phép thông tin trên mạng và trong máy tính (Điều 226 BLHS), v.v…

Chính bản thân những điều luật này đã tạo ra sự không công bằng. Dẫn đến tình trạng cùng một hành vi phạm tội được thực hiện trong những điều kiện hoàn cảnh như nhau, gây ra hậu quả giống nhau, nhưng được thực hiện bằng lỗi cố ý hoặc vô ý thì đều có thể chịu một mức hình phạt tương tự nhau. Điều này trái ngược hoàn toàn với quan điểm của nhà làm luật cũng như các nhà khoa học luật hình sự khi họ cho rằng hành vi phạm tội được thực hiện do lỗi cố ý bao giờ cũng nguy hiểm hơn hành vi phạm tội do lỗi vô ý và phải chịu TNHS nặng hơn hành vi phạm tội do lỗi vô ý. Mặt khác, lỗi là biểu hiện của mặt chủ quan, lỗi là thái độ của người thực hiện hành vi đối với tất cả những tình tiết khách quan được phản ảnh trong các CTTP cơ bản. Do vậy, không thể cùng một lúc có hai loại lỗi khác nhau trong cùng một CTTP cơ bản.

Thứ năm, một hạn chế nữa trong việc mô tả dấu hiệu lỗi vô ý trong CTTP, đó là: Luận văn: Quy định về lỗi vô ý trong pháp luật hình sự Việt Nam.

Cách mô tả làm cho người đọc không biết rõ tính chất của loại tội được phản ánh là tội do cố ý hay do vô ý. Ví dụ: Tội làm chết người trong khi thi hành công vụ (Điều 97 BLHS); tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ (Điều 107 BLHS); tội làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho động vật, thực vật (Điều 187 BLHS); v.v…

Mô tả không có tính thống nhất giữa các CTTP. Ví dụ: cùng một hành vi “cản trở…” nhưng BLHS không quy định nó là hành vi do lỗi cố ý hay vô ý, nên có CTTP phải mô tả là “cố ý cản trở…” (như khoản 1 Điều 306 BLHS quy định: “Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý cản trở việc thi hành án…”). Nhưng có CTTP lại không mô tả dấu hiệu lỗi kèm theo như vậy mà chỉ mô tả là “cản trở…” và tùy từng trường hợp dấu hiệu lỗi sẽ được hiểu là cố ý hoặc vô ý (ví dụ khoản 1 Điều 203 BLHS quy định: “Người nào có một trong các hành vi sau đây cản trở giao thông…”, hành vi này được thực hiện với lỗi vô ý; khoản 1 Điều 318 BLHS quy định: “Người nào cản trở đồng đội thực hiện nghĩa vụ…”, hành vi này lại được thực hiện với lỗi cố ý).

Việc mô tả này quá trừu tượng lại không thống nhất. Làm cho người đọc khó hiểu, cơ quan bảo vệ pháp luật khó áp dụng, do đó tình trạng nhầm lẫn khi xác định tội danh là điều khó tránh khỏi.

Thứ sáu, với nguyên tắc: khi xây dựng các dấu hiệu CTTP, nếu các yếu tố của CTTP giống nhau hoặc tương đương nhau thì tội được thực hiện do lỗi vô ý có mức độ nguy hiểm thấp hơn tội do lỗi cố ý. Vì vậy, dấu hiệu hậu quả trong tội do lỗi cố ý sẽ được quy định thấp hơn dấu hiệu hậu quả trong tội do lỗi vô ý. Điều này cũng nhằm đảm bảo thực hiện nguyên tắc phân hóa TNHS và nguyên tắc công bằng trong pháp luật hình sự. Theo đó, người phạm tội nặng hơn thì phải chịu TNHS nặng hơn và ngược lại, người phạm tội nhẹ hơn thì chỉ phải chịu TNHS nhẹ hơn. Luận văn: Quy định về lỗi vô ý trong pháp luật hình sự Việt Nam.

Nhưng một số tội danh trong Phần các tội phạm của BLHS dường như không tuân theo những nguyên tắc trên đây. Ví dụ: dấu hiệu hậu quả được quy định tại tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước (Khoản 1 Điều 144 BLHS) và tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng (Khoản 1 Điều 165 BLHS). Cụ thể: Khoản 1 Điều 144 BLHS quy định: “Người nào có nhiệm vụ trực tiếp trong công tác quản lý tài sản của Nhà nước, vì thiếu trách nhiệm mà để mất mát, hư hỏng, lãng phí gây thiệt hại cho tài sản của Nhà nước có giá trị từ năm mươi triệu đồng,…” [54], nhưng Khoản 1 Điều 165 BLHS lại quy định: “Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây thiệt hại từ một trăm năm mươi triệu đồng…” [54]. Đều là chủ thể đặc biệt (trong trường hợp có trách nhiệm với tài sản của Nhà nước) thực hiện hành vi gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước. Nhưng Khoản 1 Điều 144 BLHS là hành vi vô ý xâm phạm đến quyền sở hữu Nhà nước, Khoản 1 Điều 165 BLHS là hành vi cố ý xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế. Xét ở một khía cạnh nhất định, trong nhiều trường hợp khách thể là các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế còn quan trọng hơn khách thể quyền sở hữu nhà nước. Bởi vì, các quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế có thể mang tính vĩ mô, liên quan đến một ngành kinh tế nhất định hoặc ảnh hưởng đến cả nền kinh tế của quốc gia,… trong khi đó, quyền sở hữu Nhà nước có thể chỉ đơn thuần là hành vi đó gây thiệt hại cho một tài sản của một cơ quan, doanh nghiệp, trong phạm vi mà người có có trách nhiệm quản lý, hay nói cách khác là nó mang tính cục bộ. Do vậy, hành vi cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng phải có tính chất và mức độ nguy hiểm hơn hành vi thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước. Thế nhưng, hậu quả thiệt hại đáng kể để bị coi là tội phạm trong tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng (một trăm triệu đồng) lại được quy định lớn hơn hậu quả trong tội thiếu trách nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước (năm mươi triệu đồng). Theo chúng tôi, quy định này là không hợp lý.

Thứ bảy, trong BLHS có 15 điều luật đề cập đến dạng “hỗn hợp lỗi”. Xác định đúng dạng lỗi này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc định khung hình phạt. Trong thực tiễn ADPL có những câu hỏi đặt ra như: hỗn hợp lỗi là gì? trường hợp nào được coi là hỗn hợp lỗi? khi người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội với lỗi hỗn hợp thì phải xử lý như thế nào? có trường hợp nào trong một CTTP cơ bản lại cùng tồn tại hai hình thức lỗi cố ý và vô ý không?… Nhưng BLHS lại chưa hề có quy định điều chỉnh vấn đề này.

Thứ tám, một điểm hạn chế nữa trong các quy định của BLHS đó là có những tội danh nhà làm luật chỉ quy định về hành vi được thực hiện đối với lỗi cố ý mà không quy định về lỗi vô ý. Ví dụ: Tội cố ý truyền HIV cho người khác (Điều 118 BLHS), tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng (Điều 165 BLHS), tội cố ý làm trái quy định về phân phối tiền, hàng cứu trợ (Điều 169 BLHS), v.v… Vậy khi một hành vi truyền HIV cho người khác được thực hiện do lỗi vô ý, hành vi làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng, hay hành vi làm trái quy định về phân phối tiền, hàng cứu trợ được thực hiện do lỗi vô ý thì có bị truy cứu TNHS không? nếu có bị truy cứu TNHS thì áp dụng điều luật nào?… cho đến nay chúng ta vẫn chưa có quy định nào về vấn đề này. Thực tiễn xét xử có hai cách giải quyết khác nhau đó là: thứ nhất, hành vi này sẽ không bị coi là tội phạm; thứ hai, áp dụng điều luật có CTTP tượng tự với CTTP của hành vi này. Tuy nhiên, cả hai cách này có thể dẫn đến những sai lầm nhất định, hoặc là bỏ lọt tội phạm hoặc là xét xử sai đối với người thực hiện hành vi phạm tội. Luận văn: Quy định về lỗi vô ý trong pháp luật hình sự Việt Nam.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Thực tiễn của bộ luật hình sự hiện hành về lỗi vô ý

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537