Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Vietcombank hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Bình Phước dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT ĐỀ ÁN
Đề án trình bày về sự cần thiết của việc nghiên cứu về rủi ro tín dụng trong Ngân hàng thương mại, đặc biệt là tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Bình Phước. Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá thực trạng rủi ro tín dụng tại Vietcombank CN Bình Phước, xác định nguyên nhân ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng và đề xuất giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng. Phương pháp nghiên cứu được sử dụng là phương pháp định tính, bao gồm tổng hợp, thống kê, phân tích và so sánh. Kết quả nghiên cứu đạt được sẽ giúp đề xuất hệ thống giải pháp nhằm tăng cường quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Vietcombank CN Bình Phước.
Từ khóa: Tín dụng, rủi ro, quản trị
ABSTRACT
The proposal presents the necessity of researching credit risk in commercial banks, particularly at the Vietnam Joint Stock Commercial Bank for Foreign Trade, Binh Phuoc branch. The objective of the study is to assess the current state of credit risk at Vietcombank Bình Phước branch, identify the causes affecting credit risk, and propose solutions to mitigate credit risk at the bank. The research method used is qualitative, which includes synthesis, statistics, analysis, and comparison. The research results obtained will help to propose a system of solutions to enhance credit risk management at Vietcombank Binh Phuoc branch.
Keywords: Credit, Risk, Management
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Trong thời đại thế giới phẳng, nền kinh tế càng trở nên gắn kết với nhau, nguồn thông tin từ thị trường ngày càng cởi mở thì các ngân hàng thương mại (NHTM) càng phải luôn thay đổi và nỗ lực để tối ưu hóa mọi nguồn lực nhằm hướng đến lợi nhuận kỳ vọng. Thực vậy, các NHTM ngày nay đang ngày càng phải uyển chuyển trong việc đa dạng hóa sản phẩm cung cấp, không ngừng tăng sự linh hoạt hóa các quy trình tác nghiệp và tăng cường nhiều kênh kết nối khách hàng nhằm khuếch trương thị phần. Đối với bản thân các NHTM thì hoạt động cho vay chính là xương sống của hoạt động kinh doanh tiền tệ và là kênh chính trong việc tạo ra doanh thu. Tuy nhiên, hoạt động kinh doanh tiền tệ thông qua cho vay cũng là một trong những nguồn rủi ro chính uy hiếp đến sự an toàn, ổn định và phát triển của các NHTM. Do vậy, việc nắm được cốt lõi bản chất của hoạt động cho vay trong đó bao hàm cả công tác quản trị rủi ro tín dụng (RRTD) chính là một trong những công tác chính yếu nhằm giúp các NHTM tránh được những rủi ro tiềm tàng, giảm thiểu những tổn thất không đáng có, giúp tăng sức mạnh tài chính của chính các NHTM. Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Vietcombank.
Bản chất đặc hữu của hoạt động kinh doanh tiền tệ chính là rủi ro và là không thể tránh khỏi. Thực vậy, xét riêng trong môi trường kinh doanh tiền tệ tại Việt Nam và trên toàn thế giới nói chung, bất kỳ một NHTM nào cũng có khả năng trở thành nạn nhân từ rủi ro tín dụng, dù cho đó có là một NHTM có quy mô ở cấp độ đa Quốc gia đi chăng nữa thì rủi ro vẫn luôn tiềm tàng hiện hữu. Một mặt, rủi ro tín dụng không những gây ra các tiêu cực cả về sức khỏe tài chính, khả năng cạnh tranh cho chính ngân hàng có những khoản cho vay rủi ro, mặt khác rủi ro tín dụng cũng có ảnh hưởng mang tính liên kết dây chuyền cho cả các ngân hàng khác hay toàn bộ hệ thống định chế tài chính của nền kinh tế. Chính vì vậy, bài toán đặt ra là làm sao có thể tối thiểu hóa rủi ro mà các khoản vay tín dụng có thể xảy ra chính là cốt lõi của hoạt động quản trị rủi ro tín dụng. Ngày nay, hoạt động quản trị rủi ro tín dụng nói chung trên toàn cầu đã có nhiều bước phát triển với nhiều phương thức quản trị hiện đại. Các phương án nhằm nâng cao và kiện toàn rủi ro tín dụng thường thấy thể hiện qua việc chính các NHTM không ngừng đổi mới và nâng cao chất lượng cho vay, thiết lập và tuân theo các quy định về cho vay của các cơ quan chức năng có thẩm quyền, kiện toàn quy định, quy trình tiếp nhận, xét duyệt và cấp tín dụng cũng đã được chú ý đến. Tất cả những hoạt động vừa nêu đều thể hiện tầm quan trọng và sự nỗ lực từ cả phía cơ quan chức năng và cả các NHTM trong việc giảm thiểu rủi ro đến từ hoạt động cho vay để có thể nâng cao khả năng cạnh tranh từ các ngân hàng. Tính chất Quốc tế trong nỗ lực giảm thiểu và phòng chống các rủi ro từ hoạt động cho vay cũng được thể hiện rõ thông qua các điều kiện đối với các NHTM khi tham gia và áp dụng hiệp ước Basel. Bằng việc tuân thủ theo hiệp ước Basel, chính bản thân các NTHM cũng phải tự mình nâng cao sức mạnh bên trong, kiện toàn hệ thống – con người nhằm tuân theo các điều kiện tiêu chuẩn Quốc tế đối với việc xây dựng mô hình quản trị và kiểm soát rủi ro.
Riêng đối với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) nói chung và Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Bình Phước (Vietcombank Bình Phước) nói riêng, xuyên suốt thời gian vừa qua đã không ngừng nỗ lực trong việc thắt chặt điều kiện cho vay, kiểm soát hoạt động cho vay. Những nỗ lực vừa nêu đã phần nào giúp nâng cao năng lực vị thế của Vietcombank trên thị trường tài chính Việt Nam nói chung cũng như uy tín, năng lực cạnh tranh của Vietcombank chi nhánh Bình Phước nói riêng. Đến nay, trải qua 8 năm hình thành và phát triển, Vietcombank Bình Phước đã đạt được nhiều kết quả tích cực thể hiện qua việc phát triển về quy mô, doanh số cả lượng và chất với tiêu chí bền vững. Thực vậy, trong năm tài khóa 2023, hoạt động cho vay hiện nay đóng góp tới 72,61% tổng thu nhập của Vietcombank chi nhánh Bình Phước với 55% tỷ đồng cho vay dành cho khách hàng cá nhân (KHCN) và 45% dành cho khách hàng doanh nghiệp (KHDN). Như vậy rõ ràng rằng hoạt động cho vay chính là nguồn sống của Vietcombank chi nhánh Bình Phước. Đây chính là một tín hiệu rất tích cực trong hoạt động sản xuất kinh doanh tiền tệ của Vietcombank chi nhánh Bình Phước, thể hiện vai trò, vị thế và chính cả năng lực của cạnh tranh của chi nhánh so với các chi nhánh khác trong cùng hệ thống Vietcombank cũng như đối với các ngân hàng bạn trên địa bàn tỉnh. Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Vietcombank.
Tuy nhiên, bên cạnh những điểm sáng vừa nêu hoạt động cho vay tiền tệ tại Vietcombank chi nhánh Bình Phước vẫn còn nhiều điểm chưa tốt. Bên cạnh tốc độ tăng trưởng và quy mô cho vay KHCN và KHDN ngày càng mở rộng qua các năm thì giai đoạn vừa qua tỷ lệ khách hàng chậm trả, khách hàng không thực hiện đúng các nghĩa vụ trả nợ lại đang biến chuyển xấu khi tăng đều qua các năm. Thực vậy, qua nhiều kinh nghiệm thực tiễn cho thấy rằng tỷ lệ nợ xấu của hệ thống các ngân hàng thương mại nói chung, ngân hàng Vietcombank chi nhánh Bình Phước cũng không là ngoại lệ. Tỷ lệ nợ quá hạn và tỷ lệ nợ xấu của Vietcombank chi nhánh Bình Phước trong giai đoạn 2022-2023 đã có mức biến động theo chiều hướng tiêu cực. Ngoài những lý do thuộc về bản chất của hoạt động kinh doanh tiền tệ thì trong giai đoạn vừa nêu dưới áp lực từ cơn sốt đất đai tại Bình Phước giai đoạn 2022-2023 đã khiến ngân hàng phải gánh chịu rủi ro mất vốn rất lớn, gây áp lực trong việc dự phòng rủi ro từ cấp hội sở đưa xuống chi nhánh.
Ngoài ra, khi đi sâu vào quy trình các bước cho vay và kiểm soát hoạt động cho vay thì qua số liệu dư nợ từ 2019-2023 tại Vietcombank chi nhánh Bình Phước cũng đang cho thấy đang tồn tại một số rủi ro tiềm ẩn trong quá trình đánh giá, thẩm định khoản vay của khách hàng, một số công đoạn tác nghiệp trong quá trình quản trị rủi ro khoản vay như nguồn thông tin để thẩm tra năng lực vay nợ của khách hàng chưa thật sự đầy đủ, việc nhận diện và kiểm soát rủi ro còn hạn chế do còn hạn chế về trình độ, chuyên môn, kinh nghiệm cũng như xuất phát từ lý do khách quan từ tính phực tạp trên địa bàn tỉnh Bình Phước khi khách hàng vay vốn với nhiều mục đích rất đa dạng. Thực vậy, với mục tiêu nhằm gia tăng hiệu quả kinh doanh và phát triển ổn định cho đơn vị, việc nghiên cứu để hạn chế rủi ro tín dụng nhằm tối ưu được hiệu quả và mức độ rủi ro nằm trong giới hạn kiểm soát là thật sự cần thiết và mang ý nghĩa thực tiễn. Xuất phát từ thực tế đó, tôi đã chọn đề tài “Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Bình Phước” làm đề tài nghiên cứu cho đề án tốt nghiệp của mình.
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu tổng quát
Đánh giá thực trạng quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay tại ngân hàng Vietcombank chi nhánh Bình Phước và nguyên nhân ảnh hưởng đến quản trị rủi ro tín dụng tại Chi nhánh, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao công tác quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay tại ngân hàng Vietcombank chi nhánh Bình Phước.
2.2 Mục tiêu cụ thể Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Vietcombank.
Đề án hướng đến 2 mục tiêu cụ thể như sau:
Thứ nhất, đề án kỳ vọng phân tích được thực trạng về hoạt động cho vay và thực trạng quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay, xác định nguyên nhân ảnh hưởng đến hoạt động quản trị rủi ro cho vay tại Vietcombank chi nhánh Bình Phước.
Thứ hai, thông qua việc làm rõ thực trạng trong hoạt động quản trị rủi ro khi cho vay tại Vietcombank chi nhánh Bình Phước, đề án kỳ vọng sẽ đưa ra được những giải pháp nhằm nâng cao công tác quản trị rủi ro cho vay tại Vietcombank chi nhánh Bình Phước.
3. Câu hỏi nghiên cứu
Nhằm tìm câu trả lời cho 2 mục tiêu vừa nêu, đề án đặt ra 2 câu hỏi nghiên cứu như sau:
Thứ nhất, thực trạng về rủi ro cho vay tại Vietcombank chi nhánh Bình Phước như thế nào, nguyên nhân nào dẫn đến thực trạng đó?
Thứ hai, những giải pháp nào có thể được đưa ra nhằm hạn chế rủi ro cho vay tại Vietcombank chi nhánh Bình Phước là gì?
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề án được thực hiện đồng thời bằng nhiều phương pháp khác nhau để đạt được các mục tiêu nghiên cứu. Trong đó, đề án sẽ dựa trên phương pháp luận duy vật biện chứng làm nền tảng phân tích. Đối với các vấn đề về rủi ro trong hoạt động cho vay, đề án sử dụng phương pháp tổng hợp, phân tích thông tin nhằm đưa ra những điểm chung nhất đối với hoạt động cho vay, quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay. Đối với nội dung phân tích thực trạng, đề án tiếp cận thông qua việc phân tích, tổng hợp, so sánh các số liệu về hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình cho vay cũng như các số liệu liên quan đến công tác quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay, qua đó đề án có thể đánh giá được những mặt mạnh, mặt yếu trong công tác cho vay tại Vietcombank chi nhánh Bình Phước. Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Vietcombank.
Nhằm có được nguồn thông tin và dữ liệu nghiên cứu, đề án thu thập, tổng hợp các nguồn số liệu thứ cấp đến từ các báo cáo nội bộ của Vietcombank, Vietcombank chi nhánh Bình Phước xuyên suốt thời kỳ 2019-2023. Trong đó, nguồn dữ liệu chi tiết đề án sử dụng bao gồm báo cáo kết quả kinh doanh của Vietcombank chi nhánh Bình Phước, các báo cáo tổng hợp của Vietcombank chi nhánh Bình Phước cho từng chủ điểm mà chi nhánh phải thực hiện, báo cáo tình sử dụng nhân sự và quy hoạch nguồn lực nhân sự của Vietcombank chi nhánh Bình Phước trong giai đoạn 2019-2023. Nguồn thông tin số liệu trên chủ yếu được thu thập và tổng hợp từ Phòng Hành chính Nhân sự và Phòng Kế toán tại Vietcombank chi nhánh Bình Phước. Ngoài ra, với mục tiêu làm rõ tình hình kinh doanh, huy động vốn, cho vay, đề án còn tận dụng nguồn thông tin số liệu từ các giáo trình giảng dạy, sách, bài báo chuyên khảo và kết hợp với nguồn số liệu thực tế của Vietcombank chi nhánh Bình Phước khi thực hiện đánh giá, phân tích và so sánh. Các nguồn số liệu trên sẽ được tổng hợp thông qua phần mềm MS Excel để tiện phân tích và lưu trữ. Việc đánh giá các thông tin số liệu được thực hiện thông qua chủ yếu bằng kỹ thuật phân tích thống kê mô tả.
5. Phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động quản trị rủi ro khi cho vay tại Vietcombank chi nhánh Bình phước.
Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành đối với hoạt động cho vay và quản trị rủi ro trong cho vay tại Vietcombank chi nhánh Bình Phước trong giai đoạn 2019-2023
Không gian nghiên cứu: Nghiên cứu được tiến hành tại Vietcombank Chi nhánh Bình Phước.
6. Kết quả nghiên cứu
Thứ nhất, đề án làm rõ những cơ sở lý luận về rủi ro, quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay của NHTM.
Thứ hai, đánh giá thực trạng quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay tại Vietcombank chi nhánh Bình Phước thời gian 2019 – 2023, những kết quả đạt được, hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế.
Thứ ba, từ những hạn chế nêu trên, đề án kỳ vọng đưa ra được các giải pháp khả thi trong việc kiện toàn và nâng cao quản trị rủi ro đối với hoạt động cho vay tại Vietcombank chi nhánh Bình Phước.
7. Kết cấu của đề án Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Vietcombank.
Đề án được xây dựng và cấu trúc lần lượt như sau:
Phần mở đầu: đề án giới thiệu tính cấp thiết của việc nghiên cứu hoạt động quản trị rủi ro trong cho vay tại Vietcombank chi nhánh Bình Phước. Ngoài ra, đề án cũng trình bày các mục tiêu mà đề án hướng đến cũng như phương thức phân tích dữ liệu sẽ áp dụng. Cấu trúc chính của đề án được xây dựng trên khung phân tích 3 chương chính bao gồm:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về rủi ro trong hoạt động cho vay tại Ngân hàng thương mại
- Chương 2: Thực trạng rủi ro trong hoạt động cho vay tại Vietcombank CN Bình Phước
- Chương 3: Giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay tại Vietcombank chi nhánh Bình Phước
Tóm tắt mở đầu
Trong nội dung mở đầu, đề án đã trình bày vấn đề cấp thiết để thực hiện đề tài. Trong nội dung mở đầu, đề án còn trình bày các thông tin lõi của đề án bao gồm mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu cũng như phương thức thu thập, xử lý và phân tích dữ liệu trong việc làm rõ tình hình rủi ro tín dụng đang xảy ra tại Vietcombank chi nhánh Bình Phước.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG CHO VAY TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Khái quát về rủi ro tín dụng
1.1.1 Rủi ro tín dụng
Để có thể hiểu rõ bản chất của rủi ro tín dụng (cho vay) thì trước hết phải nắm bắt rõ tại sao rủi ro tín dụng lại xuất hiện, căn nguyên của rủi ro tín dụng. Theo tác giả Nguyễn Hải Ninh (2012) thì đặc thù của rủi ro tín dụng đó là đi cùng với các hoạt động sản xuất kinh doanh của các định chế tài chính, ngân hàng. Theo đó, tác giả Nguyễn Hải Ninh (2012) đã có nhận định “NHTM là doanh nghiệp kinh doanh hàng hoá đặc biệt – hàng hoá tiền tệ với đặc thù là thu hút, huy động nguồn tiền từ người cho vay đi kèm với nghĩa vụ hoàn trả, sử dụng số tiền đã huy động để sử dụng lại cho việc cho vay và các sản phẩm, dịch vụ khác mà Ngân hàng cung ứng”. Như vậy có thể thấy rằng rủi ro tín dụng là hiện tượng luôn phát sinh và đi cùng với hoạt động cho vay trên thị trường tài chính, tiền tệ. Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Vietcombank.
Với đặc trưng cơ bản như vậy, hoạt động kinh doanh lõi của ngân hàng là tiền tệ sẽ chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau bao gồm đặc thù kinh tế xã hội, quy định pháp luật hay từ chính các cơ quan chức năng thông qua cơ chế chính sách quản lý nền kinh tế vĩ mô, vi mô… Do vậy, hoạt động ngân hàng chứa đựng những tiềm ẩn rủi ro lớn từ nhiều bên. Trong số các loại rủi ro mà ngân hàng phải đối mặt thì rủi ro khi cho vay là loại rủi ro chiếm tỷ lệ lớn nhất, thường xuyên xảy ra nhất và gây hậu quả nặng nề nhất đối với hoạt động của ngân hàng (Koulafetis, 2017). Tuy nhiên, hoạt động cho vay cũng là nguồn tạo ra tỷ trọng cao nhất trong khả năng tạo ra lợi nhuận cho các NHTM và cũng là căn nguyên có thể gây ra các thiệt hại nặng nề nhất. Do vậy, có thể thấy rằng rủi ro tín dụng là loại rủi ro phức tạp nhất, khó quản trị và phòng ngừa khó khăn nhất trên tất cả các hoạt động của ngân hàng. Tuy nhiên, một trong những đặc trưng cố hữu của rủi ro tín dụng đó là việc nó yêu cầu chính các ngân hàng phải không ngừng hoàn thiện hệ thống, không ngừng đề ra giải pháp đồng bộ, hữu hiệu để giảm thiểu rủi ro trong cho vay.
Theo Lopez (2000) thì rủi ro tín dụng được hiểu là “khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thể được thực hiện đầy đủ về cả số lượng và thời gian”. Thực vậy, Eveline (2010) cũng đã chỉ rằng rủi ro trong cho vay là hiện tượng mà người vay không thực đúng như trong cam kết vay tiền khi không thể thanh toán gốc, lãi đúng thời gian đã cam kết. Rõ ràng, rủi ro trong cho vay là không thể tránh khỏi và nó là nguyên nhân chính gây ra những sự xáo trộn trong dòng tiền hoạt động của ngân hàng và tác động xấu đến kết quả hoạt động của chính các NHTM.
Theo quan niệm của Ủy ban Basel (2000), thì: “Rủi ro tín dụng là khả năng khách hàng vay hoặc bên đối tác của ngân hàng không thực hiện đúng cam kết đã thỏa thuận”. Ở Việt Nam, theo Quách Thùy Linh (2011): “Rủi ro tín dụng phải được hiểu ở cả hai góc độ, rủi ro trong huy động vốn và rủi ro trong cho vay”; Trong đó, “Rủi ro trong cho vay là khoản tổn thất phát sinh khi cấp tín dụng cho khách hàng mà chỉ thu được một phần gốc và lãi, hoặc thu gốc và lãi không đúng hạn, hoặc không thu được gốc và lãi”. Khái niệm về rủi ro cũng đã được cơ quan chức năng của Việt Nam là NHNN nêu rõ trong thông tư 11/2021/TT-NHNN khi nhấn mạnh rằng rủi ro tín dụng là những mất mát có thể xuất hiện đối với các định chế tài chính, ngân hàng khi người vay không chi trả hoặc chỉ chi trả một phần tiền vay (gốc và lãi) theo như hợp đồng ký kết. Như vậy, từ các khái niệm tham khảo qua các nghiên cứu đi trước, cùng với quan điểm của bản thân, trong phạm vi đề án này thì rủi ro tín dụng của NHTM được hiểu là rủi ro phát sinh do khách hàng vay không thực hiện đúng các điều khoản của hợp đồng tín dụng, với biểu hiện cụ thể là khách hàng chậm trả nợ, trả nợ không đầy đủ hoặc không trả nợ khi đến hạn các khoản gốc và lãi vay, gây ra những tổn thất về tài chính và khó khăn trong HĐKD của NHTM.
1.1.2. Phân loại rủi ro tín dụng Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Vietcombank.
Có nhiều cách phân loại và tiếp cận rủi ro tín dụng khác nhau, sau đây là một số cách phân loại phổ biến như sau:
Khi xem xét về quan điểm rủi ro tín dụng thì hiện nay tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau. Theo quan điểm của Ủy ban Basel thì rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất khi có sự vi phạm từ phía đối tác của ngân hàng. Một quan điểm phân loại khác theo tác giả Nguyễn Văn Tiến (2005) thì rủi ro tín dụng bao gồm rủi ro giao dịch, rủi ro danh mục và rủi ro mang tính phạm vi. Đối với rủi ro giao dịch thì đây là loại rủi ro liên quan đến từng khoản tín dụng mỗi khi Ngân hàng ra quyết định cấp một khoản tín dụng mới cho khách hàng. Đây có thể xem là rủi ro cá biệt của từng khoản tín dụng, nó phát sinh do sai sót ở các khâu đánh giá, thẩm định và xét duyệt khi cho vay, hoặc phát sinh do thiếu chặt chẽ ở khâu theo dõi kiểm soát quá trình sử dụng vốn vay, hoặc xuất hiện từ những điểm mù của việc kiểm soát khoản vay hoặc đến từ tài sản đảm bảo khoản vay hay các điều khoản trong hợp đồng cho vay.
Khi xem xét đến loại hình rủi ro thì hiện nay các nhà nghiên cứu đều đồng tình tồn tại nhiều loại hình khác nhau khi cho vay. Đầu tiên phải kể đến rủi ro đến từ danh mục cho vay. Khi ngân hàng cho vay thì sẽ xảy ra nhiều biến thể khác nhau phụ thuộc vào tính chất của khoản vay (vay thế chấp hay tín chấp), vay có tài sản thế chấp hay không có tài sản thế chấp, vay ngắn hạn hay vay dài hạn, cho vay phục vụ mục đích gì. Ngoài ra, rủi ro còn có thể xuất hiện từ chính những biến động do điều chỉnh lãi suất cho vay. Điều này có thể thấy qua việc nếu lãi suất huy động tiền gửi cao đồng nghĩa lãi suất cho vay cũng sẽ cao tương ứng. Do vậy, những khoản vay phục vụ sản xuất nếu không có khả năng bù đắp lại lãi suất cho vay sẽ rất khó để tồn tại, chỉ còn các dự án có suất sinh lợi cao mới được vay vốn Ngân hàng, các dự án này cũng kèm theo rủi ro cao (Nguyễn Văn Tiến ,2005). Tình hình này khiến cho danh mục tín dụng của Ngân hàng thiếu đa dạng hóa mà chỉ tập trung vào các dự án có mức độ rủi ro cao.
Ngoài ra, rủi ro còn mang tính phạm vi trong đó đến từ 2 nguồn chính là rủi ro cá biệt và rủi ro mang tính hệ thống. Thứ nhất, đối với rủi ro mang tính cá biệt thì đây là loại rủi ro xảy ra đối với một khoản vay của một khách hàng cụ thể, thuộc một nhóm ngành cụ thể và nó sẽ phụ thuộc vào một số khía cạnh đến từ: Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Vietcombank.
- Đặc điểm ngành và loại hình kinh tế của khách hàng
- Tình hình tài chính của khách hàng
- Khả năng quản trị của khách hàng
- Đạo đức khách hàng
- Các nguyên nhân khác…
Như vậy có thể thấy rằng việc nghiên cứu rủi ro cá biệt sẽ giúp ngân hàng đa dạng hóa HĐTD để giảm thiểu rủi ro, đem lại hiệu quả cho ngân hàng.
Thứ hai, đối với rủi ro mang tính hệ thống thì đúng như tên gọi, sẽ không một ngân hàng cá biệt nào đứng ngoài phạm vi ảnh hưởng của loại rủi ro này. Thông thường, rủi ro hệ thống sẽ đến từ các yếu thượng tầng mà ngay cả bản thân ngân hàng cũng không thể can thiệp hay thay đổi. Phương thức phòng chống rủi ro đối với loại này từ phía các ngân hàng chỉ có thể điều chỉnh chính sách cho vay của mình sao cho phù hợp với tình hình thực tại. Các rủi ro mang tính hệ thống có thể bắt nguồn từ chính những quyết sách của Quốc gia về hoạt động tiền tệ, các mức thuế và chính sách thuế mà Nhà nước ban hành, hoạt động giao thương hay đến từ chính các yếu tố vĩ mô khác nhau như chỉ số giá tiêu dùng, tốc độ tăng trưởng nền kinh tế, tỷ lệ người dân có việc làm, pháp lý, sự cởi mở trong việc thu hút nguồn vốn FDI (Nguyễn Văn Tiến, 2005).
Ngoài ra, việc phân loại rủi ro có thể phụ thuộc vào nhiều yếu tố môi trường qua đó xác định rủi ro tín dụng như rủi ro công nghệ do quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực ngân hàng; rủi ro đầu tư do quá trình thẩm định đầu tư các dự án của các NHTM hay rủi ro cơ chế gắn với sự chậm trễ của các văn bản hướng dẫn và quản lý của các cơ quan quản lý với các vấn đề phát sinh của thị trường tín dụng và thị trường tài chính.
1.1.3. Đặc điểm của rủi ro tín dụng Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Vietcombank.
Để có thể hiểu rõ ảnh hưởng của rủi ro tín dụng lên hệ thống các Ngân hàng thương mại nói chung, trước hết cần phải nắm bắt rõ đặc điểm của rủi ro tín dụng. Theo đó, rủi ro tín dụng xuất phát từ một số đặc điểm bao gồm rủi ro tính chất gián tiếp của khoản vay, tính đa dạng – phức tạp của khoản vay và tính rủi ro tất yếu của khoản vay.
Đối với rủi ro tín dụng mang tính gián tiếp thì có thể thấy rằng khi các NHTM chuyển nguồn tiền của mình đến người vay trong một quãng thời gian theo hợp đồng cho vay do đó những rủi ro về việc hao hụt, mất vốn là luôn tồn tại (Nguyễn Thị Ngọc Diệp, 2015). Thực vậy, hoạt động kinh doanh tồn tại nhiều yếu tố bất định mà chính cả các NHTM và người vay không thể lường trước được, chính điều này tạo ra các rủi ro cho khoản vay của khách hàng.
Bên cạnh đó, xuất phát từ việc khi hoạt động cho vay diễn ra thì sẽ luôn xuất hiện các rủi ro từ nhiều phía. Các NHTM đơn thuần là một trung gian tài chính, ngay bản thể các NHTM cũng đã tồn tại các vấn đề rủi ro. Các rủi ro khi cho vay ngày nay chịu ảnh hưởng phần lớn từ phía khách hàng đi cùng đó là những biến động cả về khách quan, lẫn chủ quan. Do vậy, mọi tác vụ trong việc phòng ngừa rủi ro cho khoản vay chỉ có thể thực hiện ở mức “hạn chế” tối đa chứ không thể loại bỏ hoàn toàn mọi rủi ro.
Cuối cùng, rủi ro khi cho vay có tính tất yếu và gắn liền với hoạt động sản xuất, kinh doanh của NHTM. Thông tin không cân xứng là nguyên nhân khiến các nhà kinh tế cũng như các nhà ngân hàng cho rằng kinh doanh ngân hàng thực chất là quản lý rủi ro ở mức phù hợp và đạt được lợi nhuận tương ứng (Nguyễn Thị Ngọc Diệp, 2015). Do không thể có được thông tin cân xứng về việc sử dụng vốn vay cho nên có thể thấy rằng bất kỳ khoản vay nào cũng tồn tại một rủi ro hiện hữu.
1.1.4. Các chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng
Có nhiều phương thức khác nhau để đo lường rủi ro tín dụng, trong nội dung đề án này đánh giá rủi ro tín dụng thông qua 3 chỉ tiêu chính bao gồm tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ nợ quá hạn và tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng.
1.1.4.1. Nợ xấu Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Vietcombank.
Nợ xấu được hiểu chính là khoản vay mà người đi vay không thể hoàn trả, không còn khả năng thanh toán. Nói cách khác, nợ xấu chính là một khía cạnh để đánh giá chất lượng của khoản vay. Hiện nay, nợ xấu được đánh giá dựa trên 3 thông số chính bao gồm tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ nợ xấu trên vốn chủ sở hữu và tỷ lệ nợ xấu trên quỹ dự phòng tổn thất.
Nợ xấu
- Tỉ lệ nợ xấu = Tổng dư nợ
Nợ xấu
- Tỉ lệ nợ xấu trên vốn chủ sở hữu = Vốn chủ sở hữu
Nợ xấu
- Tỉ lệ nợ xấu trên quỹ dự phòng tổn thất = Quỹ dự phòng tổn thất
Theo thông tư số 11/2021/TT-NHNN quy định về việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng chịu ánh hưởng do dịch Covid-19 thì việc phân loại nợ xấu chính là các khoản vay thuộc nhóm 3, 4 và 5. Trong đó, thông số tỷ lệ nợ xấu là thông số căn bản nhất được sử dụng để xem xét và đánh giá chất lượng của khoản vay. Phía các NHTM khi phát sinh nợ xấu đồng nghĩa việc khoản vay này có thể sẽ không thể thu lại được. Tỷ lệ nợ này càng cao thì NHTM càng gặp khó khăn trong kinh doanh, vì sẽ có nguy cơ mất vốn, mất khả năng thanh toán, giảm lợi nhuận, tức là tỷ lệ nợ xấu cho vay càng cao thì chất lượng tín dụng càng thấp. Bên cạnh đó, việc đánh giá tỷ lệ nợ xấu của NHTM phải dựa trên hệ quy chiếu so sánh với các chi nhánh khác NHTM trong cùng hệ thống để có thể đưa ra những đánh giá chính xác về hoạt động quản trị rủi ro khoản vay (Hạng và Lộc, 2012). Nếu thông số này tại một ngân hàng thấp hơn các đơn vị khác cho thấy hoạt động quản trị rủi ro hiệu quả hơn và ngược lại. Ngoài ra, cần phải so sánh tỷ lệ nợ xấu của NHTM so với các NHTM khác trên hệ thống tài chính. Tỷ lệ nợ xấu qua các năm biến động tăng hoặc giảm xuất phát từ cả lý do khách quan và chủ quan. Do vậy, để xem xét hiệu quả công tác quản trị rủi ro khoản vay thì bắt buộc phải so sánh với trên bình diện chung của hệ thống tài chính ngân hàng. Nếu một NHTM có mức nợ xấu thấp hơn so với mức chung thì đây là tín hiệu cho thấy tính hiệu quả trong quản trị rủi ro cho vay của NH đó so với toàn ngành. Còn nếu mức nợ xấu của một NHTM cao hơn thì đó cũng là cảnh bảo về tính hiệu quả của quản trị rủi ro khoản vay của NHTM đó.
1.1.4.2. Tỷ lệ nợ quá hạn Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Vietcombank.
Theo Nguyễn Văn Tiến (2005), Phương và cộng sự (2022) thì nợ quá hạn được định nghĩa là: “Một khoản nợ gốc hoặc lãi chậm thanh toán vượt quá số ngày tối thiểu được xác định theo các điều khoản của hợp đồng tín dụng và phản ánh các thông lệ trong nước đối với loại hình nợ đó”. Nợ quá hạn là chỉ tiêu cơ bản phản ánh rủi ro tín dụng. Nợ quá hạn sẽ phát sinh khi đến thời hạn trả nợ theo cam kết, người vay không có khả năng trả được nợ một phần hay toàn bộ khoản vay cho người cho vay. Nợ quá hạn được phản ánh qua 2 chỉ tiêu sau:
- Tỷ lệ nợ quá hạn = Số dư nợ quá hạn Tổng dư nợ
- Tỉ lệ khách hàng có nợ quá hạn trên tổng khách hàng có dư nợ =
- Số khách hàng có nợ quá hạn Tổng số khách hàng có dư nợ
Tỷ lệ này cũng phản ánh chất lượng của khoản vay, biểu hiện hiệu suất trong quản lý rủi ro khoản vay. So với nợ xấu, nợ quá hạn chính là những dấu hiệu cảnh báo sớm cho khả năng mất vốn và chắc chắn là chỉ dấu rủi ro của khoản vay. Chỉ tiêu này còn phần nào thể hiện được năng lực của ngân hàng trong việc thu hồi các khoản nợ của mình.
1.1.4.3. Tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng
Theo Nguyễn Văn Tiến (2005), dự phòng rủi ro là thông số dùng để đo lường mức độ chuẩn bị của ngân hàng một khi những rủi ro của các khoản vay xuất hiện. Mục đích của việc chuẩn bị dự phòng nhằm đảm bảo luôn có 1 khoản nguồn tiền “chờ” sẵn sàng thế chỗ cho các khoản vay khó thu hồi của ngân hàng. Hiện nay dự phòng rủi ro được phân thành dự phòng rủi ro cụ thể và dự phòng chung. Đối với dự phòng cụ thể thì đây chính nguồn tiền cụ thể dự phòng cho từng khoản vay của khách hàng (Hạng và Lộc, 2012). Đối với dự phòng chung thì đây phương thức dự phòng cho các khoản vay chưa chắc chắn về khả năng thu hồi. Hiện nay, tất cả chi phí dự phòng đều được ghi vào như là một phần chi phí hoạt động của ngân hàng. Hiện nay, dự phòng rủi ro tín dụng được đánh giá dựa trên 3 thông số bao gồm tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng, hệ số khả năng bù đắp các khoản vay bị mất và hệ số bù đắp rủi ro tín dụng. Công thức tính toán 3 thông số như sau:
- Dự phòng rủi ro tín dụng được trích lập
- Tỉ lệ dự phòng rủi ro tín dụng =
- Tổng dư nợ cho kỳ báo cáo
- Hệ số khả năng bù đắp các khoản vay bị mất = Dự phòng rủi ro tín dụng được trích lập Dư nợ bị xóa
- Hệ số bù đắp rủi ro tín dụng = Dự phòng rủi ro tín dụng được trích lập Dư nợ quá hạn khó đòi
1.1.5. Tác động của rủi ro tín dụng Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Vietcombank.
Rủi ro trong hoạt động cho vay là không thể tránh khỏi. Ảnh hưởng của rủi ro tác động đến hầu hết các chủ thể trong mối quan hệ cho vay bao gồm đến các ngân hàng và tác động lên cả nền kinh tế.
1.1.5.1. Đối với ngân hàng
Như phân tích trên đây, HĐTD là xương sống của các NHTM khi là nguồn thu lớn nhất, do vậy rủi ro tín dụng là nguồn cơn tác động lên tính hiệu quả trong kinh doanh của các NHTM, ảnh hưởng của rủi ro tín dụng lên các NHTM như sau:
Thứ nhất, doanh thu – tăng trưởng và mức lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh của các NHTM chịu tác động trực tiếp từ rủi ro từ các khoản vay (Nguyễn Văn Tiến, 2005). Một khi các NHTM để xảy ra tình trạng người hay chậm trả các khoản vay sẽ trực tiếp ảnh hưởng lên dòng tiền, vòng quay vốn. Bên cạnh đó, việc chậm trả các khoản vay còn khiến cho các NHTM phải tăng thêm chi phí hoạt động phục vụ cho việc thu hồi khoản vay.
Thứ hai, việc để xảy ra tồn đọng nợ quá hạn hay nợ xấu sẽ trực tiếp gây suy giảm khả năng cân đối dòng tiền của các NTHM. Thông thường, các NHTM sẽ phải cân chỉnh giữa nguồn tiền thu vào cũng như nguồn tiền chi ra. Tuy nhiên, theo Nguyễn Văn Tiến (2005) thì khi hoạt động cho vay gặp rủi ro, không thanh toán đúng hạn sẽ trực tiếp gây ra sự mất cân đối trong kế hoạch nguồn tiền của các NHTM. Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Vietcombank.
Thứ ba, rủi ro tín dụng làm giảm vị thế của các NHTM. Khi tỷ lệ các khoản bị chậm thanh toán tăng cao sẽ dẫn đến những đồn thổi về năng lực của chính các NHTM trong công tác thẩm định cho vay, thu hồi nợ vay (Nguyễn Văn Tiến, 2005). Điều này sẽ trực tiếp ảnh hưởng lên danh tiếng, thương hiệu của ngân hàng. Một khi tình trạng trở nên trầm trọng, các NHTM sẽ mất đi sự tin tưởng của nhà đầu tư, khách hàng từ đó dẫn đến mất cân đối thu chi, tình trạng kinh doanh sẽ biến chuyển tiêu cực hay thậm chí phải phá sản.
1.1.5.2. Đối với nền kinh tế
Mối quan hệ trong nền kinh tế là một mối quan hệ cộng sinh tương hỗ. Khi một đơn vị bị ảnh hưởng sẽ kéo theo các đơn vị khác trong cùng ngành cũng bị ảnh hưởng theo. Điều này thật sự thể hiện rất rõ trong môi trường tài chính tiền tệ. Khi một ngân hàng xảy ra vấn đề sẽ xảy ra tình trạng người dân và các tổ chức đang có tiền gửi tại ngân hàng kéo đến ồ ạt đến rút tiền và chấm dứt quan hệ. Tính chất liên kết lúc này mới bộc lộ điểm gãy của toàn hệ thống. Việc rút tiền ồ ạt sẽ không dừng lại tại chính ngân hàng gặp vấn đề mà sẽ lan ra toàn bộ các định chế tài chính khác trên hệ thống như là một hệ quả của “tâm lý đám đông” hay “tâm lý bầy đàn” (Nguyễn Hải Ninh, 2012). Chính liên kết “domino” này sẽ khiến cho cả thị trường tài chính Quốc gia sụp đổ. Rõ ràng, khi thị trường tài chính Quốc gia sụp đổ sẽ khiến cho việc thiếu hụt nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh, thiếu hụt nguồn vốn cho người dân có thể đầu tư cho các hoạt động đời sống, tiêu dùng. Một số khách hàng gửi tiền cũng sẽ gặp khó khăn vì tình trạng thiếu hụt nguồn tiền, không thể rút tiền đã gửi. Những hậu quả vừa nêu chắc chắn sẽ gây xói mòn niềm tin của người dân vào năng lực quản lý kinh tế của các cơ quan chức năng, Chính phủ (Quách Thùy Linh, 2011). Việc này kéo theo chính là sự xói mòn niềm tin của các Quốc gia khác, các tổ chức, doanh nghiệp nước ngoài theo đó cũng sẽ cảm thấy vô cùng nguy hiểm khi đem tiền đến đầu tư, kéo cả nền kinh tế đi xuống.
1.1.6. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Vietcombank.
1.1.6.1. Các nguyên nhân khách quan
- Từ phía khách hàng vay
Nguyên nhân từ phía khách hàng vay là một trong những nguyên nhân chính gây ra rủi ro tín dụng cho ngân hàng. Trong đó:
Yếu tố đầu tiên và cốt lõi tác động đến khả năng trả nợ của khách hàng là yếu tố tài chính. Nếu khách hàng có tiềm lực tài chính thì việc một giao dịch không thành công sẽ không làm mất đi khả năng trả nợ, còn khi điều kiện tài chính suy yếu sẽ có ảnh hưởng tới tất cả các giao dịch (Nguyễn Hải Ninh, 2012). Rủi ro tín dụng từ phía người vay là một trong những loại rủi ro thường đem lại tổn thất nhiều nhất cho các NHTM. Đây là rủi ro khi người vay không thực hiện đúng theo hợp đồng tín dụng.
Nguyên nhân tiếp theo là do trình độ yếu kém của người vay trong dự đoán các vấn đề kinh doanh, phương án dự án đầu tư sản xuất kinh doanh của khách hàng không khoa học, năng lực quản trị yếu kém, chủ định lừa đảo cán bộ ngân hàng, chây ỳ không trả nợ…
Trong nhiều trường hợp người vay sẵn sàng chấp nhận mạo hiểm với kỳ vọng lợi nhuận cao, để có vốn kinh doanh họ đi vay ngân hàng, nhưng do không tính toán kỹ lưỡng hoặc không có khả năng tính toán kỹ lưỡng những khó khăn, bất trắc có thể xảy ra, không đủ trình độ khắc phục khó khăn nên họ dễ dàng rơi vào tình trạng không thể trả nợ cho ngân hàng đúng hạn thậm chí không có khả năng trả nợ nữa (Diệp, 2015). Để có thể vay được tiền, người đi vay, thường dùng mọi biện pháp thậm chí là “chiêu trò” như cung cấp thông tin sai lệch, lợi dụng sự không cân xứng về thông tin làm chệch hướng dự đoán tương lai của cán bộ ngân hàng. Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Vietcombank.
Ngoài ra, một số người vay còn chủ động lôi kéo nhân viên ngân hàng, không những gây tổn thất tiền bạc mà còn làm tổn thất về mặt con người đối với ngân hàng bằng việc mua chuộc, tha hóa nhân viên ngân hàng.
- Từ phía các cơ quan quản trị
Theo Nguyễn Hải Ninh (2012), “Cơ quan trực tiếp quản trị, kiểm tra giám sát hoạt động của các NHTM là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Đây là nơi xây dựng các định hướng, chính sách cho hoạt động ngân hàng nói chung và mọi hoạt động tín dụng nói riêng, là cơ quan ban hành các quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động tín dụng, trực tiếp kiểm tra, giám sát việc thực hiện các biện pháp đảm bảo an toàn trong hoạt động của hệ thống ngân hàng. Vì vậy, nếu các văn bản, quy định của NHNN phù hợp, mang tính chuẩn mực thì sẽ là một định hướng tốt cho các NHTM trong việc triển khai quản trị rủi ro tín dụng có hiệu quả.
- Các điều kiện môi trường
Khi xem xét đến các điều kiện môi trường thì trước tiên phải xem xét đến bản chất pháp lý và quy định pháp luật tại Quốc gia mà NHTM đang hoạt động. Theo Nguyễn Hải Ninh (2012), nếu một Quốc gia có những chính sách tốt, những quy định linh hoạt và sát sao với hoạt động cho vay sẽ tạo ra một môi trường kinh tế, tiền tệ hiệu quả và cũng qua đó giúp các NHTM kiểm soát tốt rủi ro với các khoản vay của mình. Ngược lại, nếu một Quốc gia có những chính sách pháp luật cũ kỹ, lỗi thời, không theo kịp những biến đổi của thị trường sẽ tạo ra nhiều kẽ hở trong pháp lý, vô hình chung khiến cho cả phía NHTM và người đi vay tận dụng lách luật, gian dối. Lúc này việc áp dụng các công cụ giám sát và kiểm soát rủi ro cho vay sẽ không còn hiệu quả. Những biến động lớn của thị trường như: lạm phát, biến động tỷ giá, suy thoái… ảnh hưởng đến kết quả sản xuất kinh doanh của người đi vay, sẽ trực tiếp ảnh hưởng lên dòng tiền, năng lực trả nợ của khách hàng từ đó gián tiếp gây ra rủi ro cho các khoản vay theo nhiều mức độ khác nhau tùy thuộc vào khả năng phòng ngừa, hạn chế rủi ro tín dụng của ngân hàng.
1.1.6.2. Nguyên nhân chủ quan Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Vietcombank.
- Nhận thức về sự cần thiết của quản trị rủi ro tín dụng
Tỷ trọng từ cho vay tại các NHTM ở Việt Nam hiện nay đang chiếm tỷ trọng lớn nhất 60- 70% trong danh mục tài sản, đặc biệt nguồn tín dụng này đang đóng vai trò kênh dẫn vốn chủ đạo của các doanh nghiệp (Quách Thùy Linh, 2011). Rủi ro là yếu tố thường trực, tiềm ẩn, rất dễ xảy ra trong hoạt động ngân hàng đặc biệt là hoạt động tín dụng (chiếm 70% trong tổng rủi ro hoạt động của ngân hàng). Bức tranh hiệu quả của các NHTM sẽ tốt, đạt chỉ tiêu lợi nhuận nếu mức rủi ro mà ngân hàng gánh chịu là hợp lý và kiểm soát được, đồng thời nằm trong phạm vi các nguồn lực tài chính của ngân hàng. Do đó tác nghiệp quản trị rủi ro trong cho vay cần phải được thực thi một cách thường xuyên, liên tục ở mọi cấp độ của mỗi ngân hàng để duy trì khả năng tồn tại và phát triển bền vững của ngân hàng.
- Sự phối hợp giữa các bộ phận trong hoạt động tín dụng
Theo Nguyễn Hải Ninh (2012), một mô hình tín dụng chuẩn đòi hỏi phải có sự tách biệt một cách độc lập giữa 2 chức năng: chức năng kinh doanh và chức năng quản trị rủi ro. Sự tách biệt vừa nêu cho phép phía các NHTM rạch ròi giữa 2 bộ phận công việc, tránh việc cấu kết giữa các bộ phận để tạo ra kẽ hở, tạo ra nguy cơ. Thực tế, trong quá trình tác nghiệp đối với các nghiệp vụ tại NHTM đòi hỏi một sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ phận, một nguồn thông tin đầu ra của bộ phận này sẽ là nguồn thông tin đầu vào của bộ phận khác nhằm hướng đến việc cho vay thành công và an toàn (Hạng và Lộc, 2012). Bởi vì 2 bộ phận này là những mắt xích không thể thiếu xuyên suốt quá trình cho vay, hỗ trợ nhau trong việc thẩm định để có những quyết định tín dụng đúng đắn, đặc biệt là trong việc nhận biết sớm mọi dấu hiệu khả nghi có thể phát sinh rủi ro của khách hàng.
- Các nguồn thông tin phục vụ cho hoạt động tín dụng Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Vietcombank.
Phải có một hệ thống thông tin tín dụng hiệu quả trong nội bộ ngân hàng để đáp ứng nhu cầu thu thập thông tin của các bộ phận làm công tác tín dụng và quản trị rủi ro. Hệ thống thông tin phải cung cấp được các chỉ tiêu phục vụ cho việc phân tích đánh giá xếp loại khách hàng, thu thập các nguồn tin từ bên ngoài để đánh giá khách hàng vay một cách chính xác và khách quan hơn (Quách Thùy Linh, 2011). Chính luồng thông tin nói trên cũng sẽ là các căn cứ để phía các NHTM thực hiện các nhiệm vụ cho quá trình quản trị hoạt động cho vay như thông tin về dư nợ, diễn biến tình hình khách hàng chậm trả thanh toán, chất lượng khoản vay, các thông tin về tài sản thế chấp, chất lượng tài sản thế chấp cũng như báo cáo về hoạt động cho vay theo từng phân khúc, phân vùng (Hạng và Lộc ,2012). Chính nhờ các thông tin hữu ích nêu trên mà người quản lý NHTM có thể nhanh chóng đưa ra những đối sách kịp thời, nhanh chóng để căn chỉnh hoạt động cho vay của ngân hàng.
- Công nghệ
Công nghệ ngày này là chìa khóa của cả quá trình quản trị rủi ro trong cho vay. Hiện nay hầu hết các NTHM đều nhận thấy tầm quan trọng của việc ứng dụng các tiến bộ công nghệ hiện đại, nhất là đối với các công nghệ số cho phép ngân hàng đánh giá, định lượng rủi ro khoản vay (Anh và cộng sự, 2022). Ngày nay sự tiến bộ công nghệ trong hoạt động cho vay đã được nhiều ngân hàng ứng dụng và phát triển một phần hay toàn bộ vào quá trình phê duyệt khoản vay của khách hàng do có khả năng đánh giá rủi ro từ khoản vay. Để làm được những điều nêu trên thì cũng đòi hỏi chính bản thân các NHTM phải liên tục cập nhật, điều chỉnh cũng như đánh giá nguồn thông tin lưu trữ của chính mình hay tận dụng nguồn thông tin từ một bên thứ ba (Hạng và Lộc, 2012). Lúc này, thông tin trong hoạt động cho vay chính là chìa khóa quyết định sự thành công hay thất bại của khoản vay.
- Trình độ đội ngũ cán bộ
Đội ngũ cán bộ chính là điểm mấu chốt và cũng là thành tố quan trọng quyết định đến hiệu quả của công tác cho vay tại các NHTM. Cán bộ tín dụng ngày nay đòi hỏi ở chính họ không những giỏi về trình độ chuyên môn, có kinh nghiệm, sức khỏe, tinh thần trách nhiệm đối với hoạt động cho vay, về thị trường, khả năng phân tích tài chính, thẩm định dự án… mà còn phải có đạo đức và thực sự liêm khiết. Theo Đức (2021) một NHTM sở hữu các cán bộ tín dụng đáp ứng đầy đủ các tiêu chí nêu trên sẽ là một NHTM mạnh, góp phần đáng kể vào hoạt động quản trị rủi ro khi cho vay, giảm thiểu xác suất khả năng khoản vay bị quá hạn, mất vốn, qua đó cũng có đóng góp to lớn vào chính sự ổn định của các NHTM. Ngược lại, những ngân hàng có cán bộ trình độ yếu kém, thiếu kinh nghiệm, phẩm chất đạo đức không vững vàng thì dễ bị khách hàng cố tình lôi kéo hoặc lợi dụng gây ra tổn thất lớn cho ngân hàng. Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng đứng trước nguy cơ rủi ro tín dụng rất lớn do những cán bộ này dễ mắc phải sai lầm trong các quyết định thẩm định trong nhiều bộ phận kinh doanh và nhất là quyết định tín dụng.
1.2. Quản trị rủi ro tín dụng trong hoạt động cho vay tại NHTM Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Vietcombank.
1.2.1. Khái niệm
Theo quan điểm hiện đại, quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay là một công tác khá rộng bao quát đến nhiều khía cạnh của NHTM từ việc xác định mục tiêu, định hướng chiến lược, thực thi tác nghiệp với mục tiêu cao nhất là tối thiểu hóa rủi ro mà ngân hàng phải nhận hay tối đa hóa nguồn lực ngân hàng có để có thể tăng mức sinh lợi. Thật vậy, theo định nghĩa từ Basel (2011) thì hiệu quả của quản trị rủi ro tín dụng chính là việc: “Hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng là một bộ phận quan trọng trong cách tiếp cận rủi ro tổng thể và được coi là đóng vai trò cốt tử cho sự thành công của Ngân hàng trong dài hạn”.
Theo Hạng và Lộc (2012) thì: “Quản trị rủi ro tín dụng trong ngân hàng là tổng hóa các biện pháp, các chính sách để nắm bắt được sự phát sinh và lượng hóa được những tổn thất tiềm ẩn từ đó tìm cách giảm thiểu hoặc loại bỏ những tổn thất này”. Như vậy, hoạt động quản trị rủi ro khi cho vay sẽ bao gồm một loạt các nghiệp vụ hoạch định, tổ chức, triển khai thực hiện và giám sát, kiểm tra toàn bộ hoạt động cho vay nhằm tối thiểu hóa rủi ro và tối đa hóa lợi nhuận.
1.2.2. Mục đích của hạn chế rủi ro tín dụng Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Vietcombank.
Hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động chủ đạo đem lại phần lớn lợi nhuận cho NHTM. Quản trị rủi ro tín dụng hướng vào việc hạn chế rủi ro tín dụng và không ngừng nâng cao chất lượng tín dụng ngay trong những điều kiện thị trường đầy biến động, nguy cơ rủi ro (Hạng và Lộc, 2012). Do vậy, mỗi hoạt động quản trị rủi ro khi cho vay cốt lõi đều hướng về mục đích sau cùng là tối đa hóa sự an toàn của khoản vay, hạ xuống thấp nhất mọi nguy cơ có thể xảy đến với khoản vay thông qua tổ hợp nhiều phương thức quản lý và kiểm soát một cách có hệ thống. Bên cạnh đó, việc hạn chế rủi ro cho khoản vay không phải phân tích một cách đột xuất mà được thực thi một cách có chủ đích, theo ý chí của phía NHTM và bắt buộc phải đi theo hướng dẫn của NHNN cũng như theo sát những điều khoản trong hiệp ước Basel (2011) đã đặt ra trước đó. Trong đó, nội dung của hạn chế của rủi ro cho khoản vay sẽ phải đáp ứng 4 yêu cầu cụ thể bao gồm xây dựng một môi trường tín dụng thích hợp, hoạt động cho vay sẽ phải được thực thi một cách lành mạnh, trong quá trình cho vay sẽ phải đảm bảo các công cụ về quản lý, đo lường, giám sát phù hợp và cuối cùng là phải đáp ứng tính đầy đủ trong quản lý rủi ro đối với khoản vay (Hạng và Lộc, 2012).
Tiêu chí thứ nhất trong hoạt động hạn chế rủi ro đó là phải xây dựng một môi trường tín dụng thích hợp. Sự thích hợp ở đây phải đi liền cả về tần suất kiểm soát rủi ro, chiến lược kiểm soát rủi ro cũng như chính sách quản lý rủi ro từ phía các NHTM. Theo yêu cầu hiện nay, các NHTM phải tiến hành các hoạt động vừa nêu trên tối thiểu 1 lần mỗi năm. Mục đích của việc xây dựng môi trường quản trị rủi ro phù hợp nhằm đo lường, tính toán được khả năng chịu đựng rủi ro của các NHTM, khả năng phản ứng của NHTM khi rủi ro xảy đến.
Tiêu chí thứ hai đó là việc thực hiện việc phê duyệt các khoản vay một cách lành mạnh. Để có thể đáp ứng được tiêu chí này thì bản thân các ngân hàng sẽ phải nắm rõ được danh mục cho vay của mình, các điều kiện để cấp khoản vay cũng như yêu cầu đối với người vay. Mỗi NHTM cần phải thiết lập các mức trần tối đa cho từng nhóm khách hàng khi cho vay và việc phê duyệt tín dụng sẽ phải căn cứ dựa trên kết quả chấm điểm và xếp hạng khách hàng. Để có thể thực hiện các nội dung trên một cách hiệu quả đòi hỏi trong quá trình cho vay phải có sự tư vấn, ý kiến chuyên môn từ các phòng ban bộ phận khác nhau của quá trình cho vay nhằm đảm bảo tất cả các thông tin đầu vào cho khoản vay phải được đánh giá 1 cách kỹ càng trước khi ra quyết định phê duyệt hay không phê duyệt đối với khoản vay. Bên cạnh đó, điều này cũng đồng thời đòi hỏi các NHTM phải nắm bắt được chính xác nguồn thông tin khoản vay của từng nhóm khách hàng để so sánh, đối chiếu đảm bảo việc cho vay nằm trong hạn mức cho phép (Hạng và Lộc, 2012). Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Vietcombank.
Tiêu chí thứ ba đó là các NHTM phải duy trì một quy trình quản lý, đo lường và giám sát đối với các khoản vay. Thực vậy, mỗi NHTM cần phải nắm rõ danh mục nào cho vay là thế mạnh của mình, xác định từng khoản vay để có thể giám sát một cách sát sao việc sử dụng nguồn vốn vay đồng thời cũng là căn cứ để thực hiện trích lập dự phòng một cách hợp lý. Điều này quả thực không dễ dàng khi cũng đòi hỏi các NHTM nắm bắt được đặc điểm của khoản vay, giá trị khoản vay và tính chất hoạt động của khách hàng vay tiền.
Tiêu chí cuối cùng đó là các NHTM phải đảm bảo việc kiểm soát đầy đủ với mọi vấn đề trong quá trình quản trị rủi ro. Các NHTM sẽ phải đảm bảo vận hành được một hệ thống đánh giá độc lập, tần suất đánh giá liên tục đối với quá trình quản trị rủi ro cho khoản vay và kết quả đánh giá sẽ phải được báo thường xuyên đến quản lý của NHTM để có thể kịp thời điều chỉnh nếu phát hiện điểm chưa hợp lý. Trong đó, quá trình cho vay là một vấn đề trọng điểm trong tiêu chí này. Việc cho vay sẽ phải đảm bảo đồng thời 2 tiêu chuẩn là nằm trong giới hạn cho phép, đảm bảo tính an toàn và phải được thực thi một cách logic, chặt chẽ. Ban kiểm soát nội bộ trong NHTM cũng đóng vai trò quan trọng trong tiêu chí này khi phải đảm bảo tính chính xác và nhanh chóng trong việc tìm ra những điểm bất thường khi cho vay trên nhiều góc độ (hạn mức cho vay, chính sách cho vay và quy trình cho vay) (Hạng và Lộc, 2012). Ngoài ra, mỗi một NHTM cũng cần phải tự xây dựng cho mình một hệ thống có thể phát hiện các rủi ro của khoản vay một cách nhanh chóng để có thể đưa ra các biện pháp điều chỉnh kịp thời.
1.2.3. Nội dung quản trị rủi ro tín dụng Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Vietcombank.
Hiện nay, trong việc quản trị rủi ro tín dụng có thể được thực hiện thông qua nhiều phương thức khác nhau bao gồm: Hoạch định chiến lược quản trị rủi ro tín dụng, xác định khẩu vị rủi ro của ngân hàng, xây dựng chính sách quản lý rủi ro tín dụng thích hợp, tổ chức bộ máy cơ cấu hoạt động tín dụng hợp lý, tổ chức thực hiện quản trị rủi ro tín dụng, giám sát – kiểm tra, điều chỉnh sau giám sát. Cụ thể bao gồm 7 nội dung chính bao gồm hoạch định chiến lược quản trị rủi ro, xác định khẩu vị rủi ro, xây dựng chính sách quản trị rủi ro, tổ chức bộ máy quản trị rủi ro, tổ chức thực hiện, giám sát và kiểm tra quản trị rủi ro, điều chỉnh sau giám sát quản trị rủi ro. 7 nội dung trên không thể tiến hành riêng lẻ mà cần phải liên tục xem xét và đánh giá theo từng thời kỳ để các NHTM có thể thay đổi một cách uyển chuyển sao cho phù hợp.
Đối với hoạt động hoạch định chiến lược quản trị rủi ro, thì đây là định hướng mang tính lâu dài, ảnh hưởng và tác động trực tiếp lên sự tồn vong của các NHTM. Theo Dương Hữu Hạnh (2013) thì “Một chiến lược rõ ràng, chính xác trong dự báo bảo đảm cho các ngân hàng có thể linh hoạt trong phòng ngừa và giải quyết được những rủi ro tín dụng có thể xảy ra”. Chiến lược do các NHTM định hình sẽ góp phần định hướng cho các hoạt động cho vay trong tương lai nhằm bảo đảm mục tiêu an toàn và tối đa hóa lợi nhuận nhất là trong điều kiện hội nhập nền kinh tế trong nước và thế giới, đồng thời xác định khả năng và thái độ sẵn sàng chấp nhận của ngân hàng đối với rủi ro tín dụng.
Đối với nội dung xác định khẩu vi rủi ro thì đây chính là khả năng chấp nhận các rủi ro có thể xảy đến đối với các khoản vay của ngân hàng. Khẩu vị rủi ro trong hoạt động cho vay là khả năng chịu đựng rủi ro trên cơ sở tính toán với lợi ích mà NHTM có thể được nhận theo từng giai đoạn. Theo đó, khả năng chịu được rủi ro đối với khoản vay của các NHTM được căn cứ trên từng khoản vay theo từng nhóm khách hàng theo từng phân khúc, từng ngành nghề, theo từng ranh giới địa lý và theo từng lĩnh vực, điều khoản của khoản vay cũng như năng lực của chính các NHTM. Theo Aven (2013), khẩu vị rủi ro được xây dựng bằng cách xác định mức tối đa rủi ro từ các giới hạn về hạn mức cho vay, giao dịch đối với từng phân khúc khách hàng với đích đến sau cùng không để các khoản vay quá mất cân đổi vào cùng một phân khúc hay một nhóm khách hàng.
Tiếp đến chính là việc xây dựng chính sách quản lý rủi ro tín dụng phù hợp. Chính sách quản lý rủi ro tín dụng trong cho vay là hệ thống các định hướng và cách thức của một NHTM trong việc nhận dạng và quản lý rủi ro đối với khoản vay một cách hữu hiệu nhằm mục tiêu để những mất mát của khoản vay là nhỏ nhất và từ đó nâng cao chính kết quả kinh doanh của các NHTM.
Trong nội dung về tổ chức bộ máy quản trị rủi ro chính là việc ngân hàng làm thế nào thiết lập hay tổ chức các bộ phận trong ngân hàng đảm nhận việc quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay một cách thích hợp và đem lại hiệu quả cao. Mục tiêu này chỉ có thể đạt được thông qua việc ngân hàng tự lựa chọn cho mình mô hình tổ chức bộ máy phù hợp và phân định rõ chức năng nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của từng bộ phận trong bộ máy đó, đảm bảo các bộ phận này vừa độc lập vừa có sự liên kết chặt chẽ. Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Vietcombank.
Tổ chức thực hiện quản trị rủi ro trong cho vay là một nội dung quan trọng và được xem là khâu phức tạp nhất với sự tham gia của nhiều bộ phận, phòng ban trong ngân hàng. Trong đó, đòi hỏi các ngân hàng phải đưa ra các quy định chặt chẽ về quy chế và quy trình cấp tín dụng để các bộ phận, phòng ban và các cá nhân phối hợp thực hiện một cách nhuần nhuyễn, tránh sự chồng chéo, rườm rà giữa các phòng ban, bộ phận.
Cuối cùng là giám sát và kiểm tra quản trị rủi ro. Giám sát và kiểm tra quá trình thực hiện để đảm bảo thực hiện đúng theo chiến lược, kế hoạch quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay, kịp thời phát hiện được những rủi ro tiềm ẩn, các dấu hiệu của các khoản nợ xấu, nợ có vấn đề, giúp ngân hàng phát hiện và xử lý kịp thời những khoản nợ có vấn đề thông qua đó ngân hàng có thể hạn chế được những rủi ro trong cho vay không cần thiết.
1.2.4. Hoạt động hạn chế rủi ro tín dụng
Nhìn chung, quy trình quản trị rủi ro tín dụng hiện nay tại các NHTM được áp dụng theo 4 bước bao gồm: nhận dạng rủi ro, đo lường rủi ro, quản lý rủi ro và xử lý rủi ro. Cụ thể 4 bước bao gồm như sau:
Đối với nội dung nhận dạng rủi ro thì đây chính là bước đầu tiên trong quá trình quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng (Hạng và Lộc, 2012). Quá trình nhận dạng rủi ro sẽ phải được tiến hành trên cả phía các NHTM và người vay. Đối với phía các NHTM, rủi ro đối với khoản vay được biểu hiện rất rõ qua chính quy mô các khoản vay mà ngân hàng phê duyệt, cơ cấu cho vay của ngân hàng, tỷ lệ khách hàng chậm trả, thanh toán các khoản vay và mức dự phòng mà ngân hàng phải thực hiện. Theo Đức (2021) thì việc nhận dạng rủi ro đối với phía khách hàng có đôi chút khác biệt khi sự việc nhận dạng sẽ chú ý đến cả những rủi ro tiềm ẩn, đòi hỏi ngân hàng phải một bộ phận chuyên trách để phân tích tính an toàn của khoản vay nhằm đưa ra những biện pháp xử lý nhanh chóng. Thực tế hiện nay, các NHTM thực hiện nội dung nhận dạng rủi ro dựa trên việc phân tích danh mục cho vay và phân tính đánh giá người vay. Đối với phân tích danh mục cho vay, các NHTM sẽ phải xem xét tất cả các yếu tố của khoản vay bao gồm độ lớn của khoản vay, cơ cấu của khoản vay, mục đích vay, thời hạn vay hay cả loại tiền tệ khách hàng vay… Đối với phân tích đánh giá người vay, phía các NHTM sẽ phải tiến hành đồng thời rủi ro cho vay cho từng nhóm khách hàng và đánh giá đối với từng khoản vay (Đức, 2021). Việc đánh giá người vay là một quy trình liên tục từ khi tiếp nhận đề xuất vay vốn của khách hàng, gặp gỡ thực tế khách hàng, thẩm định thông tin khách hàng cung cấp, kiểm tra trước, trong và sau khi giải ngân khoản vay. Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Vietcombank.
Bước thứ hai trong hoạt động hạn chế rủi ro khoản vay chính là đo lường mức độ rủi ro của khoản vay. Hiện nay, các NHTM có rất nhiều phương thức dùng để đo lường rủi ro của khoản vay. Theo Đức (2021), Một số NHTM hiện nay áp dụng các chấm điểm và xếp hạng khách hàng, một số khác áp dụng việc đo lường rủi ro thông qua tiêu chí Z, một số khác áp dụng theo đúng quy chuẩn xếp hạng khoản vay nội bộ theo yêu cầu của Basel
Sự khác nhau của các phương thức đo lường nêu trên nằm ở kết quả của việc đo lường. Việc chấm điểm và xếp hạng cho phép các NHTM biết được điểm số của khách hàng trên một thang đo cụ thể để ra quyết định cho vay hay không. Ngược lại, nếu áp dụng theo tiêu chuẩn Basel II cho phép các NHTM đánh giá được các mất mát có thể xảy ra (Expected loss) cho khoản vay của mình (Basel, 2011). Như vậy, có thể thấy rằng việc đo lường rủi ro tín dụng là chưa có một phương thức thống nhất cụ thể, việc đo lường đánh giá rủi ro của khoản vay lúc này phụ thuộc rất nhiều về phương pháp đánh giá, số liệu thông tin đầu vào của khoản vay và kết quả đánh giá chỉ mang tính chất tương đối. Lúc này, xác suất đánh giá rủi ro của khoản vay cũng còn phải phụ thuộc rất lớn vào ý chí của người đánh giá, loại hình cho vay. Bên cạnh đó, chính các NHTM cũng có thể đo lường rủi ro cho vay cho chính mình dựa trên các tiêu chí định lượng về dư nợ cho vay của mình như quy mô, cơ cấu của các khoản vay, tỷ lệ khách hàng chậm trả, khối lượng dự phòng rủi ro cho khoản vay…
Bước thứ ba của quá trình hạn chế rủi ro đó chính là thông qua việc quản lý rủi ro. Theo Hạng và Lộc (2012), nội dung của việc quản lý rủi ro dành cho khoản vay bao gồm 5 nội dung chính bao gồm như sau:
Thứ nhất, các NHTM phải có được chiến lược quản lý rủi ro khi cho vay một cách chính xác. Để có thể đưa ra chiến lược phát triển cho vay đúng đắn thì các NHTM sẽ phải dựa trên định hướng phát triển, tầm nhìn phát triển, mục tiêu hoạt động cũng như sứ mệnh của các NHTM. Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Vietcombank.
Thứ hai, các NHTM phải định hình được chính sách quản lý rủi ro khi cho vay. Việc định hình được chính sách quản lý rủi ro cho khoản vay chính là nền tảng để các NHTM phát triển một quy trình cho vay phù hợp theo đúng chức năng, nhiệm vụ cơ cấu của NHTM trong quá trình cho vay. Ngoài ra, chính sách cho vay còn thể hiện thông qua các tiêu chuẩn xây dựng mục cho vay cho từng phân khúc cũng như là cơ sở để thực hiện trích lập dự phòng.
Thứ ba, các NHTM phải nắm bắt được danh mục cho vay của mình đang diễn ra như thế nào để từ đó có những biện pháp xử lý rủi ro của các khoản vay một cách nhanh chóng cũng như là cơ sở để có thể phân tích rủi ro khi cho vay.
Thứ tư, hệ thống thông tin chính là một trong những yếu tố bắt buộc của việc quản lý rủi ro. Lúc này dữ liệu và thông tin chính là căn cứ thuyết phục nhất để các NHTM có thể xây dựng phương hướng quản lý rủi ro một cách khoa học.
Cuối cùng sau khi có được nguồn thông tin từ hoạt động cho vay, các NHTM sẽ phải giảm thiểu rủi ro cho vay có thể xảy đến với mình thông qua việc phân tán rủi ro. Nội dung của quá trình phân tán đó chính là hướng đến đa dạng hóa danh mục cho vay, tránh việc cho vay tập trung và mất cân đối vào một hay một vài phân khúc nhất định.
Bước thứ 4 cũng là bước cuối cùng của hạn chế rủi ro khi cho vay đó chính là xử lý rủi ro. Đây là bước tác nghiệp đòi hỏi các NHTM phải tiến hành liên tục và đồng thời trong cả 3 giai đoạn trước, trong và sau khi cho vay. Đây là bước quá trình trong việc hạn chế rủi ro. Trước khi phải xử lý rủi ro thì chính bản thân các NHTM phải tự mình kiểm soát được các vấn đề có thể xảy ra đối với khoản vay. Các NHTM phải đảm bảo khoản cho vay là thực hiện đúng chính sách và yêu cầu đã xây dựng trước đó, tuân thủ theo nguyên tắc an toàn của ngân hàng cũng như từ phía của NHNN (Hạng và Lộc, 2012). Việc xử lý rủi ro được thực hiện trước khi cho vay chính là việc các NHTM nắm bắt được quy trình cho vay, khoản vay có nằm trong chính sách cho vay hay không, đảm bảo việc tiếp nhận thông tin, thẩm tra thông tin, đánh giá thông tin, phê duyệt khoản vay được thực thi đúng quy định. Việc kiểm soát trong khi cho vay là bước kiểm tra chéo, kiểm tra lần 2 đối với các thông tin về khoản vay cũng như mở rộng đảm bảo khoản vay được sử dụng đúng như kê khai của khách hàng… Cuối cùng chính là kiểm soát sau khi cho vay. Các nhiệm vụ trong bước này bao gồm việc NHTM kiểm tra và nhắc nhở khách hàng trả nợ đúng như cam kết, tra soát hoạt động cho vay đã thực hiện có đúng quy định của NHTM và của NHNN. Đây là bước sau cuối của hoạt động cho vay. Nếu khách hàng thực hiện đúng như những gì đã cam kết trong hợp đồng tín dụng thì việc kiểm soát sau khi cho vay sẽ được thực thi rất nhanh chóng. Tuy nhiên, nếu khách hàng có vấn đề khoản vay thì đây cũng là tuyến phòng vệ cuối cùng để bảo vệ các NHTM trước những mất mát có thể xảy đến. Thông thường, việc xử lý rủi ro sau khi vay được tiến hành một cách tuần tự dựa trên thời hạn khách hàng quá hạn trả nợ. Nếu như việc nhắc nợ, đôn đốc khách hàng trả nợ không có kết quả thì các NHTM sẽ phải cắt cử nhân viên tìm đến gặp khách hàng để tìm hiểu nguyên do, cũng qua đó có thể nắm bắt được tình hình của khách hàng nhằm giải quyết một cách ôn hòa cho cả 2 phía như là việc giúp đỡ khách hàng nếu gặp khó khăn trong sản xuất, kinh doanh, đề xuất phương án giãn nợ, hoãn nợ… Tuy nhiên nếu như đến đây khách hàng vẫn không thể thực hiện được các trách nhiệm đã cam kết với Ngân hàng thì lúc này phía các NHTM bắt buộc phải thực hiện xử lý nợ. Đây là bước cuối cùng mà chính bản thân các NHTM cũng không muốn khoản vay của mình phải rơi vào tình trạng trên. Các NHTM sẽ có 2 phương thức xử lý thông qua việc yêu cầu khách hàng vay thêm để tiếp tục hoạt động kinh doanh để có thể tạo ra nguồn tiền trả nợ, yêu cầu khách hàng bổ sung thêm tài sản thế chấp. Nếu như đến đây vẫn chưa có thể thu hồi được nguồn vốn thì các NHTM bắt buộc phải tiến hành bước cuối cùng bao gồm các nghiệp vụ như xử thanh tý tài sản thế chấp, bắt buộc phải sự dụng nguồn dự phòng hay phải khởi kiện người vay đến các cơ quan Tư pháp.
1.2.5. Biện pháp hạn chế rủi ro tín dụng Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Vietcombank.
Để giảm thiểu và hạn chế rủi ro tín dụng, hiện nay cơ chế quản lý từ phía cơ quan chức năng và các ngân hàng thương mại đã có sự tiếp thu, kinh nghiệm và học tập. Trong đó, một số biện pháp hướng đến việc rủi ro tín dụng có thể kể đến như sau:
- Xây dựng chính sách và kiểm soát quản trị rủi ro trong hoạt động tín dụng
Đây là biện pháp chủ yếu dựa vào kinh nghiệm và tuân thủ chặt chẽ quy trình cho vay. Thông thường, chỉ khi nào nhận thấy dấu hiệu khoản vay có vấn đề. Công tác nhận dạng rủi ro còn bỏ ngõ do không có sự cảnh báo trước các rủi ro có khả năng xảy ra đối với khoản vay. Do vậy, theo Hạng và Lộc (2012) thì mỗi một định chế tài chính cần phải xây dựng riêng cho mình một chính sách và kiểm soát rủi ro tín dụng sao cho phù hợp với đặc thù của ngân hàng và khả năng chịu đựng của mình. Việc nhận dạng rủi ro mang tính chung chung, hình thức, không cụ thể sẽ làm gia tăng rủi ro tín dụng. Công tác kiểm soát rủi ro phải mang tính phòng ngừa, bảo vệ từ xa hơn việc xử lý rủi ro (Hạng và Lộc, 2012). Các chính sách kiểm soát rủi ro khi được triển khai và thực hiện một cách đúng đắn sẽ duy trì các tiêu chuẩn cấp phát tín dụng, giám sát và kiểm soát rủi ro tín dụng, đánh giá các cơ hội kinh doanh mới, nhận dạng và quản trị các vấn đề tín dụng chính xác….
- Xây dựng hệ thống quản lý và cập nhật thông tin hiệu quả
Thông tin tín dụng là yếu tố cơ bản trong quản lý tín dụng theo nghĩa rộng. Nhờ có thông tin tín dụng, người quản lý có thể đưa ra những quyết định cần thiết có liên quan đến cho vay, theo dõi quản lý tài khoản cho vay. Theo Quách Thùy Linh (2011), thông tin tín dụng có thể thu được từ nhiều nguồn khác nhau (từ phía khách hàng, tự hệ thống thông tin hay từ thông tin các cơ quan chức năng). Bên cạnh đó, xét trên khía cạnh thông tin, để hạn chế rủi ro thì các định chế tài chính không thể bị động trong việc tiếp nhận thông tin mà phải chủ động đi tìm hiểu thông tin. Tầm quan trọng của thông tin tín dụng là rất quan trọng, giúp ngăn ngừa rủi ro và góp phần ổn định tình hình kinh doanh. Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Vietcombank.
- Hoàn thiện và phát triển các quy trình, quy định, công tác liên quan đến hoạt động tín dụng
Việc chấp hành cơ chế, quy trình tín dụng là yêu cầu bắt buộc trong các nghiệp vụ kinh doanh tài chính tiền tệ và cần phải được áp dụng một cách nghiêm túc. Từng ngành nghề, từng lĩnh vực đều có những nét đặc thù riêng. Do vậy, hoạt động cho vay phải đi cùng với sự hiểu biết nhất định về độ rủi ro cũng như các dấu hiệu rủi ro của từng ngành nghề (Nguyễn Hải Ninh, 2012). Nếu áp dụng quy trình chung thì không thể phát hiện và đo lường các rủi ro đặc thù. Vì vậy, cần phải hoàn thiện và phát triển các quy trình, quy định, công tác liên quan đến việc cho vay một cách chi tiết, cụ thể tương ứng với từng ngành nghề.
- Tài sản bảo đảm
Tài sản bảo đảm là một trong những yếu tố mà các định chế tài chính nói chung sẽ phải xem xét đến khi phân tích cho vay. Bởi vì tài sản bảo đảm là nguồn trả nợ thứ cấp cho khoản vay nếu dự án kinh doanh của khách hàng gặp rủi ro, dòng tiền của khách hàng không đúng như dự kiến (Nguyễn Văn Tiến, 2005). Tuy nhiên, khoản vay sẽ phải được thanh toán bằng tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh chứ không phải từ tài sản nên tài sản bảo đảm chỉ là điều kiện cần, không phải là điều kiện đủ để cho vay. Vì thực tế cho thấy, một số lượng lớn các khoản vay chỉ dựa vào tài sản bảo đảm lại trở thành nợ quá hạn.
Như vậy, các ngân hàng lúc này sẽ phải đảm bảo các điều kiện cần thiết về tài sản, việc phát mãi tài sản bảo đảm.
Hoạt động kinh doanh tiền tệ luôn gắn liền với các rủi ro vốn có của nó, đặc biệt là rủi ro tín dụng. Không thể loại bỏ hoàn toàn rủi ro mà chỉ có thể áp dụng các biện pháp để phòng ngừa và giảm thiểu thiệt hại tối đa khi rủi ro xảy ra. Để thực hiện phòng ngừa rủi ro tín dụng một cách hiệu quả thì cùng lúc phải thực hiện nhiều biện pháp. Trong đó, nhân tố con người cần được quan tâm nhiều nhất, cần xây dựng chiến lược phát triển linh hoạt trong từng giai đoạn. Ngoài ra, các biện pháp như xây dựng chính sách và kiểm soát quản trị rủi ro trong hoạt động tín dụng; xây dựng hệ thống quản lý và cập nhật thông tin hiệu quả; hoàn thiện và phát triển các quy trình, quy định, công tác liên quan đến hoạt động tín dụng; tài sản bảo đảm… sẽ góp phần tăng cường kiểm soát hoạt động cho vay thêm chặt chẽ, nâng cao chất lượng tín dụng và an toàn, hiệu quả hơn.
Tóm tắt Chương 1
Trong nội dung chương 1, đề tài đã trình bày các nội dung liên quan đến rủi ro tín dụng bao gồm khái niệm về rủi ro tín dụng, nguyên nhân rủi ro tín dụng, ảnh hưởng của rủi ro tín dụng lên nền kinh tế, lên ngân hàng. Ngoài ra, đề án cũng trình bày các nội dung về các phương thức đánh giá rủi ro tín dụng, phương thức quản trị rủi ro tín dụng. Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Vietcombank.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng rủi ro hoạt động cho vay tại Vietcombank

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com


[…] ===>>> Luận văn: Quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Vietcombank […]