Luận văn: Quản lý nhà nước về lao động tại tỉnh Kiên Giang

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý nhà nước về lao động tại tỉnh Kiên Giang hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Quản lý nhà nước về lao động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

PHẦN MỞ ĐẦU

1  Lý  do chọn đề tài

Lực lượng lao động là yếu tố không thể thiếu để thực hiện các hoạt động lao động – hoạt động quan trọng nhất của con người nhằm tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần cho xã hội. Trong bối cảnh hội nhập, toàn cầu hóa, Việt Nam có nhiều cơ hội để phát triển, nhưng cũng phải đối mặt với những thách thức rất lớn, trong đó có vấn đề nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lao động xã hội. Hơn lúc nào hết, nguồn lao động Việt Nam đang đứng trước nguy cơ gia tăng thất nghiệp do không đáp ứng được yêu cầu về chất lượng, đặc biệt ở các lĩnh vực hoạt động đòi hỏi trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp cao do quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế…

Kiên Giang là tỉnh thuộc khu vực đồng bằng sông Cửu Long, có kinh tế chủ yếu là nông nghiệp và đang chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển công nghiệp, du lịch – thương mại và dịch vụ; nguồn lao động dồi dào. Tuy nhiên, do chất lượng nguồn lao động còn thấp nên chưa đáp ứng được yêu cầu hiện tại và xu hướng phát triển trong tương lai. Là một trong những tỉnh kinh tế trọng điểm phía Nam và đang vươn lên, phát triển mạnh mẽ, đang hình thành các khu, cụm công nghiệp đòi hỏi phải có lực lượng lao động có trình độ, tay nghề cao với cơ cấu hợp lý, giải quyết việc làm hiệu quả đòi hỏi phải có sự tham gia của các cấp, các ngành chức năng của tỉnh, đặc biệt là cơ quan quản lý nhà nước về lao động của tỉnh.

Tương đồng với các tỉnh, thành phố khác, tỉnh Kiên Giang dư thừa sức lao động ở nông thôn thì khu vực thành thị, đặc biệt ở những nơi ngành công nghiệp, dịch vụ, du lịch phát triển lại thiếu hụt lao động trầm trọng; nguồn lao lao động dồi dào nhưng chủ yếu là lao động phổ thông, tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề thấp và chủ yếu đào tạo nghề trong lĩnh vực nông nghiệp. Điều này dẫn đến việc Nhà nước phải điều tiết về quy luật cung cầu nguồn lao động trong xã hội, nâng cao chất lượng nguồn lao động nhằm hạn chế tình trạng lao động thất nghiệp do chất lượng lao động không đáp ứng được yêu cầu công việc; do cung, cầu lao động chưa được liên thông hiệu quả. Luận văn: Quản lý nhà nước về lao động tại tỉnh Kiên Giang.

Trước yêu cầu mới hiện nay, việc tăng cường công tác quản lý nhà nước về lao động là yêu cầu khách quan, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Để nguồn lực lao động sử dụng hiệu quả, đáp ứng được yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước là đòi hỏi cấp thiết.

Để giải quyết những vấn đề đặt ra và góp phần vào phát triển kinh tế xã hội của tỉnh nhà, tôi mạnh dạng chọn nội dung Quản lý nhà nước về lao động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang làm đề tài luận văn thạc sĩ.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Quản Lý Công

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tà luận văn

Quản lý nhà nước về lao động luôn là một trọng tâm của đời sống xã hội không chỉ ở Việt Nam mà ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, ngay cả ở những quốc gia phát triển và giàu có nhất thì đây vẫn là nhiệm vụ cần quan tâm hàng đầu của các nhà lãnh đạo quốc gia, cũng như các nhà quản lý nhà nước ở nhiều cấp độ. Nghiên cứu về lao động,việc làm, quản lý nhà nước về lao động, giải quyết việc làm để được nhiều nhà khoa học xã hội học; kinh tế học, quản lý học…) đề cập. Có thể kể ra một số trong số các công trình đó như:

 Ngô Quỳnh An, Luận án tiến sĩ, bảo vệ năm 2012, Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân. Trong đề tài: “Tăng cường khả năng tự tạo việc làm cho thanh niên Việt Nam” đề tài để phân tích các ảnh hưởng tới khả năng có được việc làm được trả lương cho toàn bộ dân số từ 10 tuổi trở lên trong khi các yếu tố khác được giữ nguyên. Kết quả nghiên cứu cho thấy trình độ phải đạt từ trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học và dạy nghề trở lên mới tăng khả năng có được việc làm của người lao động, yêu cầu về trình độ này làm tăng khả năng có việc làm của nữ cao hơn so với nam. Như vậy trình độ văn hóa, đào tạo nghề có ảnh hưởng lớn đến cơ hội có việc làm của người lao động. Trong nghiên cứu này, tác giả cũng chỉ ra rằng lao động là người thuộc các hộ gia đình nghèo có khả năng có được việc làm cao hơn ở những hộ gia đình không nghèo. Nguyên nhân có thể là do gia đình nghèo thì động lực thúc đẩy các thành viên tìm kiếm việc làm để cải thiện cuộc sống mạnh mẽ hơn. Ngoài ra nó cũng phù hợp với cơ cấu việc làm hiện nay đối với người nghèo, phổ biến nhiều công việc lao động chân tay và việc làm trong khu vực phi kết cấu. Đối với nữ trong các gia đình nghèo, xác suất có việc làm cũng cao hơn so với nam giới.

Nguyễn Trọng Vân, Luận văn Thạc sĩ, bảo vệ năm 2014, Trường Đại học Kinh tế, Đại học quốc gia Hà Nội. Trong đề tài “Giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn tỉnh Hà Tĩnh”. Tác giả để phân tích làm rõ thực trạng việc làm, các yếu tố tác động đến giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn tỉnh Hà Tĩnh trong những năm qua; chỉ ra những thành tựu, hạn chế và nguyên nhân từ đó đề xuất các giải pháp chủ yếu để giải quyết việc làm cho thanh niên nông thôn ở tỉnh Hà Tĩnh phù hợp với điều kiện cụ thể của địa phương. Kết quả của nghiên cứu để chỉ ra rằng, ngoài các yếu tố về đặc điểm kinh tế xã hội, điều kiện tự nhiên thì các yếu tố ảnh hưởng lớn đến công tác giải quyết việc làm cho lao động nông thôn như các chính sách tạo việc làm cho thanh niên, hỗ trợ về vốn sản xuất, kỹ thuật, đào tạo nghề. Luận văn: Quản lý nhà nước về lao động tại tỉnh Kiên Giang.

Bài viết của ông Lê Quang Trung – Phó Cục trưởng Cục việc làm: Những vấn đề đặt ra trong lĩnh vực lao động – việc làm thời kỳ hội nhập, tháng 12/2016, Tạp chí Lao động và X  hội số 521.

Bài viết để đề cặp đến cơ hội và thách thức khi Việt Nam để và đang hội nhập sâu rộng với khu vực và các nước trên thế giới, các vấn đề đó là:

Hội nhập sẽ tạo được nhiều việc làm và nâng cao chất lượng việc làm; nguồn lao động của Việt Nam lớn nhưng chất lượng còn hạn chế cả về chuyên môn, kỹ thuật, thể lực và cả về ý thức, tác phong làm việc; năng suất lao động thấp; vấn đề di chuyển lao động tạo ra nhiều cơ hội về việc làm nhưng cũng có nhiều mặt trái cần giải quyết; hệ thống thông tin thị trường lao động còn nhiều hạn chế; cần quan tâm đến đảm bảo an sinh xã hội, hỗ trợ kịp thời cho người lao động mất việc làm trong quá trình cạnh tranh về lao động. Tác giả bài viết cũng đề nghị thời gian tới cần quan tâm đến các nội dung: Hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về lao động, việc làm và các văn bản liên quan cho phù hợp với các cam kết và điều kiện của Việt Nam; Hoàn thiện và phát triển thị trường lao động để tạo điều kiện cho thị trường lao động phát triển đúng theo quy luật của nó; Nâng cao chất lượng nguồn lao động về trình độ chuyên môn, tay nghề và kỹ năng hành nghề; Tăng cường tuyên truyền, phổ biến pháp luật lao động trong nước và pháp luật lao động khu vực và các nước có hợp tác về lao động; Xây dựng mối quan hệ lao động minh bạch, lành mạnh nhằm ngăn ngừa và hạn chế tranh chấp lao động; Hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội.

Bài viết của Thạc sĩ Trịnh Hoàng Lâm: Một số giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam, tháng 6/2016, Tạp chí Lao động và X  hội số 528.

Nội dung bài viết, tác giả để nêu bật đặc điểm nguồn nhân lực Việt Nam, về dân số đông thứ 13 trên thế giới; lực lượng lao động Việt Nam dồi dào với hơn 53 triệu người, trong đó 50% lao động có độ tuổi từ 15 đến 39; trình độ qua đào tạo thấp, phân bố lao động trẻ khu vực nông thôn nhiều hơn thành thị; và tình hình sử dụng nhân lực với tình trạng thiếu việc làm và thất nghiệp còn cao. Tác giả bài viết để phân tích những mặt hạn chế của nguồn nhân lực Việt Nam, nguyên nhân của những hạn chế đó. Từ đó để đề xuất các giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam trong thời gian tới:  Tiếp tục đổi mới quản lý nhà nước, hoàn thiện bộ máy và đổi mới phương pháp quản lý, tạo cơ chế chính sách để phát triển nguồn nhân lực; Đảm bảo nguồn lực về tài chính; Đẩy mạnh cải cách giáo dục; Chủ động hội nhập. Luận văn: Quản lý nhà nước về lao động tại tỉnh Kiên Giang.

Bài viết của Phó Giáo sư, tiến sĩ Vũ Hoàng Ngân và Thạc sĩ Hoàng Thị Huệ: Giải pháp nâng cao năng suất lao động trong các doanh nghiệp Việt Nam, tháng 8/2016, Tạp chí Lao động và Xã hội số 532.

Bài viết để đề cặp đến năng suất lao động doanh nghiệp Việt Nam, qua nghiên cứu dựa trên cơ sở dữ liệu điều tra doanh nghiệp từ năm 2011 đến năm 2014, năng suất lao động Việt Nam tăng dần qua các năm, năng suất lao động bình quân chung năm 2011 đạt 241,29 triệu đồng/lao động, đến năm 2014 tăng lên 306,83 triệu đồng/lao động, giai đoạn này tăng bình quân hàng năm là 8,34%/năm. Tác giả bài viết đ  đề xuất một số giải pháp để nâng cao năng suất lao động của các doanh nghiệp Việt Nam: Cải thiện hoạt động quản trị doanh nghiệp; Đầu tư cho khoa học và công nghệ; Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; Tạo môi trường thuận lợi thúc đẩy phát triển doanh nghiệp.

Phùng Ngọc Triều, Luận văn Thạc sĩ, bảo vệ năm 2007, Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh. Trong luận văn Thạc sĩ “Các nhân tố ảnh hưởng đến việc làm phi nông nghiệp của lao động nông thôn huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp” để xác định mức độ tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến cơ hội làm việc phi nghiệp của lao động nông thôn đó là: Giới tính của lao động có tác động nhiều đến khả năng tham gia hoạt động phi nông nghiệp của lao động trong vùng. Tác động của yếu tố này thể hiện nữ giới có khả năng tham gia hoạt động phi nông nghiệp tại địa phương cao hơn nam giới, họ tham gia dưới các hình thức việc làm tự tạo như buôn bán, may mặc, thiêu hay việc làm hàng gia công tại nhà; Trình độ giáo dục ảnh hưởng đến khả năng tham gia việc làm phi nông nghiệp, xu hướng chung là trình độ giáo dục của lao động càng cao thì khả năng tham hoạt động phi nông nghiệp càng lớn. Bên cạnh đó học nghề cũng có tác động rất lớn thúc đẩy lao động tham gia hoạt động phi nông nghiệp và đặc biệt đối với lao động nữ thì học nghề có tác động mạnh hơn lao động nam; Thông tin việc làm có tác động khá lớn đến khả năng tham gia hoạt động phi nông nghiệp của lao động, nhưng là tác động ngược chiều. Lao động có biết nguồn cung cấp thông tin về việc làm phi nông nghiệp nhưng khả năng tham gia rất ít do chất lượng nguồn thông tin kém và việc làm không phù hợp; Các nhà máy, tổ hợp sản xuất chưa thể hiện tác động rõ nét đối với vùng nghiên cứu trong hiện tại nhưng sự xuất hiện và phát triển của chúng sẽ có tác động tích cực đến khả năng tham gia hoạt động phi nông nghiệp của người lao động.

Các giáo trình, công trình nghiên cứu, bài viết nói trên để có đóng góp hết sức quan trọng vào lý luận cũng như thực tiễn quản lý nhà nước về lao động và giải quyết việc làm nói chung. Tuy nhiên, mới chỉ đề cập đến từng vấn đề, từng khía cạnh hoặc tập trung giải quyết một số vấn đề riêng lẻ về lao động hoặc giải quyết việc làm hoặc chỉ là những nghiên cứu chung toàn quốc hoặc địa phương khác. Chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể và chi tiết vấn đề quản lý nhà nước về lao động, giải quyết việc làm trên địa bàn tỉnh Kiên Giang. Luận văn này là một hướng cứu của tác giả nhằm khắc phục điều đó.

3 Mục đích và nhiệm vụ Luận văn: Quản lý nhà nước về lao động tại tỉnh Kiên Giang.

Mục đích: Luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận quản lý nhà nước về lao động; đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về lao động trong những năm qua trên địa bàn tỉnh Kiên Giang; tác giả tập trung đánh giá về công tác triển khai và thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật; công tác đào tạo nâng cao chất lượng nguồn lao động; công tác thông tin thị trường lao động và công tác giải quyết việc làm; công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật về lao động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.

Trên cơ sở đó đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện quản lý nhà nước về lao động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.

  • Nhiệm vụ:

Hệ thống hóa cơ sở lý luận để làm rõ quan niệm về lao động và quản lý nhà nước về lao động.

Phân tích, đánh giá thực trạng về lao động và công tác quản lý nhà nước về lao động, tìm ra những ưu điểm, hạn chế, bất cập và nguyên nhân đó trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.

Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về lao động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.

4  Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 

  • Đối tượng: Quản lý nhà nước về lao động.

Quản lý nhà nước về lao động là một lĩnh vực quản lý rất rộng, có nhiều nội dung như quản lý nguồn lao động, thông tin thị trường lao động, đào tạo nghề, giải quyết việc làm cho đến quản lý mối quan hệ lao động như hợp đồng lao động, nội quy lao động, thỏa ước lao động tập thể, tiền lương, hòa giải tranh chấp lao động, đình công luôn công…. Với thời gian xác định, tác giả giới hạn nội dung nghiên cứu tập trung vào vấn đề quản lý nhà nước về lao động, nghiên cứu chủ yếu đối với nguồn lao động, chất lượng lao động và giải quyết việc làm cho người lao động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.

  • Phạm vi về không gian: Trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.
  • Phạm vi về thời gian: Từ năm 2012 đến năm 2016, tầm nhìn đến năm 2020 và những năm tiếp theo.

5  Phương  pháp nghiên cứu Luận văn: Quản lý nhà nước về lao động tại tỉnh Kiên Giang.

Phương pháp luận: Đề tài luận văn thực hiện trên cơ sở phương pháp chủ nghĩa duy vật biện chứng và logic.

Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu; phương pháp tổng hợp, phân tích nhằm tạo lập thông tin phục vụ cho nghiên cứu, đánh giá các khía cạnh thực hiện công tác quản lý nhà nước về lao. Sử dụng phương pháp thống kê, phương pháp so sánh đối chiếu những kết quả từ thực tiễn để làm sáng tỏ những kết quả đạt được cũng như những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân trong công tác quản lý nhà nước về lao động; trên cơ sở đó đề xuất giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về lao động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.

6  Ý nghĩa của luận văn

  • Ý nghĩa lý luận: Luận văn nghiên cứu cơ sở lý luận cũng như phân tích và đánh giá về thực trạng công tác quản lý nhà nước về lao động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang.
  • Ý nghĩa thực tiễn:

Nêu được những bất cập trong công tác quản lý nhà nước về lao động tại tỉnh Kiên Giang;

Đề xuất, giải pháp góp phần hoàn thiện công tác quản lý nhà nước về lao động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang trong thời gian tới;

Luận văn mang ý nghĩa tham khảo đối với bộ máy quản lý nhà nước các cấp, các cơ quan quản lý hành chính nhà nước, các doanh nghiệp, hộ gia đình và Người lao động trong việc quản lý, sử dụng lao động hiệu quả, tạo mở việc làm, chắp nối cung cầu lao động và góp phần nâng cao hình ảnh lao động Việt Nam trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế.

7  Kết  cấu của  luận văn

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, mục lục tài liệu tham khảo, luận văn có 3 chương với những nội dung chính:

  • Chương 1. Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về lao động;
  • Chương 2. Thực trạng quản lý nhà nước về lao động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang;
  • Chương 3. Một số giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về lao động trên địa bàn tỉnh Kiên Giang. 

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ LAO ĐỘNG

1 1  Một số khái niệm cơ bản 

1.1.1. Lao động: là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm thay đổi các vật thể tự nhiên phù hợp với nhu cầu của con người. Thực chất là sự vận động của sức lao động trong qua trình tạo ra của cải vật chất cho xã hội, lao động cũng chính là quá trình kết hợp của sức lao động và tư liệu sản xuất để sản xuất ra sản phẩm phục vụ nhu cầu con người. Có thể nói lao động là yếu tố quyết định cho mọi hoạt động kinh tế.

1.1.2. Nguồn lao động Luận văn: Quản lý nhà nước về lao động tại tỉnh Kiên Giang.

Nguồn lao động là toàn bộ những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhưng đang thất nghiệp, đang đi học, đang làm nội trợ trong gia đình mình hoặc chưa có nhu cầu làm việc và những người thuộc tình trạng khác.

Như vậy, khái niệm về nguồn lao động hẹp hơn so với khái niệm nguồn nhân lực. Nguồn lao động không bao gồm lao động trẻ em. Nguồn lao động gồm hai bộ phận: bộ phận hoạt động  tích cực) và bộ phận chưa hoạt động tiềm tàng).

Bộ phận hoạt động của nguồn lao động gồm những người đang và sẵn sàng tham gia lao động, những người đang tích cực tìm việc làm và những người thực tế đang làm việc.

Bộ phận chưa hoạt động của nguồn lao động gồm những người có khả năng lao động nhưng tạm thời chưa tham gia lao động vì những lý do như đang đi học, đang làm nội trợ trong gia đình, chưa có nhu cầu làm việc…

1.1.3. Lực lượng lao động

Quan niệm về lực lượng lao động nhìn chung tương đối thống nhất giữa các tổ chức và quốc gia trên thế giới.

Theo Tổ chức Lao Động Quốc Tế  ILO), lực lượng lao động là dân số trong độ tuổi lao động thực tế có việc làm và những người thất nghiệp.

Trong khái niệm của ILO không đề cập đến phạm trù “có khả năng lao động” và không bao gồm số người “trên độ tuổi lao động đang làm việc”. Luận văn: Quản lý nhà nước về lao động tại tỉnh Kiên Giang.

Nhiều học giả cho rằng, lực lượng lao động bao gồm tất cả những người có việc làm và những người thất nghiệp, tức là ngoài bộ phận dân số trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, trong lực lượng lao động cần tính thêm cả lao động trẻ em và lao động cao tuổi. Quan điểm này thực tế hơn quan điểm của ILO vì ở các nước đang phát triển, số Người lao động dưới tuổi và trên tuổi thực tế đang làm việc chiếm một tỷ lệ khá cao trong dân số.

Trong nhân khẩu học và kinh tế lao động, người ta còn xác định nhân khẩu hoạt động kinh tế và nhân khẩu không hoạt động kinh tế. Theo cách hiểu của Tổ chức khu vực Châu Á – Thái Bình Dương và Tổng cục thống kê Việt Nam, khái niệm lực lượng lao động được hiểu đồng nghĩa với khái niệm dân số hoạt động kinh tế. Khái niệm “lực lượng lao động” hẹp nghĩa hơn so với khái niệm “nguồn lao động”. Theo nghĩa để nêu, lực lượng lao động chính là bộ phận hoạt động của nguồn lao động  không tính bộ phận chưa hoạt động). Cụ thể: Lực lượng lao động là những người đủ 15 tuổi trở lên có việc làm và những người thất nghiệp.

Để thấy rõ hơn về những khái niệm trên, có thể biểu diễn mối quan hệ giữa dân số, nguồn nhân lực, nguồn lao động và lực lượng lao động theo sơ đồ sau:

Hình 1.1. Mối liên hệ giữa dân số và nguồn nhân lực xã hội

Ghi chú: Lực lượng vũ trang thường xuyên không thuộc đối tượng thống kê dân sự.;…[8, trang 11].

1.1.4. Nguồn nhân lực Luận văn: Quản lý nhà nước về lao động tại tỉnh Kiên Giang.

Nguồn nhân lực là tiềm năng về lao động trong thời kỳ xác định của một địa phương, một ngành, một vùng, một quốc gia, một khu vực hay trên toàn thế giới. Đây là nguồn lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế – xã hội, là nguồn cung cấp sức lao động cho xã hội, đóng vai trò tạo ra mọi giá trị của cải vật chất, văn hóa và dịch vụ cho xã hội.

Quan niệm về nguồn nhân lực có một số sự khác biệt giữa các quốc gia. Theo từ điển Thuật ngữ Pháp  1977-1985), nguồn nhân lực bao gồm những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động và mong muốn có việc làm. Như vậy, những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động nhưng không mong muốn có việc làm, theo quan niệm này, không được tính vào nguồn nhân lực. Một số quốc gia khác có quan niệm ở chỗ nguồn nhân lực không có giới hạn trên về tuổi nó bao gồm cả những người không mong muốn có việc làm, tức quy mô nguồn nhân lực theo quan niệm này sẽ lớn hơn quan niệm trên.

Ở Việt Nam, theo quy định của Tổng cục Thống kê, nguồn nhân lực bao gồm những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, có tính thêm cả lao động trẻ em và lao động cao tuổi.

Lao động trẻ em là lao động chưa đủ 15 tuổi, chưa trưởng thành cả về thể chất và tinh thần đang làm việc.

Lao động cao tuổi là lao động trên độ tuổi lao động theo quy định của Pháp luật  trên 55 đối với nữ và trên 60 tuổi đối với nam) đang làm việc.

Khi nói đến nguồn nhân lực không đơn thuần chỉ là số lượng lao động mà đó là sự tổng hợp cả số lượng và chất lượng của bộ phận dân số có thể tham gia vào hoạt động kinh tế – xã hội.

Chất lượng nguồn nhân lực được thể hiện bằng các chỉ tiêu về tình trạng thể lực; trình độ học vấn; trình độ chuyên môn, kỹ thuật; kỹ năng nghiệp vụ, nghề; tính năng động x  hội  khả năng sáng tạo, tính linh hoạt, mức độ sẵn sàng tham gia lao động…); tác phong nghề nghiệp [8, trang 13].

1.1.5. Việc làm và người có việc làm

Việc làm: Ở nước ta, có một số quan niệm về việc làm. Theo giáo trình kinh tế lao động của trường Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, việc làm được hiểu là: “Sự kết hợp giữa sức lao động với tư liệu sản xuất nhằm biến đổi đối tượng lao động theo mục đích của con người”. Một số học giả lại cho rằng: “Bất cứ hoạt động nào trong đường biên sản xuất của hệ thống tài khoản quốc gia đều được coi là việc làm”. Luận văn: Quản lý nhà nước về lao động tại tỉnh Kiên Giang.

Về cơ bản, các định nghĩa trên đều thống nhất với quy định điều 9 của Bộ Luật lao động năm 2012: “Việc làm là mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập mà không bị pháp luật cấm” đều được thừa nhận là việc làm.

Như vậy, việc làm theo khái niệm trên bao gồm ba dạng:

Làm các công việc để nhận tiền công, tiền lương bằng tiền mặt hoặc bằng hiện vật cho công việc đó.

Làm các công việc để thu lợi nhuận cho bản thân bao gồm hoạt động nông nghiệp trên đất do chính thành viên đó sở hữu, quản lý hay có quyền sử dụng hoặc hoạt động kinh tế ngoài nông nghiệp do chính thành viên đó làm chủ toàn bộ hoặc một phần.

Làm các công việc cho hộ gia đình mình nhưng không được trả thù lao dưới hình thức tiền công, tiền lương cho công việc đó bao gồm sản xuất nông nghiệp trên đất do chủ hộ hoặc một thành viên trong hộ sở hữu, quản lý hay có quyền sử dụng hoặc hoạt động kinh tế ngoài nông nghiệp do chủ hộ hoặc một thành viên trong hộ làm chủ hoặc quản lý.

Người có việc làm: Ở Việt Nam theo từ điển thuật ngữ Lao động – Thương binh và Xã hội, người có việc làm là người làm việc trong mọi lĩnh vực, ngành nghề, dạng hoạt động có ích, không bị pháp luật ngăn cấm, mang lại thu nhập để nuôi sống bản thân và gia đình, đồng thời đóng góp một phần cho xã hội.

Như vậy, trong khái niệm người có việc làm không có quy định cận trên và cận dưới của độ tuổi lao động. Có nghĩa là, những người trên tuổi lao động và dưới tuổi lao động, nếu đang làm việc trong những lĩnh vực, ngành nghề dạng hoạt động có ích, mang lại thu nhập cũng đều được coi là người có việc làm. Luận văn: Quản lý nhà nước về lao động tại tỉnh Kiên Giang.

Số người có việc làm được chia thành hai loại: người có việc làm đầy đủ và người thiếu việc làm.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Quản lý nhà nước phòng chống buôn lậu tại Kiên Giang

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
1 Comment
Cũ nhất
Mới nhất Được bỏ phiếu nhiều nhất
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
trackback

[…] ===>>> Luận văn: Quản lý nhà nước về lao động tại tỉnh Kiên Giang […]

1
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537