Luận văn: Quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể tại phú thọ

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể tại phú thọ hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO công nhận trên địa bàn tỉnh Phú Thọ dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài luận văn

Việt Nam là đất nước có năm mươi tư dân tộc với hàng ngàn năm văn hiến, mỗi dân tộc lại sản sinh và lưu giữ những giá trị văn hóa truyền thống mang bản sắc riêng của từng vùng, miền. Bảo vệ và phát huy các giá trị di sản văn hóa là một chính sách lớn, xuyên suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhà nước ta.

Việt Nam hiện đang sở hữu hai mươi ba di sản được UNESCO vinh danh. Bao gồm di sản thiên nhiên, di sản vật thể, di sản phi vật thể, di sản tư liệu và di sản hỗn hợp. Trong số này, quần thể di tích cố đô Huế, được công nhận là di sản văn hóa thế giới sớm nhất (năm 1993). Gần đây nhất, ngày 01 tháng 12 năm 2016, Thực hành tín ngưỡng thờ Mẫu tam phủ của người Việt đã được UNESCO ghi danh. Đây là vinh dự và cũng là niềm tự hào của Việt Nam khi giới thiệu văn hóa truyền thống đến với thế giới. Luận văn: Quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể tại phú thọ.

Trong kho tàng di sản văn hóa của Việt Nam, di sản văn hóa phi vật thể đóng một vai trò quan trọng, được coi như “linh hồn” của di sản văn hóa vật thể, nhưng năm 2000, GS. TS. Nguyễn Chí Bền, một chuyên gia về văn hóa đã cảnh báo là di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam đang ở tình trạng báo động đỏ. Tình trạng trên xẩy ra do nhiều nguyên nhân. Trong đó, nguyên nhân chính là do đất nước chúng ta đã phải trải qua chiến tranh trong một thời gian dài, kinh tế khó khăn và những giá trị văn hóa đã không được nhận thức đúng đắn. Thậm chí có những lãnh đạo và cán bộ địa phương vẫn còn chưa hiểu rõ di sản văn hóa phi vật thể là gì. Thêm vào đó, việc đầu tư cho di sản văn hóa phi vật thể không mang lại hiệu quả kinh tế rõ rệt cho nên việc bảo tồn đã bị coi nhẹ. Dù rằng việc bảo tồn di tích đã được Nhà nước Việt Nam đặt ra ngay sau ngày đầu thành lập nước (ngày 23/11/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 65/SL về việc bảo tồn cổ tích trên toàn cõi Việt Nam), nhưng phần linh hồn của văn hóa cộng đồng là di sản văn hóa phi vật thể thì lại chưa được quan tâm đúng cách.

Chỉ đến năm 2001,  một động thái có ý nghĩa rất lớn với di sản văn hóa phi vật thể, đó là Nhà nước triển khai chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa với các Dự án Sưu tầm và Bảo tồn những giá trị văn hoá phi vật thể tiêu biểu; xây dựng ngân hàng dữ liệu về văn hoá phi vật thể; sưu tầm, bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa phi vật thể của các dân tộc. Bước đầu, chương trình đã mang lại một số kết quả nhất định. Tuy nhiên, Việt Nam là đất nước có lịch sử lâu đời nên mỗi vùng đất đều chất chứa rất nhiều di sản văn hóa phi vật thể, mà công việc kiểm kê, xây dựng ngân hàng dữ liệu khó có thể hoàn tất trong một thời gian ngắn. Đó là còn chưa kể đến một số lượng lớn các di sản văn hóa phi vật thể đã bị mai một, thất truyền do các nghệ nhân đã qua đời. Ngoài ra, những bất cập về nhận thức trong công tác quản lý nhà nước dẫn đến tác động làm sai lệch giá trị di sản. Nguồn nhân lực cho quản lý di sản tại các địa phương rất thiếu, năng lực hạn chế, chưa có điều kiện đào tạo và tập huấn chuyên sâu, trong khi nguồn tài chính hỗ trợ cộng đồng phục hồi, bảo tồn và phát huy di sản rất ít, không thường xuyên.

Phú Thọ – đất tổ Hùng Vương, đất phát tích của dân tộc Việt Nam chỉ trong bốn năm đã có ba di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO vinh danh, bao gồm: hát Ca trù của người Việt (năm 2009, Phú Thọ là 1 trong 14 tỉnh được ghi danh), hát Xoan (năm 2011) và Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương (năm 2012). Luận văn: Quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể tại phú thọ.

Nhiều năm qua, tỉnh Phú Thọ đã triển khai đồng bộ công tác bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa vùng đất Tổ thông qua công tác nghiên cứu, sưu tầm, hệ thống hóa các tư liệu. Trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp bảo tồn, khai thác các giá trị phù hợp và đạt hiệu quả thiết thực, phục vụ công tác giáo dục truyền thống, quảng bá phát triển du lịch và góp phần gìn giữ bản sắc văn hóa dân tộc, đưa di sản văn hóa phi vật thể trở thành sản phẩm du lịch của vùng đất Tổ. Phú Thọ cũng đã triển khai nhiều chương trình, dự án, đề tài khoa học về di sản văn hóa phi vật thể, đặc biệt là các đề tài, dự án liên quan đến hát Ca trù, hát Xoan và Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương. với tính thực tiễn hiệu quả cao. Công tác quản lý nhà nước đối với các di sản văn hóa phi vật thể cũng được lãnh đạo tỉnh, các ngành, các cấp quan tâm bằng những chủ trương, chính sách được đưa ra kịp thời để bảo vệ và phát huy các giá trị bền vững, thu hút được sự tham gia tích cực của toàn xã hội và tranh thủ sự ủng hộ có hiệu quả của các Bộ, Ban, Ngành và cộng đồng quốc tế.

Tuy Phú Thọ đã có những thành công bước đầu trong việc bảo vệ và phát huy giá trị các di sản văn hóa phi vật thể sau khi được UNESCO công nhận, nhưng hiện nay công tác quản lý các di sản thế giới này vẫn còn tồn tại nhiều bất cập đòi hỏi các cấp, các ngành và tỉnh Phú Thọ phải tiếp tục tìm kiếm những hướng khắc phục hiệu quả hơn trong thời gian tới.

Do những điểm đặc biệt nêu trên, trên cơ sở kế thừa những kết quả nghiên cứu của các thế hệ đi trước đã công bố và sự hiểu biết khiêm tốn của cá nhân, tôi chọn vấn đề “Quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO công nhận trên địa bàn tỉnh Phú Thọ” cho luận văn thạc sĩ của mình.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Quản Lý Công

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn

Cho đến nay, đã có rất nhiều chuyên gia quan tâm khảo sát và nghiên cứu về di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn tỉnh Phú Thọ ngay cả trước và sau khi các di sản được UNESCO vinh danh. Các nhà khoa học đã nghiên cứu và công bố hàng trăm công trình, tiểu luận, bài báo, luận văn, luận án… liên quan đến các di sản văn hóa của Phú Thọ.

Đơn cử như công trình nghiên cứu của TS. Phạm Trọng Toàn “Hát Xoan Phú Thọ” (2006) đã nghiên cứu chi tiết về hát Xoan. Sách “Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương” của GS.TS. Nguyễn Chí Bền và PGS.TS. Bùi Quang Thanh; bài báo của nhà nghiên cứu Đinh Vũ “Ca trù trên đất tổ”; bài báo của TS. Lê Minh Lý – Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Phát huy giá trị di sản văn hóa (thuộc Hội Di sản Văn hóa Việt Nam) “Hát Xoan Phú Thọ – Âm vang dân tộc Việt” (2016)… Tuy nhiên, các nghiên cứu đó hầu như chỉ tập trung chủ yếu vào việc sưu tầm, đánh giá giá trị, nêu lên những điểm khác biệt và đề xuất các biện pháp bảo vệ, phát huy từng loại hình di sản văn hóa. Luận văn: Quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể tại phú thọ.

Ngoài các công trình viết về di sản văn hóa phi vật thể của tỉnh Phú Thọ đã được UNESCO vinh danh, thì còn có các nghiên cứu đề cập đến vấn đề quản lý nhà nước đối với di sản văn hóa, chẳng hạn như sách “Quản lý di sản văn hóa” của TS. Nguyễn Trường Tân và Ths. Nguyễn Thị Kim Loan đã nêu rõ quan điểm của tác giả về di sản văn hóa và quản lý nhà nước về di sản văn hóa dân tộc; “Vấn đề quản lý nhà nước trong lĩnh vực bảo tồn di sản văn hóa” của PGS. TS. Đặng Văn Bài (nguyên Cục trưởng Cục Di Sản văn hóa – Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) nhắc đến các vấn đề trong quản lý di sản văn hóa. Đặc biệt cuốn kỷ yếu Hội thảo khoa học quốc tế “10 năm thực hiện công ước bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể của UNESCO: Bài học kinh nghiệm và định hướng tương lai” đã có rất nhiều bài viết của các nhà nghiên cứu trong nước và thế giới đề cập đến công tác bảo tồn, phát huy giá trị của di sản văn hóa phi vật thể, những thành tựu đã đạt được sau khi thực hiện Công ước UNECSO 2003 về Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể ở Việt Nam.

Ngoài ra, cũng có rất nhiều học viên lựa chọn vấn đề quản lý các di sản cho luận văn thạc sĩ của mình, ví dụ như Ths. Lê Trường Giang – “Quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn tỉnh Phú Thọ” (năm 2013, chuyên ngành quản lý hành chính công) đã nghiên cứu công tác quản lý nhà nước về các loại hình di sản văn hóa phi vật thể mà tỉnh Phú Thọ đang có, tập trung khai thác, nhấn mạnh tầm quan trọng của các di sản văn hóa đặc biệt là di sản văn hóa phi vật thể trên toàn địa bàn tỉnh, đồng thời đưa ra một số giải pháp và kiến nghị nhằm tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với các di sản đó; Ths. Vũ Mạnh Hùng – “Quản lý nhà nước về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa phi vật thể trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh” (luận văn thạc sĩ quản lý hành chính công năm 2012) chủ yếu tập trung vào công tác quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể tiêu biểu nhất của tỉnh, đó là dân ca Quan họ Bắc Ninh; Ths. Triệu Thị Ngọc – “Tăng cường quản lý nhà nước về di sản văn hóa trên địa bàn thành phố Hà Nội” (năm 2011, chuyên ngành quản lý hành chính công), luận văn tập trung khảo sát nghiên cứu các đối tượng là di sản văn hóa và các vấn đề chủ yếu trên địa bàn Thủ đô Hà Nội; Ths. Hoàng Việt Hà – “Quản lý nhà nước về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa trên địa bàn huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam” (năm 2015, chuyên ngành quản lý công) đề cập đến các giá trị to lớn của các di sản văn hóa trên địa bàn huyện Thanh Liêm và cần tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước để bảo tồn và phát huy các di sản này.

Thực tế cho thấy, những công trình nghiên cứu chủ yếu đi sâu vào nghiên cứu về từng loại di sản văn hóa phi vật thể, hoặc quản lý di sản nói chung, hoặc quản lý nhà nước về các loại hình di sản văn hóa phi vật thể tại một địa phương cụ thể, chưa có một đề tài nào trực tiếp nghiên cứu vấn đề quản lý nhà nước về các di sản văn hóa phi vật thể mà đã được UNESCO công nhận. Tỉnh Phú Thọ còn là một trường hợp đặc biệt vì có đến ba di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO ghi danh, nơi mà chính quyền địa phương đã đưa ra rất nhiều phương thức quản lý để bảo tồn và phát huy các loại hình di sản văn hoá truyền thống đặc sắc này. Mô hình quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể sau khi được UNESCO công nhận của tỉnh Phú Thọ đã đạt được hiệu quả nhất định giúp khôi phục, gìn giữ và phát huy được các loại hình văn hóa truyền thống của địa phương – những di sản phi vật thể đang đứng trước nguy cơ bị mai một.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn Luận văn: Quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể tại phú thọ.

Mục đích nghiên cứu

Từ thực trạng các di sản văn hóa phi vật thể đã được ghi danh trên địa bàn tỉnh Phú Thọ, luận văn đề xuất các giải pháp phù hợp, mang tính ứng dụng khả thi, nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả quản lý nhà nước về các di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO công nhận.

Nhiệm vụ nghiên cứu

  • Hệ thống hóa các tài liệu và tư liệu để làm lý luận cơ bản và căn cứ cho quá trình nghiên cứu.
  • Nghiên cứu, khảo sát và hình thành nguồn tư liệu sơ cấp
  • Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về các di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO công nhận, xác định các vấn đề cần quan tâm giải quyết.
  • Xây dựng, đề xuất giải pháp để nâng cao vai trò và tính hiệu quả trong quản lý nhà nước về các di sản đã được UNESCO công nhận trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn

Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO công nhận trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.

Phạm vi nghiên cứu Luận văn: Quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể tại phú thọ.

Về không gian: luận văn nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận ở thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ – nơi là cái nôi của các di sản văn hóa phi vật thể bao gồm Ca trù (Câu lạc bộ Ca trù Việt Trì); hát Xoan (bốn phường Xoan cổ nằm ở làng Kim Đái (Kim Đới), Phù Đức, Thét của xã Kim Đức và làng An Thái xã Phượng Lâu); Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương (Khu di tích tịch sử quốc gia Đền Hùng).

Về thời gian: Luận văn chủ yếu tập trung phân tích, đánh giá thực trạng của việc quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO công nhận trên địa bàn tỉnh Phú Thọ trong giai đoạn từ năm 2010 – 2016 (sau khi các di sản được UNESCO công nhận).

  • Về nội dung: luận văn tập trung vào các nội dung quản lý nhà nước sau:
  • Xây dựng và tổ chức thực thi chính sách quản lý các di sản văn hóa phi vật thể sau khi được UNESCO công nhận ở cấp tỉnh.
  • Tổ chức bộ máy quản lý các di sản văn hóa phi vật thể sau khi được UNESCO công nhận ở cấp tỉnh.
  • Nâng cao công tác tuyên truyền, giáo dục để bảo vệ và phát huy di sản văn hóa phi vật thể sau khi được UNESCO công nhận ở tỉnh Phú Thọ.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Phương pháp luận

Luận văn sử dụng phương pháp luận khoa học (chủ nghĩa duy vật biện chứng, khoa học quản lý…)

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp phỏng vấn cá nhân (phỏng vấn định tính): phỏng vấn sâu với các cá nhân và thảo luận nhóm đối với các đối tượng nhất định như cán bộ quản lý văn hóa tại địa phương, nhóm nghệ nhân, câu lạc bộ, người dân, nhà nghiên cứu… thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ, trực tiếp quan sát và tham gia vào các hoạt động bảo vệ, khai thác di sản văn hóa phi vật thể ở địa phương (như các lớp truyền dạy, câu lạc bộ, trường học…)

Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu thứ cấp. Luận văn: Quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể tại phú thọ.

Phương pháp điều tra xã hội học: đối tượng của điều tra xã hội học trong phạm vi luận văn này là quản lý nhà nước về các di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO công nhận trên địa bàn tỉnh Phú Thọ. Phiếu bao gồm những câu hỏi về nội dung quản lý nhà nước đối với các di sản văn hóa phi vật thể của Phú Thọ sau khi được vinh danh. Thông qua phiếu   thu thập thông tin về di sản trên địa bàn tỉnh và việc quản lý các di sản đó sau khi được công nhận nhằm làm sáng tỏ nội dung nghiên cứu của luận văn. Chúng tôi đã tiến hành điều tra khảo sát tại các cấp quản lý di sản như: Cục Di sản văn hóa (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch); Vụ Văn hóa đối ngoại và UNESCO (Bộ Ngoại giao); UBND tỉnh Phú Thọ; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Phú Thọ; Bảo tàng Hùng Vương (Việt Trì, Phú Thọ); Ban quản lý Khu di tích lịch sử quốc gia Đền Hùng; cán bộ quản lý văn hóa của hai xã Kim Đức và Phượng Lâu (nơi có các làng Xoan cổ), Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam (nơi làm hồ sơ Ca trù của người Việt và hát Xoan Phú Thọ),

Viện Văn hóa Nghệ thuật quốc gia Việt Nam (nơi làm hồ sơ Tín ngưỡng thờ cúng Hùng Vương), một số nghệ nhân dân gian và người dân ở Phú Thọ với 100 phiếu điều tra và tiến hành xử lý dữ liệu trên phần mềm Epidata.

Phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh để xử lý tư liệu thu thập được từ thực tiễn và các bản ghi chép của các cá nhân tại địa phương nhằm làm sáng tỏ nội dung cần nghiên cứu.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn Luận văn: Quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể tại phú thọ.

Ý nghĩa lý luận

Luận văn hệ thống một số cơ sở khoa học quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO công nhận và thực trạng hoạt động quản lý nhà nước về các di sản này. Qua đó, bước đầu phác họa một mô hình quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể sau khi được công nhận.

Ý nghĩa thực tiễn

Luận văn khái quát thực trạng quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO công nhận trên địa bàn tỉnh Phú Thọ. Bước đầu giúp làm tiền đề tham khảo cho việc vận dụng và đề ra các giải pháp phù hợp, sát thực tiễn, chấn chỉnh, đẩy mạnh công tác quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể sau khi được UNESCO công nhận, góp phần bảo tồn, khai thác và phát huy các di sản văn hoá phi vật thể theo hướng bền vững.

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài các phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn được chia làm ba chương:

  • Chương 1: Cơ sở khoa học quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO công nhận
  • Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO công nhận trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
  • Chương 3: Quan điểm, phương hướng và giải pháp quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể đã được UNESCO công nhận trên địa bàn tỉnh Phú Thọ

Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ ĐÃ ĐƯỢC UNESCO CÔNG NHẬN

1.1. NHỮNG KHÁI NIỆM VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN LIÊN QUAN ĐẾN DI SẢN VĂN HÓA PHI VẬT THỂ ĐƯỢC UNESCO CÔNG NHẬN Luận văn: Quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể tại phú thọ.

1.1.1. Di sản văn hóa

1.1.1.1. Khái niệm di sản văn hóa

Văn hóa là một phạm trù rất rộng và có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau khi định nghĩa về nó. Cũng có rất nhiều cuộc tranh luận giữa các nhà nghiên cứu văn hóa ở trong nước và trên thế giới mà nguyên nhân chính là do tính phức tạp, đa nghĩa trong bản thân khái niệm “văn hóa”. Nhìn chung, hiện nay người ta sử dụng khái niệm “văn hóa” nhằm để chỉ văn học, nghệ thuật như: thơ ca, mỹ thuật, sân khấu, điện ảnh… Một cách hiểu thông thường khác thì văn hóa là cách sống bao gồm phong cách ẩm thực, trang phục, cư xử, đức tin, tri thức… Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Việt Nam cũng đã định nghĩa: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về mặc, ăn, ở và phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó là văn hóa.” [25]

“Nói một cách đơn giản, văn hóa là tất cả những gì không phải thiên nhiên, nghĩa là tất cả những gì do con người, ở trong con người và liên quan trực tiếp nhất đến con người”. [15, tr.9] hay “Nói tới văn hóa là nói tới con người; có con người, có xã hội loài người thì mới có văn hóa. Vì vậy, dù quan niệm về văn hóa xưa, nay còn khác nhau, nhưng vẫn có điểm chung: đó là con người” [27, tr.18-19]. Văn hóa có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống xã hội của người dân và mỗi quốc gia. Nó chính là năng lực sáng tạo, trí tuệ, tài năng, đạo đức của con người; trụ cột phát triển bền vững của mỗi dân tộc và toàn nhân loại.

Lịch sử của Việt Nam đã chứng minh rằng, nhờ có nền tảng văn hóa, hội nhập và phát triển mà nhân dân ta đã phát huy được sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, sức sáng tạo to lớn để chiến thắng “thiên tai, địch họa”, giữ vững nền độc lập và bản sắc văn hóa trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước hào hùng của dân tộc. Ngày nay, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, thì vai trò của văn hóa càng được khẳng định, nhất là trong việc điều tiết, cân bằng sự phát triển của đất nước, không để sự phát triển nóng dẫn tới những hệ lụy khó lường cho nền kinh tế, văn hóa và xã hội.

Bất cứ dân tộc nào cũng có các di sản mang đặc trưng của dân tộc đó. Chính điều này thể hiện bản sắc riêng của từng dân tộc và cũng để thể hiện sự khác biệt đối với thế giới. Việt Nam là một nước nghìn năm văn hiến với năm mươi tư dân tộc nên chúng ta có một kho tàng đồ sộ các di sản văn hóa. Luận văn: Quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể tại phú thọ.

Tính chất lưu truyền đã biến văn hóa của thế hệ trước trở thành di sản văn hóa của thế hệ sau. Vì vậy, di sản văn hóa chính là hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần do một cộng đồng người sáng tạo và tích lũy trong một quá trình lịch sử lâu dài và được lưu truyền từ thế hệ trước cho thế hệ sau”. [23, tr.3]

Trong điều 1, Luật Di sản văn hóa của Việt Nam nêu rõ định nghĩa về di sản văn hóa như sau: “Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. [29]

 Tại Kỳ họp lần thứ 17 diễn ra tại Thủ đô Paris (Cộng hòa Pháp), Đại hội đồng Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) đã thông qua Công ước về Bảo vệ Di sản văn hóa và Thiên nhiên thế giới (Công ước Di sản Thế giới 1972). Để đáp ứng mục đích của Công ước này, những loại hình sau đây sẽ được coi là “di sản văn hoá”:

  • Di tích kiến trúc (monuments): các công trình kiến trúc, các công trình điêu khắc và hội hoạ kiến trúc, các bộ phận hoặc kết cấu có tính chất khảo cổ học, các bi ký, các hang động cư trú và những bộ phận kết hợp, mà xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật hoặc khoa học là có giá trị nổi tiếng toàn cầu;
  • Nhóm công trình xây dựng (groups of buildings): các nhóm công trình riêng lẻ hoặc liên kết mà do tính chất kiến trúc, tính chất đồng nhất hoặc vị thế của chúng trong cảnh quan, xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật hoặc khoa học là có giá trị nổi tiếng toàn cầu;
  • Các di chỉ (sites): các công trình của con người hoặc công trình kết hợp giữa con người và thiên nhiên, cũng như các khu vực có các di chỉ khảo cổ học mà xét theo quan điểm lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân học là có giá trị nổi tiếng toàn cầu. [33]

Theo cách tiếp cận giá trị văn hóa này, di sản văn hóa bao gồm hầu hết các giá trị văn hóa do thiên nhiên và con người tạo nên. Đó là phần tinh túy, mang tính chất đặc trưng của từng vùng miền và đặc biệt là được lưu giữ, trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. Luận văn: Quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể tại phú thọ.

Di sản văn hóa là những giá trị bền vững vì nó được sáng tạo, bảo vệ và lưu truyền ở trong chính cộng đồng, trải qua một thời gian dài nên cũng mang những dấu ấn đổi thay của lịch sử. Đó chính là tính chất đặc thù của di sản văn hóa khi phân biệt với khái niệm văn hóa. Do vậy, di sản văn hóa cũng chính là một phần chủ đạo của văn hóa. Trong dòng chảy của lịch sử, có rất.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Năng lực công chức quản lý cấp phòng tại Ủy ban

One thought on “Luận văn: Quản lý nhà nước về di sản văn hóa phi vật thể tại phú thọ

  1. Pingback: Luận văn: Quản lý nhà nước về phát triển nguồn nhân lực

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *