Luận văn: Quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại các trường tiểu học Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, vấn đề này đã và đang được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta hết sức quan tâm. Để đẩy mạnh thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì việc đầu tư cho giáo dục và đào tạo nhân lực có chất lượng cao luôn là vấn đề được đặt lên hàng đầu.

Nghị quyết Đại hội XI của Đảng tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của giáo dục và đào tạo đồng thời xác định định hướng nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo. Đặc biệt, Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 4 tháng 11 năm 2013, của Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đã xác định rõ các quan điểm, mục tiêu phát triển giáo dục và đào tạo trong thời gian tới; các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo; định hướng các mục tiêu, đối tượng cần ưu tiên đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước và đổi mới chính sách, cơ chế tài chính để huy động sự tham gia đóng góp của xã hội vào phát triển giáo dục và đào tạo, góp phần hoàn thành mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Luận văn: Quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học.

Điều 12 của Luật Giáo dục năm 2005 có quy định: “Phát triển giáo dục, xây dựng xã hội học tập là sự nghiệp của nhà nước và toàn dân. Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong quá trình phát triển sự nghiệp giáo dục; thực hiện đa dạng hóa các loại hình trường và các hình thức giáo dục; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để các tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp Giáo dục.

Để tạo hành lang pháp lý cho các nguồn lực của xã hội đầu tư nhiều hơn vào giáo dục, đào tạo và tạo thuận lợi cho các cơ sở giáo dục được hưởng chính sách ưu đãi xã hội, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 69/2008/NĐ-CP về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường; Nghị định số 59/2014/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 69/2008/NĐ-CP cho phù hợp với tình hình thực tiễn. Trong đó, nhà đầu tư thực hiện xã hội hóa được hưởng nhiều chính sách ưu đãi, như được nhà nước giao đất, cho thuê đất đã hoàn thành giải phóng mặt bằng; được hỗ trợ kinh phí bồi thường, giải phóng mặt bằng đối với các dự án đầu tư đã tự thực hiện công tác đền bù, giải phóng mặt bằng; được hưởng mức ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp; được tham gia cung cấp các dịch vụ công do nhà nước tài trợ, đặt hàng; tham gia đấu thầu nhận các hợp đồng, dự án sử dụng nguồn vốn trong và ngoài nước phù hợp với chức năng, nhiệm vụ hoạt động theo quy định của pháp luật; được đối xử bình đẳng đối với các sản phẩm và dịch vụ của cơ sở thực hiện xã hội hóa,… Để phát triển giáo dục mầm non khu công nghiệp, khu chế xuất, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 404/QĐ-TTg, ngày 20-3-2014, về phê duyệt Đề án hỗ trợ phát triển nhóm trẻ độc lập tư thục khu vực khu công nghiệp, khu chế xuất đến năm 2020 và gần đây nhất Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Thông tư 16/2018/TT-BGDĐT ngày 03 tháng 8 năm 2018 Quy định về tài trợ cho các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân.

Với những định hướng khuyến khích Xã hội hóa giáo dục nêu trên, giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học ngoài công lập trong những năm qua đã đạt được những kết quả nhất định, góp phần nâng tỷ lệ huy động trẻ, học sinh trong độ tuổi ra lớp, phổ cập giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực, phát triển loại hình trường, lớp, chương trình chất lượng cao đáp ứng nhu cầu học tập của người dân, giảm gánh nặng cho ngân sách.

Tuy nhiên, thực tế hiện nay, nhiều người nhận thức chưa đúng, thậm chí còn hiểu sai về khái niệm và bản chất của Xã hội hóa giáo dục, họ cho rằng Xã hội hóa giáo dục chỉ là đóng góp các loại tiền cho giáo dục, chỉ là sự huy động vật lực mà thôi. Ở một số địa phương, cấp ủy đảng, chính quyền và các tổ chức đoàn thể chưa hiểu được ý nghĩa to lớn và vai trò vô cùng quan trọng của hoạt động Xã hội hóa giáo dục, còn coi đó là trách nhiệm của nhà trường.

Chính vì vậy nên trong thời gian qua, chúng ta chưa thu hút được nhiều sự đầu tư của các nguồn lực xã hội cho giáo dục mà chủ yếu trông chờ vào ngân sách, sự chỉ đạo của nhà nước. Đây là một lý do cơ bản làm cho cơ sở vật chất của giáo dục xuống cấp và lạc hậu, động lực của người dạy và người học giảm sút, sự phát triển của giáo dục không đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Luận văn: Quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học.

Đối với các trường tiểu học, Xã hội hóa giáo dục vừa là chủ trương, vừa là giải pháp để các trường tham mưu với địa phương trong việc huy động mọi nguồn lực phục vụ cho các hoạt động giảng dạy, tạo điều kiện cho nhà trường ngày càng phát triển và đi lên.

Hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại các trường tiểu học Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh trong những năm qua đã có nhiều chuyển biến tích cực và đạt được một số thành tựu nhất định. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập. Việc huy động các nguồn lực tham gia Xã hội hóa giáo dục ở mỗi trường, mỗi địa phương chưa thật sự đồng bộ; công tác tổng kết, đánh giá có những mặt phản ánh chưa đầy đủ, cụ thể và thường xuyên dẫn đến kết quả chưa cao. Điều đó, xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Đến nay chưa có một công trình nghiên cứu khoa học nào thật đầy đủ, hoàn chỉnh về lý luận và thực tiễn về hoạt động Xã hội hóa giáo dục phù hợp với đặc điểm tình hình kinh tế, xã hội trên địa bàn Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt là hoạt động quản lý Xã hội hóa giáo dục của hiệu trưởng các trường tiểu học.

Thực tế, ở các trường tiểu học việc quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục của nhà trường còn nhiều bất cập. Chính vì vậy, việc tổ chức quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục của nhà trường cần phải có những biện pháp quản lý khoa học mới góp phần thực hiện hiệu quả hơn hoạt động xã hội hóa giáo dục ở các trường tiểu học tại địa bàn nghiên cứu.

Xuất phát từ những cơ sở trên tôi chọn đề tài: Quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại các trường tiểu học Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh” là cần thiết để làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành quản lý giáo dục.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Giá Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Quản Lý Giáo Dục

2. Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và khảo sát, đánh giá thực trạng về hoạt động Xã hội hóa giáo dục và quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại trường tiểu học.Từ đó đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại các trường tiểu học, góp phần nâng cao chất lượng quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại trường tiểu học Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

3. Nhiệm vụ nghiên cứu

  • 3.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận về hoạt động quản lý Xã hội hóa giáo dục của hiệu trưởng trường tiểu học.
  • 3.2. Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động Xã hội hóa giáo dục và quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại các trường tiểu học Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn: Quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học.
  • 3.3. Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại các trường tiểu học Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

4. Giả thuyết khoa học

XHHGD là một trong những chủ trương đúng đắn nhằm tạo cơ hội cho các thành phần kinh kế tham gia đóng góp vào lĩnh vực giáo dục, đồng thời giảm một phần gánh nặng cho ngân sách nhà nước. Chính vì vậy, quản lý hoạt động này có vai trò rất quan trọng. Nếu xây dựng được các biện pháp quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục phù hợp sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại các trường tiểu học Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh

5. Khách thể – Đối tượng nghiên cứu – Phạm vi nghiên cứu

5.1. Khách thể nghiên cứu

Hoạt động quản lý Xã hội hóa giáo dục của Hiệu trưởng các trường tiểu học.

5.2. Đối tượng nghiên cứu

Hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại các trường tiểu học Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

5.3. Phạm vi nghiên cứu

5.3.1. Về đối tượng nghiên cứu

Quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại các trường tiểu học Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

5.3.2. Về khách thể khảo sát

Cán bộ quản lý; Các tổ trưởng chuyên môn; giáo viên; Cha Mẹ học sinh trường tiểu học: Nguyễn Thái Sơn, Phan Đình Phùng; Nguyễn Sơn Hà; Trần Quang Diệu,Trần Quốc Thảo Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

5.3.3. Thời gian khảo sát: Năm học 2018-2019.

6. Phương pháp nghiên cứu

6.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

Mục đích: Sử dụng các phương pháp: Phân tích- tổng hợp, phân loại tài liệu, hệ thống hóa, khái quát hóa các tài liệu có liên quan để phân tích và làm rõ lý luận về hoạt động quản lý của hiệu trưởng trong việc Xã hội hóa giáo dục tại các trường tiểu học.

Nội dung: Trên cơ sở đó xác định các khái niệm công cụ và xây dựng khung lý thuyết cho đề tài.

Đối tượng: Hồ sơ quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục của 05 trường tiểu học Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

6.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi Luận văn: Quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học.

Mục đích: Thu thập các thông tin, số liệu về thực trạng quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại các trường tiểu học.

Nội dung: Thực trạng tổ chức, chỉ đạo thực hiện và kiểm tra đánh giá quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại các trường tiểu học.

Đối tượng: Giáo viên,Cha Mẹ học sinh tại các trường tiểu học.

6.3. Phương pháp thống kê toán học

Mục đích: Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý các số liệu, kết quả nghiên cứu thu thập được trong quá trình nghiên cứu.

Nội dung: Sử dụng phần mềm SPSS để xử lý.

Đối tượng: Các thông tin thu thập được từ các phương pháp điều tra sau khi mã hóa.

7. Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn dự kiến gồm có 03 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại các trường tiểu học Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Chương 2: Thực trạng về quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại các trường tiểu học Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.
  • Chương 3: Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại các trường tiểu học Quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh.

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG XÃ HỘI HÓA GIÁO DỤC TẠI CÁC TRƯỜNG TIỂU HỌC QUẬN 3, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề

1.1.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Luận văn: Quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học.

XHHGD không phải là vấn đề hoàn toàn mới. Đó là bước phát triển của một chủ trương giáo dục được thực thi qua nhiều năm. Ở nước ngoài, hoạt động Xã hội hóa giáo dục đã được quan tâm và nghiên cứu từ rất sớm. Các nước Trung Quốc, Ấn Độ, Singgapo đến Pháp, Nga, Đức…đều khẳng định Xã hội hóa giáo dục (là vấn đề vô cùng quan trọng). Trong quá trình toàn cầu hóa ngày nay, nhiều quốc gia phương Tây càng chú trọng phát triển giáo dục, coi đấy như một nhiệm vụ quan trọng của nhà nước trong việc giữ gìn bản sắc dân tộc. Họ ý thức rất rõ rằng trong thế giới ngày càng trở nên “phẳng” và mọi thứ đều giống nhau, một dân tộc muốn “nhận diện” được so với các dân tộc khác chỉ có thể dựa vào bản sắc dân tộc và nếu bản sắc dân tộc không còn thì điều đó đồng nghĩa với thảm họa dân tộc ấy sẽ bị xóa sổ, hòa tan.

Tại Cộng Hoà Liên Bang Đức học sinh, sinh viên ở đây từ cấp phổ thông đến đại học đều được hưởng chế độ miễn học phí. Ngoài ra, riêng những học sinh, sinh viên nghèo (không đủ điều kiện vật chất sống tối thiểu) còn được nhà nước trợ cấp, “bù” thêm tài chính để họ có thể an tâm sống và học tập. Ngoài hệ thống trường công lập, tại Đức có tới 2.500 trường tư. Trong số ấy, theo quy định của pháp luật, bất kỳ trường tư nào được nhà nước công nhận văn bằng có giá trị tương đương trường công thì nhà nước có nghĩa vụ cung cấp toàn bộ tài chính cho hoạt động của trường đó. Điều này cho thấy giáo dục trong mọi trường hợp là nhiệm vụ không thể tách rời của nhà nước, kể cả khi giáo dục được xã hội hóa và cho tư nhân tham gia. Ở Đức, trong hội đồng xét chọn chương trình của trường cũng như ở cấp thành phố, ngoài thành phần thầy cô, bắt buộc phải có đại diện học sinh tham gia. Ngoài ra, mỗi trường đều có một hội đồng riêng của học sinh, sinh viên (để đánh giá, góp ý cho nhà trường về chương trình, phương pháp giảng dạy…) và vì nó giúp cho nhà nước thực hiện tốt hơn nhiệm vụ của mình nên hoạt động của hội đồng này cũng nằm trong số đối tượng mà nhà nước có nghĩa vụ hỗ trợ, đặc biệt là về mặt tài chính (Nguyễn Vân Nam, 2009).

1.2.2. Các nghiên cứu trong nước

Từ Đại hội Đảng cộng sản Việt Nam lần thứ VI (1986) đất nước chuyển sang thời kỳ mới, trong đó có giáo dục cũng đã bước vào một giai đoạn phát triển thuận lợi. Đường lối đổi mới đã mở đầu cho sự phát triển mới trong tư duy giáo dục. Giáo dục đứng trước thử thách buộc phải phát triển với một trình độ mới để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội. Bài học lịch sử của sự phát triển giáo dục được khơi dậy và nâng cao trên tầm tư duy mới. Đến Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII về tiếp tục đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo đã đặt dấu mốc quan trọng trong lịch sử xây dựng và phát triển nển giáo dục Việt Nam. Đây là lần đầu tiên Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương Đảng thảo luận và ra Nghị quyết về sự nghiệp giáo dục và đào tạo. Cũng từ sau Đại hội lần thứ VII, trên các văn kiện của Đảng và Nhà nước, các tài liệu khoa học giáo dục, trên sách báo chúng ta thường gặp thuật ngữ “xã hội hóa” đối với các lĩnh vực hoạt động như chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, dân số – kế hoạch hóa gia đình, thể dục thể thao, giáo dục và đào tạo v.v….

Cũng trong thời kỳ đổi mới này, nhiều nhà khoa học, nhà quản lý giáo dục đã bàn luận nhiều về Xã hội hóa giáo dục. Đặc biệt, tác giả Phạm Minh Hạc đã viết nhiều tài liệu về Xã hội hóa giáo dục, nhiều bài phát biểu chỉ đạo phong trào Xã hội hóa giáo dục. Trong cuốn “Xã hội hóa công tác giáo dục” xuất bản năm 1997 do ông làm tổng chủ biên, đã khẳng định: “Xã hội hóa công tác giáo dục là một tư tưởng chiến lược, một bộ phận của đường lối giáo dục, một con đường phát triển giáo dục nước ta” (Phạm Minh Hạc, 1997). Luận văn: Quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học.

Trong cuốn “Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa của thế kỷ XXI”, tác giả Phạm Minh Hạc một lần nữa khẳng định: “Sự nghiệp giáo dục không phải chỉ là của Nhà nước, mà là của toàn xã hội: mọi người cùng làm giáo dục, Nhà nước và xã hội, trung ương và địa phương cùng làm giáo dục, tạo nên một cao trào học tập trong toàn dân (Phạm Minh Hạc, 1999).

Tác giả Phạm Tất Dong trong cuốn “Xã hội hóa công tác giáo dục” đã làm rõ nội hàm khái niệm xã hội hóa công tác giáo dục và coi xã hội hóa là một khái niệm đã vận động trong thực tiễn đấu tranh cách mạng ở Việt Nam, qua mỗi giai đoạn, khái niệm đó lại được phát triển thêm, nội hàm phong phú hơn.

Trong lời giới thiệu cuốn sách “Những nhân tố mới về giáo dục trong công cuộc đổi mới” Phạm Tất Dong đã nhấn mạnh “phát triển giáo dục theo tinh thần xã hội hóa”. Ông đề cao việc huy động toàn dân vào sự nghiệp cách mạng, coi đó là một tư tưởng chiến lược của Đảng, “tư tưởng đó được tổng kết lại không chỉ là một bài học kinh nghiệm tầm cỡ lịch sử, mà trở thành một nguyên lý của cách mạng Việt Nam. Tư tưởng “xã hội hóa” giáo dục được thừa nhận như là một nhân tố mới trong sự nghiệp giáo dục hiện nay. Hơn thế “với tư cách là nhân tố mới của sự phát triển giáo dục, tư tưởng “xã hội hóa” công tác giáo dục lại tạo ra những điều kiện để xuất hiện những nhân tố mới khác trong quá trình vận động đi lên của các phong trào giáo dục. Những điều kiện đó chính là những kinh nghiệm rút ra từ thực tế sinh động của giáo dục, trên cơ sở đó tư duy giáo dục trở nên sâu sắc, nhờ đó, nhiều bài toán giáo dục – đào tạo đã được giải một cách hợp lý (Tập thể tác giả, 1996).

Viện khoa học giáo dục đã triển khai khá nhiều năm một hệ thống đề tài về Xã hội hóa giáo dục, tổng kết kinh nghiệm, phát triển lý luận, đề xuất cơ chế Xã hội hóa giáo dục. Năm 1999 cuốn sách “Xã hội hóa công tác giáo dục – Nhận thức và hành động” của Viện khoa học giáo dục do tập thể tác giả Bùi Gia Thịnh, Võ Tấn Quang, Nguyễn Thanh Bình, là một bước hoàn thiện về nhận thức lý luận và hướng dẫn thực tiễn. Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đã có “Đề án Xã hội hóa giáo dục và đào tạo”, đánh giá thực trạng và đưa ra những giải pháp Xã hội hóa giáo dục ở tầm vĩ mô, nhằm tạo ra những chuyến biến cơ bản trong giáo dục – đào tạo, chuẩn bị tốt nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong hai chục năm đầu của thế kỷ XXI (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 1998).

Nhân kỷ niệm 40 năm thành lập Viện Khoa học giáo dục năm 2001, từ góc độ giáo dục, cuốn sách “XHHGD” do Võ Tấn Quang chủ biên cùng tập thể các tác giả Trần Kiểm, Nguyễn Thanh Bình, Lê Đức Phúc, Thái Duy Tuyên, Nguyễn Văn Đản, Đào Huy Ngận đã khẳng định: Xã hội hóa công tác giáo dục- một phương thức thực sự giáo dục nhằm xã hội hóa cá nhân. Lần đầu tiên cuốn sách với ý nghĩa một chuyên khảo đã đề cập đến đặc trưng của Xã hội hóa giáo dục ở các cấp học, bậc học và ở địa bàn nông thôn, vấn đề quản lý Nhà nước trong việc thực hiện Xã hội hóa giáo dục để có sự định hướng đúng đắn hoạt động Xã hội hóa giáo dục ở các nhà trường và địa phương. Luận văn: Quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học.

Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011-2020 coi việc phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu để đạt được mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Nhà nước tăng đầu tư, đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa, huy động toàn xã hội chăm lo phát triển giáo dục (Đảng Cộng Sản Việt Nam, 2011).

Chiến lược phát triển giáo dục 2011-2020 đưa ra quan điểm chỉ đạo phát triển GD là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của đảng, Nhà nước và của toàn dân. ðồng thời cũng quy định trách nhiệm tham gia, đóng góp nguồn lực của các ngành, các tổ chức chính trị – xã hội, cộng đồng và gia đình tạo cơ hội học tập suốt đời cho mọi người, góp phần từng bước xây dựng xã học tập (Thủ tướng Chính phủ, 2012).

Luật Giáo dục sửa đổi năm 2009 tại điều 13 quy định “đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển” và “Nhà nước ưu tiên đầu tư cho giáo dục; khuyến khích và bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài đầu tư cho giáo dục”. (Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2010).

Bên cạnh đó là các công trình nghiên cứu về sự tham gia của CMHS, cộng đồng của các tác giả khác đã tổng hợp những quan điểm lý luận và thực tiễn về vai trò và nhiệm vụ của gia đình, sự phối hợp của Nhà trường – Gia đình – Xã hội trong sự nghiệp GD học sinh:

Trong cuốn “Giáo dục Việt Nam trước ngưỡng cửa của thế kỉ XXI” tác giả Phạm Minh Hạc khẳng định sự nghiệp GD của Việt Nam không phải chỉ do Nhà nước gánh vác, mà phải có sự chung sức của các LLXH cùng tham gia vào sự nghiệp GD nước nhà, tạo nên một xã hội học tập (Phạm Minh Hạc, 2009).

Võ Tấn Quang, trong cuốn sách “Những nhân tố mới về giáo dục trong công cuộc đổi mới” đã nhấn mạnh tầm quan trọng của quần chúng trong công tác GD, theo tác giả: Xã hội hóa trong công tác GD là phải phát động phong trào quần chúng làm GD, huy động toàn xã hội tham gia sự nghiệp GD&ðT, hình thành và phát triển nhân cách thế hệ trẻ (Võ Tấn Quang, 2001).

Nguyễn Minh Phương “Đẩy mạnh Xã hội hóa giáo dục, y tế ở Việt Nam” đưa ra một số vấn đề lý luận về Xã hội hóa giáo dục, cùng kinh nghiệm của một số nước trong việc huy động các nguồn lực xã hội, đồng thời cũng đưa ra các quy định hiện hành về Xã hội hóa giáo dục ở nước ta; thực trạng Xã hội hóa giáo dục và những vấn đề đặt ra cùng các quan điểm, giải pháp đẩy mạnh Xã hội hóa giáo dục (Nguyễn Minh Phương, 2012).

Những nghiên cứu trên đây đã cung cấp cho tác giả cái nhìn tổng quan về công tác Xã hội hóa giáo dục. Mỗi đề tài có các tiếp cận riêng tùy vào tình hình và đặc điểm kinh tế xã hội của mỗi địa phương. Đây là cơ sở để người nghiên cứu tham khảo và kế thừa những giá trị đã được khẳng định, nhằm làm sáng tỏ những vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của luận văn.

1.2. Các khái niệm cơ bản Luận văn: Quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học.

1.2.1. Quản lý

Có nhiều quan điểm tiếp cận quản lý (QL) như: quan điểm tiếp cận lịch sử, tiếp cận phân tích tổng hợp, tiếp cận mục tiêu, tiếp cận hệ thống…

  • Tác giả Nguyễn Ngọc Quang khẳng định: QL là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể QL đến đối tượng QL nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến động của môi trường (Nguyễn Ngọc Quang, 2001).
  • Xét QL với tư cách là một hành động, tác giả Vũ Ngọc Hải cho rằng: QL là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể QL tới đối tượng QL nhằm đạt mục tiêu đề ra (Vũ Ngọc Hải – Trần Khánh Đức, 2003).
  • W.Taylor cho rằng: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần phải làm và làm cái đó như thế nào, bằng phương pháp tốt nhất, rẻ nhất”. (Nguyễn Thị Doan (Chủ biên), 1996).

Tác giả Trần Kiểm quan niệm: “Quản lý nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội”. (Trần Kiểm, 1990).

Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: “Công tác QL lãnh đạo một tổ chức xét cho cùng là việc thực hiện hai quá trình liên hệ chặc chẽ với nhau: Quản và Lý. Quá trình “Quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì hệ thống ở trạng thái ổn định; quá trình “Lý” gồm những việc sửa sang, sắp xếp, đổi mới đưa vào hệ phát triển”. (Đặng Quốc Bảo, 1998).

Tóm lại, có thể hiểu: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt mục tiêu định ra trong điều kiện biến động của môi trường, làm cho tổ chức vận hành (hoạt động) có hiệu quả.

Như vậy, QL không chỉ là một khoa học mà còn là một nghệ thuật trong đó hoạt động QL vừa có tính chất khách quan, vừa mang tính chủ quan, vừa có tính pháp luật Nhà nước, vừa có tính xã hội rộng rãi… chúng là những mặt đối lập trong một thể thống nhất.

1.2.2. Quản lý giáo dục Luận văn: Quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học.

Theo P.V.Khuđôminxky: Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và có mục đích của các chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống (Bộ Giáo dục & Đào tạo đến nhà trường) nhằm mục đích đảm bảo việc giáo dục Cộng sản chủ nghĩa cho thế hệ trẻ, bảo đảm sự phát triển toàn diện, hài hoà của họ” (Nguyễn Thị Doan (Chủ biên), 1996).

Theo M.I.Kondakop: Quản lý giáo dục là tập hợp những biện pháp tổ chức, phương pháp, kế hoạch hóa, tài chính, cung tiêu… nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, bảo đảm sự tiếp tục phát triển và mở rộng cả về mặt số lượng cũng như chất lượng” (M.I.Kondakop, 1984).

Theo tác giả Trần Kiểm, ở cấp độ vĩ mô: “Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác, có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường” (Trần Kiểm, 1990).

Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý, nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học – giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” (Nguyễn Ngọc Quang, 2001).

Tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp các lực lượng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác giáo dục thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội” (Đặng Quốc Bảo, 1998).

Như vậy, có thể hiểu Quản lý giáo dục là: Sự tác động có tổ chức, có định hướng phù hợp với quy luật khách quan của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đưa hoạt động giáo dục ở từng cơ sở và của toàn bộ hệ thống giáo dục đạt tới mục tiêu đã định.

Trong Quản lý giáo dục, chủ thể quản lý chính là bộ máy quản lý các cấp; đối tượng quản lý chính là nguồn nhân lực, cơ sở vật chất và các hoạt động thực hiện chức năng của giáo dục và đào tạo. Như thế, sự tác động từ chủ thể quản lý đến khách thể quản lý, có thể từ người quản lý đơn vị cơ sở giáo dục đến các đối tượng quản lý là người dạy, người học, CSVC hoặc là sự tác động giữa các cấp Quản lý giáo dục từ Trung ương đến địa phương.

QLGD bao gồm các vấn đề cơ bản sau: Luận văn: Quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học.

  • Xây dựng và thực hiện chính sách, chiến lược và quy hoạch, kế hoạch phát triển giáo dục;
  • Ban hành, tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục, ban hành điều lệ nhà trường;
  • Quy định mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục, tiêu chuẩn nhà giáo, CSVC, trang thiết bị trường học;
  • Tổ chức bộ máy Quản lý giáo dục;
  • Tổ chức, chỉ đạo việc đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quản lý giáo viên;
  • Huy động quản lý sử dụng các nguồn lực.

QLGD được phân công theo các nguyên tắc khác nhau, theo địa bàn lãnh thổ, theo chuyên môn kỹ thuật, theo mục tiêu quản lý.

Tóm lại: Quản lý giáo dục là một dạng của quản lý xã hội, trong đó diễn ra những hoạt động phù hợp với hiện thực khách quan của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý được thực hiện trong lĩnh vực giáo dục, nhằm thay đổi hay tạo ra hiệu quả cần thiết cho sự ổn định và phát triển giáo dục, đáp ứng yêu cầu mà xã hội đặt ra.

1.2.3. Xã hội hóa

Xã hội hóa là quá trình hội nhập của một cá nhân vào xã hội hay một trong các nhóm của xã hội thông qua quá trình học các chuẩn mực và các giá trị xã hội. Đó cũng là quá trình tiếp thu và phê phán các giá trị chuẩn mực và khuôn mẫu hành động mà trong đó, mỗi thành viên xã hội tiếp nhận và duy trì được năng lực hành động xã hội.

Theo đại từ điển tiếng Việt: “XHH được hiểu là làm cho một việc gì, một cái gì đó thành của chung xã hội” (Nguyễn Như Ý, 1998).

Fichter (Mỹ) đã xem: “XHH là một quá trình tương tác giữa người này và người khác, kết quả là một sự chấp nhận những khuôn mẫu hành động và thích nghi với những hành động khuôn mẫu đó” (Lê Ngọc Lan, 2004).

XHH là quá trình tương tác giữa cá nhân và xã hội”.

XHH là sự tương tác, mối liên hệ, thuộc tính vốn có của con người, của cộng đồng nhằm đáp ứng lại xã hội và chịu ảnh hưởng của xã hội”.

XHH là quá trình hội nhập, hòa nhập của cá nhân vào xã hội hay một nhóm của xã hội thông qua quá trình học các chuẩn mực và các giá trị xã hội hay nhóm đó”.

XHH các mặt hoạt động của Nhà nước là huy động tổ chức, mọi cá nhân tham gia công việc nhà nước theo khả năng của mình” (Lê Quốc Hùng, 2004). Luận văn: Quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học.

“XHH là việc Nhà nước huy động mọi cá nhân và tổ chức tham gia thực hiện một số dịch vụ công cộng trên cơ sở có sự kiểm tra, giám sát chặt chẽ của Nhà nước, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân và giảm gánh nặng ngân sách Nhà nước” (Lê Quốc Hùng, 2004).

“XHH là quá trình tương tác giữa cá nhân và xã hội qua đó mà cá nhân học hỏi và thực hành những tri thức, những kỹ năng và phương thức cần thiết để hội nhập với xã hội” (Phạm Minh Hạc, 1997).

“XHH bao gồm tất cả các quá trình tiếp diễn văn hóa giao tiếp, học hỏi qua đó cá nhân con người phát triển về bản chất xã hội và có khả năng tham gia vào đời sống xã hội”.

XHH có mục tiêu chủ yếu là: huy động sức mạnh của toàn xã hội, tạo ra nhiều nguồn lực đa dạng thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế, thể thao, làm cho các lĩnh vực này thực sự gắn bó với dân, do dân và vì dân để nâng cao chất lượng cuộc sống.

Bản chất của Xã hội hóa là cách làm, cách thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng bằng con đường giác ngộ, huy động và tổ chức sự tham gia của mọi người dân, mọi lực lượng xã hội; tạo ra sự phối hợp liên ngành một cách có kế hoạch dưới sự chỉ đạo và quản lý thống nhất của Nhà nước, làm cho việc giải quyết các vấn đề xã hội thực sự của dân và vì dân.

Đặc điểm cơ bản của Xã hội hóa là tăng cường sự quản lý Nhà nước bằng pháp luật. Xã hội hóa gắn với mở rộng dân chủ, khuyến khích động viên tinh thần tự quản, tự chịu trách nhiệm của mọi cá nhân và tổ chức đoàn thể xã hội. Khắc phục dần tính thờ ơ, phó mặc mọi công việc cho cơ quan Nhà nước. Xã hội hóa là thu hút mọi tổ chức xã hội, mọi thành phần kinh tế tham gia các dự án phát triển của Nhà nước.

Như vậy có thể hiểu, Xã hội hóa là trách nhiệm của các tầng lớp nhân dân đối với việc tạo lập và cải thiện môi trường kinh tế, xã hội lành mạnh và thuận lợi, cũng như đa dạng hóa các hình thức hoạt động, mở rộng các nguồn đầu tư, khai thác tiềm năng về nhân lực, vật lực và tài lực, phát huy và sử dụng hiệu quả các nguồn lực của nhân dân, các nguồn lực khác, thực hiện công bằng trong chính sách xã hội, công bằng trong việc huy động nguồn lực của nhân dân cho giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục thể thao.

1.2.4. Xã hội hóa giáo dục Luận văn: Quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học.

Khi đề cập đến khái niệm Xã hội hóa giáo dục đã có nhiều ý kiến khác nhau:

Nhà xã hội học Pháp Emile Durkheim (1858-1917) là một trong số rất ít người đầu tiên sử dụng thuật ngữ “xã hội hóa”. Theo ông giáo dục vừa có chức năng phân hóa vừa có chức năng xã hội hóa;

Tác giả Phạm Minh Hạc chỉ ra rằng Xã hội hóa giáo dục là: “Làm cho xã hội nhận rõ trách nhiệm của GD, GD phục vụ đắc lực cho phát triển KT-XH, thực hiện việc kết hợp GD trong nhà trường và ngoài nhà trường, tạo điều kiện để GD kết hợp với lao động, học đi đôi với hành; Xã hội hóa giáo dục có quan hệ hữu cơ với dân chủ hóa GD” (Phạm Minh Hạc, 1997).

Theo tác giả Bùi Minh Hiền: “XHHGD trước hết phải được hiểu là một sự nghiệp rộng lớn, đầy trách nhiệm và sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, các cơ quan, đoàn thể, các tổ chức kinh tế, xã hội và toàn dân chăm lo cho phát triển giáo dục và đào tạo không những chỉ đối với thế hệ trẻ mà tất cả mọi người công dân Việt Nam không phân biệt già, trẻ, nam, nữ, giàu, nghèo, dân tộc, cương vị, vị trí xã hội và dù đâu (thành thị, nông thôn, vùng núi, hải đảo, các vùng khó khăn, xa xôi, hẻo lánh…) ai ai muốn học, muốn học gì, muốn học bằng cách nào, học như thế nào phù hợp với hoàn cảnh, năng lực của mình nhất, cũng tạo điều kiện tốt nhất có được để học” (Bùi Minh Hiền – Chủ biên, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo, 2006).

Tác giả Lê Quốc Hùng nhận định Xã hội hóa giáo dục nhìn từ góc độ pháp luật thì nó là điều kiện cần thiết và tất yếu để phát triển giáo dục và đào tạo, Xã hội hóa giáo dục là chủ trương đúng đắn, mang tính chiến lược của Đảng. “XHHGD là chính sách huy động mọi nguồn lực của nhân dân, của các tổ chức kinh tế-xã hội tham gia vào sự nghiệp giáo dục, đầu tư vào hoạt động giáo dục trên cơ sở phù hợp với khả năng tài chính và trình độ chuyên môn nhằm xây dựng xã hội học tập” (Lê Quốc Hùng, 2004).

Như vậy, Xã hội hóa giáo dục được hiểu khái quát là huy động mọi nguồn lực của nhân dân, của các tổ chức kinh tế – xã hội cùng tham gia vào sự nghiệp GD, làm cho hoạt động GD trong nhà trường trở thành công việc chung của toàn xã hội để thu hút mọi thành phần, thành viên trong xã hội tích cực tham gia vào hoạt động GD.

XHHGD là cuộc vận động lớn trong xã hội có sự lãnh đạo chặt chẽ của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và vai trò nòng cốt của ngành giáo dục. Để từ đó mọi người có cơ hội được hưởng quyền lợi về giáo dục, được học tập, học tập suốt đời, xây dựng một xã hội học tập nhằm đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

XHHGD là việc thực hiện mối liên hệ phổ biến giữa hoạt động giáo dục và cộng đồng xã hội, là làm cho giáo dục phù hợp với sự phát triển của xã hội, thích ứng với xã hội; Luận văn: Quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học.

XHHGD là mở rộng quy mô, mở rộng trách nhiệm giáo dục, chuyển hướng từ giáo dục tinh hoa thành giáo dục đại chúng, giáo dục cho mọi người, xây dựng xã hội học tập;

Trong hoạt động thực tiễn, cần phân biệt rõ tính chất xã hội của GD và Xã hội hóa giáo dục, nếu không có định hướng rõ ràng thì bản thân hoạt động GD vẫn có tính chất xã hội một cách tự phát nhưng không thể đạt tới trình độ Xã hội hóa đích thực theo ý nghĩa xã hội và nhân văn của nó. Cần xác định rõ ràng: nội hàm Xã hội hóa giáo dục nói ở đây thuộc phạm trù phương thức, phương châm, cách làm GD, thuộc phương thức tổ chức và Quản lý giáo dục đúng với bản chất và nội dung Xã hội hóa đã nêu.

1.2.5. Quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại các trường tiểu học

XHHGD là một trong những nhân tố quan trọng trong việc triển khai thực hiện mục tiêu, chương trình, cũng như kế hoạch hóa các loại hình GD. Xã hội hóa giáo dục phải đảm bảo sự nhà nước thống nhất quản lý, sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ sở GD. Quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục là quản lý nguồn đầu tư từ ngân sách do nhà nước cấp và các nguồn kinh phí khác từ sự đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân cho sự phát triển giáo dục; để đảm bảo tốt hoạt động Xã hội hóa giáo dục phải có sự tham gia của nhân dân và của cả hệ thống chính trị từ cơ sở, tham gia hoạch định hoạt động Xã hội hóa giáo dục. Công tác quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục bao gồm việc xây dựng chiến lược; chỉ đạo và tổ chức thực hiện hoạt động Xã hội hóa giáo dục. Trong điều kiện đổi mới GD hiện nay, để nâng cao được chất lượng GD việc thực hiện tốt công tác quản lý Xã hội hóa giáo dục là một nhiệm vụ quan trọng trong trường học.

Để nâng cao chất lượng GD trong điều kiện hiện nay thì việc thực hiện tốt công tác quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục là một nhiệm vụ quan trọng trong công tác quản lý của trường học.

Như vậy quản lý quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại các trường tiểu học là sự tác động của nhà quản lý thông qua việc lập kế hoạch công tác xã hội hóa một cách phù hợp với thực tế của địa phương, đồng thời tổ chức thực hiện kế hoạch có hiệu quả và chỉ đạo sử dụng các nguồi lực huy động được thông qua hoạt động xã hội hóa phù hợp với các quy định hiện hành.

1.3. Hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại các trường tiểu học

1.3.1. Chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về hoạt động Xã hội hóa giáo dục

Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, Đảng và Nhà nước luôn khẳng định trong mọi chủ trương, chính sách từ trước đến nay là phải huy động toàn xã hội làm giáo dục, thể hiện sâu sắc tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng. Cần phải phát huy đầy đủ tính dân chủ Xã hội chủ nghĩa, xây dựng mối quan hệ thật tốt, đoàn kết giữa thầy và trò, giữa trò với nhau, giữa cán bộ các cấp, giữa nhà trường và nhân dân để hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ đó” (Hồ Chí Minh, 1962).

Nghị quyết TW 6 (Khóa IX) của Đảng tiếp tục khẳng định: “Xây dựng xã hội học tập, coi giáo dục là sự nghiệp của toàn dân và Xã hội hóa giáo dục là một giải pháp quan trọng để tiếp tục phát triển giáo dục.” (Đảng Cộng Sản Việt Nam, 2002).

Nghị quyết 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 (Chính phủ, 2005) và Nghị định số: 69/NĐ-CP ngày 30/5/2008 (Chính phủ, 2008) của Chính phủ đã cụ thể hóa quan điểm: Xã hội hóa giáo dục là quá trình giáo dục hóa xã hội, vận động và tổ chức sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của toàn xã hội vào phát triển sự nghiệp giáo dục, làm cho xã hội trở thành một xã hội học tập; tạo lập và phát triển môi trường giáo dục lành mạnh; là đa dạng hóa sự đầu tư vào các loại hình giáo dục, các hình thức giáo dục dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước. Luận văn: Quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học.

Luật GD 2005: “Phát triển GD, xây dựng xã hội học tập là sự nghiệp của Nhà nước, của toàn dân. Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong phát triển sự nghiệp GD; thực hiện đa dạng hóa các loại hình trường và các hình thức GD; khuyến khích, huy động và tạo điều kiện để tổ chức, cá nhân tham gia phát triển sự nghiệp GD”. (Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2003).

Trong Chiến lược phát triển giáo dục và đào tạo 2011- 2020 (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2011), Chính phủ đã chỉ rõ: Xã hội hóa giáo dục là quá trình làm cho mọi người có nghĩa vụ xây dựng và tạo điều kiện cho giáo dục, tham gia vào sự nghiệp giáo dục; đổi mới căn bản, toàn diện để chấn hưng giáo dục và đào tạo thành một nền giáo dục thực tiễn, đại chúng và hiệu quả theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế; tạo bước phát triển mạnh về phát triển nguồn lực. Vì vậy, thực hiện Xã hội hóa giáo dục để huy động sức sức mạnh tổng hợp của toàn dân vào giáo dục là điều kiện tiên quyết để phát triển giáo dục, góp phần thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững của đất nước.

Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng đã đề ra: “Đẩy mạnh Xã hội hóa giáo dục và đào tạo… bổ sung chính sách ưu đãi để phát triển các trường ngoài công lập và các trung tâm học tập cộng đồng. Có lộ trình cụ thể cho việc chuyển đổi một số cơ sở GD, đào tạo công lập sang dân lập, tư thục…”. (Đảng Cộng Sản Việt Nam, 2006).

Hiến Pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 28 tháng 11 năm 2013, Điều 61 ghi rõ: “Phát triển GD là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Nhà nước ưu tiên đầu tư và thu hút các nguồn đầu tư khác cho GD; chăm lo giáo dục mầm non; đảm bảo giáo dục tiểu học là bắt buộc, Nhà nước không thu học phí; từng bước phổ cập giáo dục trung học; phát triển giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp; thực hiện chính sách học bổng, học phí hợp lý. Nhà nước ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; ưu tiên sử dụng, phát triển nhân tài; tạo điều kiện để người khuyết tật và người nghèo được học văn hóa và học nghề” (Quốc hội Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, 2013).

Trên cơ sở quan điểm của Đảng và Nhà nước, Chính phủ đã ban hành các văn bản về chính sách khuyến khích và đẩy mạnh hoạt động Xã hội hóa giáo dục và các lĩnh vực xã hội khác, đó là:

  • Nghị quyết số 90/CP ngày 21 tháng 8 năm 1997 về phương hướng và chủ trương Xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa;
  • Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP ngày 19 tháng 8 năm 1999 về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa, thể thao;
  • Nghị định số 53/2006/NĐ-CP, ngày 25/5/2006 của Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển các cơ sở cung ứng dịch vụ ngoài công lập; Luận văn: Quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học.
  • Nghị định số 69/2008/NĐ-CP, ngày 30/5/2008 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường;
  • Thông tư số 16/2018/TT-BGDĐT, ngày 03 tháng 8 năm 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về Quy định về tài trợ cho các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân.

Như vậy, có thể khẳng định, Đảng và Nhà nước rất quan tâm đến hoạt động Xã hội hóa giáo dục; luôn nhất quán quan điểm về phát triển giáo dục và đào tạo theo phương châm xã hội hóa; thực hiện tốt hoạt động Xã hội hóa giáo dục để huy động sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội chăm lo cho sự phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo, làm tiền đề để phát triển đất nước và hội nhập quốc tế.

1.3.2. Ý nghĩa, tầm quan trọng của hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại trường tiểu học

XHHGD là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta. Chủ trương đó đã trở thành một cuộc vận động lớn mang lại hiệu quả thiết thực. Điều quan trọng nhất trong hoạt động Xã hội hóa giáo dục là tạo một cơ chế, phối hợp tối ưu giữa chính quyền; địa phương và ngành GD&ĐT. Giáo dục là một nhu cầu không thể thiếu của xã hội. Xã hội hóa giáo dục chính là trả lại đầy đủ tính chất xã hội của giáo dục cho giáo dục. Xã hội hóa giáo dục để khơi dậy truyền thống hiếu học lẫn tiềm năng của con người, phát triển sự nghiệp giáo dục và tiến tới xây dựng một xã hội học tập. Đảng ta đã xác định: “Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng”,“Nhà nước và nhân dân cùng làm giáo dục”.

XHHGD tiếp tục khẳng định quan điểm: Giáo dục là sự nghiệp của quần chúng, đề cao một nền giáo dục của dân, do dân, vì dân. Làm cho xã hội nhận thức sâu sắc hơn về vị trí, vai trò của GD. GD chính là nhân tố quan trọng đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của xã hội. GD đóng vai trò “trồng người”, là cơ sở phát triển KT-XH của đất nước, của địa phương. Từ đó, góp phần nâng cao nhận thức về trách nhiệm của mỗi người, của xã hội đối với sự phát triển GD và đó cũng chính là cơ sở để giáo dục đầu tư, phát triển đúng hướng.

XHHGD làm cho xã hội nhận thức đúng đắn về vị trí vai trò của giáo dục cũng như về thực trạng giáo dục của từng địa phương; đồng thời nhận thức rõ hơn về trách nhiệm của xã hội đối với giáo dục và chỉ có sự tham gia của toàn xã hội mới đảm bảo cho giáo dục phát triển có chất lượng và hiệu quả. Luận văn: Quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học.

XHHGD sẽ huy động được nhiều nguồn lực như: nhân lực, vật lực, tài lực, cho sự phát triển giáo dục. Huy động nguồn nhân lực là chiến lược dựa vào con người, tạo điều kiện thuận lợi để mọi cá nhân, các lực lượng phát huy năng lực, chủ động tự giác cống hiến vào các hoạt động giáo dục. Huy động nguồn vật lực là tạo ra sự hỗ trợ các điều kiện vật chất và tinh thần cho các hoạt động giáo dục. Huy động nguồn lực phát triển giáo dục là điều kiện cần thiết. Hàng năm, ngân sách nhà nước dành cho giáo dục đều tăng nhưng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của ngành. Vì thế, việc huy động được nhiều nguồn tài chính trong nhân dân, trong xã hội để phát triển giáo dục là yêu cầu của Xã hội hóa giáo dục.

XHHGD tạo ra một xã hội học tập, một động lực thực hiện mục tiêu giáo dục. Xã hội hóa giáo dục tạo điều kiện và cơ hội học tập cho mọi người để từ đó hình thành nên một xã hội, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài cho đất nước.

XHHGD góp phần nâng cao chất lượng GD&ĐT. Thông qua việc huy động toàn xã hội tham gia vào việc cụ thể hóa mục tiêu, cải tiến nội dung và phương pháp GD, tạo điều kiện tăng cường cơ sở vật chất, kết hợp ba môi trường GD: nhà trường -gia đình – xã hội để tạo nên sản phẩm GD. Xã hội hóa giáo dục là phương thức đặc biệt, vừa thực hiện, vừa tự kiểm tra, đánh giá. Do vậy, hoạt động GD – dạy học luôn luôn được cải tiến đổi mới, góp phần làm cho chất lượng GD được nâng cao.

XHHGD sẽ tạo điều kiện thực hiện dân chủ hóa và công bằng trong giáo dục. Thực hiện dân chủ hóa là nhằm xóa bỏ tính khép kín của hệ thống giáo dục nhà trường để xây dựng nền giáo dục đại chúng của dân, do dân và vì dân. Phải thật công bằng, minh bạch trong việc thực hiện các chính sách, chế độ và mọi hoạt động giáo dục trong nhà trường cũng như trong ngành giáo dục. Tác giả Đặng Quốc Bảo cho rằng: Xã hội hóa giáo dục gắn liền với dân chủ hóa giáo dục. Chỉ có thể thực hiện Xã hội hóa giáo dục khi xã hội có một nền dân chủ, hiện thân nhân văn và nền dân chủ này được quán triệt trong đời sống giáo dục; mọi người dân có quyền được đi học, học được (tức là được lĩnh hội một nền giáo dục phù hợp với hoàn cảnh khả năng của mình) và được phát triển tài năng (Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Văn Bình, Nguyễn Quốc Chí, 1999).

XHHGD và dân chủ hóa GD là hai phạm trù có mối liên hệ mật thiết và biện chứng. Xã hội hóa giáo dục là con đường để thực hiện dân chủ hóa GD, ngược lại nhờ dân chủ hóa GD mà các thành phần xã hội tham gia vào sự nghiệp phát triển GD ngày càng đông đảo, đa dạng, phong phú, rộng khắp, làm cho sự nghiệp GD trở thành sự nghiệp của toàn xã hội. Đẩy mạnh Xã hội hóa giáo dục, thực hiện tốt dân chủ hóa GD là cơ hội tốt nhất để thu hút mọi cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước đầu tư cho GD. PGS.TS Đặng Quốc Bảo cho rằng: “XHHGD gắn liền với dân chủ hóa giáo dục. Chỉ có thể thực hiện Xã hội hóa giáo dục khi xã hội có một nền dân chủ, hiện thân nhân văn và nền dân chủ này được quán triệt trong đời sống giáo dục; mọi người dân có quyền được đi học, học được và được phát triển tài năng”.

XHHGD góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp để GD phục vụ có hiệu quả cho sự nghiệp phát triển KT-XH. Có thể khẳng định, đời sống KT-XH quy định trình độ phát triển của GD, ngược lại GD có nhiệm vụ nâng cao nhận thức, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân. Mục tiêu của GD xuất phát từ mục tiêu KT-XH, kế hoạch phát triển GD nằm trong kế hoạch phát triển KT-XH. Do đó, giáo dục muốn phát huy được sức mạnh đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH thì GD phải bám sát mục tiêu, kế hoạch, nhiệm vụ tăng trưởng KT-XH của địa phương để xây dựng và thực hiện nhiệm vụ GD và phải được phản ánh bằng con người được đào tạo. Xã hội hóa giáo dục là yếu tố, là giải pháp để nâng cao chất lượng GD đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH của địa phương. Luận văn: Quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học.

Hoạt động Xã hội hóa giáo dục không chỉ có vai trò thúc đẩy sự nghiệp GD&ĐT phát triển mà còn có vai trò tích cực trong việc hình thành nhân cách con người. Thực hiện tốt hoạt động Xã hội hóa giáo dục tức là đã huy động được toàn xã hội làm giáo dục, điều đó giúp cho mọi người có đủ năng lực, phẩm chất để tham gia vào các hoạt động xã hội đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng đất nước.

1.3.3. Mục tiêu hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại trường tiểu học

Mục tiêu của hoạt động Xã hội hóa giáo dục ở trường tiểu học là nhằm tăng nguồn lực, mở rộng quy mô, hình thức tổ chức, loại hình giáo dục, thực hiện mục tiêu giáo dục đáp ứng những yêu cầu và hoạt động giáo dục trong nền kinh tế thị trường, tạo nguồn nhân lực có chất lượng phục vụ cho sự nghiệp CNH-HĐH đất nước. Là làm cho hoạt động Xã hội hóa giáo dục ngày càng phát triển và trở thành động lực thúc đẩy phát triển GD, góp phần giảm bớt khó khăn về mặt tài chính cho nhà nước đồng thời đưa hoạt động Xã hội hóa đi đúng hướng, duy trì và phát triển bền vững.

Mục tiêu cụ thể của hoạt động Xã hội hóa giáo dục ở trường tiểu học là:

  • Xây dựng môi trường học tập lành mạnh, vận động toàn dân chăm sóc thế hệ trẻ, phối hợp chặt chẽ GD trong nhà trường với GD gia đình và GD ngoài xã hội, tăng cường trách nhiệm của cấp ủy Đảng, chính quyền các cấp, tổ chức đoàn thể, tổ chức KT-XH của gia đình, của từng người dân đối với sự nghiệp GD;
  • Đa dạng hóa các loại hình đào tạo, các hình thức học tập trên cơ sở củng cố các loại hình công lập, lấy đó làm hệ thống nòng cốt của hệ thống GD quốc dân, tích cực phát triển các loại hình ngoài công lập để tạo thêm cơ hội học tập, nâng cao trình độ cho mọi người, trước hết là cho thế hệ trẻ;
  • Tăng cường nguồn đầu tư ngân sách Nhà nước và mở rộng nguồn đầu tư khác. Khai thác triệt để và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực trong xã hội để phát triển GD;
  • Tiếp tục cụ thể hóa thể chế, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về thực hiện Xã hội hóa giáo dục;
  • Xây dựng xã hội học tập và xã hội tham gia trực tiếp vào sự nghiệp phát triển GD.

Trong quá trình đó, Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong sự phát triển GD, thực hiện đa dạng hóa các loại hình trường và các hình thức GD nhằm hướng đến xây dựng nền GD dành cho mọi người, tạo cơ hội để cho mọi người ở mọi lứa tuổi đều có điều kiện tham gia học tập thường xuyên, học suốt đời.

Quản lý tốt hoạt động Xã hội hóa giáo dục sẽ tạo điều kiện để phát huy tối đa vai trò và tác dụng của giáo dục trong đời sống xã hội, tạo sự gắn kết cộng đồng trách nhiệm ngày càng chặt chẽ giữa nhà trường – gia đình và xã hội.

1.3.4. Những nguyên tắc cơ bản của hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại trường tiểu học Luận văn: Quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học.

1.3.4.1. Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và quyền chủ động của cơ sở giáo dục

Đảng ta có vai trò hết sức to lớn là lãnh đạo toàn diện trên cả ba mặt: Chính trị, tư tưởng và tổ chức; lãnh đạo toàn bộ hệ thống chính trị, các lĩnh vực trong đời sống xã hội, trong đó có giáo dục và hoạt động xã hội hóa công tác giáo dục. Đảng đề ra chủ trương, đường lối, nghị quyết về phát triển KH-XH. Nhà nước thể chế hóa chủ trương đường lối của Đảng thành chính sách pháp luật. Ngành GD và nhà trường là cơ quan chuyên môn, căn cứ vào những định hướng của Đảng, quy định Nhà nước về hoạt động GD nói chung và hoạt động Xã hội hóa giáo dục nói riêng, nhất là căn cứ vào điều kiện cụ thể của địa phương mình để xác định mục tiêu, nhiệm vụ, nhu cầu, phương án, kế hoạch phù hợp. Chủ động tham mưu, đề xuất với cấp ủy, chính quyền tổ chức thực hiện hoạt động Xã hội hóa giáo dục để phát triển GD&ĐT một cách có hiệu quả, bền vững.

1.3.4.2. Đảm bảo phát huy quyền làm chủ của nhân dân

XHHGD phải đảm bảo phát huy quyền làm chủ nhân dân trong việc phát triển sự nghiệp giáo dục. Hoạt động Xã hội hóa giáo dục có thành công hay không trước hết phải thực hiện tốt việc “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”. Việc đảm bảo thông tin truyền thông, công khai hóa các hoạt động Xã hội hóa giáo dục là để người dân thể hiện vai trò vừa là chủ thể vừa là đối tượng. Có như vậy thì người dân sẽ hiểu, tự giác và tích cực tham gia. Đây là nguyên tắc rất quan trọng cần phải thực hiện xuyên suốt nhằm đảm bảo phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tạo động lực cho sự phát triển nền giáo dục tiên tiến.

1.3.4.3. Đảm bảo tính pháp chế

XHHGD về bản chất là một cuộc vận động toàn xã hội làm công tác GD nhưng phải được vận hành trong khuôn khổ pháp lý, tuân thủ pháp luật. Hiện nay, chúng ta đang thực hiện hoạt động Xã hội hóa giáo dục trong nền kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa, nên các chủ thể hoạt động Xã hội hóa giáo dục cần phải được trang bị kiến thức pháp luật để đảm bảo cho sự đầu tư đúng mức, phù hợp đối với GD mà không ảnh hưởng đến pháp luật. Như vậy thì mục đích, ý nghĩa, chủ trương, chính sách Xã hội hóa giáo dục mới đạt hiệu quả, đảm bảo tính đồng bộ và tạo sự chuyển biến mạnh mẽ cho sự phát triển GD.

1.3.5. Nội dung hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại trường tiểu học

1.3.5.1. Giáo dục hóa xã hội

Đây là nội dung cơ bản của Xã hội hóa giáo dục nhằm xây dựng một phong trào toàn xã hội học tập. Học tập là quyền lợi đồng thời là trách nhiệm, nghĩa vụ của mỗi người với bản thân, gia đình, cộng đồng và đất nước. Mọi người trong xã hội cần phải nỗ lực học tập để nâng cao kiến thức, năng lực làm việc, năng lực hợp tác và để tự khẳng định mình. Tổ chức khoa học, giáo dục và văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) đã đưa ra bốn trụ cột của việc học trong thời đại nền kinh tế tri thức là “ Học để biết, học để làm việc, học để chung sống và học để tự khẳng định mình”.

Để thực hiện giáo dục hóa xã hội, Đảng ta đã đề ra nhiệm vụ: “Phát triển giáo dục không chính quy, các hình thức học tập cộng đồng ở các xã, phường gắn với nhu cầu thực tế của đời sống kinh tế – xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người có thể học tập suốt đời, hướng tới xã hội học tập” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2011).

1.3.5.2. Huy động cộng đồng tham gia thực hiện các chỉ tiêu, kế hoạch giáo dục của nhà trường và đa dạng hóa các hình thức học tập, phát triển quy mô giáo dục Luận văn: Quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học.

  • Các chỉ tiêu, kế hoạch giáo dục của nhà trường Huy động cộng đồng tham gia thực hiện các chỉ tiêu, kế hoạch phát triển GD
  • các trường TH gồm những nội dung sau:
  • Tạo điều kiện thuận lợi, cơ hội cho mọi đối tượng học sinh trong địa bàn phường được đảm bảo quyền học tập của mình;
  • Huy động 100% trẻ 6 tuổi vào lớp 1;
  • Vận động học sinh bỏ học đến trường, duy trì và đảm bảo số lượng;
  • Vận động học sinh khuyết tật tham gia hòa nhập cộng đồng;

Thực hiện tốt công tác phổ cập, đảm bảo học sinh trong độ tuổi học hết TH (theo quy định).

Việc thực hiện các chỉ tiêu, kế hoạch nêu trên không chỉ là trách nhiệm của nhà trường mà còn là trách nhiệm của cả cộng đồng, trong đó cấp ủy, chính quyền địa phương cần phải có chủ trương, nghị quyết, kế hoạch cụ thể để lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện. Phải phân công trách nhiệm cho từng tổ chức, cá nhân phụ trách, đồng thời huy động và tập hợp các lực lượng xã hội tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào việc thực hiện các chỉ tiêu, kế hoạch của nhà trường.

Xây dựng nền kinh tế tri thức là xu thế phát triển của xã hội hiện nay nhằm thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH, HĐH đất nước. Việc huy động các nguồn lực của xã hội nói chung đóng góp cho sự nghiệp GD là nội dung có tính toàn diện, trong đó huy động nguồn lực chất xám tham gia vào hoạt động Xã hội hóa giáo dục là rất quan trọng và cần thiết, cần phải được quan tâm chú trọng nhằm tạo ra phong trào học tập sâu rộng trong xã hội đáp ứng quyền được hưởng thụ GD của mọi người.

  • Đa dạng hóa các hình thức học tập, phát triển quy mô giáo dục

Việc đa dạng hóa các hình thức học tập thông qua hình thức nhà trường phối hợp cùng chính quyền địa phương, các tổ chức xã hội, đoàn thể đứng ra tổ chức các lớp học không chính quy nhằm thu hút, tạo điều kiện cho các em được tham gia học tập theo khả năng, điều kiện, hoàn cảnh… nhất là những em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Hình thức phổ biến hiện nay như: các trung tâm học tập cộng đồng, lớp học tình thương… Các lực lượng xã hội cùng với nhà trường tham gia vào quá trình GD, đa dạng hóa các hình thức học tập góp phần làm cho mọi người có cơ hội học tập, học tập thường xuyên, học tập suốt đời và đây cũng chính là một trong những nội dung quan trọng trong hoạt động Xã hội hóa giáo dục.

Như vậy, các lực lượng xã hội và cá nhân có thể tham gia trực tiếp vào quá trình GD bằng cách tổ chức các cơ sở GD ngoài công lập. Xã hội hóa giáo dục chính là xây dựng hệ thống GD mở, tạo cơ hội cho mọi người tham gia GD và GD cho mọi người thường xuyên, liên tục, góp phần quan trọng vào việc phát triển GD và làm giảm gánh nặng đầu tư của Nhà nước. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, chúng ta đang tiếp tục củng cố vững chắc phổ cập giáo dục TH, Trung học cơ sở, tiến tới phổ cập Trung học phổ thông thực hiện mục đích nâng cao dân trí, việc đa dạng hóa các loại hình học tập sẽ góp phần quan trọng phát triển quy mô GD.

1.3.5.3. Huy động cộng đồng đầu tư nguồn lực cho mục tiêu và đa dạng hóa các nguồn lực cho xây dựng cơ sở vật chất, thiết bị dạy học Luận văn: Quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học.

Huy động tiềm năng của cộng đồng hỗ trợ cho quá trình tổ chức giáo dục và phát triển trường TH, cần tập trung xây dựng và hoàn thiện dần cơ chế phối hợp giữa nhà trường, gia đình và các lực lượng xã hội trong việc tổ chức tham gia cùng làm giáo dục; phân bổ và sử dụng hợp lý nguồn ngân sách nhà nước và tiềm năng xã hội; mở rộng khả năng đóng góp của mọi người cho Giáo dục tiểu học; tổ chức các hoạt động, phong trào để tạo động lực trong việc huy động sự đóng góp của xã hội để sphát triển Giáo dục tiểu học; phát huy truyền thống họ tộc, lễ hội và cá nhân; đẩy mạnh hợp tác quốc tế về Giáo dục tiểu học. Nguồn lực của cộng đồng nói chung rất phong phú cho mục tiêu này, nếu nhà trường biết khai thác đúng đắn và có hiệu quả.

Trong bối cảnh kinh tế, xã hội còn khó khăn, việc huy động các nguồn lực của xã hội cho quá trình xây dựng các điều kiện về cơ sở vật chất phục vụ hoạt động của nhà trường là việc làm hết sức cần thiết. Bên cạnh việc sử dụng có hiệu quả nguồn đầu tư từ ngân sách Nhà nước, cần phải tiến hành khai thác triệt để các nguồn đầu tư khác ở trong nước cũng như nước ngoài (nhân lực, vật lực, tài lực) phục vụ cho sự phát triển giáo dục.

Ngoài các nguồn lực đã nêu, ngày nay người ta còn nói đến hai nguồn lực: Tâm lực và tin lực:

“Tâm lực” có thể hiểu là tấm lòng, là tâm huyết của nhân dân của cộng đồng, của cha mẹ học sinh mong muốn hiến kế cho sự phát triển nhà trường.

“Tin lực” là các thông tin về khoa học giáo dục mà các gia đình học sinh hoặc những người hiểu biết trong cộng đồng mang đến cho nhà trường.

Sự phát triển của thông tin ngày nay đa dạng và diễn ra với tốc độ nhanh chóng. Các thầy cô giáo cần phải được cập nhật, tự học tập, tự nghiên cứu để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông.

Nguồn lực của cộng đồng nói chung rất phong phú, nếu nhà trường biết khai thác đúng đắn và có hiệu quả.

1.3.5.4. Vai trò của nhà trường đối với xã hội Luận văn: Quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học.

Việc huy động các lực lượng xã hội tham gia vào các hoạt động Xã hội hóa giáo dục có vai trò của nhà trường; tuy nhiên, vấn đề quan trọng hơn là nhà trường cần phải thể hiện ảnh hưởng của mình đối với cộng đồng, địa phương.

Trong quá trình tổ chức thực hiện, nhà trường phải thể hiện đầy đủ tính chủ động và sáng tạo, vai trò trung tâm nòng cốt trong Xã hội hóa công tác giáo dục. Trước hết, nhà trường cần xây dựng cho mình thực sự trở thành một trung tâm văn hóa lành mạnh, đi đầu và đóng vai trò chủ đạo trong các phong trào giáo dục ở địa phương như: Giáo dục môi trường, giáo dục dân số, tuyên truyền phòng chống các tệ nạn xã hội, văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao, khuyến học, khuyến tài… là lực lượng nòng cốt trong việc kết hợp giáo dục giữa nhà trường, gia đình và xã hội.

Để tiến hành Xã hội hóa giáo dục cần phải tạo ra được một phong trào học tập sâu rộng trong địa bàn dân cư theo nhiều hình thức. Động viên, khuyến khích và khơi dậy tinh thần học tập của mọi người; thực hiện việc học tập suốt đời để làm việc tốt hơn, thu nhập cao hơn và có cuộc sống tốt hơn nhất là những người trong độ tuổi lao động. Tham mưu, đề xuất với cấp ủy, chính quyền vận động nhân dân quan tâm chăm lo giáo dục thế hệ trẻ; tạo ra môi trường GD lành mạnh, nâng cao ý thức trách nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của cộng đồng trong việc tham gia Xã hội hóa giáo dục, góp phần hoàn thành các chỉ tiêu GD đề ra cũng như phát huy vai trò, ảnh hưởng của nhà trường đối với cộng đồng xã hội ở địa phương.

1.3.6. Đánh giá kết quả xã hội hóa tại các trường tiểu học

Kiểm tra và đánh giá là công cụ của nhà quản lí. Thông quan việc kiểm tra đánh giá toàn bộ quá trình tổ chức, thực hiện hoạt động Xã hội hóa giáo dục, hiệu trưởng có thể xác định được mức độ, quy mô triển khai các nội dung. Căn cứ vào kế hoạch để so sánh các nội dung đã triển khai có trùng khớp với kế hoạch hay không? Từ đó đưa ra những điều chỉnh, điều khiển kịp thời.

Kiểm tra đánh giá là hoạt động thường xuyên và liên tục, hoạt động này không phải là khâu cuối cùng của kế hoạch. Mà nó phải được luôn luôn hiện diện trong từng hoạt động, nhằm điều chỉnh và thúc đẩy quá trình thực hiện đúng tiến độ đã đề ra.

Để kiểm tra đánh giá phát huy được hiệu quả trong công tác Xã hội hóa giáo dục các cấp quản lí cần thực hiện các nội dung sau;

Tổ chức chỉ đạo các bộ phận có liên quan phối hợp cùng xây dựng kế hoạch phù hợp với các quy định của pháp luật hiện hành. Quá trình xây dựng kế hoạch cần xem xét tình hình kinh tế địa phương, môi trường văn hóa và đặc điểm của dân cư để đề ra các mục tiêu phù hợp.

Kiểm tra chặt chẽ việc trên khai tổ chức thực hiện kế hoạch. Bám sát quá trình tổ chức nhằm đảm bảo thực hiện đúng quy trình theo quy định. Đồng thời kiểm tra bổ sung kịp thời những nội dung chưa phù hợp với tình hình thực tế. Điều phối hợp lí các nguồn lực cho toàn bộ hoạt động của kế hoạch. Luận văn: Quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học.

1.4. Quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại các trường tiểu học

1.4.1. Tầm quan trọng của việc quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục

Quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại các trường tiểu học là việc làm mang tầm quan trọng lớn vì hoạt động Xã hội hóa giáo dục mang tính quần chúng, cộng đồng, vì phúc lợi XH có liên quan trực tiếp đến nhiều người, vấn đề Xã hội hóa giáo dục đa dạng và mang tính nhạy cảm.

Với những định hướng khuyến khích Xã hội hóa giáo dục nêu trên, giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học ngoài công lập trong những năm qua đã đạt được những kết quả nhất định, góp phần nâng tỷ lệ huy động trẻ, học sinh trong độ tuổi ra lớp, phổ cập giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực, phát triển loại hình trường, lớp, chương trình chất lượng cao đáp ứng nhu cầu học tập của người dân, giảm gánh nặng cho ngân sách. Qua đó ta thấy các văn bản, Nghị định do Chính phủ đã ban hành luôn luôn đúng và phù hợp với tình hình thực tế. Quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục là quản lý nguồn đầu tư từ ngân sách do nhà nước cấp và các nguồn kinh phí khác từ sự đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân cho sự phát triển giáo dục; để đảm bảo tốt hoạt động Xã hội hóa giáo dục phải có sự tham gia của nhân dân và của cả hệ thống chính trị từ cơ sở, tham gia hoạch định hoạt động Xã hội hóa giáo dục. Công tác quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục bao gồm việc xây dựng chiến lược; chỉ đạo và tổ chức thực hiện hoạt động Xã hội hóa giáo dục. Trong điều kiện đổi mới GD hiện nay, để nâng cao được chất lượng GD việc thực hiện tốt công tác quản lý Xã hội hóa giáo dục là một nhiệm vụ quan trọng trong trường học.

1.4.2. Vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của phòng Giáo dục và Đào tạo

Căn cứ theo Thông tư liên tịch số 11/2015/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 29 tháng 5 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT – Bộ Nội vụ: Vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo được quy định tại Khoản b), Điều 8, Chương II của Thông tư liên tịch Hướng dẫn về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở GD&ĐT thuộc UBND tỉnh, thành phố trực thuộc TW, Phòng GD&ĐT thuộc UBND huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh:

Vị trí, chức năng của Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo

Trưởng Phòng Giáo dục và Đào tạo là người đứng đầu Phòng Giáo dục và Đào tạo chịu trách nhiệm trước Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện và trước pháp luật về thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và toàn bộ hoạt động của Phòng Giáo dục và Đào tạo, cụ thể như sau: Luận văn: Quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học.

1.4.3. Quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục của Trưởng phòng Giáo dục và Đào tạo

Quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục trước hết là xây dựng cơ chế vận hành của hoạt động Xã hội hóa, tạo hành lang để hoạt động Xã hội hóa đi đúng theo quỹ đạo, theo mục tiêu của Đảng và Nhà nước đặt ra. Để quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục đạt hiệu quả phải đảm bảo các yêu cầu sau:

Một, Quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục có những cách làm khác nhau giúp cho công tác QL có những phương pháp linh hoạt và thích hợp với từng điều kiện, từng hoàn cảnh cụ thể. Nếu QL một cách máy móc, cứng nhắc sẽ rơi vào tình trạng hành chính hóa, làm thui chột tính năng động của hoạt động Xã hội hóa. Nếu QL quá dễ dãi, giản đơn sẽ đẩy hoạt động Xã hội hóa vào những sai lầm, nhất là huy động các nguồn thu;

Hai, QL hoạt động Xã hội hóa đòi hỏi phương pháp mềm dẻo, linh hoạt, tạo được phong trào, định hướng được phong trào, phát huy dân chủ trong nhân dân, tăng cường nguồn lực của xã hội và cộng đồng cho giáo dục;

Ba, QL hoạt động Xã hội hóa giáo dục không hoàn toàn là công việc của ngành GD. Với chức năng Nhà nước của mình, ngành GD chủ yếu làm công tác tham mưu, vận động, tuyên truyền để xã hội nhận thức đầy đủ hơn về GD, chia sẻ khó khăn với GD, cộng đồng cùng trách nhiệm và tham gia vào quá trình phát triển GD – ĐT. Tuy nhiên, trong một chừng mực nhất định, ngành GD trực tiếp chỉ đạo và QL hoạt động Xã hội hóa trong các nhà trường, giúp cho hoạt động Xã hội hóa giáo dục đi đúng hướng và có kết quả cao.

Quản lý Xã hội hóa giáo dục TH đặt trên cơ sở phương pháp luận của quản lý và giáo dục học TH. Phương pháp luận quản lý có nhiều cách tiếp cận, song cách tiếp cận cơ bản nhất là tiếp cận chức năng và tiếp cận mục tiêu. Theo tiếp cận chức năng thì giải pháp hoạt động Xã hội hóa giáo dục trường tiểu học bao gồm các vấn đề cơ bản sau:

1.4.3.1. Xây dựng kế hoạch thực hiện hoạt động Xã hội hóa giáo dục

Để chủ động trong việc thực hiện chủ trương Xã hội hóa giáo dục, cơ quan chịu trách nhiệm QL hoạt động này phải tiến hành lập kế hoạch thực hiện. Việc lập kế hoạch bao gồm xác định mục tiêu Xã hội hóa giáo dục nói chung và mục tiêu cho từng hoạt động nói riêng, theo từng giai đoạn của thời kỳ, đề xuất các nhiệm vụ và người thực hiện, đưa ra các giải pháp và điều kiện nguồn lực thực hiện kế hoạch. Kế hoạch cuối cùng của việc thực hiện chức năng này là bản kế hoạch thực hiện Xã hội hóa giáo dục.

Bất cứ chương trình Xã hội hóa giáo dục tiểu học nào cũng phải đưa vào chu trình kế hoạch hóa. Chu trình này quán triệt các yêu cầu: Luận văn: Quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học.

  • Phân tích được tình hình, nêu rõ được điểm mạnh, điểm yếu của đơn vị về công tác xã hội hóa; phân tích được khó khăn, thuận lợi trước và trong quá trình thực hiện công tác xã hội hóa;
  • Xác định được mục đích, yêu cầu, đối tượng, phạm vi và các nhu cầu thiết thực trong Xã hội hóa giáo dục tiểu học;
  • Vạch ra được mục tiêu trong xã hội hóa: phải trọng tâm, trọng điểm và đảm bảo mục tiêu giáo dục giáo dục tiểu học;
  • Cụ thể hóa thành các nhiệm vụ cần tiến hành, xác định được nhiệm vụ chung, nhiệm vụ cụ thể trong từng gia đoạn nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra;
  • Gắn nhiệm vụ vào trục thời gian, phải xác định được lộ trình, thời gian triển khai thực hiện, thời gian hoàn thành một cách cụ thể.

1.4.3.2. Xây dựng bộ máy điều hành hoạt động Xã hội hóa giáo dục

Là quá trình sắp xếp và phân bổ công việc, quyền hành và các nguồn lực cho các thành viên của tổ chức để họ có thể hoạt động và đạt được các mục tiêu của tổ chức một cách có hiệu quả.

Đối với những mục tiêu khác nhau, đòi hỏi cấu trúc tổ chức của đơn vị cũng khác nhau. Thủ trưởng đơn vị cần có quyền được lựa chọn cấu trúc tổ chức cho phù hợp với những mục tiêu và nguồn lực hiện có. Huy động các lực lượng tham gia vào quá trình giáo dục thông qua việc thực hiện dân chủ hóa nhà trường, đa dạng hóa các loại hình giáo dục, xây dựng môi trường giáo dục. Huy động xã hội đầu tư các nguồn lực cho giáo dục TH thông qua các hoạt động đóng góp tài chính, vật chất, công sức để xây dựng các điều kiện giáo dục tốt nhất cho học sinh TH. Người thủ trưởng phải biết tìm người, sử dụng người và sắp xếp lực lượng, cần có tầm nhìn xa trông rộng để phát hiện nhu cầu, phát hiện các tiềm năng, tìm kiếm, tranh thủ đối tác, có năng lực vận động quần chúng phát huy được ý thức tự giác, làm chủ, chủ động và sáng tạo.

1.4.3.3. Chỉ đạo thực hiện hoạt động Xã hội hóa giáo dục

Trong quá trình tổ chức thực hiện kế hoạch đề ra, cần có sự chỉ đạo, chỉ huy, điều phối. Chức năng chỉ đạo, điều hành của thủ trưởng thể hiện ở việc vận dụng đúng đắn các văn bản pháp luật; quy chế hoạt động phối hợp giữa các ban ngành, bộ phận,…; việc tổ chức các lực lượng tham gia thực hiện các hoạt động Xã hội hóa giáo dục của đơn vị.

  • Chỉ dẫn mọi thành viên trong đơn vị thực hiện các công việc đề ra về Xã hội hóa giáo dục.
  • Điều phối, điều chỉnh các nhiệm vụ để công việc tiến hành nhịp nhàng. Trong quá trình theo dõi, chỉ đạo, người cán bộ quản lý cần có những điều chỉnh kịp thời giữa khối lượng công việc và năng lực của các nhóm tổ chức để công việc tiến triển có hiệu quả và đúng thời gian.

1.4.3.4. Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện hoạt động Xã hội hóa giáo dục

Công tác kiểm tra, giám sát cần được tiến hành theo định kỳ, thường xuyên nhằm kịp thời bổ sung, điều chỉnh những vấn đề nảy sinh trong quá trình tổ chức thực hiện kế hoạch. Luận văn: Quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học.

Để việc tổ chức thực hiện kế hoạch Xã hội hóa giáo dục có hiệu quả, người thủ trưởng cần có sự chỉ đạo, giám sát công việc đảm bảo đúng tiến độ theo kế hoạch đã đề ra. Chủ động phân phối, điều chỉnh các nhiệm vụ sao cho tiến trình thực hiện được phù hợp, trôi chảy. Kịp thời uốn nắn, trợ giúp, hướng dẫn những khâu khó và có thể cùng tham gia để làm gương hoặc rèn luyện thêm kỹ năng cho các thành viên. Quá trình tổ chức thực hiện cần có khen thưởng kịp thời để khích lệ, phê bình để rút kinh nghiệm nhằm tạo động lực cho đội ngũ trong phấn đấu thực hiện nhiệm vụ. Đây là một việc làm thể hiện rõ năng lực quản lý của thủ trưởng nhằm đảm bảo hoàn thành công việc đúng tiến độ và đạt hiệu quả cao.

Hoạt động Xã hội hóa giáo dục muốn đạt hiệu quả cao thì ngay từ trong đơn vị, thủ trưởng cần có những biện pháp phát huy sức mạnh nội lực về các mặt chuyên môn, hiệu quả dạy học, việc tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của người học, phẩm chất và năng lực nhà giáo…tất cả điều đó tạo nên môi trường giáo dục lành mạnh, niềm tin của các bậc cha mẹ học sinh và quần chúng nhân dân ở địa phương.

Tổng kết và đánh giá chính là việc đo lường kết quả thực hiện các mục tiêu nêu trong kế hoạch từ đó nhân rộng những mô hình tốt, những cách làm hay đồng thời rút ra được những bài học kinh nghiệm quý báu làm cơ sở để điều chỉnh, bổ sung kế hoạch nhằm thực hiện hoạt động Xã hội hóa giáo dục ngày càng tốt hơn. Công tác tổng kết, đánh giá, khen thưởng, động viên cần kịp thời kích thích phong trào phát triển, đem lại hiệu quả thiết thực. Đây là khâu rất quan trọng trong quy trình quản lý hoạt động XHHGD.

1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại trường tiểu học

1.5.1. Các yếu tố khách quan

1.5.1.1. Nhận thức của xã hội

Ngành giáo dục là cơ quan chuyên môn tham mưu cho các cấp lãnh đạo xây dựng kế hoạch Xã hội hóa giáo dục phù hợp với tình hình giáo dục của địa phương, thành lập Hội đồng giáo dục các cấp và tổ chức các hoạt động có hiệu quả (huy động các nguồn lực xã hội, đa dạng hóa loại hình giáo dục để phát triển quy mô giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục,…) nhằm đáp ứng yêu cầu kinh tế – xã hội ở địa phương.

Nâng cao nhận thức của các bậc cha mẹ học sinh, của cộng đồng về hoạt động Xã hội hóa giáo dục là rất quan trọng, góp phần tích cực vào việc xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, bảo đảm điều kiện cho việc nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục.

1.5.1.2. Về chính trị – xã hội

Đảng và Nhà nước ta đang có những chủ trương, chính sách cụ thể về hoạt động Xã hội hóa giáo dục thông qua các chỉ thị, nghị quyết về hoạt động Xã hội hóa giáo dục; đồng thời có kế hoạch tổ chức triển khai, quán triệt trong nội bộ Đảng, trong các tổ chức chính trị… Trên cơ sở đó, nâng cao nhận thức trong cộng đồng dân cư, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức, là cơ sở để huy động các lực lượng xã hội tham gia vào sự nghiệp giáo dục. Nhà nước đề ra các chính sách cụ thể nhằm tạo cơ hội học tập cho mọi người, nhất là thanh thiếu niên trong độ tuổi, tham gia học tập để nâng cao trình độ, từng bước tiến đến xây dựng một xã hội học tập; tăng cường huy động các nguồn lực đầu tư cho giáo dục; chú trọng đến việc đa dạng hóa các loại hình trường lớp và phương thức đào tạo,… đặc biệt quan tâm đến việc quản lý Nhà nước về giáo dục trên địa bàn.

Với quan điểm GD là sự nghiệp của toàn xã hội, của toàn dân, thực hiện tốt hoạt động Xã hội hóa giáo dục trên cơ sở huy động các nguồn lực đầu tư cho giáo dục, huy động các lực lượng xã hội tham gia xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, là động lực thúc đẩy giáo dục phát triển, đáp ứng yêu cầu KT-XH của địa phương.

1.5.1.3. Điều kiện kinh tế – văn hóa Luận văn: Quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học.

Yếu tố kinh tế, đời sống ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống xã hội và có tác động qua lại đối với giáo dục. Kinh tế phát triển là điều kiện thuận lợi tạo nguồn lực đầu tư để giáo dục phát triển. Khi địa phương có nền kinh tế chậm phát triển, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn thì sẽ hạn chế việc huy động các nguồn lực xã hội trong việc thực hiện các mục tiêu Xã hội hóa giáo dục.

Yếu tố văn hóa có ảnh hưởng đến điều kiện để phát triển giáo dục. Đời sống văn hóa phong phú góp phần thúc đẩy giáo dục phát triển. Môi trường xã hội có văn hóa là điều kiện để hình thành và phát triển nhân cách con người. Môi trường xã hội có văn hóa còn tạo điều kiện thuận lợi để mọi người có nhu cầu hưởng thụ văn hóa, tham gia nghiên cứu, học tập; đồng thời tham gia vào quá trình sáng tạo các giá trị văn hóa đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của cuộc sống.

1.5.1.4. Truyền thống hiếu học

Địa phương có truyền thống hiếu học tốt sẽ có ảnh hưởng rất lớn đến tinh thần, thái độ học tập của học sinh và cộng đồng. Những tấm gương của gia đình hiếu học, của dòng họ hiếu học sẽ tác động mạnh mẽ đến ý thức học tập con cháu, tạo niềm tin để học sinh phấn đấu và rèn luyện, học tập. Đây là điều kiện thuận lợi để dấy lên phong trào học tập trong cộng đồng, góp phần phát triển giáo dục ở địa phương.

1.5.2. Các yếu tố chủ quan

1.5.2.1. Cán bộ quản lý với hoạt động Xã hội hóa giáo dục

Trong hoạt động Xã hội hóa giáo dục, ngành giáo dục luôn đóng vai trò quan trọng nhất. Cán bộ quản lý phải tham mưu kịp thời cho địa phương để xây dựng và thực hiện hoạt động Xã hội hóa giáo dục cho phù hợp và đạt hiệu quả. Vì vậy, đội ngũ cán bộ quản lý trước hết phải có những nhận thức đúng đắn về ý nghĩa, vai trò, nội dung của hoạt động Xã hội hóa giáo dục để tham mưu và tổ chức các hoạt động Xã hội hóa giáo dục trong nhà trường. Người cán bộ quản lý phát huy tốt vai trò của mình trong việc tham mưu cho chính quyền địa phương, tổ chức tốt các hoạt động Xã hội hóa giáo dục của nhà trường, sẽ nhanh chóng góp phần phát triển nhà trường và nâng cao chất lượng giáo dục. Ngược lại, khi cán bộ quản lý chưa nhận thức đúng đắn về hoạt động Xã hội hóa giáo dục, công tác tham mưu cho chính quyền địa phương hạn chế thì những nơi đó, hoạt động Xã hội hóa giáo dục sẽ khó khăn, chậm chạp, làm ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của ngành giáo dục và đào tạo.

Nhận thức của cán bộ quản lý được thể hiện qua việc xây dựng kế hoạch cho hoạt động Xã hội hóa giáo dục, thành lập các tổ chức, phân công trách nhiệm các thành viên, tổ chức hoạt động, kiểm tra đôn đốc,…Nếu năng lực của cán bộ quản lý tốt, các hoạt động Xã hội hóa giáo dục trên sẽ lan tỏa đến thầy cô giáo, nhân viên, học sinh đến xã hội. Khi đó, hoạt động Xã hội hóa giáo dục của nhà trường sẽ được xã hội đồng thuận cao, hiệu quả hoạt động của Xã hội hóa giáo dục đem lại không nhỏ.

1.5.2.2. Giáo viên, nhân viên đối với hoạt động Xã hội hóa giáo dục

Giáo viên, nhân viên là những thành viên tích cực trực tiếp tham gia các hoạt động của hoạt động Xã hội hóa giáo dục. Họ là cầu nối giữa nhà trường với hội cha mẹ học sinh, giữa nhà trường với các đoàn thể xã hội. Thông qua hoạt động chủ nhiệm lớp, hoạt động dạy học, mối gắn kết của giáo viên và hội cha mẹ phụ huynh ngày càng chặt chẽ hơn trong việc giáo dục học sinh. Vì vậy, để hoạt động Xã hội hóa giáo dục có hiệu quả cao, không ngừng nâng cao nhận thức về Xã hội hóa giáo dục cho giáo viên, nhân viên là việc làm thường xuyên. Nếu tập thể giáo viên, nhân viên có nhận thức tốt, tham gia, đóng góp bằng sức lực và trí tuệ một cách tích cực vào các hoạt động Xã hội hóa giáo dục của nhà trường thì kết quả đạt được sẽ rất cao. Bên cạnh đó, nhà trường thường xuyên động viên, đánh giá khen thưởng kịp thời để hoạt động Xã hội hóa giáo dục được duy trì thường xuyên và có kết quả tốt.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Luận văn: Quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học.

Qua việc nghiên cứu cơ sở lý luận của hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại các trường TH chúng tôi nhận thấy rằng, Xã hội hóa giáo dục là việc tăng cường tính xã hội của giáo dục, gắn nhà trường với cộng đồng xã hội để phát huy tối đa vai trò và tạo điều kiện xã hội phát triển. Để đạt được mục tiêu của nó phải có sự quản lý của chủ thể quản lý. Nghĩa là phải có định hướng, có tổ chức của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm tạo ra sự phối hợp các lực lượng xã hội tham gia vào các hoạt động giáo dục của nhà trường trên địa bàn dân cư.

Thủ trưởng là người chịu trách nhiệm quản lý các hoạt động của đơn vị. Là người thực hiện các chủ trương về mục tiêu, dự án, kế hoạch và phương hướng phát triển của đơn vị. Giám sát việc thực hiện các quyết nghị của đơn vị. Xây dựng quy hoạch phát triển đơn vị. Quản lý nguồn lực, nhân lực của đơn vị. Trong hoạt động Xã hội hóa giáo dục toàn bộ trách nhiệm đặt trên vai thủ trưởng, là người đứng đầu, chịu trách nhiệm quản lý, điều hành mọi hoạt động quản lý của đơn vị. Muốn đạt được những yêu cầu đề ra, thủ trưởng phải có năng lực quản lý tốt các công việc, từ công tác chuyên môn đến nhân sự, tổ chức, tài chính … Chất lượng và hiệu quả giáo dục của các đơn vị là cái cơ bản nhất để tạo nên niềm tin của nhân dân, của các tổ chức đoàn thể đối với và thủ trưởng. Có như vậy, người đứng đầu cơ quan mới thành công trong hoạt động Xã hội hóa giáo dục.

Tóm lại, Xã hội hóa giáo dục là xu hướng phát triển tất yếu phù hợp quá trình Xã hội hóa, quốc tế hóa nền kinh tế, phù hợp với cơ cấu kinh tế nhiều thành phần vận động trong cơ chế thị trường theo định hướng Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Thực hiện Xã hội hóa giáo dục đảm bảo cho giáo dục thực sự là sự nghiệp của toàn dân, toàn xã hội, đảm bảo huy động mọi nguồn lực của xã hội để giáo dục nói chung, giáo dục TH nói riêng phát triển đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH đất nước. Luận văn: Quản lý hoạt động Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Thực trạng quản lý Xã hội hóa giáo dục tại tiểu học

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *