Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Biện pháp quản lý hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên ngành Giáo dục Mầm non – hệ Cao đẳng, Trường Đại học Đồng Nai dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nghị quyết 142 của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam, chỉ rõ mục tiêu giáo dục: “… Xây dựng cho được một đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật và quản lý kinh tế đông đảo vững mạnh, ngày càng hoàn chỉnh về trình độ và ngành nghề, vừa có phẩm chất chính trị tốt, tuyệt đối trung thành với Đảng, với giai cấp công nhân, với dân tộc, liên hệ chặt chẽ với công nông, vừa có trình độ khoa học kỹ thuật và nghiệp vụ giỏi, nắm vững những quy luật của tự nhiên và quy luật xã hội, có năng lực tổ chức và động viên quần chúng, đủ sức giải quyết những vấn đề khoa học, kỹ thuật và quản lý kinh tế do thực tế nước ta đề ra và có khả năng tiến kịp trình độ khoa học, kỹ thuật tiên tiến trên thế giới.”
Hiện nay, cuộc cách mạng khoa học công nghệ phát triển ngày càng nhanh, kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất. Trong bối cảnh đó, giáo dục đã trở thành nhân tố hàng đầu quyết định sự phát triển nhanh và bền vững của mỗi quốc gia trên thế giới, và Việt Nam cũng không nằm ngoài xu hướng chung đó. Đảng và Nhà nước đề ra chính sách giáo dục là những định hướng, những nguyên tắc cơ bản trong việc xác định mục đích, nhiệm vụ, đối tượng, phương pháp giáo dục và tổ chức hệ thống giáo dục, đào tạo phù hợp với yêu cầu và tình hình thực tế của đất nước. Trong quá trình thực hiện chính sách giáo dục trong giai đoạn hiện nay, bên cạnh những thành tựu đáng ghi nhận đã đạt được vẫn còn tồn tại nhiều khiếm khuyết, bất cập trong nền giáo dục cần được bổ sung, chỉnh sửa góp phần hoàn thiện chính sách giáo dục cũng như nền giáo dục trong thời gian tới.
Trường đại học sư phạm là một trong những cơ sở giáo dục chủ yếu góp phần mạnh mẽ vào việc xây dựng lực lượng lao động có trình độ cao và chất lượng cho xã hội, đó là nơi đào tạo ra những người thầy có trình độ chuyên môn và tư tưởng chính trị vững vàng, có nhân cách truyền thống kết hợp với hiện đại để dìu dắt thế hệ trẻ, đáp ứng phù hợp với sự phát triển của xã hội ngày nay.
Do vậy, người giáo viên do trường Đại học sư phạm đào tạo ra, là người trực tiếp nuôi và dạy trẻ chủ yếu trong thời gian ở trường, là người góp phần xây dựng nền móng, hình thành nhân cách cho trẻ, thì phải là người giáo dục giỏi. Bởi thế, việc nâng cao chất lượng đào tạo cho sinh viên (SV), trong đó đặc biệt là quá trình rèn luyện nghiệp vụ sư phạm (RLNVSP) là quá trình xuyên suốt trong chương trình đào tạo, SV được chuyển hóa những kiến thức tiếp thu được thành kỹ xảo, phẩm chất và năng lực nghề nghiệp, và trở thành nhà giáo dục (GD) giỏi, vững vàng, tự tin trong quá trình giáo dục, cũng như hình thành nhân cách cho học sinh… Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm trong nhà trường bao gồm: Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên (TX), và thực tập sư phạm (TTSP). Luận văn: Quản lý hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV.
RLNVSP thường xuyên là điều kiện nhằm gắn giữa lý luận và thực tiễn, thực hiện giữa học đi đôi với hành, giúp SV hình thành những kỹ năng cơ sở, tập luyện các thao tác cụ thể trong các phần học của quá trình dạy học và giáo dục.
TTSP là bước kế tục, phát triển và hoàn chỉnh kết quả của quá trình Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên nhằm giúp cho sinh viên hình thành năng lực sư phạm một cách toàn diện. Đây là giai đoạn quan trọng để người giáo viên tương lai hoàn thiện nghiệp vụ cả về chất và lượng, đó là các phương pháp sư phạm, tư duy sư phạm, lòng yêu nghề,… được thể hiện trong giai đoạn đào tạo cuối cùng của người SV trong trường đại học sư phạm.
Quá trình Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm là một quá trình liên tục, bao phủ toàn bộ chương trình đào tạo, giúp cho SV có những kỹ năng, kỹ xảo và chứng minh những điều đã học giữa lý thuyết và thực hành một cách liên tục và khoa học. Để Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV có hiệu quả cao, việc tổ chức, quản lý thực hiện phải khoa học.
Trong thời gian qua, đã có những đề tài, bài báo,… đã đề cập tới vấn đề Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm, nâng cao chất lượng Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm,… cho SV ở một số trường đại học, cao đẳng, nhưng chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ, toàn diện về vấn đề quản lý hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV ngành Giáo dục Mầm non ở các trường Đại học, trong đó có trường Đại học Đồng Nai.
Là giảng viên trực tiếp giảng dạy và hướng dẫn SV Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm, chúng tôi nhận thấy bên cạnh những kết quả đạt được trong quá trình Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm, vẫn còn bộc lộ những hạn chế cần phải khắc phục, đặc biệt là công tác quản lý. Do vậy, chúng tôi đã chọn đề tài: “Biện pháp quản lý hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên ngành Giáo dục Mầm non – hệ Cao đẳng, Trường Đại học Đồng Nai”.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu về lý luận, khảo sát và phân tích thực trạng về công tác quản lý hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV ngành Giáo dục Mầm non – hệ Cao đẳng, trường Đại học Đồng Nai, từ đó đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm nhằm nâng cao chất lượng đào tạo SV ngành Giáo dục Mầm non – hệ Cao đẳng của trường Đại học Đồng Nai.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
- Công tác quản lý hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên.
3.2. Đối tượng nghiên cứu Luận văn: Quản lý hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV.
- Biện pháp quản lý hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV ngành Giáo dục Mầm non -hệ Cao đẳng, trường Đại học Đồng Nai.
4. Giả thuyết khoa học
Hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của SV ngành Giáo dục Mầm non hệ Cao đẳng, trường Đại học Đồng Nai trong quá trình thực hiện đã đạt được kết quả nhất định nhưng vẫn còn một số hạn chế về tổ chức và quản lý. Do vậy, nếu xác lập và áp dụng các biện pháp quản lý một cách khoa học, phù hợp với thực trạng đã khảo sát thì công tác quản lý hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của SV ngành Giáo dục Mầm non, trường Đại học Đồng Nai có thể được nâng cao, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường trong thời gian tới.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của quản lý hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho
- Khảo sát, phân tích, đánh giá thực trạng quản lý hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV ngành Giáo dục Mầm non – hệ Cao đẳng, trường Đại học Đồng Nai.
- Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV ngành Giáo dục Mầm non – hệ Cao đẳng, trường Đại học Đồng Nai.
6. Phương pháp nghiên cứu
6.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát hóa,… các tài liệu, văn bản có liên quan,… nhằm xây dựng cơ sở lý luận của vấn đề quản lý hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của SV ngành giáo dục Mầm non – hệ Cao đẳng, trường Đại học Đồng Nai.
6.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp điều
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp phỏng vấn.
- Phương pháp lấy ý kiến chuyên
- Phương pháp thống kê toán học.
7. Phạm vi nghiên cứu Luận văn: Quản lý hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV.
7.1 Đối tượng nghiên cứu
Do thời gian có hạn, trong phạm vi của một luận văn Thạc sĩ, chúng tôi giới hạn nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của SV ngành Giáo dục Mầm non – hệ Cao đẳng, trường Đại học Đồng Nai.
Khảo sát hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên, Thực tập sư phạm của SV ngành Giáo dục Mầm non – hệ Cao đẳng sư phạm chính quy:
- Khảo sát SV năm thứ 2: năm học 2023 – 2026: 172 SV.
- Khảo sát SV năm thứ 3: năm học 2022 – 2025: 64 SV.
- Khảo sát Cán bộ quản lý: 12 người.
- Giảng viên khoa Tiểu học – Mầm non là: 17 người.
- Khảo sát giáo viên: 21 người. Cụ thể:
- Trường Mầm non Hoa Mai thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai: 7 người.
- Trường Mầm non Tân Phong, TP Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai: 7 người.
- Trường Mầm non An Bình thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai: 7 người. Tổng cộng các đối tượng được khảo sát là: 286 người.
7.2 Địa bàn và khách thể điều tra
- Cán bộ quản lý lãnh đạo trường Đại học Đồng
- CBQL, giảng viên tham gia giảng dạy tại khoa Tiểu học – Mầm non trường Đại học Đồng Nai.
- Sinh viên ngành Giáo dục Mầm non – hệ Cao đẳng, trường Đại học Đồng
- CBQL và giáo viên tại 3 trường mầm non có SV ngành Giáo dục Mầm non kiến tập và thực tập trong thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
8. Cấu trúc của luận văn: Gồm 3 phần chính:
- Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV
- Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV ngành Giáo dục Mầm non – hệ Cao đẳng, trường Đại học Đồng Nai.
- Chương 3: Các biện pháp quản lý hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV ngành Giáo dục Mầm non – hệ Cao đẳng, trường Đại học Đồng Nai.
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG RÈN LUYỆN NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM CHO SINH VIÊN NGÀNH GIÁO DỤC MẦM NON
1.1. Khái quát lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trong lịch sử tư tưởng, nhiều nhà triết học đã rất chú trọng đến việc gắn việc học tập với thực hành.
- Khổng Tử đã coi việc học là phải: Kết hợp học với hành, lý thuyết với thực tiễn [22, tr 25].
- Các Mác cho rằng: “Trong điều kiện xã hội bảo đảm cho con người phát triển toàn diện, hoạt động trí tuệ không bị tách biệt khỏi hoạt động thực tiễn. Tư duy của họ là một yếu tố tổ thành, tái hiện trong mức độ cần thiết trong cuộc đời trọn vẹn của các cá thể.” Luận văn: Quản lý hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV.
- Nhà giáo dục lỗi lạc A.S. Makarenko cho rằng: “Nếu bạn có những biểu hiện huy hoàng nổi bật trong công tác, trong hiểu biết và trong thành thực, lúc đó bạn sẽ thấy tất cả học sinh đều hướng về bạn. Trái lại, nếu bạn tỏ ra không có năng lực và tầm thường thì bất cứ bạn ôn tồn đến đâu, hiền lành đến đâu, bất cứ bạn săn sóc đến sinh hoạt và nghỉ ngơi của học sinh như thế nào, ngoài việc bị học sinh khinh thị ra, bạn vĩnh viễn không được gì cả.”. [18, tr. 11]
- Các nhà giáo dục lớn ở Việt Nam như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Đình Chiểu,… đã rất coi trọng việc gắn học với hành, “Học phải hành”. [22, tr. 88]
- Hồ Chí Minh đã từng dạy:
- “Trước học một đường, hành một nẻo, nay phải sửa chương trình làm sao để học thì hành được ngay”. “Học mà không hành thì học vô ích. Hành mà không học thì hành không trôi chảy”. [21, tr. 3]
- “ Lý luận cốt để áp dụng vào thực tế, lý luận mà không áp dụng vào thực tế là lý luận suông… Dù xem được hàng ngàn, hàng vạn quyển lý luận, nếu không biết mang ra thực hành thì khác nào một cái hòm đựng sách. [21, tr. 11]
- “Mỗi người học xong đại học, có thể gọi là có tri thức. Song y không biết cày ruộng, không biết làm cống, không biết đánh giặc, không biết làm nhiều việc khác. Nói tóm lại, công việc thực tế y không biết gì cả. Thế là y chỉ có tri thức một nửa. Tri thức của y là tri thức học sách, chưa phải là tri thức hoàn toàn. Y muốn thành một người tri thức hoàn toàn thì phải đem cái tri thức đó áp dụng vào thực tế”.
- Điều 35 của Luật Giáo dục khẳng định: “Đào tạo trình độ Cao đẳng giúp sinh viên có kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành cơ bản về một nghành nghề, có khả năng giải quyết các vấn đề thông thường thuộc chuyên nghành được đào tạo”. Để thực hiện mục tiêu đó thì: “Phương pháp giáo dục đại học phải coi trọng việc bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu, tạo điều kiện cho người học phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng”.
- Giải pháp phát triển giáo dục: “Thực hiện nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận gắn liền với thực tiễn…” [2, 111].
- Một số biện pháp đảm bảo chất lượng giáo dục: “Học sinh các trường phải nắm chắc và sử dụng các kiến thức, tay nghề và phần nào kỹ năng, kỹ xảo của các chương trình được học…” [7, tr. 265]
Trong những năm qua đã có một số công trình nghiên cứu và đề xuất một số các biện pháp để nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên. Trong các trường đại học sư phạm, hàng năm đều có tổng kết, đánh giá công tác đào tạo giáo viên về Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm, kiến tập, thực tập sư phạm để rút kinh nghiệm cho năm học kế tiếp.
Liên quan đến công tác quản lý hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV ngành Giáo dục Mầm non đã có một số tác giả với các đề tài sau đây: Luận văn: Quản lý hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV.
1). “Thực trạng công tác Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên ở trường cao đẳng Quảng Trị”. Khóa học 2017 – 2021 của Lê Thị Hiền khóa luận tốt nghiệp, khoa Tâm lý giáo dục trường Đại học sư phạm, Đại học Huế.
- “Quản lý hoạt động bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho đội ngũ giáo viên của hiệu trưởng các trường trung cấp chuyên nghiệp ở tỉnh Tiền Giang”. Luận văn Th.S Quản lý giáo dục của Nguyễn Văn Khởi, trường Đại học sư phạm, Đại học Huế, (2021).
- “Biện pháp quản lý hoạt động thực tập sư phạm của sinh viên trường Cao đẳng sư phạm Gia Lai”. Luận văn Th.S Quản lý giáo dục của Phạm Thị Lệ Thủy, trường Đại học Quy Nhơn, (2022).
- “Thực trạng và các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng công tác Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên trường Đại học sư phạm Đà Nẵng”. Luận văn Th.S Quản lý giáo dục của Đinh Xuân Lâm, trường Đại học sư phạm, Đại học Huế, (2022).
- “Thực trạng và biện pháp nâng cao chất lượng Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên ở các trường Đại học sư phạm miền Trung” của TS. Hồ Văn Liên. (Báo cáo tổng kết đề tài khoa học công nghệ cấp bộ trường Đại học sư phạm, Đại học Huế), (2012).
- “Biện pháp quản lý công tác rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên cho sinh viên ngành Giáo dục Mầm non trường Cao đẳng Bình Định” của Nguyễn Đăng Hải Chánh, (2023).
1.2. Các khái niệm cơ bản của đề tài Luận văn: Quản lý hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV.
1.2.1. Khái niệm quản lý
1.2.1.1 Quản lý
Quản lý theo Từ điển tiếng Việt của NXB Từ điển bách khoa 2023 là: “Trông coi xếp đặt công việc”.
- Có nhiều khái niệm khác nhau về quản lý. Dưới đây là một số quan niệm chủ yếu: [10, tr 7-8].
- Quản lý là những tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến đối tượng bị quản lý trong tổ chức để vận hành tổ chức, nhằm đạt đươc mục đích nhất định. Hoạt động có sự tác động qua lại giữa hệ thống và môi trường, do đó quản lý được hiểu là việc bảo đảm hoạt động của hệ thống trong điều kiện có sự biến đổi liên tục của hệ thống và môi trường,là chuyển động của hệ thống đến trạng thái mới thích ứng với hoàn cảnh mới.
- Quản lý là nhằm phối hợp nỗ lực của nhiều người, sao cho mục tiêu của từng cá nhân biến thành những thành tựu của xã hội.
- Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất.
- Quản lý là tác động có mục đích đến tập thể những con người để tổ chức và phối hợp hoạt động của họ trong quá trình lao động.
Các khái niệm trên đây tuy khác nhau song có chung dấu hiệu:
- Hoạt động quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay trong một nhóm xã hội.
- Hoạt động quản lý là những tác động có hướng đích.
- Hoạt động quản lý là những tác động phối hợp nỗ lực của các cá nhân nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức.
Tuy nhiên, theo nghĩa rộng: [7, tr. 12]:
- Quản lý là hoạt động có mục đích của con người.
- Cho đến nay nhiều người cho rằng: Quản lý chính là các hoạt động do một hay nhiều người điều phối hành động của nhiều người khác nhằm thu được kết quả mong muốn.
Như vậy, xét quản lý có tư cách là một hành động, có thể định nghĩa như sau: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra.
1.2.1.2 Quản lý giáo dục Luận văn: Quản lý hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV.
Nếu giáo dục là một hiện tượng xã hội, thì cũng thể nói như thế với quản lý giáo dục (QLGD).
- QLGD có nhiều quan niệm khác nhau, có nhiều cấp độ nhưng chủ yếu có 2 cấp độ cơ bản [10, tr 36, 37, 38]:
- Quản lý cấp vĩ mô: (một nền/hệ thống giáo dục): Quản lý giáo dục được hiểu một cách tự giác, (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến cơ sở giáo dục là nhà trường); giáo dục nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục.
- Quản lý cấp vi mô: (Quản lý một nhà trường): Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường.
Từ hai khái niệm trên ta thấy bốn yếu tố của Quản lý giáo dục: Chủ thể quản lý (QL), đối tượng QL, khách thể QL và mục tiêu QL. Chủ thể QL Đối tượng QL Mục tiêu QL Khách thể QL Bốn yếu tố trên không tách rời nhau mà có quan hệ tương tác gắn bó với nhau. “Chủ thể QL tạo ra những tác động lên đối tượng QL nơi tiếp nhận tác động của chủ thể QL và cùng chủ thể QL hoạt động theo một quỹ đạo nhằm thực hiện mục tiêu QL. Khách thể QL (môi trường) chịu tác động hoặc tác động trở lại hệ thống GD và hệ Quản lý giáo dục, nên chủ thể QL làm thế nào để khách thể Quản lý giáo dục là tích cực nhằm thực hiện mục tiêu chung”. [10, tr 36-37-38].
1.2.1.3 Quản lý nhà trường
Trên bình diện vi mô, Quản lý giáo dục trong phạm vi nhà trường có thể xem là đồng nghĩa với QL nhà trường.
Trường học là tổ chức giáo dục, là đơn vị cấu trúc cơ sở của hệ thống giáo dục quốc dân. Về bản chất, trường học là tổ chức mang tính nhà nước – xã hội – sư phạm thể hiện bản chất giai cấp, bản chất xã hội và bản chất sư phạm. Vậy:
“Quản lý trường học/Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh”. [8, tr.11].
1.2.2.Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm Luận văn: Quản lý hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV.
- Nghiệp vụ: Theo định nghĩa của Từ điển tiếng Việt 1992: Được hiểu là nghề chuyên môn, công việc chuyên môn của một nghề. [2, tr. 20].
- Sư phạm: Theo định nghĩa của Từ điển tiếng Việt 1992: Là khoa học về giảng dạy và giáo dục trong nhà trường. [2, tr. 34].
Đây là khuôn phép của nghề dạy học, nói đến sư phạm là nói đến giáo viên, học sinh và nhà trường, là những hoạt động đặc thù của một nghề đào tạo và giáo dục con người, là những yêu cầu, những quy định, quy tắc, chuẩn mực về công việc giảng dạy và giáo dục trong nhà trường.
Nghiệp vụ sư phạm:“Nghiệp vụ sư phạm” là công việc chuyên môn của nghề dạy học. Trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo, “NVSP là khoa học về công việc chuyên môn của nghề dạy học.” [11, tr.2]
Nghiệp vụ sư phạm không chỉ là một hệ thống kỹ năng mà bao gồm cả hệ thống tri thức và các phẩm chất nghề nghiệp mà một giáo viên cần phải có.
Như vậy, nghề dạy học trong tương lai của SV ở các trường sư phạm chỉ được hình thành khi SV được cung cấp đầy đủ hệ thống kiến thức khoa học cơ bản và kiến thức chuyên môn cần thiết, được chú trọng rèn luyện các kỹ năng cơ bản, năng lực thực hiện công tác chuyên môn và phẩm chất nghề nghiệp.
Vì vậy, các trường Sư phạm nói chung và các trường Đại học Sư phạm nói riêng coi Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm là một trong những nội dung cốt lõi của chương trình đào tạo giáo viên.
NVSP là sự thể hiện trình độ chuyên môn và tay nghề của người giáo viên trong hoạt động thực tiễn giáo dục theo yêu cầu của từng cấp học.
Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm. Theo Từ điển tiếng Việt: “Rèn luyện là tập cho quen” hoặc “Rèn luyện là dạy và tập cho nhiều để thành thông thạo”. [17, 655]
“Rèn luyện là luyện tập thường xuyên qua thực tế để thuần thục, vững vàng hơn”. [2, tr. 1402]
Vậy, “Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm” là tập làm công việc chuyên môn của nghề dạy học hay nói cách khác Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm là luyện tập thường xuyên qua thực tế để thuần thục công việc chuyên môn của nghề dạy học.
Quá trình đào tạo giáo viên trong nhà trường Sư phạm bao gồm 2 hoạt động cùng tồn tại và có quan hệ mật thiết với nhau, đó là học tập kiến thức chuyên môn và Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm.
Học tập kiến thức chuyên môn là quá trình SV tiếp thu hệ thống kiến thức về các môn khoa học cơ bản và các môn chuyên ngành làm cơ sở cho việc rèn luyện các kỹ năng, kỹ xảo trong quá trình học tập.
RLNVSP là quá trình giúp SV thực hành một cách có hệ thống những kỹ năng sư phạm trên cơ sở củng cố, mở rộng, đào sâu những tri thức về chuyên môn nghiệp vụ, nâng cao tinh thần trách nhiệm và bồi dưỡng tình cảm nghề nghiệp.
Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm là một hoạt động quan trọng nhằm hình thành tay nghề cho SV ở các trường sư phạm, gắn việc học tập kiến thức cơ bản với rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp.
1.2.3. Hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm
Hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm là toàn thể những việc làm của một tổ chức (Trường Đại học Sư phạm, phòng Đào tạo, Khoa), một cá nhân (SV), có liên quan với nhau để quy vào một mục đích chung đó là hình thành tay nghề cho SV ở các trường Sư phạm. Luận văn: Quản lý hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV.
Hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm là một hoạt động khá phức tạp, đòi hỏi người tiến hành phải có tri thức lý luận về chuyên môn nghiệp vụ, phải có sự nỗ lực luyện tập thường xuyên tại trường sư phạm và thực tế tại các cơ sở giáo dục để thực hiện tốt các nội dung đa dạng, phong phú trong hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm, đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp trong tương lai.
Như vậy: Hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm là một hoạt động cơ bản trong chương trình đào tạo nghề giáo viên. Hoạt động này nhằm giúp cho SV rèn luyện một cách có hệ thống những kỹ năng SP trên cơ sở củng cố, mở rộng và đào sâu những tri thức nghiệp vụ sư phạm, nâng cao tinh thần trách nhiệm, bồi dưỡng tình cảm nghề nghiệp. Chuẩn bị cho SV những điều kiện cần thiết về tâm lý, về những yếu tố sư phạm cần thiết để họ từng bước thích ứng với nghề nghiệp của mình. Bằng hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm, giảng viên giảng dạy cũng thể hiện được mối quan hệ chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn, học đi đôi với hành. [19, tr.15]
1.2.4. Quản lý hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm
Hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm là một hoạt động cơ bản, quan trọng trong các trường sư phạm nói chung và các trường Đại học Sư phạm nói riêng. Vì vậy, việc quản lý, tổ chức hoạt động này trong các trường Đại học Sư phạm là cần thiết và quan trọng. Từ sự phân tích các khái niệm quản lý, quản lý giáo dục, quản lý nhà trường, Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm, hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV. Có thể kết luận: Quản lý hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý, huy động các nguồn lực trong nhà trường và ngoài nhà trường nhằm hình thành phẩm chất và năng lực nghề nghiệp cho SV ngành Sư phạm.
Việc quản lý hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm trong các trường Sư phạm nói chung và các trường Đại học Sư phạm nói riêng theo Quyết định 58/2020/QĐ – TTg về Điều lệ trường Đại học bao gồm các cấp độ sau:
- Quản lý hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của Hiệu trưởng: “Tổ chức thực hiện các hoạt động đào tạo được quy định tại Chương III và chịu trách nhiệm về chất lượng đào tạo của nhà trường.” [3, điều 36, khoản 1]
- Quản lý hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của phòng Đào tạo là: “Tham mưu và giúp Hiệu trưởng trong việc quản lý, tổng hợp, đề xuất ý kiến, tổ chức thực hiện các mảng công việc chủ yếu của trường”. [3, điều 36]
- Quản lý hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của Khoa là: Xây dựng chương trình, kế hoạch giảng dạy, học tập và chủ trì tổ chức quá trình đào tạo một hoặc một số ngành; tổ chức quá trình đào tạo và các hoạt động giáo dục khác trong chương trình, kế hoạch giảng dạy chung của nhà trường; tổ chức biên soạn chương trình, giáo trình môn học do Hiệu trưởng giao; tổ chức nghiên cứu cải tiến phương pháp giảng dạy, học tập; đề xuất xây dựng kế hoạch bổ sung, bảo trì thiết bị dạy – học, thực hành, thực tập và thực nghiệm khoa học; quản lý chất lượng, nội dung, phương pháp đào tạo, kiểm tra, đánh giá. [3, điều 41] Luận văn: Quản lý hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV.
- Quản lý hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của Tổ bộ môn là: Xây dựng và hoàn thiện nội dung, chương trình, biên soạn giáo trình, tài liệu tham khảo liên quan đến chuyên ngành đào tạo và môn học được Khoa và Trường giao; nghiên cứu cải tiến phương pháp giảng dạy, kiểm tra, đánh giá, tổ chức các hoạt động học thuật nhằm nâng cao chất lượng đào tạo. [3, điều 42, khoản 2]
Như vậy, quản lý hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm trong trường ĐHSP thuộc trách nhiệm của nhiều cấp khác nhau, mỗi cấp có nhiệm vụ cụ thể, đứng đầu là Hiệu trưởng của trường, sau là cấp quản lý trực tiếp thuộc khoa chuyên ngành đào tạo. Trong đề tài này, chúng tôi tập trung nghiên cứu việc quản lý hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thuộc phạm vi Khoa Tiểu học – Mầm non, Trường Đại học sư phạm Đồng Nai.
1.2.5. Quản lý rèn luyện kỹ năng sư phạm
- “Kỹ năng là khả năng ứng dụng tri thức khoa học vào thực tiễn”. [16, 448]
Kỹ năng là năng lực vận dụng có kết quả những tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng. Ở mức độ kỹ năng, công việc hoàn thành trong điều kiện hoàn cảnh không thay đổi, chất lượng chưa cao, thao tác chưa thuần thục và còn phải tập trung chú ý căng thẳng. Kỹ năng được hình thành qua tập luyện. [18, tr. 242] KNSP là khả năng thực hiện có hiệu quả một số thao tác hay một loạt các thao tác phức tạp của một hành động sư phạm bằng cách chọn lọc và vận dụng tri thức, những cách thức, những quy trình đúng đắn. Kỹ năng sư phạm còn có thể được hiểu là sự vận dụng các tri thức đã lĩnh hội được để giải quyết có hiệu quả một số thao tác hay một loạt các thao tác phức tạp của hoạt động sư phạm (dạy học, soạn bài, giảng dạy, kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học, chỉ đạo hoạt động sư phạm khác…). [ 8, tr. 10] [1, tr. 21]
Kỹ xảo là tập hợp các động tác thuần thục, có tính tự động hóa cao, vượt ra ngoài kiểm soát thường xuyên của ý thức. Kỹ xảo có độ chính xác và tính hiệu quả cao, tiết kiệm năng lượng và khả năng rút gọn tối đa các động tác. [22, tr. 242].
- Kỹ năng nghề nghiệp Luận văn: Quản lý hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV.
Kỹ năng nghề nghiệp là sự thể hiện khả năng vận dụng tri thức khoa học cơ bản để giải quyết các hiện tượng xảy ra trong thực tiễn giáo dục.
Kỹ năng nghề nghiệp thể hiện ở các mức độ:
- Kỹ năng nghề nghiệp cơ bản.
- Kỹ năng nghề nghiệp phức tạp.
- Kỹ xảo nghề nghiệp.
Quá trình hình thành kỹ năng nghề nghiệp được chia thành hai bước: một là, phải nắm vững các tri thức cơ bản về nghề nghiệp; hai là phải thực hiện các kỹ năng nghề nghiệp trên cơ sở ứng dụng các tri thức cơ bản. Dạy học là một nghề phức tạp. Vì vậy, để giúp SV đạt được những yêu cầu về kỹ năng nghề nghiệp, trong quá trình đào tạo, cần chú trọng Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV. [22, tr.17]
1.3. Hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên ngành Giáo dục Mầm non trong quá trình đào tạo ở trường đại học Luận văn: Quản lý hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV.
1.3.1. Vị trí, vai trò của rèn luyện nghiệp vụ sư phạm trong quá trình đào tạo giáo viên ở các trường đại học sư phạm. [19, tr.18]
ĐHSP là một trường đào tạo nghề đặc biệt – nghề dạy học. Năng lực sư phạm của mỗi SV có được chính là do kết quả của sự Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm mà nên. Bởi vậy, phải đổi mới và xem việc Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm là nét đặc thù, là hoạt động cơ bản để rèn luyện tay nghề cho SV.
Ph.Ăngghen đã chỉ ra vai trò của lao động và ngôn ngữ đối với sự hình thành con người: “Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của toàn bộ đời sống con người. Và vì thế đến một mức mà trên một ý nghĩa nào đó, chúng ta phải nói: lao động sáng tạo ra bản thân con người”. [2, tr.17]. Hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm là một dạng lao động cơ bản của SV, là một bộ phận nòng cốt trong quá trình rèn luyện tay nghề cho SV.
RLNVSP là quá trình giúp SV gắn việc học tập với thực hành, luyện tập, vận dụng kiến thức đã học về mặt lý thuyết vào thực tiễn. Các trường đại học đào tạo nghề sư phạm tổ chức tốt các họat động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV nói chung là đã thực hiện tốt nguyên tắc giáo dục cơ bản: “Học đi đôi với hành, lý luận liên hệ với thực tiễn, với lao động sản xuất”. [22, tr. 102]
RLNVSP góp phần quan trọng vào sự hình thành và phát triển năng lực sư phạm cho SV. Bởi vì, năng lực sư phạm không thể hình thành trong một sớm một chiều mà là kết quả của quá trình rèn luyện thường xuyên, liên tục, kiên trì dưới sự tổ chức, hướng dẫn có kế hoạch của tập thể giảng viên. Nhà giáo dục lỗi lạc A.S. Makarenkô đã nói: “Nếu bạn có những biểu hiện huy hoàng nổi bật trong công tác, trong hiểu biết và trong thành thực; lúc đó bạn sẽ thấy tất cả mọi học sinh đều hướng về phía bạn. Trái lại, nếu bạn tỏ ra không có năng lực và tầm thường thì bất cứ bạn ôn tồn đến đâu, hiền lành đến đâu, bất cứ bạn săn sóc đến sinh hoạt và nghỉ ngơi của học sinh như thế nào, ngoài việc bị học sinh khinh thị ra, bạn vĩnh viễn không được cái gì cả”. [18, tr. 11]
RLNVSP là một hoạt động cơ bản trong chương trình đào tạo giáo viên ở các trường sư phạm nói chung và trường đại học sư phạm nói riêng. Hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm có ý nghĩa quyết định trong việc hình thành phẩm chất, năng lực nghề nghiệp trong tương lai cho SV ngành sư phạm. Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm là môi trường cho SV thể hiện năng lực thực tiễn của mình, năng lực này được hình thành và phát triển trên cơ sở rèn luyện các yếu tố kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp theo các yêu cầu chuẩn nghề nghiệp đã đặt ra.
1.3.2. Ý nghĩa của công tác rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên trong quá trình đào tạo ở trường đại học Luận văn: Quản lý hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV.
Trong công tác đào tạo của bất kỳ nghề nào cũng phải quan tâm đến việc rèn luyện tay nghề cho người học sao cho thuần thục, đặc biệt là nghề dạy học, thì càng phải đòi hỏi người giáo viên phải có tay nghề chất lượng và vững vàng thì mới đáp ứng được yêu cầu của xã hội. Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã nói: “Nghề dạy học là nghề cao quý nhất bậc nhất trong các nghề cao quý của xã hội xã hội chủ nghĩa. Các nghề trong xã hội ta đều sáng tạo những giá trị vật chất và tinh thần,… nghề dạy học là nghề sáng tạo bậc nhất vì nó sáng tạo ra những con người sáng tạo.” Do vậy, việc Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV ngành Giáo dục Mầm non góp phần vào sự hình thành và phát triển năng lực sư phạm là yếu tố không thể thiếu được của người thầy giáo. Vì năng lực sư phạm không thể một sớm, một chiều mà có ngay được mà phải thông qua Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm.
RLNVSP là chiếc cầu nối giữa lý luận và thực tiễn, SV mang những hiểu biết về lý luận áp dụng vào thực tiễn nhằm phát triển năng lực SP của bản thân. Từ đây, mới nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho SV – Người giáo viên tương lai của xã hội, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH – HĐH đất nước.
Quá trình hình thành và phát triển nhân cách của một con người có nhiều nhân tố tham Đó là: nhân tố di truyền, môi trường, giáo dục, và hoạt động của cá nhân. Trong đó giáo dục chiếm vai trò chủ đạo. Như vậy, hoạt động của cá nhân là nhân tố không thể thiếu trong sự hình thành và phát triển nhân cách. Bản thân họ có tinh thần tự giác, chủ động tìm kiếm các hoạt động hàm chứa nội dung Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm, quyết tâm vượt qua khó khăn, trở ngại để hoàn thành các công việc liên quan tới Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm.
Quá trình Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm tạo điều kiện cho SV vận dụng mọi tố chất cơ thể hoạt động: các giác quan, thị giác, cơ tay, chân,… và các giác quan phải phối hợp với nhau để hình thành nên các kỹ năng, kỹ xảo dạy học, giáo dục và tổ chức các hoạt động nội và ngoại khóa trong và ngoài nhà trường. Càng hoạt động bao nhiêu thì các tố chất cần thiết được phát triển,… tay nghề càng tốt, vững vàng thuần thục bấy nhiêu.
Ngoài ra, chương trình Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm giúp cho chương trình đào tạo giáo viên ngày càng hoàn chỉnh và có chất lượng hơn. Trong những năm trước đây, giáo dục của chúng ta còn nặng về lý luận, coi nhẹ phần Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV, chưa đảm bảo được sự cân đối về việc “dạy chữ” và “dạy nghề” nên SV ra trường còn nhiều yếu kém trong chuyên môn nghiệp vụ. Luận văn: Quản lý hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV.
Thế giới có nhiều biến động về mọi mặt theo sự phát triển của xã hội, khoa học công nghệ phát triển như vũ bão. Việt Nam không nằm ngoài sự phát triển ấy, do chúng ta với xu thế hội nhập quốc tế, nền kinh tế cơ chế thị trường, theo định hướng Xã hội chủ nghĩa, nên việc CNH – HĐH đất nước đang trở nên sôi động và cấp bách trong giai đoạn hiện nay. Do vậy, cần phải có lực lượng lao động có trình độ và chất lượng để đáp ứng nhu cầu của đất nước. Cụ thể đối với người thầy, phải là những người không những có trình độ và sự hiểu biết cao và sâu rộng, mà phải có tay nghề vững vàng về các kỹ năng sư phạm để dạy thế hệ trẻ phù hợp với yêu cầu của xã hội hiện nay.
1.3.3 Nội dung công tác rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên trường đại học
- Tri thức
Để thực hiện có hiệu quả các chức năng giáo dục, người thầy trước tiên phải có lý luận sâu sắc về chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về quan điểm đường lối của Đảng và Nhà nước, về hoạt động sư phạm. Điều này đặc biệt cần thiết cho thế hệ trẻ, thế hệ tương lai của đất nước.
Người thầy giáo phải nắm vững kiến thức, nắm vững lý luận của quá trình giáo dục. Đồng thời phải xây dựng niềm tin trên cơ sở những kiến thức này. Tri thức của người thầy phải mang tính khoa học, hiện đại, sâu rộng, toàn diện nhằm đáp ứng sự đổi mới của nhà trường hiện nay chuyên môn.
Tri thức chuyên ngành đóng vai trò nền tảng, giúp người thầy làm tốt công tác chuyên môn. Đây là điều kiện góp phần nâng cao chất lượng giảng dạy bộ môn.
Tri thức các môn khoa học giáo dục: Tâm lý học (TLH), Giáo dục học (GDH), Phương pháp giáo dục (PPGD) bộ môn, là những tri thức công cụ cho quá trình Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của SV.
TLH: Cung cấp cho SV những tri thức hiểu biết cơ bản về tâm lý người, nhất là tâm lý trẻ. Giúp cho SV hiểu được đời sống trẻ em để có biện pháp giáo dục, hình thành và rèn luyện cho trẻ những kỹ năng giao tiếp và tổ chức các hoạt động dạy và hoạt động học tốt hơn.
GDH: SV hiểu được quan điểm, đường lối chủ trương của Đảng về giáo dục, hiểu được mục đích, nhiệm vụ, các con đường giáo dục, hiểu được những vấn đề cơ bản của lý luận giáo dục và dạy học (DH)… Trên cơ sở đó, SV tổ chức quá trình dạy học và giáo dục có hiệu quả giúp SV có những tri thức, kỹ năng, phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục.
Phương pháp giáo dục (PPGD) bộ môn: SV hiểu được cách thức tổ chức quá trình dạy học bộ môn. Giúp SV nắm vững những đặc trưng của việc dạy học bộ môn, mục đích, nhiệm vụ, nội dung, PPDH bộ môn, lập kế hoạch dạy học, tiến hành dạy học, tổ chức hoạt động học tập cho học sinh. [8, tr. 10] Luận văn: Quản lý hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV.
- Các nhóm Kỹ năng sư phạm:
Nhóm kỹ năng thiết kế: Hoạch định xây dựng kế hoạch dạy học và giáo dục, soạn giao án và tóm tắt tài liệu, xây dựng đề cương, lựa chọn các phương pháp (PP), phương tiện kỹ thuật dạy học và giáo dục…
Nhóm kỹ năng triển khai hoạt động dạy học và giáo dục: Viết, vẽ, trình bày bảng, biểu đồ, sơ đồ, tranh ảnh, diễn đạt, thể hiện giao án, sử dụng các PP và phương tiện kỹ thuật dạy học và giáo dục, kiểm tra, đánh giá….
Nhóm kỹ năng giao tiếp: Định hướng giao tiếp, làm chủ trạng thái, xúc cảm, sử dụng có nghệ thuật ngôn ngữ nói và viết, kỹ năng giao tiếp phi ngôn ngữ…
Nhóm kỹ năng tự học và tự nghiên cứu khoa học và giáo dục: Xác định vấn đề, mục tiêu, lựa chọn, tài liệu, lập đề cương, xây dựng kế hoạch, nhận xét, đánh giá…
Nhóm kỹ năng hoạt động xã hội: Kỹ năng tổ chức và kỹ năng sử dụng hệ thống và phương pháp tuyên truyền, vận động học sinh và nhân dân.
Các kỹ năng sư phạm của người giáo viên thể hiện tập trung ở nhóm kỹ năng triển khai hoạt động dạy học và giáo dục.
- Trong đó:
Kỹ năng giảng dạy:
- Chuẩn bị bài lên lớp là công việc quan trọng của người giáo viên nhằm thực hiện việc giảng dạy và học tập có kết quả. Chuẩn bị bài lên lớp thể hiện việc soạn giao án và chuẩn bị các phương tiện kỹ thuật, trực quan cho việc dạy và học.
- Tổ chức thực hiện bài trên lớp.
- Các kỹ năng phân tích và đánh giá kết quả dạy học.
Kỹ năng giáo dục:
- Kỹ năng tìm hiểu và nắm vững đối tượng giáo dục.
- Các kỹ năng xây dựng tập thể lớp thành tập thể lớp vững mạnh.
- Các kỹ năng tổ chức các hoạt động giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức và pháp luật.
- Kỹ năng tổ chức hoạt động nâng cao chất lượng học tập văn hóa cho học sinh.
- Kỹ năng tổ chức các hoạt động giáo dục lao động.
- Kỹ năng tổ chức hoạt động tập thể, vui chơi, giải trí, rèn luyện thể lực bảo vệ sức khỏe.
- Kỹ năng phối hợp công tác và giúp đỡ các tổ chức tự quản của học sinh hoạt động tốt.
- Kỹ năng phối hợp với giáo viên bộ môn để giáo dục học sinh.
- Kỹ năng phối hợp với phụ huynh học sinh và các lực lượng giáo dục ở địa phương để giáo dục học sinh.
Trong quá trình học tập ở trường sư phạm, SV thường gặp khó khăn trong việc vận dụng các kiến thức chuyên môn vào thực tiễn giáo dục. Để khắc phục, cần phải rèn luyện những kỹ năng, kỹ xảo, một cách thường xuyên và có hệ thống. Những kỹ năng, kỹ xảo đó được hình thành, củng cố trong quá trình hoạt động thực tiễn của sinh viên ở trường sư phạm, qua các đợt Thực tập sư phạm và cả trong quá trình dạy học sau này. Luận văn: Quản lý hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV.
Quá trình hình thành kỹ năng, kỹ xảo chỉ diễn ra trong quá trình hoạt động. Điều đó nói lên rằng muốn hình thành và củng cố kỹ năng, kỹ xảo phải dày công luyện tập liên tục.
- Nâng cao năng lực SP cho SV:
Lao động sư phạm là một lao động nghề nghiệp đặc thù. Muốn hoàn thành chức năng của mình, người giáo viên phải có năng lực sư phạm (NLSP). Năng lực sư phạm là khả năng thực hiện các hoạt động giáo dục, dạy học với chất lượng cao.
NLSP là tổ hợp của một hệ thống các tri thức và kỹ năng, hệ thống các kiến thức về môn học, về hoạt động giáo dục và dạy học, kiến thức công cụ mà SV phải nắm. Năng lực cho phép người ta giải quyết có hiệu quả các thông điệp một cách mềm dẻo, linh hoạt trong những trường hợp cụ thể kể cả những xu hướng nghề nghiệp sư phạm tích cực gồm:
- Khả năng định hướng, hướng dẫn, tổ chức, điều khiển, điều chỉnh, vận động, cổ vũ cho người học và quá trình học tập, rèn luyện của người học.
- Khả năng truyền đạt, sử dụng ngôn ngữ, quan sát, phán đoán, đánh giá…
- Khả năng giao tiếp, kiềm chế, tự chủ, ứng xử sư phạm…
- Yêu nghề, có hứng thú giảng dạy và giáo dục cho học sinh, tích cực cải tiến, đổi mới hoạt động dạy học…
Do vậy, việc Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm là quá trình thường xuyên liên tục cho SV phải hướng tới hình thành năng lực sư phạm. Muốn hình thành năng lực sư phạm phải thông qua Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cụ thể. [8, tr. 12]
1.3.4. Hình thức Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV ngành Giáo dục Mầm non, hệ Cao đẳng của trường Đại học
Quá trình Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm bắt đầu từ năm thứ I kéo dài liên tục cho đến hết năm thứ III của quá trình đào tạo hệ Cao đẳng. Có 3 hình thức cơ bản: Luận văn: Quản lý hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV.
- RLNVSP: Là thực hành TLH, GDH, và thực hành GD bộ môn, ngoại khóa tại trường và tại cơ sở thực hành.
- Hội thi nghiệp vụ SP các cấp.
- TTSP đợt 1 (KTSP): Quan sát, dự giờ và tham gia tập dạy tại trường.
- TTSP đợt 2: Dự giờ và luyện tập giảng dạy và làm các công việc có liên quan phục vụ cho giảng dạy, chủ nhiệm…
Các hình thức này có mối quan hệ chặt chẽ, thống nhất và biện chứng với nhau trong quá trình đào tạo tạo nên một chỉnh thể thống nhất góp phần nâng cao chất lượng đào tạo người giáo viên trong giai đoạn hiện nay.
1.3.5. Đặc trưng về Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của ngành Giáo dục Mầm non
RLNVSP là một khâu quan trọng trong công tác đào tạo giáo viên mầm non quyết định đến chất lượng “tay nghề” cho người giáo viên mầm non trong tương lai.
Vì vậy, các hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cần đạt được ba yếu tố cơ bản:
Về kiến thức:
- Nắm vững hệ thống tri thức khoa học cơ bản ở trình độ Cao đẳng ngành Giáo dục Mầm non.
- Hiểu biết và vận dụng có hiệu quả các kiến thức khoa học vào việc tổ chức quản lý, chăm sóc và giáo dục trẻ theo mục tiêu giáo dục Mầm non.
- Có kiến thức sâu rộng về các lĩnh vực liên quan đến ngành đào tạo như: TLH và giáo dục học Mầm non, phương pháp tổ chức hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ mầm non, phương pháp nghiên cứu khoa học Giáo dục Mầm non và quản lý Giáo dục Mầm non.
Về kỹ năng:
- Có khả năng vận dụng kiến thức cơ bản về chăm sóc sức khỏe trẻ lứa tuổi mầm non để lên kế hoạch, tổ chức các hình thức chăm sóc sức khỏe trẻ mầm non.
- Có khả năng vận dụng tích hợp những kiến thức chuyên sâu về tâm lý lứa tuổi, giáo dục học mầm non; đảm nhận công tác tổ chức, lập kế hoạch và tiến hành các hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ lứa tuổi mầm non.
- Có khả năng tổ chức các hoạt động chăm sóc trẻ mầm non như: vệ sinh cho trẻ và vệ sinh môi trường sinh hoạt, học tập của trẻ, tổ chức chế độ dinh dưỡng, rèn luyện thể chất, phát hiện và xử lý sơ cứu một số vấn đề về sức khoẻ, phòng chống bệnh cho trẻ…
- Có khả năng tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ như: hoạt động lễ hội, hoạt động cho trẻ làm quen với các hoạt động giáo dục; làm quen với tác phẩm văn học, hoạt động phát triển ngôn ngữ, hoạt động giúp trẻ làm quen với môi trường xung quanh, hình thành biểu tượng toán cho trẻ mầm non, hoạt động âm nhạc, hoạt động tạo hình, hoạt động giáo dục thể chất…
- Có khả năng áp dụng, khai thác kiến thức Ngoại ngữ và Tin học để có thể nhận biết, vận hành sử dụng một số phương tiện nghe nhìn trong giáo dục mầm
- Có khả năng phân biệt, khai thác những hiểu biết cơ bản về khoa học giáo dục, như TLH, GDH, phương pháp dạy học để có thể kiểm tra, đánh giá kết quả, quản lý quá trình chăm sóc và giáo dục trẻ lứa tuổi Mầm non.
- Có khả năng áp dụng, liên kết những kiến thức cơ sở về giáo dục Mầm non và phương pháp giảng dạy tất cả các môn học, các hoạt động giáo dục ở chương trình bậc học mầm non.
- Thể hiện được khả năng giao tiếp ứng xử với trẻ, đồng nghiệp, phụ huynh và cộng đồng.
- Có khả năng vận dụng, khai thác những kiến thức chuyên sâu về giáo dục Mầm non và thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học giáo dục. Luận văn: Quản lý hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV.
- Có khả năng tổ chức quản lý giáo dục Mầm
Về thái độ:
- Nhận biết được nhu cầu học tập suốt đời, tích cực nghiên cứu học tập, Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm theo chuẩn nghề nghiệp giáo viên Mầm non.
- Tuân thủ tổ chức kỷ luật, tu dưỡng phẩm chất đạo đức nhà giáo, có trách nhiệm nghề nghiệp, kể cả trách nhiệm với người sử dụng lao động và trách nhiệm đối với xã hội.
- Có lòng yêu nghề, yêu trẻ em, tận tụy với công việc, sẵn sàng phục vụ đất nước, nhân dân.
- Trân trọng, gìn giữ, phát huy bản sắc văn hoá của dân tộc. [19, 22]
Hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV ngành Giáo dục Mầm non cần hướng tới việc rèn luyện những kỹ năng sư phạm (KNSP) cơ bản sau:
- Kỹ năng thiết kế hoạt động giáo dục và dạy học (xây dựng kế hoạch một hoạt động giáo dục cụ thể, soạn giáo án tiết dạy…).
- Kỹ năng thực hiện hoạt động giáo dục và dạy học.
- Kỹ năng đánh giá kết quả thực hiện hoạt động giáo dục và dạy học.
Hệ thống các kỹ năng kể trên sẽ được hình thành ở SV một cách tổng hợp trong quá trình thực hiện các hoạt động chăm sóc – giáo dục trẻ ở trường mầm non, bao gồm: hoạt động với đồ vật, hoạt động vui chơi, hoạt động học tập với các tiết học thuộc các môn học khác nhau, như: trẻ làm quen với toán, với môi trường xung quanh, với các tác phẩm văn học… Các đặc điểm, cấu trúc của các hoạt động này luôn là cơ sở để xây dựng tiêu chí xác định những kỹ năng sư phạm cơ bản và đánh giá việc thực hiện chúng.
Quy trình Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV ngành Giáo dục Mầm non là trình tự cấu trúc các bước, các khâu nhằm hình thành những kỹ năng giảng dạy và giáo dục cho SV. Quy trình này cần đảm bảo sự thống nhất với các tri thức về lý luận dạy học và phương pháp dạy học bộ môn, SV cần nắm được các tri thức về lý luận dạy học mầm non, về phương pháp dạy học bộ môn trước khi khi thực tập các hoạt động chăm sóc – giáo dục trẻ. Trong quy trình cần cụ thể hóa các kỹ năng tổ chức, hướng dẫn các hoạt động chăm sóc – giáo dục trẻ. Trên cơ sở đó đưa ra các mục tiêu luyện tập và quy trình luyện tập chúng, sao cho trong đó tạo ra sự tích cực hóa các hành động vận dụng tri thức của SV trong sự thống nhất với các hoạt động chỉ đạo của giáo viên hướng dẫn. Hơn nữa, trong quy trình cần nêu rõ chuẩn của các kỹ năng, của quá trình luyện tập, đó là cơ sở để thống nhất việc hướng dẫn, kiểm tra, đánh giá từng kỹ năng và toàn bộ quá trình Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm một cách chính xác và khách quan.
1.3.6. Quy trình tổng quát Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV ngành Giáo dục Mầm non Luận văn: Quản lý hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV.
Bước 1: Nhận thức hoạt động giáo dục hay dạy học sẽ thực hiện, nghiên cứu sách giáo khoa, tài liệu tham khảo. Ở bước này, SV cần đọc các sách có tính định hướng cho việc tiến hành các hoạt động mà mình cần thực hiện nhằm:
- Xác định vị trí của hoạt động giáo dục hay dạy học trong chương trình, trong mối liên hệ với các hoạt động trước và sau nó.
- Xác định mục đích, nhiệm vụ, yêu cầu của hoạt động, các kiến thức trọng tâm và các kiến thức kết hợp.
- Dự kiến các đồ dùng dạy học, chỗ học, cách bố trí trẻ và đồ dùng cần sử dụng để thực hiện nhiệm vụ, yêu cầu của hoạt động.
- Bước đầu đưa ra dự kiến quy trình các bước thực hiện hoạt động.
- Dự kiến sơ bộ các phương pháp, biện pháp, thủ thuật dạy trẻ.
- Xác định những vấn đề cần trao đổi với các bạn trong nhóm, với giáo viên bộ môn hoặc giáo viên hướng dẫn.
Bước 2: Kiến tập hoạt động giáo dục hay dạy học mẫu. Bước này gồm 2 khâu sau:
Dự hoạt động mẫu và ghi biên bản. SV tiến hành phân tích hoạt động mẫu. Gồm:
- Xác định mục đích dự giờ nhằm phân tích hoạt động giáo dục hay dạy học đã thực hiện về mặt lý luận và phương pháp dạy trẻ về các nội dung thuộc các lĩnh vực kiến thức giáo dục và dạy học khác nhau.
- Ghi chép đầy đủ mọi diễn biến, hành động thực hiện hoạt động giáo dục hay dạy học của cô và hoạt động trên lớp của trẻ theo tiến trình thời gian.
- Ghi lại những điểm được, chưa được của bài dạy, các nhận xét, đánh giá sơ bộ của từng thao tác, hoạt động của giáo viên khi tiến hành hoạt động.
Phân tích và rút kinh nghiệm hoạt động mẫu. Ở bước này cần dạy cho SV cách thức nhận xét hoạt động mẫu về mặt lý luận dạy học và giáo dục Mầm non, PPDH bộ môn, qua đó hình thành cho SV những kỹ năng phân tích. Gồm:
GV mầm non hay giáo sinh thực tập dạy mẫu tự phân tích hoạt động giáo dục hay dạy học của mình theo những tiêu chí sau:
- Nêu mục đích, yêu cầu, nội dung của hoạt động.
- Nêu đặc điểm trẻ trong lớp mình dạy, đặc điểm và cấu trúc của hoạt động giáo dục hay dạy học của mình.
- Nêu quy trình các bước lên lớp mà mình đã tiến hành và kết quả thu được.
- Tự phân tích và nhận xét về việc phối hợp sử dụng các phương pháp, biện pháp dạy học, giáo dục và kết quả thu được.
- Đánh giá kết quả về hứng thú của trẻ trên tiết học, mức độ tự lực của trẻ khi thực hiện các nhiệm vụ học tập và việc nắm kiến thức, kỹ năng của trẻ. Luận văn: Quản lý hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV.
- Những kinh nghiệm, đề nghị cải tiến khi thực hiện hoạt động giáo dục hay dạy học tiếp sau…
SV tiến hành thảo luận: trao đổi, phân tích, nhận xét việc thực hiện hoạt động giáo dục hay dạy học trên cơ sở phân tích, đối chiếu những ghi chép của mình với những gì đã học về lý luận và kinh nghiệm thực tiễn thu được.
Ghi chép biên bản thảo luận và đưa ra những kết luận đánh giá, rút ra những ưu nhược điểm và kinh nghiệm giờ dự. Biên bản rút kinh nghiệm giờ dự dành cho SV ngành Giáo dục Mầm non được cụ thể hóa theo từng hoạt động chăm sóc – giáo dục trẻ mầm non như: hoạt động với đồ vật, hoạt động vui chơi; tổ chức thực hiện chế độ sinh hoạt một ngày cho trẻ, từng hoạt động học về các lĩnh vực kiến thức khác nhau như: làm quen trẻ với toán, với môi trường xung quanh, với các tác phẩm văn học, giáo dục âm nhạc, tạo hình, thể chất cho trẻ…
Bước 3: Chuẩn bị thực hiện hoạt động. Đây là khâu thiết kế hoạt động theo yêu cầu (soạn giáo án), chuẩn bị đồ dùng. Việc soạn giáo án bao gồm các việc làm sau:
- Xác định mục đích, yêu cầu của một cách chính xác và cụ thể.
- Xác định các nhiệm vụ trọng tâm của hoạt động giáo dục hay dạy học và các nhiệm vụ kết hợp khác.
- Dự kiến phân chia các đơn vị kiến thức cụ thể, phối hợp sử dụng các PP, phương tiện truyền đạt kiến thức và hình thành kỹ năng mới cho trẻ.
- Dự kiến quy trình các bước lên lớp và phân bố thời gian hợp lý giữa các bước đó cũng như sự chuyển từ bước này tới bước khác của hoạt động.
Thiết kế những hoạt động, hành động, thao tác của giáo viên và của trẻ cần thực hiện trên hoạt động giáo dục hay dạy học trẻ. Dự kiến những khó khăn mà trẻ thường gặp, các tình huống sư phạm dễ xảy ra khi trẻ học những nội dung này. Dự kiến cách xử lý chúng.
- Dự kiến mức độ nắm kiến thức, kỹ năng của trẻ.
- Viết giáo án chi tiết.
Bước 4: Duyệt giáo án:
- Nộp giáo án cho giáo viên bộ môn hoặc giáo viên hướng dẫn.
- Giáo viên trao đổi với SV những ý kiến, nhận xét, lời yêu cầu, những chỗ cần chỉnh sửa.
- SV đọc kỹ lại, sửa chữa, soạn lại nếu cần. Luận văn: Quản lý hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV.
- Chuẩn bị các phương tiện vật chất để thực hiện hoạt động dạy học hay giáo dục trẻ (diện tích, không gian học, các loại dụng cụ, đồ đùng dành cho giáo viên và cho trẻ…).
- Bước Luyện tập thực hiện hoạt động dạy học hay giáo dục trẻ.
Luyện tập có thể tiến hành ở nhóm trên lớp học với các điều kiện như thật về thời gian, không gian, đồ dùng, các tình huống có thể và SV đóng vai trẻ,… cũng có thể tiến hành với trẻ tại trường Mầm non. Giáo viên và SV cùng dự bài giảng tập của SV. Ghi chép cẩn thận, chi tiết bài giảng tập để rút kinh nghiệm.
- Rút kinh nghiệm bài giảng tập:
Người dạy trình bày những dự kiến về mục đích, yêu cầu, nội dung cơ bản, các PPDH chính, cách thức tổ chức các hoạt động của cô và trẻ nhằm thực hiện mục đích yêu cầu đề ra. Người dạy tự nhận xét những ưu và nhược điểm hoạt động luyện tập của mình.
Người dự (cả lớp, cả nhóm) tiến hành phân tích, nhận xét, đánh giá, bổ sung cho giáo án, cho hoạt động luyện tập của SV trên cơ sở biên bản dự giờ của mình. Đưa ra những kết luận, nhận xét về giờ giảng tập, đánh giá giáo án bằng điểm theo mẫu.
- Bước Thực tập hoạt động dạy học hay giáo dục trẻ (có giáo viên và nhóm dự).
- Ổn định lớp, định hướng chú ý và tạo tâm thế cho trẻ.
- Tiến hành hoạt động với các bước lên lớp, tổ chức, hướng dẫn các hoạt động nhận thức của trẻ nhằm đạt mục đích, yêu cầu hoạt động.
- Tiến hành ôn, luyện, kiểm tra mức độ nắm kiến thức, kỹ năng của trẻ.
- Việc đánh giá kỹ năng thực hiện hoạt động dạy học hay giáo dục trẻ của SV được thực hiện ở khâu rút kinh nghiệm và đánh giá giờ lên lớp theo những tiêu chí được ghi trong phiếu mẫu.
Bước 7: Rút kinh nghiệm và đánh giá hoạt động dạy học hay giáo dục trẻ. Cách giá giá được tiến hành tương tự như đánh giá giờ tập giảng cho SV. Các bước của quy trình Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm này được tiến hành ngay trong thời gian SV học lý thuyết dưới các hình thức: bài tập về nhà, thảo luận, thực hành Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên nhằm bước đầu hình thành cho SV những kỹ năng thiết kế, thực hiện và đánh giá các hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ. Còn trong giai đoạn Thực tập sư phạm việc tập trung các kỹ năng này sẽ được củng cố và tiếp tục hoàn thiện. [14, tr. 234]
1.4. Quản lý hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho sinh viên ngành Giáo dục Mầm non – hệ Cao đẳng Luận văn: Quản lý hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV.
1.4.1. Các chức năng quản lý
- Lập kế hoạch Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm:
Để cho kế hoạch có tính khả thi và thực hiện có hiệu quả, chủ thể quản lý cần phải tìm hiểu các cơ sở để xây dựng kế hoạch bao gồm:
- Trên cơ sở phân tích kế hoạch chung của nhà trường để xây dựng kế hoạch Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV. Kế hoạch Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thống nhất với các kế hoạch đào tạo khác, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh, khả năng cụ thể của nhà trường.
- Đặc điểm, tình hình hiện tại của xã hội, của địa phương và của trường.
- Điều kiện giáo dục: cơ sở vật chất, tài chính, quỹ thời gian, khả năng phối hợp với đoàn, công đoàn và các lực lượng giáo dục khác trong và ngoài nhà trường.
Kế hoạch (KH) giáo dục cần đảm bảo những yêu cầu sau:
- Kế hoạch đảm bảo tính khoa học, kế thừa, toàn diện, cụ thể và có trọng tâm của từng thời kì.
- Kế hoạch thể hiện phát huy mặt mạnh, khắc phục mặt yếu, củng cố ưu điểm, hạn chế khuyết điểm, vạch ra được hướng phát triển của SV.
- Kế hoạch phản ánh mối quan hệ biện chứng của mục tiêu, nhiệm vụ, yêu cầu, chỉ tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, thời gian, hình thức tổ chức, biện pháp kiểm tra đánh giá, tổng kết, các lực lượng tham gia và phối hợp.
- Kế hoạch thể hiện được sự phân cấp quản lý theo chức năng của các bộ phận và các cá nhân trong mối quan hệ biện chứng, có tính hệ thống – cấu trúc và đồng bộ cụ thể.
Hoạt động của nhà trường hết sức đa dạng, phức tạp, chủ thể việc tổ chức quản lý giáo dục là Hiệu trưởng phải định hướng trí tuệ vào các nguồn dự trữ (cơ sở vật chất…), có kế hoạch hợp lý nhằm thực hiện những mũi nhọn quan trọng và xung yếu. Giảng viên vừa là chủ thể vừa là khách thể quản lý. SV vừa là đối tượng bị quản lý vừa là chủ thể tự quản đối với việc học tập, tu dưỡng, rèn luyện của bản thân.
Quá trình quản lý là nội dung cơ bản giữ vai trò trung tâm trong bất kì một hệ quản lý nào. Quá trình quản lý với các tổ hợp (khoa, phòng, ban, các nguồn lực…) và các chức năng quản lý, đưa hệ quản lý tới mục tiêu. Quá trình quản lý trong giáo dục chia thành 5 giai đoạn: Luận văn: Quản lý hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV.
- Giai đoạn chuẩn bị kế hoạch hóa.
- Giai đoạn kế hoạch hóa.
- Giai đoạn tổ chức.
- Giai đoạn chỉ đạo.
- Giai đoạn kiểm tra.
Tổ chức là nhân tố sinh ra hệ tập hợp các thành tố rời rạc thành một hệ thống toàn vẹn tạo ra cơ cấu tổ chức. Giai đoạn tổ chức bao gồm 5 bước có mối quan hệ với nhau mật thiết:
- Bước 1: Tiếp nhận nguồn dự trữ.
- Bước 2: Chủ thể quản lý phải đưa nội dung kế hoạch đến người thực hiện.
- Bước 3: Thiết lập cấu trúc xây dựng bộ máy.
- Bước 4: Xác lập công tác cơ chế phối hợp, công tác giám sát.
- Bước 5: Nâng cao trình độ nghiệp vụ, cải thiện đời sống cán bộ công nhân viên.
Giai đoạn tổ chức trong Quản lý giáo dục có liên quan mật thiết với các giai đoạn của nội dung chu trình quản lý.
- Tổ chức thực hiện kế hoạch Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV:
Tổ chức công tác giáo dục xuất phát từ quan điểm là phát huy tính tích cực, chủ động của SV. SV là chủ thể của hoạt động nhận thức và rèn luyện tính tích cực của học sinh trong hoạt động dưới sự tổ chức và hướng dẫn của giảng viên mới có thể học tập và rèn luyện tốt.
Tổ chức thực hiện kế hoạch bao gồm: tổ chức nhân lực để thực hiện kế hoạch, phân công trách nhiệm quản lý, huy động cơ sở vật chất – kỹ thuật, thực hiện các hoạt động và giao lưu đã định (hoạt động dạy học trên lớp và hoạt động ngoài giờ lên lớp).
- Chỉ đạo thực hiện kế hoạch Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV:
Chỉ đạo là thể hiện tính tích cực của người lãnh đạo trong hoạt động của mình. Chỉ đạo thực hiện kế hoạch là có sự theo dõi và giám sát công việc để chỉ huy, ra quyết định cho các bộ phận và các hoạt động của nhà trường diễn ra đúng hướng, đúng kế hoạch, tập hợp được các lực lượng giáo dục trong một tổ chức và phối hợp tối ưu với nhau.
Trong khi thực hiện kế hoạch có thể có một số vấn đề chưa phù hợp với thực tiễn cần phải điều chỉnh cho hợp lý hơn. Cán bộ quản lý bám sát hiện trường, phân tích nhanh chóng các vấn đề thực tiễn để điều chỉnh, sửa chữa, bù đắp, chỉnh lý kế hoạch để hoạt động giáo dục đạt hiệu quả tối ưu. Luận văn: Quản lý hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV.
Muốn chỉ đạo tốt, người QL cần thu thập thông tin chính xác, biết phân tích, xử lý các nguồn thông tin và đưa ra các quyết định đúng đắn. Điều đó nếu thực hiện tốt sẽ nâng cao uy tín người lãnh đạo và ngược lại thì sẽ làm giảm uy tín. Nguồn thu thập thông tin quan trọng là kiểm tra, kiểm kê, thanh tra đánh giá.
- Kiểm tra đánh giá việc thực hiện kế hoạch Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV:
- Thông qua kiểm tra, người QL thu được thông tin để làm cơ sở cho đánh giá.
Kiểm tra có 3 chức năng cơ bản:
- Thu thông tin ngược trong và ngược ngoài để có thể điều chỉnh, hoàn thiện quá trình đào tạo cho phù hợp.
- Cung cấp thông tin cho quá trình đánh giá, nhằm đảm bảo tính khách quan, toàn diện khi xem xét kết quả Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm.
- Kích thích tính tích cực hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho
Các chức năng trên của Quản lý giáo dục có chức năng trên trong chu trình quản lý. [12, tr. 24]
1.4.2. Nội dung quản lý
- Quản lý xây dựng mục tiêu hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm
RLNVSP cho SV là một nội dung đào tạo quan trọng của các trường Sư phạm, khoa Sư phạm. Hoạt động này nhằm hình thành và phát triển cho SV ngành Sư phạm nói chung và SV ngành Giáo dục Mầm non nói riêng về phẩm chất đạo đức và kỹ năng nghề nghiệp vững vàng. Vì vậy, cần có định hướng cho hoạt động phù hợp với mục tiêu đào tạo chung và mục tiêu đào tạo chuyên ngành. [19, tr. 24]
Mục tiêu giáo dục là những dự kiến về kết quả đạt được của quá trình giáo dục trong một thời gian nhất định. Do đó, mục tiêu của công tác Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm là hướng đến việc giúp SV (với sự kết hợp với các lực lượng trong và ngoài nhà trường) có đầy đủ những kỹ năng cơ bản của người thầy, những kỹ năng đó có thể tường minh qua các hoạt động cụ thể, có thời gian xác định, có kết quả. [20, tr. 24] Luận văn: Quản lý hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV.
Quản lý xây dựng mục tiêu hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm là một quá trình gồm 5 bước:
- Thiết lập và xem xét các mục tiêu của hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm.
- Thiết lập mục tiêu của từng hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cụ thể.
- Kiểm soát quá trình tổ chức các hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm.
- Đánh giá hiệu quả hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm.
- Ghi nhận kết quả, thành tích đạt được, rút kinh nghiệm thực tế.
Như vậy, QL mục tiêu Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm là quá trình giúp SV, đội ngũ giáo viên và các lực lượng trong nhà trường tham gia Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm phát huy vai trò chủ thể tích cực trong từng hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cụ thể nhằm đạt được hiệu quả cao nhất trong đào tạo… [11, tr.24]
- Quản lý xây dựng nội dung, chương trình, kế hoạch Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm
Để đạt được các mục tiêu đã đề ra, nhà quản lý (ở cấp Khoa) cần xây dựng nội dung kế hoạch về hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm trên cơ sở cụ thể các hướng dẫn từ khung chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo, phù hợp với yêu cầu và các điều kiện khách quan, chủ quan của cơ sở đào tạo.
“Kế hoạch theo nghĩa chung là toàn thể những việc dự định làm, gồm nhiều công tác sắp xếp có hệ thống, qui vào một mục đích nhất định và thực hiện trong một thời gian đã tính trước.” [17, tr. 413]
Kế hoạch hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm là một dạng kế hoạch trong nhiều kế hoạch đào tạo ở trường Đại học Sư phạm. Đây là một văn bản bao gồm nội dung các hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm như: Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên thông qua các môn học (Tâm lý học, Giáo dục học, Âm nhạc, Thể dục, Phương pháp dạy học các bộ môn…). Các hoạt động Thực tập sư phạm thực hành tại các cơ sở mầm non, các hoạt động ngoại khóa, hội thi nghiệp vụ sư phạm, Thực tập sư phạm, được sắp xếp, phân chia một cách hợp lý, khoa học theo đơn vị thời gian cho cả khóa, từng năm, từng học kỳ.
Quản lý kế hoạch hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm là xây dựng được một kế hoạch hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm với các nội dung hoạt động hợp lý, khoa học, phù hợp các yêu cầu về chương trình đào tạo, thời gian, tổ chức thực hiện, các điều kiện nhằm đạt dược hiệu quả cao nhất theo mục tiêu đào tạo đã đặt ra. Và đây cũng chính là những thông tin có giá trị xác thực để trình duyệt cấp lãnh đạo xét duyệt và cho phép tổ chức hoạt động.
Việc xây dựng kế hoạch hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm giúp cho nhà quản lý (cấp Khoa) có cơ sở quản lý tốt các hoạt động đảm bảo được về mặt thời gian cũng như về hiệu quả, chất lượng hoạt động, là điều kiện để đạt được mục tiêu đào tạo, là căn cứ để tổ chức các hoạt động một cách khoa học và việc kiểm tra, đánh giá được hiệu quả, thuận lợi.
Kế hoạch Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm khoa học, cụ thể còn giúp nhà QL trực tiếp của từng chuyên ngành đào tạo có kế hoạch bố trí các nguồn lực: dự trù kinh phí, thời gian, cơ sở vật chất, trang thiết bị, đội ngũ giảng viên trong khoa, ngoài khoa và là cơ sở để các lực lượng khác (phòng Đào tạo, Đoàn thanh niên, Hội sinh viên, lãnh đạo nhà trường) hỗ trợ và tạo điều kiện cho các hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cụ thể. Luận văn: Quản lý hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV.
Chương trình là toàn bộ những dự kiến hoạt động theo một trình tự nhất định và trong một thời gian nhất định. Ở đây, chương trình còn được hiểu là nội dung học tập, giảng dạy nêu vắn tắt, được quy định cho từng môn, từng lớp hoặc từng cấp học, bậc học. [20, tr. 25]
Như vậy, đối với cấp QL Khoa, nhà QL phải xây dựng được chương trình và kế hoạch Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên, sao cho phù hợp với đặc điểm của nhà trường, của khoa, phù hợp với SV. Trong bản chương trình và kế hoạch đó, nhà QL phải thể hiện được nội dung rèn luyện cho từng năm (năm thứ nhất, thứ hai, thứ ba), số tiết cụ thể, phân công người đảm nhận, thời gian tiến hành…
Quản lý tốt việc xây dựng chương trình và kế hoạch sẽ giúp nhà quản lý có cơ sở QL được việc rèn luyện của SV, quá trình, thời gian rèn luyện của giáo viên, quản lý được tiến độ thực hiện đồng thời dễ kiểm tra đánh giá kết quả rèn luyện.
- Quản lý tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm
Tổ chức là một công cụ. Chức năng tổ chức trong quản lý là việc thiết kế cơ cấu các bộ phận sao cho phù hợp với mục tiêu. Việc thực hiện chức năng này còn phải chú ý đến phương thức hoạt động, đến quyền hạn của từng bộ phận, tạo điều kiện cho sự liên kết ngang, dọc và đặc biệt chú ý đến việc bố trí cán bộ – người vận hành các bộ phận của tổ chức. [10, tr. 58, 59]
Chỉ đạo là quá trình tập hợp, liên kết các thành viên trong tổ chức; theo sát hoạt động của bộ máy, hướng dẫn, điều chỉnh công việc nhịp nhàng, động viên, khuyến khích, khen thưởng người lao động nhằm đạt mục tiêu của tổ chức. [21, tr. 26]
Chỉ đạo trong quản lý là chức năng thể hiện năng lực của người quản lý. Sau khi hoạch định kế hoạch và sắp xếp tổ chức, người quản lý phải điều khiển cho hệ thống hoạt động nhằm thực hiện mục tiêu đã đề ra. [10, tr. 68]
Tổ chức chỉ đạo thực hiện kế hoạch hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm là một khâu quan trọng trong quản lý đào tạo. Hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm là hoạt động chuyên môn đặc thù của từng chuyên ngành trong trường Đại học Sư phạm thuộc quyền quản lý trực tiếp của Khoa phụ trách chuyên ngành đào tạo đó. Tổ chức chỉ đạo thực hiện kế hoạch hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm là đưa nội dung Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm đến đối tượng trực tiếp thực hiện, huy động các lực lượng (SV, giảng viên, giáo viên các cơ sở mầm non) vào việc thực hiện kế hoạch, chỉ đạo, điều hành mọi hoạt động nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra. Luận văn: Quản lý hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV.
- Quản lý xây dựng, tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm là một quá trình gồm các bước:
Bước chuẩn bị: bao gồm quá trình phân công, phân nhiệm các cá nhân phụ trách, hướng dẫn cụ thể; chuẩn bị về cơ sở vật chất, kinh phí; các văn bản pháp quy quy định về hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm; làm việc với các phòng ban, đơn vị có liên quan với các hình thức hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm khác nhau.
Bước tổ chức thực hiện: bao gồm nhiều khâu tùy theo đặc thù, tính chất, yêu cầu của hoạt động đó. Ở bước này cần thiết lập một cơ chế điều phối, tạo liên kết hoạt động giữa các thành viên hay bộ phận phụ trách hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm đó.
Cụ thể, quản lý tổ chức thực hiện hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm là:
- Quản lý quy trình hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV.
- Quản lý lực lượng tham gia hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm.
- Quản lý cơ sở vật chất phục vụ hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm. [14, tr. 26]
Quản lý quy trình hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm:
Về bản chất, quy trình Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm này là một chỉnh thể thống nhất, trong đó các hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm khác nhau đan kết, hỗ trợ cùng nhau thực hiện yêu cầu, nhiệm vụ đã đề ra trong mục tiêu.
“Quy trình là chương trình đã được quy định.” [19, tr. 645]. Như vậy, QL quy trình hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV thực chất là quá trình QL chương trình hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm đã được xây dựng và phê duyệt trong kế hoạch đào tạo theo học kỳ, năm học, cả khóa. Quy trình này được quy định theo nội dung Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm từ mức độ cơ bản, phát triển đến mức độ nâng cao theo yêu cầu của từng chuyên ngành đào tạo, từng bước hình thành kỹ năng nghề nghiệp cho SV. [19, tr. 27]
Quản lý sự phối hợp giữa các lực lượng trong hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm là một nội dung quan trọng trong chương trình đào tạo giáo viên ở các trường sư phạm. Để hoạt động này đạt hiệu quả tốt, cần có một lực lượng tham gia và hỗ trợ. SV là chủ thể trong các hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm. Việc tổ chức các hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV là nhiệm vụ của Khoa, Tổ bộ môn và giảng viên chuyên trách với sự hỗ trợ các phòng chức năng: phòng Đào tạo, phòng Kế toán tài vụ, Ban Giám hiệu (BGH) nhà trường, BGH và giáo viên các trường thực hành sư phạm (Mầm non, trường Tiểu học, trường Trung học cơ sở, trường Trung học phổ thông). “Khoa là đơn vị quản lý hành chính cơ sở của trường, có nhiệm vụ quản lý giảng viên, cán bộ, nhân viên và người học thuộc Khoa theo phân cấp của Hiệu trưởng.” [3, tr. 30] Luận văn: Quản lý hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV.
Bộ môn là đơn vị cơ sở về hoạt động đào tạo, khoa học và công nghệ của Trường đại học, chịu trách nhiệm về học thuật trong các hoạt động đào tạo, khoa học và công nghệ, có trách nhiệm về nội dung, chất lượng, tiến độ giảng dạy, học tập một số môn học trong chương trình, kế hoạch giảng dạy chung của trường, của khoa. [3, tr. 22]
Đội ngũ giảng viên giảng dạy các môn học: TL, GD, PP dạy học các môn học là lực lượng chính, chịu trách nhiệm tổ chức, hướng dẫn, hỗ trợ cho SV các hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm.
Sự nghiệp đổi mới giáo dục hiện nay đang đặt ra những yêu cầu cao đối với công tác Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV. Để đáp ứng yêu cầu cao đó, ngoài sự cố gắng cải tiến, đổi mới nội dung, phương pháp Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của các trường sư phạm, còn phải kể đến vai trò không thể thiếu của các cơ sở thực hành sư phạm, trong việc góp phần thực hiện mục tiêu, chương trình các môn nghiệp vụ sư phạm, trong việc Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên và Thực tập sư phạm cho SV. Thông qua hoạt động thực hành sư phạm ở cơ sở thực hành, SV có điều kiện tìm hiểu đối tượng và môi trường giáo dục của trường mầm non; quan sát, tìm hiểu các hoạt động dạy học và giáo dục ở các khối lớp trong trường mầm non (giáo dục, chăm sóc và nuôi dưỡng); tìm hiểu và thực hành các khâu chuẩn bị dạy học và giáo dục, dự một số hoạt động mẫu về dạy học và giáo dục của giáo viên Mầm non; tập dượt một số hoạt động có chọn lọc về dạy học và giáo dục.
Như vậy, quản lý lực lượng tham gia hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm là quản lý sự phối hợp các đối tượng, các bộ phận chức năng trong và ngoài nhà trường nhằm tạo những điều kiện tốt nhất cho hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV ngành sư phạm. [19, tr. 27]
- Quản lý Cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm
Cơ sở vật chất có vai trò quan trọng trong hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm. Để hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm đạt hiệu quả, các điều kiện về cơ sở vật chất (CSVC) như phòng thực hành, trang thiết bị, kinh phí hoạt động,… phải được quản lý tốt và có sự điều phối, cung ứng một cách đầy đủ, kịp thời.
Quản lý Cơ sở vật chất phục vụ hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm là quá trình tổ chức sử dụng hiệu quả các trang thiết bị; kinh phí đầu tư, hỗ trợ; quản lý tốt việc bảo quản mọi điều kiện liên quan đến cơ sở vật chất nhằm phục vụ tốt nhất cho hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm. [19, tr. 28] Luận văn: Quản lý hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV.
- Quản lý việc kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm
RLNVSP là một hoạt động cơ bản trong quá trình đào tạo, một bộ phận cấu thành của nội dung và phương pháp đào tạo ở các trường sư phạm. Hoạt động này có ý nghĩa quyết định trong việc hình thành phẩm chất và năng lực nghề nghiệp cho SV, đặc biệt đối với SV các trường sư phạm đào tạo giáo viên Mầm non. Vì vậy, việc kiểm tra, đánh giá thường xuyên, định kỳ về các hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm sẽ giúp SV tích cực học tập, rèn luyện. Đồng thời, qua kết quả kiểm tra, đánh giá, giảng viên và các bộ phận có liên quan (Tổ bộ môn, Khoa) có căn cứ để rút kinh nghiệm, điều chỉnh kịp thời về nội dung, phương pháp rèn luyện cho SV. Đây là một khâu rất quan trọng trong hoạt động quản lý.
Tùy tính chất, nội dung hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm sẽ có những PP kiểm tra, đánh giá phù hợp (đánh giá môn học theo quy định chung, đánh giá theo chất lượng công việc, đánh giá dựa vào kết quả thực hành, thực tế…). Việc kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm dù được tiến hành dưới hình thức nào, bằng những công cụ gì, và có thể có những tiêu chí khác nhau nhưng phải theo các nguyên tắc:
- Nguyên tắc khách quan, công bằng.
- Nguyên tắc bình đẳng, dân chủ.
- Nguyên tắc toàn diện.
- Nguyên tắc thực tiễn.
- Nguyên tắc phát triển.
- Nguyên tắc phối hợp. [18, 236, 237, 238]
Để quản lý tốt việc kiểm tra, đánh giá các hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của SV, khoa và các tổ bộ môn liên quan đến hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cần dựa vào các nguyên tắc trên để xây dựng những quy định về kiểm tra, đánh giá. Cụ thể:
- Xây dựng những tiêu chí và thang điểm đánh giá kết quả Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho phù hợp với đặc thù các hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm khác nhau.
- Tổ chức bồi dưỡng thường xuyên, định kỳ về công tác kiểm tra, đánh giá (hội nghị chuyên đề, tập huấn) hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm, cho đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên liên quan đến Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm.
- Thống nhất tiêu chí và các quy định đánh giá các hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm tại các cơ sở trường Mầm non nơi SV Thực tập sư phạm.
- Tổ chức định kỳ công tác đánh giá hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm để rút kinh nghiệm và điều chỉnh kịp thời. [19, tr. 230]
Kiểm tra có vai trò quan trọng trong quá trình quản lý, là nhu cầu cơ bản để hoàn thành các quyết định quản lý. Có thể nói rằng “Không có kiểm tra là không có quản lý”. Luận văn: Quản lý hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV.
Như vậy, quá trình kiểm tra đánh giá công tác Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm là quá trình theo dõi, giám sát, đo lường, đánh giá diễn biến và kết quả đạt được của hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm; đồng thời qua đó có các biện pháp điều chỉnh, khắc phục những mặt hạn chế nhằm đạt kết quả tốt nhất trong việc thực hiện mục tiêu đã đề ra.
Quá trình kiểm tra đánh giá công tác Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm gồm những giai đoạn:
- Xây dựng hệ thống các tiêu chuẩn kiểm
- Đo lường và đánh giá sự thực hiện các hoạt động.
- Tiến hành điều chỉnh các hoạt động.
Hình thức kiểm tra: có nhiều hình thức kiểm tra khác nhau:
Theo quá trình hoạt động kiểm tra:
- Kiểm tra trước hoạt động: Bao gồm kiểm tra sự chuẩn bị và kiểm tra phòng ngừa các hoạt động (kiểm tra lường trước);
- Kiểm tra đồng thời với các hoạt động đang diễn ra là kiểm tra kết quả của từng giai đoạn hoạt động.
- Kiểm tra phản hồi là kiểm tra được thực hiện sau khi hoạt động đã hoàn thành.
Theo mức độ tổng quát của nội dung kiểm tra:
- Kiểm tra toàn bộ, kiểm tra toàn diện;
- Kiểm tra bộ phận, kiểm tra chuyên đề;
- Kiểm tra cá nhân.
Theo tần suất của các cuộc kiểm tra:
- Kiểm tra đột xuất;
- Kiểm tra định kỳ;
- Kiểm tra liên tục.
Theo mối quan hệ giữa chủ thể và đối tượng kiểm tra:
- Kiểm tra của chủ thể quản lý đối với đối tượng quản lý.
- Tự kiểm tra của cá nhân, bộ phận.
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm của SV ngành Giáo dục Mầm non – hệ Cao đẳng
1.5.1 Yếu tố khách quan: Luận văn: Quản lý hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV.
Để giúp SV có kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành cơ bản vững vàng đáp ứng cho nhu cầu phát triển của xã hội thì đòi hỏi nhà trường, các cơ sở thực hành phải có môi trường phù hợp và tốt. Cụ thể đó là:
Thực hiện việc xã hội hóa giáo dục theo chủ trương của Đảng và nhà nước làm cơ sở cho việc mở thêm các cơ sở giáo dục và hệ thống giáo dục ở trường công lập có xu hướng tự chủ về mọi mặt trong đó đặc biệt là tự chủ về kinh tế, thì việc đào tạo ra đội ngũ quản lý và giảng viên có trình độ và năng lực là điều tất yếu. Mặt khác, bản thân người quản lý, giảng viên cũng cố gắng nâng cao trình độ để thể hiện vai trò, uy tín, vị trí của mình trong nhà trường, ngoài xã hội cũng như trước đối tượng giáo dục.
CSVC tốt, đầy đủ, phù hợp cho việc giảng dạy, giáo dục sẽ giúp cho Cán bộ quản lý, giảng viên thực hiện tốt nhiệm vụ của mình đặc biệt là công tác Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm thường xuyên cho sinh viên.
Các trường cơ sở thực hành, có nhiều giáo viên và giáo viên làm công tác chủ nhiệm giỏi, trường có nề nếp giảng dạy và giáo dục mẫu mực và có Cơ sở vật chất tốt là môi trường thuận lợi cho SV thực tập, góp phần giúp SV nâng cao chất lượng Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm.
1.5.2 Yếu tố chủ quan:
Xác định mục tiêu đào tạo là yếu tố đầu tiên để định hướng việc lựa chọn nội dung, phương pháp, và hình thức đào tạo phù hợp với việc hình thành và phát triển nhân cách người giáo viên và có thể điều khiển, điều chỉnh quá trình hoạt động, học tập, và rèn luyện của SV theo yêu cầu đặt ra.
- Mục tiêu đào tạo được xác định cụ thể là cơ sở định ra những tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng đào tạo.
- Mục tiêu đào tạo được giảng viên và SV ý thức đầy đủ, chính xác có tác dụng kích thích tính tích cực, tự giác trong hoạt động, rèn luyện. Luận văn: Quản lý hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV.
Mục tiêu đào tạo được cụ thể hóa vào ngành học, môn học và hoạt động dạy học, giáo dục. Thể hiện ở 3 mặt:
- Kiến thức sư phạm: Khả năng tái hiện, hiểu và vận dụng.
- Kỹ năng, kỹ xảo sư phạm: Kỹ năng, kỹ xảo chung cho lao động chân tay tương ứng với kiến thức đã nêu ở trên.
- Thái độ sư phạm: Nhận thức về giá trị nghề nghiệp dạy học, trong hoạt động học tập và Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm, hình thành động cơ hoạt động tích cực, chủ động,… và tiêu chí này là tiêu chí cơ bản trong giai đoạn hiện nay.
Chất lượng tuyển sinh đầu vào là bước mở đầu thuận lợi cho chương trình đào tạo và đào tạo nhân cách cho người giáo viên cũng như sự thuận lợi cho việc tạo ra đội ngũ lao động có trình độ tay nghề cao và chất lượng.
Giảng viên tham gia giảng dạy các bộ môn Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm phải là những giảng viên có năng lực, chuyên môn, có trình độ phù hợp, nắm bắt kịp thời được sự đổi mới của PP tổ chức hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm sao cho phù hợp đối tượng, và điều kiện Cơ sở vật chất của trường Đại học.
Giáo trình và tài liệu là yếu tố không thể thiếu được cho quá trình Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm. Bởi muốn hình thành kỹ năng, kỹ xảo tốt, SV phải tự nghiên cứu, tham khảo tài liệu theo sự định hướng và dẫn dắt của giảng viên.
Nội dung chương trình đào tạo có các học phần Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm phải được sắp xếp hợp lý, kiến thức đầy đủ, đảm bảo đúng khung chương trình của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đáp ứng được những yêu cầu của xã hội.
Phương pháp đào tạo có ý nghĩa lớn trong việc nâng cao chất lượng Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm. Có phương pháp tốt, phù hợp với đối tượng và bộ môn thì SV sẽ hứng thú và tích cực tham gia hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm để hình thành kỹ năng, kỹ xảo tốt.
Điều kiện, phương tiện ảnh hưởng không rất lớn đến kết quả của hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm. Điều kiện, phương tiện tốt, hiện đại, phù hợp giúp cho giảng viên, SV nâng cao chất lượng cũng như có nhiều thời gian để hình thành kỹ năng, kỹ xảo thuần thục hơn.
Quá trình tổ chức quản lý khoa học phù hợp đặc điểm tâm lý và Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm phát huy được tính tự nguyện và tự giác của SV. Quá trình tổ chức, quản lý phải được phân cấp hợp lý, có sự phân công, phân nhiệm, kiểm tra rõ ràng và có sự phối hợp tích cực giữa các lực lượng với nhau, không chồng chéo để từ đó việc tổ chức, quản lý hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm được thuận lợi, nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo SV ngành Giáo dục Mầm non.
TIỂU KẾT CHƯƠNG I
Các vấn đề cơ bản về mặt lý luận của hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm và quản lý hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV ngành Giáo dục Mầm non – hệ Cao đẳng, trong trường Đại học cho thấy: Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm là một hoạt động cơ bản, đóng vai trò rất quan trọng trong công tác đào tạo sinh viên ngành Giáo dục Mầm non; có ý nghĩa quyết định trong việc hình thành phẩm chất, năng lực nghề nghiệp, đáp ứng mục tiêu đào tạo của trường. Trong các hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm, SV có điều kiện bộc lộ năng lực thực tiễn của mình và được thực tiễn kiểm nghiệm, đánh giá. Kết quả Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm được đánh giá bằng người thực, việc thực cho nên hoạt động Rèn luyện nghiệp vụ sư phạm có một ý nghĩa quan trọng trong việc hình thành phẩm chất và năng lực nghề nghiệp cho sinh viên và là đòn bẩy chất lượng đào tạo người giáo viên, góp phần thực hiện nhiệm vụ đào tạo đội ngũ giáo viên có chất lượng cao, đáp ứng những yêu cầu của đổi mới, phát triển của ngành giáo dục nói chung và của trường Đại học nói riêng. Luận văn: Quản lý hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng quản lý rèn luyện nghiệp vụ sư phạm cho SV

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com

