Luận văn: Quản lý hoạt động hỗ trợ giáo dục đặc biệt tại mầm non

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý hoạt động hỗ trợ giáo dục đặc biệt tại mầm non hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Quản lý hoạt động của phòng hỗ trợ giáo dục đặc biệt trong trường mầm non trên địa bàn một số tỉnh phía Bắc dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài và tổng quan tình hình nghiên cứu

Theo Luật Người khuyết tật 2010, trẻ khuyết tật là những trẻ có khiếm khuyết về cấu trúc, hoặc các chức năng cơ thể hoạt động không bình thường dẫn đến gặp khó khăn nhất định trong hoạt động cá nhân, tập thể, xã hội và không thể học tập theo các chương trình giáo dục mầm non và phổ thông nếu không được hỗ trợ đặc biệt về phương pháp giáo dục – dạy học và những trang thiết bị trợ giúp cần thiết.

Theo tổng điều tra dân số năm 2009, nước ta có khoảng 1.329.000 trẻ em khuyết tật, trong đó 12,43 trẻ khiếm thính; 13,73 trẻ khiếm thị; 28,36 trẻ khuyết tật trí tuệ; 12,57 trẻ khuyết tật ngôn ngữ; 19,25 trẻ khuyết tật vận động và 13,66 trẻ có các tật khác, đa tật. Nguyên nhân gây nên khuyết tật có tới 36,0% bẩm sinh, 32,0% do bệnh tật, 26,0% do hậu quả chiến tranh và 6,0% do tai nạn lao động. Dự báo, trong nhiều năm tới số lượng người khuyết tật ở Việt Nam chưa giảm do tác động của ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng của chất độc hoá học chiến tranh để lại, tai nạn giao thông và tai nạn lao động, hậu quả thiên tai,…

Trong những năm qua, Nhà nước đã đặc biệt quan tâm đến việc thực hiện công bằng trong giáo dục, tạo điều kiện cho mọi trẻ em, trong đó có Trẻ khuyết tật được tiếp cận nền giáo dục có chất lượn bằng việc ban hành và phê chuẩn hàng loạt văn bản pháp luật về quyền của trẻ em khuyết tật như: Luật Bảo vệ, Chăm sóc và Giáo dục trẻ em; Luật Giáo dục, Luật Người khuyết tật.. ; ký Công ước Quốc tế về Người khuyết tật vào năm 2006 và phê chuẩn vào tháng 11/2014. Đồng thời, đã có nhiều chương trình, dự án hỗ trợ trẻ em khuyết tật hòa nhập cộng đồng thông qua Giáo dục hòa nhập để các em khuyết tật cùng học chung với những trẻ không khuyết tật và đã đạt được những thành công nhất định.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác chăm sóc, giáo dục người khuyết tật còn những bất cập, hạn chế; đời sống vật chất, tinh thần của người khuyết tật còn nhiều khó khăn. Có tới 80,0 người khuyết tật ở thành thị và 70,0 người khuyết tật ở nông thôn sống dựa vào gia đình, người thân và trợ cấp xã hội; 32,5% thuộc diện nghèo (cao gấp hai lần so với tỷ lệ nghèo chung cùng thời điểm), 24,0% nhà tạm. Những khó khăn này cản trở người khuyết tật tiếp cận dịch vụ y tế, giáo dục, học nghề, tìm kiếm việc làm, tham gia giao thông, dẫn đến khó khăn trong cuộc sống và hoà nhập với cộng đồng. Công tác tuyên truyền phổ biến Pháp lệnh và chính sách liên quan đến người khuyết tật cũng còn hạn chế.

Nhằm nâng cao chất lượng Giáo dục trẻ khuyết tật, trong những năm qua đã có rất nhiều nghiên cứu của các tác giả trong nước về các biện pháp, giải pháp kĩ thuật được công bố. Việc xây dựng và phát triển các Trung tâm hỗ trợ phát triển Giáo dục hòa nhập và Phòng hỗ trợ giáo dục đặc biệt trong trường phổ thông và Mầm non được coi là một trong các giải pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng Giáo dục trẻ khuyết tật. Điều này đã được thể chế hóa trong Thông tư số 59/TT-BGDĐT năm 2012 về quy định trường chuẩn quốc gia giai đoạn II. Luận văn: Quản lý hoạt động hỗ trợ giáo dục đặc biệt tại mầm non.

Với việc thể chế hóa quy định phát triển hệ thống phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt trong trường mầm non và phổ thông hòa nhập, đã có nhiều phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt được thành lập trong các trường mầm non và phổ thông. Thực hiện nhiệm vụ trên, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh có Quyết định số 2392/QĐ – UBND, ngày 14 tháng 8 năm 2015 về việc phê duyệt đề án phát hệ thống phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt trong trường mầm non và phổ thông và một số các tỉnh khác cũng đang trong quá trình xây dựng và phê duyệt đề án. Mặc dù hệ thống phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt đã được hình thành và đi vào hoạt động, những do nhiều lý do khác nhau, như nhận thức về vai trò của Phòng, tổ chức hoạt động của Phòng chưa được cụ thể hóa, đặc biệt việc quản lý hoạt động của phòng như thế nào để có kết quả tốt nhất thì còn cần có các nghiên cứu cơ bản và vận dụng linh hoạt trong thực tiễn sao cho phù hợp với điều kiện của từng địa phương và của các cơ sở giáo dục.

Vì những lý do trên đề tài Quản lý hoạt động của phòng hỗ trợ giáo dục đặc biệt trong trường mầm non trên địa bàn một số tỉnh phía Bắc” được lựa chọn làm đề tài của luận văn.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Nhận Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Quản Lý Giáo Dục

2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn hoạt động và quản lý hoạt động của Phòng Hỗ trợ giáo dục đặc biệt trong trường mầm non có trẻ khuyết tật học hòa nhập, đề xuất giải pháp quản lý hoạt động của Phòng Hỗ trợ Giáo dục đặc biệt nhằm nâng cao chất lượng giáo dục trẻ khuyết tật tuổi mầm non.

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

  • Khách thể nghiên cứu: Hoạt động Giáo dục trẻ khuyết tật của Phòng hỗ trợ giáo dục đặc trong trường mầm non hòa nhập.
  • Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động Quản lý hoạt động của Phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt trong trường mầm non hòa nhập. Luận văn: Quản lý hoạt động hỗ trợ giáo dục đặc biệt tại mầm non.

4. Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

4.1. Nhiệm vụ nghiên cứu

  • Nghiên cứu cơ sở lý luận về Giáo dục hòa nhập, quản lý Giáo dục hòa nhập, quản lý hoạt động của Phòng Hỗ trợ Giáo dục đặc biệt trong trường mầm non có trẻ khuyết tật học hòa nhập;
  • Nghiên cứu thực trạng Giáo dục hòa nhập, quản lý Giáo dục hòa nhập và Quản lý hoạt động của Phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt trong trường mầm non có học sinh khuyết tật học hòa nhập trên địa bàn một số tỉnh phía Bắc;
  • Đề xuất biện pháp Quản lý hoạt động của Phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt trong trường mầm non có học sinh khuyết tật học hòa nhập trên địa bàn một số tỉnh phía Bắc.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

  • Về mặt lý luận: Đề tài tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận về Giáo dục trẻ khuyết tật và quản lý Giáo dục hòa nhập ở trường mầm non hòa nhập; lý luận về Quản lý hoạt động của Phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt trong trường mầm non hòa nhập; Đề tài nghiên cứu chủ thể quản lý ở cấp trường là hiệu trưởng và Ban giám hiệu trường mầm non có Trẻ khuyết tật học hòa nhập.
  • Về mặt thực tiễn: Đề tài tập trung nghiên cứu ở những cơ sở giáo dục mầm non đang có trẻ khuyết tật học tập, những cơ sở đã có phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt.
  • Về địa bàn nghiên cứu: Vì những lý do khác nhau, đặc biệt là các cơ sở có phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt, đề tài tập trung nghiên cứu một số trường mầm non có nhiều học sinh khuyết tât học hòa nhập và một số trường mầm non đã có phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt, gồm 01 đơn vị tại Hà Nội và 02 đơn vị thuộc tỉnh Thái Nguyên.

5. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp luận Luận văn: Quản lý hoạt động hỗ trợ giáo dục đặc biệt tại mầm non.

  • Phép duy vật biện chứng được quán triệt trong toàn bộ luận án. Đó là mối quan hệ biện chứng giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý, giữa các giải pháp quản lý và chất lượng quản lý;
  • Phương pháp tiếp cận tổng thể: Các Trường mầm non trên địa bàn nghiên cứu thuộc hệ thống giáo dục của quốc gia, vì vậy, mục tiêu quản lý, nội dung quản lý và các giải pháp quản lý đều dựa trên cơ sở những qui định chung của hệ thống giáo dục quốc dân cũng như tuân thủ các quy định của Luật giáo dục, Chiến lược phát triển giáo dục, các yêu cầu cũng như nội dung của chương trình giáo dục mầm non, quan điểm Giáo dục hòa nhập và thực hiện việc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục Việt nam.
  • Tiếp cận quản lý sự thay đổi: Tất cả mọi quá trình đổi mới giáo dục nói chung và chương trình giáo dục mầm non nói riêng đều phải được các trường triển khai một cách chủ động. Đây chính là lúc nhà lãnh đạo và quản lý cần phải hành động làm cho quá trình thay đổi được diễn ra thuận lợi, hiệu quả và không gây ra tác động tiêu cực làm ảnh hưởng hay gián đoạn hoạt động giáo dục và dạy học.
  • Tiếp cận cá biệt hóa: mỗi cơ sở giáo dục có các điều kiện tổ chức giáo dục khác nhau, như điều kiện về nguồn nhân lực, về cơ sở vật chất, đặc biệt là đối tượng trẻ em. Vì vậy trong công tác quản lý cũng phải hết sức linh hoạt và phải gắn với thực tiễn giáo dục của từng đơn vị, từng địa phương.

Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu lý luận

  • Thu thập, phân tích và tổng hợp các thông tin, các kết quả nghiên cứu thuộc các vấn đề liên quan đến lý luận Giáo dục đặc biệt và quản lý Giáo dục hòa nhập và Quản lý hoạt động của Phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt trong trường mầm non.

Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

  • Phương pháp điều tra: Sử dụng hệ thống câu hỏi được in sẵn để tìm hiểu nhận thức của cán bộ quản lý giáo dục, đội ngũ giáo viên về thực trạng giáo dục, thực trạng hoạt động hỗ trợ cá biệt trẻ có nhu cầu Giáo dục đặc biệt trong trường mầm non hòa nhập; Thực trạng những thuận lợi, khó khăn trong giáo dục và hỗ trợ cá biệt; Thực trạng khả năng đáp ứng của đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục, đội ngũ giáo viên khi thực hiện hoạt động hỗ trợ; Thực trạng các điều kiện về chương trình hỗ trợ, cơ sở vật chất và các điều kiện khác trong việc vận hành phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt.
  • Phương pháp quan sát: Tiến hành quan sát và ghi chép quá trình quản lý, vận hành và các hoạt động hỗ trợ học sinh có nhu cầu Giáo dục đặc biệt… Luận văn: Quản lý hoạt động hỗ trợ giáo dục đặc biệt tại mầm non.
  • Phương pháp tọa đàm, phỏng vấn: Trên cơ sở những nội dung nghiên cứu trong phiếu điều tra, tổ chức toạn đàm và phỏng vấn trực tiếp những đối tượng có liên quan nhằm chính xác hóa và bổ sung các thông tin cho nội dung khảo sát.

Phương pháp chuyên gia

  • Tham khảo ý kiến của các chuyên gia về các nội dung hoạt động của phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt và các giải pháp quản lý phòng.

Các phương pháp bổ trợ khác

  • Phương pháp xử lý thông tin qua các thuật toán, Phương pháp nghiên cứu “sản phẩm” đầu ra của quá trình quản lý và hỗ trợ, Phương pháp nghiên cứu trường hợp.

Nhóm phương pháp kiểm chứng kết quả nghiên cứu

  • Tác giả dự kiến trao đổi, tham vấn bằng phiếu hỏi về tính cần thiết, khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động của phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt trong trường mầm non trên địa bàn một số tỉnh phía Bắc

6. Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động của phòng hỗ trợ giáo dục đặc biệt trong trường mầm non
  • Chương 2: Thực trạng về phòng hỗ trợ giáo dục đặc biệt và quản lý hoạt động của phòng hỗ trợ giáo dục đặc biệt trường mầm non trên địa bàn một số tỉnh phía Bắc
  • Chương 3: Các giải pháp quản lý hoạt động của phòng hỗ trợ giáo dục đặc biệt trong trường mầm non hòa nhập

Chi tiết nội dung các chương được trình bày tiếp sau đây.

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CỦA PHÒNG HỖ TRỢ GIÁO DỤC ĐẶC BIỆT TRONG TRƯỜNG MẦM NON

1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Luận văn: Quản lý hoạt động hỗ trợ giáo dục đặc biệt tại mầm non.

1.1.1. Các nghiên cứu về Giáo dục trẻ khuyết tật và giáo dục trẻ khuyết tật mầm non

Thực hiện công bằng trong giáo dục đáp ứng nhu cầu của mọi người học là xu thế tất yếu của hầu hết các nước trên thế giới nhằm đảm bảo các quyền cơ bản của mọi trẻ em được nêu trong Công ước quốc tế về Quyền trẻ em, trong đó Việt Nam là nước thứ 2 trên thế giới và là nước đầu tiên của Châu ký cam kết thực hiện từ năm 1991, Công ước về Quyền của người khuyết tật của Liên Hiệp quốc (2006) [11]. Giáo dục trẻ khuyết tật được Bộ Giáo dục và Đào tạo xác định là một nhiệm vụ của ngành và của toàn xã hội nhằm bảo đảm sự bình đẳng, công bằng trong giáo dục cho trẻ em khuyết tật nói riêng, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn nói chung trong giai đoạn hiện nay.

Trẻ em có nhu cầu Giáo dục đặc biệt vốn đa dạng với các đặc điểm về đời sống vật chất và tâm lý nên cần có những cách tiếp cận phù hợp khác nhau trong giáo dục. Tùy từng đối tượng trẻ mà các cách tiếp cận cũng cần được vận dụng linh hoạt. Trong những năm qua, Chính phủ Việt Nam đã chỉ đạo triển khai nhiều loại hình trường lớp cũng như các mô hình giáo dục khác nhau và khuyến khích phát triển các cơ sở chăm sóc và giáo dục trẻ khuyết tật nhằm đảm bảo cho trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt được hưởng quyền được bảo vệ, chăm sóc và giáo dục.

Đã có nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả trong nước về lĩnh vực giáo dục Trẻ khuyết tật.

Các công trình của M.Sohnon (1963), Conral (1970) đã kiểm tra đánh giá kết quả học tập của hai đối tượng Trẻ khuyết tật trong trường hoà nhập và Trẻ khuyết tật trong trường chuyên biệt, khẳng định chắc chắn rằng học tập ở trường chính qui rõ ràng có kết quả hơn nhiều so với học tập tại trường chuyên biệt. Nghiên cứu của Rister (1975), Dale (1978), Reich, Hambletun và Howclin (1977) cùng hàng loạt các công trình nghiên cứu khác của Lenssona, Kacherme, Truyby cho thấy: Được đi học đúng độ tuổi, được chuẩn bị đầy đủ sức khoẻ, kiến thức và kỹ năng cơ bản thì Trẻ khuyết tật có cơ hội phát triển và học tập như mọi trẻ em khác. Luận văn: Quản lý hoạt động hỗ trợ giáo dục đặc biệt tại mầm non.

Các nhà nghiên cứu giáo dục cho rằng những yếu tố quyết định đến sự thành công của giáo dục hoà nhập là: vai trò của giáo viên, nội dung và phương pháp phù hợp với khả năng của trẻ và môi trường giáo dục thích hợp.

Nghiên cứu của Hexander và Strain (1978), Dockington và Lucas (1951), Laxhan (1982) và nhiều nhà nghiên cứu khác đã cho thấy: Sự hiểu biết, lòng nhiệt tình, thái độ khuyến khích hay thờ ơ của giáo viên là những yếu tố có ảnh hưởng tới Trẻ khuyết tật. Nó có tác dụng như là tạo sự dễ dàng hơn cho trẻ khi thực hiện các hoạt động trong nhà trường, nhưng cũng có thể tạo nên sự ức chế, kìm hãm trong môi trường này. Đây là cơ sở để các nhà hoạch định chính sách giáo dục đưa ra những văn bản, chính sách đúng đắn cho vấn đề chăm sóc và giáo dục Trẻ khuyết tật. Giáo viên phải được đào tạo, bồi dưỡng những kiến thức kỹ năng cần thiết để không chỉ giảng dạy mà còn có khả năng tư vấn cho gia đình trẻ trong việc chăm sóc và giáo dục trẻ.

Các tác giả Connop D, J. McCaip, G. White cũng đưa ra những khó khăn của trẻ khiếm thị tuổi mầm non trong sinh hoạt, trong đời sống và đặt ra các yêu cầu đối với công tác chăm sóc và giáo dục Trẻ khuyết tật tuổi mầm non: Chuyên gia can thiệp phải am hiểu về những nguyên nhân gây ra khuyết tật, phải hiểu rõ những ảnh hưởng của các mức độ khuyết tật ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ. Phải tạo điều kiện cho trẻ vừa học vừa làm quen với môi trường thực tiễn. Can thiệp hiệu quả phải bao gồm cả việc tư vấn, hỗ trợ và cung cấp kỹ thuật quản lý cho gia đình. Các tác giả trên cũng khẳng định: Can thiệp sớm là nền tảng của hệ thống hỗ trợ giáo dục cho Trẻ khuyết tật. Những nhiệm vụ của can thiệp sớm được các tác giả nhấn mạnh:

  • Hỗ trợ Trẻ khuyết tật phát triển thể chất, trí tuệ, tình cảm và kỹ năng xã hội bằng các hoạt động chuyên môn do các chuyên gia có trình độ thực hiện.
  • Tạo ra những điều kiện hỗ trợ Trẻ khuyết tật phát triển các vấn đề liên quan đến hành vi của cha mẹ, tạo ra mối quan hệ tình cảm thoải mái với trẻ.
  • Phối hợp với cha mẹ đẻ hỗ trợ trẻ.
  • Tư vấn và giúp đỡ cha mẹ trẻ.

Việt nam, cho đến nay cũng đã có rất nhiều công trình nghiên cứu được công bố về các biện pháp can thiệp hỗ trợ trực tiếp cho trẻ KT tuổi mầm non, cũng như các công trình về các giải pháp kỹ thuật, hướng dẫn kỹ năng đặc thù, kỹ năng hỗ trợ và can thiệp sớm cho Trẻ khuyết tật, như: tác giả Phạm Minh Mục, Nguyễn Đức Minh, Lê Văn Tạc, Vương Hồng Tâm, Hoàng Thị Nho, Nguyễn Xuân Hải… kết quả của những công trình trên là những tài liệu vô cùng quan trọng cho các cơ sở giáo dục vận dụng triển khai trong thực tiễn và đã có những đóng góp to lớn cho việc nâng cao chất lượng giáo dục Trẻ khuyết tật nói chung, Trẻ khuyết tật tuổi mầm non nói riêng. Luận văn: Quản lý hoạt động hỗ trợ giáo dục đặc biệt tại mầm non.

1.1.2. Các nghiên cứu về Phòng hỗ trợ và Quản lý hoạt động của Phòng hỗ trợ giáo dục đặc biệt trong trường mầm non

Về vấn đề nghiên cứu phát triển và Quản lý hoạt động của Phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt trong trường mầm non và phổ thông hòa nhập mới chỉ được quan tâm nhiều trong những năm gần đây, vì vậy chưa có nhiều các nghiên cứu được công bố về hoạt động của phòng và quản lý hoạt động của phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt, mà mới chỉ tập trung đến các vấn đề về quản lý giáo dục trẻ khuyết tật nói chung, quản lý Giáo dục hòa nhập nói riêng.

Về vấn đề này có thể kể đến tác giả Lê Văn Tạc và các cộng sự, Đề tài cấp Bộ B2006-37-22[34 : “Xây dựng mô hình Trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập”: Tác giả đã đề xuất Mô hình trung tâm trên cơ sở 5 nguyên tắc: đảm bảo tính pháp lí, giúp cho chính quyền địa phương làm tốt hơn công tác chăm sóc, giáo dục Trẻ khuyết tật, đáp ứng nhu cầu thực tế địa phương, tạo điều kiến cho người khuyết tật phát huy tối đa khả năng, tiềm năng, bảo đảm tính bền vững, phát triển và sáng tạo.

Tác giả Phạm Minh Mục, Lê Văn Tạc và nhiều tác giả khác trong tài liệu “Quản lý Giáo dục hòa nhập” [26 (2010) đã cung cấp lý luận cơ bản về quản lý Giáo dục hòa nhập, mô hình quản lý các cấp học có học sinh khuyết tật học hòa nhập, các biện pháp huy động lực lượng cộng đồng và xây dựng môi trường hòa nhập đảm bảo chất lượng Giáo dục hòa nhập.

Phạm Minh Mục [24 (2005), Tạp chí Giáo dục, Công tác quản lý của hiệu trưởng trong trường tiểu học hòa nhập: Tác giả cũng đã đề cập đến các nhiệm vụ và chức năng của hiệu trưởng trong công tác quản lý của trường có học sinh khuyết tật học hòa nhập.

Tác giả Phạm Minh Mục trong các nghiên cứu “Xây dựng chính sách Giáo dục hòa nhập cho trẻ em có hoàn cảnh khó khăn” và “Xây dựng kế hoạch hành động triển khai đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục trẻ khuyết tật” [27,28 Tạp chí Khoa học giáo dục số tháng 7/2012 và tháng 6/2013 đã đề cập đến việc cần phải có một hệ thống chính sách đầy đủ làm công cụ triển khai giáo dục Trẻ khuyết tật. Đặc biệt tác giả nhấn mạnh đến Chương trình hành động xây dựng hệ thống dịch vụ hỗ trợ giáo dục Trẻ khuyết tật và hệ thống quản lý giáo dục Trẻ khuyết tật. Luận văn: Quản lý hoạt động hỗ trợ giáo dục đặc biệt tại mầm non.

Ngoài ra còn có nhiều đề tài luận văn, luận án tiến sỹ đã nghiên cứu về các biện pháp quản lý giáo dục các đối tượng Trẻ khuyết tật khác nhau hoặc của các vùng, miền, các cấp học khác nhau.

Susan M. Bruce và Gerald J. Pine (2010) [60 đã đề nghị: Cần theo dõi và đánh giá thường xuyên sự tiến triển của các chương trình can thiệp hỗ trợ nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra. Trong nghiên cứu của mình tác giả đã đề cập và nêu ra những mục tiêu chung nhất về giáo dục Trẻ khuyết tật (GDTKT), cách thức thực hiện, các điều kiện đảm bảo cho thực hiện Giáo dục trẻ khuyết tật và những tiêu chí đánh giá công việc này. Đồng thời, các tác giả cũng khuyến nghị sự cần thiết phải hình thành mạng lưới phòng hỗ trợ giáo dục đặc biệt nhằm đảm bảo trẻ được can thiệp sớm và học tại nơi trẻ được sinh ra và lớn lên cùng với gia đình. Tác giả cũng khuyến cáo các phương án đảm bảo lợi ích của trẻ và gia đình trẻ. Các mô hình giáo dục phải phong phú và đa dạng tạo điều kiện tối đa cho sự tham gia của trẻ. Đồng thời tác giả cũng khuyến cáo việc hình thành phòng/trung tâm Giáo dục đặc biệt phải mở, làm sao cho cộng đồng có thể tham gia một cách tích cực vào giáo dục trẻ có NCGDĐB.

Lisa R. Churchill, Rita Mulholland và Michelle R. Cepello [53] (Oct 6, 2007) cũng đã kết luận: Việc nhận dạng và phát hiện trẻ có nhu cầu Giáo dục đặc biệt cần được phối hợp với các cơ quan, tổ chức trong nước và các tổ chức phi Chính phủ. Việc làm này cần được đưa vào kế hoạch của mỗi năm học và được xem như một phần của kế hoạch giáo dục chung của nhà trường. kiến trên được tác giả nêu ra dựa trên cơ sở nghiên cứu, mô tả và định ra những tiêu chí phân loại, mức độ tật. Với những khuyến nghị công tác nhận dạng và phát hiện trẻ có NCGDĐB cần được xây dựng kế hoạch tổng thể và có kế hoạch cụ thể cho việc chăm sóc và giáo dục trẻ; đồng thời phải có sự tham gia của các tổ chức, cơ quan chuyên môn. Tác giả cũng định hướng chung cho việc tổ chức, thực hiện Giáo dục trẻ khuyết tật trong trường phổ thông trên cơ sở xây dựng kế hoạch thực hiện năm học của mỗi nhà trường.

Peter Mittler (2000) [56 đã nhận định: Thay đổi môi trường giáo dục nhà trường và hệ thống quản lý giáo dục là rất quan trọng đối với giáo dục trẻ em có NCGDĐB. Việc thay đổi này bao gồm việc sửa đổi chương trình và phương pháp dạy học, thúc đẩy mối quan hệ giữa thầy và trò, tạo cơ hội để mọi trẻ được học tập cùng nhau và thúc đẩy sự tham gia của phụ huynh. Nhận định trên được đưa ra sau khi tác giả đã dành sự quan tâm và chú ý của mình vào việc thay đổi, tạo môi trường giáo dục thích hợp cho việc thực hiện tổ chức quản lý GD trẻ em có NCGDĐB. Trong đó đặt ra các vấn đề hết sức cụ thể như chương trình cần được điều chỉnh và sắp xếp thế nào cho phù hợp; giáo viên cần lựa chọn và sử dụng phương pháp dạy học như thế nào, các phương pháp giáo dục đang được thực hiện trong các cơ sở giáo dục đảm bảo cho trẻ có NCGDĐB phát triển; sự tác động can thiệp, hỗ trợ từ phía giáo viên và vai trò, sự tham gia của phụ huynh học sinh. Tất cả các vấn đề trên phải được cụ thể trong một kế hoach tổng thể và từng giai đoạn phát triển cụ thể. Luận văn: Quản lý hoạt động hỗ trợ giáo dục đặc biệt tại mầm non.

Các tác giả Jean B. Crockett, Bonnie Billingsley, Mary Lynn Boscardin trong “Handbook of Leadership and Administration for Special Education” (2012) [49], Prubudddha Bharata (2005) cho rằng: Để can thiệp và GD trẻ em có nhu cầu Giáo dục đặc biệt đạt hiệu quả, cần chú ý vào ba lĩnh vực sau: Các chương trình can thiệp và giáo dục đặc biệt, chuẩn bị và cung cấp các thiết bị, dụng cụ hỗ trợ giảng dạy, phát triển các kỹ năng bổ sung như: đọc, viết chữ nổi, định hướng di chuyển, kỹ năng sinh hoạt hàng ngày cho trẻ khiếm thị, kỹ năng giao tiếp bằng ngôn ngữ củ chỉ, giao tiếp tổng hợp… cho học sinh khiếm thính… Các tác giả đã hướng nhiều đến thực hiện chương trình giáo dục trong Giáo dục hòa nhập, đặt ra các vấn đề như Giáo dục hòa nhập được thực hiện chương trình giáo dục phổ thông có điều chỉnh hay có thêm chương trình Giáo dục đặc biệt bên cạnh chương trình giáo dục bình thường; sự cần thiết của các phương tiện, thiết bị đồ dùng dạy học và các kỹ năng đặc thù hỗ trợ cho can thiệp và hỗ trợ. Các tác giả cũng cho rằng kỹ năng xã hội, kỹ năng sống là mục tiêu hết sức quan trọng mà Giáo dục đặc biệt cần đạt được. Đặc biệt các tác giả nhấn mạnh đến vai trò của quản lý và việc tổ chức các hoạt động thuộc lĩnh vực trên.

Tác giả William L. Heward, “Exceptional Children: An Introduction to Special Education” (2005) [46  cho rằng sau khi giáo dục chuyên biệt ổn định cần hướng tới Giáo dục hòa nhập. Giáo dục hòa nhập với chương trình, sự hỗ trợ, cách đánh giá đúng sẽ tạo được sự độc lập cho học sinh có nhu cầu Giáo dục đặc biệt. Quan điểm của tác giả được thể hiện rất rõ coi Giáo dục hòa nhập là mô hình giáo dục tối ưu nhất dành cho Trẻ khuyết tật. Từ việc đặt ra và thực hiện tốt ba yếu tố: chương trình giáo dục; tác động hỗ trợ từ các lực lượng trong và ngoài nhà trường; đánh giá về kiến thức, kỹ năng… Sẽ đảm bảo được sự hoà nhập và độc lập của trẻ KT trong và sau khi ra trường.

Kri International Corp (2002) [51], trong The National school mapping and micro-planning project, Unesco, nhận mạnh đến việc qui hoạch mạng lưới phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt phải căn cứ vào thực tiễn nhu cầu giáo dục trước mắt và phải đón đầu sự phát triển. Đặc biệt tác giả nhấn mạnh đến việc sơ đồ (mô hình theo phân vùng địa lý) hóa mạng lưới giáo dục dựa trên sự phân bố dân cư, trong đó có tính đến sự thay đổi của các yếu tố văn hóa, kinh tế xã hội, như yếu tố hội nhập, yếu tố di dân và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế dẫn đến sự thay đổi về dân số và nhu cầu giáo dục.

Nhà nghiên cứu McLeskey (James Matthew Hurt, 2012) và Anne M. Hocutt (Anne M. Hocutt, 1996) chỉ ra sự khác biệt giữa phòng hỗ trợ với các mô hình khác như: lớp học thông thường (regular class), lớp học chuyên biệt (Separate class), trường học chuyên biệt (Separate school):

Lớp học thông thường: học sinh khuyết tật sẽ tham gia học một chương trình chung và các dịch vụ Giáo dục đặc biệt ít hơn 21 tổng thời gian học ở trường. Luận văn: Quản lý hoạt động hỗ trợ giáo dục đặc biệt tại mầm non.

Phòng hỗ trợ: học sinh khuyết tật tham gia chương trình Giáo dục đặc biệt ít nhất là 21 nhưng không được quá 61 tổng thời gian học ở trường.

Lớp học chuyên biệt: học sinh khuyết tật tham gia việc Giáo dục đặc biệt ngoài chương trình của lớp thông thường hơn 60 tổng thời gian học ở trường.

Trường học chuyên biệt: học sinh khuyết tật tham gia chương trình Giáo dục đặc biệt cả ngày.

Như vậy, cả trong nước và quốc tế đã có rất nhiều các nghiên cứu về công tác chăm sóc và giáo dục Trẻ khuyết tật. Các nghiên cứu đã khẳng định mô hình Giáo dục hòa nhập đang là mô hình tối ưu cho việc thực hiện quyền được bình đẳng, không phân biệt đối xử với Trẻ khuyết tật. Cũng đã có nhiều nghiên cứu về việc làm thế nòa để quản lý được giáo giáo dục Trẻ khuyết tật có hiệu quả nhất. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy, quản lý giáo dục TKT có vai trò và ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục và một trong các giải pháp đó là hình thành và phát triển mạng lưới các phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt trong trường mầm non và phổ thông hòa nhập. Mặc dù vậy các tác giả cũng khẳng định rằng để thực hiện được nhiệm vụ trên còn phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện thực tế, như nguồn nhân lực, cơ sở vật chất và đặc biệt là môi trường giáo dục của mỗi cơ sở giáo dục. Vì những lý do trên, vấn đề quản lý giáo dục Trẻ khuyết tật nói chung, Quản lý hoạt động của Phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt nói riêng cần phải tiếp tục nghiên cứu.

1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài

1.2.1. Trẻ khuyết tật và trẻ khuyết tật tuổi mầm non

  • Khái niệm trẻ em

Theo Công ước quốc tế về Quyền Trẻ em của Liên hiệp quốc định nghĩa một đứa trẻ là “mọi con người dưới tuổi 18 trừ khi theo luật có thể áp dụng cho trẻ em, tuổi trưởng thành được quy định sớm hơn hiệp nước này”.

Theo Luật Bảo vệ và chăm sóc trẻ em của Việt Nam năm 2004 quy định trẻ em “Là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”. Một số định nghĩa tiếng Anh của từ trẻ em bao gồm thai nhi. Về mặt sinh học, một đứa trẻ là bất kỳ ai trong giai đoạn phát triển của tuổi thơ ấu, giữa sơ sinh và trưởng thành. Luận văn: Quản lý hoạt động hỗ trợ giáo dục đặc biệt tại mầm non.

Như vậy, giữa Luật của Việt Nam và của Liên hiệp quốc có sự khác biệt. Trong nghiên cứu này, để đáp ứng nhu cầu hội nhập đề tài lựa chọn khái niệm trẻ em theo Công ước quốc tế của Liên Hiệp quốc.

  • Khái niệm trẻ khuyết tật

Việt nam cũng như trên thế giới có nhiều định nghĩa khác nhau về trẻ khuyệt. Mỗi ngành trên cơ sở chức năng của họ có thể xây dựng các tiêu chí khác nhau, trong phạm vi nghiên cứu này, đề tài lựa chọn khái niệm được quy định trong Luật về người khuyết tật Việt Nam và của Bộ Giáo dục đào Trẻ khuyết tật là: “Là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”; Trẻ khuyết tật ngoài những nhu cầu chung, cần được đáp ứng những nhu cầu khác phù hợp với đặc điểm phát triển riêng của từng cá nhân để có thể hòa nhập cộng đồng [26].

Trẻ khuyết tật tuổi mầm non là trẻ khuyết tật trong độ tuổi từ 03 tháng đến 6 tuổi, là độ tuổi theo học tại trường mầm non.

Phân loại trẻ khuyết tật:

Hiện nay, ở Việt Nam cũng như trên thế giới có nhiều cách phân loại, theo Luật người khuyết tật và của Bộ GD&ĐT, trong phạm vi nghiên cứu này, có thể phân loại như sau:

  • Trẻ khiếm thính: Trẻ khiếm thính là trẻ bị suy giảm sức nghe ở các mức độ khác nhau dẫn tới khó khăn về ngôn ngữ và giao tiếp, ảnh hưởng đến quá trình nhận thức, và các chức năng tâm lý khác.
  • Trẻ khiếm thị: Trẻ khiếm thị là trẻ có khuyết tật thị giác, khi đã có phương tiện trợ giúp nhưng vẫn gặp nhiều khó khăn trong các hoạt động cần sử dụng mắt. Trẻ khiếm thị có những mức độ khác nhau về thị lực và thị trường của thị giác.
  • Trẻ khuyết tật trí tuệ: Trẻ KTTT là trẻ có những biểu hiện sau:
  • Chức năng trí tuệ dưới mức trung bình (IQ <70);
  • Hạn chế ít nhất 2 lĩnh vực hành vi thích ứng như: Giao tiếp/liên cá nhân, tự phục vụ, sống tại gia đình, xã hội, sử dụng các tiện ích tại cộng đồng, tự định hướng, kỹ năng học đường, giải trí, lao động, sức khoẻ,và an toàn;…
  • Hiện tượng này xuất hiện trước 18 tuổi. Luận văn: Quản lý hoạt động hỗ trợ giáo dục đặc biệt tại mầm non.
  • Trẻ khuyết tật ngôn ngữ – giao tiếp: Trẻ khuyết tật ngôn ngữ – giao tiếp là những trẻ có sự phát triển lệch lạc về ngôn ngữ. Khuyết tật ngôn ngữ được xác định dựa trên những biểu hiện như: nói ngọng, nói lắp, nói không rõ, không nói được (câm không điếc) không kèm theo các dạng khó khăn khác như khuyết tật trí tuệ, đao, bại não,…
  • Trẻ khuyết tật vận động: Là những trẻ có sự tổn thất chức năng vận động làm cản trở đến việc di chuyển, sinh hoạt và học tập,…
  • Trẻ có rối loạn phổ tự kỉ: Trẻ có hạn chế khả năng hiểu và sử dụng ngôn ngữ để tương tác với người khác người khác và môi trường, có khiếm khuyết về kĩ năng xã hội, hành vi lặp lại và hạn chế sở thích (Đối tượng người có rối loạn phổ tự kỷ chưa đưọc đưa vào Luật, tuy nhiên đã có nhiều kiến nghị sẽ bổ sung trong thời gian tới).
  • Trẻ có khó khăn về học (còn có cáh gọi khác là trẻ có khuyết tật học tập – Children with learning dificulties): Bao gồm những học sinh có rối nhiễu đọc – viết chữ , toán, rối nhiễu về lời nói và ngôn ngữ, rối nhiễu giác quan và hành vi. Những rối nhiễu này làm ảnh hưởng đến khả năng học tập
  • Trẻ đa tật: Là những học sinh có từ 2 khuyết tật trở lên. Ví dụ như vừa khiếm thính, vừa khiếm thị hay vừa khuyết tật trí tuệ, vừa khuyết tật vận động,…

Mỗi nhóm học sinh khuyết tật kể trên có các mức độ khuyết tật nặng nhẹ khác nhau. Tuỳ theo mức độ khuyết tật của từng cá nhân học sinh có thể làm ảnh hưởng tới khả năng học tập, tham gia vào hoạt động của học sinh đó ở mức độ khó khăn hay rất khó khăn.

Việc phân loại khuyết tật và sử dụng để gọi tên/định danh trẻ ở trong trường học sẽ không mang lại những giá trị về văn hóa trường học và không tạo được động cơ khuyến khích học sinh học tập. Phân loại và gán mác khuyết tật thực chất chính là cách chúng ta đã phân biệt đối với một nhóm đối tượng có sự hạn chế hơn so với những học sinh khác.

Trong thực tế Giáo dục hòa nhập ở Việt Nam, đã có nhiều phụ huynh từ chối xác nhận con khuyết tật do cách gán mác của cộng đồng, nhà trường đối với học sinh và gia đình của các em. Đặc biệt hơn nữa, cũng có những trường hợp học sinh trung học có phản ứng quyết liệt đề nghị nhà trường đưa các em ra khỏi danh sách khuyết tật để bạn bè, thầy cô không gọi tên các em là nhóm học sinh khuyết tật nữa. Vấn đề này khi đề cập đến chúng tôi mong muốn một lần nữa trao đổi với nhà trường, các giáo viên, bạn bè của các em và các phụ huynh để có cách nhìn nhận đúng về học sinh khuyết tật và có thái độ ứng xử xã hội phù hợp với các em như một cá nhân có đặc điểm riêng, có nhu cầu, năng lực như bất cứ một học sinh nào khác trong trường học.

Trẻ em có nhu cầu giáo dục đặc biệt

Nhu cầu Giáo dục đặc biệt là thuật ngữ dùng để nói đến tất cả học sinh không hoặc chưa thực hiện đầy đủ chương trình giáo dục phổ thông do khuyết tật, khó khăn về học cũng như điều kiện học tập. Trẻ gặp khó khăn trong học tập có thể xảy ra tại một thời điểm nào đó hoặc trong suốt quá trình học tập tại trường. Luận văn: Quản lý hoạt động hỗ trợ giáo dục đặc biệt tại mầm non.

“Trẻ có nhu cầu đặc biệt được hiểu là trẻ dưới 16 tuổi không hoặc chưa có khả năng tham gia chương trình giáo dục hoặc có thể đi học nhưng học tập chưa hiệu quả do khuyết tật hoặc có khó khăn trong học tập, do các vấn đ xã hội, nghèo đói, bị xa lánh và chỗ không ổn định, thiếu tình thương, sức khỏe yếu,…[26 ”.

Nhìn chung, trẻ có nhu cầu Giáo dục đặc biệt là những Trẻ khuyết tật, có khó khăn trong học tập một giai đoạn nào đó hoặc suốt trong quá trình học tập. Những nguyên nhân gây ra có thể là do khuyết tật, do hoàn cảnh, do môi trường, điều kiện sinh sống, do khác biệt về văn hóa, do khác biệt về điều kiện kinh tế,…

Trong khuôn khổ nghiên cứu đề tài luận văn này, tác giả tập trung nghiên cứu đối tượng trẻ em có nhu cầu Giáo dục đặc biệt là Trẻ khuyết tật trong tuổi mầm non học tập trong trường mầm non nơi trẻ đang sinh sống như bao trẻ khác trong cùng độ tuổi.

1.2.2.  Giáo dục trẻ khuyết tật và các mô hình giáo dục trẻ khuyết tật

1.2.2.1. Khái niệm giáo dục và giáo dục trẻ khuyết tật Khái niệm giáo dục:

Theo quan điểm của Giáo dục học, khái niệm giáo dục có thể hiểu theo hai nghĩa là nghĩa rộng và nghĩa hẹp.

Giáo dục (Theo nghĩa rộng): Là sự hình thành nhân cách được tổ chức một cách có mục đích, có tổ chức thông qua các hoạt động và các quan hệ giữa nhà giáo dục với người được giáo dục nhằm giúp người được giáo dục chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội của loài người.

Giáo dục (theo nghĩa hẹp): Đó là một bộ phận của quá trình sư phạm, là quá trình hình thành những cơ sở khoa học của thế giới quan, niềm tin, lý tưởng, động cơ, tình cảm, thái độ, những tính cách, những hành vi, thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội, kể cả việc phát triển và nâng cao thể lực. Chức năng trội của quá trình giáo dục (theo nghĩa hẹp) chỉ được thực hiện trên cơ sở vừa tác động đến ý thức, vừa tác động đến tình cảm và hành vi.

Khái niệm giáo dục trẻ khuyết tật:

Khái niềm « Giáo dục » (Education) theo nghĩa chung là hình thức học tập theo đó kiến thức, kỹ năng, và thói quen của một nhóm người được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua giảng dạy, đào tạo, hay nghiên cứu. Giáo dục thường diễn ra dưới sự hướng dẫn của người khác, nhưng cũng có thể thông qua tự học. Bất cứ trải nghiệm nào có ảnh hưởng đáng kể lên cách mà người ta suy nghĩ, cảm nhận, hay hành động đều có thể được xem là có tính giáo dục. Giáo dục thường được chia thành các giai đoạn như giáo dục tuổi ấu thơ Giáo dục mầm non), giáo dục tiểu học, giáo dục trung học, và giáo dục đại học.

Mục tiêu giáo dục của Việt Nam đã được thể chế hóa trong Luật Giáo dục, cụ thể là: Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc (Điều 2, Luật Giáo dục 2005). Luận văn: Quản lý hoạt động hỗ trợ giáo dục đặc biệt tại mầm non.

Quyền được giáo dục ngày nay đã được hầu hết các quốc gia trên thế giới thừa nhận. Ở cấp độ toàn cầu, Điều 13 của Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa (1966) của Liên Hiệp Quốc công nhận quyền giáo dục của tất cả mọi người. Mặc dù ở hầu hết các nước giáo dục có tính chất bắt buộc cho đến một độ tuổi nhất định, việc đến trường thường không bắt buộc; một số ít các bậc cha mẹ chọn cho con cái học ở nhà, học trực tuyến, hay những hình thức tương tự.

Theo công ước quốc tế về quyền trẻ em, với góc nhìn bình đẳng, không phân biệt đối xử thì mọi trẻ em đều là trẻ em và đều có quyền được hưởng nền giáo dục có chất chất lượng cũng như quyền được phát triển tối đa những năng lực còn tiểm ẩn.

Tóm lại, giáo dục Trẻ khuyết tật cũng là giáo dục cho trẻ em, cũng là việc truyền bá lại những kiến thức, kỹ năng từ thế hệ này cho thế hệ khác, nếu có khác nhau là khác ở những mục tiêu và phương thức tổ chức giáo dục cụ thể cho phù hợp với đặc điểm nhận thức cũng như các điều kiện cá nhân của đối tượng người học.

Từ những khái niệm trên và dựa trên các nguyên tắc giáo dục – dạy học đã được công nhận giáo dục Trẻ khuyết tật có các mục tiêu cụ thể sau :

Mục tiêu chung

  • Đảm bảo cho Trẻ khuyết tật hưởng những quyền giáo dục cơ bản, quyền tự do không tách biệt, tham gia vào mọi hoạt động xã hội và có cơ hội cống hiến.
  • Phát triển toàn diện các mặt cho Trẻ khuyết tật, bao gồm: Đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và khả năng lao động; phát triển kiến thức, kĩ năng văn hóa xã hội, thái độ tích cực, tạo điều kiện hoà nhập cộng đồng khi trẻ 18 tuổi.
  • TKT có cơ hội hòa nhập vào môi trường giáo dục bình thường, phát triển hài hòa và tối đa những khả năng còn lại để hình thành, phát triển nhân cách.

Các mục tiêu cụ thể

  • Về kiến thức, kĩ năng văn hóa: Đạt trình độ phát triển tối đa so với khả năng của trẻ trong cùng thời gian và môi trường giáo dục phổ thông. Luận văn: Quản lý hoạt động hỗ trợ giáo dục đặc biệt tại mầm non.
  • Về kĩ năng xã hội: Được trang bị những kiến thức và kĩ năng xã hội như trẻ bình thường ở cùng độ tuổi, có điều chỉnh cho phù hợp.
  • Phục hồi chức năng: Cải thiện tình trạng suy giảm các chức năng do khuyết tật gây nên đồng thời phát huy tối đa những chức năng còn lại.
  • Giáo dục tự phục vụ, lao động: Phát huy tối đa khả năng tự phục vụ của trẻ trong các hoạt động sống, sinh hoạt, học tập hàng ngày.
  • Giáo dục lao động, hướng nghiệp và dạy nghề: Được hướng nghiệp, học nghề trong các cơ sở đào tạo để có một nghề hay một công việc có thu nhập và có cơ hội được cống hiến cho xã hội.

Như vậy, mục tiêu của giáo dục Trẻ khuyết tật được xác định trên cơ sở mục tiêu chung của giáo dục Việt Nam, tuy nhiên nhấn mạnh đến các yếu tố về điều kiện và khả năng phát triển của cá nhân trẻ. Trong đó có mục tiêu giáo dục cụ thể cho từng nhóm đối tượng học sinh khuyết tật khác nhau để điều chỉnh mục tiêu giáo dục cho phù hợp. Ví dụ đối với nhóm học sinh khuyết tật trí tuệ thì mục tiêu giáo dục chính không phải là kiến thức của các môn học mà là những kỹ năng xã hội giúp các em có thể thành những thành viên độc lập của xã hội, có thể tự lo cho bản thân như tự phục vụ, chủ động trong giao tiếp xã hội và cuối cùng là khả năng sống tự lập; với những đối tượng học sinh như khuyết tật vận động, khiếm thị thì những ảnh hưởng của khuyết tật không ảnh hưởng nhiều đến phát triển trí tuệ thì mục tiêu giáo dục kiến thức các môn học vẫn là mục tiêu trọng tâm, đồng thời phát triển những kỹ năng nhằm hạn chế những khó khăn do khuyết tật gây ra, giúp các em hòa nhập cuộc sống tốt hơn.

1.2.2.2. Các mô hình giáo dục trẻ khuyết tật

  • Mô hình giáo dục chuyên biệt

Trong lịch sử phát triển của Giáo dục đặc biệt, mô hình giáo dục chuyên biệt là hình thức xuất hiện sớm nhất. Nó xuất hiện từ thế kỷ XI tại một số nước Châu Âu như Pháp, Đức, Tây Ban Nha… dưới dạng những lớp học trong nhà thờ tập trung những trẻ mù, điếc, câm. Sau đó nó dần phổ biến ở nhiều nước và trở thành hệ thống các trường chuyên biệt dạy Trẻ khuyết tật. Ngày nay, mô hình giáo dục chuyên biệt đã trở nên phổ biến ở hầu hết các quốc gia; và trong công tác nghiên cứu khoa học thì giáo dục chuyên biệt đã trở thành một khái niệm cơ bản nhất của Giáo dục đặc biệt.

Theo tác giả Phạm Minh Mục, Giáo dục chuyên biệt là một phương thức giáo dục trẻ em có cùng dạng, mức độ khuyết tật theo chương trình chuyên biệt, khác với chương trình giáo dục phổ thông, tại cơ sở giáo dục riêng [2 .

Giáo dục chuyên biệt hướng tới mục tiêu chăm sóc, phục hồi chức năng để Trẻ khuyết tật ở một mức độ tốt nhất có thể tự phục vụ, giảm mặc cảm và học cách tham gia các hoạt động xã hội, để có một cuộc sống bình thường. Từ mục tiêu tổng quát này, giáo dục chuyên biệt hình thành hệ thống các mục tiêu nhỏ, trong đó có các mục tiêu chính là:

  • Can thiệp nhằm hạn chế ảnh hưởng của khuyết tật và phát triển bù trừ chức năng thông qua các phương pháp, phương tiện giáo dục; Luận văn: Quản lý hoạt động hỗ trợ giáo dục đặc biệt tại mầm non.
  • Phục hồi hoặc tái phục hồi chức năng bị mất hoặc sai lệch do hậu quả của khuyết tật;
  • Phát triển các kỹ năng đặc thù và phát triển nhân cách cho Trẻ khuyết tật.

Mô hình giáo dục chuyên biệt cần có các yếu tố: Một là, trường học dành riêng cho Trẻ khuyết tật; Hai là, Trẻ khuyết tật học tập và sinh hoạt trong khu nội trú của trường, tách biệt riêng với các trường phổ thông; Ba là, sử dụng chương trình giáo dục riêng.

Mô hình giáo dục chuyên biệt xuất hiện sớm, đã thể hiện được giá trị lịch sử, những đóng góp tích cực của nó trong giáo dục Trẻ khuyết tật. Ưu điểm của mô hình này là bộ phận giáo viên được đào tạo chuyên sâu, có kỹ năng, kiến thức, kinh nghiệm trong công tác chăm sóc và giáo dục trẻ. Tuy nhiên mô hình này cũng tồn tại những điểm hạn chế như: quan niệm về Trẻ khuyết tật chỉ thấy những khiếm khuyết mà bỏ qua tiềm năng của trẻ; giáo dục tách biệt khiến Trẻ khuyết tật cảm thấy mặc cảm, thiếu tự tin, tạo ra rào cản để trẻ phát triển; môi trường giáo dục chuyên biệt tồn tại nhiều cản trở đối với sự phát triển của Trẻ khuyết tật; một điểm hạn chế nữa là mô hình giáo dục chuyên biệt cần chi phí rất lớn.

  • Mô hình giáo dục hội nhập

Ra đời sau mô hình giáo dục chuyên biệt nhiều thế kỷ, mãi đến những năm cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỷ XX tại nước Đức và các nước tư bản phát triển mới ghi nhận sự tồn tại của các lớp chuyên biệt trong hệ thống trường phổ thông.

Thế chiến lần 2 kết thúc, xã hội loài người trải qua một bước ngoặt lớn, nhiều hệ tư tưởng, giá trị, quan điểm xã hội cũng dần thay đổi. Quan điểm về nhìn nhận sự khác biệt giữa các cá nhân đã có những thay đổi nhất định.Xã hội chấp nhận và tôn trọng sự khác biệt đó, trên cơ sở đảm bảo quyền con người – với những nội dung cơ bản: quyền được tự do, bình đẳng về phẩm giá pháp luật; quyền được sống, được tự do… Chính những thay đổi này kéo theo sự thay đổi trong cách nhìn nhận về người khuyết tật, tôn trọng giá trị, quyền của người khuyết tật. Tiếp sau sự thay đổi đó là sự phát triển mạnh mẽ của Giáo dục đặc biệt, giáo dục chuyên biệt đã không thể đáp ứng và tồn tại nhiều mâu thuẫn, dẫn đến sự phát triển của mô hình giáo dục hội nhập (bán hòa nhập) như một tất yếu.

Theo tác giả Nguyễn Đức Minh, Giáo dục hội nhập (bán hòa nhập) là hình thức giáo dục Trẻ khuyết tật, trong đó Trẻ khuyết tật học tập trung chuyên biệt theo chương trình, nội dung riêng với thời lượng nhất định, thời lượng còn lại tham gia các hoạt động học tập, sinh hoạt, xã hội cùng các bạn bình thường và với cộng đồng [2 .

Mục tiêu: Một là, thực hiện các mục tiêu giáo dục chuyên biệt Trẻ khuyết tật; Hai là, tăng cường hoạt động xã hội giữa Trẻ khuyết tật và những trẻ cùng độ tuổi. Luận văn: Quản lý hoạt động hỗ trợ giáo dục đặc biệt tại mầm non.

Những ưu điểm chính của giáo dục hội nhập: Một là, tăng sự tiếp xúc xã hội của Trẻ khuyết tật; Hai là, giáo viên phổ thông và giáo viên được đào tạo chuyên sâu về Giáo dục đặc biệt cùng tham gia công tác giáo dục Trẻ khuyết tật. Những hạn chế chính: Một là, Trẻ khuyết tật chưa thực sự hội nhập rong môi trường giáo dục phổ thông; Hai là, Trẻ khuyết tật tham gia các lớp chuyên biệt theo một chương trình riêng, không trùng lặp với chương trình chung nên tre không thích ứng được.

  • Mô hình giáo dục hòa nhập

Mô hình giáo dục hòa nhập tồn tại như một tất yếu trong lịch sử phát triển của Giáo dục đặc biệt. Nó hướng đến phát huy tối đa những ưu điểm và hạn chế nhược điểm của mô hình giáo dục hội nhập.

Theo tác giả Lê Văn Tạc, Giáo dục hòa nhập là phương thức giáo dục trong đó Trẻ khuyết tật cùng học với trẻ em bình thường trong trường phổ thông ngay tại nơi trẻ sinh sống [2].

Giáo dục hòa nhập là một thuật ngữ có xuất xứ từ Canada và được hiểu là những trẻ ngoại lệ được hòa nhập, quy thuộc vào trường phổ thông. Giáo dục hòa nhập là giáo dục mọi trẻ em, trong đó có Trẻ khuyết tật, trong lớp học bình thường của trường phổ thông. Giáo dục hòa nhập là “Hỗ trợ mọi học sinh, trong đó có Trẻ khuyết tật, cơ hội bình đẳng tiếp nhận dịch vụ giáo dục với những hỗ trợ cần thiết trong lớp học, phù hợp tại trường phổ thông nơi trẻ sinh sống, nhằm chuẩn bị tr thành những thành viên đầy đủ của xã hội” [3]. Giáo dục hòa nhập đòi hỏi sự hỗ trợ cần thiết để mọi Trẻ khuyết tật phát triển hết khả năng. Sự hỗ trợ cần thiết được thể hiên trong việc điều chỉnh chương trình, trong đồ dùng dạy học, dụng cụ hỗ trợ đặc biệt, và trong các kỹ năng giảng dạy đặc thù,… Các giáo viên Giáo dục đặc biệt, giáo viên Giáo dục hòa nhập và nhân viên nhà trường nhận thức sâu về sự công bằng trong đối xử giữa mọi trẻ để từ đó có hành vi ứng xử phù hớp trong Giáo dục hòa nhập,… Trường hoà nhập là một “Tổ chức giải quyết vấn đ đa dạng, nhằm chú trọng đến việc học của mọi trẻ. Mọi giáo viên, cán bộ và nhân viên nhà trường cam kết làm việc cùng nhau, tạo ra và duy trì môi trường đầm ấm, có hiệu quả cho việc học tập. Trách nhiệm cho mọi trẻ được chia sẻ“[3]. Luận văn: Quản lý hoạt động hỗ trợ giáo dục đặc biệt tại mầm non.

GDHN căn cứ vào quan điểm xã hội để nhìn nhận Trẻ khuyết tật. Quan điểm xã hội cho rằng nguyên nhân gây khuyết tật không chỉ do khiếm khuyết của bản thân mà còn do khiếm khuyết xã hội. Trong đó, khiếm khuyết xã hội đóng vai trò chủ yếu. Ví dụ: trẻ khiếm thính, do giảm hoặc mất khả năng nghe nên gặp khó khăn hoặc không thể giao tiếp bằng lời, nếu kí hiệu ngôn ngữ không được chấp nhận như phương tiện giao tiếp chủ yếu thì trẻ khiếm thính trở thành khuyết tật. Còn nếu loại hình giao tiếp này được chấp nhận, được phổ biến rộng rãi thì trẻ khiếm thính sẽ không bị coi là Trẻ khuyết tật; hoặc trẻ khiếm thị không thể đọc và viết được bằng chữ “phẳng” như những người mắt sang, nếu chữ nổi Braille không được chấp nhận như phương tiện chữ viết chính thì trẻ khiếm thị được coi như người khuyết tật. Từ quan điểm này, Giáo dục hòa nhập bao gồm các yếu tố sau:

  • TKT được học ở trường thuộc khu vực sinh sống.
  • TKT, với tỷ lệ hợp lý, được bố trí vào lớp học phù hợp lứa tuổi.
  • Cung cấp các dịch vụ và giúp đỡ Trẻ khuyết tật ngay trong trường hoà nhập.
  • Mọi trẻ đều là thành viên của tập thể. Bạn bè cùng lứa giúp đỡ lẫn nhau.
  • Đánh giá cao tính đa dạng của Trẻ khuyết tật.
  • Điều chỉnh chương trình phổ thông cho phù hợp với năng lực nhận thức của Trẻ khuyết tật. Phương pháp dạy học đa dạng dựa vào điểm mạnh của trẻ. Trẻ với những khả năng khác nhau được học theo nhóm.
  • Giáo viên hòa nhập và giáo viên phụ trách chuyên biệt cùng chia sẻ trách nhiệm giáo dục mọi đối tượng trẻ

Chú trọng cả lĩnh hội tri thức và kỹ năng xã hội. UNESCO đề ra 4 trụ cột giáo dục trong thế kỷ XXI là: Học để biết (Learning to Know); Học để làm (Learning to Do); Học để làm người (Learning to Be); Học để cùng chung sống (Learning to Live together). Theo đó, chúng ta thấy rằng Giáo dục hòa nhập hướng đến mục tiêu cao nhất không phải là các kiến thức của các môn học; hay năng lực, kỹ năng thao tác. Ở đây Giáo dục hòa nhập hướng đến sự hình thành kỹ năng sống, kỹ năng khẳng định giá trị bản thân vượt qua những mặc cảm và quan trọng hơn nữa là hướng đến sự hòa nhập cộng đồng của Trẻ khuyết tật.

1.2.3. Trường mầm non có trẻ khuyết tật học hòa nhập Luận văn: Quản lý hoạt động hỗ trợ giáo dục đặc biệt tại mầm non.

Khái niệm Trường mầm non:

Theo Luật giáo dục (2005) quy định, Trường mầm non là cơ sở giáo dục kết hợp nhà trẻ và mẫu giáo, nhận trẻ em từ ba tháng tuổi đến sáu tuổi.

Trường mầm non có trẻ khuyết tật học hòa nhập:

Trên cơ sở kết hợp những khái niệm trường mầm non, giáo dục hòa nhập, Trẻ khuyết tật đã đề cập ở trên, rút ra khái niệm về trường mầm non có Trẻ khuyết tật học hòa nhập như sau: “Là trường mầm non có trẻ mầm non khuyết tật học hòa nhập”.

Hoạt động Giáo dục hòa nhập của nhà trường cho phép Trẻ khuyết tật tham gia học tập, sinh hoạt với tất cả các trẻ khác trong cùng độ tuổi. Việc được học tập và vui chơi cùng với các bạn trong độ tuổi giúp Trẻ khuyết tật giảm bớt sự mặc cảm và hòa nhập với môi trường giáo dục bình thường, tạo điều kiện cải thiện kết quả giáo dục Trẻ khuyết tật.

Trường mầm non có trẻ KT học hòa nhập phải đảm bảo điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị, phục vụ nhu cầu giáo dục của trẻ trong độ tuổi mầm non; đồng thời đội ngũ giáo viên được đào tạo chính quy hoặc đã qua các lớp tập huấn về giáo dục Trẻ khuyết tật; Đảm bảo điều kiện cho việc chăm sóc và giáo dục trẻ, bao gồm cả Trẻ khuyết tật.

1.2.4. Phòng hỗ trợ giáo dục đặc biệt

Để có thể hiểu rõ hơn về khái niệm Phòng hỗ trợ giáo dục đặc biệt, tác giả làm rõ một số những khái niệm dưới đây:

Hỗ trợ được hiểu là giúp đỡ, hoặc sự giúp đỡ lẫn nhau. Luận văn: Quản lý hoạt động hỗ trợ giáo dục đặc biệt tại mầm non.

Phòng được hiểu là một địa điểm nơi các hoạt động hoặc các dịch vụ được tập trung. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, Phòng được hiểu là nơi diễn ra các hoạt động, cung cấp dịch vụ giáo dục cho Trẻ khuyết tật.

Hỗ trợ giáo dục đặc biệt được hiểu là các dịch vụ giáo dục đối tượng trẻ có nhu cầu giáo dục đặc biệt học giáo dục hòa nhập. Dịch vụ hỗ trợ Giáo dục đặc biệt bao gồm công việc tư vấn; trực tiếp can thiệp và trợ giúp quá trình Giáo dục hòa nhập Trẻ khuyết tật.

Dịch vụ tư vấn cho người quản lý về lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra hoạt động Giáo dục hòa nhập; tư vấn chuyên môn cho giáo viên về kiến thức, kỹ năng, chia sẻ kinh nghiệm và hỗ trợ giáo viên trong giáo dục Trẻ khuyết tật học hòa nhập; tư vấn cho phu huynh Trẻ khuyết tật kiến thức về Trẻ khuyết tật mầm non và những nhu cầu của trẻ, cách thức nuôi dưỡng chăm sóc và giáo dục trẻ tại gia đình, cách phối hợp giáo dục giữa gia đình, nhà trường để đạt kết quả tốt nhất.

Dịch vụ trực tiếp can thiệp giáo dục cho Trẻ khuyết tật trong trường mầm non. Trợ giúp những trẻ có nhu cầu Giáo dục đặc biệt cao, cần bổ sung thời lượng Giáo dục đặc biệt.

Phòng hỗ trợ giáo dục đặc biệt

Khái niệm Phòng hỗ trợ (resource room) xuất phát từ khái niệm Giáo dục đặc biệt (special education) và giáo dục trị liệu (remedial education) cho học sinh khó khăn trong học tập. Phòng hỗ trợ xuất hiện với nhiều tên gọi khác nhau như: Phòng thí nghiệm học tập, phòng phụ đạo, phòng hội thảo, trung tâm trị liệu…

Phòng hỗ trợ không phải là một thuật ngữ mới mẻ đối với Giáo dục đặc biệt ở các nước phát triển. Phòng hỗ trợ được biết đến với việc cung cấp những dịch vụ cho các học sinh có sự suy giảm về khả năng nhìn từ đầu những năm 1930 ở Mỹ. Một số các tác giả nước ngoài có đề cập về Phòng hỗ trợ như:

Theo Wiener và Tardif, Phòng hỗ trợ là một lớp chuyên biệt tại trường phổ thông, trong đó học sinh khuyết tật nhận một phần dịch vụ ngay tại phòng này còn phần lớn thời gian vẫn ở lớp thông thường với một chương trình học riêng phù hợp[51].

Tác giả D.D. Hammill, Wiederholt và J. Lee định nghĩa phòng hỗ trợ là một phòng phụ đạo riêng biệt trong trường phổ thông, là nơi mà các học sinh khuyết tật như khuyết tật học tập cục bộ sẽ được nhận các hướng dẫn đặc biệt, hỗ trợ làm bài tập một cách trực tiếp. Các bài tập này liên quan tới cá nhân học sinh hoặc nhóm học sinh [57].

Nhìn chung, các nghiên cứu đều cho rằng Phòng hỗ trợ cung cấp các dịch vụ cho đối tượng có nhu cầu đặc biệt.

Từ những nghiên cứu đã có, tác giả đưa ra khái niệm về Phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt sử dụng trong đề tài này:

“Phòng hỗ trợ giáo dục đặc biệt là bộ phận chuyên môn trong trường mầm non cung cấp các dịch vụ giáo dục nhằm đảm bảo hỗ trợ cho Trẻ khuyết tật phát triển tối đa năng lực là tiềm năng của mình trong học tập, sinh hoạt và hòa nhập xã hội để tr thành công dân hữu ích” Luận văn: Quản lý hoạt động hỗ trợ giáo dục đặc biệt tại mầm non.

Phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt có thể gọi tắt là Phòng hỗ trợ, cần có các thiết bị tương ứng với mỗi dạng Trẻ khuyết tật với mức độ khác nhau, để hình thành và phát triển những kĩ năng cần thiết cho Trẻ khuyết tật trong quá trình thực hiện Giáo dục hòa nhập.

1.2.5. Quản lý và quản lý hoạt động của phòng hỗ trợ giáo dục đặc biệt

1.2.5.1. Khái niệm quản lý

Quản lý là một khái niệm rộng, có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý được đưa ra dựa vào mục đích mà chủ thể quản lý muốn hướng đến. Đã có nhiều tác giả trong nước và nước ngoài đưa ra những khái niệm khác nhau về quản lý, trong đó có thể kể đến:

Tác giả H.Koontz: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu nhằm đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân để đạt được mục đích của nhóm (tổ chức). Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường trong đó con người có thể đạt được mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [27].

Tác giả F.W. Taylor: “Quản lý là biết chính xác đi u muốn người khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”[28].

Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc – Nguyễn Quốc Chí: “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”[23].

Tác giả Đặng Vũ Hoạt – Hà Thị Đức: “Quản lý là một quá trình định hướng của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến”[14].

Có thể thấy trong những định nghĩa đã nêu trên, quản lý dù nhìn từ góc độ nào thì nó cũng là quá trình tác động một cách có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Một yếu tố nữa được nhắc đến trong những định nghĩa trên là hiệu quả sử dụng các nguồn lực. Hoạt động quản lý luôn hướng đến mục tiêu đặt ra, nhưng với chi phí rẻ nhất, tài nguyên sử dụng ít nhất. Hoạt động này diễn ra trong môi trường xác định, thông qua các công cụ và phương pháp của nhà quản lý trong môi trường đó. Luận văn: Quản lý hoạt động hỗ trợ giáo dục đặc biệt tại mầm non.

Theo một cách chung nhất, khái niệm quản lý có thể hiểu như sau: “Quản lý là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý thông qua các chức năng: kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra nhằm đạt được mục tiêu đ ra trên cơ s tối ưu hóa các nguồn lực”.

1.2.5.2. Các chức năng quản lý

Qua nghiên cứu lý luận và thực tế hoạt động quản lý, có thể xác định rằng quản lý bao gồm bốn chức năng cơ bản: Lập kế hoach (kế hoạch hóa); Tổ chức; Chỉ đạo (lãnh đạo); Kiểm tra, đánh giá.

Chức năng lập kế hoạch (kế hoạch hóa): Xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu trong tương lai của tổ chức và cách thức, biện pháp, các nguồn lực cần thiết để đạt được mục tiêu, mục đích đó. Trong chức năng lập kế hoạch cần chú ba nội dung: Một là, xác định hình thành mục tiêu của tổ chức; Hai là, xác định các nguồn lực của tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra; Ba là, quyết định những hoạt động nào là cần thiết để đạt được mục tiêu đó.

Chức năng tổ chức: Khi đã có kế hoạch chi tiết, người quản lý cần phải chuyển hóa kế hoạch đó thành hiện thực. Về mặt chức năng quản lý, tổ chức là công việc hình thành cấu trúc quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công kế hoạch nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức.

Chức năng chỉ đạo (lãnh đạo): Chỉ đạo bao hàm việc liên hệ, liên kết với người khác và theo dõi, khuyến khích, động viên họ hoàn thành nhiệm vụ nhất định để hướng đến đạt được mục tiêu chung của tổ chức.

Chức năng chỉ đạo, cùng với chức năng tổ chức nhằm huy động và sử dụng nguồn lực có thể của tổ chức để thực hiện mục tiêu, kế hoạch đã vạch ra. Về bản chất của chức năng lãnh đạo là sự tác động, gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý lên những thành viên của tổ chức, nhằm biến những yêu cầu chung thành nhu cầu của mọi người, làm cho các thành viên gắn kết, tích cực, chủ động, trách nhiệm, tự giác trong việc hoàn thành mục tiêu cá nhân với kết quả cao.

Chức năng kiểm tra, đánh giá: là một chức năng cơ bản của quản lý, thông qua đó một cá nhân hay tổ chức theo dõi, giám sát các thành quả hoạt động. Theo dõi, kiểm tra, đánh giá cần căn cứ vào mục tiêu đã đề ra. Chỉ khi kết quả của quá trình quản lý phù hợp với mục tiêu và nguồn lực hao phí thì hoạt động quản lý mới được coi là thành công. Ngược lại, nếu thành quả đạt được không tương ứng với sự hao phí hoặc không đạt được mục tiêu chung của tổ chức thì quá trình quản lý cần phải tiến hành điều chỉnh. Luận văn: Quản lý hoạt động hỗ trợ giáo dục đặc biệt tại mầm non.

Nhìn vào sơ đồ 1.1 ta có thể thấy rằng giữa bốn chức năng của quản lý tồn tại mối liên hệ chặt chẽ. Giữa chúng là những ràng buộc qua lại, tác động đến nhau. Ví dụ: Chức năng lập kế hoạch là khởi đầu, vạch ra mục tiêu, cách thức thực hiện, các nguồn lực cần thiết… là cơ sở để tiến hành quá trình hiện thực hóa kế hoạch thông qua chức năng tổ chức, chỉ đạo. Quá trình tổ chức, chỉ đạo hiện thực hóa kế hoạch sẽ có những thông tin phản hồi cho người quản lý, căn cứ vào đó để điều chỉnh mục tiêu kế hoạch sao cho phù hợp, khả thi với thời gian cho phép và nguồn lực sử dụng ít nhất. Chức năng kiểm tra, đánh giá để kiểm tra tiến độ thực hiện kế hoạch, mức độ thành công cần phải căn cứ vào mục tiêu, kế hoạch của tổ chức. Thông qua chức năng này nhà quản lý sẽ thu được những thông tin hữu ích để điều chỉnh mục tiêu, kế hoạch thực hiện mục tiêu của tổ chức. Trên thực tế, chức năng lập kế hoạch đã hàm chứa trong đó quá trình đánh giá hiện trạng, các yếu tố ảnh hưởng,… để làm căn cứ xây dựng mục tiêu, kế hoạch cho phù hợp.

Sơ đồ 1.1. Mối quan hệ giữa các chức năng quản lý

Cũng theo sơ đồ, ta thấy rằng quá trình quản lý bao gồm các chức năng của nó diễn ra trong một môi trường xác định. Môi trường ở đây bao gồm: Môi trường bên trong tổ chức với các yếu tố: mối liên kết ràng buôc giữa các thành viên; cơ chế trao đổi chia sẻ thông tin và hỗ trợ; các nguồn lực; điểm mạnh – lợi thế, điểm yếu – bất lợi của tổ chức…. Môi trường bên ngoài tổ chức mang đến những cơ hội để tổ chức phát triển, đi đôi với nó là những nguy cơ làm cản trở sự phát triển của tổ chức.

1.2.5.3. Quản lý hoạt động của Phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt

Trên cơ sở tổng hợp từ những khái niệm có liên quan, tác giả xây dựng khái niệm về quản lý hoạt động của Phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt làm khái niệm công cụ để nghiên cứu.

Nội dung khái niệm: “Quản lý hoạt động của Phòng hỗ trợ giáo dục đặc biệt là sự tác động có chủ đích của hiệu trưởng lên hoạt động của phòng hỗ trợ giáo dục đặc biệt thông qua các chức năng: lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra nhằm đạt được mục tiêu của nhà trường, hướng đến thực hiện mục đích giáo dục hòa nhập trẻ em khuyết tật trên cơ s tối ưu hóa các nguồn lực.”

Trong khái niệm nêu trên đề cập đến: Chủ thể quản lý – Hiệu trưởng trường mầm non; Đối tượng quản lý là hoạt động của Phòng hỗ trợ; Các nguồn lực cần thiết cho hoạt động của Phòng hỗ trợ và đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn lực. Quá trình quản lý hoạt động của Phòng hỗ trợ diễn ra trong môi trường trường mầm non với đầy đủ các yếu tố bên trong: nhân sự, cơ cấu tổ chức, nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất… và các yếu tố bên ngoài: cộng đồng, chính sách, điều kiện kinh tế – xã hội của địa phương…

1.3. Những vấn đề chung về Phòng Hỗ trợ Giáo dục đặc biệt trong trường mầm non Luận văn: Quản lý hoạt động hỗ trợ giáo dục đặc biệt tại mầm non.

1.3.1 Chức năng và nhiệm vụ của Phòng

Phòng Hỗ trợ Giáo dục đặc biệt trong trường mầm non giữ vị trí như một phòng chuyên môn trong cơ cấu của nhà trường, trực thuộc sự quản lý của Hiệu trưởng và Ban giám hiệu.

  • Chức năng

Phòng Hỗ trợ Giáo dục đặc biệt có chức năng cung cấp các dịch vụ giáo dục, cụ thể là

Tư vấn cho cấp quản lý về quản lý và thực hiện Giáo dục hòa nhập; Tư vấn và hỗ trợ chuyên môn; Đánh giá và hỗ trợ trực tiếp Trẻ khuyết tật.

Chức năng tư vấn cho cấp quản lý v quản lý và thực hiện Giáo dục hòa nhập: Đối tượng tư vấn trực tiếp là Hiệu trưởng và Ban giám hiệu nhà trường về Xây dựng mục tiêu, kế hoạch hoạt động Giáo dục hòa nhập của trường; Tư vấn về Tổ chức, chỉ đạo thực hiện kế hoạch; Tư vấn về Theo dõi, kiểm tra, đánh giá kết quả hoạt động Giáo dục hòa nhập và thực hiện những điều chỉnh (nếu có).

Chức năng tư vấn và hỗ trợ chuyên môn cho giáo viên, phụ huynh:

Đối với giáo viên: Tư vấn, cung cấp những kiến thức, kinh nghiệm chuyên môn về Trẻ khuyết tật, cách nhận biết, cũng như cách giáo dục trẻ. Hỗ trợ giáo viên trong quá trình giáo dục Trẻ khuyết tật.

Đối với phụ huynh: Phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt tư vấn cho phụ huynh kiến thức về Trẻ khuyết tật; cách thức chăm sóc dinh dưỡng, giáo dục trẻ tại nhà; cách thức phối hợp giáo dục giữa gia đình và nhà trường để đạt kết quả tốt.

Chức năng đánh giá và hỗ trợ Trẻ khuyết tật: Phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt có chức năng trực tiếp can thiệp, hỗ trợ Trẻ khuyết tật trong quá trình Giáo dục hòa nhập. Trẻ khuyết tật sẽ có những nhu cầu Giáo dục đặc biệt mà các giờ học bình thường không đáp ứng được, do đó, Trẻ khuyết tật sẽ tham gia các giờ học tại Phòng hỗ trợ để đáp ứng đủ nhu cầu giáo dục cá nhân đa dạng, phù hợp. Phòng hỗ trợ cũng sẽ đánh giá kết quả Giáo dục hòa nhập của từng Trẻ khuyết tật làm căn cứ để điều chỉnh cho phù hợp.

  • Nhiệm vụ của Phòng Luận văn: Quản lý hoạt động hỗ trợ giáo dục đặc biệt tại mầm non.
  • Tạo nên hệ thống hỗ trợ điều kiện, kỹ thuật tăng cường chất lượng hòa nhập cho học sinh có nhu cầu Giáo dục đặc biệt tại các trường hòa nhập (lập kế hoạch, hỗ trợ và đánh giá thường xuyên sự tiến bộ của trẻ có nhu cầu Giáo dục đặc biệt).
  • Tạo địa điểm hoạt động, trao đổi chuyên môn, các can thiệp cá nhân đối với trẻ có nhu cầu Giáo dục đặc biệt.
  • Tạo cơ chế, tăng cường chia sẻ chuyên môn giữa thành viên cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên về Giáo dục hòa nhập.
  • Tạo cơ sở thực hiện phối hợp hoạt động hỗ trợ nhà trường với địa phương;
  • Hỗ trợ cá hoạt động Giáo dục hòa nhập trong trường;
  • Tư vấn, rèn luyện kĩ năng sống, kĩ năng xã hội, phát triển năng lực cá nhân Trẻ khuyết tật có nhu cầu Giáo dục đặc biệt được học tập;
  • Phát triển nhóm bạn bè hỗ trợ học sinh có nhu cầu Giáo dục đặc biệt.
  • Chia sẻ kinh nghiệm, trao đổi chuyên môn, lập kế hoạch của giáo viên và học sinh nhằm hỗ trợ Trẻ khuyết tật học hòa nhập.
  • Trao đổi giữa nhà trường, gia đình và cộng đồng về Giáo dục hòa nhập Trẻ khuyết tật.
  • Tổ chức các hoạt động sinh hoạt, tuyên truyền và xã hội hóa công tác Giáo dục hòa nhập Trẻ khuyết tật.

1.3.2.  Nhân sự của phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt

  • Có 01 đại diện của Ban giám hiệu nhà trường tham gia với tư cách trưởng ban quản lý Phòng hỗ trợ
  • Có ít nhất 01 giáo viên cơ hữu được đào tạo chuyên sâu về Giáo dục đặc biệt (sau đây sẽ được hiểu là chuyên viên của phòng) làm phụ trách Phòng hỗ trợ
  • Phối hợp tham gia:
  • Các giáo viên tham gia Giáo dục hòa nhập Trẻ khuyết tật
  • Bộ phận y tế của nhà trường
  • Đại diện hội phụ huynh Trẻ khuyết tật
  • Đại diện của cộng đồng
  • Các tình nguyện viên
  • Các tổ thành phần khác (cán bộ, nhân viên, giáo viên, các nhà tài trợ, cơ quan địa phương,…)

1.3.3. Các hoạt động chính của Phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt trong trường mầm non Luận văn: Quản lý hoạt động hỗ trợ giáo dục đặc biệt tại mầm non.

Phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt trong trường mầm non hòa nhập có sứ mạng cung cấp dịch vụ Giáo dục hòa nhập Trẻ khuyết tật và thúc đẩy Giáo dục hòa nhập trong nhà trường và cộng đồng, thông qua thực hiện ba chức năng cơ bản là: Tư vấn về quản lý Giáo dục hòa nhập; Tư vấn chuyên môn; Đánh giá và trực tiếp hỗ trợ Trẻ khuyết tật. Hoạt động của Phòng hỗ trợ là sự cụ thể hóa thực hiện ba chức năng.

1.3.3.1. Tư vấn quản lý giáo dục hòa nhập

  • Phòng Hỗ trợ Giáo dục đặc biệt có các nhiệm vụ tư vấn như sau;
  • Tư vấn cho Quản lý nhà trường về việc lập kế hoạch quản lý
  • Tư vấn cho phụ huynh về chăm sóc và giáo dục Trẻ khuyết tật
  • Tư vấn việc thiết lập và huy động các lực lượng XH cùng tham gia giáo dục Trẻ khuyết tật.

1.3.3.2. Phát triển chuyên môn

  • Phát triển chuyên môn và kỹ năng đặc thù trong giáo dục Trẻ khuyết tật cho đội ngũ giáo viên và những người quan tâm trong trường;
  • Phát triển và chuyển giao kỹ thuật, kỹ năng đặc thù trong chăm sóc và giáo dục TKT;

1.3.3.3. Đánh giá và hỗ trợ trực tiếp Trẻ khuyết tật

  • Đánh giá nhu cầu giáo dục đăc biệt của Trẻ khuyết tật

Hoạt động đánh giá này cho phép giáo viên nắm rõ tình hình từng Trẻ khuyết tật, bao gồm dạng tật, mức độ tật, những nhu cầu phát triển đối với từng trẻ. Đây là thông tin quan trọng để giáo viên có thể xây dựng kế hoạch giáo dục cá nhân cho Trẻ khuyết tật.

Để công tác đánh giá, xác định nhu cầu của trẻ hiệu quả, Phòng hỗ trợ lập một nhóm hợp tác làm việc xây dựng kế hoạch giáo dục cá nhân. Trẻ có nhu cầu Giáo dục đặc biệt nhận được sự hỗ trợ giúp đỡ của nhóm đa chuyên môn gồm các chuyên gia thuộc các lĩnh vực khác nhau. Mỗi nhóm làm việc hợp tác thông thường bao gồm các thành viên sau: Giáo viên chủ nhiệm; Phụ huynh trẻ có nhu cầu Giáo dục đặc biệt; trẻ có nhu cầu Giáo dục đặc biệt; Giáo viên chuyên biệt; Chuyên gia chỉnh trị: vật lý trị liệu, phục hồi chức năng; Nhân viên xã hội; Tình nguyện viên. Mỗi thành viên của nhóm làm việc hợp tác sẽ đánh giá khả năng của học sinh thuộc lĩnh vực chuyên môn, hiểu biết của mình, đưa ra các quyết định và chương trình hỗ trợ, giúp giáo viên phụ trách lớp và có thể đảm nhiệm một phần công việc trong kế hoạch giáo dục cá nhân đã lập.

  • Xây dựng kế hoạch giáo dục cá nhân cho Trẻ khuyết tật có nhu cầu Giáo dục đặc biệt

Kế hoạch giáo dục cá nhân là một bản kế hoạch/văn bản được xây dựng cho mỗi trẻ có nhu cầu Giáo dục đặc biệt giúp giáo viên có thể định hướng được nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức các hoạt động giáo dục học sinh có nhu cầu Giáo dục đặc biệt trong môi trường hoà nhập tại gia đình, cộng đồng và nhà trường nhằm đạt được các mục tiêu cụ thể.

Các thành tố của bản kế hoạch giáo dục cá nhân: Thông tin chung về học sinh; Mục tiêu giáo dục: bao gồm mục tiêu giáo dục của năm học, từng học kỳ, từng tháng, từng tuần; Kế hoạch cụ thể, bao gồm: Nội dung hoạt động,cách tiến hành và các dịch vụ/phương tiện liên quan, những điều kiện và phương tiện đảm bảo cho thực hiện kế hoạch giáo dục cá nhân, ngày bắt đầu và thời gian thực hiện, người thực hiện, Luận văn: Quản lý hoạt động hỗ trợ giáo dục đặc biệt tại mầm non.

Bản kế hoạch cần chỉ rõ người chịu trách nhiệm chính, người hỗ trợ, thời gian và công việc cụ thể của từng thành viên. Đánh giá kết quả: cần chỉ ra yêu cầu mức độ đạt được. Đối với mỗi mục tiêu, cần chỉ rõ những tiêu chí và cách thức đánh giá. Cần lưu ý khi tiến hành đánh giá phải xác định rõ mục đích đánh giá là nhằm xác định bước phát triển tiếp theo cụ thể của học sinh để từ đó có những biện pháp can thiệp giáo dục kịp thời đáp ứng nhu cầu của học sinh. Ngoài ra, cần xác định được những yếu tố tác động khách quan và chủ quan có thể ảnh hưởng đến việc thực hiện kế hoạch, cũng như cần dự tính trước những khoản cần chi phí cho việc thực hiện kế hoạch. Kế hoạch giáo dục cho từng học sinh được chi tiết trong từng tuần, từng tháng, từng học kỳ và cả năm học.

  • Thực hiện can thiệp, hỗ trợ cá nhân trực tiếp cho trẻ khuyết tật

Thành viên của nhóm can thiệp cá nhân tại phòng hỗ trợ giáo dục hòa nhập: phụ thuộc vào tính ưu tiên trong giáo dục đối với từng học sinh có nhu cầu Giáo dục đặc biệt. Trước hết là các thành viên thường xuyên của nhóm, những người có liên quan trực tiếp tới việc thiết kế và thực hiện chương trình giáo dục cá nhân hàng ngày cho trẻ.

Các thành viên bao gồm học sinh, thành viên trong gia đình và các giáo viên. Các thành viên tham gia khác nằm trong nhóm gọi là nhóm hỗ trợ. Nhóm này có thể có các chuyên gia về thị lực, về thính học, các nhà tâm lý – giáo dục, các cán bộ công tác xã hội, các bác sĩ, các chuyên gia vật lí trị liệu, các chuyên gia về dinh dưỡng…, đây là những người luôn có mặt đầy đủ để tư vấn khi cần thiết.

Những lĩnh vực mà nhóm can thiệp cá nhân cần nắm được: Để cùng cộng tác làm việc một cách có hiệu quả, mỗi thành viên của nhóm cần có kiến thức và kinh nghiệm thuộc những lĩnh vực khác nhau. Thành phần của nhóm gồm: Chuyên gia trị liệu thể chất; Chuyên gia trị liệu ngôn ngữ; Chuyên gia tâm lý-giáo dục; Chuyên gia thính học; Chuyên gia thị giác; Chuyên gia về kĩ năng sống; Nhóm gia đình; Nhóm giáo viên hỗ trợ.

Vai trò và đóng góp của các thành viên trong nhóm: Thành viên trong nhóm đóng góp vào hoạt động chung với kiến thức và kĩ năng chuyên môn của mình. Những trách nhiệm chung như tham gia vào giải quyết các vấn đề và hỗi trợ các thành viên cảu nhóm áp dụng các chiến lược can thiệt, trị liệu và giáo dục, đây không chỉ là nhiệm vụ mà còn là sự chia sẻ những hỗ trợ đối với các cá nhân liên quan. Luận văn: Quản lý hoạt động hỗ trợ giáo dục đặc biệt tại mầm non.

  • Theo dõi, kiểm tra, đánh giá thực hiện kế hoạch giáo dục cá nhân

Việc theo dõi, kiểm tra, đánh giá kế hoạch cần phải dựa trên kế hoạch đã xây dựng mà cụ thể là mục tiêu chung và những kết quả dự kiến trong từng giai đoạn nhất định. Mục đích cuối cùng của việc đánh giá là phải xây dựng được một kế hoạch giáo dục tiếp theo cho trẻ. Đánh giá thường xuyên và điều chỉnh kịp thời ngay trong quá trình thực hiện kế hoạch là một công việc không thể thiếu.

Đánh giá tiến trình trả lời các câu hỏi : trẻ đang có những tiến bộ so với mục đích đã đề ra hay không? Những kết quả đạt được của học sinh có gần với kết quả của các bạn cùng trang lứa với học sinh không? Trẻ có ngày càng tỏ ra độc lập hơn để đạt đến các mục tiêu đã đề ra không? Giáo viên sẽ tiếp tục hay dừng lại hướng tổ chức các hoạt động đã lập trong kế hoạch?

Đánh giá theo mục tiêu giáo dục cá nhân (tiếp cận cá nhân). Trong quá trình giáo dục trẻ có nhu cầu Giáo dục đặc biệt nội dung đánh giá theo 3 phương diện : Đánh giá kết quả lĩnh hội kiến thức, kỹ năng học tâp ; Đánh giá rèn luyện kỹ năng sống ; Đánh giá thái độ

1.3.4. Điều kiện cơ sở vật chất của phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt

Phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt trong trường có diện tích khoảng 50m2 tương đương với diện tích một phòng học. Có đủ ánh sáng, thiết bị đặc biệt và phương tiện hỗ trợ giáo dục khác cho các hoạt động phát triển năng lực của Trẻ khuyết tật.

  • Gồm 2 khu vực là khu vực hoạt động cá nhân và khu hoạt động nhóm
  • Chức năng của từng khu vực:
  • Khu vực hoạt động cá nhân: Hỗ trợ trực tiếp cho từng cá nhân, học theo nhu cầu của trẻ
  • Khu vực hoạt động nhóm: Sinh hoạt nhóm bạn, nhóm cốt cán, làm công tác tuyên truyền

1.4. Nội dung cơ bản quản lý hoạt động của phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt trong trường mầm non

Hiệu trưởng là người đại diện cho nhà trường, chịu trách nhiệm trước ngành GD và nhà nước về toàn bộ hoạt động trong trường; là người nắm được các thông tin Quản lý, có quyết định kịp thời về công tác Quản lý nhà trường. Hiệu trưởng là nhà sư phạm mẫu mực, là người nghiên cứu khoa học, là nhà hoạt động xã hội, là người tổ chức hoạt động thực tiễn.

Vì vậy, Hiệu trưởng cần có lý luận, kỹ năng xây dựng kế hoạch, để tổ chức công việc, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ, phát huy nội lực của tập thể, kiểm tra đánh giá công tác thực hiện nhiệm vụ giáo dục của Giáo viên và việc học tập, phát triển của trẻ; đồng thời Quản lý các nguồn lực trong hoạt động dạy học và GD. Luận văn: Quản lý hoạt động hỗ trợ giáo dục đặc biệt tại mầm non.

Quản lý hoạt động của Phòng Hỗ trợ Giáo dục đặc biệt là hệ thống các tác động có mục đích tới Cán bộ quản lý, Giáo viên, NV và trẻ nhằm tổ chức quá trình can thiệp, hỗ trợ trực tiếp Trẻ khuyết tật đạt được mục tiêu và kế hoạch của nhà trường đề ra. Nội dung Hiệu trưởng Quản lý Phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt trình bày trong đề tài, theo cách tiếp cận nội dung quản lý, gồm các nội dung quản lý sau:

1.4.1. Xây dựng Mục tiêu, kế hoạch hoạt động của phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt

Xây dựng Mục tiêu, kế hoạch là nội dung Quản lý quan trọng hàng đầu trong quá trình Quản lý. Nó đảm bảo cho hoạt động Quản lý đi đúng hướng và có hiệu quả. Theo đó xây dựng mục tiêu, kế hoạch hoạt động của phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt giúp cho công tác quản lý Giáo dục hòa nhập trẻ KT đúng hướng, góp phần thực hiện mục tiêu chung của trường mầm non hòa nhập. Xây dựng mục tiêu, kế hoạch hoạt động phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt là làm cho quá trình Giáo dục hòa nhập Trẻ khuyết tật vận hành một cách đồng bộ, hiệu quả để nâng cao chất lượng Giáo dục hòa nhập Trẻ khuyết tật (nói riêng) và nâng cao chất lượng giáo dục mầm non (nói chung). Quá trình này bao gồm:

  • Về nhận thức: Giúp các lực lượng GD có được nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của công tác Giáo dục hòa nhập Trẻ khuyết tật nhằm thực hiện quyền của Trẻ khuyết tật.
  • Về thái độ, tình cảm: Giúp mọi người có thái độ đúng và điều chỉnh hành của bản thân, biết thể hiện thái độ thân thiện, không phân biệt, đối xử hoặc kỳ thì Trẻ khuyết tật;
  • Về hành vi: Hướng mọi người tích cực tham gia vào các hoạt động chăm sóc, hỗ trợ Trẻ khuyết tật.

Xây dụng mục tiêu, kế hoạch về Giáo dục hòa nhập và hoạt động của phòng hỗ trợ GDĐB bao gồm:

  • Xây dựng mục tiêu, kế hoạch chung về Giáo dục hòa nhập trong trường mầm non;
  • Xây dựng mục tiêu, kế hoạch hoạt động cụ thể của phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt;
  • Xây dựng kế hoạch Giáo dục hòa nhập cho từng trẻ khuyết tật.
  • Xây dựng kế hoạch can thiệp trực tiếp cho Trẻ khuyết tật như một hoạt động giáo dục chung của nhà trường;

1.4.2. Tổ chức, chỉ đạo thực hiện Chương trình, nội dung hoạt động của Phòng hỗ trợ, can thiệp hỗ trợ trực tiếp trẻ và các hoạt động tư vấn khác

1.4.2.1. Tổ chức, chỉ đạo thực hiện Chương trình, nội dung hoạt động của Phòng hỗ trợ

Tổ chức, chỉ đạo thực hiện chương trình, nội dung hoạt động của phòng là xác định, xây dựng và quản lý các loại kế hoạch, chương trình can thiệp, hỗ trợ trực tiếp cho Trẻ khuyết tật và phân tích mối quan hệ giữa hệ thống các hoạt động can thiệp, hỗ trợ trực tiếp Trẻ khuyết tật với các hoạt động giáo dục chung của trường mầm non, từ đó xác định hệ thống các nhiệm vụ cần thực hiện trong các hoạt động GD ở nhà trường. Luận văn: Quản lý hoạt động hỗ trợ giáo dục đặc biệt tại mầm non.

Yêu cầu của việc Tổ chức, chỉ đạo thực hiện chương trình Giáo dục hòa nhập và hoạt động của phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt Trẻ khuyết tật là nhà Quản lý cần lựa chọn các hình thức tổ chức, can thiệp đảm bảo tính mục đích, tính khoa học, tính thực tiễn và tính phù hợp đặc thù với từng đối tượng trẻ. Các nội can thiệp, kỹ năng đặc thù phải được lựa chọn phải phù hợp với tâm sinh lý lứa tuổi, đặc điểm phát triển của cá nhân từng trẻ KT. Tổ chức, chỉ đạo thực hiện chương trình Giáo dục hòa nhập và hoạt động của phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt bao gồm:

  • Tổ chức, chỉ đạo thực hiện chương trình Giáo dục hòa nhập, chương trình hỗ trợ kỹ năng đặc thù cho từng Trẻ khuyết tật;
  • Tổ chức, chỉ đạo thực hiện tư vấn chuyên môn cho giáo viên, phu huynh và những người quan tâm;
  • Tổ chức, chỉ đạo thực hiện hoạt động tư vấn và đánh giá trẻ khuyết tât;
  • Quản lý mối quan hệ với các lượng xã hội và gia đình trẻ KT trong giáo dục Trẻ khuyết tật;

Để thực hiện tốt việc Tổ chức, chỉ đạo thực hiện chương trình Giáo dục hòa nhập và hoạt động của phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt, các Cán bộ quản lý cần nắm vững nội dung, chương trình GDHN trẻ KT; phổ biến và tổ chức cho Giáo viên, NV và các đối tượng liên quan tham gia nghiên cứu, trao đổi nội dung, chương trình can thiệp, hỗ trợ Trẻ khuyết tật; tổ chức hướng dẫn và chỉ đạo việc xây dựng các loại kế hoạch cho từng nội dung, hoạt động cụ thể; chỉ đạo việc thực hiện nội dung, chương trình, kiểm tra đánh giá việc thực hiện nội dung, chương trình Giáo dục hòa nhập và hoạt động của phòng hỗ trợ.

1.4.2.2. Tổ chức, chỉ đạo thực hiện can thiệp hỗ trợ trực tiếp trẻ và các hoạt động tư vấn khác

Tổ chức, chỉ đạo thực hiện can thiệp và hoạt động tư vấn là phân tích bản chất của các hình thức tổ chức trong mối quan hệ với mục tiêu, nội dung của Giáo dục hòa nhập và hoạt động của phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt, từ đó xác định những hình thức tổ chức can thiệp hiệu quả nhằm thực hiện mục tiêu GD bao gồm:

  • Tổ chức, chỉ đạo thực hiện các Hoạt động đánh khả năng và nhu cầu của Trẻ khuyết tật;
  • Tổ chức, chỉ đạo thực hiện việc xây dựng và thực hiện kế hoạch giáo dục cá nhân cho Trẻ khuyết tật;
  • Tổ chức, chỉ đạo thực hiện các hoạt động hỗ trợ cá nhân cho Trẻ khuyết tật;
  • Tổ chức, chỉ đạo thực hiện các hoạt động hỗ trợ trong các giờ chính khóa trong lớp hòa nhập.

Để thực hiện tốt nội dung này, trước hết nhà quản lý cần quán triệt cho nhà giáo dục nghiên cứu và áp dụng các hình thức tổ chức can thiệp hết sức linh hoạt; lựa chọn thờ gian, thời điểm phù hợp để thực hiện các hoạt động đánh giá, xây dựng kế hoạch GDCN, và các tiết học cá nhân của trẻ. Nhà quản lý cần khuyến khích các lực lượng XH cùng tham gia công tác giáo dục cũng như hỗ trợ vật chất và tinh thần cho thầy và trò. Ngoài ra, cần cung cấp cho Giáo viên, NV và CMHS các tài liệu, sách hướng dẫn về Giáo dục hòa nhập Trẻ khuyết tật để họ thực hiện tốt nhiệm vụ của mình. Quan trọng hơn, nhà quản lý cần tổ chức, chỉ đạo và hướng dẫn, bồi dưỡng cho Giáo viên và CM trẻ biết vận dụng những phương pháp GD tích cực để GD học sinh biết vận dụng linh hoạt nhiều hình thức can thiệp hiệu quả trong công tác GD của mình; khuyến khích nhà GD phát huy tính tích cực, sáng tạo trong việc thực hiện các hoạt động can thiệp. Luận văn: Quản lý hoạt động hỗ trợ giáo dục đặc biệt tại mầm non.

1.4.2.3. Quản lý chuyên môn và phát triển nguồn nhân lực của Phòng hỗ trợ GDĐB

Việc nâng cao nhiệm vụ chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm cho đội ngũ giáo viên luôn là nhiệm vụ hàng đầu của ngành GD&ĐT. Vì vậy, hiện nay hầu hết các trường mầm non và phổ thông đã đạt chuẩn về năng lực chuyên môn, mặc dù vậy quản lý các cấp từ địa phương đến cấp bộ luôn luôn quan tâm và tổ chức tập huấn theo định kỳ nhằm giúp đối ngũ giáo viên cập nhật kiến thức và phương pháp giáo dục phù hợp với bối cảnh pháp triển của ngành và yêu cầu của xã hội.

Đối với lĩnh vực giáo dục Trẻ khuyết tật thì vấn đề phát triển chuyên môn hiện đang là nhiệm vụ cấp bách hàng đầu. Trong thực tế hầu hết đội ngũ giáo viên của chúng ta chưa được đào tạo về lĩnh vực giáo dục Trẻ khuyết tật, chính vì vậy việc tổ chức để phát triển chuyên môn cho đội ngũ giáo viên phải được ưu tiên thực hiện và có kế hoạch phù hợp trong điều kiện hiện nay nhằm đáp ứng nhu cầu trước mắt của người học.

Việc tuyển chọn và sử dụng đội ngũ giáo viên, nhân viên của Phòng hỗ trợ cũng là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của quản lý. Để phòng hỗ trợ hoạt động có hiệu quả, cần phải tuyển chọn được những cán bộ có tâm huyết, có chuyên môn về giáo dục đặc biệt; đồng thời phân công trách nhiệm cụ thể và phù hợp với trình độ, kinh nghiệm là việc.

Tuyển chọn, phân công nhiệm vụ và tạo điểu kiện để đội ngũ cán bộ của Phòng được phát triển chuyên môn, nghiệp vụ can thiệp hỗ trợ sẽ có vai trò quyết định đến kết quả thực hiện nhiệm vụ của Phòng.

Để tránh lãng phí, quản lý nhà trường cần phải căn cứ vào nhu cầu trước mắt, và xu hướng lâu dài để có kế hoạch phát triển nguồn nhân lực và phát triển chuyên môn phù hợp.

1.4.3. Kiểm tra, đánh giá và giám sát hoạt động Giáo dục hòa nhập và hoạt động, kết quả hoạt động của phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt

Bất kì hoạt động GD nào, khi tổ chức hoạt động thì Hiệu trưởng phải tổ chức kiểm tra để đánh giá chất lượng, kết quả GD, từ đó rút kinh nghiệm và điều chỉnh tổ chức hoạt động nhằm đạt được chất lượng và hiệu quả cao hơn.

Việc đánh giá hoạt động giáo dục Trẻ khuyết tật nói chung, can thiệp, hỗ trợ trực tiếp cho trẻ KT trong phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt nói riêng sẽ góp phần đánh giá chất lượng giáo dục của nhà trường. Đối với Giáo viên, kết quả đánh giá phản ánh sự phát triển chuyên môn nhằm đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng đa dạng của trẻ em, giúp họ tự rèn luyện năng lực, kỹ năng nghiệp vụ về Giáo dục hòa nhập Trẻ khuyết tật để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Đối với cấp Quản lý, việc đánh giá sự tiến tiến bộ của Trẻ khuyết tật nhằm đưa ra những quyết định mới trong việc điều chỉnh mục tiêu giáo dục nằm phát huy tối đa những năng lực còn dưới dạng tiềm ẩn; đồng thời hạn chế những khuyết tậ thứ phát và những ảnh hưởng tiêu cực do khuyết tật đem lại.

Để việc đánh giá đạt được mục tiêu đề ra, cần phải bám sát vào những nội dung đánh giá, các mức đánh giá, sử dụng các hình thức đánh giá phù hợp và tuân theo một quy trình đánh giá khoa học.

Để thực hiện công tác kiểm tra đánh giá giám sát hoạt động Giáo dục hòa nhập và hoạt động của phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt, người lãnh đạo cần xây dựng kế hoạch cụ thể từ đầu năm hoạch theo từng giai đoạn và chương trình cụ thể. Đồng thời xây dựng tiêu chí đánh giá cụ thể cho các nội dung kiểm tra. Luận văn: Quản lý hoạt động hỗ trợ giáo dục đặc biệt tại mầm non.

Tổ chức kiểm tra đánh giá một cách chặt chẽ và khách quan để đảm bảo mục tiêu đánh giá và đánh được một cách chính xác nhất để từ đó có sự điều chỉnh trong hoạt động để đạt được mục tiêu của chương trình đã đề ra. Kiểm tra đánh giá là một qui trình thống nhất, chính xác, cần công khai và dân chủ. Bên cạnh đó, kiểm tra đánh giá còn phải đảm bảo các tiêu chí như đảm bảo tính toàn diện, đảm bảo độ tin cậy, đảm bảo tính khả thi, đảm bảo yêu cầu cá biệt hóa và đảm bảo hiệu quả cao.

Kiểm tả đánh giá để tác động đến hành vi, nâng cao tinh thần, trách nhiệm; từ đó động viên khích lệ tính sáng tạo của Giáo viên và những người tham gia nhằm đưa đạt đến mục tiêu đã định. Để việc đánh giá đạt được mục tiêu đề ra, cần phải bám sảt nội dung đánh giá, mức độ đánh giá, các hình thức đánh giá sao cho phù hợp và tuân theo một qui trình đánh giá khoa học và chặt chẽ.

Hoạt động Giáo dục hòa nhập và hỗ trợ trực tiếp cho Trẻ khuyết tật đa dạng và phong phú, không có chuẩn chung cho từng kỹ năng và đặc biệt sự tiến bộ của trẻ có thể diễn ra hết sức chậm chạp, thâm chí ở một số trẻ không có sự thay đổi (Tuy nhiên, đối với những đối tượng trẻ này nếu không có hoạt động hỗ trợ thì mức độ trầm trọng của khuyết tật và khó khăn sẽ ngày càng trầm trọng hơn). Chính vì thế để kiểm tra hoạt động giáo dục của Phòng cần phải căn cứ vào mục đích yêu cầu của mỗi hoạt động để xây dựng chuẩn đánh giá cho hoạt động đó, làm cơ sở cho việc kiểm tra, đánh giá, rút kinh nghiệm. Khi đã xây dựng xong tiêu chí đánh giá, cần phổ biến tới toàn thể giáo viên và những người tham gia biết để phấn đấu theo tiêu chí và để tự đánh giá. Kiểm tra để điều chỉnh hoạt động tiếp theo, vì vậy cần chú trọng khâu đánh giá rút kinh nghiệm sau mỗi hoạt động.

1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động của phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt Luận văn: Quản lý hoạt động hỗ trợ giáo dục đặc biệt tại mầm non.

1.5.1. Các yếu tố về chính sách và cơ chế chính sách

Chính sách của các cấp quản lý gồm có: Chính sách quốc gia, Chính sách của Bộ và các cơ quan ngang bộ (đặc biệt là hai cơ quan Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lạo động, Thương binh và Xã hội), Chính sách của địa phương các cấp…

Về mặt đường lối chung các cấp quản lý nhà nước đều ủng hộ phát triển Giáo dục hòa nhập, đây là cơ sở vững chắc về pháp lý để các trường mầm non có thể thực hiện Giáo dục hòa nhập; Hiệu trưởng trường mầm non cần căn cứ vào những chính sách hiện hành của cơ quan quản lý nhà nước, để tổ chức chỉ đạo hoạt động của trường cho phù hợp. Những chính sách có ảnh hưởng mạnh mẽ đến công tác Quản lý hoạt động của Phòng hỗ trợ giáo dục nhà trường có thể kể đến: chính sách về tài chính, lương; chính sách về nhân lực; chính sách hỗ trợ phát triển cơ sở vật chất… Đây là những chính sách mà khi thay đổi có thể tác động trực tiếp, nhanh chóng đến quyết định quản lý của người hiệu trưởng. Hiệu trưởng và các cán bộ quản lý cần có sự đặc biệt quan tâm để xem xét đánh giá sự ảnh hưởng của chúng, và vận dụng hợp lý trong quản lý tại nhà trường.

Chính sách của cơ s giáo dục: Trên cơ sở chính sách của cơ quan quản lý nhà nước, nhà trường xây dựng những chính sách riêng phù hợp với đơn vị nhằm quản lý phát triển Giáo dục hòa nhập Trẻ khuyết tật, Quản lý hoạt động của Phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt một cách hiệu quả.

Người hiệu trưởng cần phải hiểu sâu sắc về mục tiêu, chiến lược, đường lối phát triển Giáo dục hòa nhập ở cơ sở, căn cứ vào đó để chỉ đạo xây dựng những chính sách phù hợp. Khi xây dựng chính sách của cơ sở cần chú ý: Thứ nhất, chính sách đó phải thống nhất với mục tiêu các cấp quản lý nhà nước và địa phương; Thứ hai, chính sách đó phải dựa trên điều kiện thực tế của nhà trường.

Những chính sách mà người hiệu trưởng có thể quan tâm:

Chính sách về lương, thưởng, phụ cấp cho giáo viên tham gia hoạt động của Phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt và giáo viên đứng lớp có Trẻ khuyết tật theo học. Cần phải quy định rõ phần kinh phí này sẽ được lấy từ nguồn nào (từ ngân sách nhà nước hay từ nguồn khác); Quy định mức phụ cấp cụ thể căn cứ vào, đủ cao để khuyến khích giáo viên yên tâm làm việc và cống hiến.

Chính sách về phát triển cơ sở vật chất: Để Phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt hoạt động tốt cần đầu tư nhiều vào CSVC và các trang thiết bị học tập, phần kinh phí đầu tư này chiếm bao nhiêu trong tổng kinh phí chi cho CSVC của nhà trường cũng cần phải được xây dựng một lộ trình phù hợp với mục tiêu trong từng giái đoạn cụ thể.

Chính sách về nhân lực: trong đó có chính sách tuyển dụng, sử dụng và đào tạo-bồi dưỡng. Hiệu trưởng có thể đưa ra những chính sách cụ thể về tuyển dụng, sử dụng với đãi ngộ cao đối với những người được đào tạo chính quy về Giáo dục đặc biệt; Đối với công tác đào tạo-bồi dưỡng giáo viên: Mở các khóa bồi dưỡng cho giáo viên, tạo điều kiện về thời gian và hỗ trợ tài chính cho giáo viên tham gia các khóa đào tạo chính quy về Giáo dục đặc biệt…

Chính sách xã hội hóa công tác Giáo dục hòa nhập: trong điều kiện cho phép, người hiệu trưởng có thể quyết định xây dựng nguồn tài chính phục vụ hoạt động của Phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt bằng nguồn kinh phí đóng góp, tài trợ của phụ huynh và xã hội. Luận văn: Quản lý hoạt động hỗ trợ giáo dục đặc biệt tại mầm non.

Những chính sách mà nhà trường đưa ra thể hiện định hướng quản lý rõ ràng nhất, cần tuân thủ chúng để đảm bảo tính nhất quán trong quản lý, nhằm đạt được mục tiêu đề ra.

1.5.2. Các yếu tố về nguồn nhân lực

Nguồn nhân lực có ảnh hưởng quyết định đến hoạt động của Phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt trong trường mầm non. Số lượng, chất lượng của đội ngũ cán bộ, giáo viên làm việc tại phòng hỗ trợ, giáo viên dạy lớp hòa nhập là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng Giáo dục hòa nhập, ảnh hưởng đến kết quả hoạt động của phòng hỗ trợ, và ảnh hưởng đến quyết định của Cán bộ quản lý.

Cần thiết phải đánh giá tác động của yếu tố nhân lực đến chất lượng Giáo dục hòa nhập, qua đó Hiệu trưởng có thể quyết định những mục tiêu, kế hoạch phù hợp. Bên cạnh đó, qua kết quả đánh giá, Hiệu trưởng sẽ xây dựng phương án tuyển dụng, sử dụng, đào tạo bồi dưỡng nhân sự.

1.5.3. Các yếu tố về cơ sở vật chất và môi trường giáo dục Trẻ khuyết tật phù hợp

1.5.3.1. Quản lý môi trường tâm lý phù hợp

Việc thực hiện Giáo dục hòa nhập Trẻ khuyết tật không chỉ có nhà trường và gia đình mà phải là sự kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường, gia đình và xã hội. Mỗi lực lượng GD đều có thế mạnh riêng, vì vậy phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội để Giáo dục hòa nhập Trẻ khuyết tật là thực hiện xã hội hóa GD, tạo môi trường để Giáo dục hòa nhập phát triển.

Việc phối hợp các lực lượng trong và ngoài nhà trường để xây dựng môi trường Giáo dục hòa nhập Trẻ khuyết tật là một hoạt động mang ý nghĩa xã hội rõ nét. Nó nâng cao hiệu quả cho công tác Giáo dục hòa nhập cho Trẻ khuyết tật vì mỗi lực lượng giáo dục đều có một thế mạnh riêng từ đó giúp tạo ra một môi trường hoàn diện nhất cho học sinh trong công tác GDKNS.

Quản lý việc xây dựng môi trường GDKNS phù hợp cần chú ý đến yếu tố nhanh nhạy nắm bắt thông tin phong phú hàng ngày, coi đó là việc phải làm của toàn xã hội, các lực lượng giáo dục cần có ý thức và trách nhiệm trong việc góp phần trong công tác giáo dục Trẻ khuyết tật, đặc biệt là việc tiếp cận theo cuông ước của Liên hợp quốc về Quyền của trẻ em. Để làm việc được này, BGH nhà trường cần quản lý xây dựng một phương hướng chỉ đạo theo một kế hoạch cụ thể, thống nhất cả về nội dung và phương thức tổ chức, phối hợp một các linh hoạt để phát huy tối đa tiềm năng của các lực lượng giáo dục xây dựng môi trường giáo dục Trẻ khuyết tật hiệu quả nhất. Luận văn: Quản lý hoạt động hỗ trợ giáo dục đặc biệt tại mầm non.

1.5.3.2. Quản lý các điều kiện về cơ sởvật chất

Trong giáo dục Trẻ khuyết tật Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học đóng một vai trò quan trọng. Với đặc thù của trẻ có nhu cầu Giáo dục đặc biệt, sự đa dạng của các loại hình khuyết tật cũng như mức độ thì cần những trang thiết bị hỗ trợ đặc thù.

Ví dụ:

  • Để hỗ trợ trẻ khiếm thị cần những công cụ để dạy chữ nổi, những đồ chơi phù hợp với khả năng và nhu cầu của trẻ
  • Để hỗ trợ Trẻ khuyết tật vận động, cần những thiết bị phục hồi chức năng vận động, những trang bị riêng bổ sung phục vụ giờ học
  • TKT về ngôn ngữ cần được hỗ trợ thêm về giao tiếp xã hội, cần phải có máy móc, trang thiết bị, đồ chơi, tài liệu, sách vở kèm theo để tăng tính sinh động của bài học, để giờ hỗ trợ trẻ đạt kết quả tốt.

Phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt nếu thiếu hụt những trang thiết bị này thì không thể có kết quả tốt trong khi hỗ trợ nhu cầu giáo dục khác biệt của Trẻ khuyết tật được.

GDHN cho Trẻ khuyết tật diễn ra trong những điều kiện kinh tế, xã hội cụ thể và chịu sự tác động của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan. Vì vậy, để đạt được hiệu quả cao trong công tác quản lý, nhà quản lý cần phải phân tích và đánh giá tác động của điều kiện khách quan và chủ quan đến chất lượng Giáo dục hòa nhập. Quản lý các điều kiện Giáo dục hòa nhập cho Trẻ khuyết tật bao gồm:

Quản lý cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục, đồ dùng dạy học: thống kê số lượng và chất lượng các công trình CSVC, phân bố sử dụng hiệu quả các điều kiện hiện có của nhà trường, hướng dẫn Cán bộ quản lý, Giáo viên, NV và HS sử dụng hiệu quả phòng hỗ trợ và các không gian khác phù hợp; các thiết bị GD và đồ dùng, các công trình của nhà trường. Trong điều kiện của Việt Nam hiện nay, phương tiện và thiết bị cho giáo dục Trẻ khuyết tật hầu hết là chưa có, vì vậy một trong các nhiệm vụ quản lý trọng tâm là sử dụng mô hình, vật thật và khuyết khích giáo viên tự sưu tầm và tự làm thiết bị dạy học.

Quản lý việc trang bị tài liệu về Giáo dục hòa nhập: sưu tầm và cung cấp cho các LLGD những tài liệu về Giáo dục hòa nhập Trẻ khuyết tật, khuyến khích các LLGD tham khảo các nguồn thông tin để không ngừng nâng cao hiểu biết về Giáo dục hòa nhập trẻ KT qua báo chí, truyền hình, thư viện, website… Luận văn: Quản lý hoạt động hỗ trợ giáo dục đặc biệt tại mầm non.

Quản lý việc thực hiện các chính sách của nhà nước cho người dạy và người học trong Giáo dục hòa nhập. Hiện nay, có thể nói các chính sách về giáo dục cho người khuyết tật đã khá đầy đủ và toàn diện, tuy nhiên việc hiện thực hóa các chính sách trên vào đời sống nhà trường thì còn nhiều hạn chế và bất cập. Vì vậy, việc hiện thực hóa các chính sách, chế độ,chế tài cho cả người học và người dạy cũng sẽ góp phần tích cực trong việc nâng cao chất lượng GD Trẻ khuyết tật.

Quản lý các nguồn lực cần thiết cho GDKNS. Huy động tối đa các nguồn lực, sự hợp tác của các cá nhân, tổ chức để đầu tư cho Giáo dục hòa nhập Trẻ khuyết tật; huy động sự đóng góp từ cha mẹ HS về trí tuệ, công sức, tài chính, thời gian cho Giáo dục hòa nhập; huy động sự đóng góp từ các mạnh thường quân, các nhà hảo tâm, các cơ quan, tổ chức kinh tế, các tổ chức xã hội tại địa phương về trí tuệ, công sức, tài chính, thời gian cho Giáo dục hòa nhập.

1.6. Một số kinh nghiệm quốc tế

Từ nhiều năm qua, các nước đã tìm kiếm các giải pháp đảm bảo chất lượng GD Trẻ khuyết tật. Tùy theo đặc điểm của hệ thống giáo dục, đặc biệt là nguồn lực và điều kiện kinh tế – xã hội, các quốc gia đã xây dựng hệ thống và qui hoạch mạng lưới giáo dục Trẻ khuyết tật riêng của đất nước mình.

Vương quốc Anh, Italy, Tây Ban Nha việc đã qui hoạch mạng lưới hỗ trợ cho học sinh khuyết tật (HSKT), giáo viên (GV) dạy Trẻ khuyết tật (TKT) và phụ huynh theo mô hình Trung tâm hỗ trợ cấp quận, huyện (Teacher Regional Resource Center) và phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt trong các trường mầm non và phổ thông (Special support room in the schools). Tại các trung tâm, phòng hỗ trợ này, Giáo viên phải có trình độ chuyên môn, đã được đào tạo về chuyên ngành Giáo dục đặc biệt. Mỗi giáo viên được phân công hỗ trợ, giám sát một số trường hòa nhập hoặc một số Trẻ khuyết tật có nhu cầu can thiệp, hỗ trợ cụ thể. Nhiệm vụ của trung tâm này là cử Giáo viên đến làm việc cùng với phụ huynh, Giáo viên đứng lớp trong các trường hòa nhập, các cán bộ xã hội, y tế và tâm lý xây dựng kế hoạch giáo dục cá nhân cho Trẻ khuyết tật, hỗ trợ Giáo viên điều chỉnh chương trình giáo dục, thiết kế và thực hiện các bài học có hiệu quả; trực tiếp rèn luyện các kỹ năng đặc thù cho TKT như: dạy ngôn ngữ ký hiệu, dạy làm quen với chữ nổi, dạy các kỹ năng sống…; hướng dẫn phụ huynh hỗ trợ con em ở nhà, tư vấn về hướng nghiệp dạy nghề và các vấn đề tâm lý, xã hội đối với trẻ và thanh, thiếu niên khuyết tật.

Tại Vương quốc Anh, để đảm bảo chất lượng học tập của những Trẻ khuyết tật, mỗi vùng dân cư có thành lập Trung tâm chăm sóc giáo dục nguồn (Teacher Regional Resource Center), mỗi trường mầm non và phổi thông phải có phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt. Tùy thuộc vào số lượng học sinh và nhu cầu cần hỗ trợ mà số lượng cán bộ, giáo viên hỗ trợ (support/mobile teachers) có khác nhau ở từng Trung tâm/phòng. Những giáo viên làm việc trong các cơ sở này được đào tạo cơ bản về giáo dục mầm non hoặc phổ thông và được học chuyên về một lĩnh vực Giáo dục đặc biệt như: khiếm thị, khó khăn về học, khuyết tật trí tuệ, khuyết tật ngôn ngữ,…Nhiệm vụ của các giáo viên này là: Luận văn: Quản lý hoạt động hỗ trợ giáo dục đặc biệt tại mầm non.

  • Cùng giáo viên, phụ huynh học sinh và cán bộ xã hội xây dựng kế hoạch giáo dục cá nhân cho Trẻ khuyết tật;
  • Cùng giáo viên đứng lớp xây dựng và tiến hành bài học hòa nhập;
  • Hỗ trợ cá biệt cho trẻ ngay tại trường, lớp, tại gia đình (với những trẻ có nhu cầu rất cao);
  • Tư vấn phụ huynh Trẻ khuyết tật và phối hợp với cán bộ cộng đồng đảm bảo quyền học tập cho trẻ.
  • Xây dựng môi trường giao tiếp phù hợp với đặc điểm phát triển của trẻ, tạo cơ hội cho trẻ được phát triển các kỹ năng giao tiếp và hòa nhập cộng đồng.

Các hoạt động trên được sắp xếp theo lịch cụ thể. Với những trẻ có nhu cầu cao sẽ được hỗ trợ thường xuyên hơn: một số giờ mỗi tuần.

Biên chế của Phòng phụ thuộc vào nhu cầu thực tiễn cần hỗ trợ cho trẻ và những người có liên quan cụ thể của địa bàn do trung tâm chịu trách nhiệm. Các giáo viên ở đây có thời gian “chuẩn” như các giáo viên đứng lớp: mỗi tuần có số tiết cụ thể từ 17 -19 giờ/tuần không kể thời gian đi lại và chuẩn bị giờ hỗ trợ.

Tại Tây Ban Nha, có các cơ sở giáo dục tại các vùng dân cư. Các cơ sở này thuộc quản lý của Bộ Giáo dục bang. Biên chế của cơ sở chủ yếu là giáo viên được đào tạo cơ bản về giáo dục phổ thông và Giáo dục đặc biệt chuyên về một dạng khuyết tật (thường 2 năm). Nhiệm vụ của các cơ sở này là:

  • Hỗ trợ các giáo viên dạy hòa nhập và giáo viên trong các trường chuyên biệt;
  • Tập huấn chuyên môn cho các giáo viên.

Theo qui định, hằng năm, giáo viên được tập huấn chuyên đề 02 tuần. Những giáo viên sẽ và đang dạy Trẻ khuyết tật được hiệu trưởng cử đi học các lớp chuyên đề về Giáo dục đặc biệt.

Tại Italy là nước tiến hành Giáo dục hòa nhập (GDHN) triệt để, không còn trường chuyên biệt dành cho Trẻ khuyết tật. Đặc biệt, ở nước này các dịch vụ xã hội cho đối tượng này rất phát triển. Điều này thể hiện ở mô hình trung tâm nguồn (Reource Centre) và phòng hố trợ Giáo dục đặc biệt. Các trung tâm/phòng này được thành lập theo vùng và ở từng trường và được trang bị những trang thiết bị hiện đại và đa ngành. Nhiệm vụ của trung tâm/phòng này là:

  • Xác định mức độ phát triển và nhu cầu cần hỗ trợ của trẻ về các mặt: tâm lí, giáo dục, phục hồi chức năng và xã hội;
  • Tiến hành các tư vấn cho giáo viên, phụ huynh học sinh về các lĩnh vực từ chăm sóc, dinh dưỡng, rèn luyện các kĩ năng đặc thù đến hướng nghiệp, dạy nghề, hôn nhân, gia đình;
  • Hỗ trợ các giáo viên tại các trường, lớp hòa nhập;
  • Tập huấn cho giáo viên, phụ huynh học sinh về Giáo dục hòa nhập.

Tại Vương quốc Thái Lan từ năm 2003 đến năm 2007 đã có 76 trung tâm hỗ trợ giáo dục Trẻ khuyết tật cấp quốc gia, vùng, tỉnh được thành lập trong toàn quốc, dưới 76 Trung tâm nguồn là mạng lưới các phòng hỗ trợ giáo dục trẻ khuyết tật tại các trường trên toàn địa bàn. Các cơ sở giáo dục đặc biệt có chức năng và nhiệm vụ sau:

Lập kế hoạch, xây dựng và thực hiện Kế hoạch Giáo dục đặc biệt dựa trên Kế hoạch giáo dục quốc gia cho quận, huyện hoặc địa phương sở tại; Luận văn: Quản lý hoạt động hỗ trợ giáo dục đặc biệt tại mầm non.

  • Tuyên truyền và thông tin về giáo dục cho trẻ và gia đình Trẻ khuyết tật Xây dựng chương trình giáo dục và tài liệu về Giáo dục đặc biệt
  • Bồi dưỡng giáo viên, nhân viên chăm sóc, nhân viên hỗ trợ, cán bộ xã hội và những người liên quan khác
  • Trang bị kiến thức và kỹ năng tiền học đường cho Trẻ khuyết tật trước khi đi học phổ thông
  • Giám sát và đánh giá các dịch vụ Giáo dục đặc biệt thuộc địa bàn phụ trách;
  • Hợp tác với các tổ chức thuộc lĩnh vực giáo dục Trẻ khuyết tật;
  • Hình thành dịch vụ can thiệp sớm Trẻ khuyết tật trong khu vực phụ trách.
  • Cung cấp các nguồn lực (như tài liệu và bồi dưỡng) để hỗ trợ Trẻ khuyết tật, giáo viên và các trường phổ thông;
  • Xây dựng Kế hoạch giáo dục cá nhân cho Trẻ khuyết tật;
  • Báo cáo về tình hình dịch vụ Giáo dục đặc biệt trong khu vực phụ trách.
  • Tư vấn, hỗ trợ cho các lĩnh vực khác thuộc Giáo dục đặc biệt.

Công tác can thiệp sớm và xác định nhu cầu của Trẻ khuyết tật được đặc biệt chú trọng và được tiến hành ngay tại các cơ sở giáo dục. Trẻ được gia đình nghi có “vấn đề” đều được đưa đến cơ sở giáo dục để xác định, đánh giá. Khi được xác định là có nhu cầu can thiệp sớm, hoặc hỗ trợ đặc biệt, trẻ cùng phụ huynh đến trung tâm khoảng 1 tuần để các cán bộ chuyên môn hướng dẫn luyện tập. Sau đó trẻ trở lại gia đình và quay lại trung tâm theo kế hoạch.

Kết luận chương 1

GDHN xuất hiện là một tồn tại tất yếu trong lịch sử phát triển của Giáo dục đặc biệt. Đây là một mô hình giáo dục Trẻ khuyết tật hiệu quả mang đậm tính nhân văn, cho phép Trẻ khuyết tật được học tập tại nơi mình sinh sống với trẻ bình thường khác cùng độ tuổi.

Phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt trong trường mầm non hòa nhập có chức năng hỗ trợ Giáo dục hòa nhập Trẻ khuyết tật. Hoạt động của Phòng có ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả giáo dục Trẻ khuyết tật trong nhà trường, ảnh hưởng quyền lợi của Trẻ khuyết tật trong môi trường trường học hòa nhập.

Công tác quản lý hoạt động của phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt trong trường mầm non quyết định đến kết quả hoạt động giáo dục Trẻ khuyết tật. Những nội dung quản lý được xác định gồm có:

  • Xây dựng mục tiêu, kế hoạch hoạt động của phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt;
  • Tổ chức, chỉ đạo thực hiện chương trình, nội dung hoạt động của Phòng hỗ trợ, can thiệp hỗ trợ trực tiếp trẻ và các hoạt động tư vấn khác;
  • Kiểm tra, đánh giá và giám sát hoạt động Giáo dục hòa nhập và hoạt động, kết quả hoạt động của Phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt;

Ngoài các tác động trực tiếp của công tác quản lý đến kết quả Giáo dục hòa nhập nói chung, thì các yếu tố khác cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến kết quả của công tác giáo dục Trẻ khuyết tật như: các yếu tố về chế độ chính sách cho người dạy, người học, các yếu tố về nguồn lực trong đó có yếu về nhân lực và vật lực; ngoài ra còn có yếu tố về môi trường giáo dục, trong đó đặc biệt quan trọng là môi trường tâm lý. Luận văn: Quản lý hoạt động hỗ trợ giáo dục đặc biệt tại mầm non.

Như vậy, kết quả nghiên cứu cho thấy, phương thức Giáo dục hòa nhập là phương thức tối ưu thực hiện Quyền và tạo điệu kiện phát triển cho Trẻ khuyết tật. Một trong các giải pháp quan trọng nhất nhằm nâng cao chất lượng Giáo dục hòa nhập chính là việc hình thành và quản lý hoạt động của phòng hỗ trợ Giáo dục đặc biệt trong trường mầm non và phổ thông hòa nhập.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Thực trạng quản lý phòng hỗ trợ giáo dục mầm non

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *