Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường Trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

PHẦN MỞ ĐẦU

1. Lí do chọn đề tài

Con người trong xã hội văn minh luôn được tiếp cận với những tri thức mới, những phát minh mới và nhanh chóng ứng dụng vào cuộc sống. Thế giới ngày càng xích gần nhau hơn, chúng ta có nhiều điều kiện tiếp cận hơn với CNTT, Tin học. Khi có được những hiểu biết về CNTT; con người sẽ được trợ giúp rất nhiều trong mọi lĩnh vực chuyên môn cũng như bán chuyên môn. Hầu như ngành nghề, lĩnh vực hay hoạt động nào trong xã hội hiện đại cũng cần đến sự hoạt động của Tin học.

Với thời đại công nghệ số, việc thành thạo các kỹ năng tin học đang được nhiều ngành trong cả nước ta chú trọng nhằm nâng cao cơ hội học tập, nâng cao trình độ và hội nhập với thế giới. Tin học đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội toàn cầu hóa và đã trở thành nhân tố quan trọng, là cầu nối trao đổi giữa các quốc gia, vùng miền, giữa các thành phần, lĩnh vực, ngành nghề trong mọi vấn đề xã hội. Xuất phát từ vị trí, vai trò và tầm quan trọng của CNTT, Đảng ta đã ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 1/7/2023 của Bộ Chính trị “về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển CNTT đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế”.

CNTT đã được Nhà nước xác định là công cụ hữu hiệu để thực hiện 3 đột phá chiến lược trong phát triển đất nước; là chìa khóa mở ra cánh cửa để dân tộc ta bước vào giai đoạn mới. Tin học tuy là một ngành khoa học non trẻ nhưng những giá trị mà nó mang đến cho cuộc sống thì lại vô cùng quan trọng. Chú trọng phát triển Tin học sẽ đem lại nhiều lợi ích to lớn, đáp ứng tốt các nhu cầu của đất nước và con người trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 hiện nay.

Tin học được sử dụng phổ biến và đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp GD- ĐT. Tin học được đưa vào hoạt động giáo dục, chương trình học tin học cung cấp công cụ hỗ trợ đắc lực cho hoạt động dạy học, tạo nên tư duy giảng dạy, học tập mới, đó là tư duy mở và mềm dẻo nhằm mục đích bồi dưỡng năng lực thực hiện cho học sinh; tạo điều kiện thuận lợi giúp thế hệ trẻ thể hiện khát vọng và ước mơ của mình. Trong công tác QLGD, kĩ năng xử lý thông tin nhanh chóng, hiệu quả và việc hoạch định chính sách, chiến lược giáo dục thuận lợi và chính xác hơn là rất cần thiết. Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2022 cũng đã khẳng định “Về đổi mới căn bản, toàn diện GD-ĐT, đáp ứng nhu cầu CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế”. Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS.

Trong những năm gần đây, Bộ GD-ĐT đã có chủ trương ứng dụng CNTT trong giáo dục như Chỉ thị số 3031/CT-BGDĐT Ngày 26/8/2025 của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT về nhiệm vụ chủ yếu năm học 2025 – 2025 của ngành Giáo dục như sau: Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong đổi mới nội dung, phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá một cách sáng tạo, thiết thực và hiệu quả”. Chỉ thị số 2699/CT-BGDĐT ngày 08/8/2025 của Bộ trưởng Bộ GD-ĐT về nhiệm vụ chủ yếu năm học 2025 – 2026 của ngành Giáo dục, Bộ GD-ĐT hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ CNTT năm học 2025 – 2026 đã nêu: “Triển khai có hiệu quả Đề án tăng cường ứng dụng CNTT trong quản lý và hỗ trợ các hoạt động dạy – học, nghiên cứu khoa học góp phần nâng cao chất lượng GD-ĐT giai đoạn 2025-2028, định hướng đến năm 2025” (được phê duyệt theo Quyết định số 117/QĐ-TTg ngày 25/01/2025 của Thủ tướng Chính phủ). Nhận thức được tầm quan trọng của CNTT, Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương ban hành Kế hoạch số 2814/KH- UBND ngày 7/7/2025 về “Tăng cường ứng dụng CNTT trong quản lý và hỗ trợ các hoạt động dạy – học, nghiên cứu khoa học góp phần nâng cao chất lượng GD-ĐT giai đoạn 2025-2028, định hướng đến năm 2025”

Trong hoạt động giáo dục phổ thông ở thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, tin học có vai trò quan trọng không nhỏ, giúp GV, HS tiếp cận với nguồn thông tin, kiến thức phong phú, phục vụ cho việc giảng dạy, học tập và ứng dụng vào đời sống… Song một số trường THCS tại ở thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương hiện nay cũng đang gặp nhiều khó khăn trong việc dạy học môn này. Tin học được bố trí là môn tự chọn, thậm chí tầm quan trọng không bằng một số môn học khác. Rất nhiều HS được tiếp cận môn học này theo kiểu “cưỡi ngựa xem hoa”… Vì lẽ đó, nhà trường ít quan tâm đầu tư, một số GV dạy môn Tin học còn yếu về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Đó là một khó khăn cho việc bồi dưỡng kiến thức, truyền đạt kỹ năng về CNTT cho thế hệ trẻ. Bên cạnh đó, Tin học cũng chỉ là một môn học trang bị công cụ cho HS, thời lượng học trên lớp chỉ đáp ứng nhu cầu học hỏi những kiến thức căn bản. Việc tiếp thu, để có thể sử dụng, nghiên cứu thêm nhằm ứng dụng tri thức này hiệu quả đến đâu thì tùy thuộc phần lớn vào sự đam mê, ham thích và ý thức tự giác của người học.

Hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương đã được các CBQL quan tâm chỉ đạo GV xây dựng kế hoạch dạy học, thiết kế bài học và tăng cường các điều kiện hỗ trợ. Nhưng CBQL chưa quan tâm nhiều đến tính đặc thù của hoạt động dạy học môn học này nên vẫn còn một số trở ngại, khó khăn nhất định; đòi hỏi phải xem xét cụ thể về quản lí dạy học môn tin học ở trường THCS để kết quả dạy học cao hơn.

Với những lý do trên, bản thân học viên chọn đề tài nghiên cứu “Quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường Trung học cơ sở trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương” làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ chuyên ngành Quản lý giáo dục.

2. Mục đích nghiên cứu Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS.

Trên cơ sở hệ thống hóa lý luận và khảo sát, đánh giá thực trạng về quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS đề xuất một số biện pháp quản lý nhằm tăng cường quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở các trường THCS tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1. Khách thể nghiên cứu

  • Quản lý hoạt động dạy học ở trường THCS.

3.2. Đối tượng nghiên cứu

  • Quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

4. Giả thuyết khoa học

Quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương đã thực hiện khá tốt về công tác xây dựng kế hoạch và chỉ đạo thực hiện kế hoạch; nhưng vẫn còn hạn chế trong công tác tổ chức và kiểm tra hoạt động dạy học; các điều kiện, phương tiện hỗ trợ còn thiếu. Từ kết quả nghiên cứu lý luận và thực trạng có thể đề xuất được các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS tại thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương có tính cần thiết và khả thi.

5. Nhiệm vụ nghiên cứu

  • Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hoạt động dạy học môn Tin học và quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS;
  • Đánh giá thực trạng hoạt động dạy học môn Tin học và quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương;
  • Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

6. Phạm vi nghiên cứu

6.1. Chủ thể và đối tượng quản lí Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS.

Đề tài chỉ giới hạn nghiên cứu hoạt động quản lý của hiệu trưởng, phó hiệu trưởng và tổ trưởng chuyên môn đối với hoạt động giảng dạy môn Tin học của GV tại 04 trường: THCS Phú Hòa, THCS Nguyễn Viết Xuân, THCS Chánh Nghĩa, THCS Tương Bình Hiệp trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

6.2. Về thời gian

  • Đề tài nghiên cứu dựa trên việc khảo sát số liệu năm học 2025 – 2026.

7. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

7.1. Phương pháp luận

  • Quan điểm hệ thống – cấu trúc

Khi nghiên cứu cần nghiên cứu quản lý hoạt động giảng dạy môn Tin học một cách toàn diện nhiều mặt, dựa vào việc phân tích đối tượng thành các bộ phận mà xem xét cụ thể. Xác định mối quan hệ chặt chẽ giữa hoạt động dạy học môn Tin học với quản lý hoạt động dạy học môn Tin học và quản lý các hoạt động chuyên môn khác trong nhà trường. Tìm môi trường thuận lợi cho sự phát triển. Thông qua việc nghiên cứu giúp người nghiên cứu tìm hiểu chính xác thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

  • Quan điểm lịch sử – logic

Tìm hiểu, phát hiện sự hình thành và phát triển của công tác quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương trong phạm vi thời gian và không gian cụ thể, để điều tra thu thập số liệu chính xác, đúng với mục đích nghiên cứu đề tài, trình bày công trình nghiên cứu theo một trình tự hợp có tính logic cao, từ đó đề xuất biện pháp phù hợp phát triển của quá trình giáo dục.

  • Quan điểm thực tiễn

Nghiên cứu thực trạng quản lý hoạt động hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương đòi hỏi phải xem xét vấn đề trong tình hình thực tế khách quan, với tình hình phát triển KH-CN, với điều kiện KT-XH của tỉnh Bình Dương nói chung và thành phố Thủ Dầu Một nói riêng để tìm ra những khó khăn, bất cập. Từ đó đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương. Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS.

7.2 Các phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp nghiên cứu lý luận

Phương pháp này nhằm giúp người nghiên cứu phân tích, tổng hợp tài liệu và các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài; hệ thống hóa các cơ sở lý luận nói trên làm cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS.

  • Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
  • Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi

Thiết lập hệ thống các câu hỏi mở và câu hỏi kín bằng các phiếu hỏi nhằm thu thập những thông tin tìm ra ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở một số trường THCS trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

  • Phương pháp quan sát

Nhằm thu thập thông tin về khả năng tiếp thu kiến thức, kỉ năng sử dụng máy tính của học sinh; khả năng truyền đạt kiến thức, sử dụng thiết bị hổ trợ dạy học của GV trong hoạt động dạy học lí thuyết và thực hành môn Tin học; từ đó đánh giá thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

  • Phương pháp thống kê toán học

Dùng phần mềm thống kê SPSS for Windows 20.0 để xử lí, tổng hợp các số liệu thống kê thu thập được trong quá trình nghiên cứu thực trạng và định hướng nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS trên địa bàn Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

8. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

Về lý luận: Luận văn sẽ góp phần hệ thống lý luận cơ bản và làm rõ thêm cơ sở khoa học về công tác quản lý của Hiệu trưởng đối với hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS.

Về thực tiễn: Nhận xét, đánh giá đúng thực trạng hoạt động dạy học môn Tin học và quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, từ đó đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tin học có hiệu quả nhằm góp phần nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường.

9. Bố cục của luận văn Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS.

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, luận văn gồm 3 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường trung học cơ sở.
  • Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường trung học cơ sở tại thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương.
  • Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường trung học cơ sở tại thành phố Thủ Dầu Một, Bình Dương.

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC TIN HỌC Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ

1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1. Ở nước ngoài

Những thành tựu mới của KH-CN nửa cuối thế kỷ 20 đang làm thay đổi hình thức và nội dung các hoạt động kinh tế, văn hoá và xã hội của loài người. Các quốc gia phát triển đã bắt đầu chuyển từ nền văn minh công nghiệp sang văn minh thông tin. Các nước đang phát triển tích cực áp dụng những tiến bộ mới của KH-CN, đặc biệt là CNTT, để phát triển và hội nhập. [4]

Đầu những năm 60 của thế kỷ XX đã có những nghiên cứu và thử nghiệm về việc dạy học Tin học và kỹ thuật tính, chủ yếu là qua môn Toán. Tình hình chung tại các nước là việc giảng dạy còn nặng về lý thuyết, HS không thực hành trên máy. Cuối những năm 70, Tin học và kỹ thuật tính chuyển sang một giai đoạn mới có sự biến đổi về chất. Máy tính bắt đầu được sử dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực nghiên cứu, sản xuất và đời sống. Do những đòi hỏi của sự phát triển KT-XH và sự cho phép về điều kiện kinh tế – kỹ thuật nên Tin học đã chính thức được đưa vào trường học. Cho đến những năm 1980, hầu hết các lĩnh vực hoạt động của con người từ sản xuất, kinh doanh đến nghiên cứu giáo dục, để hoàn thành nhiệm vụ của mình, đều phải nhờ tới sự trợ giúp của các hệ thống thông tin tự động hoá. Với việc ứng dụng ngày càng rộng rãi CNTT và truyền thông, đặc biệt là ở các nước phát triển, nhiều quốc gia đã lần lượt xây dựng chiến lược Tin học, ứng dụng CNTT và truyền thông mà một bộ phận quan trọng của chiến lược này là xác định cách thức đưa Tin học vào trong trường phổ thông [5].

Trong vài thập kỷ gần đây, xã hội loài người có sự bùng nổ về thông tin và coi thông tin là một dạng tài nguyên mới. Tin học là một ngành mới nhưng có tốc độ phát triển mạnh mẽ như hiện nay. Động lực chính của sự phát triển là nhu cầu khai thác và ứng dụng thông tin của loài người [58]. Tin học xem xét sự tương tác giữa con người và thông tin bên cạnh việc xây dựng giao diện, tổ chức, công nghệ và hệ thống. Như vậy, tin học có bề rộng lớn và bao gồm nhiều chuyên ngành, bao gồm các ngành khoa học máy tính, hệ thống thông tin, công nghệ thông tin và thống kê. Kể từ khi máy tính ra đời, các cá nhân và tổ chức ngày càng xử lý thông tin kỹ thuật số. Điều này đã dẫn đến việc nghiên cứu về tin học với các khía cạnh tính toán, toán học, sinh học, nhận thức và xã hội, bao gồm cả nghiên cứu về tác động xã hội của công nghệ thông tin.

Anh là quốc gia đi tiên phong trong việc đổi mới hoàn toàn chương trình môn Tin học theo hướng phân loại rõ ràng và đưa nội dung Khoa học máy tính vào nhà trường phổ thông ngay từ bậc Tiểu học.

Ứng dụng CNTT và truyền thông trong dạy học (gọi tắt là ICT) nói chung và trong môn Tin học nói riêng đang là một xu thế tất yếu trong thời đại “số”. Trên thế giới, các nghiên cứu cho thấy việc tích hợp công nghệ mang lại nhiều lợi ích cho cả GV và HS trong quá trình dạy học các môn khoa học. Báo cáo của cơ quan truyền thông giáo dục và công nghệ Anh quốc (Becta) với chủ đề “Nghiên cứu nói điều gì về việc sử dụng ICT trong dạy học khoa học” [53] chỉ ra rằng ICT làm cho việc dạy học khoa học trở nên thú vị, tin cậy và có ý nghĩa hơn. Trong một nghiên cứu khác của Sylvia Hogarth và cộng sự khi đánh giá về ảnh hưởng của ICT trong dạy học khoa học thông qua việc phân tích, tổng hợp thông tin từ 628 công bố khoa học có liên quan 64 được thực hiện ở 10 nước khác nhau [52], các tác giả cho rằng ICT tăng cường năng lực nhận thức, khả năng tự học của HS.

Trên thế giới, ngành có nhiều việc, lại lương cao. 9 trong số 25 công việc lương cao nhất, theo CNBC, là công việc trong ngành khoa học máy tính. 3 trong số 7 công việc với yêu cầu tuyển dụng cao nhất, theo US News, là công việc trong ngành khoa học máy tính. Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS.

Ở Mỹ, 84% các phụ huynh tin rằng khoa học máy tính ít nhất cũng quan trọng tương đương các môn bắt buộc như Toán, Khoa học, Lịch sử, và Văn học. 60% những người làm giáo dục tin rằng khoa học máy tính nên là môn bắt buộc. Họ tin rằng bất kỳ một đứa trẻ thế kỷ 21 nào cũng cần có cơ hội để học về thuật toán, các viết ứng dụng máy tính hay điện thoại, cách thức Internet vận hành.

Ngày nay vấn đề dạy học Tin học, ứng dụng CNTT và truyền thông đã được hầu hết các nước trên thế giới quan tâm và đã trở nên một vấn đề toàn cầu. CNTT mang đến sự đổi mới về cách học cho mọi cấp học. CNTT cũng tạo điều kiện cho việc hợp tác nghiên cứu khoa học và học từ xa. CNTT trong giáo dục sẽ là giải pháp chiến lược nhằm đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế dựa trên tri thức [5].

Sự hình thành và phát triển ở nền văn minh thứ ba gắn liền với máy tính điện tử. Ngành Tin học được hình thành và phát triển thành một ngành độc lập với các nội dung, mục tiêu, phương pháp nghiên cứu riêng và ngày càng có nhiều ứng dụng trong hầu hết các lĩnh vực hoạt động của xã hội loài người. Đặc thù riêng của nó là quá trình nghiên cứu và triển khai các ứng dụng không tách rời việc phát triển và sử dụng máy tính điện tử [58].

Tuy nhiên, không thể đồng nhất Tin học với máy tính và càng không thể đồng nhất việc học Tin học với việc học sử dụng máy tính. Mặc dù máy tính ngày càng có thêm những khả năng kỳ diệu, nhưng nó vẫn chỉ là một công cụ lao động do con người sáng tạo ra. Để sử dụng được công cụ lao động này, con người cần có kiến thức nhất định về tin học, trên cơ sở đó dùng máy tính để trợ giúp công việc của mình. Do đó, Tin học tuy mới ra đời khoảng bốn mươi năm trở lại đây, nhưng Tin học là khoa học đầu tiên mà sự hình thành và phát triển của nó lại là kết quả của các quá trình tác động qua lại giữa nhiều khoa học nhằm đáp ứng nhu cầu thực tiễn hiện đại trong việc giải quyết nhiệm vụ tính toán và xử lý thông tin có khối lượng rất lớn vượt quá khả năng tính toán của con người. Giáo dục Tin học góp phần hình thành và phát triển các phẩm chất chủ yếu và năng lực cốt lõi được xác định trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể.

1.1.2. Ở Việt Nam Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS.

Ngày 1/7/2023, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 36-NQ/TW “về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển CNTT đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế” đã tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò của CNTT trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, là tiền đề quan trọng tạo cơ hội lớn cho CNTT Việt Nam phát triển mạnh, sâu rộng trong thời gian tới. Theo đó, khẳng định vai trò quan trọng của CNTT trong phát triển KT-XH của đất nước, là hạ tầng mềm tạo phương thức phát triển mới, góp phần bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đẩy mạnh ứng dụng CNTT là một yếu tố quan trọng, bảo đảm thực hiện ba đột phá chiến lược, là nội dung bắt buộc trong các đề án, dự án đầu tư của các bộ, ngành, các địa phương. Sự phát triển mạnh mẽ và ứng dụng rộng rãi của CNTT là một đặc điểm nổi bật của cuộc cách mạng KH-CN của thế kỷ này. Nếu chúng ta đòi hỏi việc đào tạo của nhà trường phải gắn liền với thực tế xã hội thì không thể thoái thác việc đưa Tin học vào trường phổ thông. Việc làm này sẽ đón đầu với yêu cầu của thực tiễn trong kỹ nguyên thông tin và tự động hóa.

Vào đầu những năm 80 của thế kỷ trước, cùng với các nước thuộc khối XHCN thời đó, chúng ta đã nhận thức được sự cần thiết phải trang bị cho thế hệ trẻ các kiến thức phổ thông về Tin học. Một số cơ quan, trong đó có Viện Khoa học Giáo dục, với chức năng nghiên cứu và thiết kế nội dung và chương trình các môn học của bậc học phổ thông đã huy động, tập hợp lực lượng tiến hành nghiên cứu và đề xuất những bước đi nhằm triển khai việc đưa Tin học vào trường phổ thông. Trên báo chí, nhất là tạp chí Nghiên cứu Giáo dục những năm 1984, 1985, 1986, 1987, nhiều vị lãnh đạo ngành giáo dục, nhiều nhà khoa học, nhà sư phạm đã phát biểu những định hướng đầu tiên cho việc đưa Tin học vào nhà trường,… [5]

Tin học là một ngành công nghệ khá mới mẻ đối với Việt Nam nhưng phát triển rất nhanh trên thế giới. Tại Việt Nam, chưa bao giờ Tin học được đưa vào nhà trường thành môn học chính thức và phổ cập đại trà (thời điểm 2014). Chính vì lý do trên mà Tin học, máy tính mặc dù đối với xã hội đã phổ cập nhưng đối với các trường học ở nước ta lại rất mới mẻ.

Tinh thần chung của việc dạy Tin học thí điểm là cho HS làm quen với máy tính. Một số trường, với sự giúp đỡ của các công ty và dự án về máy tính, đã bắt đầu thử sử dụng phần mềm trong dạy học ở nhiều bộ môn.

Từ năm 2013 – 2014, để đẩy mạnh việc đưa Tin học vào trường phổ thông, Bộ GD-ĐT hướng dẫn các Sở GD-ĐT tiến hành tổ chức thực hiện việc dạy học Tin học ở cấp Trung học. Những nơi có điều kiện về GV, về thiết bị dạy học cần tổ chức dạy học chính khóa Tin học ở các trường THCS, THPT. Những nơi chưa có đủ điều kiện cần có kế hoạch đầu tư, chuẩn bị để có điều kiện tiến hành dạy học môn Tin học cho những năm sau [6].

Từ năm học 2015-2016, Tin học được bố trí trong thời lượng dạy học tự chọn trong Kế hoạch giáo dục của cấp THCS [10]. Từ năm học 2016 – 2017, Bộ GD-ĐT đã ban hành Khung Phân phối chương trình quy định thời lượng cho từng phần Chương trình (chương, bài học, mô-đun, chủ đề, …), trong đó quy định thời lượng luyện tập, bài tập, ôn tập, thí nghiệm, thực hành và kiểm tra định kỳ. Ở THCS, Tin học là môn học tự chọn (bắt buộc), thời lượng dạy học tự chọn ở tất cả các lớp của cấp THCS là 2 tiết / tuần, tổ chức dạy học chung cho cả lớp (các trường tự chủ về kinh phí có thể chia lớp thành nhóm nhỏ hơn nhưng vẫn phải bảo đảm thời lượng dạy học) [12]. Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS.

Ở bậc Tiểu học và bậc THCS, Tin học là môn tự chọn nên chương trình môn Tin học ở THPT được xây dựng trên giả thiết là HS chưa được học Tin học ở cấp học dưới. Chương trình có tính “mở” có phần bắt buộc và phần tự chọn để linh hoạt khi triển khai và dễ dàng cập nhật với thực tế phát triển của môn học. Xuất phát từ điều kiện của từng địa phương và đặc trưng của môn học mà tiến hành tổ chức dạy học một cách linh hoạt với những hình thức đa dạng để đảm bảo được yêu cầu chung của môn học và nâng cao nếu có điều kiện.

Một số Sở GD – ĐT đã tự biên soạn chương trình, tài liệu giáo khoa cùng với sự giúp đỡ của một số cơ quan, tổ chức kinh tế, các dự án tổ chức dạy Tin học, ứng dụng CNTT và truyền thông ở một số trường THCS như tại thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Thừa Thiên – Huế… kể cả việc tổ chức thi HS giỏi môn Tin học ở cấp học này.

Đầu năm học 2017 – 2018, Bộ GD-ĐT có Chỉ thị quan trọng là đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong nhà trường, trong giảng dạy, yêu cầu đổi mới GD-ĐT, đội ngũ GV phải sử dụng thành thạo các trang thiết bị dạy học như máy vi tính, PowerPoint, khai thác hiệu quả mạng Internet phục vụ giảng dạy.

Để quán triệt yêu cầu của Đảng và Nhà nước nhằm thực hiện mục tiêu: Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống văn hóa, lịch sử, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn; phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời [35]; Ngày 05/8/2024 Bộ GD-ĐT đã có chỉ đạo cho toàn ngành cần quan tâm đến các nội dung giáo dục về đạo đức, văn hóa, Pháp luật; chú ý tác động của Tin học đến đời sống xã hội; phải đổi mới chương trình, sách giáo khoa, tăng môn học tự chọn, giảm môn học bắt buộc.

Hiện nay, ngành GD-ĐT quan tâm phát triển dạy học môn Tin học. Các nhà giáo dục học cũng đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến Tin học trong hoạt động dạy học như: Quách Tuấn Ngọc (2010), Xây dựng môn Tin học trong nhà trường phổ thông, Hội thảo khoa học ứng dụng CNTT và truyền thông trong giáo dục phổ thông – Công nghệ giáo dục, Hà Nội [34]; Bùi Việt Hà (2014), Tin học trong nhà trường phổ thông, Tin học và Nhà trường, Hà Nội [16]; Trần Văn Hạo, Lê Đức Long (2016), Giáo trình Phương pháp dạy học bộ môn Tin học, Trường ĐHSP, TPHCM [45]. Những nghiên cứu này cho thấy CNTT&TT đóng vai trò không nhỏ trong sự phát triển chung của nhân loại, và đồng thời đã đánh giá tầm quan trọng và tính cấp thiết của việc đưa môn Tin học vào chương trình dạy học ở trường phổ thông, đây là một quyết định đúng đắn trong xu thế hội nhập và phát triển của đất nước.

Trong lĩnh vực quản lý, có nhiều tác giả đã nghiên cứu sâu về khoa học quản lí nói chung và quản lí giáo dục nói riêng, điển hình như: Nguyễn Cảnh Chất (2013), Tinh hoa quản lý, Nxb Lao động, Hà Nội [24]; Hồ Văn Liên (2016), Bài giảng Quản lý giáo dục và trường học, ĐHSP TP.HCM [21]; Bùi Minh Hiền (2018), Quản lý giáo dục, Nhà xuất bản ĐHSP, Hà Nội [15]; Trần Kiểm (2019), Khoa học tổ chức và quản lí trong giáo dục, NXB ĐHSP, Hà Nội [43]. Đây là những nghiên cứu rất đầy đủ về khoa học quản lí vừa bảo đảm tính hàn lâm khoa học, vừa mang tính thực tiễn ứng dụng cao trong quản lí ở các trường học.

Như vậy, đến nay trong giáo dục cũng có khá nhiều nghiên cứu về CNTT và Tin học. Tuy nhiên, những nghiên cứu này chỉ tập trung chủ yếu về ứng dụng CNTT vào hoạt động quản lí nhà trường; ứng dụng CNTT trong hoạt động dạy học; quản lí hoạt động dạy học môn Tin học ở các trường THPT; tức là vẫn thiên về CNTT và thường tập trung nghiên cứu ở cấp THPT mà đặc biệt chưa nghiên cứu nào về quản lí hoạt động dạy học môn Tin học ở cấp THCS. Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS.

Tại Thành phố Hồ Chí Minh, tác giả Lê Văn Hòa (2021) với đề tài “Thực trạng công tác quản lí việc giảng dạy Tin học tại các trường Trung học phổ thông tỉnh Khánh Hòa và một số giải pháp”, Luận văn Thạc sĩ QLGD – ĐHSP TP.HCM. Nghiên cứu này cho thấy, đội ngũ CBQL và GV tin học của một số trường trung học phổ thông ở tỉnh Khánh Hòa còn có nhiều khó khăn, hạn chế biểu hiện ở các mặt: số lượng chưa đảm bảo theo định biên cho phép; cơ cấu bố trí chưa thật hợp lý; một bộ phận CBQL chưa có kiến thức về tin học, chưa ứng dụng được những thành tựu của công nghệ thông tin và truyền thông vào công tác quản lý, do vậy chưa thật sự biến chuyển trong nhận thức về tầm quan trọng của việc triển khai dạy môn Tin học ở các trường THPT. Theo đó, tác giả cũng đã chỉ ra 5 nhóm biện pháp chủ yếu để có điều kiện quản lý việc giảng dạy tin học tại các trường THPT ở tỉnh Khánh Hòa ngày càng hiệu quả hơn là: tác động về mặt số lượng CBQL, số lượng GV dạy tin học; tác động về mặt chất lượng về chuyên môn nghiệp vụ; tác động đến quản lý và môi trường phát triển đội ngũ CBQL, GV tin học; tác động về nguồn lực; tác động về mặt chính sách. Tuy nhiên, nghiên cứu còn một số hạn chế vì chưa phân tích sâu vào tác động của công tác quản lí đến hoạt động dạy học môn Tin học của GV. Tác giả Trương Thị Thu Trang (2024), Quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở các trường Trung học phổ thông huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh, Luận văn Thạc sĩ QLGD – ĐHSP TP.HCM. Theo đó, nghiên cứu này đã cho thấy tác giả đã phân tích và nhận định chung công tác quản lí hoạt động dạy học môn Tin học cấp THPT ở huyện Củ Chi, thành phố Hồ Chí Minh khá toàn diện. Tuy nhiên, nghiên cứu còn hạn chế vì chưa phân tích đầy đủ sự tác động của đội ngũ cán bộ quản lý đối với sự phối hợp trong hoạt động dạy học môn Tin học để rút ra những nhận định khách quan về công tác này. Theo tài liệu nghiên cứu, đến nay trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương chưa có đề tài nghiên cứu nào có liên quan đến quản lí hoạt động dạy học môn Tin học ở cấp THCS. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài này sẽ giúp chúng ta xác định được thực trạng công tác quản lí hoạt động dạy học môn Tin học và các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lí hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS trên địa bàn thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương.

1.2. Những khái niệm cơ bản Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS.

1.2.1. Quản lý, quản lý giáo dục, quản lý trường trung học cơ sở

1.2.1.1 Quản lý

Quản lý là một chức năng lao động bắt nguồn từ tính chất lao động của xã hội. Từ khi con người bắt đầu hình thành các nhóm đề thực hiện những mục tiêu mà họ không thể đạt được với tư cách là những cá nhân riêng lẻ, thì nhu cầu quản lý cũng hình thành như một yếu tố cần thiết để phối hợp những nỗ lực cá nhân hướng tới những mục tiêu chung. Hoạt động quản lý luôn là một thuộc tính tất yếu lịch sử khách quan gắn liền với xã hội ở mọi giai đoạn phát triển của nó [41].

Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý:

  • “Quản lý là việc đạt tới mục đích của tổ chức một cách có kết quả và hiệu quả thông qua quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra các nguồn lực của tổ chức” (Khoa học quản lý, tập I, Trường ĐH KTQD, Hà Nội 2010).
  • Nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc Quang thì cho rằng: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lí đến tập thể những người lao động nói chung và khách thể quản lí nhằm thực hiện được mục tiêu dự kiến”.

Từ các quan niệm trên cho thấy, quản lý là một hoạt động liên tục và cần thiết khi con người kết hợp với nhau trong tổ chức.

Quản lý là sự áp dụng kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm của chủ thể quản lý để điều khiển nguồn lực nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các tiến trình và giải quyết các vấn đề hướng đến mục đích hoạt động chung, phù hợp với quy luật khách quan nhằm đạt được mục tiêu chung.

Bản chất của hoạt động quản lý là cách thức tổ chức, điều khiển, kiểm tra hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt hiệu quả mong muốn. Trong quá trình quản lý, chủ thể quản lý phải biết rút kinh nghiệm tốt, phù hợp trong điều hành, phải tìm tòi sáng tạo phương thức quản lý mới,… giúp giải quyết công việc có hiệu quả. Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS.

  • Hình 1.1. Sơ đồ minh họa mô hình quản lý

1.2.1.2 Quản lý giáo dục

QLGD là một khoa học quản lý chuyên ngành. Trong QLGD, chủ thể quản lý ở các cấp chính là bộ máy QLGD từ Trung ương đến địa phương, còn đối tượng quản lý chính là nguồn nhân lực, CSVC kỹ thuật và các hoạt động thực hiện chức năng của ngành GD-ĐT.

QLGD là hệ thống tác động có kế hoạch, có ý tưởng, có mục đích của chủ thể quản lý đến đối tượng được quản lý.

QLGD là sự tác động lên tập thể GV, HS và các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, nhằm huy động họ cùng phối hợp, tác động tham gia các hoạt động giáo dục của nhà trường để đạt kế hoạch đề ra.

QLGD là hệ thống những tác động có ý thức, hợp quy luật của chủ thể quản lí ở các cấp khác nhau đến tất cả các khâu của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm đảm bảo sự vận hành bình thường của các cơ quan trong hệ thống giáo dục, đảm bảo cho sự phát triển và mở rộng hệ thống cả về mặt số lượng cũng như chất lượng [50].

Tóm lại, QLGD là hoạt động điều hành quá trình GD-ĐT con người, đặc biệt là lao động sư phạm của các nhà giáo nhằm thực hiện chức năng của GD-ĐT.

1.2.2.3. Quản lý trường trung học cơ sở

Nhà trường là một thiết chế riêng biệt của xã hội, thực hiện chức năng kiến tạo các kinh nghiệm xã hội cần thiết cho một nhóm dân cư nhất định của xã hội đó. Nhà trường được tổ chức sao cho việc kiến tạo kinh nghiệm xã hội nói trên đạt được các mục tiêu xã hội đặt ra cho nhóm dân cư được huy động vào sự kiến tạo này một cách tối ưu theo quan niệm của xã hội [28, tr.1].

Trường THCS là một thiết chế đặc biệt của xã hội; là đơn vị cơ sở nằm trong hệ thống giáo dục đào tạo từ Trung ương đến địa phương. Trường THCS với tư cách là một tổ chức giáo dục cơ sở vừa mang tính giáo dục vừa mang tính xã hội, trực tiếp đào tạo thế hệ trẻ, là tế bào quan trọng của bất kỳ hệ thống giáo dục nào.

Nhà trường tiếp tục thực hiện tốt chức năng phát triển hoạt động tâm-sinh lý, sức khỏe, tri thức,… cho thiếu niên-nguồn nhân lực ở cấp THCS, tiến hành quá trình giáo dục theo yêu cầu của xã hội, đào tạo các công dân cho tương lai.

Theo điều 4, khoản 2 Luật Giáo dục ghi: “Nhà trường trong hệ thống giáo dục quốc dân thuộc mọi loại hình đều được thành lập theo quy hoạch, kế hoạch của Nhà nước nhằm phát triển sự nghiệp giáo dục. Nhà nước tạo điều kiện để trường công lập giữ vai trò nòng cốt trong hệ thống giáo dục quốc dân” [8]. Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS.

Như vậy “Quản lý nhà trường” chính là bộ phận của “QLGD”. Có thể thấy công tác quản lý trường học bao gồm xử lý các tác động qua lại giữa trường học và xã hội đồng thời quản lý chính nhà trường.

  • Theo định nghĩa của một số tác giả trong nước thì:

Tác giả Trần Kiểm cho rằng: “ Quản lí nhà trường thực chất là việc xác định vị trí của mỗi người trong hệ thống xã hội, là quy định chức năng, quyền hạn, nghĩa vụ, quan hệ cùng vai trò xã hội của họ mà trước hết là trong phạm vi nhà trường với tư cách là một tổ chức xã hội” [42].

Theo tác giả Trần Thị Tuyết Oanh thì: “Quản lí trường học là hoạt động của các cơ quan QLGD nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của GV, HS và các lực lượng giáo dục khác, huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng GD-ĐT trong nhà trường” [45].

Dạy học và giáo dục trong sự thống nhất với nhau là hoạt động trung tâm của nhà trường THCS. Mọi hoạt động đa dạng và phức tạp khác của nhà trường đều hướng vào tiêu điểm này. Vì vậy quản lý nhà trường THCS thực chất là quản lý quá trình sư phạm của thầy, hoạt động học tập – tự giáo dục của trò, diễn ra chủ yếu trong quá trình dạy học.

Tóm lại, quản lý nhà trường THCS là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp qui luật của chủ thể quản lý đến các khách thể quản lý bao gồm GV, công nhân viên, tập thể HS nhà trường, cha mẹ HS và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường… nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục THCS được xác định trong tương lai của nhà trường.

1.2.2. Hoạt động dạy học môn Tin học

  • Hoạt động dạy học

Dạy học là một quá trình phức tạp nên ta cần xem xét những hoạt động trên những bình diện khác nhau liên hệ với nội dung dạy học. Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS.

Hoạt động dạy học diễn ra trong một hệ thống dạy học, bao gồm: Thầy (giáo viên), Trò (học sinh), Tri Thức và Môi Trường

Thầy: Trong quá trình dạy học, thầy giáo đóng vai trò chủ động, dẫn dắt, trước hết làm cho việc dạy và học được thông suốt. Người thầy phải thấy được các mâu thuẫn trong quá trình dạy học để tìm cách thực hiện đồng thời một số yêu cầu khác nhau [46].

  • Tóm lại, GV phải là người tạo thuận lợi tối đa cho việc học của trò.

Trò: Trước đây thường có xu hướng cho rằng nếu vai trò của Thầy là chủ động, thì vai trò của HS là thụ động tiếp thu kiến thức. Tuy nhiên, quan niệm đó đã tỏ ra lỗi thời, để đạt được hiệu quả cao trong học tập, HS cũng phải có vai trò chủ động, vai trò trung tâm.

  • Hình 1.2. Sơ đồ minh họa hệ thống dạy học

Luật Giáo dục (12/1998) của Việt Nam trước đây cũng đã quy định phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS, bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS.

Nói tóm lại, trong hệ thống dạy học Trò phải hướng tới việc học tập chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động [46].

Tri thức: Mục tiêu của quá trình dạy học là HS làm chủ được tri thức. Tất nhiên tri thức phải được biến đổi từ tri thức khoa học đến tri thức chương trình rồi đến tri thức dạy học để HS hiểu, nắm vững và biết vận dụng. Đây là quá trình chuyển hoá sư phạm [46].

Môi trường: Sự hiểu biết hệ thống dạy học và đặc biệt là hiểu biết việc học của HS đòi hỏi phải bổ sung vào yếu tố môi trường. Môi trường là hệ thống đối mặt với người học, những đối tượng mà HS tiếp xúc nhằm đi tới việc làm chủ kiến thức. Môi trường không chỉ đơn thuần là điều kiện vật chất, môi trường học tập, ảnh hưởng khách quan bên ngoài, mà còn là các tình huống có vấn đề cần giải quyết do Thầy đặt ra, các tình huống thực tế liên quan đến công việc, đời sống hàng ngày mà HS phải đối mặt giải quyết,… [46]

Hoạt động dạy của GV bao gồm hành động với tư liệu dạy học và sự trao đổi, định hướng trực tiếp với HS. Thầy là người tổ chức tư liệu hoạt động dạy học, cung cấp tư liệu, tạo tình huống cho hoạt động của HS. Dựa trên tư liệu hoạt động dạy học, GV thực hiện vai trò tổ chức, kiểm tra, định hướng hoạt động của HS với tư liệu học tập và định hướng sự trao đổi, tranh luận của HS với nhau [7]. Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS.

Hoạt động học của HS bao gồm các hành động với tư liệu dạy học, sự trao đổi, tranh luận với nhau và sự trao đổi với GV. Hành động học của HS với tư liệu hoạt động dạy học là sự thích ứng của HS với tình huống học tập đồng thời là hành động chiếm lĩnh, xây dựng tri thức cho bản thân mình. Sự trao đổi, tranh luận giữa HS với nhau và giữa HS với GV nhằm tranh thủ sự hỗ trợ xã hội từ phía GV và tập thể HS trong quá trình chiếm lĩnh tri thức. Thông qua các hoạt động của HS với tư liệu học tập và sự trao đổi đó mà GV thu được những thông tin liên hệ ngược cần thiết cho sự định hướng của GV đối với HS [7].

Như vậy, hoạt động dạy học là hoạt động được thực hiện theo một chiến lược, chương trình đã được thiết kế, tác động đến người học nhằm hướng tới mục tiêu hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực của người học.

  • Hoạt động dạy học môn Tin học

Cũng như các môn học khác, việc dạy học Tin học cần được thực hiện bởi hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực, chủ động sáng tạo của người học. Khi cần hướng dẫn một nội dung Tin học cho HS, người dạy phải biết phân tích nội dung đó liên quan với những hoạt động nào. Tiếp tục phân tích một số hoạt động tương tác có thể xảy ra thành những hoạt động thành phần rồi căn cứ vào mục tiêu tiết học, trình độ HS và trang thiết bị hiện có mà lựa chọn cho HS tập luyện và thực hiện một trong số những hoạt động trong nội dung cần dạy.

Nội dung dạy học môn Tin học ở nhà trường phổ thông liên hệ mật thiết với những dạng hoạt động sau đây: nhận dạng và thể hiện, những hoạt động trí tuệ phổ biến trong dạy học Tin học, những hoạt động trí tuệ chung và những hoạt động ngôn ngữ, những hoạt động tin học phức hợp… Những tri thức cơ bản của môn Tin học cần cung cấp cho HS phải là những tri thức hiện đại, phản ánh được những thành tựu mới nhất của KHCN, văn hóa phù hợp với chân lý khách quan, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại.

Như vậy, hoạt động dạy học Tin học là quá trình tổ chức điều khiển HS lĩnh hội những tri thức, mà qua hoạt động soạn giảng, kiểm tra… GV vận dụng phương pháp phù hợp truyền đạt hết kiến thức, hình thành hệ thống kỹ năng, kỹ xảo nhất định, đặc biệt những kỹ năng, kỹ xảo có liên quan tới hoạt động học tập, tự học và tập dượt nghiên cứu khoa học ở mức độ thấp, nhằm giúp cho HS không những chỉ nắm vững tri thức mà còn biết vận dụng linh hoạt, sáng tạo kiến thức môn Tin học trong các tình huống khác nhau không chỉ riêng trong bộ môn Tin học, nhằm đạt được mục tiêu dạy học môn Tin học.

1.2.3. Quản lý hoạt động dạy học Tin học ở trường trung học cơ sở Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS.

  • Quản lý hoạt động dạy học

QLGD là hoạt động có ý thức của nhà quản lý nhằm đạt tới mục tiêu quản lý. Nhà quản lý cùng với đông đảo đội ngũ GV, HS, các lực lượng xã hội,… bằng hành động của mình biến mục tiêu đó thành hiện thực.

Công việc của người quản lý nhà trường là: hành động quản lý (điều khiển hoạt động dạy học) của Hiệu trưởng chủ yếu tập trung vào hoạt động dạy của thầy và trực tiếp đối với thầy. Thông qua hoạt động dạy của thầy mà quản lý hoạt động học của trò. Quản lý hoạt động dạy – học giữ vị trí quan trọng trong công tác quản lý nhà trường của người quản lý. Xây dựng mục tiêu quản lý chất lượng giáo dục đào tạo dựa trên các nhân tố cơ bản như mục đích, nhiệm vụ, nội dung dạy học, phương pháp, hình thức dạy học, hoạt động giảng dạy của GV, hoạt động học của HS, phương thức kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học, các điều kiện, phương tiện hỗ trợ hoạt động dạy học là cơ sở để người quản lý xác định các mục tiêu quản lý khác trong hệ thống mục tiêu quản lý của nhà trường.

Quản lý hoạt động dạy – học là nhiệm vụ trọng tâm của Hiệu trưởng. Xuất phát từ vị trí quan trọng của hoạt động dạy học, Hiệu trưởng phải dành nhiều thời gian, công sức cho việc quản lý hoạt động dạy học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo của nhà trường, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của ngành, của xã hội.

Nói chung, quản lý hoạt động dạy – học thực chất là những tác động của nhà quản lý vào quá trình dạy học được tiến hành bởi tập thể GV và HS, các lực lượng xã hội, thông qua các hành động nhằm góp phần hình thành và phát triển toàn diện nhân cách HS.

  • Quản lý hoạt động dạy học Tin học ở trường trung học cơ sở

Tin học đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của xã hội trong thời đại ngày nay. Trong đó, Tin học được sử dụng phổ biến và đặc biệt quan trọng trong giáo dục. Tin học được đưa vào chương trình học và hổ trợ giảng dạy. Nhờ có Tin học, chúng ta có thể dễ đàng thực hiện các hoat động sau: Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS.

  • Tìm kiếm nguồn tri thức mở vô cùng phong phú trên Internet
  • Chia sẻ những thông tin bỗ ích, những cảm nhận của bản thân tới mọi người trên thế giới
  • Kết nối và liên lạc với mọi người xung quanh thông qua các mạng xã hội, ứng dụng gọi Chat trực tuyến
  • Các vấn đề xử lý thông tin, văn bản, thuyết trình…

Như vậy, trong việc đưa Tin học vào lĩnh vực giáo dục nhằm mục đích bồi dưỡng kiến thức cho thế hệ trẻ cho thấy vai trò bộ môn Tin học rất quan trọng đối với công tác quản lí hoạt động dạy học các bộ môn của nhà trường, đặc biệt ở trường THCS.

Trong quản lý hoạt động dạy học Tin học ở trường THCS, người quản lý chỉ đạo Tổ trưởng chuyên môn tổ Toán – Tin triển khai đến các thành viên trong buổi họp tổ chuyên môn thực hiện xây dựng kế hoạch dạy học, xây dựng hồ sơ dạy học, cùng với việc triển khai đổi mới phương pháp giảng dạy, sử dụng thiết bị, đồ dùng dạy học, ứng dụng CNTT, kiểm tra đánh giá kết quả học tập bộ môn của HS và việc học tập của HS với tất cả GV trực tiếp giảng dạy môn Tin học.

Tóm lại, quản lý hoạt động dạy học Tin học ở trường THCS cần có sự cộng tác, tham gia, hỗ trợ, phối hợp của các bộ phận quản lý trong hoạt động quản lý, đặc biệt là sự phối hợp của CBQL, Tổ trưởng và Tổ phó chuyên môn tổ Tin học với quá trình hoạt động dạy học Tin học của GV và hoạt động học của HS nhằm đạt được mục tiêu dạy học môn Tin học.

1.3. Vị trí, vai trò của tin học trong trường trung học cơ sở

1.3.1. Vị trí

Sự phát triển của khoa học công nghệ kéo theo sự phát triển không ngừng của tin học. Tin học đang trở thành nhân tố quan trọng trong nhiều lĩnh vực. Ứng dụng phổ biến và dễ gặp nhất của tin học là trong lĩnh vực giáo dục. Trong cuộc sống hiện đại ngày nay, tin học đặc biệt có vị trí rất quan trọng trong giáo dục.

Xuất phát từ những yêu cầu cấp bách của thực tiễn đối với việc dạy Tin học, ứng dụng Công nghệ thông tin và truyền thông trong trường phổ thông Chỉ thị số 29/2010/CT-BGD&ĐT đã nêu rõ [5]:

  • Tổ chức tốt việc dạy và học Tin học ở tất cả các cấp, bậc học, ngành học nhằm phổ cập Tin học trong nhà trường.
  • Đẩy mạnh ứng dụng Công nghệ thông tin trong giáo dục và đào tạo ở tất cả các cấp học, bậc học, ngành học theo hướng sử dụng Công nghệ thông tin như là một công cụ hỗ trợ đắc lực nhất cho đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập ở tất cả các môn học.
  • Xây dựng và thực hiện dự án phát triển mạng máy tính phục vụ giáo dục và đào tạo (EduNet), mở rộng kết nối Internet tới các cơ sở giáo dục và đào tạo.

Phương án dạy học Tin học ở trường phổ thông cần được xây dựng dựa trên yêu cầu chung là: Cung cấp các kiến thức phổ thông và hình thành các kỹ năng cơ bản của Tin học, Công nghệ thông tin và truyền thông cho học sinh làm cơ sở ban đầu cho việc đào tạo nguồn nhân lực tương lai, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hướng tới kinh tế tri thức, đồng thời ứng dụng được các kiến thức nói trên vào các hoạt động học tập, vào cuộc sống cá nhân trong bối cảnh một xã hội có những tác động ngày càng mạnh mẽ của Công nghệ thông tin và truyền thông [5].

Tin học là môn học tự chọn của cấp THCS. Thời lượng dạy học là hai tiết/tuần ở tất cả các lớp của cấp học, được bố trí trong thời lượng dạy học tự chọn trong Kế hoạch giáo dục của cấp THCS [10].

1.3.2. Vai trò Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS.

Môn Tin học giữ vai trò chủ đạo trong việc chuẩn bị cho học sinh khả năng tìm kiếm, tiếp nhận và mở rộng tri thức cũng như sáng tạo trong thời đại thông tin, hỗ trợ đắc lực trong quá trình học tập và tự học của học sinh. Đồng thời, Tin học cũng tạo cơ sở vững chắc trong việc ứng dụng công nghệ kỹ thuật số, triển khai phương thức giáo dục mới và hiện đại.

Tin học có sứ mạng là giúp học sinh có được năng lực tin học với những kỹ năng cơ bản như sử dụng và quản lý phương tiện, công cụ và những hệ thống tự động hóa của công nghệ thông tin và truyền thông. Hiểu biết và có cách ứng xử phù hợp với chuẩn mực đạo đức, văn hóa… trong môi trường số hóa cũng như nhận biết và giải quyết những vấn đề trong nền kinh tế tri thức. Đặc biệt giúp học sinh học tập và tự học với sự hỗ trợ của ứng dụng CNTT và truyền thông.

1.4. Hoạt động dạy học môn Tin học ở trường trung học cơ sở

1.4.1. Mục tiêu dạy học môn Tin học ở trường trung học cơ sở

Luật Giáo dục nước ta cũng đã cụ thể hoá tại chương II, mục 1 điều 27 là: “Mục tiêu của giáo dục phổ thông là giúp HS phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằm hình thành nhân cách con người Việt Nam XHCN, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân, chuẩn bị cho HS tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. [8]

Trong trường phổ thông môn Tin học giữ một vị trí hết sức quan trọng. Việc xác định mục tiêu và nhiệm vụ của môn Tin học không thể không tính tới vị trí của môn học này trong nhà trường phổ thông. Để thực hiện được mục tiêu giáo dục chung, căn cứ vào đặc điểm và vị trí môn Tin học, bộ môn Tin học ở trường phổ thông cần đạt được những mục tiêu cụ thể sau đây:

  • Trang bị cho học sinh những tri thức, kỉ năng cơ bản, cơ sở của Tin học.
  • Trên cơ sở cung cấp những tri thức cơ bản, có hệ thống, bộ môn Tin học còn phải rèn luyện cho học sinh những năng lực trí tuệ chung. Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS.
  • Thông qua việc dạy Tin học mà hình thành cho học sinh những quan niệm, những phương thức tư duy và hoạt động đúng đắn, phù hợp với những quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng.
  • Phải đảm bảo chất lượng phổ cập, đồng thời phải có nhiệm vụ phát hiện và bồi dưỡng học sinh giỏi Tin học

Môn Tin học, cũng như các môn học khác, căn cứ vào mục tiêu của ngành mà xác định những nhiệm vụ cụ thể của môn học, tổ chức hoạt động giảng dạy bồi dưỡng, góp phần thực hiện mục tiêu tổ chức tốt việc dạy và học Tin học, ứng dụng có hiệu quả CNTT vào dạy học các môn học trong các trường phổ thông và vào các hoạt động quản lý nhà trường, đáp ứng được các yêu cầu về phát triển CNTT trong ngành GD-ĐT.

Tóm lại, day học môn Tin học không những chỉ giúp HS nâng cao năng lực, mở rộng tri thức mà còn biết vận dụng linh hoạt, sáng tạo trong các tình huống khác nhau không chỉ riêng trong bộ môn Tin học. Bên cạnh đó, hoạt động dạy học Tin học phải đảm bảo hình thành và phát triển cho HS các phẩm chất chủ yếu và năng lực cốt lõi được xác định trong chương trình giáo dục phổ thông tổng thể.

1.4.2. Nội dung dạy học môn Tin học ở trường trung học cơ sở

Thật ra ngành khoa học máy tính cũng chỉ mới hình thành và định hình khoảng 50 năm trở lại đây. Trong suốt thời gian đó, môn học này chỉ dành cho sinh viên bậc đại học. Chưa có một quốc gia nào dám nghĩ đến chuyện cần đưa các kiến thức lõi của khoa học máy tính xuống nhà trường phổ thông, ngoại trừ 1 số kiến thức xoay quanh thuật toán và lập trình để phục vụ cho các cuộc thi lập trình ở mức quốc gia và thế giới, ví dụ cuộc thi Olympic Tin học quốc tế IOI.

Cho đến thời điểm trước khi chương trình giáo dục phổ thông mới áp dụng, môn Tin học trong nhà trường Việt Nam đã hình thành với toàn bộ chương trình và SGK phủ kín từ lớp 3 đến 12. Tuy nhiên chương trình cho cấp Tiểu học và THCS là tự chọn, điều đó có nghĩa là không phải tất cả HS đều được học môn học này liên tục từ lớp 3 đến lớp 12. Nội dung giảng dạy chủ yếu của thời kỳ đầu (giai đoạn những năm 80, 90 của thế kỷ trước) còn nặng về lý thuyết. Tài liệu dạy học chủ yếu thời kì đầu được biên soạn phù hợp với lối dạy chay, không có máy tính, hoặc nếu có dùng máy tính thì chỉ để minh họa, HS ít được thực hành. Có thể điểm qua toàn bộ các module kiến thức chính của môn Tin học trong trường.

Trong chương trình THCS, Tin học được dạy với tư cách là môn học tự chọn. Nội dung giáo dục cốt lõi là 70 tiết/ lớp/năm với thời lượng 2 tiết/tuần, được dạy trong 37 tuần của năm học. Phải đảm bảo dạy đủ số tiết Bài thực hành của từng chương và của cả năm học. Các nội dung tương ứng trong chương trình được đặt tên là phần I, II, III, IV. Trường hợp triển khai dạy từ lớp 6 thì các phần I, II, III, IV tương ứng với các lớp 6, 7, 8, 9. Các bài lí thuyết và các bài thực hành phải được dạy học theo đúng trình tự trong sách giáo khoa. [12] Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS.

  • PHẦN I: (1) Một số khái niệm cơ bản của Tin học; (2) Hệ điều hành; (3) Soạn thảo văn bản; (4) Khai thác phần mềm học tập.
  • PHẦN II: (1) Bảng tính điện tử; (2) Khai thác phần mềm học tập
  • PHẦN III: (1) Lập trình đơn giản; (2) Khai thác phần mềm học tập
  • PHẦN IV: (1) Mạng máy tính và Internet; (2) Phần mềm trình chiếu; (3) Đa phương tiện (Multimedia); (4) Bảo vệ dữ liệu, phòng chống virut; (5) Tin học và xã hội.

Nội dung dạy học có mối liên hệ mật thiết với hoạt động của con người, đó là một biểu hiện của mối liên hệ giữa mục đích, nội dung và phương pháp dạy học và mỗi nội dung dạy học đều liên hệ với những hoạt động nhất định. Đó là các hoạt động được thực hiện trong quá trình hình thành hoặc vận dụng nội dung đó.

Có thể nói rằng nội dung dạy học môn Tin học ở trường THCS tập trung cho HS học sử dụng, khai thác các phần mềm thông dụng làm ra các sản phẩm phục vụ học tập và sinh hoạt; thực hành phát hiện và giải quyết vấn đề một cách sáng tạo với sự hỗ trợ của công cụ và các hệ thống tự động hoá của công nghệ kỹ thuật số; học tổ chức lưu trữ, quản lý, tra cứu và tìm kiếm dữ liệu số, đánh giá và lựa chọn thông tin.

1.4.3. Phương pháp, hình thức dạy học môn Tin học ở trường trung học cơ sở

  • Phương pháp dạy học môn Tin học ở trường trung học cơ sở

Phương pháp dạy học là một bộ phận của quá trình giáo dục, cụ thể bao gồm: truyền thụ kiến thức, rèn luyện kỉ năng, phát triển tư duy cho đến việc hình thành thế giới quan, nhân sinh quan, phẩm chất, đạo đức, thẩm mỹ. [46]

Trong đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của HS không có nghĩa là gạt bỏ, loại trừ, thay thế hoàn toàn các biện pháp dạy học truyền thống trong quá trình dạy học. GV cần kế thừa, phát triển những mặt tích cực của phương pháp dạy học hiện có, song song phải học hỏi, áp dụng một số phương pháp dạy học mới nhằm phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo của HS trong học tập, phù hợp với tình cảnh điều kiện dạy và học cụ thể.

Những phương pháp dạy học môn Tin học ở trường THCS mà GV có thể sử dụng để môn Tin học đạt hiệu quả cao, gồm có: Một là, Phương pháp vấn đáp: GV đặt ra câu hỏi để HS trả lời, hoặc HS có thể tranh luận với nhau và với cả GV; qua đó HS lĩnh hội được nội dung bài học. Hai là, Phương pháp đặt và giải quyết vấn đề: Trong dạy học theo phương pháp đặt và giải quyết vấn đề, HS vừa nắm được tri thức mới, vừa nắm được phương pháp lĩnh hội tri thức đó, phát triển tư duy tích cực, sáng tạo, được chuẩn bị một năng lực thích ứng với đời sống xã hội, phát hiện kịp thời và giải quyết hợp lý các vấn đề nảy sinh. Ba là, Phương pháp hoạt động nhóm: là phương pháp cần được ưu tiên áp dụng trong việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng “lấy người học làm trung tâm”. Phương pháp này phát huy tư duy tích cực của HS và ý nghĩa quan trọng của phương pháp này là rèn luyện năng lực hợp tác giữa các thành viên trong tổ chức lao động. Bốn là, Phương pháp động não: là phương pháp giúp HS trong một thời gian ngắn nảy sinh được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào đó. Thực hiện phương pháp này, GV cần đưa ra một hệ thống các thông tin làm tiền đề cho buổi thảo luận. Năm là, Phương pháp dạy học theo dự án: HS được GV yêu cầu thực hiện một nhiệm vụ phức hợp, có kết hợp lý thuyết và thực hành. Với phương pháp này, HS có thể phát huy những kỹ năng và sở trường bản thân. Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS.

Nói chung, khi GV sử dụng những phương pháp này, có nhiều năng lực cần hình thành và phát triển cho HS trong dạy học như: năng lực tự học; năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề; năng lực sáng tạo; năng lực giao tiếp và hợp tác; năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông… Trong các biện pháp ấy, phát triển năng lực sáng tạo, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề của HS là mục tiêu quan trọng; góp phần thúc đẩy sự hình thành và phát triển các năng lực khác theo mục tiêu, định hướng giáo dục. Đối với bộ môn Tin học, việc giáo dục phẩm chất, đạo đức hết sức quan trọng, bởi lĩnh vực hoạt động Tin học có phạm vi ảnh hưởng toàn cầu, nên một cá nhân giỏi Tin học mà đạo đức kém, có thể ảnh hưởng tác hại lớn đến xã hội…

  • Hình thức dạy học môn Tin học ở trường trung học cơ sở

Trong dạy học GV luôn luôn tìm kiếm nhiều phương pháp để phát triển tư duy cho HS. Môn Tin học hình thành và phát triển năng lực ứng dụng tin học, tư duy giải quyết vấn đề với sự hỗ trợ của máy tính, kích thích tính sáng tạo của HS về mặt tri thức, kỷ năng, về mặt năng lực, trí tuệ và các phẩm chất cần thiết giúp HS thích ứng với thời đại vi tính hóa.

Khi soạn giảng, GV cần phân phối thời gian hợp lý để hướng dẫn HS trả lời câu hỏi và làm bài tập trong SGK. GV phải dạy đủ số tiết lý thuyết và thực hành theo quy định chương trình bộ môn Tin học. Đồng thời cần căn cứ tình hình giảng dạy, kết quả tiếp thu của HS, điều kiện thực tế của nhà trường, mà định ra nội dung cho tiết Bài tập, Ôn tập và bổ sung thêm thời lượng cho Bài thực hành vì môn Tin học ở cấp THCS là bộ môn thiên về thực hành nhiều. Ngoài ra, GV cần yêu cầu HS luôn chuẩn bị và xem bài trước khi đến lớp học để HS có thể tiếp thu nhanh các kiến thức trong bài học.

  • Đối với tiết dạy lý thuyết:

GV thiết kế bài giảng bằng Powerpoint hoặc một phần mềm trình chiếu để bài giảng sinh động và trực quan. Bên cạnh đó GV cần có các phương án dự phòng khi gặp sự cố như bị cúp điện, để có thể chủ động tổ chức dạy học. Trong quá trình soạn bài GV cần tìm hiểu kỹ các nội dung sẽ được trình bày từ sách giáo khoa kết hợp với sách tham khảo. Khi giới thiệu bài để kích thích động cơ học tập của cả lớp học, GV cần phối hợp các hoạt động, phương pháp giảng dạy linh động, sáng tạo sao cho tạo được tình huống có vấn đề từ đó dẫn dắt HS đến kiến thức chưa biết. Từ tình huống trên GV đặt ra những vấn đề cần giải quyết cho lớp và yêu cầu HS phải tập trung suy nghĩ, tập trung nghe giảng kiến thức mới để giải quyết vấn đề đặt ra. Qua đó biến mục tiêu dạy học của thầy thành mục đích học tập của trò. Đồng thời GV cần chuẩn bị một số câu hỏi thử thách, bài tập đố vui hay bài tập nâng cao dành cho HS cả lớp để kích thích sự hứng thú học tập của tất cả các đối tượng trong học tập bộ môn Tin học.

  • Đối với tiết dạy thực hành:

GV nêu nội dung bài, yêu cầu về kỹ năng thao tác khi thực hành; đồng thời GV thao tác mẫu cho HS xem. Khi thực hành GV nên phân loại, chia nhóm (theo ngẫu nhiên, đôi bạn cùng tiến, đa dạng nhiều đối tượng, vị trí ngồi trong lớp…) để HS có thể giúp đỡ nhau nâng cao hiệu quả tiết học; kết hợp với sự quản lý, kiểm tra, giám sát HS thực hành theo nhóm của GV để trợ giúp kịp thời cho HS. Các bài phần mềm học tập nên dạy trong phòng máy vì kết hợp giữa lý thuyết và thực hành. Bố trí tối đa là 02 HS/01 máy tính [12].

1.4.4. Hoạt động giảng dạy môn Tin học ở trường trung học cơ sở của giáo viên Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS.

Theo quan điểm dạy học định hướng phát triển năng lực HS, quá trình dạy – học bao gồm một hệ thống các hành động có mục đích của GV tổ chức hoạt động trí óc và tay chân của HS, đảm bảo cho HS chiếm lĩnh được nội dung dạy học, đạt được mục tiêu xác định. Trong quá trình dạy học, GV tổ chức định hướng hành động chiếm lĩnh tri thức của HS phỏng theo tiến trình của chu trình sáng tạo khoa học.

Theo Lê Đức Long, hoạt động giảng dạy môn Tin học thực hiện theo tiến trình như sau: [46]

  • Tạo tiền đề xuất phát: là những hiểu biết và những điều kiện của người học tại thời điểm xuất phát trong quá trình dạy học không chỉ bao gồm tri thức, kỉ năng, kỉ xảo mà còn cả thái độ, hành vi, thói quen, niềm tin cùng những đặc điểm nhân cách khác nữa.
  • Hướng đích, gợi động cơ: là làm cho các mục đích sư phạm của GV biến thành mục đích cá nhân của HS.
  • Làm việc với nội dung mới: (1) Thầy tạo những tình huống gợi ra những hoạt động tương thích với nội dung và mục đích dạy học; (2) Trò hoạt động tự giác, tích cực và sáng tạo, có sự giao lưu giữa các thành viên trong tập thể; (3) Thầy đóng vai trò điều chỉnh, giúp đỡ HS vượt qua khó khăn bằng cách phân tích một hoạt động thành những thành phần đơn giản hơn, hoặc cung cấp cho HS một số tri thức phương pháp, nói chung là điều chỉnh mức độ khó khăn của nhiệm vụ dựa vào sự phân bậc hoạt động; (4) Thầy giúp trò xác định lại những kiến thức đã đạt trong quá trình hoạt động, đưa ra những bình luận cần thiết để học trò hiểu kiến thức đó một cách sâu sắc, đầy đủ hơn.
  • Củng cố: việc củng cố tri thức, kĩ năng một cách có định hướng và có hệ thống mang lại ý nghĩa to lớn trong dạy học môn tin học.
  • Kiểm tra và đánh giá

Hướng dẫn công việc ở nhà: hướng dẫn học lí thuyết, làm bài tập ở nhà, tham khảo tài liệu, tư liệu, đọc sách, chuẩn bị cho bài học sau về kiến thức, dụng cụ học tập,… Như vậy, trong hoạt động dạy học môn Tin học người thầy vẫn giữ vai trò

chủ đạo giúp HS không những biết cách học mà còn tự học một cách sâu sắc, đầy đủ thông qua các hoạt động, tình huống với nội dung và mục đích dạy học không chỉ bao gồm tri thức, kỉ năng, kỉ xảo mà còn cả thái độ, hành vi, thói quen, niềm tin… mang lại ý nghĩa to lớn trong dạy học môn Tin học. Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS.

1.4.5. Hoạt động học môn Tin học ở trường trung học cơ sở của học sinh

Hoạt động học là quá trình tự giác, tích cực, tự lực chiếm lĩnh khái niệm khoa học, dưới sự điều khiển sư phạm của thầy. Về bản chất, hoạt động học là sự tiếp thu, xử lý thông tin chủ yếu bằng các thao tác trí tuệ để có được tri thức, kỹ năng và thái độ mới.

Quá trình học Tin học và sử dụng máy tính, HS được làm quen với nhiều phương pháp khác nhau, chẳng hạn như chèn hình ảnh vào văn bản, tạo marco, tạo mục lục một cách tự động trong soạn thảo văn bản, tạo biểu tượng cho chương trình ứng dụng, sao chép thư mục trong Window. Nhận dạng một phương pháp đã học là phát hiện xem một dãy tình huống có phù hợp với phương pháp đó hay không, còn thể hiện một phương pháp là tạo một dãy tình huống phù hợp với các bước của phương pháp đã biết. Quá trình học tập môn Tin học có những hoạt động rất quan trọng. Ở mức độ đơn giản, HS phải có được kỹ năng giải quyết vấn đề từ một vấn đề được đặt ra, cần phải xử lý như thế nào để có được một kết quả thỏa mãn hoặc ở mức cao hơn. HS phải rèn luyện kỹ năng sáng tạo ra vấn đề, rồi tìm cách giải quyết nó. Ngoài ra, Tin học sẽ giúp HS có được sản phẩm thông qua quá trình lao động. Điều này khiến cho việc học nói chung không chỉ mang tính lý thuyết, mà còn tăng tính thực hành.

1.4.6. Kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học môn Tin học ở trường trung học cơ sở

Kiểm tra, đánh giá thực hiện tất cả các khâu trong quá trình dạy học, là những hoạt động quan sát, theo dõi, trao đổi, kiểm tra, nhận xét quá trình học tập, rèn luyện của HS; tư vấn, hướng dẫn, động viên HS để GV có căn cứ mức độ lĩnh hội kiến thức để đánh giá đúng với từng HS.

Kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học môn Tin học ở trường THCS cần phải dựa vào cứ vào chuẩn kiến thức, kĩ năng môn học, hoạt động giáo dục môn học, từng lớp; yêu cầu cơ bản cần đạt về kiến thức, kĩ năng, thái độ của HS của cấp học; Phối hợp giữa đánh giá thường xuyên và đánh giá định kì, giữa đánh giá của GV và tự đánh giá của HS, giữa đánh giá của nhà trường và đánh giá của gia đình, cộng đồng; Kết hợp giữa hình thức đánh giá bằng trắc nghiệm khách quan và tự luận nhằm phát huy những ưu điểm của mỗi hình thức đánh giá này; Có công cụ đánh giá thích hợp nhằm đánh giá toàn diện, công bằng, trung thực, có khả năng phân loại, giúp GV và HS điều chỉnh kịp thời việc dạy và học.

Đánh giá thành tích học tập của HS không chỉ đánh giá kết quả mà chú ý cả quá trình học tập. Đánh giá thành tích học tập theo quan điểm phát triển năng lực không giới hạn vào khả năng tái hiện tri thức mà chú trọng khả năng vận dụng tri thức trong việc giải quyết các nhiệm vụ phức hợp. Thực hiện kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học môn Tin học ở trường THCS cần sử dụng phối hợp các hình thức, phương pháp kiểm tra, đánh giá khác nhau. Kết hợp giữa kiểm tra miệng, kiểm tra viết và bài tập thực hành. Kết hợp giữa trắc nghiệm tự luận và trắc nghiệm khách quan. Bên cạnh đó, việc kiểm tra, đánh giá cần đạt theo mục tiêu học môn Tin học về kiến thức, kỹ năng và thái độ.

Nói chung, kiểm tra nhằm cung cấp cho thầy và trò thông tin về kết quả dạy học, kèm theo sự đánh giá một cách nghiêm túc, đảm bảo công bằng, khách quan, chính xác và toàn diện trong việc kiểm tra, đánh giá của GV và tập thể HS. Ngoài ra, việc kiểm tra, đánh giá phải đảm bảo theo nguyên tắc đánh giá xếp loại của Bộ GD-ĐT quy định.

1.4.7. Các điều kiện, phương tiện hỗ trợ hoạt động dạy học môn Tin học ở trường trung học cơ sở Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS.

Hoạt động dạy học môn Tin học đạt được hiệu quả cao trong quá trình giáo dục hay không còn phụ thuộc vào nhiều vấn đề. Trong đó, các điều kiện, phương tiện hỗ trợ hoạt động dạy học môn Tin học đóng vai trò rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả của hoạt động dạy học môn Tin học:

GV dạy phải là người có trách nhiệm, kiến thức chuyên môn vững vàng, phương pháp soạn giảng thích hợp, có khả năng giảng dạy cho nhiều đối tượng HS khác nhau; biết cách khơi gợi khả năng nhận thức và tư duy của HS, không áp đặt nhận thức theo lối truyền thụ một chiều; phải biết xử lý tốt các tình huống sư phạm phát sinh trong quá trình giảng dạy để HS có một môi trường học tập tốt nhất.

Tài liệu tham khảo là một trong những phương tiện cần thiết cho cả GV lẫn người học. Nguồi tài liệu nếu được cung cấp đa dạng, phong phú, đảm bảo tính đồng bộ, thực tiễn và đạt chất lượng cao góp phần thúc đẩy mạnh hoạt động của GV và HS tự khám phá tri thức, thực hành và thâm nhập thực tiễn trong qúa trình giảng dạy, học tập trong việc tự bổ sung kiến thức cho mình.

Cơ sở thiết bị của nhà trường cần phải hỗ trợ đắc lực cho việc tổ chức dạy học môn Tin học. Phòng máy vi tính được kết nối mạng, thiết bị đa phương tiện, có phần mềm học tập. Diện tích phòng rộng rãi, thoáng mát, sạch sẽ tạo tâm lý thoải mái cho người dạy trong quá trình truyền đạt tri thức, người học dễ dàng tiếp nhận tri thức và có thể thỏa sức phát huy sự sáng tạo của bản thân.

Phương tiện dạy học hiện đại là những yếu tố mang tính hỗ trợ, giúp người dạy truyền tải kiến thức đến người học một cách sinh động nhất. Vì vậy, phương tiện, thiết bị dạy học không thể thiếu được cho việc triển khai các quy định, sách giáo khoa nói chung và đặc biệt cho việc triển khai đổi mới phương pháp dạy học hướng vào hoạt động tích cực, chủ động của HS, giúp HS tiếp thu tốt nội dung của bài. Trong dạy học Tin học, máy vi tính phải được trang bị đầy đủ cho HS học tập, thực hành. Đáp ứng yêu cầu này, CBQL phải quan tâm bảo trì hiệu quả phương tiện dạy học. Phải bảo đảm trang thiết bị hoạt động tốt, tạo điều kiện phục vụ hoạt động dạy học, tạo môi trường thuận lợi cho học trò thực hành các hoạt động độc lập hoặc các hoạt động nhóm.

1.4.8. Mối quan hệ giữa hoạt động dạy và học môn Tin học ở trường trung học cơ sở

Quá trình dạy học là một quá trình xã hội gắn liền với hoạt động của con người: hoạt động dạy và hoạt động học. Hoạt động dạy và hoạt động học có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, thể hiện ở mối quan hệ tương tác giữa các thành tố: mục tiêu, nội dung, phương pháp của hoạt động dạy và hoạt động học. Sau một chu trình vận động, các hoạt động dạy và học phải đạt tới những kết quả mong muốn. Trong mối quan hệ giữa hoạt động dạy và học môn Tin học ở trường THCS, hoạt động nhận thức của HS có vai trò quyết định kết quả dạy học. Để hoạt động học Tin học có kết quả thì GV với những phương pháp dạy học và phương tiện nhất định, tổ chức tối ưu hoạt động tương tác trong dạy và học, thực hiện tốt các chức năng dạy cũng như học, đồng thời bảo đảm liên hệ nghịch do các chủ thể thực hiện – đó là thầy và trò thường xuyên, bền vững.

  • Hình 1.3. Sơ đồ minh họa chu trình vận động hoạt động dạy và học

Muốn nâng cao mức độ khoa học của việc dạy học Tin học ở trường THCS với tác động sư phạm của mình, thầy tổ chức, điều khiển hoạt động của trò thì người GV phải đặc biệt chú ý hoàn thiện hoạt động dạy của mình; chuẩn bị những kiến thức có khả năng hình thành và phát triển ở HS các phương pháp, cách thức phát hiện lại các thông tin học tập. Đây là khâu cơ bản để tiếp tục hoàn thiện tổ chức hoạt động học của HS, thông qua hoạt động dạy mà quản lý hoạt động học của trò theo đúng mục tiêu để đạt được kết quả mong muốn trong quá trình dạy học.

1.5. Quản lý hoạt động dạy học môn Tin học trường trung học cơ sở Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS.

1.5.1. Phân cấp quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường trung học cơ sở

Trong phân cấp QLGD, cấp quản lý bậc dưới, đặc biệt là cấp trường được trao quyền quyết định nhiều hơn về chính sách, chuyên môn, kế hoạch, nguồn lực trong phạm vi các hoạt động liên quan đến nhiệm vụ được giao [47].

Hiệu trưởng chịu trách nhiệm về toàn bộ việc giảng dạy giáo dục trong nhà trường, nhưng có thể không trực tiếp phụ trách hoạt động dạy – học mà phân công cho một Phó Hiệu trưởng phụ trách quản lý hoạt động dạy – học. Hiệu trưởng chỉ đạo việc xây dựng kế hoạch chuyên môn của nhà trường; Chỉ đạo, phân công cho một Phó Hiệu trưởng phụ trách chuyên môn xây dựng thời khóa biểu; Chỉ đạo tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch năm học làm cho tổ trưởng nắm được những ý định quan trọng của Hiệu trưởng đối với hoạt động dạy học môn Tin học trong năm; Chỉ đạo GV thông qua Tổ trưởng chuyên môn hướng dẫn GV xây dựng kế hoạch năm học cá nhân, kế hoạch của GV.

Để quản lý hoạt động dạy học môn Tin học hiệu quả, người lãnh đạo cần phân cấp quản lý khoa học, phù hợp với đối tượng được quản lý thể hiện ở chỗ: bàn bạc, thống nhất quan điểm lãnh đạo, cùng làm công tác bồi dưỡng GV; cùng lắng nghe ý kiến GV như: giao nhiệm vụ đúng và phù hợp cho GV; phổ biến những nội quy về chuyên môn và những quy định phải được GV nắm vững, kết hợp Phó Hiệu trưởng chỉ đạo các tổ trưởng chuyên môn theo dõi nhắc nhở việc thực hiện của GV bộ môn.

CBQL cần thực hiện tốt các chức năng quản lý giáo dục: kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo, kiểm tra đánh giá.

Kế hoạch hóa: Xác định mục tiêu chung và mục tiêu cụ thể của công tác dạy học môn Tin học ở trường THCS; Đảm bảo chắc chắn có các nguồn lực để đạt được mục tiêu dạy học môn Tin học ở trường THCS; Xác định các nhiệm vụ, các hoạt động cần thiết, các biện pháp để đạt được mục tiêu dạy học môn Tin học ở trường THCS.

Tổ chức: Phân công nhiệm vụ cho GV dạy học môn Tin học tại trường; Hỗ trợ các cá nhân thực hiện công tác này trong quá trình thực hiện; Xác định cơ chế quản lý và phối hợp với các nguồn lực trong và ngoài nhà trường phục vụ công tác dạy học môn Tin học. Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS.

Chỉ đạo: Sử dụng quyền hạn để chỉ huy và hướng dẫn triển khai các nhiệm vụ của công tác dạy học môn Tin học tại trường; Động viên, khích lệ các GV được giao nhiệm vụ làm công tác này hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao; Giám sát, hỗ trợ GV trong Tổ chuyên môn Toán Tin cùng thực hiện nhiệm vụ;

Kiểm tra: Đối chiếu và đo lường kết quả đạt được của các GV dạy học môn Tin học với chuẩn đã đề ra để đánh giá kết quả của hoạt động này so với kế hoạch hoạt động dạy học các môn khác ở trường; Phát hiện mức độ thực hiện các mục tiêu và nhiệm vụ dạy học môn Tin học của nhà trường, các bộ phận và các GV tham gia thực hiện công tác này, từ đó, tiến hành điều chỉnh những sai lệch nếu thấy cần thiết.

1.5.2. Nội dung quản lý hoạt động dạy học Tin học trường trung học cơ sở

  • Quản lý thực hiện chương trình dạy học môn Tin học ở trường trung học cơ sở

Có những yếu tố tin học là một bộ phận quan trọng, là nền móng để hình thành những yếu tố khác trong nội dung giáo dục tin học Bộ phận này là nội dung tin học của chương trình dạy học môn Tin học ở cấp trung học.

Chương trình dạy học là văn kiện có tính pháp quy do Nhà nước ban hành, trong đó quy định một cách cụ thể: (1) Vị trí, môn học trong kế hoạch dạy học; (2) Mục đích yêu cầu của môn học (yêu cầu về tri thức, kỹ năng kỹ xảo, thái độ hành vi); (3) Nội dung môn học (các phần, các chương, các bài); (4) Kế hoạch thời gian: số tiết dành cho từng phần, từng chương, từng bài cũng như số tiết dành cho ôn tập, kiểm tra, thực hành…[56]

Thực hiện chương trình dạy học là thực hiện kế hoạch đào tạo theo mục tiêu đào tạo của nhà trường. Việc nắm vững nội dung, kế hoạch, chương trình dạy học của GV là một trong những tiền đề cho việc quản lí tốt hoạt động dạy và học môn Tin học. Chương trình dạy học là công cụ chủ yếu để Nhà nước lãnh đạo và giám sát hoạt động dạy học của nhà trường thông qua các cơ quan quản lý giáo dục. Đồng thời nó cũng là căn cứ pháp lý để nhà trường và các GV tiến hành tổ chức công tác giảng dạy thống nhất trong phạm vi toàn quốc, HS tiến hành học tập theo yêu cầu chung.

Hiệu trưởng quản lý GV thực hiện chương trình dạy học phải đảm bảo đúng nội dung kiến thức qui định của chương trình dạy học môn Tin học, bảo đảm phân phối chương trình: số tiết học, số bài học và trình tự thực hiện với những qui định về ôn tập, tổng kết, kiểm tra, thi… Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS.

Để quản lý chương trình dạy học môn Tin học đạt hiệu quả, lãnh đạo nhà trường cần tiếp thu tốt sự chỉ đạo về chuyên môn của Phòng Giáo dục vào đầu năm học; họp Hội đồng nhà trường triển khai những nội dung chỉ đạo về việc thực hiện chương trình dạy học Tin học trong năm học; thông qua phó Hiệu trưởng, tổ chuyên môn kiểm tra thường xuyên các biểu mẫu báo cáo, hàng tháng tổng kết tình hình thực hiện chương trình của các tổ chuyên môn, GV. Dự kiến những vấn đề nảy sinh trong việc thực hiện chương trình và những giải pháp có thể thực thi, những điều kiện vật chất kỹ thuật cần cung cấp để việc thực hiện chương trình không bị trở ngại. Ở tình huống cụ thể của mỗi địa phương, người quản lý cần vận dụng linh hoạt trong chừng mực và phạm vi cho phép dưới sự chỉ đạo của cấp trên, Hiệu trưởng nhà trường có trách nhiệm quản lý đội ngũ GV thực hiện đúng yêu cầu của chương trình dạy học [56].

  • Quản hoạt động giảng dạy môn Tin học trường trung học sở

Quản lý hoạt động giảng dạy môn Tin học cần quản lí tổ chuyên môn và GV.

Đối với tổ chuyên môn: quản lí dựa trên kế hoạch hoạt động của tổ chuyên môn, kế hoạch thực hiện chương trình bộ môn.

Đối với GV: quản lí dựa trên kế hoạch hoạt động của GV, kế hoạch thực hiện chương trình bộ môn Tin học, hồ sơ sổ sách theo qui định

Giờ dạy học trên lớp là yếu tố quan trọng cơ bản có tính chất quyết định kết quả giáo dục đào tạo của nhà trường. Hoạt động dạy học được thể hiện chủ yếu bằng hình thức dạy học trên lớp với những giờ lên lớp và hệ thống bài học. Do đó, khi lên lớp GV phải động viên được các chức năng tâm lý, khai thác đầy đủ những mặt tích cực của mỗi HS để các em biến được khối thông tin đã thu nhận được thành vốn hiểu biết của chính mình. Do tầm quan trọng của giờ lên lớp nên cả hiệu trưởng và GV đều tập trung sự chú ý, mọi cố gắng của mình vào giờ lên lớp nhưng mỗi người có vai trò riêng. Trực tiếp quyết định kết quả giờ lên lớp là nguời GV. Quản lý thế nào để các giờ lên lớp có kết quả tốt là việc làm của hiệu trưởng.

Việc chuẩn bị giáo án và những điều kiện cần thiết phục vụ cho soạn giảng ảnh hưởng rất nhiều đến chất lượng giờ lên lớp vì đối với môn tin học rất khó dạy khi GV hoàn toàn không được dùng máy tính để minh họa hay thực hành các thao tác mẫu của bài học. Nếu thầy và trò trên lớp được học tập hoàn toàn với phấn và bảng (học chay), việc tiếp thu kiến thức bài học có thể suy giảm đến 90%. Vì vậy, CBQL phải chỉ đạo sát sao việc soạn giáo án, xây dựng chuẩn giờ lên lớp của GV dạy Tin học theo mục tiêu, nội dung, phương pháp… của bài học, phù hợp với từng đối tượng HS. Đồng thời quản lí việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS.

Muốn quản lý hoạt động dạy học môn Tin học đạt hiệu quả, lãnh đạo nhà trường cần bố trí thời khoá biểu hợp lý, khoa học vì chất lượng thời khoá biểu chi phối mạnh mẽ kết quả của toàn bộ quá trình giảng dạy giáo dục; tổ chức, phân công theo dõi trật tự, nề nếp, tác phong sư phạm, tình hình giảng dạy và học tập. Đồng thời, tổ chức các hoạt động trong việc nâng cao chất lượng dạy học môn Tin học như tổ chức trao đổi, thảo luận với GV về mục đích, yêu cầu, nội dung, chuẩn kiến thức tối thiểu, phương pháp đặc thù của bộ môn để khẳng định tầm quan trọng của việc GV phải soạn giáo án trước khi lên lớp. Bên cạnh đó, lãnh đạo nhà trường thông qua tổ chuyên môn yêu cầu GV giảng dạy Tin học cần nghiên cứu nắm vững chương trình môn học mà mình phụ trách. Đồng thời cũng tìm hiểu, nghiên cứu chương trình các môn có liên quan để có thể thiết lập mối quan hệ liên môn trong quá trình dạy học; quy định cụ thể việc sử dụng sách giáo khoa, sách hướng dẫn dạy học môn Tin học và các phương tiện, thiết bị dạy học thích hợp phục vụ cho bài dạy; phổ biến cho GV tiêu chí đánh giá, xếp loại giờ dạy; kiểm tra bài soạn của GV thông qua dự giờ thăm lớp hoặc thanh tra theo định kỳ; có góp ý, nhận xét đánh giá để GV sửa chữa những sai sót về nội dung và điều chỉnh phương pháp dạy học cho các em trong quá trình thực hiện nhiệm vụ dạy học, để trên cơ sở đó đề ra những quyết định quản lý hợp lý nhằm thúc đẩy mọi hoạt động của nhà trường đó là chức năng trung tâm của hiệu trưởng, đây cũng là nét đặc thù của quản lý trường học.

  • Quản lý hoạt động học môn Tin học ở trường trung học cơ sở

Hoạt động học tập trên lớp của HS được sự quản lý trực tiếp của GVBM. GVBM có thể có những quy định riêng cho môn học của mình. Tuy nhiên hoạt động học tập của HS muốn thực sự hiệu quả thì ngoài việc bản thân HS ý thức được sự cần thiết phải nỗ lực phấn đấu trong học tập; ngoài việc giảng dạy, GV cần hướng dẫn HS phương pháp học tập và cũng cần có sự quan tâm, hỗ trợ từ phía lãnh đạo nhà trường.

Quản lý hoạt động dạy học Tin học có hiệu quả hay không, đòi hỏi Hiệu trưởng phải quan tâm đến hoạt động học tập của HS như quan tâm đến hoạt động dạy của thầy. Thông qua GV, hiệu trưởng thực hiện sự quản lý hoạt động học tập của HS. Hiệu trưởng cần thấy rõ quản lý hoạt động học tập của HS phải bao quát được cả không gian và thời gian học tập để điều hòa cân đối chung. Hiệu trưởng phải tổ chức chỉ đạo xây dựng, thực hiện nội quy học tập cho HS; phát động phong trào thi đua học tập; phối hợp gia đình với nhà trường để quản lý hoạt động học của HS. Phối hợp GVCN với GVBM với tổng phụ trách Đội, cố vấn thanh niên, với cha mẹ HS… nhằm thống nhất việc giáo dục HS, huóng dẫn HS phương pháp học tập. Quản lý chặt chẽ hoạt động học tập, giúp HS có thái độ, động cơ học tập đúng đắn, rèn luyện tính kỷ luật, tự giác trong học tập… Quản lý tốt hoạt động học tập cũng nhằm phân loại HS, từ đó GV có phương pháp giảng dạy phù hợp, nhà trường nâng cao chất lượng giáo dục.

Vấn đề quản lý hoạt động học tập môn Tin học của HS đặt ra với hiệu trưởng không phải chỉ trên bình diện khoa học giáo dục mà còn là một đòi hỏi có ý nghĩa về tinh thần trách nhiệm của nhà QLGD đối với sự nghiệp đào tạo thế hệ trẻ, đáp ứng tốt các nhu cầu của đất nước và con người trong thời kì hội nhập quốc tế. Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS.

  • Quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học môn Tin học ở trường trung học cơ sở

Trong quá trình dạy học, kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS là một khâu quan trọng nhằm xác định thành tích học tập và mức độ chiếm lĩnh tri thức, kỹ năng, thái độ học tập của HS, nó vừa đóng vai trò bánh lái, vừa giữ vai trò động lực của dạy học. Có nghĩa là nó có tác dụng định hướng, thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động dạy học và hoạt động quản lý giáo dục.

Đối với HS, kiểm tra đánh giá chẳng những là biện pháp để hoàn thiện nội dung học tập mà còn là điều kiện để rèn luyện phương pháp và hình thành thái độ học tập tích cực cho HS. Đối với GV, kết quả kiểm tra đánh giá vừa phản ánh thành tích học tập của HS vừa giúp GV tự đánh giá vốn tri thức, trình độ chuyên môn, năng lực sư phạm, nhân cách uy tín của mình trước HS. Đối với các cấp quản lý, kiểm tra đánh giá là cơ sở để xây dựng chiến lược giáo dục về mục tiêu, về đội ngũ GV, về vấn đề đổi mới nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động dạy học

Như vậy, hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS trong môn Tin học là một trong những hoạt động giúp người quản lý đánh giá kết quả đào tạo cả về định lượng và định tính, nắm được tình hình dạy học môn Tin học của GV nhằm thúc đẩy mạnh mẽ hoạt động dạy học và thực hiện chức năng QLGD trong việc xây dựng kế hoạch, chiến lược giáo dục về mục tiêu, về đội ngũ giáo viên, về vấn đề đổi mới nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động dạy học môn Tin học.

Muốn quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả môn Tin học đạt yêu cầu, lãnh đạo nhà trường cần nắm vững các quy định về kiểm tra, đánh giá và kiểm tra đánh giá việc thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy của GV. Nâng cao nhận thức của GV về việc đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS trong công tác kiểm tra đánh giá phát triển năng lực HS suốt quá trình học môn Tin học. Triển khai các qui định về kiểm tra, thi, ghi điểm, cộng điểm, đánh giá, xếp loại học lực của HS cho GV học tập nắm vững. Thực hiện đúng qui chế kiểm tra, thi. GV chấm bài, trả bài, ghi điểm, sửa chữa điểm trong sổ điểm, chế độ bảo quản, lưu trữ sổ điểm lớp, việc ghi điểm, ghi nhận xét vào học bạ của HS đúng qui định, cần qui định trách nhiệm rõ ràng. Trên cơ sở đó, lãnh đạo nhà trường xây dựng chiến lược giáo dục về mục tiêu, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động dạy học để đánh giá kết quả dạy học của GV. Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS.

  • Quản lý các điều kiện, phương tiện hỗ trợ hoạt động dạy học môn Tin học ở trường trung học cơ sở

Thực hiện tốt công tác quản lý các điều kiện, phương tiện hỗ trợ hoạt động dạy học môn Tin học giúp cho hoạt động dạy học không những đạt được hiệu quả cao mà còn nâng cao chất lượng các hoạt động của cơ sở giáo dục nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Người quản lý cần lưu ý đến việc nâng cao nhận thức của GV, cần phải phát triển chuyên môn một cách bền vững để nâng cao chất lượng học tập; lên kế hoạch và dự thảo ngân sách giáo dục để trang bị các thiết bị, phương tiện, CSVC đầy đủ và được sử dụng có hiệu quả tạo môi trường dạy học thích nghi và sáng tạo cho GV, HS; trên cơ sở nội dung chương trình đã xây dựng, người quản lý yêu cầu GV biên soạn hệ thống tài liệu học tập hỗ trợ HS. Tổ chức các buổi hội thảo, chuyên đề liên quan đến môn Tin học cho các GVBM trao đổi, học tập và rút kinh nghiệm trong công tác giáo dục. Người quản lý cũng cần quan tâm việc tổ chức, tạo điều kiện, hỗ trợ các hoạt động phong trào, thi đua liên quan đến khoa học, công nghệ trong GV và HS.

  • Quản lý sự phối hợp dạy học môn Tin học ở trường trung học cơ sở

Lãnh đạo nhà trường phối hợp với chi đoàn GV, Công đoàn nhà trường thống nhất mục tiêu hành động để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động quản lí. Cần quan tâm chất lượng hoạt động Tổ chuyên môn Tin học kết hợp tổ chức thi đua dạy tốt; kịp thời giúp đỡ và động viên GV hoàn thành nhiệm vụ giảng dạy; đổi mới hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, sinh hoạt hướng nghiệp, hoạt động tập thể, tham gia hoạt động xã hội… để có thể gắn học với hành, lý thuyết với thực tiễn; giúp HS có những kỹ năng cơ bản. Đồng thời tổ chuyên môn Tin học, bộ phận giáo vụ – CNTT tích cực hỗ trợ các thành viên trong tổ được học tập, ứng dụng CNTT vào dạy học, hoạt động chức năng. Ngoài ra, giáo dục HS ở trường và giáo dục HS ở nhà là một quá trình thống nhất, khi quá trình học tập ở nhà của HS được tổ chức tốt, tiếp nối củng cố quá trình học tập trên lớp sẽ nâng cao kết quả học tập của các em. Sự phối hợp giữa gia đình, nhà trường và xã hội đóng có vai trò quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục HS.

1.6. Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường trường trung học cơ sở

1.6.1. Yếu tố khách quan

Để nâng cao chất lượng giáo dục thì phải xem HS là ưu tiên hàng đầu, GV là nhân tố quan trọng. Hiện nay, đội ngũ GV tại các trường THCS được đảm bảo số lượng, trình độ chuyên môn được nâng cao nhưng chất lượng chưa tương xứng với đào tạo, chưa theo kịp yêu cầu đổi mới giáo dục, nhận thức về trách nhiệm nghề nghiệp chưa sâu. Nghị quyết số 29-NQ/TW đã nêu thực trạng yếu kém của giáo dục đào tạo thời gian qua: “Quản lý GD-ĐT còn nhiều yếu kém. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ QLGD bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu; một bộ phận chưa theo kịp yêu cầu đổi mới và phát triển giáo dục, thiếu tâm huyết, thậm chí vi phạm đạo đức nghề nghiệp”.

Đối với bộ môn Tin học, GV nhận thức mức độ cần thiết của Tin học rất cao đòi hỏi người dạy Tin học luôn phải tiếp cận với những tri thức mới, những ứng dụng mới và có sự ứng biến linh hoạt với khối lượng kiến thức từng bài cụ thể. Điều đó đòi hỏi cần phải có sự đầu tư thời gian, sự tìm tòi học hỏi đồng nghiệp hay tự học trên Internet. Bên cạnh đó, phương pháp soạn giảng của GV cũng là một yếu tố quan trọng quyết định đến chất lượng giờ dạy bộ môn Tin học. Trong quá trình giảng dạy, GV phải sử dụng phương pháp dạy học phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo của HS, cố gắng tự làm mới mỗi giờ dạy cả về hình thức lẫn nội dung để mỗi tiết lên lớp là một sự sáng tạo.

Hiện nay vẫn còn tồn tại một số GV sử dụng phương pháp truyền thống và thường rập khuôn theo chương trình của sách giáo khoa hoặc truyền đạt những kiến thức vốn có; GV không hướng dẫn cho HS cách kiếm tìm kiến thức, giúp các em tự học, tự đọc để các em có thể khám phá được nhiều hơn những điều cần học ngoài nội dung chương trình sách giáo khoa Tin học. Đặc biệt, hoạt động dạy học môn Tin học cần quan tâm nhiều đến hoạt động thực hành và ứng dụng kiến thức trong quá trình học giải quyết những vấn đề thực tiễn, chú ý đến rèn luyện tư duy, phương pháp giải quyết vấn đề; giáo dục kỹ năng nhận thức và kỹ năng xã hội… Vì vậy, dạy học môn Tin học đòi hỏi cần rất nhiều thời gian và các phương tiện thiết bị hỗ trợ nhưng GV vẫn phải lo đảm bảo thời gian, chương trình bộ môn vì Tin học, CNTT là lĩnh vực rất sâu rộng.

1.6.2. Yếu tố chủ quan Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS.

Cán bộ QLGD là những người có trách nhiệm thực hiện thành công các chương trình giáo dục; chịu trách nhiệm trong lập kế hoạch, tổ chức và đưa ra các chiến lược giáo dục cũng như phát triển nguồn lực của một tổ chức. Người QLGD cần đảm bảo an toàn lao động, sức khỏe cho đội ngũ nhân viên; xây dựng chương trình; hỗ trợ đội ngũ nhà giáo kịp thời, đúng lúc, khoa học là yếu tố quan trọng trong việc bảo đảm chất lượng quản lý hoạt động dạy học nói chung và quản lý hoạt động dạy học môn Tin học nói riêng. Nhìn chung, CBQL và đội ngũ nhà giáo có ý thức chính trị, phẩm chất đạo đức nghề nghiệp tốt; từng bước đạt chuẩn trình độ đào tạo. Hầu hết đều tận tuỵ với nghề, cố gắng vượt khó, nắm vững các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học môn Tin học. Có tinh thần trách nhiệm cao, sáng tạo và chủ động tự bồi dưỡng nâng cao năng lực để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

Tuy nhiên, thực tế vẫn tồn tại một số giáo viên còn hạn chế về mặt nhận thức, ngại tìm kiếm thông tin trên mạng, ngại thao giảng, dự giờ, để cùng trao đổi, học hỏi rút kinh nghiệm … làm cho bản thân bị thụt lùi vì chưa tích cực, chủ động học tập, bồi dưỡng, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và điều này ngày càng làm cho người dạy mất hết lòng yêu nghề.

Đối với bộ môn Tin học, mặc dù chương trình, nội dung, phương pháp dạy học còn có những hạn chế như: nặng về lý thuyết, chưa sát thực tế, chưa trang bị cho người học những kỹ năng cần thiết, chưa tạo nhiều thuận lợi cho mục tiêu giáo dục, … Nhưng với cơ sở thiết bị hiện có, công tác quản lý và hoạt động giảng dạy Tin học trong thời gian qua đã góp phần mở rộng tri thức, phát triển năng lực, đáp ứng một phần nhu cầu cuộc sống con người trong xã hội số hóa.

Tiểu kết chương 1 Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS.

Mục tiêu chung của nền giáo dục nước ta là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện: có đạo đức, tri thức, sức khoẻ, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực công dân. Trong quá trình thực hiện mục tiêu chung, mỗi cấp học, bậc học, mỗi môn học đều có mục tiêu phù hợp.

Công tác quản lý hoạt động dạy học môn Tin học gồm quản lý thực hiện chương trình dạy học; quản lý hoạt động giảng dạy; quản lý hoạt động học; quản lý việc kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học; quản lý các điều kiện, phương tiện hỗ trợ dạy học; quản lý sự phối hợp dạy học môn Tin học.

Dựa trên nền tảng quản lý hoạt động toàn diện trong nhà trường, hoạt động dạy học môn Tin học luôn chú trọng vào mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức, hoạt động giảng dạy, hoạt động học, kiểm tra đánh giá kết quả dạy học, các điều kiện phương tiện hỗ trợ hoạt động dạy học.

Mối quan hệ giữa hoạt động dạy và học môn Tin học là quan hệ hữu cơ, tác động qua lại cùng tiến; nhằm chuẩn bị cho HS về mặt tri thức cũng như kỹ năng hoạt động, hỗ trợ đắc lực trong việc bồi dưỡng khả năng tự học, rèn thói quen tự nghiên cứu. Hoạt động này hình thành và phát triển tư duy giải quyết vấn đề với sự hỗ trợ của máy tính theo định hướng Tin học ứng dụng đáp ứng mục đích sử dụng máy tính và hệ thống máy tính. Giúp mở rộng tri thức, sáng tạo, sử dụng trang thiết bị hiện đại và nâng cao hiệu quả học tập, kể cả phát triển về mặt năng lực, trí tuệ để nhanh chóng thích ứng với thời đại mới. Luận văn: Quản lý hoạt động dạy học môn Tin học ở trường THCS.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Thực trạng quản lý dạy học môn Tin học ở trường THCS

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *