Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý giáo dục thể chất ở trường cao đẳng Thống kê hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Quản lý hoạt động giáo dục thể chất ở trường cao đẳng Thống kê dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Sức khỏe được xem như một bộ phận cấu thành của nền văn hoá, bao gồm sức khỏe về mặt thể chất, tinh thần và xã hội. Sức khỏe là một mặt quan trọng của chất lượng đời sống, là nguồn tài sản quý báu của mỗi quốc gia, là sản phẩm phản ánh khách quan thành tựu của nhiều lĩnh vực khoa học, trong đó có sự đóng góp quan trọng của công tác giáo dục thể chất (GDTC) và quản lý hoạt động giáo dục thể chất trong các nhà trường. Vì vậy, trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng vị trí của hoạt động Giáo dục thể chất đối với thế hệ trẻ. Xem đó là động lực quan trọng và phải có chính sách chăm sóc, giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ Việt Nam phát triển hài hoà về các mặt thể chất, tinh thần, trí tuệ và đạo đức. Vì vậy, Chỉ thị 36 CT/TW của Ban chấp hành Trung ương Đảng về công tác Thể dục thể thao trong giai đoạn mới đã chỉ rõ: “Thực hiện hoạt động Giáo dục thể chất trong tất cả các trường học. Làm cho việc tập luyện Thể dục thể thao trở thành nếp sống hằng ngày của hầu hết Học sinh sinh viên” [1]. Công tác này cần coi trọng nâng cao chất lượng Giáo dục thể chất trong các trường học; tổ chức, hướng dẫn và vận động đông đảo Học sinh sinh viên tham gia rèn luyện hàng ngày.
Công tác Giáo dục thể chất và hoạt động Thể dục thể thao trong trường học là một mặt quan trọng trong sự nghiệp giáo dục và đào tạo, góp phần thực hiện mục tiêu: Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, đáp ứng nhu cầu đổi mới của sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội, đồng thời còn hướng tới mục tiêu phát triển toàn diện nhân cách. Tại khoản 1, điều 39, Luật Giáo dục sửa đổi năm 2009 đã xác định mục tiêu của giáo dục đại học là đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khỏe, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Luận văn: Quản lý giáo dục thể chất ở trường cao đẳng Thống kê.
Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị, trước những yêu cầu mới, với mục tiêu và nhiệm vụ của công tác Giáo dục thể chất và thể thao trường học đó là: “Nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục thể chất và hoạt động thể thao trong trường học; đổi mới nội dung, giáo trình, chương trình Giáo dục thể chất phù hợp với thể chất Học sinh sinh viên Việt Nam và tăng cường tổ chức các hoạt động ngoại khoá với các tiêu chí đánh giá cụ thể, linh hoạt” [2].
Trong những năm qua, trường cao đẳng Thống kê luôn xác định tầm quan trọng của công tác Giáo dục thể chất, quản lý hoạt động Giáo dục thể chất, tổ chức tập luyện Thể dục thể thao và rèn luyện sức khỏe cho Sinh viên là một trong những nhiệm vụ chính trị. Nhà trường đã tiến hành tổ chức các hoạt động Giáo dục thể chất nội khóa cũng như ngoại khóa cho Sinh viên một cách thường niên. Tuy vậy, số tiết giảng dạy nội khóa còn hạn chế (60 tiết/2 kỳ), số giờ luyện tập ngoại khóa cũng còn khiêm tốn, phong trào Thể dục thể thao chưa được phát triển một cách sâu rộng đến từng Sinh viên. Mặt khác, hầu hết Sinh viên còn thiếu tích cực tham gia luyện tập Thể dục thể thao ngoại khóa. Sân bãi, dụng cụ tập luyện hàng năm đã được bảo dưỡng, bổ sung nhưng chưa nhiều, điều đó ảnh hưởng đến quá trình tập luyện, hạn chế sự phát triển thể lực và sức khỏe của Sinh viên.
Tuy nhiên trong các trường cao đẳng, đại học nói chung, trường cao đẳng Thống kê nói riêng, không chỉ hoạt động Giáo dục thể chất mà quản lý hoạt động giáo dục thể chất cũng còn tồn tại nhiều bất cập và hạn chế như:
Việc xây dựng kế hoạch hoạt động Giáo dục thể chất tuy được thực hiện song còn chưa thường xuyên, chưa gắn với yêu cầu thực tiễn và tính đến nhu cầu, khả năng của sinh viên. Kế hoạch hoạt động Giáo dục thể chất còn chưa cụ thể, chưa đa dạng, nhiều khi còn mang tính hình thức. Luận văn: Quản lý giáo dục thể chất ở trường cao đẳng Thống kê.
Việc tổ chức hoạt động Giáo dục thể chất mới chỉ tập trung ở các giờ học bộ môn Giáo dục thể chất, các loại hình giáo dục thể chất như câu lạc bộ thể thao, ngoại khóa hoạt động Giáo dục thể chất, thi đấu thể thao… trong nhà trường còn hạn chế.
Việc chỉ đạo đối với hoạt động Giáo dục thể chất đôi khi còn buông lỏng, chưa có sự phân cấp, phân quyền cụ thể trong quản lý hoạt động Giáo dục thể chất, chưa phát huy được sự tham gia của các phòng, khoa, tổ bộ môn, đoàn thanh niên, hội sinh viên và các tổ chức trong và ngoài nhà trừng tham gia vào hoạt động Giáo dục thể chất và quản lý hoạt động Giáo dục thể chất.
Việc kiểm tra, đánh giá chất lượng công tác giáo dục thể chất, hoạt động thể thao và quản lý hoạt động Giáo dục thể chất trong nhà trường chưa được thực hiện thường xuyên.
Trường cao đẳng Thống kê xác định một trong những nhiệm vụ trọng tâm là tăng cường công tác Giáo dục thể chất, đặc biệt là quản lý hoạt động Giáo dục thể chất, huy động mọi nguồn lực tham gia nhằm phát triển thể lực và tăng cường sức khỏe cho Sinh viên đáp ứng yêu cầu xã hội. Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành lựa chọn, xây dựng và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng quản lý hoạt động Giáo dục thể chất trong nhà trường. Đó là một trong những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng đào tạo cũng như khẳng định thương hiệu của nhà trường. Với kỳ vọng như vậy, chúng tôi lựa chọn vấn đề: “Quản lý hoạt động giáo dục thể chất ở trường cao đẳng Thống kê” làm luận văn tốt nghiệp.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở cơ sở nghiên cứu lý luận, thực trạng hoạt động Giáo dục thể chất và quản lý hoạt động Giáo dục thể chất ở trường cao đẳng Thống kê, đề xuất biện pháp quản lý hoạt động Giáo dục thể chất nhằm nâng cao chất lượng hoạt động Giáo dục thể chất trong nhà trường, đáp ứng yêu cầu thực tiễn giáo dục trong giai đoạn hiện nay.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn: Quản lý giáo dục thể chất ở trường cao đẳng Thống kê.
- 3.1. Nghiên cứu vấn đề lý luận về Giáo dục thể chất và quản lý hoạt động Giáo dục thể chất ở trường cao đẳng.
- 3.2. Nghiên cứu thực trạng Giáo dục thể chất, quản lý hoạt động Giáo dục thể chất trong trường Cao đẳng Thống kê.
- 3.3. Đề xuất các biện pháp quản lý hoạt động Giáo dục thể chất ở trường Cao đẳng Thống kê.
4. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu
Hoạt động giáo dục thể chất ở trường cao đẳng.
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động giáo dục thể chất ở trường Cao đẳng Thống kê.
5. Giả thuyết khoa học
Hoạt động Giáo dục thể chất nói chung và quản lý hoạt động Giáo dục thể chất của trường cao đẳng Thống kê đã được quan tâm thực hiện, nhưng chất lượng và hiệu quả chưa cao. Có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến thực trạng này trong đó có yếu tố thuộc về quản lý. Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý hoạt động Giáo dục thể chất ở trường cao đẳng Thống kê một cách khoa học phù hợp với đặc điểm sinh viên và điều kiện thực tiễn của nhà trường thì sẽ nâng cao hiệu quả hoạt động Giáo dục thể chất, đáp ứng được mục tiêu giáo dục toàn diện của nhà trường.
6. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Đề tài tập trung nghiên cứu biện pháp quản lý hoạt động Giáo dục thể chất tại trường Cao đẳng Thống kê của Hiệu trưởng nhà trường.
- Đề tài khảo sát trên các khách thể gồm 35 Cán bộ quản lý và 73 giảng viên, 135 sinh viên trường Cao đẳng Thống kê.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận
Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp các tài liệu trong và ngoài nước (sách, báo, tạp chí, luận án, luận văn… các đề tài nghiên cứu, các Văn bản, Nghị quyết của Đảng, Nhà nước và ngành Giáo dục và đào tạo) liên quan đến công tác Giáo dục thể chất và quản lý hoạt động Giáo dục thể chất, trên cơ sở đó hệ thống, khái quát hóa những vấn đề lý luận, xây dựng khung lý thuyết của vấn đề nghiên cứu. Luận văn: Quản lý giáo dục thể chất ở trường cao đẳng Thống kê.
7.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp quan sát
Quan sát trực tiếp các hoạt động quản lý của độ ngũ Cán bộ quản lý, Giáo viên tại trường Cao đẳng Thống kê; Phát hiện, thu thập các thông tin về quản lý hoạt động Giáo dục thể chất tại nhà trường.
7.2.2. Phương pháp điều tra
- Điều tra thu thập số liệu, thông tin bằng các phiếu hỏi, phiếu phỏng vấn về thực trạng công tác Giáo dục thể chất, quản lý hoạt động Giáo dục thể chất tại trường Cao đẳng Thống kê.
- Phân tích và sử lý số liệu điều tra để rút ra các kết luận của đề tài.
7.2.3. Phương pháp phỏng vấn
Trao đổi với các khách thể khảo sát để khai thác thông tin về quản lý hoạt động Giáo dục thể chất tại trường Cao đẳng Thống kê.
7.3. Phương pháp xử lý số liệu bằng Thống kê toán học
Sử dụng các công thức toán học để xử lý các số liệu điều tra, khảo sát thực tiễn thu được nhằm đánh giá thực trạng quản lý hoạt động Giáo dục thể chất tại trường Cao đẳng Thống kê.
8. Cấu trúc nội dung luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, phần Phụ lục, luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận của quản lý hoạt động Giáo dục thể chất ở trường đại học, cao đẳng
- Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động Giáo dục thể chất tại trường Cao đẳng Thống kê
- Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động Giáo dục thể chất tại trường Cao đẳng Thống kê.
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC THỂ CHẤT TRONG TRƯỜNG CAO ĐẲNG
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề quản lý hoạt động giáo dục thể chất trong trường Cao đẳng Luận văn: Quản lý giáo dục thể chất ở trường cao đẳng Thống kê.
1.1.1. Những nghiên cứu về công tác giáo dục thể chất
Ngay từ khi chủ nghĩa Mác-Lênin ra đời đã hình thành nên quan điểm con người phát triển toàn diện và được coi quá trình giáo dục là thể thống nhất gồm ba mặt hữu cơ không thể tách rời “Giáo dục trí tuệ – Giáo dục thể chất – Giáo dục kỹ thuật” [35, tr 09], đã khẳng định sự kết hợp giáo dục thể chất với các mặt khác không chỉ là một phương tiện để nâng cao sản xuất xã hội mà còn là phương thức duy nhất để tạo con người phát triển một cách toàn diện.
Chủ nghĩa Mác-Lênin coi giáo dục thể chất là một bộ phận hữu cơ và không thể thiếu được của giáo dục toàn diện và đặt ví trí giáo dục thể chất ngang hàng với các mặt giáo dục khác. Chủ nghĩa Mác-Lênin đã chứng tỏ ý nghĩa quan trọng của giáo dục thể chất như là một thành phần không chỉ của giáo dục nói chung mà của toàn bộ quá trình phát triển của con người, trong đó có việc đào tạo giáo viên trong sự nghiệp đoi mới của mỗi quốc gia.
Mỹ, trong những năm gần đây, trong công tác quản lý hoạt động Giáo dục thể chất đã coi trọng đổi mới chương trình đào tạo, coi trọng và tăng cường các môn học tự chọn, đồng thời chú trọng cải tiến phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tự giác, tích cực của người học và ứng dụng rộng rãi CNTT trong dạy học nói chung và GDTC nói riêng.
Liên xô trước đây quan điểm giáo dục con người giáo dục toàn diện đã được V.I.Lênin quan tâm và phát triển, người ta vạch ra mối tương quan giữa giáo dục và điều kiện vật chất xã hội đồng thời làm phong phú thêm cho tư tưởng Mác-Ăng ghen được áp dụng cho chế độ xã hội chủ nghĩa. Lênin là người đầu tiên đưa giáo dục thể chất là một bộ phận quan trọng để tăng cường và củng cố sức khỏe cho toàn dân nhằm nâng cao hiệu quả năng suất lao động, sẵn sàng chiến đấu và bảo vệ thành quả cách mạng của mình [39, tr46].
Trung Quốc là nước đang phát triển và là một cường quốc về Thể dục thể thao, bởi vậy việc nghiên cứu về công tác tổ chức quản lý Thể dục thể thao nói chung và tổ chức quản lý hoạt động Giáo dục thể chất trường học nói riêng hết sức được coi trọng, nổi bật nhất là công trình của Trần Hiếu Tân (1990) nghiên cứu về quản lý giáo dục, đã khái quát cơ sở lý luận và xây dựng nên các nội dung phương pháp, phương thức quản lý giáo dục của Trung Quốc. Tác giả Tôn Chí Kiên (1998), Thiệu Nhiên Mạc (2000) nghiên cứu về quản lý sân bãi tập luyện của các trường học và của các cơ sở tập luyện. Tác giả Hà Xuân Lợi (2003) nghiên cứu hiện trạng và cơ chế vận hành quản lý nguồn nhân lực Thể dục thể thao ở các trường đại học, cao đẳng Trung Quốc.
Việt Nam, việc nghiên cứu công tác giáo dục thể chất trong các trường cao đẳng, đại học đến nay đã được khá nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu như:
Tác giả Lê Hồng Cương (2002) “Nghiên cứu một số biện pháp phát triển phong trào tập luyện Thể dục thể thao nhằm nâng cao hiệu quả Giáo dục thể chất cho Sinh viên các trường cao đẳng thành phố Nam Định” [9], tác giả đã đưa ra 5 giải pháp để phát triển phong trào tập luyện Thể dục thể thao nhằm nâng cao hiệu quả công tác Giáo dục thể chất. Tác giả cũng chứng minh rằng, các biện pháp đề xuất và thực hiện có kết quả dương tính; nhịp tăng trưởng của nhóm thực nghiệm cao hơn nhóm đối chứng (cả nam và nữ). Luận văn: Quản lý giáo dục thể chất ở trường cao đẳng Thống kê.
Tác giả Nguyễn Quốc Huy “Nghiên cứu một số biện pháp tổ chức hoạt động Thể dục thể thao nâng cao thể lực chung cho Sinh viên trường đại học Ngoại ngữ – Đại học Quốc Gia Hà Nội” [13]. Trong nghiên cứu, tác giả cũng đã phân tích bối cảnh, thực trạng công tác Giáo dục thể chất và hoạt động Thể dục thể thao ở nhà trường và đề xuất được các biện pháp tổ chức hoạt động Thể dục thể thao nâng cao thể lực chung cho Sinh viên.
Tác giả Đỗ Nghĩa Quân “Nghiên cứu một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác giáo dục thể chất ở học viện Kỹ thuật quân sự” [24], luận văn thạc sỹ giáo dục học. Đề tài đã đánh giá một cách khái quát về thực trạng công tác Giáo dục thể chất của học viện Kỹ thuật quân sự: Nội dung giảng dạy, phương pháp tổ chức quá trình Giáo dục thể chất, thực trạng công tác cán bộ, tổ chức quản lý, thực trạng phong trào thể thao ngoại khoá,… đề tài đã đưa ra những giải pháp phù hợp nhằm nâng cao chất lượng công tác Giáo dục thể chất của học viện Kỹ thuật quân sự.
Tác giả Nguyễn Duy Linh “Nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục thể chất cho học sinh trường Trung học Giao thông vận tải TW I” [22], luận văn thạc sỹ giáo dục học. Đề tài cũng đã khái quát được những khó khăn trong công tác Giáo dục thể chất của trường Trung học Giao thông vận tải TW I và đề ra những biện pháp mang lại hiệu quả cao cho công tác Giáo dục thể chất của nhà trường như: Nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên thể dục; Cải tiến chương trình học tập; Đầu tư xây dựng cơ sở vật chất phục vụ công tác học tập cho sinh viên.
Tác giả Đỗ Thị Hoa “ Nghiên cứu một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục thể chất cho sinh viên trường Cao đẳng Sư phạm Bắc Ninh” [16], luận văn tốt nghiệp đại học thể dục thể thao. Tác giả cũng nêu ra những vấn đề về thực trạng CSVC, thực trạng đội ngũ cán bộ giáo viên thể dục, công tác giảng dạy của nhà trường, các hoạt động ngoại khoá từ đó xác định các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng công tác Giáo dục thể chất của trường Cao đẳng Sư phạm Bắc Ninh và đề ra một số giải pháp như: Tổ chức tuyên truyền động viên nhận thức về vai trò công tác Giáo dục thể chất trong nhà trường; Cải tiến phương pháp Giáo dục thể chất cho phù hợp với đặc điểm của sinh viên; Cải tiến cơ cấu tổ chức quản lý Thể dục thể thao trong nhà trường.
Nhìn chung các đề tài đã thực hiện khá tốt các nhiệm vụ mà đề tài đặt ra trong việc nâng cao chất lượng công tác Giáo dục thể chất, song đặc thù của mỗi ngành nghề mà sinh viên ra trường làm việc là hoàn toàn khác nhau. Những công trình ấy chỉ có ý nghĩa với một vài trường nhất định vì vậy mà các đề tài chỉ có ý nghĩa tương đối với nhau. Không có một đề tài nào có thể áp dụng vào nhiều trường do có những điều kiện cụ thể của từng trường là khác nhau. Trường Cao đẳng Thống kê là một trong những trường đào tạo ra đội ngũ cán bộ, kỹ thuật viên cho ngành Thống kê ở nước ta, và việc tăng cường rèn luyện sức khoẻ cho sinh viên trường là một yếu tố hết sức cần thiết và quan trọng. Tuy nhiên, ở trường cao đẳng Thống kê chưa có một công trình nghiên cứu nào về vấn đề này. Luận văn: Quản lý giáo dục thể chất ở trường cao đẳng Thống kê.
1.1.2. Những nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục thể chất.
Tác giả Hồ Văn Hùng – Nguyễn Văn Thăng nghiên cứu: “Biện pháp chỉ đạo, quản lý công tác giáo dục thể chất trường học” [14]. Trong công trình nghiên cứu, tác giả đã phân tích được một số vấn đề lý luận trong chỉ đạo, quản lý công tác Giáo dục thể chất trong các trường học, phân tích thực trạng việc quản lý công tác Giáo dục thể chất hiện nay ở các nhà trường, chỉ ra được các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động quản lý công tác GDTC, tác giả cũng đã đề xuất một số biện pháp nhằm quản lý công tác Giáo dục thể chất có hiệu quả trong các nhà trường.
Tác giả Lò Văn Thuấn nghiên cứu: “Quản lý các hình thức tổ chức các hoạt động thể dục thể thao tại trung tâm văn hóa huyện Quỳnh Nhai”[28]. Đề tài đã nghiên cứu thực trạng việc quản lý các hình thức hoạt động Thể dục thể thao tại huyện Quỳnh Nhai, chú trọng đến quản lý các hoạt động phong trào thể thao, các giải thi đấu thuộc quản lý của phòng văn hóa huyện Quỳnh Nhai. Tác giả chỉ rõ những tồn tại và hạn chế trong quản lý các hình thức Thể dục thể thao tại cơ sở và đề xuất một số định hướng nhằm quản lý có hiệu quả các hình thức tổ chức các hoạt động Thể dục thể thao tại trung tâm văn hóa huyện Quỳnh Nhai.
Tác giả Nguyễn Gắng”Nghiên cứu xây dựng mô hình liên kết thể dục thể thao giữa Đại học Huế và các tổ chức thể dục thể thao trên địa bàn thành phố Huế” [11], trong luận án tiến sĩ khoa học của mình, tác giả đã tập trung mô hình liên kết Thể dục thể thao, trong đó có nhấn mạnh đến việc quản lý các mô hình liên kết Thể dục thể thao, quản lý hoạt động Giáo dục thể chất trong các nhà trường.
Tác giả Nguyễn Quốc Hưng “Thực trang quản lý hoạt động giáo dục thể chất ngoài giờ lên lớp ở các trường tiểu học quận 8 thành phố Hồ Chí Minh” [15], trong luận văn thạc sĩ giáo dục học, tác giả đã phân tích được một số vấn đề lý luận có liên quan đến quản lý hoạt động Giáo dục thể chất trong các trường tiểu học, phân tích và đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động Giáo dục thể chất của lãnh đạo các trường tiểu học trên địa bàn, chỉ ra được thực trạng thể chất và sự phát triển thể chất của học sinh tiểu học quận 8 thành phố Hồ Chí Minh. Trong luận văn tác giả cũng đã đề xuất bảy biện pháp nhằm tăng cường quản lý hoạt động Giáo dục thể chất ngoài giờ lên lớp ở các trường tiểu học.
Như vậy, nghiên cứu về quản lý hoạt động Giáo dục thể chất đã được một số tác giả quan tâm, tìm hiểu. Mỗi tác giả có cách tiếp cận và nghiên cứu vấn đề ở những góc cạnh khác nhau và đều hướng tới đề xuất các giải pháp nhằm tăng cường hiệu quả công tác quản lý hoạt động Giáo dục thể chất nhằm mang lại hiệu quả thiết thực của hoạt động này. Tuy nhiên, nghiên cứu về quản lý hoạt động giáo dục thể chất ở trường cao đẳng Thống kê chưa có tác giả nào đề cập và nghiên cứu. Do vậy vấn đề nghiên cứu của chúng tôi có ý nghĩa lý luận và thực tiễn đối với trường cao đẳng Thống kê hiện nay.
1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài Luận văn: Quản lý giáo dục thể chất ở trường cao đẳng Thống kê.
1.2.1. Quản lý
Nói đến hoạt động quản lý, người ta thường nhắc đến ý tưởng sâu sắc của Các Mác:“Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa sự hoạt động của cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng” [6,tr.180].
Còn theo H.Koontz “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo sự phối hợp những nỗ lực của cá nhân nhằm đạt được mục đích của tổ chức. Mục đích của mọi nhà quản lý là hình thành môi trường mà trong đó con người có thể đạt được mục đích của tổ chức. Mục đích của mọi nhà quản lý là hình thành môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của mình với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất” [12,tr.33].
Nhiều nhà nghiên cứu Việt Nam, xuất phát từ các góc độ khác nhau cũng đã đưa ra những khái niệm quản lý:
Xuất phát từ các loại hình hoạt động quản lý, các tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra” [8,tr.11].
Một xu hướng nghiên cứu phương pháp luận quản lý ở Việt Nam trong cuốn “Khoa học quản lý” của nhiều tác giả: Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Văn Bình, Nguyễn Quốc Chí… cho rằng: “Hoạt động quản lý nhằm làm cho hệ thống vận động theo mục tiêu đặt ra tính đến trạng thái có chất lượng mới” [6,tr.176].
Như vậy, quản lý là một khái niệm rộng bao gồm nhiều lĩnh vực, mỗi một lĩnh vực có một hệ thống lý luận riêng: các nhà kinh tế thiên về quản lý nền sản xuất xã hội, các nhà luật học thiên về quản lý nhà nước, các nhà điều khiển học thiên về quan điểm cho hệ thống. Cho nên khi đưa các định nghĩa về quản lý, các tác giả thường gắn với các loại hình quản lý cụ thể hoặc phụ thuộc nhiều vào lĩnh vực hoạt động hay nghiên cứu của mình. Nhưng, bất cứ một tổ chức, một lĩnh vực nào, từ sự hoạt động của nền kinh tế quốc dân, của một doanh nghiệp, một đơn vị hành chính sự nghiệp…. đến một tập thể nhỏ như tổ chuyên môn, tổ sản xuất, bao giờ cũng có hai phân hệ: người quản lý và đối tượng được quản lý. Đó là một loại hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hợp tác để làm một công việc nhằm đạt một mục tiêu chung. Vì vậy, những nhà quản lý phải luôn luôn mềm dẻo, linh hoạt để vận dụng những nguyên tắc quản lý khác nhau trong từng lĩnh vực và tình huống cụ thể cho phù hợp nhằm đạt được hiệu quả quản lý cao nhất. Luận văn: Quản lý giáo dục thể chất ở trường cao đẳng Thống kê.
Từ nội hàm của khái niệm quản lý cho thấy:
- Quản lý được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội. Tức là hoạt động quản lý chỉ cần thiết và tồn tại đối với một nhóm người.
- Quản lý gồm công việc chỉ huy và tạo điều kiện cho những người khác thực hiện công việc và đạt mục đích của nhóm.
- Hoạt động quản lý gồm hai bộ phận cấu thành: Chủ thể quản lý và đối tượng quản lý.
- Khi nói đến hoạt động quản lý chúng ta chủ yếu nói đến hoạt động quản lý con người.
- Hệ thống quản lý được hiểu như sự phối hợp có tổ chức và thống nhất.
Qua các cách giải thích về quản lý của các tác giả trong và ngoài nước, tuy có nhiều cách hiểu, cách diễn đạt khác nhau, song có thể hiểu một cách khái quát: Quản lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý để chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội, hành vi và hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích, đúng với ý chí nhà quản lý, phù hợp với quy luật khách quan.
1.2.2. Khái niệm thể chất
Theo tác giả A.G.Novik: “Thể chất chỉ chất lượng thân thể con người, đó là những đặc trưng tương đối ổn định về hình thái và chức năng cơ thể được hình thành và phát triển do bẩm sinh di truyền và điều kiện sống” [38,tr56].
Theo tác giả I.M.Iabaladonxki: “Thể chất chính là các đặc điểm của cơ thể, biểu hiện ở sức mạnh bản thân con người và được thể hiện qua các chỉ số như chiều cao, cân nặng, chỉ số đo các vòng và chỉ số các tố chất thể lực…” [40,tr106].
Thể chất bao gồm thể hình, năng lực thể chất (thể lực) và khả năng thích ứng.
- Thể hình là hình thái, cấu trúc của cơ thể bao gồm trình độ phát triển những chỉ số tuyệt đối về hình thái và tỷ lệ giữa chúng cùng tư thế.
- Năng lực thể chất chủ yếu liên quan tới những khả năng, chức năng của hệ thống cơ quan trong cơ thể, thể hiện chính trong hoạt động cơ bắp. Bao gồm các tố chất thể lực (sức mạnh, sức nhanh, sức bền, độ dẻo, sự khéo léo…) và những năng lực vận động cơ bản của con người (đi, chạy, nhảy, ném, leo, trèo, bò, mang vác…).
- Khả năng thích ứng chỉ trình độ (năng lực) thích ứng chủ yếu về chức năng của cơ thể với hoàn cảnh bên ngoài, bao gồm cả sức đề kháng với các bệnh tật. Còn trạng thái thể chất chủ yếu nói về tình trạng cơ thể qua một số dấu hiệu về thể tạng, được xác định bằng các cách đo tương đối đơn giản về chiều cao, cân nặng, vòng ngực, dung tích sống, lực tay, chân, lưng… trong một thời điểm nào đấy. Luận văn: Quản lý giáo dục thể chất ở trường cao đẳng Thống kê.
Từ đó có thể hiểu thể chất là: Thể chất là hình thái, cấu trúc hình thể của con người, biểu hiện ở các tố chất thể lực và những năng lực vận động cơ bản của con người cũng như sự thích ứng chủ yếu về chức năng của cơ thể với hoàn cảnh bên ngoài.
1.2.3. Khái niệm giáo dục thể chất
Thuật ngữ Giáo dục thể chất có từ lâu trong ngôn ngữ nhiều nước. Riêng ở nước ta, do bắt nguồn từ gốc Hán – Việt nên cũng có người gọi tắt Giáo dục thể chất là thể dục theo nghĩa tương đối hẹp. Vì theo nghĩa rộng của từ Hán – Việt cũ, thể dục còn có nghĩa là thể dục thể thao (viết tắt Thể dục thể thao).
GDTC là một trong những hình thức hoạt động cơ bản có định hướng rõ của Thể dục thể thao trong xã hội, một quá trình có tổ chức để truyền thụ và tiếp thu những giá trị của Thể dục thể thao trong hệ thống giáo dục – giáo dưỡng chung (chủ yếu trong các nhà trường).
Theo tác giả Vũ Đức Thu: “GDTC là một quá trình giáo dục có tổ chức, có mục đích, có kế hoạch để truyền thụ những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo… từ thế hệ này cho thế hệ khác” [27,tr78]. Điều đó có nghĩa là Giáo dục thể chất cũng như các loại hình giáo dục khác là quá trình sư phạm với đầy đủ đặc điểm của nó (vai trò chủ đạo của nhà sư phạm, tổ chức hoạt động của nhà sư phạm phù hợp với người học, với nguyên tắc sư phạm…).
Tác giả Lê Văn Lẫm: “Giáo dục thể chất là hình thức giáo dục được đào tạo một cách bài bản có hệ thống. Trong đó các môn học chủ yếu là dạy học sinh, sinh viên vận động thông qua các động tác có nhịp điệu. Nhằm khai tác các tố chất vận động tiềm ẩn bên trong con người. Qua đó để xác định được những khả năng thích nghi thể lực của con người, cải thiện sức khỏe tinh thần” [20,tr46].
Giáo dục thể chất được phân thành hai mặt riêng biệt đó chính là dạy học động tác. Tương tự các bài tập thể dục, thể dục nhịp điệu… và giáo dục về kiến thức, các tố chất vận động trong cơ thể con người.
Ngoài khái niệm này, chúng ta còn được nghe đến các thuật ngữ khác như chuẩn bị thể lực. Tuy nhiên giáo dục thể chất và chuẩn bị thể lực này có ý nghĩa như nhau. Chuẩn bị thể lực là thuật ngữ thường được nhắc tới khi nhấn mạnh tính thực dụng đối với lao động hoặc các hoạt động khác.
Mục đích của giáo dục thể chất là: Luận văn: Quản lý giáo dục thể chất ở trường cao đẳng Thống kê.
- Phát triển năng lực chăm sóc và phát triển sức khỏe.
- Vận động cơ bản và phát triển các tố chất thể lực.
- Giúp học sinh, sinh viên hình thành thói quen tập luyện thể dục thể thao thường xuyên, có lối sống lành mạnh.
- Có thể thao tác được những kỹ thuật cơ bản của các môn thể thao.
- Tạo sự yêu thích tham gia tập luyện, vận động thể dục thể thao.
Từ đó ta có thể hiểu khái niệm giáo dục thể chất là: Giáo dục thể chất là một hình thức giáo dục nhằm trang bị kỹ năng, kỹ xảo vận động và những tri thức chuyên môn, phát triển tố chất thể lực, tăng cường sức khoẻ cho người học.
Như vậy Giáo dục thể chất có thể chia thành hai mặt tương đối độc lập: dạy học động tác (giáo dưỡng thể chất) và giáo dục tố chất thể lực.
- Dạy học động tác là nội dung cơ bản của giáo dưỡng thể chất. Đó là quá trình trang bị những kỹ năng, kỹ xảo vận động cơ bản, cần thiết cho cuộc sống và những tri thức chuyên môn.
- Bản chất của thành phần thứ hai trong Giáo dục thể chất là tác động hợp lý tới sự phát triển tố chất vận động đảm bảo phát triển các năng lực vận động (nhanh, mạnh, khéo, bền…).
GDTC là quá trình dạy học động tác và giáo dục tố chất vận động của con người. Việc dạy học động tác và phát triển tố chất thể lực có liên quan chặt chẽ, làm tiền đề cho nhau thậm chí có thể “chuyển” lẫn nhau. Nhưng chúng không bao giờ đồng nhất, giữa chúng có quan hệ khác biệt trong các giai đoạn phát triển thể chất và Giáo dục thể chất khác nhau. Trong hệ thống giáo dục, nội dung đặc trưng của Giáo dục thể chất được gắn liền với trí dục, đức dục, mỹ dục và giáo dục lao động.
1.2.4. Quản lý hoạt động giáo dục thể chất
Từ các khái niệm quản lý, thể chất, giáo dục thể chất ta có thể hiểu: Quản lý hoạt động Giáo dục thể chất là quá trình tác động của nhà quản lý đến đội ngũ người trực tiếp tham gia công tác giáo dục thể chất cũng như các điều kiện cơ sở vật chất trong nhà trường, nhằm thúc đẩy phát triển hoạt động Giáo dục thể chất, trang bị kỹ năng, kỹ xảo, phát triển tố chất thể lực, tăng cường sức khoẻ cho người học.
1.3. Hoạt động giáo dục thể chất trong trường cao đẳng
1.3.1. Vị trí vai trò của hoạt động giáo dục thể chất trong trường cao đẳng
Phát triển hoạt động Thể dục thể thao và nâng cao thể lực cho Sinh viên chính là mục tiêu quan trọng nhằm tạo ra những con người đầy đủ trí và lực, đáp ứng được những yêu cầu đòi hỏi ngày càng cao của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Từ nhiều năm qua, các Bộ, Ngành đã chăm lo Giáo dục thể chất trong nhà trường và đạt được những thành quả nhất định. Hoạt động Giáo dục thể chất trong các trường Đại học,CĐ có một vị trí và ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc đào tạo đội ngũ tri thức mới, để thực hiện mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”.
Giai đoạn học tập trong các trường Đại học, Cao đẳng là một giai đoạn quan trọng giúp Sinh viên hoàn thiện thể lực, tăng cường sức khỏe, đảm bảo có thể tác nghiệp sau khi ra trường. Trong các nội dung giáo dục và đào tạo, Giáo dục thể chất có vai trò rất to lớn, thông qua các hoạt động Thể dục thể thao, Sinh viên phát triển một cách hài hoà, cân đối, tăng cường sức khỏe, nâng cao năng lực làm việc, nhanh chóng thích nghi với điều kiện học tập, sinh hoạt mới.
Bằng những hoạt động phong phú của mình, Giáo dục thể chất còn góp phần quan trọng trong việc rèn luyện, hình thành và phát triển cho Sinh viên những phẩm chất ý chí, lòng dũng cảm, tính quyết đoán, kiên trì, ý thức tổ chức kỷ luật cũng như lòng tự hào dân tộc, tinh thần đoàn kết tập thể, tính trung thực, thẳng thắn và cao thượng; tạo nên nếp sống lành mạnh, vui tươi, đẩy lùi, xoá bỏ những hành vi xấu và các tệ nạn xã hội. Như vậy, mục tiêu của hệ thống Giáo dục thể chất trong trường Đại học, Cao đẳng là đào tạo cán bộ khoa học kỹ thuật, quản lý kinh tế và văn hoá – xã hội có trình độ cao, hoàn hiện về thể chất, phát triển hài hoà về mọi mặt, có tư tưởng tác phong đạo đức XHCN, đáp ứng được yêu cầu của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Trước thực trạng về hoạt động Giáo dục thể chất trong trường học, trong đó đáng chú ý là những tồn tại, hạn chế cần được bổ sung, chỉnh sửa sao cho phù hợp với điều kiện thực tiễn, nhằm góp phần nâng cao chất lượng Giáo dục thể chất cũng như thể thao trong trường học, Bộ Chính trị đã đề ra 07 nhiệm vụ cụ thể trong Nghị Quyết 08-NQ/TW như sau [2]:
Một là: Tăng cường chất lượng dạy và học thể dục chính khóa.
Hai là: Đổi mới nội dung, giáo trình, chương trình Giáo dục thể chất phù hợp với thể chất HS Việt Nam và tăng cường tổ chức các hoạt động ngoại khoá với các tiêu chí đánh giá cụ thể, linh hoạt; kết hợp đồng bộ y tế học đường với dinh dưỡng học đường. Luận văn: Quản lý giáo dục thể chất ở trường cao đẳng Thống kê.
Ba là: Xây dựng hệ thống các trường, lớp năng khiếu thể thao, đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng nhân tài thể thao cho quốc gia.
Bốn là: Phát triển Thể dục thể thao ngoại khóa, xây dựng các loại hình câu lạc bộ Thể dục thể thao trường học; khuyến khích HS tham gia hoạt động ngoại khóa trong các câu lạc bộ, các lớp năng khiếu thể thao. Củng cố và phát triển hệ thống thi đấu Thể dục thể thao giải trí thích hợp với tưng cấp học, từng vùng, địa phương.
Năm là: Tăng cường chỉ đạo triển khai thực hiện Quy hoạch cơ sở giáo dục đào tạo có sơ sở vật chất đáp ứng hoạt động Thể dục thể thao trường học theo quy chuẩn quốc gia.
Sáu là: Tăng cường xây dựng cơ chế, chính sách, đào tạo, chuẩn hóa đội ngũ giáo viên, hướng dẫn viên Thể dục thể thao; đẩy mạnh huy động các nguồn xã hội hóa đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị dụng cụ tập luyện trong các cơ sở giáo dục, đào tạo. Hỗ trợ về cơ sở vật chất, trang thiết bị tập luyện Thể dục thể thao, hướng dẫn viên Thể dục thể thao cho các cơ sở giáo dục vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi thuộc diện khó khăn theo quy định của Nhà nước.
Bảy là: Tăng cường công tác đào tạo giáo viên Thể dục thể thao, công tác bồi dưỡng nghiệp vụ hoạt động ngoại khóa cho hướng dẫn viên Thể dục thể thao; tăng cường công tác giáo dục, truyền thông trong giáo dục thể chất và hoạt động thể thao trường học….
Trong những năm gần đây, hoạt động Giáo dục thể chất và hoạt động thể thao trong trường học đã có những tiến bộ. Việc dạy và học thể dục nội khoá trong các trường từ phổ thông đến đại học đều đi vào nền nếp. Thậm chí nhiều trường, đã thực hiện giờ học nội khoá với trang phục thể thao bắt buộc. Các hình thức hoạt động thể thao trong Học sinh sinh viên ngày càng được mở rộng với quy mô và chất lượng cao hơn, đã có những trường Đại học, Cao đẳng thành lập nhiều đội tuyển ở các môn như: Bóng chuyền, Bóng đá, Điền kinh, Cờ vua… Các hoạt động thể thao Sinh viên đã được hai ngành: Giáo dục và đào tạo và Thể dục thể thao phối hợp chỉ đạo chặt chẽ, có tác dụng thiết thực, góp phần tăng cường sức khỏe, nâng cao đời sống văn hoá tinh thần cho Học sinh sinh viên và ngăn chặn các tệ nạn xã hội. Đặc biệt, Hội Thể thao Đại học, Cao đẳng và trung học chuyên nghiệp đã tổ chức nhiều giải thể thao lớn. Mặt khác, hai ngành đã chỉ đạo, tổ chức thành công hội nghị khoa học Giáo dục thể chất và y tế trường học, hàng trăm thầy cô giáo và các nhà khoa học tham gia nghiên cứu với nhiều công trình khoa học đã được báo cáo tại hội nghị, góp phần nâng cao công tác giảng dạy và chăm sóc sức khoẻ cho Học sinh sinh viên.
1.3.2. Chương trình giáo dục thể chất trong trường cao đẳng Luận văn: Quản lý giáo dục thể chất ở trường cao đẳng Thống kê.
Chương trình môn học giáo dục thể chất thuộc khối các môn học chung trong chương trình đào tạo trình độ cao đẳng, ban Ban hành kèm theo Thông tư số 12/2018/ TT-BLĐTBXH ngày 26 tháng 9 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định [4]:
- Thời gian thực hiện: 60 giờ (lý thuyết: 05 giờ; thực hành: 51 giờ; kiểm tra: 04 giờ).
- Vị trí môn học: Môn học Giáo dục thể chất là môn học điều kiện, bắt buộc thuộc khối các môn học chung trong chương trình đào tạo trình độ cao đẳng.
- Tính chất chương trình môn học: Chương trình môn học bao gồm một số nội dung cơ bản về thể dục, thể thao; giúp người học tập luyện để nâng cao sức khỏe, phát triển thể lực, tầm vóc, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện.
- Nội dung tổng quát và phân bổ thời gian
- Nội dung chi tiết chương trình bắt buộc giáo dục thể chất trong trường cao đẳng, cụ thể mỗi bài học phải đạt được mục tiêu gì?
1, Mục tiêu
- Sau khi học xong bài này, người học đạt được:
- Trình bày được vị trí, tính chất, mục tiêu, nội dung chính, phương pháp dạy học và đánh giá môn học.
2. Nội dung
- 2.1. Vị trí, tính chất môn học
- 2.2. Mục tiêu của môn học
- 2.3. Nội dung chính
- 2.4. Tổ chức dạy học và đánh giá kết quả học tập
Trong chương trình Giáo dục Phổ thông mới thời lượng dành cho môn Giáo dục thể chất bậc THPT ở mỗi lớp là 70 tiết trong năm học, được phân bổ cho các nội dung phù hợp với từng cấp học. Ví dụ ở bậc tiểu học, nội dung vận động cơ bản với các bài tập đội hình đội ngũ, bài tập thể dục, tư thế và kỹ năng vận động chiếm 65% thời lượng. Lên THCS, môn Giáo dục thể chất giúp học sinh tiếp tục củng cố và phát triển các kỹ năng vận động cơ bản; thói quen tập luyện thể dục thể thao, thực hiện các hoạt động thể chất một cách tự tin; phát triển thể chất; biết tự chăm sóc sức khoẻ…Và bậc THPT, nội dung trên không còn mà thay vào đó là các môn thể thao tự chọn chiếm 90% thời lượng; thời gian còn lại dành cho đánh giá cuối kỳ, cuối năm học…
1.3.3. Mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục thể chất trong trường cao đẳng
GDTC trong các trường cao đẳng có ý nghĩa rất quan trọng về nhiều mặt đối với việc đào tạo đội ngũ công nhân trẻ có tay nghề cao. Thực hiện đầy đủ giờ học chính khoá và tích cực tham gia tập luyện ngoại khoá là điều kiện hết sức cần thiết để Sinh viên được phát triển cơ thể một cách hài hoà, bảo vệ và củng cố sức khoẻ, nhanh chóng thích nghi với những điều kiện hoạt động học tập và nâng cao tay nghề. Trong các giờ học thể dục và các hoạt động thể thao, những phẩm chất ý chí như lòng dũng cảm, đoàn kết, quyết đoán, kiên trì,… sẽ được hình thành và hoàn thiện, Giáo dục thể chất và hoạt động Thể dục thể thao trong nhà trường có ý nghĩa to lớn trong việc giáo dục đạo đức, lòng tự hào dân tộc, sự thẳng thắn trung thực là những phẩm chất quý giá và cần thiết của người công nhân công nghiệp. Luận văn: Quản lý giáo dục thể chất ở trường cao đẳng Thống kê.
Công tác Giáo dục thể chất trong các trường đào tạo nghề là một bộ phận không thể tách rời của quá trình giáo dục trong nhà trường. Giáo dục thể chất đang cùng với hoạt động Thể dục thể thao ngoại khoá góp phần tích cực tạo nên cuộc sống vui tươi, lành mạnh, hình thành nhân cách toàn diện góp phần đào tạo nguồn lao động trẻ phục vụ tốt trong công cuộc Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước.
Mục tiêu, nhiệm vụ cơ bản của hoạt động Giáo dục thể chất cho Sinh viên các trường cao đẳng bao gồm:
- Một là: Củng cố sức khoẻ cho Sinh viên phát triển hài hoà và cân đối tất cả các hệ thống chức năng trong cơ thể đạt tới khả năng làm việc cao nhất và sự hoàn thiện về thể lực, hình thành những kỹ năng kỹ xảo vận động cần thiết.
- Hai là: Nâng cao mức độ thích nghi nghề nghiệp của Sinh viên bằng các bài tập thể dục ứng dụng nghề nghiệp, hoàn thiện và nâng cao kiến thức, những kỹ năng kỹ xảo chuyên môn, tạo điều kiện để nắm vững và nhanh chóng thích ứng nghề nghiệp.
- Ba là: Giáo dục đạo đức và nhân cách phù hợp với tiêu chuẩn đạo đức Cộng sản chủ nghĩa, sẵn sàng xây dựng và bảo vệ tổ quốc.
- Bốn là: Tổ chức các hoạt động thể thao đáp ứng nhu cầu vận động và vui chơi giải trí ngoài giờ học cho Sinh viên.
Để nâng cao các tố chất thể lực và năng lực vận động cho Sinh viên, giáo viên phải sử dụng đa dạng các bài tập thể chất với những hình thức và phương pháp khác nhau, sử dụng tất cả những tác động sư phạm, tâm lý, xã hội có liên quan đến việc tổ chức các giờ học thể dục, các trận thi đấu thể thao và các hình thức tập luyện khác.
Nội dung Giáo dục thể chất thực dụng nghề nghiệp cho Sinh viên được xây dựng trên cơ sở các tiêu chuẩn thể lực chung và đặc điểm nghề nghiệp mà học sinh sẽ làm việc khi ra trường do vậy việc xác định đúng đặc điểm của từng ngành nghề, những loại hình tố chất thể lực (sức nhanh, sức mạnh, sức bền, khéo léo…) đáp ứng cho từng ngành nghề đó là hết sức quan trọng đối với các cán bộ quản lý. Giáo viên thể dục phải biết xây dựng chương trình Giáo dục thể chất một cách hợp lý, phù hợp với đặc điểm Sinh viên và ngành nghề đào tạo để nâng cao chất lượng đào tạo nghề..
Từ những dẫn liệu vừa phân tích có thể khẳng định rằng công tác Giáo dục thể chất cho Sinh viên các trường cao đẳng là nội dung quan trọng có tính chất quyết định đến chất lượng đào tạo nghề trong trường học cũng như quyết định hiệu qủa của năng xuất lao động sau này. Nội dung của Giáo dục thể chất trong các trường cao đẳng phải được xây dựng trên cơ sở các bài tập phát triển chung với các bài tập phát triển chuyên môn, các bài tập thực dụng nghề nghiệp phù hợp với đặc điểm hoạt động của từng nghề. Nhiệm vụ của giáo viên thể dục là cần phải nắm bắt được đặc điểm của từng ngành nghề đào tạo để từ đó nghiên cứu các bài tập thể chất phù hợp với các giờ thể dục bắt buộc và tổ chức các hoạt động thể thao ngoại khoá đáp ứng nhu cầu vận động, vui chơi giải trí cho Sinh viên. Luận văn: Quản lý giáo dục thể chất ở trường cao đẳng Thống kê.
1.3.4. Hình thức giáo dục thể chất trong trường cao đẳng
Hình thức các hoạt động Giáo dục thể chất trong trường cao đẳng là các phương thức rèn luyện của cá nhân, nhóm hay tập thể nhằm mục đích duy trì và phát triển sức khỏe. Hình thức hoạt động Giáo dục thể chất trong nhà trường rất đa dạng, phương pháp linh hoạt, có thể tiến hành nhiều cấp độ, quy mô toàn trường, toàn khóa, toàn khoa hoặc theo đội, theo câu lạc bộ…
Theo Vũ Đức Thu, Trương Tuấn Anh các hình thức tổ chức tập luyện tăng cường sức khỏe bao gồm các bài tập cá nhân, tập thể áp dụng các phương tiện theo hướng vệ sinh tập luyện, hồi phục khả năng làm việc, thực dụng và chữa bệnh. Các hình thức này có thể mang tính chất cá nhân (thể dục vệ sinh buổi sáng, chế độ giờ giấc hàng ngày, các hình thức rèn luyện) và theo nhóm, lớp với sự giúp đỡ của giáo viên bộ môn thể dục tiến hành [27].
Trong trường cao đẳng hình thức Giáo dục thể chất được phân chia làm 2 hình thức đó là: GDTC chính khóa và các hoạt động Giáo dục thể chất ngoại khóa.
Hình thức Giáo dục thể chất chính khóa
Nghị quyết số 08/NQ-TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về Thể dục thể thao đến năm 2020 đã nhấn mạnh “Thực hiện tốt giáo dục thể chất theo chương trình nội khóa; phát triển mạnh các hoạt động thể thao của học sinh, sinh viên, bảo đảm mục tiêu phát triển thể lực toàn diện và kỹ năng vận động cơ bản của học sinh, sinh viên và góp phần đào tạo năng khiếu và tài năng thể thao” và để công tác giáo dục thể chất cũng như thể thao trong trường học đạt hiệu quả cần phải “Đổi mới chương trình và phương pháp giáo dục thể chất, gắn giáo dục thể chất với giáo dục ý chí, đạo đức, giáo dục quốc phòng, giáo dục sức khỏe và kỹ năng sống của học sinh, sinh viên. Đãi ngộ hợp lý và phát huy năng lực đội ngũ giáo viên thể dục hiện có, mở rộng và nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên, hướng dẫn viên thể dục cho trường học; củng cố các cơ sở nghiên cứu khoa học về tâm sinh lý lứa tuổi và thể dục, thể thao trường học” [2].
Hình thức Giáo dục thể chất chính khóa được thực hiện theo quy định trong chương trình môn Giáo dục thể chất, bao gồm các bài học, giờ học thể dục trong nhà trường. Giờ học Giáo dục thể chất được tổ chức phù hợp với những nguyên tắc sư phạm chung, với những nguyên tắc Giáo dục thể chất. Đồng thời việc tiến hành giờ học Giáo dục thể chất phải đảm bảo được những yêu cầu sau: Luận văn: Quản lý giáo dục thể chất ở trường cao đẳng Thống kê.
- Tác động của giờ học phải toàn diện về các mặt giáo dưỡng, giáo dục và sức khoẻ.
- Hoạt động dạy học và giáo dục phải được thực hiện từ đầu đến cuối giờ học.
- Trong giờ học cần hết sức tránh khuôn mẫu phương pháp cứng nhắc.
- Đảm bảo bình đẳng trong hoạt động học tập cho tất cả Học sinh sinh viên, đồng thời chú đặc điểm cá nhân người học.
Vì vậy, các nhiệm vụ đặt ra trong mỗi giờ học phải thật cụ thể, sao cho có thể được giải quyết ngay trong giờ học; Nhiệm vụ học tập do Giáo viên đề ra có thể được thực hiện theo hình thức đồng loạt, các nhóm và cá nhân; Đặc điểm của hình thức tổ chức hoạt động đồng loạt là cả lớp được giao một nhiệm vụ chung và nhiệm vụ đó lập tức được Sinh viên thực hiện dưới sự điều khiển chung của Giáo viên.
Hình thức Giáo dục thể chất ngoại khóa
Hình thức giáo dục thể chất ngoại khóa bao gồm
Các buổi tập cá nhân (tự tập luyện): Thường được thực hiện với nhiều hình thức phong phú khác nhau mà mọi người ai cũng có thể tham gia, cụ thể như là: thể dục vệ sinh (thể dục buổi sáng), thể dục giữa giờ, dạo chơi hàng ngày, các buổi tự tập theo xu hướng huấn luyện chung và huấn luyện thể thao.
Thể dục giữa giờ: Là loại bài tập được biên soạn theo đặc điểm giải phẫu sinh lý lứa tuổi và thường được tiến hành vào giờ nghỉ giải lao giữa các buổi học nhằm giải trừ mệt mỏi các nhóm cơ cục bộ của Sinh viên do tập trung cao, ngồi lâu trong các giờ học văn hóa. Bài thể dục giữa giờ có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả học tập. Cần chú ý chọn nội dung bài tập thích hợp, hạn chế lượng vận động, không nên tập trung quá nhiều làm ảnh hưởng đến giờ học kế tiếp, chỉ cần đạt mục tiêu nghỉ ngơi tích cực là được.
Các buổi tập theo nhóm tự nguyện: Bao gồm trò chơi, lữ hành, du lịch, thi đấu. Thường mỗi đội, nhóm cử ra nhóm trưởng, đội trưởng có khả năng quản trò, phân công, sắp xếp, điều hành các buổi tập. Phổ biến nhất ở loại hình tập luyện này là các trò chơi vận động (trò chơi học tập- huấn luyện, sức khỏe, giải trí, thi đấu). Trong trường Đại học,CĐ, Sinh viên thường hình thành các buổi tập các đội nhóm tự nguyện theo đơn vị lớp, khối, khoa, ngành…
Các buổi tập theo nhóm có người tổ chức, hướng dẫn: Được tiến hành dưới sự điều khiển của những người làm công tác chuyên môn như Giáo viên, huấn luyện viên, hướng dẫn viên Thể dục thể thao. Tập luyện theo nhóm có tổ chức thường là các buổi tập luyện theo phong trào các khóa ngắn hạn tại các tụ điểm, các Câu lạc bộ, các cuộc thi đấu, các ngày hội Thể dục thể thao. Hình thức này rất cần được phát triển sâu rộng trong trường học vì khi hội nhập vào nền kinh tế thị trường, các hoạt động vui chơi rèn luyện sức khỏe ngày càng bị thu hẹp.
Câu lạc bộ thể thao: Các câu lạc bộ thể thao bao gồm đội tuyển năng khiếu các môn thể thao và các nhóm Sinh viên có cùng sở thích thể thao. Hiện nay nhiều trường đã tổ chức được hoạt động Thể dục thể thao ngoại khóa với các tên gọi Câu lạc bộ của từng môn riêng lẻ (CLB bóng bàn, Câu lạc bộ bóng chuyền, Câu lạc bộ cầu lông, CKB bóng đá…) hoặc Câu lạc bộ Văn hóa-TDTT đa môn, hấp dẫn được đông đảo Sinh viên tham gia. Luận văn: Quản lý giáo dục thể chất ở trường cao đẳng Thống kê.
Xét về góc độ xã hội hóa, hoạt động Thể dục thể thao ngoại khóa có người hướng dẫn có ý nghĩa tích cực như là một sân chơi bổ ích, một môi trường sinh hoạt lành mạnh giúp giới trẻ sử dụng thời gian rỗi một cách hợp lý, tránh xa các tệ nạn xã hội như các khẩu hiệu thường gặp “thể thao đẩy lùi ma túy”, “thể thao là mùa xuân của tuổi trẻ”… đang trở thành một nhu cầu cần thiết hơn bao giờ hết của Sinh viên cũng như các tổ chức ở các trường Đại học, Cao đẳng hiện nay.
1.4. Quản lý hoạt động giáo dục thể chất trong trường cao đẳng
1.4.1. Xây dựng kế hoạch hoạt động giáo dục thể chất trong trường cao đẳng
Kế hoạch có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với công tác quản lý. V.I. Lê-nin từng ví: “Mọi kế hoạch đều là thước đo, tiêu chuẩn, đèn pha và là cái mốc”. Chất lượng của kế hoạch và hiệu quả thực hiện kế hoạch quyết định chất lượng hiệu quả của quá trình hoạt động Giáo dục thể chất. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, chúng ta đang thực hiện đẩy mạnh hoạt động Thể dục thể thao, phát triển công tác Giáo dục thể chất trong các nhà trường, thì việc lập kế hoạch lại càng quan trọng hơn. Nó giúp cho người quản lý hình dung rõ ràng mọi công việc và chủ động trong việc thực hiện. Nó là cơ sở để thống nhất mọi hoạt động của các thành viên trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ đặt ra trong hoạt động Giáo dục thể chất. Trên cơ sở phương hướng, nhiệm vụ năm học của ngành, tình hình cụ thể của trường, của tổ chuyên môn, của giáo viên, hiệu trưởng hướng dẫn xây dựng kế hoạch, giúp họ biết xác định mục tiêu, nhiệm vụ đúng đắn, đề ra các biện pháp rõ ràng, hợp lý, các điều kiện để đạt được mục tiêu công tác Giáo dục thể chất của nhà trường.
Để lập kế hoạch chi tiết hoạt động Giáo dục thể chất Bộ môn Giáo dục thể chất căn cứ vào kế hoạch học tập Phòng Đào tạo & QLKH giao đầu năm học và cần phải nắm chắc ba vấn đề quan trọng:
Một là: Làm gì? Là muốn nói đến nhiệm vụ, mục tiêu cần phải đạt được. Đó là những công việc trọng tâm của một kỳ hay cả năm học cho các hoạt động Giáo dục thể chất của nhà trường. Tất nhiên mỗi hoạt động có mục tiêu riêng của nó, do đó có nội dung công việc riêng. Xong các hoạt động không thể tách rời nhau, biệt lập với nhau, trái lại đó là một chuỗi các hoạt động liên quan chặt chẽ với nhau, hỗ trợ cho nhau. Chỉ có như vậy, nhà giáo dục mới thực hiện được hiệu quả công GDCT.
Hai là: Làm như thế nào? Là muốn đề cập đến cách thức, biện pháp tiến hành. Nội dung công việc thường có biện pháp thi hành kèm theo. Đó là một hệ thống những biện pháp, từ những biện pháp tổng thể đến những biện pháp cụ thể tương ứng, nhằm giải quyết nội dung công việc đã dự định. Mỗi một hoạt động Giáo dục thể chất có hệ thống các biện pháp tiến hành, nhằm giải quyết nội dung công việc của hoạt động đó. Luận văn: Quản lý giáo dục thể chất ở trường cao đẳng Thống kê.
Nhà quản lý dự kiến các biện pháp phù hợp với từng hoạt động cụ thể. Tuy nhiên các biện pháp đó không phải là bất biến. Nó có thể được điều chỉnh trong quá trình thực hiện kế hoạch đã đề ra cho phù hợp với thực tế của trường và độ ngũ Cán bộ quản lý, giáo viên tham gia.
Ba là: Ai làm? Là chỉ người thực hiện các nhiệm vụ. Người Hiệu trưởng phải biết bố trí, sắp xếp công việc phù hợp với từng đối tượng sao cho khi họ thực hiện nhiệm vụ được giao mà họ vẫn cảm thấy thoải mái. Muốn vậy Hiệu trưởng phải hiểu được đối tượng của mình, nắm được khả năng nhu cầu của họ thì bố trí công việc mới phù hợp, mới có tác dụng động viên.
Các loại kế hoạch hoạt động Giáo dục thể chất trong trường cao đẳng:
Trong trường cao đẳng có nhiều loại kế hoạch. Mỗi loại được xác định theo nhiệm vụ của từng đơn vị công tác, theo thời gian. Các kế hoạch chính trong công tác Giáo dục thể chất là:
- Kế hoạch hoạt động Giáo dục thể chất cho Sinh viên của nhà trường
- Kế hoạch hoạt động Giáo dục thể chất cho Sinh viên của tổ giáo dục thể chất
- Kế hoạch hoạt động Giáo dục thể chất cho Sinh viên của phòng, khoa chuyên môn, đoàn thanh niên, hội Sinh viên trong nhà trường.
- Kế hoạch hoạt động Giáo dục thể chất cho Sinh viên của các câu lạc bộ thể thao
- Kế hoạch chuyên môn của giảng viên giảng dạy Giáo dục thể chất
Nội dung quản lý việc lập kế hoạch hoạt động Giáo dục thể chất bao gồm:
- Đánh giá việc xây dựng kế hoạch hoạt động Giáo dục thể chất
- Xem xét mức độ khả thi những nội dung trong kế hoạch hoạt động Giáo dục thể chất
- Xem xét tính chính xác của việc thực hiện kế hoạch hoạt động Giáo dục thể chất
Các kỹ năng quản lý kế hoạch hoạt động Giáo dục thể chất đòi hỏi Hiệu trưởng phải có gồm:
- Kỹ năng phân tích và tiến hành tổng kết hoạt động Giáo dục thể chất trong thời điểm trước.
- Kỹ năng thu thập và xử lý thông tin về hoạt động Giáo dục thể chất của nhà trường
- Kỹ năng xác định các mục tiêu chung và nhiệm vụ cụ thể trong hoạt động GDTC cho Sinh viên
- Kỹ năng xác định nhiệm vụ trọng tâm và sắp xếp theo thứ tự ưu tiên các nội dung hoạt động Giáo dục thể chất cho Sinh viên. Luận văn: Quản lý giáo dục thể chất ở trường cao đẳng Thống kê.
- Kỹ năng đưa ra các biện pháp thực hiện các nhiệm vụ, mục tiêu cụ thể thiết thực và sáng tạo trong hoạt động Giáo dục thể chất .
- Kỹ năng phân công công việc và bố trí con người, thời gian thực hiện khoa học, hợp lý trong hoạt động Giáo dục thể chất.
- Kỹ năng lập các loại kế hoạch khác phục vụ hoạt động Giáo dục thể chất trong nhà trường.
- Kỹ năng lập kế hoạch chi tiêu tài chính, phù hợp, cân đối trong hoạt động Giáo dục thể chất của nhà trường.
1.4.2. Tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục thể chất trong trường cao đẳng
Bộ môn Giáo dục thể chất tổ chức thực hiện hoạt động giáo dục thể chất trong nhà trường. Quản lý việc tổ chức thực hiện kế hoạch hoạt động Giáo dục thể chất là khâu quan trọng nhất để giúp cho quá trình QL hoạt động Giáo dục thể chất đạt hiệu quả như ý. Quá trình QL việc tổ chức thực hiện hoạt động Giáo dục thể chất chính là quá trình thực hiện các việc sau:
- Triền khai, hướng dẫn các nội dung, hình thức hoạt động Giáo dục thể chất cho Sinh viên phù hợp với yêu cầu nhà trường.
- Phân công, phân nhiệm cụ thể cho phòng, khoa, đoàn thể, các câu lạc bộ thể thao và tổ giáo dục thể chất trong thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu hoạt động Giáo dục thể chất cho Sinh viên trong nhà trường.
- Tổ chức chỉ đạo các phòng, khoa, đoàn thể, các câu lạc bộ thể thao và tổ giáo dục thể chất thực hiện từng nội dung hoạt động Giáo dục thể chất đã đề ra theo kế hoạch đã triển khai.
- Lập danh sách các giáo viên có trình độ năng lực trong tổ chức các hoạt động Thể dục thể thao để xây dựng nội dung và tham gia tổ chức các hoạt động, giải thi đấu thể thao cho Sinh viên.
- Triển khai công tác dự giờ, kiểm tra chuyên đề, kiểm tra toàn diện và rút kinh nghiệm trực tiếp cho giảng viên giảng dạy môn Giáo dục thể chất trong nhà trường.
- Tổ chức các giải thể thao, các phòng trào giao lưu thi đấu thể thao trong và ngoài nhà trường, tạo ra môi trường học tập, rèn luyện thể thao tích cực trong sinh viên.
1.4.3. Chỉ đạo hoạt động giáo dục thể chất trong trường cao đẳng
Sau khi kế hoạch hóa đã được thiết lập, cơ cấu bộ máy đã được hình thành, nhân sự đã được bố trí sắp xếp thì phải có người lãnh đạo, điều hành, chỉ dẫn, đôn đốc, giám sát, điều khiển, điều chỉnh đối tượng quản lý hoạt động theo đúng kế hoạch. Đó là quá trình tập hợp, liên kết các thành viên trong tổ chức, theo sát hoạt động của bộ máy, điều khiển, hướng dẫn, điều chỉnh công việc nhịp nhàng, hợp lý, động viên khuyến khích Cán bộ quản lý, Giáo viên và Sinh viên tham gia nhằm đạt được mục tiêu của hoạt động Giáo dục thể chất. Luận văn: Quản lý giáo dục thể chất ở trường cao đẳng Thống kê.
Bộ môn Giáo dục thể chất tổ chức thực hiện hoạt động Giáo dục thể chất trong trường bao gồm:
- Chỉ đạo, thực hiện hoạt động Giáo dục thể chất theo kế hoạch mục tiêu của trường, các phòng, khoa chuyên môn, các đoàn thể, tổ giáo dục thể chất trong thực hiện nhiệm vụ Giáo dục thể chất cho Sinh viên trong từng năm học.
- Chỉ đạo, thực hiện phối hợp với các trung tâm Thể dục thể thao trong huy động nguồn lực và cơ sở vật chất phục vụ các hoạt động Giáo dục thể chất và phong trào thể thao trong các đợt thi đua, tổ chức giải thi đấu thể thao của nhà trường.
- Chỉ đạo và huy động sự phối hợp tham gia của các phòng, khoa, tổ chức đoàn thể trong nhà trường, các cá nhân có năng lực trong tổ chức hoạt động Giáo dục thể chất, Thể dục thể thao trong nhà trường để thúc đẩy phát triển công tác Giáo dục thể chất.
- Chỉ đạo thực hiện các nội dung hoạt động Giáo dục thể chất thiết thực, phù hợp với tình hình, điều kiện thực tế nhà trường, tăng cường các hoạt động Giáo dục thể chất ngoại khóa công tác Giáo dục thể chất đáp ứng nhu cầu của Sinh viên.
- Chỉ đạo lựa chọn các hình thức thực hiện hoạt động Giáo dục thể chất đảm bảo tính thiết thực và hiệu quả, tạo sự hấp dẫn và lôi cuốn sự tham gia của Sinh viên.
- Chỉ đạo rà soát, bổ sung cơ sở vật chất, tài liệu, nguồn tài chính đảm bảo cho hoạt động Giáo dục thể chất của nhà trường một cách đồng bộ, hiệu quả.
- Xây dựng các điển hình tiên tiến trong hoạt động Giáo dục thể chất cho Sinh viên, thành lập các đội tuyển thể thao và biểu dương Sinh viên có thành tích trong hoạt động Thể dục thể thao của nhà trường, của địa phương.
1.4.4. Kiểm tra, đánh giá hoạt động giáo dục thể chất trong trường cao đẳng.
Công tác kiểm tra, đánh giá chất lượng hoạt động Giáo dục thể chất là một trong những nội dung QL hoạt động hoạt động Giáo dục thể chất. Qua kiểm tra Hiệu trưởng sẽ phát hiện được những mặt tốt, mặt tích cực, thấy rõ những hạn chế, yếu kém của tập thể và cá nhân khi tiến hành hoạt động Giáo dục thể chất. Quá trình kiểm tra sẽ góp phần hình thành ý thức và năng lực tự kiểm tra công việc của chính bản thân mỗi cán bộ giảng viên. Kiểm tra là phương thức thu nhận thông tin về tình hình chất lượng, về nội dung, về tổ chức của các hoạt động Giáo dục thể chất. Đó là một hệ thống những quan sát và so sánh xem lao động thực tế có phù hợp với kế hoạch, tiêu chuẩn, quy tắc… đã dự kiến trước hay không.
Nội dung kiểm tra, đánh giá chất lượng hoạt động Giáo dục thể chất trong trường cao đẳng bao gồm:
- Kiểm tra kết quả tham gia hoạt động Giáo dục thể chất của Sinh viên theo kỳ học, năm học. Đánh giá được tình hình thể chất của Sinh viên so với yêu cầu, mục tiêu đào tạo của nhà trường.
- Kiểm tra đánh giá chất lượng hoạt động Giáo dục thể chất của các phòng, khoa chức năng, các câu lạc bộ thể thao trong nhà trường.
- Kiểm tra hồ sơ chuyên môn, đánh giá chất lượng chuyên môn của tổ Giáo dục thể chất, đội ngũ giảng viên trực tiếp giảng dạy bộ môn Giáo dục thể chất trong nhà trường.
- Kiểm tra đánh giá hiệu quả các phòng trào Thể dục thể thao được tổ chức thực hiện, ý thức, tinh thần tham gia các hoạt động Thể dục thể thao của đội ngũ Cán bộ quản lý, giảng viên và Sinh viên của nhà trường.
- Kiểm tra đánh giá công tác bảo đảm điều kiện CSVC cho hoạt động hoạt động Giáo dục thể chất của nhà trường.
- Kiểm tra đánh giá hiệu quả sự phối hợp với các trung tâm Thể dục thể thao trong tổ chức hoạt động Giáo dục thể chất, các phòng trào Thể dục thể thao trong nhà trường.
1.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động giáo dục thể chất trong trường cao đẳng Luận văn: Quản lý giáo dục thể chất ở trường cao đẳng Thống kê.
1.5.1. Các yếu tố khách quan
1.5.1.1. Điều kiện kinh tế xã hội
Phát triển kinh tế là xu thế tất yếu trong quá trình sản xuất vật chất của xã hội. Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta hiện nay là nhằm phát triển kinh tế, hướng tới mục tiêu: “Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Điều kiện kinh tế sẽ là bước đột phá trong sự phát triển của lực lượng sản xuất và đó cũng chính là cách thức để chúng ta “rút ngắn” quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa. Trong thời đại cách mạng khoa học và công nghệ, để phát triển giáo dục và đào tạo nhất thiết phải có sự đầu tư kinh tế. Sở dĩ như vậy là vì, giáo dục và đào tạo là hoạt động trực tiếp tác động đến việc nâng cao trí tuệ, nâng cao sự hiểu biết và vận dụng những tri thức khoa học, kỹ thuật vào sản xuất của con người.
Sự tương quan cộng sinh, tỷ lệ thuận, cùng chiều và chế định lẫn nhau giữa phát triển giáo dục và phát triển kinh tế thể hiện thật đa dạng, song cũng thật rõ ràng và hội tụ trước hết ở chỗ: Nhờ kết quả phát triển kinh tế mà giáo dục có điều kiện mở mang và phát triển nhanh hơn, đúng hướng hơn, do đó có hiệu quả và uy tín hơn. Chẳng phải ngẫu nhiên mà hầu như ở các nước có trình độ phát triển hơn về kinh tế cũng đều có nền giáo dục tiên tiến và có sức thu hút mạnh mẽ hơn đối với học sinh, sinh viên toàn thế giới.
Do vậy, điều kiện kinh tế phát triển sẽ tăng nguồn đầu tư cho công tác giáo dục nói chung và quản lý hoạt động Giáo dục thể chất nói riêng trong các trường cao đẳng, đại học. Điều kiện kinh tế xã hội phát triển thì đầu tư cho giáo dục không ngừng tăng lên. Chủ trương xã hội hóa giáo dục nhận được sự đồng tình, ủng hộ của toàn xã hội. Được sự quan tâm chăm lo của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội, điều kiện sống và học tập của Sinh viên không ngừng được cải thiện, chất lượng đào tạo của các nhà trường sẽ đáp ứng được yêu cầu của xã hội đặt ra.
1.5.1.2. Đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với công tác giáo dục thể chất.
Quan điểm của Đảng về phát triển giáo dục là “Phát triển giáo dục – Đào tạo là một trong những động lực quan trọng nhất để thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện tiên quyết để phát triển nguồn lực con người, yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững” Nói cách khác Sinh viên là nguồn lực quan trọng để phát triển đất nước. Luận văn: Quản lý giáo dục thể chất ở trường cao đẳng Thống kê.
Mục tiêu phát triển đất nước (2015 – 2025) của Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng cộng sản Việt Nam đã chỉ ra: “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công cuộc Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa, hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước” Nhà nước đã cụ thể hóa quan điểm của Đảng về giáo dục bằng hệ thống các chính sách theo hướng ưu tiên, tạo môi trường thuận lợi cho giáo dục phát triển. Các chính sách này tập trung vào các vấn đề như chính sách đầu tư, học phí và phát triển hệ thống, mạng lưới các trường lớp các chính sách đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục, ưu tiên phát triển giáo dục vùng dân tộc và các vùng khó khăn; đổi mới giáo dục toàn diện từ nội dung, phương pháp dạy và học, hệ thống trường lớp và hệ thống quản lý giáo dục, chính sách đối với giảng viên và người học; cải tiến cơ chế phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội; thực hiện cải cách hành chính, hợp tác quốc tế trong giáo dục. Đặc biệt chủ trương xã hội hóa giáo dục đã khuyến khích, huy động các cộng đồng, các tổ chức đoàn thể, các doanh nghiệp và cá nhân trong và ngoài nước cùng chung tay sự nghiệp giáo dục.
Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị, trước những yêu cầu mới, với mục tiêu và nhiệm vụ của công tác Giáo dục thể chất và thể thao trường học đó là: “Nâng cao chất lượng, hiệu quả giáo dục thể chất và hoạt động thể thao trong trường học; đổi mới nội dung, giáo trình, chương trình Giáo dục thể chất phù hợp với thể chất Học sinh sinh viên Việt Nam và tăng cường tổ chức các hoạt động ngoại khoá với các tiêu chí đánh giá cụ thể, linh hoạt”. Những quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước đối với công tác Giáo dục thể chất là những định hướng quan trọng cho việc quản lý hoạt động Giáo dục thể chất trong các cơ sở giáo dục. Đặc biệt những chính sách đầu tư phát triển phòng trào Thể dục thể thao, tăng cường Giáo dục thể chất cho Học sinh sinh viên trong các nhà trường là điều kiện thuận lợi cho việc tổ chức công tác Giáo dục thể chất và quản lý hoạt động Giáo dục thể chất đạt hiệu quả theo mục tiêu được đề ra.
1.5.2. Các yếu tố chủ quan
1.5.2.1. Năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý, giảng viên giảng dạy môn giáo dục thể chất trong nhà trường
Trong quản lý hoạt động Giáo dục thể chất ở các trường Cao đẳng và Đại học, năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý giữ vai trò nòng cốt, quyết định đến hiệu quả quản lý hoạt động Giáo dục thể chất. Nếu năng lực và trình độ của đội ngũ này còn có những hạn chế và bất cập thì việc thực hiện mục tiêu quản lý hoạt động Giáo dục thể chất của nhà trường sẽ gặp nhiều khó khăn, chất lượng công tác Giáo dục thể chất của nhà trường khó được đảm bảo. Chính vì vậy, khi lựa chọn và bổ nhiệm các chức danh quản lý, người phụ trách công tác Giáo dục thể chất, chủ tịch các câu lạc bộ thể thao cần có sự cân nhắc, lựa chọn các các bộ có tâm huyết, có năng lực, có kỹ năng quản lý, được sinh viên tin tưởng… mới đảm nhiệm và thực hiện được nhiệm vụ và mang lại hiệu quả tích cực trong quản lý hoạt động Giáo dục thể chất, nâng cao chất lượng công tác Giáo dục thể chất của nhà trường.
Đối với đội ngũ giảng viên giảng dạy bộ môn Giáo dục thể chất phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ, có kỹ năng tổ chức các phòng trào Thể dục thể thao. Chất lượng công tác Giáo dục thể chất phụ thuộc rất nhiều vào trình độ và tâm huyết của độ ngũ giảng viên môn Giáo dục thể chất. Ngược lại, nếu đội ngũ giảng viên giảng dạy Giáo dục thể chất còn yếu và thiếu về kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm giảng dạy sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động Giáo dục thể chất trong nhà trường.
1.5.2.2. Tinh thần, ý thức tham gia hoạt động giáo dục thể chất của sinh viên trong nhà trường Luận văn: Quản lý giáo dục thể chất ở trường cao đẳng Thống kê.
Trong đời người không có thời kỳ nào lại có tầm quan trọng đối với suốt quãng đời còn lại như thời thanh niên. Bác Hồ đã nói: “ Một năm bắt đầu từ mùa xuân, một đời bắt đầu từ tuổi trẻ”. Đứng về mặt sinh học thì tuổi thanh niên nói chung, Sinh viên nói riêng là thời kỳ mà sự phát triển của cơ thể đạt đến mức độ hoàn thiện, các tổ chức cơ thể và các chức năng căn bản đã được hình thành. Vào thời kỳ này con người có một cơ thể cân đối và có một sức lực dồi dào. Về mặt xã hội học thì tuổi sinh viên được coi là một hiện tượng của xã hội, trong đấu tranh sinh viên là lực lượng cách mạng hùng hậu. Về mặt tâm lý học thì tuổi sinh viên là thời kỳ phát triển đầy đủ các chức năng tâm lý, là thời kỳ mà nhân cách con người căn bản được hình thành và có tính độc lập cao.
Trong hoạt động Giáo dục thể chất ở trường cao đẳng, đại học thì Sinh viên chính là một chủ thể tham gia và cũng là đối tượng cần đạt được các mục tiêu công tác Giáo dục thể chất trong nhà trường. Hiệu quả công tác Giáo dục thể chất, quản lý hoạt động Giáo dục thể chất phụ thuộc vào tính tích cực tham gia, nhu cầu hứng thú tham gia của Sinh viên đối với các hoạt động này.
1.5.2.3. Điều kiện cơ sở vật chất nhà trường
Đầu tư cho giáo dục nói chung và đầu tư CSVC, trang thiết bị phục vụ quản lý hoạt động Giáo dục thể chất nói riêng là một trong những điều kiện thiết yếu để tiến hành quá trình quản lý và chỉ được phát huy có hiệu quả khi nó thật sự trở thành nhân tố của quá trình quản lý hoạt động Giáo dục thể chất. Luận văn: Quản lý giáo dục thể chất ở trường cao đẳng Thống kê.
Trong sự phát triển chung của nền kinh tế xã hội, sự phát triển của khoa học và công nghệ, hoạt động Giáo dục thể chất trong các nhà trường phải có sự trang bị đầy đủ và đồng bộ về cơ sở vật chất mới đạt được mục tiêu quản lý đề ra như: tài liệu phục vụ giảng dạy và học tập, hệ thống đồ dùng, phương tiện cho hoạt động Giáo dục thể chất, sân vận động, nhà đa năng, bể bơi, phòng tập luyện đặc thù và các trang thiết bị văn phòng cần thiết cho quản lý hoạt động Giáo dục thể chất…
Điều kiện cơ sở vật chất của nhà trường được đảm bảo sẽ tác động tích cực đến hiệu quả quản lý hoạt động Giáo dục thể chất, ngược lại sẽ tạo ra những khó khăn, là rào cản cho các nội dung và quản lý hoạt động Giáo dục thể chất của nhà trường.
Tiểu kết chương 1
Trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu, công trình nghiên cứu khoa học tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý hoạt động Giáo dục thể chất các trường cao đẳng. Hoạt động Giáo dục thể chất là một hình thức giáo dục nhằm trang bị kỹ năng, kỹ xảo vận động và những tri thức chuyên môn, phát triển tố chất thể lực, tăng cường sức khoẻ cho người học.
Quản lý hoạt động Giáo dục thể chất là bộ phận của quản lý đào tạo và quản lý nhà trường nói chung. Nội dung và yêu cầu quản lý hoạt động Giáo dục thể chất cần phải tuân thủ quan niệm chung về quản lý, hoạt động giáo dục thể chất. Quản lý hoạt động Giáo dục thể chất bao gồm: Luận văn: Quản lý giáo dục thể chất ở trường cao đẳng Thống kê.
Xây dựng kế hoạch hoạt động Giáo dục thể chất; Tổ chức thực hiện hoạt động Giáo dục thể chất; Chỉ đạo hoạt động Giáo dục thể chất theo mục tiêu đề ra; Kiểm tra và đánh giá hoạt động Giáo dục thể chất.
Quản lý hoạt động Giáo dục thể chất ở các trường cao đẳng, đại học luôn chịu sự chi phối và ảnh hưởng của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan như: Đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; điều kiện kinh tế, xã hội; năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ trực tiếp tham gia quản lý hoạt động Giáo dục thể chất; cơ sở vật chất của nhà trường phục vụ quản lý hoạt động Giáo dục thể chất; sự phối hợp của các cơ quan chức năng trong thực hiện quản lý hoạt động Giáo dục thể chất.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng quản lý giáo dục thể chất tại trường cao đẳng
