Luận văn: Quản lý đội ngũ giáo viên trường Trung học

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý đội ngũ giáo viên trường Trung học hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thực trạng công tác quản lý đội ngũ giáo viên trường Trung học cơ sở huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương trong bối cảnh đổi mới giáo dục dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

MỞ ĐẦU

1. Lý do thực hiện đề tài

Ở bất kỳ thời đại nào, việc xây dựng một nền giáo dục vững mạnh luôn là nhân tố then chốt, quyết định để thúc đẩy và duy trì sự phát triển của mỗi quốc gia. Việt Nam đang trên chặng đường phát triển, đất nước ngày càng giàu mạnh và hội nhập với thế giới nên công tác phát triển giáo dục luôn được xác định là quốc sách hàng đầu. Trong các kỳ đại hội vừa qua, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn coi giáo dục-đào tạo là quốc sách hàng đầu và là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, toàn xã hội. Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng tiếp tục khẳng định vấn đề này, trong đó nhấn mạnh “phát triển đội ngũ giáo viên là khâu then chốt” trong chiến lược “đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục-đào tạo”.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng sự nghiệp giáo dục, đào tạo. Người luôn dành sự quan tâm đặc biệt cho đội ngũ làm công tác giáo dục. Trong tư tưởng của Người, luôn thể hiện những trăn trở, những yêu cầu, những lời dặn dò và kỳ vọng to lớn đối với việc xây dựng đội ngũ những người thầy trong xã hội.

Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: đội ngũ giáo viên luôn giữ một vị trí, vai trò vô cùng quan trọng, họ là người quyết định thành công công cuộc xây dựng và đổi mới nền giáo dục.“Không có thầy giáo thì không có giáo dục”[5].Câu nói đó của Người khẳng định vai trò không thể thay thế của người giáo viên trong sứ mệnh đào tạo thế hệ trẻ. Chất lượng, nhân cách, phẩm chất đạo đức và lý tưởng của đội ngũ này như thế nào sẽ ảnh hưởng to lớn và trực tiếp đến sản phẩm mà họ đào tạo ra – đó chính là những con người – những công dân xây dựng xã hội. Do đó, việc xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên không chỉ là vấn đề mang tính lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc đối với sự phát triển giáo dục của nước ta.

Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, căn cứ vào thực tiễn tình hình giáo dục-đào tạo của đất nước, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng khẳng định: “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt”. Đây là tư duy mang tầm chiến lược, thể hiện quan điểm toàn diện, khách quan, khoa học của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bởi hơn lúc nào hết, phát triển đội ngũ giáo viên vững mạnh, toàn diện, vừa hồng vừa chuyên là yêu cầu cấp thiết của giáo dục Việt Nam hiện tại. Yêu cầu phát triển đội ngũ giáo viên được Đại hội chỉ rõ là phải “xây dựng đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, đáp ứng yêu cầu về chất lượng”, là khâu then chốt, là tiền đề trong đổi mới giáo dục-đào tạo. Luận văn: Quản lý đội ngũ giáo viên trường Trung học.

Để thực hiện tốt chủ trương phát triển đội ngũ nhà giáo, chúng ta cần nhanh chóng khắc phục các hạn chế của công tác quản lý đội ngũ giáo viên như bố trí, sắp xếp và sử dụng để sớm xây dựng được đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu và bảo đảm các yêu cầu về năng lực chuyên môn phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục. Do đó, cần làm tốt công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển, quản lý mục tiêu, chất lượng giáo dục, đào tạo. Mặt khác, phải có chế độ chính sách, đặc biệt là chính sách về lương, thưởng, thăng tiến, phát triển chuyên môn, đánh giá, đãi ngộ phù hợp để tạo động lực và hiệu quả làm việc của đội ngũ giáo viên. Thời gian qua, mặc dù Đảng và Nhà nước đã cải thiện chế độ chính sách cho giáo viên, nhưng các chính sách, chế độ hiện hành đối với giáo viên vẫn còn nhiều bất cập, dẫn đến hệ quả là nhiều giáo viên không thể toàn tâm, toàn ý cho sự nghiệp giáo dục-đào tạo, sự nghiệp trồng người.

Ngược lại, để mỗi giáo viên thực sự giữ vai trò trung tâm trong phát triển giáo dục-đào tạo cần bồi dưỡng phẩm chất chính trị, tư tưởng đạo đức và kỹ năng sư phạm giỏi cho họ. Về vấn đề này, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI chỉ rõ, phải “đặc biệt coi trọng giáo dục lý tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành…”. Vấn đề giáo dục và phát triển đội ngũ giáo viên cũng được chỉ rõ trong Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII “Thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển và nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo. Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp thi, kiểm tra theo hướng hiện đại; nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo dục lý tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành…

Xây dựng đội ngũ giáo viên đủ về số lượng, đáp ứng yêu cầu về chất lượng…..

Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi”. Vì giáo viên không chỉ là người thầy, nhà khoa học, nhà tư tưởng, người cung cấp tri thức, mà còn phải là người hướng dẫn người học đến với tri thức, khoa học bằng đường đi ngắn nhất và phải là tấm gương về phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, kỹ năng sư phạm giỏi cho người học noi theo.

Bàu Bàng là một huyện non trẻ vừa mới tách ra từ huyện Bến Cát năm 2014, trong những năm qua, ngành giáo dục huyện Bàu Bàng cũng đã góp phần phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cho tỉnh Bình Dương. Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới giáo dục và phát triển kinh tế xã hội như hiện nay, nhất là để đáp ứng mục tiêu giáo dục cần phát triển đội ngũ giáo viên. Để xây dựng được đội ngũ giáo viên đáp ứng nhu cầu phát triển giáo dục của huyện Bàu Bàng, bên cạnh công tác phát triển đội ngũ giáo viên thì công tác quản lý đội ngũ giáo viên cũng là một hoạt động quan trọng để đảm bảo chất lượng giáo dục. Vì vậy người quản lý cần phải tiến hành đồng thời cả hai việc đó là: Nắm bắt được mục tiêu giáo dục trong một giai đoạn nhằm đề ra những yêu cầu cụ thể; phát triển cả về số lượng và chất lượng cho đội ngũ giáo viên hiện có. Để khắc phục vấn đề này, đòi hỏi phải có sự nỗ lực của chính bản thân người giáo viên và sự đổi mới trong công tác quản lý giáo viên.

Xuất phát từ yêu cầu trên,chúng tôi chọn đề tài: “Thực trạng công tác quản lý đội ngũ giáo viên trường Trung học cơ sở huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương trong bối cảnh đổi mới giáo dục” làm luận văn tốt nghiệp.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Nhận Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Quản Lý Giáo Dục

2. Mục đích nghiên cứu

Khảo sát thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên tại các trường THCS huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương và đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý đội ngũ giáo viên ở các trường THCS trên địa bàn huyện này.

3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1. Khách thể Luận văn: Quản lý đội ngũ giáo viên trường Trung học.

Công tác xây dựng đội ngũ giáo viên ở các trường Trung học cơ sở trong bối cảnh đổi mới giáo dục.

3.2. Đối tượng

Quản lý đội ngũ giáo viên ở các trường THCS huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương trong bối cảnh đổi mới giáo dục.

4. Nhiệm vụ nghiên cứu

  • Hệ thống hóa cơ sở lý luận về việc quản lý đội ngũ giáo viên ở trường THCS trong bối cảnh đổi mới giáo dục.
  • Khảo sát thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên ở các trường THCS huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.
  • Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý đội ngũ giáo viên ở các trường THCS huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.

5. Giả thuyết khoa học

Đội ngũ giáo viên có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng và hiệu quả giáo dục. Công tác quản lý đội ngũ giáo viên ở các trường Trung học cơ sở huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương đã đạt được những kết quả nhất định góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, khẳng định uy tín nhà trường. Tuy nhiên, công tác công tác quản lý đội ngũ giáo viên ở các trường Trung học cơ sở huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương vẫn còn một số bất cập trong việc tuyển dụng, sử dụng và đào tạo, bồi dưỡng. Do đó, nếu khảo sát đúng thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên ở các trường Trung học cơ sở huyện Bàu Bàng thì đề xuất một số biện pháp quản lý cần thiết, khả thi nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động quản lý đội ngũ giáo viên ở các trường Trung học cơ sở trên địa bàn huyện trong bối cảnh đổi mới giáo dục hiện nay.

6. Phạm vi nghiên cứu

6.1. Giới hạn nội dung nghiên cứu

Luận văn chỉ tập trung nghiên cứu một số nội dung trong quản lý đội ngũ giáo viên như:

  • Công tác quy hoạch, tuyển dụng giáo viên
  • Công tác sử dụng giáo viên
  • Công tác đào tạo, bồi dưỡng giáo viên
  • Các cơ chế chính sách đối với giáo viên
  • Kiểm tra đánh giá đội ngũ giáo viên

6.2. Giới hạn khách thể nghiên cứu

  • Về cán bộ quản lý: nghiên cứu tất cả cán bộ quản lý của 5 trường Trung học cơ sở công lập trên địa bàn huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương
  • Về giáo viên: Chỉ nghiên cứu trên mẫu 200 giáo viên của 5 trường (mỗi  trường chỉ chọn điều tra theo mẫu ngẫu nhiên 40 giáo viên).

6.3. Giới hạn về thời gian

Năm học 2016- 2017 và năm học 2017 – 2018

7. Phương pháp nghiên cứu

7.1. Cơ sở phương pháp luận

7.1.1 Quan điểm hệ thống – cấu trúc Luận văn: Quản lý đội ngũ giáo viên trường Trung học.

Quan điểm hệ thống – cấu trúc nghiên cứu hiện tượng một cách toàn diện, trên nhiều mặt, dựa vào việc phân tích đối tượng thành các bộ phận. Xác định mối quan hệ hữu cơ giữa các yếu tố của hệ thống để tìm quy luật phát triển. Qua cách tiếp cận quan điểm này, người nghiên cứu tìm hiểu được mối liên hệ chặt chẽ giữa quản lý đội ngũ giáo viên với quản lý các hoạt động khác của nhà trường, cũng như xem xét công tác quản lý trong các trường THCS là một hệ thống, trong đó, quản lý đội ngũ giáo viên là một hệ thống con với các yếu tố hợp thành như: quản lý công tác quy hoạch, tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng giáo viên, quản lý việc đãi ngộ, thu hút giáo viên. Quản lý đội ngũ giáo viên là một công tác quản lý quan trọng trong toàn bộ hệ thống quản lý chung của nhà trường. Thông qua việc nghiên cứu, quan điểm hệ thống – cấu trúc giúp người nghiên cứu tìm hiểu chính xác thực trạng công tác quản lý đội ngũ giáo viên ở các trường THCS huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.

7.1.2 Quan điểm lịch sử -logic

Tìm hiểu sự hình thành và phát triển của công tác quản lý đội ngũ giáo viên nói chung, quản lý đội ngũ giáo viên THCS nói riêng trên thế giới, tại Việt Nam và trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Quan điểm này giúp người nghiên cứu xác định phạm vi không gian, thời gian và điều kiện hoàn cảnh cụ thể, để điều tra thu thập số liệu chính xác, đúng với mục đích nghiên cứu đề tài, trình bày công trình nghiên cứu theo một trình tự hợp lý.

7.1.3 Quan điểm thực tiễn

Nghiên cứu thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên ở các trường THCS huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương xuất phát từ thực tiễn của công tác quản lý đội ngũ giáo viên THCS trên địa bàn tỉnh Bình Dương nói chung và huyện Bàu Bàng nói riêng để tìm ra những tồn tại, khó khăn trong công tác quản lý đội ngũ giáo viên ở các cơ sở giáo dục này, từ đó đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý đội ngũ giáo viên phù hợp với thực tiễn.

7.2.Các phương pháp nghiên cứu

7.2.1 Các phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Phân tích, tổng hợp các tài liệu lý luận phục vụ cho vấn đề nghiên cứu đề tài như lý luận về quản lý, quản lý giáo dục, quản lý đội ngũ giáo viên.

Phân loại hệ thống hóa các tài liệu lý luận có liên quan đến công tác quản lý đội ngũ giáo viên, đặc biệt là trong các trường THCS. Luận văn: Quản lý đội ngũ giáo viên trường Trung học.

7.2.2 Các phương pháp thực tiễn

7.2.2.1 Phương pháp khảo sát bằng phiếu hỏi

  • Mục đích khảo sát: người nghiên cứu sử dụng phương pháp khảo sát để thu thập số liệu, dữ liệu về thực trạng công tác quản lý đội ngũ giáo viên các trường THCS huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương nhằm chứng minh cho giả thuyết nghiên cứu khoa học.
  • Nội dung khảo sát: Thực trạng công tác quản lý đội ngũ giáo viên các trường THCS huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương theo các nội dung quản lý đội ngũ giáo viên như quản lý công tác tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng giáo viên, quản lý việc thu hút, đãi ngộ giáo viên.
  • Công cụ khảo sát: sử dụng phiếu khảo sát
  • Chọn mẫu: Chọn ngẫu nhiên mỗi trường 30 giáo viên và 12 cán bộ quản lý tại 5 trường Trung học cơ sở công lập trên địa bàn huyện Bàu Bàng
  • Cách thức khảo sát: Người nghiên cứu sử dụng loại phiếu khảo sát dành cho 2 đối tượng là cán bộ quản lý nhà trường và đội ngũ giáo viên.

Mục đích nhằm khảo sát thực trạng thực hiện các nội dung quản lý, quản lý đội ngũ giáo viên tại các trường THCS trên địa bàn huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương. Ngoài ra, nghiên cứu cũng nhằm tìm hiểu sự hưởng ứng, chấp hành các chính sách quản lý của đội ngũ giáo viên, mong muốn của giáo viên với các nhà quản lý của mình.

7.2.2.2 Phương pháp phỏng vấn

Mục đích phỏng vấn: nhằm khẳng định những vấn đề được trả lời trong phiếu điều tra và thu thập thêm thông tin cho những vấn đề còn chưa được trả lời rõ ràng trong số liệu điều tra viết. Đây là phương pháp bổ trợ cho phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi.

Nội dung phỏng vấn: một số nội dung về thực trạng chất lượng đội ngũ giáo viên và công tác quản lý đội ngũ giáo viên của Hiệu trưởng trường THCS huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.

Cách thức phỏng vấn: Tác giả đã chọn mẫu và phỏng vấn một số cán bộ quản lý và một số giáo viên trường THCS ở huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương. Số lượng mà người nghiên cứu phỏng vấn bao gồm: 4 cán bộ quản lý và 12 giáo viên đang giảng dạy ở 5 trường. Số liệu phỏng vấn sẽ dùng vào việc đối chiếu, so sánh để làm rõ kết quả điều tra về thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên trường THCS ở huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.

7.2.2.3 Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia

Lấy ý kiến của cán bộ quản lý giáo dục có kinh nghiệm và các chuyên viên của Phòng GD & ĐT thông qua phỏng vấn về một số vấn đề nghiên cứu đề tài quan tâm

7.2.2.4  Phương pháp thống kê toán học Luận văn: Quản lý đội ngũ giáo viên trường Trung học.

Sử dụng phần mềm xử lý thống kê SPSS để xử lý các thông tin thu thập được trong quá trình nghiên cứu thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên ở các trường THCS huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.

8. Ý nghĩa khoa học của đề tài

Luận văn chỉ rõ những hạn chế bất cập trong công tác tuyển dụng giáo viên và việc phân công phân nhiệm cho giáo viên về các đơn vị trường THCS từ đó giúp các cấp lãnh đạo có biện pháp khắc phục tình trạng phân công giáo viên về cơ sở môn thừa môn thiếu mất cân đối gây khó khăn cho Hiệu trưởng trong công tác phân công nhiệm vụ giảng dạy tại đơn vị.

Đồng thời luận văn cũng đề xuất một số biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên góp phần nâng cao hiệu quả của công tác quản lý đội ngũ giáo viên ở các trường THCS trên địa bàn huyện Bàu Bàng.

9. Bố cục luận văn

Dự kiến luận văn gồm: Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn có 3 chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận của vấn đề quản lý đội ngũ giáo viên Trường THCS trong bối cảnh đổi mới giáo dục.
  • Chương 2: Thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên Trường THCS huyện Bàu Bàng, tình Bình Dương trong bối cảnh đổi mới giáo dục
  • Chương 3: Biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên Trường THCS huyện Bàu Bàng, tình Bình Dương trong bối cảnh đổi mới giáo dục.

Chương 1  CƠ SỞ LÝ LU  N CỦA VẤN ĐỀ QUẢN  Ý ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI GIÁO DỤC

1.1. Tổng quan về lịch sử nghiên cứu vấn đề

1.1.1. Các công trình nghiên cứu nước ngoài

Việc nghiên cứu về quản lý đội ngũ giáo viên và những vấn đề liên quan luôn được sự quan tâm của những nhà chuyên môn nhằm mang lại niềm tin và sự hài lòng của người học cũng như sự phát triển vững chắc của cở sở giáo dục. Các công trình nghiên cứu được trình bày như sau: Luận văn: Quản lý đội ngũ giáo viên trường Trung học.

Khởi đầu là Frededric W. Taylor (1856 – 1919), ông được xem là “cha đẻ của những phương pháp quản trị khoa học”. Trong thời gian làm việc tại các xí nghiệp, ông đã chỉ ra các nhược điểm trong cách quản lý cũ như: Thuê mướn công nhân trên cơ sở ai đến trước mướn trước, không lưu ý đến khả năng và nghề nghiệp của công nhân; Công tác huấn luyện nhân viên hầu như không có hệ thống tổ chức học việc; Công việc làm theo thói quen, không có tiêu chuẩn và phương pháp. Công nhân tự mình định đoạt tốc độ làm việc; Hầu hết các công việc và trách nhiệm đều được giao cho người công nhân; Nhà quản trị làm việc bên cạnh người thợ, quên mất chức năng chính là lập kế hoạch công việc. Tính chuyên nghiệp của nhà quản trị không được thừa nhận. Ngoài ra, đến năm 1911 tác phẩm của ông “các nguyên tắt quản trị một cách khoa học (Principles of scientific management)” đã được xuất bản lần đầu tại Mỹ, tác phẩm đã xây dựng được các nguyên tắc trong tổ chức sản xuất giúp các doanh nghiệp nâng cao năng suất lao động, cụ thể như sau: (1) Chia nhỏ quá trình sản xuất thành các bước công việc, các thao tác, chuyển động và tiến hành loại bỏ các động tác, các chuyển động thừa; (2) Xác định nhiệm vụ, định mức cụ thể và tiến hành luyện tập cho công nhân về phương pháp, thao tác hợp lý thông qua bấm giờ, chụp ảnh ngày làm việc. Công nhân không chỉ biết công việc mình đang làm mà phải biết làm sao cho tốt nhất; (3) Tuyển chọn nhân viên có sức khỏe tốt nhất, có sức chịu đựng dẻo dai nhất và có khả năng phù hợp nhất đối với từng công việc; (4) Giải phóng công nhân khỏi chức năng quản lý. Chức năng này do bộ phận quản lý đảm nhận. Công nhân chỉ là người thực hiện các công việc và nhất thiết phải hoàn thành công việc trong phạm vi trách nhiệm; (5) Sử dụng triệt để ngày làm việc, bảo đảm cho nơi làm việc có các điều kiện cần thiết để thực hiện nhiệm vụ trên cơ sở các bảng chỉ dẫn công việc; (6) Thực hiện chế độ trả lương có khuyến khích đối với công nhân hoàn thành nhiệm vụ [46]. Theo đó, các nguyên tắc trong quản lý khoa học của Taylor không chỉ giúp các doanh nghiệp nâng cao năng suất lao động mà còn là cơ sở giúp người nghiên cứu đề xuất các biện pháp trong luận văn về việc quản lý đội ngũ giáo viên trong trường trung học cơ sở mang lại hiệu quả cao.

Mặt khác, một nghiên cứu của Agyeman (1993) cho rằng, kết quả học tập còn ảnh hưởng bởi sự đồng nhất giữa trình độ chuyên môn của giảng viên và sự phân công phù hợp, bởi điều kiện thuận lợi sẽ giúp giảng viên phát huy năng suất “một giáo viên có trình độ chuyên môn nhưng làm việc trong điều kiện không thuận lợi sẽ giảm nhiệt huyết trong công việc, dẫn đến làm giảm năng suất hơn một giáo viên không đủ tiêu chuẩn nhưng làm việc trong điều kiện thuận lợi” [45]. Từ đó, trong quá trình quản lý đội ngũ giáo viên, nhà quản lý cần quan tâm đến việc bố trí, phân công công tác cho giáo viên phù hợp với năng lực và chuyên môn đào tạo.

Bên cạnh đó, trong cuốn “Tối đa hóa năng lực nhân viên” của William J. Rothwell tác giả giới thiệu một số chiến lược về nghệ thuật quản lý nhân sự như: Đánh giá tiềm năng nhân viên; Thu hút, đánh giá các ứng viên dựa trên tiêu chí thực sự quan trọng và lựa chọn đúng người cho mỗi vị trí; Thực hiện việc đào tạo một cách thường xuyên thông qua công việc; Đánh giá cách thức nhân viên làm việc và thường xuyên đưa ra phản hồi tích cực; Khuyến khích nhân viên lập kế hoạch nghề nghiệp và thăng tiến; Truyền tải những kiến thức không chính thức thông qua giao nhiệm vụ, hướng dẫn và chia sẻ bài học kinh nghiệm; Hoàn thiện khả năng hướng dẫn nhân viên và nắm bắt cơ hội để phát triển khả năng này; Làm việc như một điển hình nỗ lực không ngừng để phát triển bản thân. Tác giả đặt vấn đề rằng mỗi nhà quản lý cần đi đầu trong việc thu hút, nuôi dưỡng, và phát triển khả năng làm việc hiệu quả và những kỹ năng thực tiễn cần thiết của nhân viên, tìm hiểu về công việc và bản chất con người để tạo động lực làm việc cho đội ngũ. Đồng thời, tác giả cũng rất quan tâm đến hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực và cho rằng đây là một trong những nhiệm vụ thường xuyên của nhà quản lý nhằm giúp nhân viên ngày càng hoàn thiện, phát triển năng lực nghề nghiệp. (William J Rothwell, 2010) [47]. Từ đó, giúp nhà quản lý hình dung và thực hiện hiệu quả trong công tác quản lý đội ngũ giáo viên tại trường trung học cơ sở. Luận văn: Quản lý đội ngũ giáo viên trường Trung học.

Ngoài ra, tại một số quốc gia trên thế giới cũng quan tâm đến nghiên cứu vấn đề liên quan như:

Phi – lip – pin, quốc gia cùng khu vực và có những chỉ tiêu cơ bản tương tự như nước ta, trong kế hoạch tổng thể đào tạo bồi dưỡng giáo viên 10 năm (1998-2008) đã đề ra những giải pháp đáng lưu ý. Chẳng hạn, trong đào tạo giáo viên thì thu hút những học sinh trung học có chất lượng khá giỏi vào ngành sư phạm. Trong sử dụng và bồi dưỡng thì xem lại thang lương giáo viên với những người cùng trình độ để cải thiện đời sống và tạo thuận lợi cho họ trong công tác đồng thời khai thác chỗ làm cho giáo viên mới ra trường, giảm bớt tình trạng giáo viên mới không có chỗ làm việc. Mặt khác, thể chế hóa và củng cố việc bồi dưỡng tại chức, nâng cao nhận thức của dân chúng về vai trò, tầm quan trọng của nghề dạy học và vị thế của giáo viên trong xã hội [29].

Còn ở Nhật Bản, quốc gia phát triển vào bậc nhất của Châu Á cũng đặc biệt chú trọng tới công tác phát triển đội ngũ giáo viên. Luật Giáo dục Nhật Bản quy định: “Địa vị xã hội của giáo viên phải được tôn trọng, sự đối xử đúng đắn và phù hợp với giáo viên phải được đảm bảo”. Để trở thành giáo viên phổ thông phải có chứng chỉ sư phạm. Nhật Bản có quy chế bồi dưỡng bắt buộc hàng năm đối với giáo viên phổ thông mới vào nghề. Giáo viên đương nhiệm được bồi dưỡng bằng nhiều hình thức, ở nhiều cấp với phương thức đổi mới, đa dạng. Chính sách đãi ngộ giáo viên chủ yếu thể hiện qua lương, phụ cấp, trợ cấp. Mức tăng lương dựa vào thành tích và thâm niên công tác, trung bình 1 năm hoặc 2 năm một lần. Giáo viên trường công ở Nhật Bản được hưởng nhiều loại trợ cấp, quan trọng nhất là tiền thưởng 3 lần trong năm và cao gấp 5,2 lần lương tháng [8].

Đối với Cộng hòa Pháp, một quốc gia có nền giáo dục phát triển cao thuộc cộng đồng Châu Âu, có quy định về tuyển dụng giáo viên phải thông qua thi tuyển (vào ngạch công chức giáo viên).Các cơ sở giáo dục công lập trực thuộc Bộ có thể tuyển dụng giáo viên cộng tác (Giáo viên hợp đồng) để giảng dạy các môn về kỹ thuật và dạy nghề. Giáo viên của cơ sở giáo dục tư thục cũng được hưởng chính sách nâng ngạch bậc như giáo viên các cơ sở giáo dục công lập. Nhà nước cấp kinh phí cho hoạt động đào tạo ban đầu và nâng cao trình độ của giáo viên các cơ sở giáo dục tư thục cùng với mức và giới hạn áp dụng đối với giáo viên các trường công lập. Về chế độ ưu đãi giáo viên, Luật giáo dục Cộng hòa Pháp có quy định: Giáo viên chính thức hoặc thực tập sinh có quyền có nhà ở hoặc có phụ cấp nhà ở, lương chính của giáo viên trung học và tương đương, ngoài lương theo văn bằng còn có lương theo cấp bậc và trợ cấp bù giá [3].

Nhìn chung, các tác giả và các nước trên thế giới đã rất quan tâm nghiên cứu đến các vấn đề liên quan đến quản lý, những quan điểm về cách thức quản lý hiệu quả, những kinh nghiệm trong quản lý. Tuy các công trình chưa đề cập trực tiếp đến công tác quản lý đội ngũ giáo viên trường trung học cơ sở nhưng các thành tựu nghiên cứu này đã giúp người nghiên cứu tổng hợp, xây dựng những biện pháp quản lý hiệu quả đội ngũ giáo viên tại các trường THCS huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.

1.1.2. Các công trình nghiên cứu trong nước

Theo nghiên cứu của tác giả Phạm Thành Nghị (2000) cho thấy, để có thể quản lý có hiệu quả cần được sử dụng và tập trung vào: (1) Tạo dựng các hoạt động có tính định hướng của tổ chức; (2) Xác định các lĩnh vực đổi mới liên quan đến tầm nhìn, sứ mệnh và mục tiêu chung của tổ chức; (3) Xem xét định hướng tổng thể trong phạm vi hoạt động truyền thống của tổ chức cũng như nhìn xa hơn trong những năm tới; (4) Nhấn mạnh vào việc làm như thế nào và tại sao, xác định chiến lược và thực thi chiến lược; (5) Tìm những lợi thế cạnh tranh lớn nhất của tổ chức so với các tổ chức tương tự, lựa chọn đối tượng sinh viên phục vụ và xác định nguồn tài trợ [22] Luận văn: Quản lý đội ngũ giáo viên trường Trung học.

Nhằm thực hiện Chỉ thị 40/CT-TW của Ban Bí thư về “xây dựng nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2005 – 2010”. Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam đã thực hiện “Nghiên cứu đánh giá thực trạng đội ngũ nhà giáo Việt Nam” để làm căn cứ cho việc ra quyết định liên quan đến đội ngũ nhà giáo. Trong đó, báo cáo khiến nghị những vấn đề cần được quan tâm như: Khả năng sử dụng ngoại ngữ để hỗ trợ cho hoạt động nghề nghiệp; Khả năng gắn kết giảng dạy, nghiên cứu khoa học với thực tiễn lao động sản xuất; Khả năng biết và ứng dụng công nghệ thông tin vào giảng dạy; Sự am hiểu về các vấn đề văn hóa xã hội [37]

Theo tác giả Nguyễn Hải Thập (2009), trong một nghiên cứu thực hiện Luật Viên Chức tác giả cho rằng, để đảm bảo thắng lợi cho sự nghiệp chấn hưng nền giáo dục, phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý cần được thực hiện trên nền tảng pháp lý vững chắc, đó là các văn bản pháp luật có giá trị pháp lý cao. Đồng thời, cần thực hiện việc “luật hóa” các quan điểm, chủ trương của Đảng đó là: Tôn vinh nhà giáo và nghề dạy học, nâng cao vị trí xã hội của nhà giáo; Đào tạo đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý; Bồi dưỡng phẩm chất, năng lực, chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý; Chăm lo đời sống vất chất và tinh thần của đội ngũ nhà giáo vá cán bộ quản lý; Quản lý sử dụng đãi ngộ đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý [13]

Theo công trình nghiên cứu của tác giả Trần Bá Hoành (2010), kết quả nghiên cứu cho thấy, cơ cấu đội ngũ giáo viên không đồng bộ, không đáp ứng yêu cầu chuyển biến trường phổ thông về mục tiêu và tính chất, đổi mới kế hoạch đào tạo. Tác giả cho rằng, sự không đồng bộ trong cơ cấu ĐNGV là một nhược điểm nổi bật làm ảnh hưởng lớn đến nội dung giáo dục toàn diện và sự chuyển biến về tính chất trường THCS. Qua đó, tác giả đã có những kiến nghị như: Giữ lấy đội ngũ giáo viên hiện có, nhất là GV có thâm niên; Sử dụng hợp lý ĐNGV hiện có; Liên kết cả trong và ngoài ngành về đào tạo bồi dưỡng cho ĐGVN; Rút kinh nghiệm trong công tác hướng nghiệp sư phạm, nâng cao chất lượng cho các trường trung học và cao đẳng sư phạm [30, tr.267]

Ngoài ra, theo Đặng Quốc Bảo, Đỗ Quốc Anh và Đinh Thị Kim Thoa (2011), các tác giả đã đề cập đến những vấn đề về phẩm chất, năng lực của người thầy, nghề thầy trong bối cảnh có nhiều sự phát triển. Nhóm tác giả đã đề ra các con đường để người thầy tự tìm hiểu nâng cao được phẩm chất, năng lực của bản thân, đáp ứng yêu cầu của nhà giáo trong điều kiện đất nước thực hiện hội nhập và công nghiệp hóa, đưa giáo dục vào sự chuẩn hóa, hiện đại hóa [20]

Nghiên cứu khác của Nguyễn Danh Hữu (2016) tác giả đã xác định các nhóm năng lực sư phạm cơ bản của người giáo viên cần được đào tạo và bồi dưỡng phát triển, cụ thể như: (1) Nhóm năng lực về phẩm chất đạo đức (Thế giới quan đóng vai trò nền tảng, định hướng thái độ hành vi ứng xử của giáo viên với thế giới tự nhiên và xã hội; lòng yêu trẻ; ứng xử bình đẳng, dân chủ, tôn trọng nhân cách của người học, biết hợp tác với người học trong quá trình dạy học, giáo dục; lòng yêu nghề, cam kết trách nhiệm với nghề); (2) Nhóm năng lực dạy học và giáo dục (năng lực chuẩn đoán, tìm hiểu nhu cầu đối tượng dạy học, giáo dục; năng lực thiết kế kế hoạch giáo dục, dạy học; năng lực tổ chức thực hiện kế hoạch giáo dục, dạy học; năng lực giám sát, đánh giá kết quả hoạt động dạy học, giáo dục; năng lực giải quyết vấn đề nảy sinh trong thực tiễn, năng lực dạy học tích hợp, dạy học phân hóa, dạy học vì sự phát triển bền vững [12] Luận văn: Quản lý đội ngũ giáo viên trường Trung học.

Nghị quyết TW khóa VIII đã nêu: “Khâu then chốt để thực hiện chiến lược phát triển giáo dục là phải đặc biệt chăm lo đào tạo, bồi dưỡng và chuẩn hóa đội ngũ giáo viên cũng như cán bộ quản lý giáo dục”. Trong chiến lược phát triển giáo dục 2011 – 2020 của Chính phủ cũng nêu rõ: “Phát triển đội ngũ nhà giáo đảm bảo đủ về số lượng, hợp lý về cơ cấu và chuẩn về chất lượng đáp ứng yêu cầu vừa tăng quy mô, vừa nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục” [11]. Những năm gần đây Đảng, Nhà nước còn có nhiều Chỉ thị, Nghị quyết, các chế độ chính sách để quan tâm tới đội ngũ giáo viên. Điều mong muốn là đất nước ta trở thành một xã hội học tập, trong đó đội ngũ thầy cô giáo có năng lực, trình độ ngang tầm với sự phát triển của thời đại.

Xuất phát từ những tư tưởng có định hướng đó, nhiều công trình nghiên cứu về đội ngũ giáo viên đã được triển khai và gần đây cũng đã có một số đề tài khoa học nghiên cứu về việc xây dựng, quản lý, phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên của các trường và các cơ sở giáo dục như các luận văn Thạc sĩ quản lý giáo dục của các tác giả sau:“Thực trạng và giải pháp quản lý đội ngũ giảng viên trường Cao đẳng sư phạm Đăklăk”, (2008), của tác giả Phạm Văn Luật;“Thực trạng và biện pháp quản lý đội ngũ giảng viên ở trường ĐHSP TPHCM”, (2008) tác giả Nguyễn Kỷ Trung;“Các biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên của hiệu trưởng trường THPT đạt chuẩn quốc gia ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu”, (2007), tác giả Lã Thị Oanh ;“Thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên ở các trường THPT huyện Tân Thành, tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu và các giải pháp (2008), tác giả Nguyễn Hữu Thọ;“Thực trạng và giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên THPT tại tỉnh Bình Thuận (2008), của tác giả Đặng Thị Nhâm;Phát triển đội ngũ giáo viên trung học phổ thông đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện trên địa bàn tỉnh Hải Dương (2016), của tác giả Nguyễn Chí Dương;“Thực trạng công tác phát triển đội ngũ giáo viên THPT tỉnh Cà Mau (2009), của tác giả Lê Văn Ngoạn.Trong đó, công trình nghiên cứu của Nguyễn Chí Dương (2016) cho thấy, về việc đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông hiện nay còn nhiều hạn chế, về nội dung: phần lớn CBQL – GV đều có câu trả lời không đầy đủ, chưa hiểu được bản chất của đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục; Về nội dụng dạy học theo hướng tích hợp: 100% gv đều trả lời không có khả năng dạy học tích hợp theo hướng liên môn, như: khoa học tự nhiên, khoa học xã hội. GV chỉ tự tin có thể dạy học tích hợp theo từng nội dung giáo dục, bao gồm: lồng ghép giáo dục đạo đức lối sống, giáo dục pháp luật, giáo dục chủ quyền biển đảo, giáo dục an toàn giao thông, bảo vệ môi trường; Về nội dung dạy học và đánh giá kết quả theo hướng tiếp cận năng lực người học: 100% GV không xác định thế nào là tiếp cận năng lực và thế nào là tiếp cận năng lực người học; Về nội dung sử dụng công nghệ thông tin trong việc tự học nâng cao chất lượng chuyên môn và sử dụng công nghệ trong dạy học: 100% có máy vi tính cá nhân, tuy nhiên chỉ có 30% GV sử dụng Internet để cập nhật thêm thông tin về kiến thức các môn học và một tỉ lệ nhỏ GV sử dụng giáo án điện tử. Từ đó, theo tác giả để phát triển ĐNGV đủ năng lực thực hiện chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện, đáp ứng nhu cầu phát triển đổi mới giáo dục hiện nay cần phải có những giải pháp đồng bộ từ nghiên cứu về nhu cầu người học đến kế hoạch phát triển đủ về số lượng, nâng cao chất lượng, cũng như xây dựng môi trường giáo dục phù hợp [11]

Như vậy, công tác quản lý đội ngũ giáo viên hiện nay là một vấn đề vừa quan trọng, được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều cơ quan quản lý, quản lý giáo dục và đào tạo, nhiều nhà khoa học và đông đảo giáo viên. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu này mới chỉ tập trung vào những góc cạnh và một số nội dung nhất định mang tính lý luận chung của công tác quản lý đội ngũ giáo viên. Việc ứng dụng các kết quả nghiên cứu vào từng địa phương cụ thể chưa được triển khai rộng rãi. Do vậy, việc nghiên cứu ứng dụng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý đội ngũ giáo viên ở các địa phương cụ thể là cần thiết. Vì vậy đề tài luận văn thạc sĩ “Thực trạng công tác quản lý đội ngũ giáo viên trường Trung học cơ sở huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương trong bối cảnh đổi mới giáo dục”,sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo trong các trường THCS trên địa bàn huyện Bàu Bàng, tỉnh Bình Dương.

1.2. Quản lý và các chức năng quản lý Luận văn: Quản lý đội ngũ giáo viên trường Trung học.

Theo FW.Taylor (1856 – 1915) cho rằng, “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và sẽ làm cái đó bằng những phương pháp tốt nhất, rẻ nhất” [46].

Ngoài ra, theo Henry Fayol (1841 – 1925) quan điểm rằng “Quản lý là dự đoán và lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp, kiểm tra” [42, tr.85].

Tác giả Phan Văn Kha (2007) cho rằng : “quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên thuộc một hệ thống, đơn vị việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt được mục đích đã định” [24]

Theo Nguyễn Lộc (2009) quan niệm rằng, “Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên tổ chức và sử dụng tất cả những nguồn lực sẵn có của tổ chức để đạt được các mục tiêu của nó” [15, tr.12]

Mặt khác, theo Đặng Ngọc Lợi (2003) cho rằng, “Khoa học quản lý là ngành khoa học nghiên cứu các quan hệ quản lý trong một hệ thống tổ chức và những cách thức tổ chức, thực hiện,…của chủ thể tới đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu và hiệu quả mong muốn”. Mối quan hệ này được thể hiện qua sơ đồ 1.1 như sau:

Sơ đồ 1.1. Hệ thống quản lý và quan hệ quản lý (Nguồn: Đặng Ngọc Lợi, 2003, tr.10) [2]

Theo đó, chức năng quản lý là một thể thống nhất giữa những tác động tất yếu của chủ thể quản lý nảy sinh từ sự phân công, chuyên môn hóa trong hoạt động quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý (Đặng Ngọc Lợi, 2003, tr.20).

Tuy chức năng quản lý có nhiều quan niệm khác nhau nhưng nhìn chung, chức năng quản lý bao gồm lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra, cụ thể:

  • Chức năng lập kế hoạch: Là nhằm hoàn thành các mục tiêu của tổ chức. Kế hoạch là việc duy nhất liên quan đến việc thiết lập các mục tiêu cần thiết cho sự phấn đấu của tập thể. Vì vậy, lập kế hoạch là nền tảng của quản lý;
  • Chức năng tổ chức: Là sự tổng hợp các hoạt động cần thiết để đạt được các mục tiêu. Đó là việc xây dựng và duy trì cơ cấu nhất định về những vai trò, nhiệm vụ và vị trí công tác trong tồ chức. Hay, chức năng tổ chức là sự phân chia các nhiệm vụ thành những công việc, trao quyền hạn, xác định những nguyên tắc và quyền quyết định cho từng bộ phận;
  • Chức năng lãnh đạo: Là sự tác động, như một nghệ thuật hay một quá trình tác động đến con người sao cho họ tự nguyện và nhiệt tình phấn đấu để đạt được các mục tiêu của tổ chức;
  • Chức năng kiểm tra: Là quá trình đo lường hoạt động và kết quả hoạt động của tổ chức trên cơ sở các tiêu chuẩn đã được xác lập nhằm tìm ra những ưu điểm, những mặt hạn chế để điều chỉnh việc lập kế hoạch, tổ chức và lãnh đạo.

Từ đó, theo phạm vi nghiên cứu đề tài, quản lý được hiểu là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên trong hệ thống nhằm đạt hiệu quả về việc tuyển dụng, sử dụng, đào tạo – bồi dưỡng, chính sách của giáo viên trường trung học cơ sở. Luận văn: Quản lý đội ngũ giáo viên trường Trung học.

1.3. Nguồn nhân lực và quản lý nguồn nhân lực

1.3.1. Khái niệm

Nguồn nhân lực (human resources), là nguồn lực con người, yếu tố quan trọng, năng động nhất của tăng trưởng và phát triển, hay nguồn nhân lực là nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động do pháp luật lao động quy định [18, tr.18].

Quản lý nguồn nhân lực “là thiết kế các chính sách và thực hiện các lĩnh vực hoạt động nhằm làm cho con người đóng góp giá trị hữu hiệu nhất cho tổ chức, bao gồm các lĩnh vực như hoạch định nguồn nhân lực, phân tích và thiết kế công việc, chiêu mộ và lựa chọn, đánh giá thành tích, đào tạo và phát triển, thù lao, sức khỏe và an toàn nhân viên, và tương quan lao động” [36]

Theo Trần Kim Dung (2006), quản trị nguồn nhân lực là hệ thống các triết lý, chính sách và hoạt động chức năng về thu hút, đào tạo phát triển và duy trì con người của tổ chức nhằm đạt được kết quả tối ưu cho cả tổ chức lẫn nhân viên [33, tr.4]

1.3.2. Các mô hình quản lý nguồn nhân lực

Sơ đồ 1.2: Mô hình quản lý nguồn nhân lực [38, p.9]

Ngoài ra, theo Trần Kim Dung (2006), mô hình quản lý nguồn nhân lực được phát triển từ mô hình của Đại học Michigan để phù hợp với điều kiện của Việt Nam thể hiện qua sơ đồ 1.3 như sau:

Theo các yếu tố môi trường

Sơ đồ 1.3: Mô hình quản lý nguồn nhân lực

Mô hình được phát triển trên cơ sở điều chỉnh từ mô hình quản lý nguồn nhân lực của đại học Michigan, bao gồm những ý tưởng như: Quản lý nguồn nhân lực sẽ được thực hiện như môt chiến lược chức năng, bao gồm: thu hút, đào tạo – phát triển và duy trì nguồn nhân lực có tầm quan trọng như nhau, có mối quan hệ chặt chẽ và hỗ trợ cho mục tiêu quản lý; Sứ mạng mục tiêu là yếu tố quan trọng, từ mục tiêu tác động đến các chức năng tương ứng; Hệ thống quản trị nguồn nhân lực có mối quan hệ chặt chẽ, đồng bộ với văn hóa và cơ chế tổ chức và chịu sự tác động mạnh từ yếu tố môi trường như kinh tế, luật pháp, trình độ – công nghệ, điều kiện tự nhiên. Đồng thời, từ các cơ chế hoạt động, văn hóa tổ chức, tác động và hỗ trợ lẫn nhau tạo nên giá trị riêng của tổ chức đó [33, tr. 18]

1.3.3. Nội dung cơ bản của quản lý nguồn nhân lực Luận văn: Quản lý đội ngũ giáo viên trường Trung học.

Các hoạt động quản lý nguồn nhân lực được thể hiện qua các nội dung chính bao gồm: hoạch định, phân tích và thiết kế công việc, tuyển chọn, đánh giá, thù lao, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, cụ thể như:

Hoạch định nguồn nhân lực: Quá trình hoạch định nhằm đáp ứng nhu cầu nguồn nhân lực cho tổ chức trong bối cảnh tác động từ các yếu tố môi trường, bao gồm dự báo nhu cầu nguồn nhân lực, phát triển các chương trình nhằm đảm bảo về số lượng và chất lượng mong muốn cho tổ chức;

Phân tích và thiết kế công việc: Phân tích công việc là quá trình thu thập, phân tích và sắp xếp một cách hệ thống thông tin về đặc điểm của công việc cụ thể nhằm thiết lập hệ thống chọn lựa và bồi dưỡng, thù lao theo yêu cầu công việc;

Tuyển mộ và lựa chọn: Nhằm thu hút và xác định ứng viên phù hợp với vị trí công việc đã được xác định;

Đánh giá thành tích: Đánh giá thành tích trở thành yếu tố quan trọng trong quá trình quản lý nguồn nhân lực, đánh giá nhằm xác định đúng năng lực đối tượng với thù lao tương ứng;

Đào tạo và phát triển: Vời điều kiện tự nhiên và khoa học công nghệ ngày càng phát triển, đạo tạo và phát triển nhằm đáp ứng cho công việc mới hay đảm bảo đáp ứng những thay đổi về công nghệ và quy trình mới;

Thù lao: Việc thù lao theo năng lực thực hiện của từng cá nhân trong tổ chức là cơ sở quan trọng để kích thích cho người hoàn thành mục tiêu nhiệm vụ, thù lao thường thực hiện trực tiếp như trả lương cho người lao động, thù lao gián tiếp như các lợi ích khác nhau cho người lao động [33]

1.3.4. Quản lý nguồn nhân lực nhằm tạo ra lợi thế cạnh tranh cho tổ chức

Theo Trần Công Thành (2012), để tạo ra lợi thế cạnh tranh cho tổ chức thì công tác quản lý nguồn nhân lực tài năng là rất quan trọng. Qua nghiên cứu lý thuyết và thực tiễn, tác giá đã chỉ ra một số quan điểm về quản lý tài năng như: Phát triển thông qua việc sử dụng các chương trình đào tạo và phát triển lãnh đạo; Quá trình tuyển dụng theo phòng ban của một công ty cần phải chuyển sang thu hút và gìn giữ tài năng trong toàn bộ tổ chức; Quản lý bằng việc lên kế hoạch và phát triển lãnh đạo; Sử dụng các quy trình quản lý thể hiện và trả công; Thực hiện các quy trình được thiết kế đảm bảo một nguồn cung cấp nhân lực thỏa đáng cho các vị trí công việc trong toàn bộ tổ chức; Tài năng là nguồn lực cần thiết được quản lý trước tiên theo các cấp độ thể hiện; Quản lý tài năng là các hoạt động và quy trình liên quan đến việc xác định một cách có hệ thống các vị trí chủ chốt tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững cho tổ chức, phát triển một nhóm tài năng gồm những nhân viên làm việc hiệu quả và có tiềm năng cao để đáp ứng yêu cầu của các vị trí chủ chốt và phát triển một cấu trúc nguồn nhân lực được phân biệt hóa để tạo điều kiện cho việc đáp ứng các vị trí chủ chốt bằng những nhân viên giỏi thích hợp, đảm bảo sự gắn bó liên tục của họ với tổ chức [31, tr.167 -176]

Theo đó, để quản lý nguồn nhân lực tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững cho tổ chức, nhà quản lý cần phải nhận thức được vai trò quan trọng của nguồn nhân lực tài năng (có khả năng làm tốt công việc tại vị trí nhiệm vụ được tổ chức giao phó) để xây dựng kế hoạch tuyển chọn, sử dụng cũng như thực hiện chính sách đào tạo và đãi ngộ thích hợp nhằm gìn giữ và phát triển nguồn nhân lực chủ chốt của tổ chức.

1.4. Quản lý giáo dục Luận văn: Quản lý đội ngũ giáo viên trường Trung học.

Có nhiều quan điểm về quản lý giáo dục, tuy nhiên nổi bật nhất là quan điểm của tác giả Trần Kiểm về quản lý giáo dục. Tác giả đã quy ước quản lý giáo dục cấp vĩ mô là việc quản lý một nền giáo dục hoặc hệ thống giáo dục, còn quản lý giáo dục cấp vi mô là việc quản lý một trường học hoặc một tổ chức giáo dục cấp cơ sở, cụ thể như:

Đối với cấp vĩ mô, quản lý giáo dục là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, kế hoạch, hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường), nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu của xã hội;

Đối với cấp vi mô, trong phạm vi nhà trường, hoạt động quản lý giáo dục bao gồm nhiều công tác như quản lý hoạt động dạy học, quản lý hoạt động giáo dục theo nghĩa hẹp, quản lý giáo viên, quản lý học sinh, quản lý tài chính, cơ sở vật chất nhằm thực hiện chất lượng và hiểu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường [32, tr.9 -12]

Theo Trần Kiểm (2012), quản lý giáo dục cũng giống như quản lý nói chung, bao gồm lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, kiểm tra, cụ thể như sau:

  • Lập kế hoạch quản lý giáo dục, bao gồm: Xây dựng mục tiêu, chương trình hành động, xác định từng bước đi, những phương tiện và điều kiện cần thiết trong một khoảng thời gian nhất định của hệ thống quản lý. Việc lập kế hoạch quản lý giáo dục cũng chia ra làm 2 cấp độ vĩ mô và vi mô. Bên cạnh đó, việc lập kế hoạch giáo dục cũng có thể phân chia theo thời gian bao gồm kế hoạch chiến lược ngắn và dài hạn;
  • Tổ chức trong quản lý giáo dục: Thiết kế các cấu trúc, các bộ phận sao cho phù hợp với mục tiêu của tổ chức giáo dục. Đồng thời, việc thực hiện chức năng này phải chú ý đến phương thức hoạt động, đến quyền hạn của từng bộ phận, tạo sự liên kết theo hàng ngang và hàng dọc. Đặc biệt chú ý đến việc bố trí các cán bộ quản lý – người vận hành các bộ phận của tổ chức;
  • Lãnh đạo trong quản lý giáo dục là quá trình chủ thể quản lý sử dụng quyền lực quản lý và tình cảm tác động đến đối tượng quản lý (con người, bộ phận) một cách có chủ đích nhằm phát huy hết tiềm năng của họ, hướng vào việc đạt mục đích chung cho toàn hệ thống. Ngoài ra, người lãnh đạo hệ thống phải có kiến thức chuyên môn, có kỹ năng thu hút người khác và năng lực tổ chức thực hiện quyết định.

Kiểm tra trong quản lý giáo dục: là một quá trình đo lường, thẩm định, xác định một hành vi cụ thể của cá nhân hoặc tổ chức trong quá trình thực hiện quyết định. Mặt khác, có thể xem xét và kiểm nghiệm mức độ phù hợp của quá trình hoạt động của các đối tượng quản lý với các quyết định của tổ chức đã được xây dựng [32, tr.47 -80].

Theo đó, QLGD là hoạt động có mục tiêu, có kế hoạch, phù hợp với quy luật của chủ thể quản lý lên các đối tượng quản lý thông qua thực hiện các chức năng quản lý nhằm làm cho hệ thống giáo dục được vận hành và đảm bảo đạt mục tiêu giáo dục đã đề ra.

1.5. Đổi mới giáo dục THCS và yêu cầu đặt ra đối với đội ngũ giáo viên trường THCS Luận văn: Quản lý đội ngũ giáo viên trường Trung học.

1.5.1. Vai trò và đặc điểm lao động sư phạm của giáo viên THCS

Trong giai đoạn hiện nay, GV có vai trò xã hội rộng hơn nhiều so với chức năng truyền đạt tri thức, giáo viên là một trong những nhân tố quan trọng quyết định chất lượng giáo dục và đào tạo. Từ đó, GV trước hết phải là nhà giáo dục, người giáo viên cần phải là những người có ý thức trách nhiệm, khiêm tốn, giản dị, chan hòa, sẵn sàng giúp đỡ mọi người và là tấm gương sáng để cho các thế hệ trẻ học sinh noi theo. Người giáo viên phải có lòng yêu quý học sinh và yêu nghề. Lòng yêu quý học sinh là một phẩm chất đạo đức cao quý của con người là một phẩm chất đặc trưng trong nhân cách của nhà giáo. Chính tình yêu này làm tăng khả năng tương tác giữa thầy và trò, tạo sự gần gũi, ân cần, khoan dung, công bằng nhằm mang lại kết quả học tập hiệu quả. Mặt khác, giáo viên ngày nay phải biết tôn trọng nhân cách học sinh, biết hợp tác với học sinh trong quá trình hoạt động sẽ tạo nên bầu không khí dân chủ trong lớp. Ngoài ra, xuất phát từ lòng yêu quý học sinh sẽ giúp giáo viên vượt qua những khó khăn để thực hiện nhiệm vụ chuyên môn với tinh thần trách nhiệm cao, lòng đam mê, sáng tạo, từ đó hoàn thiện và gắn bó với sự nghiệp [30, tr.20]

Đặc điểm lao động của giáo viên nói chung và giáo viên THCS đều có những đặc điểm quan trọng trong lĩnh vực lao động sư phạm. Trong suốt quá trình lao động, giáo viên luôn tạo ra sự tương tác giữa thầy với trò, trò với trò, thầy với thầy và nhà trường với cộng đồng xã hội. Mục đích LĐSP của giáo viên là đào tạo thế hệ trẻ thành lực lượng lao động đáp ứng với yêu cầu xã hội. Ngoài ra, trong quá trình LĐSP thì đối tượng của LĐSP là HS và công cụ chủ yếu là nhân cách của người GV. Đồng thời,sản phẩm của LĐSP là những nhân cách. Như vậy, trong LĐSP, đối tượng lao động là con người, công cụ chủ yếu là con người, sản phẩm cũng là con người. Từ đó, mục đích,nhiệm vụ, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học/giáo dục đều được quy định bởi các yếu tố xã hội, được thực hiện dưới hình thức các mối quan hệ giữa người và người. Đặc điểm này cho thấy nhân cách nhà giáo, năng lực giao tiếp xã hội là những thành phần quan trọng trong chất lượng người GV [30, tr.16].

Mặt khác, hoạt động lao động sư phạm của người giáo viên không chỉ thể hiện qua mối tương quan trực tiếp là con người, tái sản xuất mở rộng sức lao động xã hội và công cụ chủ yếu là nhân cách của chính mình mà còn là nghề đòi hỏi tính khoa học, tính nghệ thuật và sáng tạo cao. Từ đó, người thầy phải dựa trên những nền tảng khoa học xác định, khoa học bộ môn, cũng như khoa học giáo dục và có những kỹ năng sử dụng chúng vào từng tình huống sư phạm cụ thể, thích ứng từng cá nhân. Bên cạnh đó, lao động sư phạm còn là nghề lao động trí óc chuyên nghiệp, khác với người lao động chân tay, người lao động trí óc luôn trăn trở ngày đêm, xử lý nhiều tình huống sư phạm phức tạp để cho ra sản phẩm. Lao động sư phạm của người thầy còn có “quán tính” của trí tuệ, có khi ra khỏi lớp học thầy giáo còn miên man suy nghĩ về cách chứng minh một định lý, suy nghĩ về một trường hợp chậm hiểu của học sinh. Do đó, từ những đặc điểm trên, công việc của người sư phạm không hẵn “đóng khung” trong lớp học mà còn là khối lượng chất lượng và tính sáng tạo [7, tr.127]

1.5.2. Giáo viên THCS Luận văn: Quản lý đội ngũ giáo viên trường Trung học.

Theo từ điển Giáo dục học thì giáo viên là “chức danh nghề nghiệp của người dạy học trong các trường phổ thông, trường nghề, và trường mầm non, đã tốt nghiệp tại các trường sư phạm sơ cấp, trung cấp, đại học hoặc sư phạm mẫu giáo” [4, tr.169]. Nhiệm vụ người giáo viên là truyền thụ những kiến thức và kinh nghiệm được quy định trong chương trình bộ môn của bậc học, cấp học, ngoài ra còn có trách nhiệm phụ đạo cho học sinh yếu và bồi dưỡng cho học sinh giỏi, năng khiếu. Ngoài ra, giáo viên không chỉ dạy tốt các kiến thức về chuyên môn mà còn bồi dưỡng tình cảm, tư tưởng, đạo đức để học sinh được phát triển toàn diện.

Theo quy định của luật Giáo dục, giáo viên là “Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm mon, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp trình độ sơ cấp, trung cấp nghề, TCCN gọi là giáo viên”. Như vậy, giáo viên là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục tại cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân theo qui định của cấp học. Hay nói cách khác, giáo viên là người làm nghề dạy học [25, tr.81]

Theo Thông tư 12/2011/TT-BGD-ĐT, ngày 23/03/2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định, giáo viên trường trung học là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường gồm: Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, giáo viên bộ môn, giáo viên làm công tác Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh (bí thư, phó bí thư hoặc trợ lý thanh niên, cố vấn Đoàn), giáo viên làm làm tổng phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh (đối với trường trung học có cấp tiểu học hoặc cấp THCS), giáo viên làm công tác tư vấn cho học sinh [28]

1.5.3. Đổi mới giáo dục THCS và yêu cầu đặt ra đối với đội ngũ giáo viên trường THCS

Theo Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về “Đổi mới căn bản, toàn diện Giáo dục và Đào tạo”, Đối với giáo dục phổ thông, việc đổi mới tập trung vào phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh…khuyến khích học tập suốt đời. Để đáp ứng nhu cầu đồi mới giáo dục THCS, phải xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục gắn liền với nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng và hội nhập. Đồng thời, thực hiện chuẩn hóa giáo viên, giáo viên trường THCS phải có trình độ đại học trở lên và có năng lực sư phạm [10]

Đổi mới chương trình sách giáo khoa và đổi mới phương pháp giảng dạy là một trong những nội dung đổi mới giáo dục phổ thông, để đổi mới giáo dục phổ thông đòi hỏi phải đỏi mới căn bản chương trình đào tạo giáo viên. Qua nghiên cứu thực trạng, tác giả cho thấy các cơ sở đào tạo giáo viên chưa cung cấp giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục đáp ứng với chương trình giáo dục đổi mới hiện nay, vì chương trình giáo dục phổ thông hiện nay có những thay đổi lớn cả về định hướng, mục tiêu và cấu trúc chương trình. Chính vì vậy, các cở sở đào tạo đội ngũ giáo viên phổ thông phải chú ý: rèn luyện kỹ năng nghề nghiệp; cân đối giữa đào tạo kiến thức khoa học chuyên ngành, nội dung nghiệp vụ sự phạm và giá trị nghề nghiệp; tích hợp các năng lực nghề nghiệp trong tất cả các yếu tố cấu trúc chương trình đào tạo, cân đối giữa đào tạo năng lực giáo dục với năng lực dạy học môn học; vận dụng phương phức đào tạo gắn kết thường xuyên với môi trường giáo dục ở nhà trường phổ thông; chương trình có chuẩn đầu ra được xây dựng trên cơ sở chuẩn nghề nghiệp giáo viên đã đuợc Bộ Giáo dục và đào tạo ban hành, trong đó đặc biệt chú ý đào tạo năng lực dạy học tích hợp, dạy học phân hóa trên cơ sở thiết kế nội dung đào tạo vừa đảm bảo cung cấp tri thức rộng nền tảng, vừa phát triển tri thức chuyên ngành sâu [4, tr.9]

Từ đó, để đáp ứng nhu cầu đổi mới giáo dục THCS hiện nay, đội ngũ giáo viên phải tốt nghiệp đại học, đủ tiêu chuẩn, đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ sư phạm và hoàn thành tốt nghiệm vụ được giao tại trường THCS.

1.5.4. Đội ngũ giáo viên THCS Luận văn: Quản lý đội ngũ giáo viên trường Trung học.

Theo từ điển giáo dục, ĐNGV được định nghĩa là “tập thể những người đảm nhiệm công tác giáo dục và dạy học có đủ tiêu chuẩn đạo đức, chuyên môn và nghiệp vụ quy định…là lực lượng quyết định hoạt động giáo dục của nhà trường cho nên đặc biệt quan tâm xây dựng mọi mặt, phải có đủ số lượng, phù hợp với cơ cấu giảng dạy của các bộ môn, phải đảm bảo tỷ lệ cân đối giữa nam và nữ, giữa lớp già với lớp trẻ” [35, tr.95]. Mặt khác, theo Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 BCHTW Đảng khóa VIII, ĐNGV được coi là lực lượng nòng cốt để biến các mục tiêu giáo dục thành hiện thực, giữ vai trò quyết định chất lượng và hiệu quả giáo dục. Từ đó, ĐNGV là tập hợp những người làm nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục trong nhà trường hoặc các cơ sở giáo dục khác bao gồm cán bộ quản lý, giáo viên có đủ tiêu chuẩn, đạo đức, chuyên môn và nghiệp vụ theo quy định [21, tr.41].

Theo Nguyễn Lộc, Mạc Văn Trang và Nguyễn Công Giáp (2009), khái niệm của QLNS trong giáo dục “là hoạt động của chủ thể quản lý gồm tuyển chọn, sử dụng, duy trì, phát triển và động viên, tạo những điều kiện thuận lợi cho cán bộ, giáo viên, công nhân viên làm việc có hiệu quả nhằm đạt được những mục tiêu của tổ chức giáo dục – đào tạo, đồng thời cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của họ ngày một tốt hơn” [14, tr.145].

Từ đó, khái niệm QLĐNGV được hiểu là hoạt động của chủ thể quản lý gồm tuyển chọn, sử dụng, duy trì, phát triển và động viên, tạo điều kiện thuận lợi cho đội ngũ giáo viên làm việc có hiệu quả nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức giáo dục – đào tạo, đồng thời đời sống vật chất và tinh thần của đội ngũ giáo viên được cải thiện tốt hơn.

Theo phạm vi đề tài này, quản lý đội ngũ giáo viên trường THCS được định nghĩa là hoạt động của chủ thể quản lý gồm tuyển chọn, sử dụng, duy trì, phát triển và động viên, tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ quản lý, giáo viên có đủ tiêu chuẩn, đạo đức, chuyên môn và nghiệp vụ theo quy định đang làm công tác giảng dạy tại trường THCS có hiệu quả, nhằm đạt được mục tiêu của nhà trường và cải thiện đời sống vật chất lẫn tinh thần cho cán bộ quản lý, giáo viên của trường THCS tạo lợi thế cạnh tranh cho nhà trường trong thời kỳ mới.

1.5.5. Yêu cầu về khung phẩm chất, năng lực của giáo viên THCS trong bối cảnh đổi mới giáo dục

Năng lực là một thuật ngữ khoa học, có nhiều quan điểm khác nhau về thuật ngữ này, Năng lực được dịch sang Tiếng nước ngoài là ability, aptitude, capability, competence và skill.

Theo Guofang Wan, Dianne M. Gut (2011) định nghĩa rằng, năng lực là sự tích hợp và kết nối nhu cầu bên ngoài (yêu cầu của bối cảnh, tình huống) với đặc điểm cá nhân (kiến thức, kỹ năng nhận thức, kỹ năng thực hành, thái độ, tình cảm, giá trị và đạo đức, động cơ) để thực hiện thành công nhiệm vụ [40].

Một định nghĩa khác về năng lực, theo Dubios (1998) cho rằng, năng lực là những đặc điểm như kiến thức, kỹ năng, tư duy, tư tưởng… được sử dụng riêng biệt hoặc kết hợp với nhau sẽ mang lại thành công trong công việc [39]

Tuy nhiên năng lực không đồng nghĩa với kỹ năng, theo tác giả T. Lobanova, Yu. Shunin (2008) đã phân tích được sự khác nhau giữa năng lực và kỹ năng. Theo ông năng lực là hệ thống các hành động phức tạp bao gồm các kỹ năng nhận thức, kỹ năng thực hành và các thành phần phi nhận thức khác như thái độ, xúc cảm, động cơ, giá trị, đạo đức. Trong khi kỹ năng là khả năng thực hiện các hành động nhận thức và thực hành một cách thành thạo, chính xác và thích ứng với những điều kiện luôn thay đổi [44, tr.45-65]. Luận văn: Quản lý đội ngũ giáo viên trường Trung học.

Ngoài ra, theo các tác giả Lee Meng Foon (2010), Step, UNESCO (2011), C. Psych (2013) nghiên cứu từ mô hình tảng băng trôicho thấy khung quản lý tài năng con người dựa vào năng lực, cụ thể như:

Một số yếu tố (phần nổi) gọi là năng lực kỹ thuật, thường dễ dàng xác định và quản lý được như: kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm của người GV được thể hiện thông qua các hoạt động dạy học, phát triển chuyên môn nghiệp vụ, hoạt động xã hội;

Một số yếu tố (phần chìm) gọi là năng lực ứng xử hay “động cơ điều khiển hành vi” như: thái độ, động lực tự thân, niềm tin, lòng yêu nước, ý thức yêu nước của người giáo viên. Năng lực thường biểu hiện ở tác phong, tư chất, động cơ làm việc, đạo đức nghề nghiệp của người giáo viên [43, tr.1037-1059].

Theo Trần Bá Hoành (2010), năng lực nghề nghiệp của giáo viên THCS là khả năng thực hiện các hoạt động dạy học hay hoạt động giáo dục với chất lượng cao. Năng lực được bộc lộ trong hoạt động và gắn liền với kiến thức, một số kỹ năng và thái độ của giáo viên. Theo chức năng của giáo viên, năng lực củagiáo viên thuộc hai nhóm năng lực dạy học và giáo dục, gọi chung là năng lực sư phạm cụ thể:

Năng lực chuẩn đoán nhu cầu và đặc điểm đối tượng dạy học – giáo dục: Trong năng lực này, giáo viên có khả năng phát hiện, nhận biết đầy đủ, chính xác và kịp thời sự phát triển của học sinh, cũng như những nhu cầu, tính cách và hoàn cảnh của từng học sinh tại trường. Năng lực này bao gồm kỹ năng soạn phiếu phỏng vấn, tổ chức điều tra cơ bản, xây dựng hồ sơ đối tượng dạy học – giáo dục;

Năng lực thiết kế kế hoạch: Năng lực này rất cần thiết cho hoạt động dạy học – giáo dục,được tiến hành có mục đích, có kế hoạch dưới sự chỉ đạo sát sao của GV, bao gồm kỹ năng nghiên cứu mục tiêu, nội dung chương trình sách giáo khoa, cấp học, lớp học, môn học, dựa vào những đối tượng đã khảo sát lập kế hoạch phù hợp, có thể thi, kiểm tra đánh giá được. Đồng thời, kế hoạch được xây dựng kịp thời đáp ứng với nhu cầu của học sinh và yêu cầu của mục tiêu giáo dục;

(3) Năng lực tổ chức thực hiện kế hoạch: Là việc biến các mục tiêu và kế hoạch dự kiến thành hiện thực thông qua các hoạt động giáo dục thích hợp. Năng lực đòi hỏi phải có các kỹ năng vận dụng tri thức khoa học chuyên môn, khoa học giáo dục đã được đào tạo và tích lũy cũng như khả năng linh hoạt lựa chọn, phối hợp vận dụng hợp lý với hoàn cảnh thay đổi. Đồng thời, biết sử dụng các phương tiện vào dạy học, biết phát triển năng lực tự học của HS, phát triển vốn hiểu lý luận vào thực tiễn và nâng cao năng lực nghề nghiệp. Bên cạnh đó, năng lực này cũng đòi hỏi người giáo viên phải có kỹ năng giao tiếp, kỹ năng quản lý hoạt động dạy học – giáo dục trong phạm vi trách nhiệm của mình. Đặc biệt, có khả năng thu hút sự tham gia các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường, biết khích lệ, động viên học sinh nhằm đạt mục tiêu đề ra;

Năng lực giám sát và đánh giá kết quả học tập: GV không chỉ đánh giá chính xác, công bằng mà còn phải giúp HS tự đánh giá và đánh giá với nhau. Đồng thời, giúp HS tự điều chỉnh cách học để mang lại hiệu quả cũng như có khả năng tự đánh giá và điều chính cách dạy phù hợp. Ngoài ra, GV không chỉ vận dụng những PP kiểm tra truyền thống mà còn biết cách sử dụng những PP kiểm tra hiện đại và có kỹ năng thiết kế, xây dựng chuẩn đánh giá, xử lý kết quả kiểm tra;

Năng lực giải quyết vấn đề nảy sinh trong thực tiễn: GV phải có năng lực nghiên cứu, có thói quen giải quyết vấn đề bằng con đường nghiên cứu khoa học và những kỹ năng như: phát hiện, nhận dạng, phát biểu vấn đề cần giải quyết, bố trí điều tra cơ bản, xây dựng đề cương nghiên cứu, thực nghiệm, xử lý, viết báo cáo, triển khai kết quả nghiên cứu và rút kinh nghiệm [30, tr.23]. Luận văn: Quản lý đội ngũ giáo viên trường Trung học.

Bên cạnh đó, theo Thông tư 30/2009/TT-BGDĐT ngày 22 tháng 10 năm 2009 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành khung năng lực nghề nghiệp của giáo viên THCS bao gồm: Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống (đạo đức nghề nghiệp, ứng xử với học sinh, ứng xử với đồng nghiệp, lối sống, tác phong); Năng lực tìm hiểu đối tượng và môi trường giáo dục (thu thập và xử lý thông tin, sử dụng thông tin vào dạy học, giáo dục; có phương pháp thu thập thông tin); Năng lực dạy học (xây dựng kế hoạch, bảo đảm kiến thức môn học, chương trình môn học, vận dụng các phương pháp dạy học, phương tiện dạy học, xây dựng môi trường học tập, quản lý hồ sơ dạy học và kiểm tra kết quả học tập); Năng lực giáo dục (xây dựng các hoạt động giáo dục, giáo dục qua môn học, qua các hoạt động giáo dục, hoạt động cộng đồng, vận dụng các nguyên tắc, phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục, các nguyên tắc, tình huống cụ thể, đánh giá rèn luyện đạo đức học sinh); Năng lực hoạt động chính trị, xã hội (phối hợp với gia đình và cộng đồng giám sát việc học của học sinh, tham gia hoạt động chính trị xã hội); năng lực phát triển nghề nghiệp (Tự đánh giá, tự rèn luyện, phát hiện và giải quyết vấn đề nảy sinh trong thực tiễn) [27].

Từ đó, năng lực nghề nghiệp của giáo viên THCS trong giai đoạn hiện nay phải có khả năng thực hiện hiệu quả từ việc áp dụng những kiến thức, kỹ năng, thái độ vào thực tiễn trong quá trình thực hiện hoạt động dạy học hay giáo dục, cụ thể:

Về kiến thức (Knowledge):Giáo viên không chỉ có kiến thức vững vàng, sâu rộng về chuyên môn nghiệp vụ, có kiến thức cơ bản về khoa học giáo dục THCS mà còn có kiến thức về thiết kế, xây dựng, tổ chức thực hiện kế hoạch và kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh trường THCS. Đồng thời, hiểu về tâm lý học, hoàn cảnh HSbậc THCS. Bên cạnh đó, người giáo viên cần phải có kiến thức rộng rãi về xã hội và về các ngành khoa học khác;

Về kỹ năng:Có kỹ năng xây dựng đề cương nghiên cứu, bảng phỏng vấn, xử lý và đưa kết quả nghiên cứu vào thực tiễn. Có khả năng giao tiếp, sự khéo léo trong ứng xử sư phạm; khả năng thực hiện các hoạt động giáo dục và dạy học đạt hiệu quả; khả năng lĩnh hội, khả năng độc lập sáng tạo và vận dụng PPDH và PP kiểm tra đánh giá thích hợp với nội dung, kỹ năng xử lý tình huống, thể hiện năng lực sư phạm; Khả năng định hướng, hướng dẫn, tổ chức, điều chỉnh, truyền đạt tri thức phù hợp với đặc trưng là đối tượng HS. Đồng thời, GV THCS có khả năng sử dụng ngôn ngữ, quan sát, đánh giá, vận động và cổ vũ cho học sinh THCS, giúp học sinh THCS hứng thú cũng như khám phá và sáng tạo trong học tập;

Về thái độ: Phải có lòng yêu quý học sinh, tôn trọng nhân cách học sinh và yêu nghề. Đồng thời, phải thực hiện chuyên môn với tinh thần trách nhiệm cao, biết đam mê, sáng tạo. Đặc biệt, phải tận tâm, mẫu mực, biết chia sẽ truyền cảm hứng hình thành niềm tin, giá trị cốt lõi với học sinh và gắn bó với sự nghiệp.

1.6. Quản lý đội ngũ giáo viên trường THCS trong bối cảnh đổi mới giáo dục

1.6.1. Quản lý nhà trường của hiệu trưởng THCS

Theo J.Krishnamurti cho rằng việc lập ra một ngôi trường mang ý nghĩa sống còn trong cuộc đời đứa trẻ là điều vô cùng quan trọng và điều quan trọng nhất là nhà trường nơi mà tất cả những người thầy nên đến với nhau một cách tự nguyện thoát ra khỏi thói thường của thế giới là cơ sở đúng đắn duy nhất cho một trung tâm giáo dục thực sự qua đó giúp các em trở thành con người toàn diện và có trí tuệ. Từ đó, nhà trường lý tưởng là một cơ sở giáo dục lớn và phát triển mạnh mà trong đó trẻ em được học cùng nhau, sản sinh ra những tài năng cho đất nước và không một giá trị nền tảng nào có thể đạt được nhờ vào sự giáo dục của đám đông, mà chỉ có thể nhờ vào việc học tập và thông hiểu những khó khăn, xu hướng và năng lực của từng đứa trẻ. [41, tr.98 – 102].

Theo Nguyễn Ngọc Quang (1990) cho rằng,“Quản lý nhà trường là những tập hợp tối ưu bao gồm: cộng tác, tham gia, hỗ trợ, phối hợp, huy động, can thiệp… của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và các cán bộ khác. Nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do nhà nước đầu tư, xã hội đóng góp, do lao động xây dựng và vốn lao động tự có hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường, mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ. Thực hiện có chất lượng mục tiêu và có kế hoạch đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới” [16 , tr.34] Luận văn: Quản lý đội ngũ giáo viên trường Trung học.

Theo Trần Thị Tuyết Oanh (2009) và nhóm nghiên cứu: “Nhà trường là một thiết chế xã hội chuyên biệt thực hiện chức năng cơ bản là tái sản xuất sức lao động, phát triển nhân cách theo hướng duy trì, phát triển xã hội. Nhà trường có chức năng hình thành và phát triển nhân cách thế hệ trẻ thông qua hoạt động dạy học và giáo dục. Tri thức trong nhà trường là những kinh nghiệm của nhân loại được chọn lọc và tích lũy. Nhà trường là tổ chức chuyên biệt có chức năng truyền thụ toàn bộ kinh nghiệm lịch sử của nhân loại cho thế hệ trẻ phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi nhằm hình thành và phát triển mô hình nhân cách lý tưởng của xã hội đặt ra”[34, tr.125]

Theo Thông tư 12/2011/TT-BGD&ĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định, quyền và nhiệm vụ của Hiệu trưởng trường THCS bao gồm: Xây dựng, tổ chức bộ máy nhà trường; thực hiện các quyết nghị của Hội đồng trường; Xây dựng quy hoạch phát triển nhà trường; xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch năm học; báo cáo, đánh giá kết quả thực hiện trước Hội đồng trường và các cấp có thẩm quyền; Thành lập các tổ chuyên môn, tổ văn phòng và các hội đồng tư vấn trong nhà trường; Quản lý giáo viên, nhân viên; quản lý chuyên môn; phân công công tác, kiểm tra, đánh giá xếp loại giáo viên, nhân viên; thực hiện công tác khen thưởng, kỷ luật đối với giáo viên, nhân viên,thực hiện việc tuyển dụng giáo viên, nhân viên; ký hợp đồng lao động; tiếp nhận, điều động giáo viên, nhân viên theo quy định của Nhà nước; Quản lý học sinh; Quản lý tài chính, tài sản nhà trường; thực hiện các chính sách của Nhà nước đối với đội ngũ giáo viên; Chỉ đạo thực hiện phong trào thi đua; Được đào tạo nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ [28]

Như vậy, quản lý nhà trường của hiệu trưởng trường THCS là quá trình tổng thể bao hàm các quá trình: lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, và kiểm tra đánh giá các mặt hoạt động của nhà trường với nội dung quản lý học sinh THCS, quản lý nguồn nhân lực, quản lý chuyên môn như: dự giờ, tham quan học tập, ghi chép các nội dung sinh hoạt chuyên môn của giáo viên, quản lý tài sản, cơ sở vật chất, tài chính, quản lý bán trú, theo dõi học sinh và quản lý các mối quan hệ giữa nhà trường với các tổ chức giáo dục ngoài nhà trường, xã hội. Trong phạm vi đề tài này, quản lý của hiệu trưởng là tập trung vào quản lý đội ngũ giáo viên trường THCS đáp ứng đối với sự đổi mới giáo dục.

1.6.2. Quản lý đội ngũ giáo viên của hiệu trưởng THCS tạo lợi thế cạnh tranh cho nhà trường

Theo tác giả Phi-lip-Yeo (chủ tịch Ủy ban phát triển kinh tế Singapore), trong phát biểu tại Hội nghị quốc tế tri thức (Kuala Lumpur, tháng 4 – 2000) cho rằng, trong thời kỳ kinh tế tri thức phát triển đòi hỏi ở người lãnh đạo phải có những phẩm chất năng lực như: Biết xử lý tốt thông tin, biến thông tin thành tri thức và áp dụng có hiệu quả; phân biệt nhanh được các ý tưởng tốt và xấu; nhận thức rõ trong quá trình tiếp xúc trực tiếp; kiên quyết hơn và dám chấp nhận mạo hiểm; biết tạo cảm hứng khích lệ người khác. Theo tác giả, trong thời đại đổi mới, người lãnh đạo, quản lý phải có năng lực tiếp thu, xử lý thông tin, biến thông tin thành tri thức và áp dụng vào công việc hằng ngày [10, tr.13-15]. Theo đó, quản lý đội ngũ giáo viên trường THCS để tạo lợi thế cạnh tranh cho nhà trường, người lãnh đạo, quản lý (Hiệu trưởng) phải có năng lực thu thập và xử lý tốt thông tin hiệu quả, xử lý và chỉ ra nguyên nhân của những ưu và hạn chế trong hoạt động quản lý đội ngũ giáo viên bao gồm: tuyển chọn, sử dụng, duy trì, phát triển và động viên, tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ quản lý, giáo viên có đủ tiêu chuẩn, đạo đức, chuyên môn và nghiệp vụ, nhằm đề xuất biện pháp xây dựng và phát triển đội ngũ giáo viên đáp ứng theo yêu cầu đổi mới giáo dục và tạo lợi thế cạnh tranh tại trường. Luận văn: Quản lý đội ngũ giáo viên trường Trung học.

1.6.3. Nội dung quản lý đội ngũ giáo viên của hiệu trưởng trường THCS trong bối cảnh đổi mới giáo dục

1.6.3.1. Lập kế hoạch phát triển đội ngũ giáo viên

Lập kế hoạch là việc làm bao gồm dự báo, xác định mục tiêu, xây dựng kế hoạch thực hiện mục tiêu. Đồng thời, trong quá trình thực hiện dự báo phải gắn liền với các biện pháp thực hiện và công tác lãnh đạo luôn được coi trọng. Lập kế hoạch cũng là một trong bốn chức năng quan trọng của quá trình quản lý và có vai trò rất quan trọng trong việc xác định phương hướng hoạt động và phát triển của tổ chức, đơn vị [32, tr.47].

Lập kế hoạch phát triển đội ngũ giáo viên là nội dung quan trọng được thực hiện đầu tiên trong quá trình quản lý. Kế hoạch cũng là công cụ quản lý hữu ích, giúp nhà quản lý định hướng ngay từ đầu và theo mục tiêu giáo dục nhà trường. Tuy nhiên để kế hoạch phát huy được tác dụng, và gần với thực tiễn, đáp ứng với nhu cầu điều kiện thực hiện của nhà trường, kế hoạch được xây dựng dựa trên những thông tin xác thực về đội ngũ giáo viên nhà trường, về nhu cầu sử dụng và khả năng nguồn lực hiện có của nhà trường. Để đạt được mục tiêu kế hoạch, cần phải xác định thực trạng về chất lượng đội ngũ giáo viên nhà trường, bao gồm sự nhận thức về vai trò đặc điểm của người giáo viên, phẩm chất đạo đức của nghề giáo, kiến thức chuyên môn, năng lực của người giáo viên tham gia hoạt động giáo dục. Đồng thời, phải bám sát theo hướng dẫn chỉ đạo của cấp trên, đưa ra dự báo về nhu cầu sử dụng, phân bổ giáo viên, nguyện vọng của từng giáo viên. Bên cạnh đó, kế hoạch được xây dựng có thể hiện thời gian bắt đầu và kết thúc phù hợp, và được xây dựng ngày từ đầu năm học, kỳ học. Trong đó, phải xác định cụ thể về mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức và cả tiêu chí để kiểm tra đánh giá khi thực hiện công tác quản lý đội ngũ giáo viên tại trường.

1.6.3.2. Quy hoạch và tuyển chọn đội ngũ giáo viên

Việc quy hoạch ĐNGV căn cứ vào mục tiêu quản lý phát triển ĐNGV trong chiến lược phát triển giáo dục 2011 – 2020. Quy hoạch phát triển nhân lực ngành giáo dục 2011 – 2020 mục tiêu chiến lược, sứ mệnh, tầm nhìn và giá trị của các cấp quản lý (từ cấp tổ bộ môn, khoa, trường..) đều tham gia vào công tác tổ chức thực hiện qui hoạch phát triển đội ngũ dựa trên hệ thống GV, cơ cấu GV, yêu cầu về phẩm chất, năng lực của đội ngũ GV. Đồng thời cần thực hiện đầy đủ các bước quy hoạch từ cấp bộ môn, khoa, dự báo, công khai dự báo, tổ chức thực hiện qui hoạch [19, tr.56]

Tuyển chọn đội ngũ giáo viên là quá trình ra thông báo tuyển chọn chức danh GV. Trước tiên, bộ phận hay cán bộ phụ trách công tác tuyển chọn phải nắm rõ tiêu chuẩn, khung năng lực GV, thông tin tuyển dụng, nội dung chức danh, vị trí, công việc cần tuyển. Công tác tuyển chọn GV bao gồm xây dựng chỉ tiêu, điều kiện, vị trí, thời gian và địa điểm. Theo đó, thông báo và tiếp nhận hồ sơ hay chuẩn bị một danh sách các ứng viên tương ứng với kế hoạch phát triển ĐNGV của trường THCS, cũng như thành lập Hội đồng tổ chức tuyển chọn GV (xem xét hồ sơ, phỏng vấn, làm các kiểm tra, giảng bài thử so với chuẩn khung năng lực GV), cuối cùng công bố kết quả và hợp đồng thử việc cho những cá nhân đạt yêu cầu mục tiêu tuyển chọn [23, tr.54]

Việc tuyển chọn GV từ các cơ sở GD THCS đang công tác tại các cơ sở GD địa phương và cũng đang thực hiện nhiệm vụ, có trình độ thạc sĩ hay tiến sĩ. Việc làm này có những ưu điểm như: GV nhanh chóng nắm bắt công việc, thích nghi với chuyên môn, vị trí phân công. Tuy nhiên, việc làm này phát sinh nhược điểm là hạn chế GV trẻ có tài năng được đào tạo từ những trường uy tín trong và ngoài nước.

1.6.3.3. Sử dụng đội ngũ giáo viên Luận văn: Quản lý đội ngũ giáo viên trường Trung học.

Sau khi công tác tuyển chọn GV thành công, thì việc bố trí, phân công nhiệm vụ, và sử dụng GV mới được thực hiện để họ hòa nhập và làm quen với công việc mới. Việc bổ nhiệm, phân hạng chức danh GV trong sơ cở GD THCS hay bố trí sử dụng thuộc quyền hạn của tổ bộ môn, ý kiến tín nhiệm của đồng nghiệp sao cho đảm bảo yêu cầu đúng người, đúng việc, đủ tiêu chuẩn năng lực. Ngoài ra, theo Phạm Xuân Hùng (2016), chỉ ra được 2 nguyên tắc căn bản trong việc sử dụng ĐNGV là theo năng lực nổi trội thực tài (Meritocrary – M) và sự chuyên nghiệp trong hoạt động nghề nghiệp (Professionalism – P) của người GV như giảng dạy, nghiên cứu khoa học, hai nguyên tắc này có ý nghĩa quan trọng góp phần tạo nên sự hoàn thiện mô hình nhân cách của người GV nói chung, ĐNGV nói riêng. Đồng thời, theo tác giả việc thực hiện kết hợp giữa M và P trong sử dụng ĐNGV bảo đảm tính phù hợp và hiệu quả của công tác quản lý phát triển ĐNGV. Tuy nhiên cũng đòi hỏi thủ trưởng tại cơ sở GD THCS phải thực sự thực hiện được vai trò tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong công tác này. Đây cũng là nghệ thuật trong việc giải quyết các xung đột, thách thức giữa năng lực mỗi GV cũng như yêu cầu đặt ra đối với ĐNGV trong bối cảnh hiện nay. [23, tr.54].

1.6.3.4. Quản lý số lượng và chất lượng đội ngũ giáo viên

Theo tác giả Trần Ngọc Giao xu hướng của các nước phát triển trên thế giới khi quy hoạch phát triển ĐNGV sẽ xem xét vào hai nhóm như đội ngũ giảng dạy trực tiếp và lực lượng không trực tiếp giảng dạy. Đồng thời, được định chuẩn theo tỷ lệ chức danh gắn liền với nhiệm vụ đối với GV [50].

Quản lý chất lượng đó là một hệ thống hoạt động thống nhất có hiệu quả của những bộ phận khác nhau trong tổ chức, chịu trách nhiệm triển khai những tham số chất lượng, duy trì và nâng cao nó để đảm bảo sản xuất và tiêu dùng một cách kinh tế nhất, thỏa mãn nhu cầu của tiêu dùng (A.Feigenbaum) [26]

Quản lý chất lượng được phân theo 3 cấp độ quản lý, cụ thể như sau: Kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng và quản lý chất lượng tổng thể. Các cấp độ quản lý chất lượng được thể hiện qua sơ đồ 1.4 như sau:

Sơ đồ 1.4 Các cấp độ quản lí chất lượng

Theo đó, quản lý theo chất lượng là sự quản lý lấy chất lượng sản phẩm làm mục đích cuối cùng và còn được gọi tắt là quản lý chất lượng. Thuật ngữ quản lý chất lượng được xuất hiện trước tiên trong quản lý sản xuất và ngày nay đã được áp dụng phổ biến trong giáo dục đào tạo.Bên cạnh đó, ĐNGV là một trong những thành tố tạo nên chất lượng giáo dục nói chung và giáo dục phổ thông nói riêng. Từ đó,việc quản lý chất lượng ĐNGV là việc thực hiện kiểm soát, đảm đảm và quản lý tổng thể về việc tuyển chọn, sử dụng, đào tạo bền vững cho GV, đánh giá hiệu quả công việc và chính sách đãi ngộ GV nhằm thỏa mãn nhu cầu và sự hài lòng ĐNGV cũng như nâng cao chất lượng cơ sở giáo dục, cụ thể như:

Kiểm soát chất lượng (Quality Control): Việc kiểm tra sản phẩm cuối cùng với số lượng lớn đòi hỏi nhiều thời gian và công sức. Để giảm bớt tổn thất, người ta thực hiện kiểm soát chất lượng nhằm phát hiện và loại bỏ những sai hỏng trong quá trình tổ chức hoạt động. Các yếu tố trong kiểm soát chất lượng bao gồm: Con người (Man), máy (Machine), nguyên vật liệu (Material), phương pháp (Method) và thông tin (Information). Trong lĩnh vực giáo dục đào tạo, việc kiểm soát quá trình của các yếu tố như: giáo viên và cán bộ, cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học, tuyển sinh, phương pháp dạy học và thông tin về giáo dục, quản lý giáo dục và thông tin về thị trường lao động; Luận văn: Quản lý đội ngũ giáo viên trường Trung học.

Đảm bảo chất lượng (Quality Assurance): Đảm bảo chất lượng là một hệ thống quản lý nhằm khẳng định về chính sách chất lượng và mục tiêu chất lượng, cũng như tất cả các công việc trong hệ thống chất lượng đào tạo đều rõ ràng và mọi người đều được huấn luyện để thực hiện nghiêm túc; Tất cả các tài liệu thuộc hệ thống chất lượng đều sẵn có tại những nơi cần thiết và ảnh hưởng đến chất lượng công việc; Có đầy đủ bằng chứng khách quan về việc thực hiện các công việc; Có hệ thống kiểm soát chất lượng nhằm lôi cuốn mọi thành viên tự kiểm tra công việc của chính mình và tham gia vào việc đánh giá hệ thống; Được cải tiến liên tục và hệ thống luôn được đánh giá thích ứng với sự thay đổi. Khi đó, trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo thì những yếu tố cần được đảm bảo chất lượng như: chương trình đào tạo, đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất và trang thiết bị dạy học, tổ chức và quản lý hoạt động dạy học, nghiên cứu khoa học, mối quan hệ giữa các lực lượng trong và ngoài nhà trường;

Quản lý chất lượng tổng thể (Total quality mangement): Theo Gibert Stora-jean Montaigne, quản lý tổng thể là quản lý tất cả mọi công việc, tất cả mọi khâu của quá trình, tất cả mọi giáo viên và cán bộ quản lý, và phải luôn được cải tiến về chất lượng đào tạo tại đơn vị mình. Thực hiện quản lý chất lượng tổng thể trong giáo dục đào tạo nhà trường bao gồm các yếu tố như:Thực hiện tất cả các nhiệm vụ và trách nhiệm; Quản lý mọi hoạt động của quá trình đào tạo từ tiếp thị, tuyển sinh, đánh giá, cấp văn bằng, chứng chỉ, cho đến tuyển dụng, đào tạo và sa thải đội ngũ giáo viên; Loại bỏ mọi hạn chế và thiếu sót trong công việc; Sử dụng mọi phương tiện có được để cải tiến chất lượng trong công việc; Phòng ngừa tất cả rủi ro trong mọi kế hoạch nhà trường; làm thoả mãn nhu cầu của mọi cá nhân, bộ phận liên quan.

1.6.3.5.Quản lý hoạt động chuyên môn và đào tạo– bồi dưỡng đội ngũ giáo viên

Theo tác giả Nguyễn Như Ý (1998), Đào tạo là dạy đỗ, rèn luyện để trở thành người có hiểu biết, có nghề nghiệp [17]. Theo Nghị định 18/2010/NĐ-CP của chính phủ, Đào tạo là quá trình truyền thụ, tiếp nhận có hệ thống những tri thức, kỹ năng theo quy định của từng cấp học, bậc học [9]

Theo tác giả Hoàng Phê (2010), Bồi dưỡng là làm tăng sức khỏe cơ thể bằng chất bổ hay làm tăng năng lực phẩm chất người học [6]. Bồi dưỡng còn được hiểu là hoạt động trang bị, cập nhật, nâng cao kiến thức, kỹ năng làm việc [38]

Từ đó, đào tạo – bồi dưỡng ĐNGV THCS là hoạt động nâng cao chất lượng và phát triển nguồn nhân lực cho giáo dục, không những giúp cho mỗi GV hoàn thiện mình và có nhiều cơ hội thăng tiến mà còn làm tăng khả năng qui mô chất lượng giáo dục tại trường THCS. Từ đó, để thực hiện được công tác bồi dưỡng cho ĐNGV THCS, trường THCS cần phải có kế hoạch cụ thể để xác định đúng hướng nội dung đào tạo – bồi dưỡng, cụ thể như:

  • Đào tạo– bồi dưỡng nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức nhà giáo nhằm nắm vững các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước về giáo dục THCS;
  • Đào tạo – bồi dưỡng nâng cao trình độ về các vấn đề mới trong giáo dục THCS tại Việt Nam và xu thế phát triển của giáo dục trên thế giới; Luận văn: Quản lý đội ngũ giáo viên trường Trung học.
  • Đào tạo – bồi dưỡng thường xuyên để cập nhật kiến thức chuyên môn, nghiệp vụ, nghiên cứu khoa học cũng như phương pháp dạy học phù hợp yêu cầu đổi mới toàn diện giáo dục;
  • Đào tạo – bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh như về chức trách nhiệm vụ, quyền hạn của giáo viên, biên soạn giáo trình, ngoại ngữ, tin học…;
  • Đào tạo theo yêu cầu thay đổi công việc như về quản lý nhà nước, quản lý giáo dục theo quy định chức trách,nhiệm vụ của GV.

Bên cạnh đó, trường THCS được giao nhiệm vụ này phải thực hiện đa dạng các hình thức đào tạo – bồi dưỡng để đảm bảo chất lượng và sự đồng bộ về cơ cấu ĐNGV đáp ứng với xu thế hội nhập hiện nay.

1.6.3.6. Kiểm tra – đánh giá kết quả, chất lượng đội ngũ giáo viên

Kiểm tra – đánh giá là nội dung quan trọng trong quản lý nhằm tạo động lực lao động cho ĐNGV cũng như cho công tác, bồi dưỡng và phát triển tiếp theo của mỗi giáo viên và toàn thể ĐNGV trong mỗi cơ sở GD nói chung, trường THCS nói riêng. Đánh giá GV phải trả lời câu hỏi ai được đánh giá?; đánh giá để làm gì?; nội dung nào?; đánh giá thế nào?. Ngoài ra, kiểm tra đánh giá là chức năng nổi bật, được mọi nhà nghiên cứu lý luận và thực hành quản lý thừa nhận và coi trọng. Kiểm tra – đánh giá là quá trình xem xét thực tiễn, đánh giá thực trạng, khuyến khích cái tốt, phát hiện những hạn chế để điều chỉnh đạt mục tiêu đề ra [32, tr.80].

Từ đó, công tác kiểm tra đánh giá ĐNGV THCS sẽ giúp các bên liên quan tuân thủ theo chính sách, nội quy của tổ chức. Chức năng của kiểm tra là phát hiện, điều chỉnh và khuyến khích. Kiểm tra phải thực hiện trong từng giai đoạn, phải tập trung nhiều vào giai đoạn cuối cùng của quá trình quản lý ĐNGV. Từ kết quả kiểm tra, nhà quản lý nhận định, phán đoán, đối chiếu với mục tiêu, tiêu chuẩn đã xây dựng để xem xét và đánh giá tiến độ thực hiện kế hoạch, mức độ đạt được và những biện pháp xử lý phù hợp, giúp nhà quản lý có được những thông tin phản hồi cụ thể để xác định được những thiếu sót trong quá trình hoạt động dạy học/giáo dục cho học sinh THCS của ĐNGV. Vì vậy, để công tác kiểm tra, đánh giá được hiệu quả, chính xác, cần phải xây dựng những yêu cầu, nội dung, phương pháp, cách thức tổ chức kiểm tra. Thông qua việc kiểm tra, đánh giá ĐGNV, nhà quản lý có cái nhìn tổng quan về năng lực dạy học/giáo dục của ĐNGV tại trường THCS để có chỉ đạo, khắc phục kịp thời những thiếu sót về phẩm chất, năng lực sư phạm dạy học/giáo dục cho học sinh. Kiểm tra phải thực hiện định kỳ, thường xuyên, đột xuất, trực tiếp hoặc gián tiếp nhằm đánh giá khách quan, chính xác về năng lực, nghiệp vụ của giáo viên, các bộ phận đoàn thể. Từ đó, đề xuất những biện pháp tuyển chọn, sử dụng, bồi dưỡng thúc đẩy năng lực tổ chức. [32, tr.80].

1.6.3.7. Chính sách đãi ngộ đối với đội ngũ giáo viên

Chính sách đãi ngộ đối với ĐNGV là điều kiện để động viên khuyến khích mọi thành viên cống hiến tốt hơn trong việc thực hiện các nhiệm vụ của nhà trường. Đồng thời, với chính sách tốt và hợp lý sẽ là công cụ quản lý hiệu quả, đảm bảo môi trường làm việc pháp lý đúng đắn. Từ đó, tạo ra động lực lao động tốt cho mọi thành viên thông qua việc giải quyết các lợi ích về vật chất lẫn tinh thần cho ĐNGV.

1.7. Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý đội ngũ giáo viên Luận văn: Quản lý đội ngũ giáo viên trường Trung học.

1.7.1. Yếu tố chủ quan

1.7.1.1 Năng lực, phẩm chất của đội ngũ cán bộ quản lý

“Quản lý ngày nay là một nghề”. Cán bộ QLGD ngày nay phải là những con người toàn năng, vừa có tầm nhìn chiến lược, vừa thành thạo kỹ năng nghiệp vụ QL nhà trường, nghiệp vụ tổ chức sư phạm, vừa thực hiện tốt sự liên nhân cách, biết xử lý các tình huống gay cấn của cấp QL. Trong đó, kỹ năng công tác kế hoạch, tổ chức, kiểm tra, xử lý thông tin theo kịp sự phát triển của nhà trường trước bối cảnh đổi mới giáo dục. Đồng thời, có một số kiến thức, kỹ năng về tin học, ngoại ngữ để theo kịp đà phát triển chung của xã hội.

Một người hiệu trưởng giỏi không phải là người có tham vọng tìm cách giỏi hơn mọi giáo viên mà là người biết dùng giáo viên giỏi. Do đó, quản lý đội ngũ giáo viên là cả một nghệ thuật, người hiệu trưởng phải làm sao để xây dựng đội ngũ giáo viên thành một tổ chức biết học hỏi. Đội ngũ giáo viên THCS ngày nay có trình độ chuyên môn tương đối cao và rất nhạy bén trong việc nắm bắt thông tin. Vì vậy việc đào tạo chuẩn hóa họ là một yêu cầu bắt buộc, từ đó mới có thể đáp ứng được bối cảnh đổi mới giáo dục.

Đặc điểm của lao động quản lý là loại lao động trí óc sáng tạo, có tính cộng đồng; mang tính gián tiếp trong quá trình lao động; Là một dạng hoạt động thực tiễn. Bản chất của nó không phải là “biết” mà là “làm”. Việc chứng minh sự đúng đắn của quản lý không phải là bằng nghiên cứu logic mà là kết quả thực tế của công việc. Đối tượng của quá trình quản lý là một hệ thống bao gồm nhiều người, nhiều sự vật và sự việc với nhiều quy mô, cấp độ khác nhau và luôn biến động. Lao động quản lý đòi hỏi người quản lý phải có kiến thức tổng hợp và vận dụng tổng hợp hiểu biết về nhiều lĩnh vực: tự nhiên, xã hội, kinh tế, kỹ thuật, chính trị, pháp lý, tâm lý, giáo dục, ngoại giao, văn hóa…

Chính vì vậy hiệu quả quản lý đội ngũ giáo viên, trước tiên phụ thuộc vào nhận thức, trình độ tổ chức và năng lực hoạt động thực tiễn của đội ngũ cán bộ quản lý ở các cấp. Bên cạnh trình độ chuyên môn, người cán bộ quản lý còn là người có trình độ tổ chức, khả năng xử lý linh hoạt các tình huống thực tế, là người thức thời, nhạy bén với thời cuộc, khả năng nắm bắt tâm lý con người, … điều đó đòi hỏi cái tâm, cái tầm của nhà quản lý phải cao. Nói cách khác nghệ thuật quản lý của nhà quản lý tác động rất lớn đến hiệu quả quản lý đội ngũ giáo viên.

1.7.1.2. Năng lực, phẩm chất của giáo viên

Ngày nay, xu thế toàn cầu hóa đang phát triển mạnh mẽ. Con người – nhân tố hàng đầu của sự phát triển kinh tế xã hội đang được chính phủ các nước dành sự quan tâm đặc biệt. Trong bối cảnh đó vai trò của nhà trường càng trở nên quan trọng. Nhân tố đầu tiên tạo nên bộ mặt nhà trường lại chính là ĐNGV, những người được xã hội giao phó trọng trách đào tạo thế hệ trẻ – những chủ nhân tương lai của xã hội. Từ đó, đòi hỏi đội ngũ giáo viên phải đáp ứng các yêu cầu về trình độ, năng lực và phẩm chất tốt.

Hiệu quả của công tác quản lý đội ngũ giáo viên chịu ảnh hưởng trực tiếp từ trình độ, năng lực, phẩm chất của đội ngũ giáo viên. Do vậy, quản lý đội ngũ giáo viên phải có những biện pháp kích thích, tạo động lực cho đội ngũ này luôn phát triển. Bản thân người giáo viên phải có ý chí, hoài bão vươn lên; không ngừng phấn đấu, học tập, tu dưỡng và rèn luyện nhân cách, thực sự là tấm gương sáng cho thế hệ trẻ noi theo.

1.7.2. Yếu tố khách quan Luận văn: Quản lý đội ngũ giáo viên trường Trung học.

1.7.2.1. Quan điểm, chủ trương về quản lý giáo viên

Với quan điểm coi giáo dục là quốc sách hàng đầu, Đảng, Nhà nước ta đã có rất nhiều chủ trương chính sách quan tâm, ưu đãi đối với sự nghiệp GD-ĐT của nước nhà. Điều đó thể hiện qua các nghị quyết, chỉ thị, quyết định,…về phát triển nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Đây là căn cứ để các cấp quản lý giáo dục quán triệt và cụ thể hóa bằng các văn bản hướng dẫn thực hiện. Đây cũng là cơ sở để các nhà quản lý giáo dục hoạch định chiến lược, xây dựng kế hoạch về phát triển đội ngũ giáo viên cho phù hợp với yêu cầu phát triển của nhà trường trong từng thời kỳ.

1.7.2.2. Các điều kiện phục vụ công tác quản lý đội ngũ giáo viên

Để công tác quản lý đội ngũ giáo viên mang lại hiệu quả cao thì phải gắn liền với các điều kiện đảm bảo về nội dung chương trình và phương pháp đào tạo; về cơ sở vật chất, trang thiết bị, hệ thống thông tin phục vụ cho việc triển khai kế hoạch; về các nguồn lực được huy động để thực hiện các giải pháp quản lý đội ngũ giáo viên,… Đây không phải là những yếu tố quyết định trực tiếp đến hiệu quả quản lý ĐNGV nhưng nó những điều kiện hỗ trợ, luôn tác động qua lại bổ sung cho nhau góp phần nâng cao hiệu quả quản lý Nhà quản lý cần nhận thức đầy đủ về vai trò của từng yếu tố, phối kết hợp linh hoạt giữa các yếu tố chủ quan và khách quan nhằm đạt kết quả tối đa nhất trong quá trình quản lý.

KẾT LUN CHƯƠNG 1

Người nghiên cứu đã tổng quan được vấn đề nghiên cứu trong và ngoài nước. Công tác quản lý ĐNGV tại cơ sở GD là vô cùng cần thiết và nâng cao chất lượng giáo dục tại nhà trường, công tác mang ý nghĩa quan trọng trong hoạt động của nhà trường, góp phần giáo dục toàn diện cho học sinh, đáp ứng nhu cầu đổi mới giáo dục. Để có cơ sơ đề ra những giải pháp quản lý ĐNGV cụ thể được thực hiện qua việc tuyển dụng, sử dụng, bồi dưỡng và chính sách đãi ngộ cho GV.

Ngoài ra, người nghiên cứu đã làm rõ các khái niệm về quản lý, quản lý giáo dục, quản lý ĐNGV, quản lý nhà trường của Hiệu trưởng đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục. Từ đó, tạo cơ sở lý luận giúp người nghiên cứu thực hiện nghiên cứu thực trạng quản lý ĐNGV tại trường THCS huyện Bàu Bàng tỉnh Bình Dương trong chương 2 Luận văn: Quản lý đội ngũ giáo viên trường Trung học.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Luận văn: Thực trạng quản lý đội ngũ giáo viên Trường Trung học

One thought on “Luận văn: Quản lý đội ngũ giáo viên trường Trung học

  1. Pingback: Luận văn: Biện pháp quản lý đội ngũ giáo viên Trường Trung học

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *