Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Công nghiệp hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Công nghiệp Cẩm phả tỉnh Quảng Ninh theo quan điểm phát triển nguồn nhân lực dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Những mục tiêu phát triển Kinh tế, xã hội trong thời kì Công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta đã và đang đặt ra những yêu cầu ngày càng cao đối với giáo dục. Vấn đề Nguồn nhân lực, vấn đề phát huy nhân tố con người, được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm trong giai đoạn hiện nay. Chiến lược con người được Đảng, Nhà nước xây dựng là bộ phận quan trọng trong chiến lược phát triển Kinh tế, xã hội.
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII đã khẳng định: “Chất lượng GD & ĐT, nhất là giáo dục đại học và đào tạo nghề cải thiện còn chậm; thiếu lao động chất lượng cao… Cơ chế, chính sách có mặt chưa phù hợp; xã hội hóa còn chậm và gặp nhiều khó khăn, chưa thu hút được nhiều nguồn lực ngoài nhà nước cho phát triển GD & ĐT. Cơ sở vật chất còn thiếu và lạc hậu. Chất lượng dạy và học ở vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số còn thấp. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý chưa đáp ứng yêu cầu.” [27. tr. 248-249] Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII cũng đề ra phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp phát triển Kinh tế, xã hội 5 năm 2026-2030, trong đó nhấn mạnh: “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và tăng cường tiềm lực Khoa học công nghệ: Thực hiện đồng bộ các cơ chế, chính sách, giải pháp phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển Kinh tế, xã hội… Phát triển Đội ngũ nhà giáo, Cán bộ quản lý đáp ứng yêu cầu đổi mới. Gắn đào tạo với Nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và thu hút các nhà khoa học tham gia giảng dạy. Đẩy mạnh dạy nghề và gắn kết đào tạo với doanh nghiệp. Phân cấp quản lý hợp lý trong đào tạo nghề.” [27; tr. 295-296]
Để giáo dục đại học thực sự có chất lượng toàn diện đòi hỏi phải đảm bảo đồng bộ về các yếu tố như: mục tiêu, chương trình, giáo trình, nội dung, phương pháp đào tạo, Cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ hoạt động dạy và học, nhưng trong đó phải kể đến vai trò nòng cốt của Đội ngũ giảng viên. GV là nhân tố quan trọng, chủ yếu nhất quyết định chất lượng giáo dục và được xã hội tôn vinh, vì họ là người trực tiếp thực thi các mục tiêu và nhiệm vụ của giáo dục, với vai trò chủ đạo trong quá trình đào tạo. Chăm lo xây dựng Đội ngũ giảng viên sẽ tạo sự chuyển biến chất lượng về giáo dục, đáp ứng được yêu cầu của đất nước và là việc làm thường xuyên của các nhà trường. Chỉ thị số 40- CT/TW của Ban Bí thư đã nêu rõ: “Tăng cường xây dựng Đội ngũ nhà giáo và Cán bộ quản lý một cách toàn diện. Đây là nhiệm vụ vừa đáp ứng nhu cầu trước mắt, vừa mang tính chiến lược lâu dài, nhằm thực hiện thành công chiến lược phát triển giáo dục 2011 –2020 và chấn hưng đất nước…” [6; tr. 1]
Tình hình trên đòi hỏi phải tăng cường xây dựng Đội ngũ nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục một cách toàn diện. Đây là một nhiệm vụ vừa mang tính trước mắt, vừa mang tính chiến lược lâu dài, nhằm thực hiện thành công chiến lược phát triển giáo dục và chấn hưng giáo dục. Mục tiêu là xây dựng Đội ngũ nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục được chuẩn hóa, đảm bảo về chất lượng, đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất, lối sống, lương tâm, tay nghề của nhà giáo; thông qua việc quản lý, phát triển đúng định hướng và có hiệu quả sự nghiệp giáo dục để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Trong những năm qua, Trường Cao đẳng Công nghiệp Cẩm Phả luôn quán triệt quan điểm: “ĐNGV là lực lượng lao động chính, đóng vai trò nòng cốt trong Nhà trường, chất lượng đào tạo gắn liền với chất lượng Đội ngũ giảng viên. Vì vậy công tác quản lý Đội ngũ giảng viên đủ về số lượng, đảm bảo chất lượng, đồng bộ về cơ cấu luôn là nhiệm vụ quan trọng vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính chiến lược” [26; tr. 20], có ý nghĩa quyết định để nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo trong giai đoạn hiện nay. Mặc dù vậy, ngoài việc phát triển về số lượng, công tác quản lý Đội ngũ giảng viên của Trường Cao đẳng Công nghiệp Cẩm Phả vẫn còn tồn tại và hạn chế, chưa được quan tâm và xác định đúng hướng; công tác bố trí sắp xếp Đội ngũ giảng viên đôi chỗ còn chưa phù hợp, chưa phát huy được năng lực, sở trường của mỗi cá nhân; bên cạnh đó chưa có cơ chế, chính sách đãi ngộ thỏa đáng để khuyến khích Đội ngũ giảng viên và thu hút người tài. Đứng trước yêu cầu đó, Lãnh đạo Nhà trường cùng với cán bộ quản lý trưởng các Phòng, Khoa luôn trăn trở về công tác quản lý Đội ngũ giảng viên của đơn vị mình, để từ đó xây dựng Đội ngũ giảng viên thực sự trở thành lực lượng nòng cốt, có vai trò quan trọng trong sự phát triển bền vững của Nhà trường.
Với những lý do nêu trên, tác giả chọn đề tài: “Quản lý đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Công nghiệp Cẩm phả tỉnh Quảng Ninh theo quan điểm phát triển nguồn nhân lực”.
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và phân tích thực trạng quản lý Đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Công nghiệp Cẩm Phả, từ đó đề xuất các biện pháp quản lý phù hợp với sự phát triển của Nhà trường trong giai đoạn hiện nay.
3. Đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu và đối tượng khảo sát
3.1. Đối tượng nghiên cứu Luận văn: Quản lý đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Công nghiệp.
- Quản lý đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Công nghiệp Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh
3.2. Khách thể nghiên cứu
- Đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng nghề.
4. Phạm vi nghiên cứu
- Đề tài tập trung nghiên cứu, đề xuất các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng Đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Công nghiệp Cẩm Phả trong giai đoạn hiện nay.
5. Câu hỏi nghiên cứu
- Có những biện pháp hiệu quả nào giúp quản lý tốt Đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Công nghiệp Cẩm Phả?
6. Giả thuyết nghiên cứu
Quản lý Đội ngũ giảng viên của trường Cao đẳng Công nghiệp Cẩm Phả trong những năm qua bước đầu đã có những kết quả đáng kể để xây dựng và nâng cao chất lượng Đội ngũ giảng viên có chuyên môn, nghiệp vụ vững vàng, có phẩm chất đạo đức, năng lực nghề nghiệp trong công tác đào tạo của nhà trường… Tuy nhiên, để đáp ứng sự phát triển mới của nhà trường trong giai đoạn hiện nay, công tác quản lý Đội ngũ giảng viên còn những vấn đề bất cập cần phải giải quyết. Nếu có những biện pháp hiệu quả, phù hợp để quản lý tốt Đội ngũ giảng viên trong thời gian tới thì sẽ đáp ứng được sự phát triển mới của Nhà trường.
7. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận về quản lý Đội ngũ giảng viên ở trường Cao đẳng dạy nghề
- Phân tích thực trạng Đội ngũ giảng viên và thực trạng quản lý Đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Công nghiệp Cẩm Phả
- Đề xuất biện pháp quản lý Đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Công nghiệp Cẩm Phả trong giai đoạn hiện nay
8. Phương pháp nghiên cứu
- Để nghiên cứu luận văn, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
8.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu tài liệu
Nghiên cứu văn kiện, văn bản, tài liệu, đọc, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa các nguồn tài liệu nhằm xây dựng cơ sở lý luận cho luận văn:
- Tổng quan các tài liệu khoa học về quản lý, Quản lý giáo dục trong lĩnh vực giáo dục nghề nghiệp và quản lý đội ngũ giảng viên trường cao đẳng nghề;
- Tổng hợp các Chỉ thị, Nghị quyết của Đảng, Nhà nước về phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ Quản lý giáo dục và các văn bản của Bộ GD&ĐT, Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội, Bộ Công Thương và các văn bản khác có liên quan đến vấn đề cần nghiên cứu. Luận văn: Quản lý đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Công nghiệp.
8.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Phương pháp khảo sát bằng phiếu hỏi: Thông qua việc sử dụng phiếu hỏi với hệ thống các câu hỏi dùng để phát hiện thực trạng quản lý đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Công nghiệp Cẩm Phả tỉnh Quảng Ninh theo quan điểm phát triển nguồn nhân lực.
Phương pháp quan sát: Quan sát hoạt động quản lý đội ngũ giảng viên thuộc địa bàn nghiên cứu. Từ việc quan sát về công tác quy hoạch, kế hoạch phát triển đội ngũ giảng viên, việc bố trí sử dụng đội ngũ giảng viên, đào tạo bồi dưỡng, đánh giá lao động của đội ngũ giảng viên, chế độ chính sách đãi ngộ cũng như việc tạo môi trường phát triển đội ngũ giảng viên là cơ sở giúp cho việc nhận định, đánh giá được chính xác, khách quan thực trạng vấn đề nghiên cứu.
Phương pháp khảo nghiệm mức độ cấp thiết và mức độ khả thi của các biện pháp: Sử dụng h thống phiếu hỏi để khảo sát một số đối tượng Cán bộ quản lý, GV thông qua kết quả rút ra những kết luận quan trọng về đánh giá mức độ cấp thiết, mức độ ảnh hưởng, tính khả thi từ đó xác định được giá trị của các biện pháp đề xuất trong luận văn.
8.3. Phương pháp phân tích thống kê
- Sử dụng các công thức toán thống kê để xử lý số liệu, kết quả khảo sát.
9. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, và phụ lục, nội dung luận văn được cấu trúc thành 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý đội ngũ giảng viên ở Trường Cao đẳng Nghề theo quan điểm phát triển nguồn nhân lực
- Chương 2: Thực trạng công tác quản lý đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Công nghiệp Cẩm Phả
- Chương 3: Các biện pháp quản lý đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Công nghiệp Cẩm Phả theo quan điểm phát triển nguồn nhân lực
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIẢNG VIÊN Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ THEO QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC
1.1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Trong những năm gần đây, vấn đề quản lý, phát triển Đội ngũ nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục đã được đề cập nhiều trong chủ trương, đường lối, chính sách phát triển GD & ĐT của Đảng và Nhà nước. Vấn đề này cũng đã thu hút không ít sự quan tâm của các nhà quản lý, các nhà khoa học trong và ngoài nước để xác định rõ các ý nghĩa của vấn đề xây dựng quản lý Nguồn nhân lực nói chung và Nguồn nhân lực trong giáo dục nói riêng góp phần đạt được mục tiêu của các tổ chức [22, tr.42].
Ở nước Mỹ, ngay từ những năm đầu thế kỉ XX, tác giả W.F. Taylor, trong tác phẩm quản lý khoa học đã đề cao các nguyên tắc tuyển chọn, huấn luyện đội ngũ nhân viên trong một tổ chức. Tác giả cũng nhấn mạnh hiệu quả của quản lý phụ thuộc vào việc xây dựng mối quan hệ giữa chủ thể và các nhân viên. Luận văn: Quản lý đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Công nghiệp.
Đến những năm cuối thập niên 60 của thế kỷ XX, khi các khái niệm “vốn con người” (Human capital), “nguồn lực con người” (Human resources) xuất hiện, Hoa Kỳ đã là quốc gia đầu tiên và sau đó thịnh hành trên thế giới về vấn đề nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực của một ngành, lĩnh vực. Tuy nhiên, nội dung và cách giải quyết vấn đề có sự khác nhau ở nhiều mức độ và phụ thuộc rất lớn vào điều kiện thực tế ở mỗi quốc gia mà nhấn mạnh tới vấn đề quản lý nhân sự hay quản trị nhân lực hoặc quản lý Nguồn nhân lực.
Tại Pháp, H. Fayol (1841 – 1915) đã đưa ra 14 nguyên tắc quản lý hành chính, theo đó, tác giả nhấn mạnh tới việc phân công lao động, thống nhất mục tiêu, thống nhất chỉ huy và tinh thần đồng đội [22, tr.42].
Ở Viêt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890 – 1969) rất quan tâm về công tác cán bộ, Người khẳng định: “cán bộ là cái gốc của mọi công việc”, “mọi thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”, “có cán bộ tốt thì việc gì cũng xong”.
Các nhà khoa học Việt Nam đã thể hiện trong các công trình nghiên cứu của mình về quản lý Nguồn nhân lực trong giáo dục. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, bài viết trên các sách báo, tạp chí, đi sâu nghiên cứu các vấn đề liên quan đến phát triển đội ngũ nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục. Chẳng hạn: Tác giả Phạm Minh Hạc, (2011) Về phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá. NXB Chính trị Quốc gia; các tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, (2020) trong cuốn Đại cương Khoa học quản lý đã xác định nội dung của “Quản lý nguồn nhân lực”; Đặng Bá Lãm, Trần Khánh Đức (2012): Phát triển nhân lực công nghệ ưu tiên ở nước ta trong thời kỳ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa, NXB Giáo dục; tác giả Trần Khánh Đức, (2020) trong cuốn Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI, NXB Giáo dục Việt Nam; tác giả Nguyễn Trọng Hậu, (2024), trong Tài liệu giảng dạy lớp cao học “Quản lý nguồn nhân lực trong giáo dục”, Trường Đại học Giáo dục Đại học Quốc gia Hà Nội; tác giả Nguyễn Đức Chính (chủ biên năm 2012), “Kiểm định chất lượng giáo dục đại học”, NXB Đại học Quốc Gia Hà Nội; tác giả Vũ Văn Tảo, (2012), Phát triển giáo dục gắn với phát triển Nguồn nhân lực, một hướng tiếp tục đổi mới giáo dục trong thời kỳ Công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Tham luận tại Hội thảo về những vấn đề giáo dục và tâm lý của Học sinh, sinh viên (9-10/12/2012)… Nhìn chung, các tác giả đều đã đề cập tới nhiều khía cạnh quan trọng của Nguồn nhân lực và quản lý Nguồn nhân lực trong một tổ chức, trong đó có chất lượng của đội ngũ.
Một số luận văn Thạc sĩ Quản lý giáo dục nghiên cứu về quản lý Đội ngũ giảng viên, quản lý phát triển đội ngũ Cán bộ quản lý trường học, quy hoạch phát triển đội ngũ giáo viên của một số địa phương như:
Nguyễn Thị Nhung (2019) với đề tài “Phát triển đội ngũ Giáo viên Trường Trung cấp Văn hoá, Thể thao và Du lịch Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay”; “Trần Đình Trung, (2021) với đề tài “Phát triển đội ngũ giáo viên ở Trường Cán bộ Hợp tác xã và Doanh nghiệp nhỏ trong giai đoạn hiện nay’; Luận văn: Quản lý đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Công nghiệp.
Vũ Thị Kim Thu, (2025) với đề tài “Quản lí đội ngũ cán bộ quản lí trường Tiểu học trên địa bàn quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay”; Nguyễn Quý Cao, (2020) với đề tài: “Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Nam Định trong giai đoạn hiện nay”; Trần Hải Bằng, (2020) với đề tài “Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định trong giai đoạn hiện nay”; Trần Thị Thúy, (2024) với đề tài “Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường mầm non tại huyện Điện Biên tỉnh Điện Biên trong giai đoạn hiện nay”. Nhìn chung, qua các luận văn này, các tác giả đã đề xuất tới các biện pháp quản lý và phát triển đội ngũ nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục cho các loại trường học mầm non, phổ thông hay chuyên nghiệp mà chưa có đề tài cho khối trường dạy nghề.
Tóm lại, có thể nhìn nhận: Vấn đề quản lý phát triển Đội ngũ giảng viên và Cán bộ quản lý ở các trường học với tư cách là Nguồn nhân lực của các cấp học là một nội dung quan trọng, cấp thiết, thu hút sự nghiệp nghiên cứu của nhiều cơ quan và nhà khoa học. Đã có nhiều tác giả nghiên cứu và có những công trình quan trọng về vấn đề này. Tuy nhiên, vấn đề “Quản lý đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Công nghiệp Cẩm phả tỉnh Quảng Ninh theo quan điểm phát triển nguồn nhân lực” chưa có công trình nghiên cứu cụ thể nào đề cập đến. Đó là nội dung chính tác giả luận văn xác định nghiên cứu.
1.2. Những khái niệm cơ bản Luận văn: Quản lý đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Công nghiệp.
1.2.1. Giảng viên, đội ngũ giảng viên
- Giảng viên
Theo Điều 70 của Luật giáo dục năm 2015 và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục năm 2022: “Nhà giáo là người làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trường, cơ sở giáo dục khác… Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp trình độ sơ cấp nghề, trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp gọi là giáo viên. Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục đại học, trường cao đẳng nghề gọi là giảng viên” [19; tr. 49-50].
- Đội ngũ giảng viên
Đội ngũ là tập hợp gồm một số đông người cùng chức năng hoặc nghề nghiệp hợp thành lực lượng hoạt động trong một hệ thống (tổ chức) nhất định.
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo, “Đội ngũ là một tập thể người gắn kết với nhau, cùng chung lý tưởng, mục đích, ràng buộc nhau về vật chất, tinh thần và hoạt động theo một nguyên tắc” [1; tr. 84].
Vậy Đội ngũ giảng viên là tập hợp các nhà giáo làm nhiệm vụ giảng dạy và Nghiên cứu khoa học ở các cơ sở giáo dục đại học, trường cao đẳng nghề; họ gắn kết với nhau bằng hệ thống mục tiêu giáo dục; cùng trực tiếp giảng dạy và giáo dục sinh viên, cùng chịu sự ràng buộc của những quy tắc có tính chất hành chính của ngành giáo dục và Nhà nước.
ĐNGV là những người có trình độ Khoa học, kỹ thuật nhất định, họ là những người truyền thụ kiến thức cho người học theo chương trình, nội dung khoa học và theo kế hoạch đã định ở những bậc học nhất định.
Thông qua các hoạt động giảng dạy, Nghiên cứu khoa học, lao động sản xuất và các hoạt động xã hội khác, Đội ngũ giảng viên trong trường hàng ngày đang thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển h thống GD & ĐT: đào tạo đội ngũ cán bộ có kiến thức khoa học, có kỹ năng nghề nghiệp cần thiết đáp ứng nhu cầu Công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước ta hiện nay.
ĐNGV là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục và được xã hội tôn vinh. Do vậy, tại Quy chế đào tạo Đại học và Cao đẳng hệ chính quy Ban hành theo Quyết định số 25/2016/QĐ-BGDĐT của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT đã quy định “GV phải có phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt, đủ sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp, lý lịch bản thân rõ ràng”; đủ tài “đạt trình độ chuẩn được đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ–có bằng ĐH trở lên đối với nhà giáo giảng dạy CĐ hoặc ĐH, có bằng thạc sĩ trở lên đối với nhà giáo giảng dạy, đào tạo thạc sĩ, có bằng tiến sĩ đối với nhà giáo đào tạo tiến sĩ” [3].
1.2.2. Quản lý, quản lý giáo dục Luận văn: Quản lý đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Công nghiệp.
- Quản lý
Trong lịch sử phát triển của loài người, từ khi có sự phân công lao động xã hội đã xuất hiện một dạng lao động mang tính đặc thù, đó là tổ chức và điều khiển các hoạt động lao động theo những yêu cầu nhất định. Dạng lao động mang tính đặc thù đó là hoạt động quản lý. Thực tế có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý:
Khổng Tử đã đề cao và xác định rõ vai trò của cá nhân người quản lý. Theo ông: Người quản lý mà chính trực thì không cần bỏ tốn công sức mà vẫn khiến người ta làm theo.
Nói về phạm trù này, Các Mác cũng đã khẳng định: “Tất cả mọi lao động xã hội hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với vận động khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng.” [4; tr. 23].
Ngày nay, thuật ngữ quản lý đã trở nên phổ biến, nhưng chưa có một định nghĩa thống nhất; với các tiếp cận khác nhau, các nhà lý luận đưa ra nhiều khái niệm về quản lý:
Theo Fređerich Winslow Taylor: “Quản lý là một nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất” [11; tr. 327].
Nhà lý luận quản lý kinh tế người Pháp, H. Fayol thì cho rằng “Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra. Đó chính là các chức năng cơ bản của nhà quản lý”.
Theo tác giả người Mỹ, H.Koontz và những người khác: “Quản lý là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm, có thể hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu đã định”.
- Ở Việt Nam cũng có nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu về khái niệm quản lý:
Nguyễn Văn Lê trong tác phẩm Khoa học quản lý nhà trường [17] có viết: “Quản lý một hệ thống xã hội là khoa học và nghệ thuật tác động vào hệ thống đó, mà chủ yếu là vào những con người nhằm đạt được hiệu quả tối ưu theo mục tiêu đã đề ra”.
Theo Nguyễn Minh Đạo (1997): “Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục đích đã đề ra.”[9] Luận văn: Quản lý đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Công nghiệp.
Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng “Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho các tổ chức vận hành và đạt được các mục đích của tổ chức” [5; tr. 1]
Như vậy, mặc cò có nhiều cách định nghĩa khác nhau về quản lý, song nội hàm của các định nghĩa đều đề cập tới các vấn đề chủ yếu sau:
- Quản lý là một hoạt động, trong đó có tác động của chủ thể quản lý đến khách thể bị quản lý và luôn luôn gắn liền với hoạt động của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu chung của tổ chức.
- Sự tác động có định hướng tới mục tiêu của tổ chức được chủ thể quản lý thực hi n phải có ý thức, hợp quy luật, nghĩa là trên cơ sở phải có triết lý và phù hợp với thực tiễn.
Với những phân tích trên, chúng tôi nhận thấy: Quản lý một tổ chức là tác động có chủ đích và hợp quy luật của chủ thể quản lý đến đối tượng và khách thể quản lý nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt mục đích của tổ chức.
Các tác giả Nguyễn quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cũng khẳng định, hiện nay, hoạt động quản lý thường được định nghĩa rõ hơn “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bẳng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”. [5, tr.9]
- Chức năng quản lý
Tác giả H. Fayol lần đầu tiên đã đề xuất chức hoạt động quản lý có năng quản lý kế hoạch, tổ chức, điều hành, phối hợp và kiểm tra. Ngày nay, có nhiều cách phân loại chức năng quản lý khác nhau (khác nhau về số lượng chức năng và tên gọi các chức năng) song về thực chất các hoạt động có những bước đi giống nhau để đạt tới mục tiêu. Theo quan điểm quản lý hiện đại đã khẳng định có bốn chức năng cơ bản sau đây: Luận văn: Quản lý đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Công nghiệp.
Kế hoạch hoá: Là chức năng đầu tiên của một quy trình quản lý, nó có vai trò khởi đầu, định hướng cho toàn bộ các hoạt động của quá trình quản lý. Kế hoạch hoá là việc dựa trên những thông tin luật pháp, chính sách và quy chế hoạt động, về bộ máy tổ chức và đội ngũ nhân sự, về tài lực và vật lực, về môi trường hoạt động và các thông tin có liên quan đến tổ chức để vạch ra mục tiêu hoạt động, dự kiến nguồn lực, thời gian, các phương tiện và điều kiện, đồng thời chỉ ra các biện pháp thực hiện mục tiêu.
Tổ chức: Là chức năng thứ hai trong quá trình quản lý, nó có vai trò thực hiện hoá các mục tiêu của tổ chức. Tổ chức là việc thiết lập cấu trúc bộ máy, bố trí nhân lực và xây dựng cơ chế hoạt động; đồng thời ấn định chức năng, nhiệm vụ cho các bộ phận và cá nhân; quy định cơ chế hoạt động; huy động, sắp xếp và phân bổ các nguồn lực vật chất nhằm thực hiện mục tiêu đã có.
Chỉ đạo: Là chức năng thứ ba trong một quá trình quản lý, nó có vai trò cùng với chức năng tổ chức để thực hiện các mục tiêu. Chỉ đạo là việc hướng dẫn công việc, liên kết, liên hệ, động viên, kích thích giám sát các bộ phận và mọi cá nhân thực hiện kế hoạch đã có theo đúng dụng ý đã xác định trong chức năng tổ chức.
Kiểm tra: Là chức năng cuối cùng của một quá trình quản lý, nó có vai trò giúp cho chủ thể quản lý biết được mọi người thực hiện các nhiệm vụ. Kiểm tra là việc theo dõi và đánh giá mọi hoạt động của từng đơn vị hoặc của mỗi cá nhân trong tổ chức bằng nhiều phương pháp và hình thức (trực tiếp hoặc gián tiếp, thường xuyên, định kỳ hoặc đột xuất…) nhằm so sánh kết quả hoạt động với mục tiêu đã xác định để nhận biết về chất lượng và hiệu quả các hoạt động đó. Từ đó tìm ra những điểm tốt, chưa tốt và những sai phạm để từ đó đưa ra các quyết định phát huy, điều chỉnh hoặc xử lý.
Trong quá trình quản lý, ngoài việc thực hiện 4 chức năng quản lý còn có hai hoạt động là thông tin quản lý và ra quyết định quản lý để thực hiện được quá trình quản lý hoàn chỉnh. Thông tin quản lý là huyết mạch và nguyên liệu cho các hoạt động quản lý, quyết định quản lý là sản phẩm lao động của người quản lý để khẳng định làm đúng việc và làm việc đúng.
Mọi hoạt động của xã hội đều cần tới quản lý. Quản lý vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật trong việc điều khiển một hệ thống xã hội cả ở tầm vĩ mô và vi mô. Đó là những hoạt động cần thiết thực hiện khi những con người kết hợp với nhau trong các nhóm, các tổ chức nhằm đạt được mục tiêu chung.
Quản lý là nghệ thuật có nghĩa là nó phải làm cho con người làm việc có hiệu quả hơn so với khi không có người quản lý.
- Quản lý giáo dục Luận văn: Quản lý đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Công nghiệp.
Giáo dục là một hiện tượng xã hội đặc biệt, bản chất của nó là truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử – xã hội của các thế hệ loài người, nhờ có giáo dục mà các thế hệ nối tiếp nhau phát triển, tinh hoa văn hóa dân tộc, nhân loại được kế thừa, bổ sung và trên cơ sở đó không ngừng tiến lên.
Cũng như mọi hoạt động khác của xã hội loài người, hoạt động giáo dục cũng được quản lý ngay từ khi các tổ chức giáo dục đầu tiên được hình thành. Khoa học quản lý giáo dục trở thành một bộ phận chuyên biệt của quản lý nói chung nhưng là một khoa học tương đối độc lập vì tính đặc thù của nền giáo dục quốc dân.
Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc “Quản lý giáo dục là quá trình thực hiện có định hướng và hợp quy luật các chức năng kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra nhằm đạt tới mục tiêu giáo dục đã đề ra [18].
Theo Phạm Viết Vượng, “Mục đích cuối cùng của Quản lý giáo dục là tổ chức quá trình giáo dục có hiệu quả để đào tạo lớp thanh niên thông minh, sáng tạo, năng động, tự chủ, biết sống và phấn đấu vì hạnh phúc của bản thân và của xã hội.” [28].
Theo Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch thích hợp với chủ thể quản lý, nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục đến mục tiêu dự kiến tiến đến trạng thái mới về chất ” [20]
Như vậy, thực chất của quản lý giáo dục là sự tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến hoạt động của tập thể giáo viên và hoạt động của học sinh nhằm đạt được hiệu quả cao nhất trong việc hình thành nhân cách của học sinh.
Tuỳ theo việc xác định đối tượng quản lý giáo dục mà Quản lý giáo dục có nhiều cấp độ khác nhau:
- Cấp độ vĩ mô: Quản lý giáo dục là thực hiện việc quản lý trong lĩnh vực giáo dục. Ngày nay lĩnh vực giáo dục mở rộng hơn nhiều so với trước, do chỗ mở rộng đối tượng giáo dục từ thế hệ trẻ sang người lớn và toàn bộ xã hội.
- Cấp độ vi mô: Quản lý giáo dục là quản lý nhà trường và các cơ sở giáo dục khác.
Theo UNESCO thì Quản lý giáo dục là cách thức điều hành hệ thống giáo dục, nhất là các quy trình, thủ tục, quy chế… và cách thức vận hành của hệ thống giáo dục, tất cả cấu phần hoạt động của hệ thống.
- QLGD gồm 3 lĩnh vực:
Quản lý chính sách: hoạch định chính sách, lập kế hoạch, thực hiện chính sách và phân bổ nguồn lực.
Quản lý hành chính: sử dụng nguồn lực tài chính, con người và vật chất.
Quản lý sư phạm: sử dụng giáo viên, tổ chức quá trình dạy học, quá trình giáo dục, thành tích và quá trình học tập.
QLGD ở các cơ sở giáo dục đều nhằm thực hiện thành công mục tiêu giáo dục Nhà nước đã đề ra và mục tiêu của nhà trường hay các cơ sở giáo dục đã xác định. Vì vậy Quản lý giáo dục là sự điều hành hệ thống giáo dục quốc dân nhằm thực hiện mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài.
1.2.3. Quản lý đội ngũ giảng viên Luận văn: Quản lý đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Công nghiệp.
Quản lý Đội ngũ giảng viên là tác động có định hướng, có chủ đích của nhà quản lý đến Đội ngũ giảng viên nhằm đạt được mục tiêu phát triển Đội ngũ giảng viên đảm bảo về số lượng, đảm bảo về chất lượng và đảm bảo về cơ cấu.
Mục tiêu của quản lý Nguồn nhân lực trong giáo dục nói chung và ở các cơ sở giáo dục nói riêng còn phải đạt được mục tiêu phát triển của nhà trường nhằm tạo ra được tiềm năng mới của tổ chức (đảm bảo phát triển về chất lượng của Đội ngũ giảng viên và Cán bộ quản lý) có khả năng thực hiện tốt và có hiệu quả những nhiệm vụ khó và những nhiệm vụ mới, các mục tiêu mới đề ra.
1.2.4. Một vài vấn đề về quản lý nguồn nhân lực trong giáo dục
Theo quan niệm của UNESCO: Con người vừa là mục đích, vừa là tác nhân của sự phát triển và con người được xem như một tài nguyên, một nguồn lực hết sức cần thiết. Ngân hàng thế giới (WB) quan niệm: Có hai loại vốn đó là vốn con người và vốn vật chất, trong đó sự phát triển của vốn con người quyết định sự phát triển của mọi vốn khác.
Theo tác giả Phạm Minh Hạc, Nguồn nhân lực là tổng thể các tiềm năng lao động của một nước hay một địa phương sắn sang tham gia một công việc nào đó. Theo Begg Fischer & Dombusch (1995), Nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ trình độ chuyên môn con người tích lũy được, có khả năng đem lại thu nhập trong tương lai. [11; tr.487].
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc, quản lý Nguồn nhân lực là một chức năng quản lý giúp cho người quản lý tuyển mộ, lựa chọn, huấn luyện và phát triển các thành viên trong tổ chức. Quá trình quản lý Nguồn nhân lực bao gồm bảy hoạt động: Kế hoạch hóa Nguồn nhân lực; tuyển mộ; chọn lựa; xã hội hóa/hay định hướng; huấn luyện và phát triển; thẩm định kết quả hoạt động; đề bạt, bổ nhiệm, thuyên chuyển, sa thải, trong đó cốt lõi là đào tạo, phát triển và sử dụng đạt hiệu quả cao nhất [5]. Luận văn: Quản lý đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Công nghiệp.
Phát triển Nguồn nhân lực có thể được coi là một lĩnh vực của “quản lý nguồn nhân lực” với các thành tố phát triển Nguồn nhân lực, sử dụng Nguồn nhân lực, môi trường của Nguồn nhân lực.
- Sơ đồ 1.1: Quản lý nguồn nhân lực
Theo tác giả Vũ Văn Tảo (2011), ba mặt chủ yếu nhất của phát triển Nguồn nhân lực, bao gồm: Giáo dục – đào tạo; Sử dụng – bồi dưỡng và đầu tư – việc làm. Theo tác giả, phát triển Nguồn nhân lực phải có chính sách phát triển đồng bộ từ khâu đào tạo ban đầu đảm bảo cho con người có trình độ đào tạo nhất định với việc làm sau đó là khâu sử dụng hợp lý gắn bới công tác bồi dưỡng nâng cao trình độ (đào tạo những kỹ năng mới) và khâu tạo ra môi trường việc làm để có cơ hội cho họ được thể hiện, trải nghiệm và phát triển …
Như vậy quản lý Đội ngũ giảng viên theo định hướng phát triển Nguồn nhân lực là một chức năng quản lý quan trọng của người thủ trưởng với các khâu cơ bản từ kế hoạch hóa đội ngũ đến khâu tuyển chọn-sử dụng, ĐT & BD phát triển, đánh giá kết quả lao động và khâu tạo môi trường hoạt động thân thiện trong mỗi tổ chức. Phát triển đội ngũ là quá trình vận động đi lên để đảm bảo cho đội ngũ đủ về số lượng, mạnh về cơ cấu, đạt tới trình độ cao về chất lượng, có đủ phẩm chất và năng lực đảm đương tốt sứ mạng của tổ chức và các nhiệm vụ mà xã hội giao cho từng cá nhân và cả tổ chức đó.
1.2.5. Quản lý nhà trường
Nhà trường là một bộ phận của xã hội, là tổ chức giáo dục cơ sở của hệ thống Giáo dục quốc dân. Hoạt động dạy và học là hoạt động trung tâm của nhà trường. Mọi hoạt động đa dạng, phức tạp khác đều hướng vào hoạt động trung tâm này.
Tác giả Phạm Minh Hạc đã quan niệm: “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh” [12].
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Trường học là một thiết chế xã hội trong đó diễn ra quá trình đào tạo giáo dục với sự hoạt động tương tác của hai nhân tố Thầy – trò. Trường học là một bộ phận của cộng đồng và trong guồng máy của hệ thống giáo dục quốc dân, nó là đơn vị cơ sở” [1]. Luận văn: Quản lý đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Công nghiệp.
Nhìn chung, quản lý nhà trường là hệ thống xã hội sư phạm đã được chuyên môn hóa, quy định tác động có ý thức, có kế hoạch và định hướng của chủ thể quản lý đến tất cả các mặt của đời sống nhà trường. Trong các chức năng cơ bản của hệ thống quản lý thì việc tổ chức hợp lý mang tính khoa học các công việc của nhà trường trong mối liên hệ với các thành tố có tính biến đổi vô cùng phức tạp. Theo tác giả Đặng Quốc Bảo, quản lý nhà trường phải là quản lý toàn diện các khâu chủ yếu sau:
- Quản lý quá trình dạy học – giáo dục
- Quản lý chương trình giáo dục
- Quản lý đội ngũ người dạy
- Quản lý người học
- Quản lý tổ chức – hành chính
- Quản lý tài chính, Cơ sở vật chất của nhà trường;
Sơ đồ 1.2: Quản lý nhà trường theo mục tiêu giáo dục
Quản lý nhà trường là công việc của Ban giám hiệu đứng đầu là Hiệu trưởng. Dựa vào các chức năng quản lý của nhà trường mà Hiệu trưởng thực hiện được nhiệm vụ giao phó. Việc quản lý đội ngũ giáo viên trong nhà trường là một trong những nhiệm vụ cơ bản để Hiệu trưởng thực hiện chức năng quản lý nhà trường.
Vì vậy, vai trò lãnh đạo của Ban giám hiệu đặc biệt là Hiệu trưởng cực kỳ quan trọng trong vi c quản lý nhà trường thành một nhà trường đạt tiêu chuẩn theo quy định, công việc phải được tiến hành từng bước, có kế hoạch cụ thể, trong đó khâu quản lý đội ngũ người dạy là một khâu then chốt có vai trò quyết định sự thành công trong việc thực hiện các mục tiêu của nhà trường.
Mục tiêu quản lý của nhà trường thường được cụ thể hóa trong kế hoạch năm học, những mục tiêu cụ thể là căn cứ để xác định nhiệm vụ chức năng mà tập thể nhà trường thực hiện suốt năm học.
1.3. Nhiệm vụ của Trường Cao đẳng Nghề Luận văn: Quản lý đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Công nghiệp.
Tại Điều 6, Điều lệ mẫu Trường Cao đẳng Nghề (Ban hành theo quyết định số 51/2018/QĐ – BLĐTBXH ngày 05 tháng 5 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Lao động-Thương binh và xã hội) quy định nhiệm vụ quyền hạn của nhà trường như sau:
- Tổ chức đào tạo nhân lực kỹ thuật trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ ở các trình độ cao đẳng nghề, trung cấp nghề và sơ cấp nghề nhằm trang bị cho người học năng lực thực hành nghề tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khỏe, đạo đức lương tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong công nghiệp, tạo điều kiện cho họ có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc tiếp tục học lên trình độ cao hơn, đáp ứng yêu cầu thị trường lao động.
- Tổ chức xây dựng, duyệt và thực hiện các chương trình, giáo trình, học liệu dạy nghề đối với ngành nghề được phép đào tạo.
- Xây dựng kế hoạch tuyển sinh, tổ chức tuyển sinh học nghề.
- Tổ chức các hoạt động dạy và học; thi, kiểm tra, công nhận tốt nghiệp, cấp bằng, chứng chỉ nghề theo quy định của Bộ trưởng Bộ Lao động –Thương binh và Xã hội.
- Tuyển dụng, quản lý đội ngũ giáo viên, cán bộ, nhân viên của trường đủ về số lượng; phù hợp với ngành nghề, quy mô và trình độ đào tạo theo quy định của pháp luật.
- Tổ chức Nghiên cứu khoa học; ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, chuyển giao công nghệ; thực hiện sản xuất, kinh doanh và dịch vụ Khoa học, kỹ thuật theo quy định của pháp luật.
- Tư vấn học nghề, tư vấn việc làm miễn phí cho người học nghề.
- Tổ chức cho người học nghề tham quan, thực tập tại doanh nghi
- Phối hợp với các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân, gia đình người học nghề trong hoạt động dạy nghề.
- Tổ chức cho giáo viên, cán bộ, nhân viên và người học nghề tham gia các hoạt động xã hội.
- Thực hiện dân chủ, công khai trong việc thực hiện các nhiệm vụ dạy nghề, nghiên cứu, ứng dụng Khoa học công nghệ vào dạy nghề và hoạt động tài chính.
- Đưa nội dung giảng dạy về ngôn ngữ, phong tục tập quán, pháp luật có liên quan của nước mà người lao động đến làm việc và pháp luật có liên quan của Việt Nam vào chương trình dạy nghề khi tổ chức dạy nghề cho người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo quy định của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội.
- Quản lý, sử dụng đất đai, Cơ sở vật chất, thiết bị và tài chính của trường theo quy định của pháp luật.
- Thực hiện chế độ báo cáo định kỳ và đột xuất theo quy định.
- Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.
Điều lệ cũng xác định những quyền hạn cần thiết và đặc biệt là quyền hạn đề cao vai trò chủ động của nhà trường trong việc tổ chức và thực hiện các nhiệm vụ chính trị của nhà trường trong việc đào tạo Nguồn nhân lực cho từng ngành và địa phương.
Quyền hạn của nhà trường được qui định tại Điều 7 của Điều lệ như sau:
- Được chủ động xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch phát triển nhà trường phù hợp với chiến lược phát triển dạy nghề và quy hoạch phát triển mạng lưới các trường cao đẳng nghề.
- Được huy động, nhận tài trợ, quản lý, sử dụng các nguồn lực theo quy định của pháp luật nhằm thực hiện các hoạt động dạy nghề. Luận văn: Quản lý đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Công nghiệp.
- Quyết định thành lập các đơn vị trực thuộc trường theo cơ cấu tổ chức đã được phê duyệt trong Điều lệ của trường; quyết định bổ nhiệm các chức vụ từ cấp trưởng phòng, khoa và tương đương trở xuống.
- Được thành lập doanh nghiệp và tổ chức sản xuất, kinh doanh, dịch vụ theo quy định của pháp luật.
- Phối hợp với doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ trong hoạt động dạy nghề về lập kế hoạch dạy nghề, xây dựng chương trình, giáo trình dạy nghề, tổ chức thực tập nghề. Liên doanh, liên kết với các tổ chức kinh tế, giáo dục, Nghiên cứu khoa học trong nước và nước ngoài nhằm nâng cao chất lượng dạy nghề, gắn dạy nghề với việc làm và thị trường lao động.
- Sử dụng nguồn thu từ hoạt động kinh tế để đầu tư xây dựng Cơ sở vật chất của trường, chi cho các hoạt động dạy nghề và bổ sung nguồn tài chính của trường.
- Được Nhà nước giao hoặc cho thuê đất, giao hoặc cho thuê Cơ sở vật chất; được hỗ trợ ngân sách khi thực hiện nhiệm vụ Nhà nước giao theo đơn đặt hàng; được hưởng các chính sách ưu đãi về thuế và tín dụng theo quy định của pháp luật.
- Thực hiện các quyền tự chủ khác theo quy định của pháp luật.
ĐNGV trong các trường cao đẳng nghề là lực lượng chủ chốt thực hiện các chương trình đào tạo và là lực lượng góp phần quyết định tạo lên chất lượng của những người lao động trong xã hội. Tại Điều 28 của Điều lệ quy định tiêu chuẩn và trình độ chuẩn của GV dạy nghề như sau:
(1). Các tiêu chuẩn:
- Phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt;
- Đạt trình độ chuẩn quy định tại khoản 2 Điều này;
- Đủ sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp;
- Lý lịch bản thân rõ ràng.
(2). Trình độ chuẩn: Luận văn: Quản lý đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Công nghiệp.
- Giáo viên dạy lý thuyết trình độ sơ cấp nghề phải có bằng tốt nghiệp trung cấp nghề trở lên; giáo viên dạy thực hành phải là người có bằng tốt nghiệp trung cấp nghề trở lên hoặc là nghệ nhân, người có tay nghề cao;
- Giáo viên dạy lý thuyết trình độ trung cấp nghề phải có bằng tốt nghiệp đại học sư phạm kỹ thuật hoặc đại học chuyên ngành; giáo viên dạy thực hành phải là người có bằng tốt nghiệp cao đẳng nghề hoặc là nghệ nhân, người có tay nghề cao;
- GV dạy lý thuyết trình độ cao đẳng nghề phải có bằng tốt nghiệp đại học sư phạm kỹ thuật hoặc đại học chuyên ngành trở lên; giáo viên dạy thực hành phải là người có bằng tốt nghiệp cao đẳng nghề hoặc là nghệ nhân, người có tay nghề cao;
- Trường hợp giáo viên dạy nghề quy định tại các điểm a, b và c của khoản này không có bằng tốt nghiệp cao đẳng sư phạm kỹ thuật hoặc đại học sư phạm kỹ thuật thì phải có chứng chỉ sư phạm dạy nghề;
đ) Các chuẩn nghề nghiệp khác của giáo viên dạy nghề được thực hiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội. Tại Điều 29 và Điều 30 của Điều lệ Trường Cao đẳng Nghề cũng quy định về nhiệm vụ và quyền hạn của GV như sau:
Nhiệm vụ:
- Giảng dạy theo đúng nội dung, chương trình quy định và kế hoạch được giao.
- Gương mẫu thực hiện nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật; chấp hành quy chế, nội quy của trường; tham gia các hoạt động chung trong trường và với địa phương nơi trường đặt trụ sở.
- Thường xuyên học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; rèn luyện phẩm chất đạo đức; giữ gìn uy tín, danh dự của nhà giáo.
- Tôn trọng nhân cách và đối xử công bằng với người học nghề; bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của người học nghề.
- Chịu sự giám sát của nhà trường về nội dung, chất lượng phương pháp giảng dạy và Nghiên cứu khoa học.
- Hoàn thành các công việc khác được trường, khoa hoặc bộ môn phân công.
- Các nhiệm vụ khác theo quy định của pháp luật.
Quyền hạn: Luận văn: Quản lý đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Công nghiệp.
- Được bố trí giảng dạy theo chuyên ngành được đào tạo.
- Được lựa chọn phương pháp, phương tiện giảng dạy nhằm phát huy năng lực cá nhân, nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo.
- Được sử dụng giáo trình, tài liệu, học liệu dạy nghề, Cơ sở vật chất kỹ thuật của trường để thực hiện nhiệm vụ giảng dạy.
- Được ĐT & BD nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ theo quy định của pháp luật.
- Được bảo vệ danh dự, nhân phẩm. Được tham gia bàn bạc, thảo luận, góp ý về chương trình, nội dung, phương pháp dạy nghề. Được thảo luận, góp ý về các chủ trương, kế hoạch phát triển dạy nghề, tổ chức quản lý của trường và các vấn đề liên quan đến quyền lợi của nhà giáo.
- Được nghỉ hè, nghỉ học kỳ, nghỉ tết âm lịch, nghỉ lễ, nghỉ hàng tuần và các ngày nghỉ khác theo quy định của pháp luật.
- Được hợp đồng thỉnh giảng và thực nghiệm khoa học tại các cơ sở dạy nghề, cơ sở giáo dục khác, nhưng phải bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ quy định tại Điều 29 của Điều lệ mẫu này.
- Được hưởng các chính sách quy định tại các Điều 80, 81 và 82 của Luật giáo dục; khoản 2 Điều 62 và Điều 72 của Luật Dạy nghề.
- Được hưởng các quyền khác theo quy định của pháp luật.
1.4. Nội dung quản lý đội ngũ giảng viên ở Trường Cao đẳng Nghề
1.4.1. Quy hoạch đội ngũ giảng viên
Xây dựng quy hoạch phát triển Đội ngũ giảng viên thực chất là việc xây dựng và phát triển Đội ngũ giảng viên cả về số lượng, chất lượng và cơ cấu nhằm đạt được mục tiêu đề ra và thực sự là yếu tố đảm bảo chất lượng GD & ĐT của nhà trường.
Xây dựng quy hoạch phát triển Đội ngũ giảng viên của trường bao gồm:
- Đánh giá nhu cầu phát triển Kinh tế, xã hội và định hướng phát triển các ngành, nghề kỹ thuật trong thực tế để chỉ ra các cơ hội và thách thức đối với công tác phát triển Đội ngũ giảng viên của nhà trường.
- Đánh giá thực trạng Đội ngũ giảng viên của trường để nhận biết được các khó khăn và thuận lợi đối với công tác phát triển Đội ngũ giảng viên, dựa trên thực tế số lượng, cơ cấu, trình độ đào tạo, năng lực và phẩm chất của Đội ngũ giảng viên.
- Dự báo quy mô phát triển đào tạo của trường, để nhận biết được nhu cầu về đội ngũ trong hiện tại, tương lai gần (5 năm) và tương lai xa (10 hoặc 15 năm).
- Đề ra mục tiêu quy hoạch, trong đó có các mục tiêu về số lượng, cơ cấu, trình độ đào tạo, năng lực và phẩm chất của Đội ngũ giảng viên trong từng giai đoạn (5, 10, 15 năm…) phù hợp với quy mô đào tạo.
- Xây dựng kế hoạch thực hiện và xác định các biện pháp thực hiện quy hoạch, trong đó có các biện pháp về nhận thức, tuyển dụng, ĐT & BD, xây dựng chính sách và cơ chế hoạt động để phát triển.
- Chỉ ra các điều kiện thực hiện mục tiêu.
- Đưa ra các đề nghị hoặc kiến nghị cần thiết để thực hiện quy hoạch.
1.4.2. Thu hút tuyển chọn đội ngũ giảng viên Luận văn: Quản lý đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Công nghiệp.
Đây là một quy trình sử dụng các phương pháp để thu hút tuyển chọn các GV có đủ tiêu chuẩn. Quy trình này nhà trường sử dụng các phương pháp nhằm thu hút, lựa chọn quyết định xem ai là người có đủ tiêu chuẩn làm việc trong khoa, phòng bộ môn của nhà trường.
Sau khi có kế hoạch tuyển mộ, tiến hành lựa chọn GV phù hợp với nhu cầu của tổ chức, đơn vị, phù hợp với cá nhân, môi trường bên trong và bên ngoài.
Tuyển chọn là quá trình sử dụng các phương pháp nhằm lựa chọn, quyết định xem trong số những người được tuyển xem ai là người có đủ tiêu chuẩn làm việc trong tổ chức. Thực chất của quá trình tuyển chọn là lựa chọn người cụ thể theo tiêu chuẩn cụ thể rõ ràng do tổ chức đặt ra để đạt được mục đích: đủ số lượng, đúng chất lượng. Nhà trường cần đề ra những tiêu chuẩn cụ thể và đặc biệt quá trình này phải được tiến hành công khai.
Theo quy định của Luật Giáo dục 2019: “Việc tuyển chọn nhà giáo cho trường Cao đẳng, trường Đại học được thực hiện theo phương thức ưu tiên tuyển chọn các sinh viên tốt nghiệp đại học loại khá, giỏi, có phẩm chất tốt và những người có trình độ đại học, sau đại học có kinh nghiệm hoạt động thực tiễn trong giảng dạy và Nghiên cứu khoa học, có nguyện vọng trở thành GV, giáo viên để tiếp tục đào tạo về chuyên môn và nghiệp vụ sự phạm” [20].
1.4.3. Sử dụng đội ngũ giảng viên
Sử dụng là việc sắp xếp, bố trí GV thực hiện các nhiệm vụ GD & ĐT theo chuyên môn được đào tạo, trong sử dụng còn bao hàm cả đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng và sàng lọc, luân chuyển để đạt được hiệu quả cao nhất. GV phải được sử dụng và đãi ngộ đúng giá trị được đào tạo, được giảng dạy theo đúng chuyên ngành được đào tạo. Trong sử dụng phải biết trọng dụng người tài, đồng thời cũng phải thường xuyên sàng lọc, chuyển những người không đủ năng lực sang làm việc khác.
Khuyến khích Đội ngũ giảng viên say mê học tập và tu dưỡng để phát triển nghề nghiệp bản thân cũng như sự nghiệp đào tạo của nhà trường, của đất nước. Luận văn: Quản lý đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Công nghiệp.
Để phát huy có hiệu quả năng lực của Đội ngũ giảng viên, cần phải tiếp tục bổ sung, sửa đổi và thực hiện chính sách ưu đãi đối với GV, khuyến khích GV nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và đẩy mạnh sự gắn kết chặt chẽ giảng dạy với Nghiên cứu khoa học chuyển giao công nghệ; đổi mới công tác quản lý, phân công hợp lý giảng dạy đúng trình độ chuyên môn của cá nhân mỗi GV trong công tác giảng dạy, Nghiên cứu khoa học, quản lý đào tạo nhà trường. Nâng cao quyền và trách nhiệm của Đội ngũ giảng viên, tạo môi trường thuận lợi và sự bình đẳng giữa các loại hình cơ sở GD & ĐT.
Tiến hành điều chỉnh, sắp xếp, luân chuyển cán bộ, kết hợp với bổ sung Đội ngũ giảng viên từ các nguồn khác nhau. Trong đó, nguồn bổ sung chính là số sinh viên tốt nghiệp loại giỏi và cán bộ ở các đơn vị quản lý sinh viên, luôn hoàn thành tốt nhiệm vụ, có năng khiếu sư phạm. Ngoài ra, còn chú trọng tuyển dụng những sinh viên tốt nghiệp các trường Đại học có uy tín khác, có đủ tiêu chuẩn về phẩm chất, năng lực, trình độ và sức khỏe… để BD & ĐT trở thành GV.
Đánh giá trong giáo dục về cơ bản là một hoạt động mang tính xã hội, có tầm quan trọng hàng đầu đối với vấn đề chất lượng. Nhiều nghiên cứu đã thừa nhận rằng việc đánh giá thường xuyên có tác động tích cực tới việc nâng cao không ngừng chất lượng quá trình dạy và học. Do chất lượng là trách nhiệm của tất cả mọi người, đặc biệt là những người có liên quan trực tiếp tới hoạt động giảng dạy, GV trở thành những người đóng vai trò chủ chốt trong việc đánh giá công việc của chính họ. Vấn đề là làm sao cho GV tham gia vào việc đánh giá một cách hợp lý và có hi u quả, trong đó họ vừa là người được đánh giá vừa là người hỗ trợ cho việc đánh giá.
1.4.4. Công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giảng viên
Đào tạo, bồi dưỡng Đội ngũ giảng viên là hoạt động cơ bản để phát triển Đội ngũ giảng viên trên hướng tiếp cận phát triển cá nhân GV.
Hoạt động ĐT & BD GV bao gồm các hoạt động đào tạo và đào tạo lại, bồi dưỡng và tự bồi dưỡng của chính các GV.
Tự bồi dưỡng là hoạt động không thể thiếu của mỗi GV. Nhà trường cần có chính sách đảm bảo Đội ngũ giảng viên chủ động nâng cao năng lực, chuyên môn nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu phát triển của đơn vị. Quá trình ĐT & BD Đội ngũ giảng viên phải phù hợp với chiến lược phát triển nhân lực của trường. Quản lý sắp xếp Đội ngũ giảng viên theo chức danh, trình độ đào tạo; coi tự bồi dưỡng là một tiêu chí đánh giá GV. Luận văn: Quản lý đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Công nghiệp.
Hoạt động ĐT & BD GV có thể được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau: tổ chức các khóa đào tạo dài hạn, ngắn hạn tại trường; cử các GV đi học tập tại các đơn vị đào tạo khác; tạo điều kiện về cơ chế chính sách để GV tự học tập nâng cao trình độ như khuyến khích tham gia các đề tài khoa học, các hội thảo, hội nghị khoa học.
Đào tạo: Được coi như là một quá trình trang bị kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ phẩm chất đạo đức.
Đào tạo là đưa từ một trình độ hiện có lên một trình độ mới, có chất lượng mới, cấp bậc mới theo những tiêu chuẩn nhất định bằng một quá trình giảng dạy, huấn luyện có hệ thống (được cấp bằng).
Với quan niệm trên thì đào tạo phải có thời gian và kinh nghiệm nhất định, do đó phải có kế hoạch và tiêu chuẩn cụ thể.
Đào tạo lại: Sau khi đã được đào tạo có một trình độ nhất định, vì một lý do nào đó lại tham gia một quá trình đào tạo mới để đạt một trình độ khác cao hơn, mới hơn/nghề khác.
Bồi dưỡng: UNESCO định nghĩa: Bồi dưỡng có ý nghĩa là nâng cao nghề nghiệp. Quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao kiến thức hoặc kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ của bản thân nhằm đáp ứng nhu cầu lao động nghề nghiệp.
Theo quan niệm này cho thấy:
- Chủ thể bồi dưỡng là người lao động đã được đào tạo và đã có một trình độ nhất định.
- Bồi dưỡng thực chất là quá trình bổ sung kiến thức, kỹ năng để nâng cao trình độ trong một lĩnh vực hoạt động chuyên môn nhất định
- Mục đích nhằm nâng cao phẩm chất và năng lực chuyên môn để người lao động có cơ hội củng cố, mở rộng hoặc nâng cao hệ thống tri thức, kỹ năng, kỹ xảo chuyên môn nghiệp vụ sắn có nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả công việc đang làm.
Đối với GV cao đẳng, đại học, mục tiêu bồi dưỡng là:
- Cập nhật, đổi mới và nâng cao kiến thức chuyên ngành cho GV.
- Bổ sung tri thức về nghiệp vụ: Phương pháp giảng dạy, kỹ năng giảng dạy, phương pháp kiểm tra, đánh giá học sinh …
- Cung cấp tri thức về phương tiện, công cụ cho hoạt động chuyên môn, Nghiên cứu khoa học, hoạt động xã hội, tin học, ngoại ngữ …
Việc bồi dưỡng cho các đối tượng GV khác nhau có thể đặt ra các mục tiêu khác nhau tùy theo nhu cầu của GV và điều kiện đáp ứng nhu cầu đó. Luận văn: Quản lý đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Công nghiệp.
1.4.5. Đánh giá kết quả lao động của đội ngũ giảng viên
Đánh giá GV cũng như đánh giá cán bộ thuộc bất kỳ chuyên môn nào khác phải thỏa mãn hai nhóm lợi ích: lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể. Việc đánh giá GV phải nhằm ủng hộ, thúc đẩy cho sự phát triển của cá nhân GV; do vậy việc đánh giá phải khách quan, công bằng và phải có phương hướng, biện pháp phát triển cán bộ. Đánh giá GV cũng phải giúp cho sự phát triển và tiến bộ của nhà trường, từ kết quả đánh giá có các kế hoạch, giải pháp sắp xếp, cơ cấu, phát triển nguồn lực một cách phù hợp nhất.
Kiểm tra, đánh giá Cán bộ quản lý là hoạt động không thể thiếu trong công tác quản lý Đội ngũ giảng viên. Đánh giá Đội ngũ giảng viên được hiểu là việc đánh giá và thẩm định nhằm so sánh kết quả hoàn thành công việc của cá nhân với các tiêu chuẩn hoặc quy định cho vị trí làm việc đó. Trong đánh giá và thẩm định có hai dạng: đánh giá không chính thức và chính thức.
Đánh giá không chinh thức: Là quá trình liên tục chuyển thông tin từ từng thành viên cho người cấp trên biết được thành quả công việc của họ. Quá trình này được thực hiện hàng ngày do người quản lý nhận xét tức thời về một phần công việc đã được hoàn thành tốt hay không hoặc những yêu cầu, những hướng dẫn của người quản lý nhằm làm cho người cấp dưới thực hiện tốt công việc. Tất nhiên, mọi thành viên trong tổ chức phải chấp nhận hình thức đánh giá không chính thức này.
Đánh giá chính thức: Là việc đánh giá có h thống và tính định kỳ (nửa năm hoặc một năm) với mục đích cho người cấp trên biết chính thức về thành quả công việc của họ, khẳng định cho họ ai được thưởng, cất nhắc hoặc đề bạt; ai bị phạt; ai là người bồi dưỡng thêm… Có 4 cách tiếp cận trong đánh giá chính thức, đó là:
- Người quản lý cấp gần nhất chính thức xếp hạng, phân loại cấp dưới một cách độc lập;
- Một nhóm những người quản lý thực hiện việc đánh giá xếp loại;
- Một nhóm đồng nghiệp đánh giá thành tựu của đồng nghiệp;
- GV tự đánh giá và đánh giá cả người quản lý để người quản lý biết được hiệu lực, hiệu quả quản lý của họ.
Việc đánh giá, thẩm định hiệu quả lao động của con người sẽ giúp cho họ tự hoàn chỉnh, đồng thời cũng giúp ích cho các nhà quản lý khi đưa ra các quyết định về chế độ đãi ngộ, đề bạt, sa thải, thuyên chuyển. Đây là một hoạt động cần thiết và bổ ích đối với chính Đội ngũ giảng viên. Luận văn: Quản lý đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Công nghiệp.
1.4.6. Chính sách đãi ngộ đội ngũ giảng viên
Chính sách đãi ngộ Đội ngũ giảng viên là một hoạt động quan trọng trong nội dung quản lý Đội ngũ giảng viên. Cần có những chính sách nhằm thu hút các GV có trình độ năng lực về công tác tại đơn vị; cần có những hình thức khen thưởng, động viên và có chính sách đãi ngộ kịp thời đối với những GV có kết quả lao động tốt tạo điều kiện cho các GV đó có điều kiện phát triển năng lực của mình. Những người đạt thành tích thấp cần có các chế tài hoặc hình thức kỷ luật tương xứng.
Ngoài ra nhà trường cần tạo môi trường làm việc thuận lợi và phù hợp với nhu cầu của GV để GV có điều kiện thuận lợi nhất trong việc tiếp cận với sinh viên, đồng nghiệp và các công nghệ, tri thức mới.
Dựa trên quyền tự chủ về tài chính nhà trường cần xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ thuận lợi cho việc ban hành các chính sách đãi ngộ Đội ngũ giảng viên.
1.5. Những yếu tố ảnh hưởng tới quản lý đội ngũ giảng viên
- Công tác quản lý Đội ngũ giảng viên chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, cụ thể là:
1.5.1. Nhận thức và trình độ, năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ quản lý của nhà trường
Hiệu trưởng nhà trường có nhiệm vụ và trách nhiệm cao trong quản lý Đội ngũ giảng viên của nhà trường, do đó, hiệu lực và hiệu quả quản lý Đội ngũ giảng viên phụ thuộc chủ yếu vào nhận thức và trình độ quản lý của chính người hiệu trưởng và đội ngũ cán bộ quản lý khác trong nhà trường. Theo Điều 15 của Luật Giáo dục:
- “Nhà giáo giữ vai trò quyết định trong việc đảm bảo chất lượng giáo dục. học.
- Nhà giáo phải không ngừng học tập, rèn luyện nêu gương tốt cho người
Nhà nước tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nhà giáo; có chính sách sử dụng, đãi ngộ, đảm bảo các điều kiện cần thiết về vật chất và tinh thần để nhà giáo thực hiện vai trò, trách nhiệm của mình; giữ gìn và phát huy truyền thống quý trọng nhà giáo, tôn vinh nghề dạy học”
Với nhận thức như vậy, hiệu trưởng nhà trường cần tạo điều kiện cho Đội ngũ giảng viên thể hiện được vai trò của mình trong quá trình thực hiện các chương trình đào tạo của nhà trường thông qua việc thực hiện đầy đủ các hoạt động quản lý đội ngũ theo lý thuyết quản lý và phát triển Nguồn nhân lực, trong đó chú trọng tới việc tổ chức ĐT & BD Đội ngũ giảng viên, có chính sách thu hút người tài, sử dụng người tài, tạo điều kiện cần thiết về vật chất cho Đội ngũ giảng viên thực hiên đầy đủ các nhiệm vụ về giảng dạy, Nghiên cứu khoa học, chuyển giao Khoa học công nghệ …
Đồng thời, trong các hoạt động quản lý, hiệu trưởng cần thực hiện quá trình phân cấp quản lý, tạo điều kiện chủ động cho các cấp quản lý trong trường, khoa, bộ môn và chính Đội ngũ giảng viên trong quá trình giảng dạy và Nghiên cứu khoa học.
1.5.2. Ý thức, ý chí và động cơ làm việc của đội ngũ giảng viên Luận văn: Quản lý đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Công nghiệp.
ĐNGV có ý thức về vị trí, vai trò và trách nhiệm của mình trong việc đảm bảo chất lượng đào tạo của nhà trường trên cơ sở đó họ phải không ngừng học tập, rèn luyện nêu gương tốt cho người học. Đây cũng là chính yếu tố tạo lên sự đồng bộ giữa các hoạt động ĐT & BD của nhà trường với hoạt động tự bồi dưỡng nâng cao trình độ của mỗi GV để đảm bảo thực hiện thành công mục tiêu phát triển về số lượng, chất dượng và đồng bộ cơ cấu Đội ngũ giảng viên của nhà trường để thực hiện tốt các chương trình đào tạo của nhà trường.
Chiến lược phát triển kinh tế đến năm 2030 của nước ta đã chỉ rõ phát triển nhanh Nguồn nhân lực, nhất là Nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục, đẩy mạnh dạy nghề và tạo việc làm cho cả vùng nông thôn và vùng đô thị hóa, những chủ trương và chính sách phát triển đào tạo nghề và việc làm như vậy sẽ được chuyển hóa thành ý chí vươn lên của Đội ngũ giảng viên và tạo động lực lao động tích cực của chính họ. những vấn đề này nếu được nhà trường đón nhận và tổ chức cho Đội ngũ giảng viên nghiên cứu, tìm tòi phát triển sẽ là cơ hội để phát triển Đội ngũ giảng viên tới trình độ mới cao hơn.
1.5.3. Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong công tác phát triển đội ngũ giảng viên
“Cán bộ là cái gốc của cách mạng”, Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước Việt Nam rất quan tâm xây dựng đội ngũ nhà giáo và Cán bộ quản lý GD. Trong thời kỳ đổi mới giáo dục đã liên tiếp có các chỉ thị về lĩnh vực quan trọng này. Nghị quyết hội nghị lần thứ 3 BCHTW Đảng khóa VIII đã khẳng định: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng, gắn liền với mệnh của Đảng, của đất nước và chế độ”. Trong nhiều năm qua, Đảng ta thường xuyên quan tâm đến công tác cán bộ, chú trọng ĐT & BD đội ngũ cán bộ đáp ứng yêu cầu phát triển của sự nghiệp cách mạng trong từng thời kỳ. Hiện nay, khi đất nước ta tiến hành đẩy mạnh Công nghiệp hóa, hiện đại hóa, việc phát triển đội ngũ cán bộ, mà trung tâm là người Cán bộ quản lý với yêu cầu của thời đại là hết sức cấp thiết. Cán bộ phải đủ đức, đủ tài và đồng bộ.
Ban bí thư TW Đảng đã ban hành Chỉ thị số 40 về xây dựng đội ngũ nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục. Từ Chỉ thị này, ngày 11-1-2015 Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 09/2015/QĐ- TTg phê duyệt Đề án Xây dựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục giai đoạn 2015-2020, với mục tiêu tổng quát là: “Xây dựng đội ngũ nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục theo hướng chuẩn hóa, nâng cao chất lượng, đảm bảo đủ về số lượng, đồng bộ về cơ cấu, đặc biệt chú trọng nâng cao bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, lối sống, lương tâm nghề nghiệp và trình độ chuyên môn của nhà giáo, đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của sự nghiệp giáo dục trong công cuộc đẩy mạnh Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”.
Đặc biệt là Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã xác định “phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo” là khâu then chốt nhằm đạt mục tiêu đổi mới.
Kết luận chương 1
Để làm rõ cơ sở lý luận về nghiên cứu cơ sở khoa học của quản lý Đội ngũ giảng viên ở trường cao đẳng, đề tài phân tích nội dung một số khái niệm liên quan đến đề tài: GV, Đội ngũ giảng viên, Quản lý, Quản lý giáo dục, Quản lý Đội ngũ giảng viên, Quản lý Nguồn nhân lực, Quản lý Nhà trường…
Đề tài cũng đã làm sáng tỏ mục đích, yêu cầu, ý nghĩa và nguyên tắc quản lý Đội ngũ giảng viên, phân tích một cách rõ ràng, toàn diện những nhân tố ảnh hưởng đến quản lý Đội ngũ giảng viên ở trường cao đẳng.
Việc quản lý Đội ngũ giảng viên là nhiệm vụ trọng tâm của h thống GD & ĐT nói chung và của trường Cao đẳng nói riêng. Vì khi xem xét chất lượng Đội ngũ giảng viên điều cần thiết là phải xem xét toàn diện các mặt cấu thành nên chất lượng đội ngũ. Chất lượng đội ngũ cũng bao hàm cả về số lượng, cấu trúc của đội ngũ… đó là một hoạt động rất quan trọng nhằm đảm bảo cho sự phát triển của nhà trường. Thông qua việc quản lý về chuyên môn, nghiệp vụ… và sự quan tâm đãi ngộ đối với Đội ngũ giảng viên để họ phát huy tốt nhất khả năng của mình phục vụ cho nhiệm vụ chính trị của nhà trường. Đồng thời đó cũng là sự hợp tác lâu dài giữa từng GV trong đội ngũ với nhà trường để thực hiện những mục tiêu, nội dung đào tạo đã được xác định và nâng cao chất lượng đào tạo của nhà trường. Luận văn: Quản lý đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng Công nghiệp.
Đây là cơ sở khoa học hết sức quan trọng để thực hiện các biện pháp quản lý cũng như phát triển Đội ngũ giảng viên ở trường cao đẳng chuyên nghiệp. Vì đây mới chỉ là cơ sở lý luận chung mà cần phải có cơ sở thực tiễn để xây dựng các biện pháp quản lý. Đó là thực trạng đội về Đội ngũ giảng viên ở Trường Cao đẳng Công nghiệp Cẩm Phả sẽ được nghiên cứu ở chương 2.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng công tác đội ngũ giảng viên Trường Cao đẳng

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com
