Luận văn: Quản lý dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục

Mục lục

Đánh giá post

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý hoạt động dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội trong giai đoạn hiện nay dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Luật Giáo dục Việt Nam năm 2015, quy định về mục tiêu của giáo dục Trung học phổ thông như sau: “Giáo dục trung học phổ thông giúp học sinh củng cố và phát triển những kết quả của giáo dục trung học cơ sở, hoàn thiện học vấn phổ thông và có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướng nghiệp, có điều kiện phát huy năng lực cá nhân để lựa chọn hướng phát triển, tiếp tục học đại học, cao đẳng, trung cấp, học nghề hoặc đi vào cuộc sống lao động”. Trong quá trình thực hiện giáo dục nghề phổ thông (GDNPT) và giáo dục hướng nghiệp (GDHN), HS cần tìm hiểu các lĩnh vực nghề nghiệp phổ biến trong xã hội, để định hướng nghề nghiệp và thấy rõ sự phù hợp của năng lực bản thân, với yêu cầu của những ngành, nghề cụ thể, được rèn luyện các kỹ năng, tác phong lao động cần thiết. Thông qua GDNPT, học sinh được vận dụng kiến thức, kỹ năng đã được học ở các môn Nghề phổ thông, môn Công nghệ và các môn học khác, vào thực tiễn đời sống và sản xuất, trong các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ. GDNPT đồng thời góp phần rèn luyện phẩm chất, thói quen lao động, có kế hoạch, có kỷ luật, có kỹ thuật và có ý thức bảo đảm an toàn lao động, giữ gìn vệ sinh môi trường. Qua hơn 30 năm hình thành, phát triển, hệ thống các trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp đã đáp ứng phần nào nhu cầu của xã hội. Nó đã và đang là bộ phận không thể thiếu trong hệ thống giáo dục quốc dân.

Mục tiêu của Giáo dục Việt Nam nhằm phát triển toàn diện năng lực của HS, ngay từ các cấp học PT. Tuân theo nguyên lý giáo dục: “học đi đôi với hành, giáo dục, học tập kết hợp với LĐSX”. Do vậy, ngay từ đầu những năm 80 của thế kỷ trước, hệ thống Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp, được thành lập trong hệ thống các cơ sở Giáo dục phổ thông. Chỉ tính riêng ở Hà Nội đến đầu những năm 90, có tổng cộng 6 Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp, được đặt tên từ 1 đến 6. Sau năm 2018, khi sáp nhập tỉnh Hà Tây vào Hà Nội thì Hà Nội có 15 Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp. Các Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp là các cơ sở GD trục thuộc quản lý của Sở GD&ĐT Hà Nội. Hệ thống các Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp đã góp phần thực hiện tốt mục tiêu của giáo dục Việt Nam. Hiện nay, Hà Nội đang thực hiện chủ trương của ngành Giáo dục, sát nhập các loại hình Trung tâm giáo dục, dạy nghề trên địa bàn mỗi quận, huyện thành một Trung tâm duy nhất với tên gọi mới: Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp- Giáo dục thường xuyên.

Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội, được quyết định thành lập từ năm 1987, với gần 30 năm xây dựng, phát triển và trưởng thành. Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội, đã có được những thành tích GD đáng tự hào, có nhiều đóng góp cho hoạt động GD thủ đô, cũng như nền GD nước nhà. Tích cực góp phần cung ứng nguồn nhân lực địa phương và trong cả nước. Quản lý hoạt động dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội cũng đã có được những thành công nhất định, tuy nhiên công tác QL hiện nay cũng gặp phải không ít khó khăn, lúng túng, chưa hiệu quả trong quá trình hoạt động [25, tr. 4- 12].

Xuất phát từ những yêu cầu về lý luận và thực tiễn trên, với tư cách là giáo viên và là cán bộ quản lí chuyên môn, tôi luôn băn khoăn: làm thế nào để nâng cao chất lượng quản lý hoạt động dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội trong giai đoạn hiện nay? Trả lời cho các câu hỏi trên, tôi chọn đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ của mình với tiêu đề: “Quản lý hoạt động dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội trong giai đoạn hiện nay”.

2. Mục đích nghiên cứu

Đề xuất biện pháp QL hoạt động dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội trong giai đoạn hiện nay. Luận văn: Quản lý dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục.

3. Nhiệm vụ nghiên cứu

  • Nghiên cứu cơ sở lý luận về QL hoạt động dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp.
  • Khảo sát và đánh giá thực trạng QL hoạt động dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội.
  • Đề xuất một số biện pháp QL hoạt động dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội trong giai đoạn hiện nay.

4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu

4.1. Khách thể nghiên cứu

  • Hoạt động dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội.

4.2. Đối tượng nghiên cứu

Quản lý hoạt động dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội.

5. Phạm vi nghiên cứu

Quản lý hoạt động dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội và sử dụng các số liệu thứ cấp của Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội qua các báo cáo trong những năm gần đây.

6. Câu hỏi nghiên cứu

Trong giai đoạn hiện nay, cần có những biện pháp QL nào, để hoạt động dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội đạt kết quả cao?

7. Giả thuyết khoa học

Quản lý hoạt động dạy học nghề phổ thông, ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội, đã và đang được thực hiện nhưng còn nhiều điều bất cập. Việc nâng cao nhận thức về hoạt động QL và áp dụng một số biện pháp QL phù hợp, thì chất lượng dạy học nghề phổ thông, ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội sẽ được nâng lên rõ rệt.

8. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài Luận văn: Quản lý dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục.

8.1. Ý nghĩa lý luận

Luận văn đã hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về QL hoạt động dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp. Cung cấp cơ sở khoa học để khảo sát thực trạng và đề xuất một số biện pháp QL hoạt động dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội, trong giai đoạn hiện nay.

8.2. Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng cho công tác QL hoạt động dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội. Và có thể áp dụng cho các Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp khác có điều kiện tương tự.

9. Phương pháp nghiên cứu

9.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận

  • Phân tích, tổng hợp, so sánh các tài liệu liên quan

9.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

  • Điều tra bằng bảng hỏi: phiếu trưng cầu gồm các câu hỏi đóng, mở về vấn đề QL hoạt động dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội. Đối tượng khảo sát sẽ là GV, HS, Cán bộ quản lý Trung tâm từ bộ môn đến BGĐ.
  • Phỏng vấn: kỹ thuật nghiên cứu này nhằm thu thập những thông tin sâu về một số vấn đề cốt lõi của đề tài. Nhóm đối tượng phỏng vấn sẽ hạn chế hơn và tập trung vào GV và Cán bộ quản lý.
  • Phương pháp nghiên cứu sản phẩm: nghiên cứu sản phẩm của giáo viên, của học sinh qua các giờ học Nghề phổ thông để đánh giá thực trạng công tác quản lý dạy học nghề phổ thông, ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội.

9.3. Các phương pháp nghiên cứu khác

  • Đề tài sử dụng các số liệu thứ cấp của Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 qua các báo cáo trong những năm gần đây.
  • Đề tài sử dụng thuật toán thống kê để sử lý số liệu thu thập được.

10. Cấu trúc của luận văn Luận văn: Quản lý dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục.

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày theo 3 chương:

  • Chương 1: cơ sở lý luận về QL hoạt động dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp.
  • Chương 2: Thực trạng QL hoạt động dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 HN.
  • Chương 3: đề xuất biện pháp QL hoạt động dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội, trong giai đoạn hiện nay.

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC NGHỀ PHỔ THÔNG Ở TRUNG TÂM GIÁO DỤC KỸ THUẬT TỔNG HỢP

1.1. Tổng quan nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp

1.1.1. Những nghiên cứu về hoạt động dạy học nghề phổ thông nói chung và ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp nói riêng

Giáo dục nghề, hướng nghiệp cho học sinh, đã được nhiều nước trên thế giới quan tâm nghiên cứu và đã triển khai từ những thập niên 50, 60 của thế kỷ thứ 19. Trên thực tế, nó đã trở thành một lĩnh vực tác nghiệp chuyên môn và được tích hợp chặt chẽ trong các hệ thống giáo dục, đào tạo. Giáo dục trung học phổ thông không chỉ có mục tiêu chuẩn bị nguồn cho giáo dục đại học, mà cần phải chuẩn bị cho học sinh những hiểu biết về “thế giới nghề nghiệp”, có được những kiến thức cơ bản nhất về một số nghề phổ thông, hình thành những kĩ năng kĩ thuật ban đầu trong lao động nghề, phát triển năng lực sáng tạo, ý thức tổ chức kỉ luật của người lao động.

Vào giữa thế kỉ XIX, ở Pháp xuất hiện cuốn sách “Hướng nghiệp chọn nghề”. Nội dung cuốn sách đề cập tới vấn đề phát triển đa dạng của nghề do sự phát triển công nghiệp, qua đó khẳng định tính cấp thiết phải giúp đỡ thanh thiếu niên học sinh đi vào “Thế giới nghề nghiệp” nhằm sử dụng hiệu quả lao động trẻ tuổi. Sang thế kỷ XX, các nước châu Âu (Pháp, Đức, Ba Lan), châu á (Nhật Bản, Ôxtrâylia) và Liên bang Nga đã đặc biệt quan tâm đến việc dạy môn Kỹ thuật, Công nghề, giáo dục Nghề cho học sinh. Ở Nhật Bản, công trình “Cải cách giáo dục Nhật Bản hướng tới thế kỉ 21” của Magumi Nishino (Viện nghiên cứu giáo dục Nhật Bản) đã nghiên cứu khá sâu sắc vấn đề bồi dưỡng tri thức và kĩ năng cơ bản của những ngành nghề cần thiết cho học sinh phổ thông. Jacques Delors, chủ tịch Uỷ ban quốc tế độc lập về giáo dục cho thế kỉ XXI của UNESCO, khi phân tích “Những trụ cột của giáo dục” đã viết: “Học tri thức, học làm việc, học cách chung sống và học cách tồn tại”, đó là 4 trụ cột mà ủy ban đã trình bày và minh họa những nền tảng của giáo dục . Theo tác giả vấn đề GDHN và học nghề của học sinh phổ thông là một căn bản không thể thiếu được trong giáo dục. Tác giả đã nhấn mạnh việc học sinh có cơ hội phát triển năng lực của mình bằng cách tham gia các hoạt động nghề nghiệp song song với việc học tập tri thức.

Dạy nghề phổ thông là xu thế mà nhà trường phổ thông của nhiều nước trên đang áp dụng có hiệu quả như: Nhật Bản, Trung Quốc, Hà Lan, Sing-Ga-Po, Ma- Lai-XiA… cung cấp cho học sinh những cơ sở khoa học về tự nhiên, xã hội và tư duy rèn luyện các kỹ năng thực hành chuẩn bị các cơ sở ban đầu cho việc tiếp thu khoa học kỹ thuật nghề nghiệp và bước vào cuộc sống. Dạy nghề trong nhà trường phổ thông mang tính giáo dục tiền nghề nghiệp, chuẩn bị nghề cho học sinh là chủ yếu. Ở đây chỉ trang bị những kiến thức, kỹ năng lao động cơ bản giúp cho học sinh làm quen với lao động và nghề nghiệp, khả năng vận dụng và thích ứng với cơ chế thị trường. Luận văn: Quản lý dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục.

Ở Việt Nam, trước hết phải kể đến quan điểm mang tính định hướng của chủ tịch Hồ Chí Minh. Theo Bác, một nhà trường vì nhu cầu “học, làm, sống tốt” của xã hội học tập là “nhà trường xã hội chủ nghĩa”: “Học đi với lao động. Lý luận đi với thực hành. Cần cù đi với tiết kiệm”: học tốt (học đi với lao động, với thực hành), làm tốt (lao động, thực hành đi với học), sống tốt (cần, kiệm).

Nghị quyết TW2 của Đảng cộng sản Việt Nam khoá VIII đề ra nhiệm vụ của ngành giáo dục cả nước là cần mở rộng và nâng cao chất lượng giáo dục kĩ thuật tổng hợp – hướng nghiệp. Tới Đại hội X và XI, Đảng ta đã xác định đổi mới toàn diện giáo dục – đào tạo, yêu cầu dạy học phân ban và tự chọn ở cấp Trung học phổ thông trên cơ sở làm tốt công tác Giáo dục kỹ thuật tổng hợp, HN và phân luồng từ Trung học cơ sở. Đây cũng là cơ sở mở đường cho công tác nghiên cứu và dạy học nghề phổ thông hiện nay- [13, tr. 53].

Liên tiếp từ năm 1981 đến nay, Ban Giáo dục hướng nghiệp, Bộ Giáo dục đã nghiên cứu biên soạn tài liệu dạy học nghề phổ thông và Sinh hoạt hướng nghiệp cho học sinh cuối cấp Trung học cơ sở và các lớp khối PTTH. Trong những năm gần đây, các nhà tâm lý học, giáo dục học, xã hội học, kinh tế học, chính trị học đã tiếp cận nhiều đến vấn đề dạy Nghề phổ thông và hoạt động GDHN cho học sinh phổ thông ở các khía cạnh khác nhau. Mục tiêu “Đổi mới công tác hướng nghiệp cho phù hợp với kinh tế thị trường. Quán triệt chủ trương đổi mới sự nghiệp giáo dục và đào tạo, đẩy mạnh việc củng cố và phát triển các Trung tâm KTTH – HN – DN” xác định cần: “Chú trọng việc hình thành những năng lực nghề nghiệp cho thế hệ trẻ để tự tìm ra việc làm”, đồng thời: “Tiếp sau quá trình hướng nghiệp, dứt khoát phải dạy nghề cho học sinh… đây sẽ là một nguyên tắc rất cơ bản”- [11, tr.74].

Mối quan hệ giữa học vấn phổ thông và học vấn nghề nghiệp đã được tác giả làm sáng tỏ: “Trong cơ chế đổi mới hiện nay vấn đề chuẩn bị nghề nghiệp là một yêu cầu nóng bỏng của thực tế xã hội”- [11, tr. 97]. Học vấn phổ thông và học vấn nghề nghiệp có phần giao thoa ngày càng rõ theo hướng mô đun hoá ở mức phổ thông. Phần giao thoa đó ngày càng lớn nghĩa là công tác GDHN và DNPT được tiến hành sớm và phát triển mạnh, đó là cơ sở cho việc định hướng và phân luồng học sinh, chuẩn bị nguồn nhân lực có chất lượng cho sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước. Kết quả nghiên cứu của tác giả hoàn toàn phù hợp với xu thế đổi mới của giáo dục trung học hiện nay, giáo dục trung học đang ngày càng không còn là nền giáo dục cho một số ít người như vào đầu thế kỷ XX, giáo dục trung học ngày nay không phải chỉ để cho người học lên, mà còn chuẩn bị cho thanh niên đi vào thế giới lao động nghề nghiệp, đặc biệt cho những ai chỉ có thể học hết bậc trung học.

Từ những năm 70 của thế kỷ 20 đến nay, ở nước ta đã có nhiều công trình nghiên cứu về dạy kỹ thuật, giáo dục nghề nghiệp cho Học sinh phổ thông, điển hình là các tác giả Phạm Tất Dong, Nguyễn Minh Đường, Đặng Danh Ánh, Phan Văn Kha, Nguyễn Đức Trí, Trần Khánh Đức. Điển hình như bài: “Một số giải pháp tổ chức hoạt động dạy học kĩ thuật ứng dụng (NPT) cho học sinh bậc TH tại các trung tâm KTTH- HN- DN” của tác giả Hà Thế Truyền.

Từ việc tổng quan các công trình nghiên cứu tiêu biểu và từ kinh nghiệm thực tiễn về giáo dục nghề nghiệp cho Học sinh phổ thông cho thấy: dạy học nghề phổ thông không chỉ cung cấp cho HS có kiến thức, mà còn phải thực hành để có tay nghề, vào đời có thể lao động được ngay, không bỡ ngỡ; phát triển GD gắn liền với phát triển KT-XH; nội dung, hình thức tổ chức GD nghề nghiệp cho Học sinh phổ thông có sự khác nhau, nhưng nhìn chung đều coi đây là giai đoạn GD “tiền nghề nghiệp” hết sức quan trọng đối với sự thành đạt của mỗi HS và với KT-XH. Luận văn: Quản lý dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục.

Luận văn rút ra kết luận như sau: các công trình nghiên cứu đã thể hiện quan điểm GD của Đảng: Học đi đôi với hành, GD kết hợp với lao động sản xuất – Nhà trường gắn liền với xã hội; chắt lọc những thành quả nghiên cứu ở nước ngoài để áp dụng một cách sáng tạo vào thực tiễn GD Việt Nam, đặc biệt là việc xây dựng và phát triển hệ thống trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp. Đó là những cơ sở ban đầu rất quan trọng để học sinh tiếp tục vào học tại các trường nghề. Hình thành kỹ năng nghề nghiệp, phát huy sáng tạo thành thời gian lao động tư duy. Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp là đơn vị GD thuộc bậc PTTH trong hệ thống giáo dục quốc dân, góp phần tạo nền tảng vững chắc để phát triển nguồn nhân lực, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.

1.1.2. Những nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học nghề phổ thông nói chung và ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp nói riêng

Song song với những nghiên cứu khoa học về hoạt động dạy học nghề phổ thông, trong những năm qua cũng có nhiều nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học nghề phổ thông nói chung, về quản lý hoạt động dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp nói riêng. Nổi bật trong các nghiên cứu khoa học, có liên quan tới hướng nghiên cứu của đề tài phải kể đến: “Một số nét đổi mới công tác QL tại Trung tâm KTTH-HN Dạy nghề Phan Rang – Ninh Thuận”, tạp chí KHGD, tác giả Bùi Đức Tú (2016), viện Chiến lược và Chương trình GD, Bộ GD&ĐT; “Công tác dạy Nghề phổ thông- Thực trạng và giải pháp QL”, tạp chí KHGD, tác giả Bùi Đức Tú (2017), viện Chiến lược và Chương trình GD, Bộ GD&ĐT; “Biện pháp QL hoạt động dạy học nghề phổ thông tại trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp-HN Hải Phòng”, luận văn Thạc sĩ QLGD, tác giả Vũ Văn Ngôn (2019); “Một số biện pháp chỉ đạo, quản lý có hiệu quả hoạt động dạy học nghề phổ thông tại trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp-HN Ngũ Điền”, SKKN của tác giả Lê Quang Đại, Giám đốc trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp-HN Ngũ Điền (2024)…

Tuy nhiên trong đề tài “Quản lý hoạt động dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội trong giai đoạn hiện nay” chúng tôi muốn đi sâu vào công tác QL hoạt động dạy học nghề phổ thông ở đơn vị chúng tôi và từ đó đề xuất một số biện pháp QL, nhằm nâng cao chất lượng dạy học nghề phổ thông cho Học sinh phổ thông tại cơ sở GD của mình và có thể áp dụng được cho các Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp khác trên địa bàn thành phố Hà Nội.

1.2. Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp Luận văn: Quản lý dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục.

1.2.1. Khái niệm trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp

GDKTTH: Giáo dục kỹ thuật tổng hợp (GDKTTH) Theo K.Marx, Giáo dục kỹ thuật tổng hợp là cho HS “làm quen với những nguyên lý cơ bản của tất cả các quá trình sản xuất và đồng thời trang bị cho trẻ em hay thanh thiếu niên những kỹ xảo sử dụng những công cụ đơn giản nhất của tất cả các ngành sản xuất”. Mục tiêu của Giáo dục kỹ thuật tổng hợp là hình thành ở HS người lao động tương lai – khả năng thích ứng, khả năng di chuyển ngành nghề trong điều kiện cách mạng Khoa học công nghệ biến đổi; Nhiệm vụ chính của Giáo dục kỹ thuật tổng hợp là “Bù đắp lại những nhược điểm do phân công lao động gây nên, sự phân công này đã cản trở HS tiếp thu những kiến thức cơ bản về nghề nghiệp của mình”. I. Lênin coi Giáo dục kỹ thuật tổng hợp là nguyên tắc chủ đạo, bắt buộc đối với Giáo dục phổ thông, để hình thành tri thức, kỹ năng trong từng HS.

Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp: Tên gọi khác là Trung tâm KTTH- HN một trong những cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống giáo dục quốc dân. Nhiệm vụ chủ yếu là: dạy công nghệ, kỹ thuật, dạy nghề phổ thông và tư vấn hướng nghiệp cho học sinh phổ thông; tổ chức lao động sản xuất và dịch vụ kỹ thuật phục vụ giáo dục đào tạo, góp phần phân luồng học sinh sau Trung học cơ sở và Trung học phổ thông; nghiên cứu ứng dụng các đề tài khoa học về Giáo dục kỹ thuật tổng hợp, HN, DN cho Học sinh phổ thông, thử nghiệm ứng dụng và chuyển giao công nghệ mới phục vụ phát triển kinh tế – xã hội của địa phương; mở lớp dạy nghề, liên kết với các cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục để đào tạo và tư vấn HN cho HS, thanh thiếu niên và đối tượng khác khi có nhu cầu… Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp thực hiện chương trình Giáo dục kỹ thuật tổng hợp và HN do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Căn cứ vào chương trình giáo dục và kế 6 hoạch năm học, Trung tâm xây dựng kế hoạch và thời khóa biểu để điều hành hoạt động dạy học. Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp tổ chức kiểm ra, đánh giá, xếp loại kết quả học tập và hạnh kiểm đối với HS theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Giáo viên của Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp phải có trình độ đạt chuẩn như quy định đối với GV dạy cùng cấp học của giáo dục phổ thông. HS Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp là người học đang theo học một hoặc nhiều chương trình của Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp. Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp phải có đủ các phòng học lý thuyết, phòng học bộ môn, thư viện, phòng thực hành lao động sản xuất đáp ứng với yêu cầu giảng dạy, học tập. Phải có các thiết bị dạy học, sách, tạp chí theo yêu cầu của việc thực hiện các chương trình dạy học tại Trung tâm, được QL, sử dụng có hiệu quả theo quy định. Nguồn tài chính của Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp bao gồm: Nguồn ngân sách nhà nước cấp; Học phí, các khoản thu từ các hợp đồng đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, lao động sản xuất và các hoạt động khác; Các nguồn thu tài chính hợp pháp khác.

Vị trí của Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp trong hệ thống Giáo dục quốc dân– [7, 1- 5]

  • Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp là cơ sở giáo dục phổ thông của hệ thống Giáo dục quốc dân.
  • Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp có tư cách pháp nhân, có con dấu và tài khoản riêng.

1.2.3. Chức năng và nhiệm vụ của Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp Luận văn: Quản lý dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục.

Được ban hành theo Quyết định số 44/2018/QĐ-BGDĐT ngày 30 tháng 07 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, quy định cụ thể về chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp là:

  • Dạy công nghệ, kỹ thuật, dạy nghề phổ thông và tư vấn hướng nghiệp cho học sinh học chương trình giáo dục phổ thông.
  • Bồi dưỡng giáo viên các trường Trung học cơ sở (THCS), Trung học phổ thông (THPT) về Giáo dục kỹ thuật tổng hợp, hướng nghiệp.
  • Tổ chức lao động sản xuất và dịch vụ kỹ thuật phục vụ giáo dục đào tạo, góp phần phân luồng học sinh sau Trung học cơ sở và Trung học phổ thông.
  • Nghiên cứu ứng dụng các đề tài khoa học về Giáo dục kỹ thuật tổng hợp, HN, DN cho Học sinh phổ thông, thử nghiệm, ứng dụng và chuyển giao công nghệ mới phục vụ phát triển kinh tế- xã hội của địa phương.
  • Mở lớp dạy nghề; liên kết với các cơ sở giáo dục trong hệ thống giáo dục quốc dân để đào tạo và tư vấn hướng nghiệp cho học sinh, thanh thiếu niên và các đối tượng khác khi có nhu cầu.

Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp được phép liên kết với Trung tâm giáo dục thường xuyên, Trung tâm dạy nghề trên địa bàn và các cơ sở giáo dục khác để thực hiện nhiệm vụ giáo dục thường xuyên, hướng nghiệp và dạy nghề theo quy định.

1.2.4. Cơ cấu tổ chức của Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp

Cơ cấu tổ chức: có 1 giám đốc, 1 hoặc 2 phó giám đốc; Các tổ gồm: tổ hành chính – tổng hợp, tổ văn phòng – giáo vụ, tổ chuyên môn, tổ hướng nghiệp – dạy nghề, tổ lao động sản xuất – dịch vụ và các tổ chuyên môn khác; mỗi tổ có một tổ trưởng, một tổ phó do Giám đốc Trung tâm bổ nhiệm. Giám đốc Trung tâm quyết định thành lập các tổ và giao nhiệm vụ cụ thể cho từng tổ.

Tổ chức Đảng cộng sản Việt Nam và đoàn thể trong Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp: tổ chức Đảng cộng sản Việt Nam trong Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp hoạt động theo quy định của Điều lệ Đảng, thực hiện các nghị quyết, quyết định của tổ chức Đảng cấp trên, lãnh đạo Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp; Các đoàn thể, tổ chức xã hội trong Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp hoạt động theo quy định của pháp luật và có trách nhiệm thực hiện mục tiêu, nguyên lý giáo dục, hoạt động phù hợp với tôn chỉ, mục đích, chức năng, nhiệm vụ của đoàn thể, tổ chức xã hội.

Hội đồng khoa học, hội đồng thi đua khen thưởng, kỷ luật của Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp: căn cứ vào yêu cầu của công tác điều hành, Giám đốc Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp thành lập các hội đồng khoa học, hội đồng thi đua khen thưởng, kỷ luật. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, thành phần, chế độ làm việc và thời gian hoạt động của các hội đồng này do Giám đốc Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp quy định.

1.2.5. Cấp quản lý trực tiếp của Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp Sở GD&ĐT trực tiếp QL, chỉ đạo mọi hoạt động của Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp. Luận văn: Quản lý dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục.

1.2.6. Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Giám đốc, Phó Giám đốc Trung tâm GDHTTH

Giám đốc Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp: là người trực tiếp quản lý, điều hành và chịu trách nhiệm trước cơ quan quản lý cấp trên về hoạt động của Trung tâm.

  • Giám đốc Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp là người có phẩm chất chính trị và đạo đức tốt, có năng lực quản lý, tốt nghiệp đại học và đã công tác trong ngành Giáo dục ít nhất 5 năm.
  • Giám đốc Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp được bổ nhiệm và bổ nhiệm lại theo nhiệm kỳ; mỗi nhiệm kỳ là 5 năm.
  • Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh bổ nhiệm giám đốc Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp hoặc ủy quyền giám đốc sở GD&ĐT bổ nhiệm Giám đốc Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp.
  • Nhiệm vụ và quyền hạn của Giám đốc Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp:

Lập kế hoạch, tổ chức thực hiện và giám sát đánh giá việc thực hiện kế hoạch nhằm hoàn thành các nhiệm vụ của Trung tâm;

  • Quản lý cơ sở vật chất và các tài sản của Trung tâm;
  • Quản lý nhân viên, giáo viên và học viên của Trung tâm;
  • Bổ nhiệm các tổ trưởng, tổ phó; thành lập các tổ chuyên môn, nghiệp vụ;
  • Quản lý tài chính, quyết định thu chi và phân phối các thành quả lao động, thực hành kỹ thuật, dịch vụ theo quy định;
  • Ký học bạ, các giấy chứng nhận trình độ học lực và kỹ thuật, nghề nghiệp, chứng chỉ nghề cho học sinh học tại Trung tâm theo uỷ quyền của Giám đốc Sở GD&ĐT và quy định của Bộ GD&ĐT;
  • Được hưởng các chế độ theo quy định.

Phó Giám đốc Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp: là người giúp việc cho Giám đốc, có phẩm chất chính trị và đạo đức tốt, có năng lực quản lý, tốt nghiệp đại học, đó công tác trong ngành Giáo dục ít nhất 5 năm.

  • Phó giám đốc Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp được bổ nhiệm và bổ nhiệm lại theo nhiệm kỳ; mỗi nhiệm kỳ là 5 năm.
  • Giám đốc sở GD&ĐT bổ nhiệm phó Giám đốc Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp.
  • Phó Giám đốc Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp có những nhiệm vụ và quyền hạn sau đây:
  • Thực hiện và chịu trách nhiệm trước Giám đốc về những việc được phân công;
  • Chịu trách nhiệm trước cấp trên về các hoạt động có liên quan của Trung tâm;
  • Thay mặt GĐ điều hành hoạt động của Trung tâm khi được Giám đốc uỷ quyền;
  • Được hưởng các chế độ theo quy định.

1.3. Hoạt động dạy học Nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp Luận văn: Quản lý dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục.

1.3.1. Khái niệm dạy học Nghề phổ thông

Dạy học: hiện nay, có rất nhiều quan niệm khác nhau về dạy học, nhưng có một khái niệm dạy học thường được sử dụng: “dạy học là một bộ phận của quá trình sư phạm tổng thể, bao gồm toàn bộ các thao tác có tổ chức và có định hướng, giúp người học từng bước có năng lực tư duy và năng lực hành động, với mục đích chiếm lĩnh các giá trị tinh thần, các hiểu biết, các kỹ năng, các giá trị văn hóa mà nhân loại đã đạt được, để trên cơ sở đó có khả năng giải quyết được các bài toán thực tế đặt ra trong toàn bộ cuộc sống của mỗi người học”

Nghề phổ thông (NPT): nghề phổ thông là những nghề thông dụng phổ biến trong xã hội, có mức độ kỹ thuật cơ bản nhất nhưng tương đối đơn giản; tổ chức dạy học không phức tạp về trang thiết bị và quy trình triển khai; nguyên vật liệu và phôi dễ kiếm, dễ tạo, rẻ tiền; thời gian học nghề ngắn, chi phí đào tạo ít.

Hoạt động dạy học Nghề phổ thông: là một hoạt động Giáo dục phổ thông, được thực hiện dưới hình thức như một môn học nằm trong kế hoạch dạy-học, có chương trình dạy nghề và danh mục nghề (do BGD&ĐT quy định) cho Học sinh phổ thông. Thông qua tổ chức hoạt động dạy học nghề phổ thông giúp cho học sinh có được: những ý niệm, những thông tin ban đầu, những kiến thức cơ bản về một số nghề hoặc một số nhóm Nghề phổ thông, gần gũi với các em và phù hợp với xu thế thế giới trong hoàn cảnh hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, giúp các em có thêm thông tin, tự mình định hướng việc chọn ngành nghề phù hợp với năng lực bản thân, hoàn cảnh gia đình và nhu cầu xã hội để được đào tạo, trở lại phục vụ chính mình và đáp ứng nguồn nhân lực cho sự nghiệp CNH, HĐH quê hương, đất nước. Giúp hình thành và phát triển ở Học sinh phổ thông, những kỹ năng lao động nghề nghiệp cần thiết và tư duy kỹ thuật. Đồng thời Giáo dục học sinh về thái độ, tác phong lao động nghề nghiệp, những phẩm chất, đức tính cần có của người lao động, nhằm đáp ứng tốt những yêu cầu của nền kinh tế – xã hội, tạo điều kiện thuận lợi để dịch chuyển lao động nghề nghiệp, phù hợp những thay đổi nhanh chóng về việc làm.

1.3.2. Mục đích, yêu cầu của dạy học nghề phổ thông Luận văn: Quản lý dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục.

  • Mục đích:

Về kiến thức: giáo dục cho HS hiểu được một số kiến thức cơ bản về công cụ, kỹ thuật, quy trình công nghệ và về an toàn lao động, vệ sinh môi trường đối với một Nghề phổ thông đã học, biết đặc điểm và yêu cầu của nghề đó.

Về kỹ năng: hình thành cho HS một số kỹ năng sử dụng công cụ, kỹ năng thực hành kỹ thuật theo quy trình công nghệ để làm ra sản phẩm theo yêu cầu của GDNPT và phát triển nhu cầu vận dụng kiến thức vào thực tiễn.

Về thái độ của người học: phát triển hứng thú kỹ thuật và nhu cầu vận dụng kiến thức, kỹ năng vào lao động, thói quen làm việc có kế hoạch, tuân thủ quy trình kỹ thuật và bảo đảm an toàn lao động, bước đầu có tác phong công nghiệp, giữ gìn vệ sinh môi trường, có ý thức tìm hiểu và lựa chọn nghề nghiệp.

Về ý thức xã hội: dạy Nghề phổ thông để nâng cao hiệu quả công tác hướng nghiệp, góp phần định hướng nghề theo ý nghĩa giáo dục hướng nghiệp. Phân luồng học sinh Trung học cơ sở, Trung học phổ thông, tư vấn cho các em HS lựa chọn được nghề mình yêu thích và phù hợp với năng lực của bản thân.

  • Yêu cầu:

Trong quá trình thực hiện dạy học nghề phổ thông, học sinh cần được tìm hiểu các lĩnh vực nghề nghiệp phổ biến trong xã hội, để định hướng nghề nghiệp và thấy rõ sự phù hợp của năng lực bản thân với yêu cầu ở những nghề cụ thể. HS được rèn luyện các kỹ năng, tác phong lao động cần thiết. Thông qua dạy học nghề phổ thông học sinh được vận dụng kiến thức, kỹ năng các môn học khác vào thực tiễn đời sống và sản xuất trong các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ.

GDNPT phải góp phần rèn luyện phẩm chất, thói quen lao động có kế hoạch, có kỷ luật, có kỹ thuật và ý thức bảo đảm an toàn, giữ gìn vệ sinh môi trường. Luận văn: Quản lý dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục.

Góp phần nâng cao, củng cố, hệ thống hoá, khắc sâu kiến thức, kỹ năng nghề học nhằm giúp HS rèn luyện năng lực tự học, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và năng lực vận dụng kiến thức vào thực tiễn.

Giúp học sinh nhà trường trong quá trình học nghề phổ thông tự lựa chọn ngành nghề phù hợp, đồng thời tư vấn, hướng nghiệp cho các em học sinh lựa chọn ngành nghề với điều kiện khả năng và nhu cầu của xã hội, góp phần phân luồng cho

1.3.3. Một số tính chất của dạy học nghề phổ thông

Tính chất phổ thông: dạy học nghề phổ thông chưa phải là dạy nghề hoàn chỉnh như trong các trường dạy nghề. Hoàn thành chương trình Nghề phổ thông người học cũng được cấp chứng chỉ. Tuy nhiên, chứng chỉ này chỉ có tính pháp lý về học vấn phổ thông, không có tính pháp lý để hành nghề trong xã hội.

Tính ứng dụng/hành dụng: hầu hết các Nghề phổ thông được dạy đều có cơ sở lý thuyết nghề đã được học từ các môn học phổ thông. Như vậy, có thể coi Nghề phổ thông là “môn học” về vận dụng các kiến thức đã học ở các môn học phổ thông vào một lĩnh vực nghề cụ thể và rèn luyện những kỹ năng, kỹ xảo nghề cần thiết.

Tính chất dạy nghề: đặc điểm này quy định dạy học nghề phổ thông phải khác với dạy-học các môn văn hoá phổ thông là nhấn mạnh dạy thực hành nghề, là sự trải nghiệm của HS, là giáo dục phẩm chất người thợ và làm công tác tư vấn nghề cho học sinh.

1.3.4. Tổ chức dạy học nghề phổ thông

Kế hoạch dạy học nghề phổ thông: Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp thực hiện chương trình dạy học nghề phổ thông do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành; Căn cứ vào chương trình giáo dục và kế hoạch năm học, Trung tâm xây dựng kế hoạch và thời khóa biểu để điều hành hoạt động dạy học nghề phổ thông.

Nội dung- chương trình dạy học nghề phổ thông: chương trình hoạt động dạy học nghề phổ thông của Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp được Bộ GD&ĐT quy định từ năm học 2017 – 2018. Theo đó Bộ GD&ĐT phân phối thời lượng theo phần, chương. Các Sở GD&ĐT chỉ đạo việc phân phối thời lượng cho từng bài. Giáo viên phải thực hiện đúng phân phối chương trình, đủ số tiết quy định cho tùng bài và nội dung trong sách giáo khoa.

Hiện nay, Nghề phổ thông là một hoạt động giáo dục được gọi là: hoạt động giáo dục Nghề phổ thông, chỉ học ở lớp 11 (từ năm học 2017 – 2018) với thời lượng 105 tiết, 3 tiết/tuần (lớp 10 và lớp 12 không học). Tài liệu dạy học do Bộ GD&ĐT ban hành có 11 Nghề phổ thông: Làm vườn, Nuôi cá, Trồng rừng, gò, Điện dân dụng, Điện tử dân dụng, Sửa chữa xe máy, Cắt may, Nấu ăn, Thêu tay, Tin học văn phòng. Luận văn: Quản lý dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục.

Nội dung dạy học nghề phổ thông gồm các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, thủ công, dịch vụ và tin học. Những Nghề phổ thông được lựa chọn là những nghề phổ biến, xã hội có nhu cầu phát triển, phù hợp với học sinh Trung học phổ thông. Như vậy sẽ có nhiều chương trình Nghề phổ thông được áp dụng cho học sinh trên toàn quốc và phù hợp với đặc thù các vùng miền khác nhau.

Chương trình mỗi Nghề phổ thông bao gồm các nội dung về nguyên vật liệu, công cụ, kỹ thuật, quy trình công nghệ và phần tìm hiểu nghề. Để đảm bảo mục tiêu hình thành kỹ năng, trong mỗi chương trình phần lý thuyết không được quá 1/3 thời gian. Các địa phương được phép lựa chọn những Nghề phổ thông phù hợp với nhu cầu học tập của học sinh, điều kiện phát triển kinh tế, GV, cơ sở vật chất để tổ chức thực hiện. Nhưng số nội dung (chương trình) nghề phải phù hợp với sự đa dạng của thực tiễn phát triển kinh tế ở địa phương và nguyện vọng cũng như năng lực của HS để đảm bảo cho mỗi HS được phát triển và phục vụ cho việc định hướng nghề. Nội dung dạy học nghề phổ thông Phải đảm bảo những mặt tri thức, kỹ năng lao động nghề nghiệp và nó là sự cụ thể hóa chương trình thành những chuẩn tri thức kỹ thuật và chuẩn kỹ năng lao động nghề nghiệp.

Do sự đa dạng của các nghề, hiện nay Bộ GD&ĐT đã tổ chức xây dựng được 11 chương trình nghề, đại diện các lĩnh vực nghề phổ biến, Bộ GD&ĐT sẽ còn tổ chức xây dựng tiếp chương trình những nghề phổ biến khác và hướng dẫn địa phương áp dụng chương trình, những nghề có đặc thù riêng của địa phương (với điều kiện có tài liệu biên soạn được Sở GD&ĐT duyệt và Bộ thẩm định cho phép thực hiện). Đối với cấp Trung học cơ sở, nghề phổ thông là môn học tự chọn, học 2 tiết/tuần, cả năm học 70 tiết. Học sinh được đăng ký lựa chọn học các Nghề phổ thông theo danh mục đã được Bộ GD&ĐT ban hành.

Phương pháp dạy học nghề phổ thông: là cách thức và phương thức làm việc của GV và HS nhờ đó mà HS có thể lĩnh hội được một cách chắc chắn tri thức, kỹ năng cần thiết để lao động theo nghề nghiệp của mình, là hình thành và phát triển năng lực tự học và năng lực vận dụng tri thức một cách sáng tạo. Sử dụng các Phương pháp dạy học trong hoạt động dạy học nghề phổ thông là một quá trình phức tạp đòi hỏi phải vận dụng phối hợp nhiều phương pháp khác nhau, đòi hỏi biến đổi các phương pháp ấy tùy theo nội dung dạy học, đòi hỏi vận dụng các phương pháp để “tích cực hóa hoạt động” của học sinh.

Tổ chức lớp học Nghề phổ thông: học sinh học tập tại Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp được tổ chức theo lớp học, mỗi lớp học được chia thành nhiều tổ học sinh. Mỗi lớp học có một giáo viên Chủ nhiệm; có lớp Trưởng, một hoặc hai lớp Phó; tổ Trưởng, một hoặc hai tổ Phó. Lớp Trưởng và lớp Phó do tập thể lớp bầu ra; tổ Trưởng, tổ Phó do tổ bầu ra vào đầu mỗi năm học. Luận văn: Quản lý dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục.

Sách giáo khoa và tài liệu học tập Nghề phổ thông: Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp sử dụng sách giáo khoa và tài liệu học tập theo quy định về chương trình, giáo trình, sách giáo khoa của Bộ GD&ĐT, các tài liệu học tập riêng cho địa phương do Sở GD&ĐT quy định.

Hệ thống sổ sách theo dõi dạy học nghề phổ thông:

Đối với Trung tâm:

  1. Sổ kế hoạch và chương trình hoạt động;
  2. Sổ nghị quyết của Trung tâm;
  3. Sổ đăng bộ;
  4. Sổ gọi tên và ghi điểm; đ) Sổ ghi đầu bài;
  5. Sổ theo dõi quá trình học tập của học sinh tại Trung tâm;
  6. Sổ theo dõi cấp phát văn bằng, chứng chỉ;
  7. Sổ kiểm tra, đánh giá giáo viên về công tác chuyên môn;
  8. Sổ thi đua;
  9. Sổ theo dõi văn bản, công văn đi, đến; cặp lưu trữ văn bản, công văn;
  10. Sổ quản lý tài sản, tài chính.

Đối với giáo viên:

  1. Sổ kế hoạch giảng dạy;
  2. Giáo án;
  3. Sổ dự giờ;
  4. Sổ điểm cá nhân;

Sổ giáo viên Chủ nhiệm lớp;

  • Sổ bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ, ghi chép trong các cuộc họp- [7, 9].

Giáo viên dạy học nghề phổ thông: giáo viên dạy học nghề phổ thông, là giáo viên của Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp (sau đây gọi là giáo viên) là người làm nhiệm vụ giảng dạy các môn Nghề phổ thông, nhiệm vụ giáo dục tại Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp, tham gia giảng dạy các chương trình quy định, theo chức năng, nhiệm vụ của Trung tâm. Giáo viên của Trung tâm KTTH – HN tham gia giảng dạy các chương trình dạy học nghề phổ thông để lấy văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân, phải có trình độ đạt chuẩn như quy định đối với giáo viên dạy cùng cấp học của giáo dục phổ thông.

Đối với việc dạy học nghề phổ thông thì đội ngũ GV giảng dạy, phải vừa giỏi lý thuyết, vừa giỏi tay nghề. Trên thực tế thì ít nơi được như vậy vì trong đội ngũ GV có cả những công nhân với tay nghề cao nhưng hạn chế về năng lực sư phạm, ngược lại có nhiều GV được đào tạo bài bản về mặt sư phạm nhưng lại yếu về tay nghề thực hành và có cả những GV dạy theo “hợp đồng”. Như vậy, đội ngũ GV đa dạng hơn so với trường phổ thông và “môi trường tâm lý” không thuần nhất đối với người Cán bộ quản lý. Luận văn: Quản lý dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục.

Trách nhiệm của Giáo viên dạy học nghề phổ thông: Dạy các môn Nghề phổ thông theo sự phân công của nhà trường; Xây dựng kế hoạch và tiến hành Nghề phổ thông; Đúc rút kinh nghiệm và trao đổi kinh nghiệm dạy học nghề phổ thông trong sinh hoạt của Tổ chuyên môn; Có đầy đủ giáo án và các hồ sơ chuyên môn như đã quy định; Lên lớp đúng giờ, không cắt xén chương trình môn dạy; Đảm bảo chất lượng học nghề và thi nghề; Quản lý học sinh tốt, Thường xuyên báo cáo tình hình các lớp được phân công dạy cho Giáo vụ Trung tâm.

Học sinh học Nghề phổ thông: là người đang theo học một hoặc nhiều môn Nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp. Học sinh học Nghề phổ thông, chủ yếu là HS đến từ các trường phổ thông (THCS, Trung học phổ thông). Song ta không nên nhìn các em vẫn y nguyên như khi các em học ở trường phổ thông, vì các em đến Trung tâm là để học Nghề phổ thông nên tâm tư, nguyện vọng, các yếu tố tâm lý trong việc học Nghề phổ thông có khác so với việc học văn hóa. Cán bộ quản lý và giáo viên của Trung tâm muốn làm tốt công tác quản lý của mình thì phải đi sâu tìm hiểu học sinh một cách đầy đủ, cặn kẽ về nguyện vọng, sở trường và các đặc điểm tâm sinh lý của các em.

1.3.5. Các hoạt động khác hỗ trợ cho dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp

Do đặc thù của Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp, học sinh tới trung tâm học Nghề phổ thông là HS từ các trường PT, do vậy ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp thường không có các hoạt động của học sinh, không có hoạt động của hội Cha mẹ học sinh, đây cũng là những hạn chế lớn cho hoạt động DH ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp. Bên cạnh hoạt động DH, Trung tâm cũng có các hoạt động của CB, GV, NV Trung tâm hỗ trợ cho hoạt động dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm như: Hoạt động thi đua; Hoạt động giao lưu với các trường PT, giao lưu với các Trung tâm bạn; Hoạt động TDTT, Văn hóa Văn nghệ của tập thể Trung tâm; Hoạt động đền ơn đáp nghĩa…Những hoạt động này không diễn ra thường xuyên, mà được tổ chức vào các dịp như: 20/11, dịp hè, nhân ngày 8/3…Các hoạt động đó có những đóng góp tích cực, thiết thực, hỗ trợ đắc lực cho hoạt động dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp.

1.3.6. Kiểm tra, đánh giá kết quả dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp

Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp tổ chức kiểm tra, đánh giá các hoạt động của Trung tâm theo quy định của Bộ GD&ĐT, theo hướng dẫn của Sở GD&ĐT bậc Trung học phổ thông.

Kiểm tra đánh giá CB, GV, NV: Do nội bộ Trung tâm thực hiện, theo định kỳ, theo hướng dẫn của BGD&ĐT, hướng dẫn của Sở GD&ĐT cơ quan cấp trên trực tiếp quản lý.

Kiểm tra, đánh giá, xếp loại kết quả học tập của HS: Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp tổ chức kiểm tra, đánh giá, xếp loại kết quả học tập và hạnh kiểm đối với học sinh theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, theo hướng dẫn của Sở GD&ĐT; Kết quả học tập của học sinh Trung học cơ sở, Trung học phổ thông học tại Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp được chuyển về trường phổ thông để làm cơ sở đánh giá học sinh.

1.3.7. Các giai đoạn phát triển của dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp Luận văn: Quản lý dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục.

Hệ thống các Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp được thành lập và ra đời vào những năm 80. Thời kỳ những năm 80 chương trình Nghề phổ thông được quy định là 280 tiết. Thời kỳ những năm 90 (phân ban thí điểm) chương trình được rút xuống còn 165 tiết và tên gọi là môn học Kỹ thuật ứng dụng – môn học bắt buộc. Từ cuối những năm 90 đến năm 2017 Nghề phổ thông trở thành môn học tự nguyện với chương trình 180 tiết, được học 2 năm (lớp 10 và lớp 11), mỗi năm là 90 tiết. Học hết chương trình 180 tiết, nếu đạt kết quả từ trung bình trở lên, HS được tham gia kỳ thi Nghề phổ thông do Sở GD&ĐT tổ chức. Tốt nghiệp Nghề phổ thông, học sinh được cấp một giấy chứng nhận tốt nghiệp và được cộng điểm khuyến khích vào điểm thi tốt nghiệp Trung học phổ thông. Học sinh Trung học cơ sở (lớp 9 hoặc lớp 8) học chương trình quy định cho bậc Trung học cơ sở là 90 tiết cho một môn Nghề phổ thông. Sau khi học xong chương trình 90 tiết, đạt kết quả từ trung bình trở lên, học sinh được tham gia kỳ thi Nghề phổ thông, bậc Trung học cơ sở tương tự như Trung học phổ thông- [7, tr. 2- 7].

Dạy-học Nghề phổ thông trong giai đoạn hiện nay: dạy theo chương trình giáo dục phổ thông, Nghề phổ thông là một hoạt động giáo dục được gọi là: Hoạt động giáo dục Nghề phổ thông, cấp Trung học phổ thông chỉ học ở lớp 11 ( bắt đầu từ năm học 2017 – 2018) với thời lượng 105 tiết, 3 tiết/tuần (lớp 10 và lớp 12 không học). Nghề PT cấp Trung học cơ sở rút xuống còn 70 tiết (môn tự chọn), chỉ học ở lớp 8. Học sinh học môn Nghề phổ thông, đạt kết quả từ trung bình trở lên và đủ điều kiện về chuyên cần (không nghỉ học quá 11 tiết/năm học), được tham gia kỳ thi Nghề phổ thông. Tốt nghiệp Nghề phổ thông, học sinh được cấp một giấy chứng nhận tốt nghiệp và được cộng điểm khuyến khích vào điểm thi tốt nghiệp cuối cấp học.

Tương lai phát triển của hệ thống trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp ở Việt Nam: trong những năm gần đây, việc tồn tại nhiều loại hình Trung tâm: Trung tâm GDTX, Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp, Trung tâm Dạy nghề, trên cùng một địa bàn quận, huyện, dẫn tới những hệ lụy như sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ giữa các Trung tâm, tranh giành ảnh hưởng, bộ máy Giáo dục nghề nghiệp cồng kềnh, dàn trải, không tập trung trong chỉ đạo và thực hiên, chi phí tốn kém, hiệu quả giáo dục nghề nghiệp không cao,… Theo chỉ đạo của ngành Giáo dục, từ năm 2023 các tỉnh, thành phố trên cả nước chủ động sát nhập các loại hình Trung tâm có trên từng quận, huyện bao gồm: Trung tâm GDTX, Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp, Trung tâm Dạy nghề, thành một Trung tâm duy nhất có tên gọi mới: Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên. Cho đến nay, hầu hết các Tỉnh, Thành phố trên cả nước đã và đang thực hiện chủ trương này. Hà Nội hiện tại cũng đang thực hiện chủ trương của ngành Giáo dục, tiến hành sát nhập các loại hình Trung tâm có trên địa bàn của mỗi quận, huyện.

1.4. Cơ sở pháp lý của dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp Luận văn: Quản lý dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục.

1.4.1. Các chủ trương, chỉ đạo về dạy học nghề phổ thông, quản lý dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp

Hệ thống Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp được thành lập, theo Quyết định số 1889 ngày 30/12/1981 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục có tên gọi: “Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp”. sau đó Hội đồng Bộ trưởng (HĐBT) đã đổi tên là Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp – HN (Thông tư số 48/TT ngày 27/4/1982 của HĐBT). Tháng 8 năm 1991, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quy chế về tổ chức và hoạt động của Trung tâm kỹ thuật tổng hợp – Hướng nghiệp – Dạy nghề (theo Quyết định số 1827/TCCB ngày 7/8/1991 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo), xác định tên gọi, vị trí, chức năng, nhiệm vụ và tổ chức của Trung tâm. Ngày 11/7/2010, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy chế về tổ chức và hoạt động của Trung tâm Kỹ thuật tổng hợp – Hướng nghiệp (theo Quyết định số 25/2010/QĐ-BGD&ĐT ngày 11/7/2010 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo) tên của Trung tâm có sự thay đổi (trở lại như năm 1982) và được giữ cho đến nay.

Năm 2015 luật GD Việt Nam được sửa đổi, một số nội dung cơ bản về tổ chức và hoạt động của Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp được lược trích dựa theo Luật Giáo dục 2015 và Quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm KTTH-HN. Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp chính thức trở thành một cơ sở giáo dục PT được ghi tại Điều 30 của Luật giáo dục 2015. Nghề phổ thông trở thành một hoạt động giáo dục, trong Chương trình Giáo dục phổ thông được gọi là: Hoạt động giáo dục Nghề phổ thông (được ban hành kèm theo Quyết định số 16/2016/QĐ-BGDĐT ngày 05/5/2016 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT). Học sinh Trung học phổ thông chỉ học môn Nghề phổ thông ở lớp 11 (từ năm học 2017 – 2018) với thời lượng 105 tiết, 3 tiết/tuần (lớp 10 và lớp 12 không học. Nghề PT cấp Trung học cơ sở rút xuống còn 70 tiết (môn tự chọn), chỉ học ở lớp 8. Các cơ quan quản lý Bộ GD&ĐT cũng ban hành nhiều văn bản định hướng và chỉ đạo hoạt động GDNPT, như: hoạt động giáo dục lao động, hướng nghiệp năm học 2010 – 2011 và phương hướng năm học 2011- 2012. Hà Nội, 2011”, hay “tài liệu hội thảo tập huấn đổi mới phương pháp dạy học nghề phổ thông. Hà Nội, 2017”- [3, tr. 17- 24].

Từ năm 2018 đến nay, Hệ thống Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp Việt Nam tổ chức và hoạt động theo: Quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm kỹ thuật tổng hợp – hướng nghiệp, (ban hành kèm theo Quyết định số: 44/2018/QĐ-BGDĐT ngày 30 tháng 07 năm 2018 của Bộ trưởng BGD & ĐT). Quy chế này thay thế Quy chế 25 (theo Quyết định số 25/2010/QĐ-BGD&ĐT ngày 11/7/2010…). Từ năm học 2017-2018, việc dạy Nghề phổ thông được Bộ GD-ĐT quy định chính thức là một hoạt động giáo dục bắt buộc, có đánh giá và ghi học bạ như một môn học văn hoá đối với HS lớp 11 Trung học phổ thông (không chỉ là khuyến khích như trước đây), với bậc Trung học cơ sở, môn Nghề phổ thông là môn học tự chọn cho HS lớp 8- [7, tr. 2- 8].

Tại thành phố Hà Nội có 05 Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp (Về sau có thêm Trung tâm 6 ở Đông Anh), được thành lập từ những năm 80, lấy tên gọi theo thứ tự từ: Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 1 cho đến Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5, theo Quyết định của UBND thành phố Hà Nội, tên gọi này được giữ nguyên cho đến ngày nay.

1.4.2. Các văn bản quy định về Cơ sở vật chất, nguồn Tài chính của TT.GDKTTH Luận văn: Quản lý dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục.

Cơ sở vật chất: đó là những điều kiện vật chất – kỹ thuật không thể thiếu được đối với Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp dạy-học nghề phổ thông. Các điều kiện vật chất, kỹ thuật này bao gồm từ đất đai, nhà, xưởng, máy móc, dụng cụ, nguyên vật liệu, các thiết bị dạy-học cần thiết cho giảng dạy, học tập, thực tập, cho đến phương tiện bảo hiểm lao động, các phương tiện phòng cháy chữa cháy, các dụng cụ thuốc men, y tế cho việc cấp cứu, xử lý những tai nạn không may xảy ra trong quá trình thực hành, lao động sản xuất…

Do đặc điểm khác biệt về mục đích, nội dung, phương pháp dạy-học nghề phổ thông với dạy-học các môn văn hóa phổ thông nên các điều kiện vật chất – kỹ thuật của các Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp đòi hỏi một sự đầu tư lớn hơn nhiều so với trường phổ thông, đặc biệt là về các thiết bị dạy-học.

Nguồn tài chính: bao gồm, Nguồn ngân sách nhà nước cấp; Học phí, các khoản thu từ các hợp đồng đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, lao động sản xuất và các hoạt động khác; Các nguồn thu tài chính hợp pháp khác.

1.5. Quản lý hoạt động dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp

1.5.1. Khái niệm quản lý hoạt động dạy học nghề phổ thông

Quản lý: “tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) – trong một tổ chức- nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức”. Hiện nay, khái niệm này được định nghĩa một cách rõ hơn: “quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra”. Trong quản lý nói chung và QL hoạt động dạy học nghề phổ thông nói riêng, các chức năng QL có mối liên hệ mật thiết với nhau. Luận văn: Quản lý dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục.

Quản lý hoạt động DH: là quản lý toàn diện các thành tố của quá trình dạy học, quản lý: thực hiện mục tiêu, kế hoạch đào tạo, nội dung, phương pháp dạy học, kết quả về tri thức chuyên môn, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, mức độ đạt được của định hướng giá trị, ý chí thái độ của người học thông qua dạy học. Ngoài ra còn phải quản lý các điều kiện cần thiết và đảm bảo tính khả thi cho các hoạt động dạy của thầy, hoạt động học của trò, đội ngũ GV, Cơ sở vật chất kỹ thuật, quy mô đào tạo, tài chính, môi trường sư phạm, môi trường xã hội…Có nghĩa là chủ thể quản lý phải tác động vào toàn bộ các thành tố của HĐDH theo các quy luật tâm lý, giáo dục học, lý luận về quản lý để đưa HĐDH từ trạng thái hiện có sang trạng thái khác cao hơn, nhằm đạt được mục tiêu giáo dục đã đề ra.

Quản lý hoạt động dạy học nghề phổ thông: trên cơ sở các khái niệm về hoạt động dạy học nghề phổ thông, Quản lý dạy học có thể hiểu Quản lý hoạt động dạy học nghề phổ thông Là quản lý toàn diện các thành tố của quá trình dạy học nghề phổ thông, Quản lý: thực hiện mục tiêu, kế hoạch đào tạo, nội dung, phương pháp dạy học, kết quả về tri thức chuyên môn, kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, mức độ đạt được của định hướng giá trị, ý chí thái độ của người học thông qua dạy học nghề phổ thông. Ngoài ra còn phải quản lý các điều kiện cần thiết và đảm bảo tính khả thi cho các hoạt động dạy của thầy, hoạt động học của trò, đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất kỹ thuật, quy mô đào tạo, tài chính, môi trường sư phạm, môi trường xã hội… Phối hợp với các nhà trường PT trong quản lý dạy học nghề phổ thông cho học sinh; Liên kết với các cơ sở sản xuất, trung tâm hướng nghiệp và dạy nghề khác… để tổ chức đào tạo và bồi dưỡng nghề theo quy định của pháp luật; Phối hợp với các tổ chức kinh tế, giáo dục, nghiên cứu khoa học và các tổ chức cá nhân khác trong việc nghiên cứu ứng dụng khoa học, kỹ thuật và công nghệ để gắn dạy học nghề phổ thông với việc làm. Có nghĩa là chủ thể quản lý phải tác động vào toàn bộ các thành tố của Hoạt động dạy học nghề phổ thông theo các quy luật tâm lý, giáo dục học, lý luận về quản lý để đưa Hoạt động dạy học nghề phổ thông từ trạng thái hiện có sang trạng thái khác cao hơn, nhằm đạt được mục tiêu giáo dục của trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp.

1.5.2. Nội dung quản lý hoạt động dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp

  • Xây dựng kế hoạch dạy học nghề phổ thông- [14, 57- 61]

Xác định đúng và đủ các căn cứ xây dựng kế hoạch dạy học nghề phổ thông:

  • Chỉ Thị, Nghị quyết của Đảng, các văn bản qui phạm pháp luật hiện hành có liên quan đến dạy học trong Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp, nhất là các văn bản qui định về chương trình dạy học nghề phổ thông.
  • Căn cứ vào tình hình kinh tế- xã hội, tình hình của địa phương, nhu cầu của cộng đồng, và thực trạng trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp.
  • Các văn bản chỉ đạo của cấp trên và bối cảnh của Trung tâm (điểm mạnh, yếu, cơ hội và thách thức)
  • Chỉ thị nhiệm vụ năm học của Bộ, hướng dẫn của Sở Giáo dục và Đào tạo/ Phòng GD &ĐT và kết quả dạy học năm học trước của Trung tâm. Luận văn: Quản lý dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục.
  • Quán triệt yêu cầu nâng cao chất lượng dạy học.

Yêu cầu của kế hoạch dạy học nghề phổ thông:

  • Phù hợp với chỉ đạo của cấp trên (Chỉ thị nhiệm vụ năm học).
  • Phù hợp với thực tế địa phương.
  • Phù hợp với mục tiêu cấp học.
  • Phù hợp với thực lực của đội ngũ GV và học
  • Phù hợp với điều kiện Cơ sở vật chất – Thiết bị trường học.
  • Phù hợp với các nguồn kinh phí dành cho hoạt động dạy học.
  • Sắp xếp bố trí đội ngũ GV và phân lớp học sinh phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ dạy học…

Nội dung kế hoạch dạy học nghề phổ thông:

  • Xác định rõ mục tiêu thực hiện.
  • Chỉ rõ các hoạt động dạy học nghề phổ thông.
  • Xác định rõ khung thời gian và tiến độ thực hiện.
  • Phân công người thực hiện rõ ràng.
  • Nêu rõ địa điểm tiến hành.
  • Đảm bảo điều kiện Cơ sở vật chất.
  • Có thể trình bày kế hoạch DH theo những cách khác
  • Có nhiều loại kế hoạch dạy học (KH năm học, KH học kỳ, TKB, Kế hoạch thao giảng, KH thi…).

Tổ chức thực hiện kế hoạch dạy học nghề phổ thông- [22, tr. 135- 145]

  • Phổ biến, quán triệt Kế hoạch dạy học đến mọi thành viên trong Trung tâm.
  • Phân giao nhiệm vụ, cam kết trách nhiệm thực hiện.
  • Giám sát, hỗ trợ giáo viên trong thực hiện Kế hoạch dạy học.
  • Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện và điều chỉnh kịp thời Kế hoạch dạy học (nếu cần).
  • Trong tổ chức thực hiện Kế hoạch dạy học, lấy tổ chuyên môn làm nòng cốt.
  • Chú trọng bồi dưỡng giáo viên để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đáp ứng yêu cầu dạy học.
  • Chú trọng các đối tượng học sinh, thực hiện dạy học phân hóa, lấy học sinh làm trung tâm, dạy cho HS phương pháp học để nâng cao chất lượng dạy học. Luận văn: Quản lý dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục.

Quản lý chương trình dạy học nghề phổ thông

Mục đích: nhằm đảm bảo thực hiện các quy định về chuẩn kiến thức, kỹ năng và thái độ để hình thành những phẩm chất, năng lực và phát triển nhân cách của người học- [22, tr.221]. Quản lý dạy học nghề phổ thông thực chất là những tác động của chủ thể quản lý vào quá trình dạy học nghề phổ thông (được tiến hành bởi tập thể giáo viên và học sinh, với sự hỗ trợ đắc lực của các lực lượng xã hội) nhằm góp phần hình thành và phát triển toàn diện nhân cách học sinh theo mục tiêu đào tạo của Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp.

Công tác quản lý chương trình dạy học nghề phổ thông giữ vị trí quan trọng trong công tác quản lý Trung tâm. Mục tiêu quản lý chương trình dạy học nghề phổ thông, là nền tảng, là cơ sở để nhà quản lý xác định các mục tiêu quản lý khác trong hệ thống mục tiêu quản lý hoạt động dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp. Quản lý chương trình dạy học nghề phổ thông là nhiệm vụ trọng tâm của GĐ Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp. GĐ Trung tâm phải dành nhiều thời gian, công sức cho công tác quản lý dạy học nghề phổ thông nhằm nâng cao chất lượng đào tạo của Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp, đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của xã hội- [14, tr.51-52].

Quản lý nội dung: quản lý chương trình dạy học nghề phổ thông tập trung vào ba lĩnh vực cụ thể: quản lý chương trình giảng dạy của GV; quản lý chương trình học tập, rèn luyện của HS và quản lý khâu hỗ trợ chương trình dạy và học- [22, tr.222-230].

Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp thực hiện chương trình dạy học nghề phổ thông do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành. Căn cứ vào chương trình giáo dục và kế hoạch năm học, Lãnh đạo Trung tâm xây dựng kế hoạch và thời khóa biểu để điều hành hoạt động dạy học nghề phổ thông và quả lý chương trình dạy học nghề phổ thông. Các môn học Nghề phổ thông đều có chương trình hướng dẫn của Bộ GD&ĐT, nhưng để đưa vào thực hiện tại các Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp, lãnh đạo Trung tâm phải chỉ đạo chặt chẽ, giao cho các Tổ chuyên môn, nhóm Trưởng các nhóm Nghề phổ thông, cùng với GV trực tiếp giảng dạy, phối hợp xây dựng và thực hiện kế hoạch dạy học cho từng môn Nghề phổ thông trong năm học, theo hướng dẫn của Bộ GD&ĐT, chỉ đạo của Sở GD&ĐT, đồng thời phù hợp với các điều kiện dạy học nghề phổ thông ở trung tâm. Lãnh đạo Trung tâm phê duyệt chương trình, kế hoạch dạy học các môn học Nghề phổ thông và có chức năng quản lý, kiểm tra đánh giá thực hiện chương trình, kế hoạch dạy học nghề phổ thông. Cán bộ quản lý phải thường xuyên theo dõi việc thực hiện thời khoá biểu dạy học. (Theo dõi việc thực hiện các tiết học theo đúng thời khoá biểu, thời gian vào lớp của GV, giải quyết các giờ trống của GV và HS, điều chỉnh thời khoá biểu trong những điều kiện cần thiết). Chỉ đạo thực hiện chương trình dạy học thông qua thời khoá biểu lên lớp là một trong những phương tiện cốt yếu củng cố và giữ vững kỹ luật lao động, đưa hoạt động Trung tâm vào trạng thái nhịp nhàng góp phần tích cực vào việc củng cố xây dựng nề nếp trong đơn vị, tạo đà cho việc chỉ đạo nâng cao chất lượng dạy học. Luận văn: Quản lý dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục.

Quản lý về đổi mới phương pháp dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp: để quản lý tốt về đổi mới phương pháp dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm, trước hết là đổi mới từ GV. Cán bộ quản lý Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp cần có biện pháp tích cực làm: Thay đổi nhận thức của GV; Chuẩn bị các điều kiện cần thiết để thực hiện đổi mới Phương pháp dạy học; Áp dụng qui trình QL sự thay đổi trong thực hiện đổi mới Phương pháp dạy học; Thay đổi cách đánh giá giờ dạy, đánh giá đúng dạy học tích cực.

Yêu cầu giáo viên loại bỏ các Phương pháp dạy học cũ, thay bằng các Phương pháp dạy học mới phát huy tính tích cực của HS, ứng dụng CNTT trong dạy học và hướng dẫn GV thực hiện; Yêu cầu, giao nhiệm vụ, hướng dẫn, đôn đốc, động viên và tạo các điều kiện cần thiết để GV lựa chọn, kết hợp các Phương pháp dạy học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của HS trong quá trình dạy học, dạy cho HS cách học, dạy học lấy HS làm trung tâm. Đảm bảo mọi GV ứng dụng được CNTT vào dạy học, loại bỏ lối dạy “đọc, chép”; Yêu cầu, giao nhiệm vụ và giám sát GV kết hợp các Phương pháp dạy học theo đặc thù bộ môn và kiểu bài học.

Đổi mới phương pháp dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp, phải gắn với đặc trưng của dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm. dạy học nghề phổ thông chủ yếu là rèn luyện kỹ năng thực hành cho học sinh, hướng dẫn HS trải nghiệm qua thực tế. Vì vậy, để đổi mới phương pháp dạy học nghề phổ thông có hiệu quả, Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp cần phải: Tổ chức, triển khai cho giáo viên tiếp thu, học tập, nghiên cứu các chuyên đề đổi mới phương pháp giảng dạy do Sở giáo dục và đào tạo tổ chức; Tổ chức hội thảo trong tổ chuyên môn, tọa đàm trao đổi, thảo luận trong hội đồng sư phạm; Tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, nghiên cứu kỹ giáo trình, tài liệu tham khảo; Phải làm đầy đủ các bài thực hành; mọi học sinh đều được thực hành trong các giờ học thực hành; Đầu tư và khai thác tối đa hiệu quả các tư liệu, tranh ảnh, thiết bị, đồ dùng dạy học được trang cấp hiện có của đơn vị và tự làm, các phòng học bộ môn, phòng thực hành, chống “dạy chay, học chay”, phát huy nâng cao hiệu quả của giờ dạy. Giáo viên dạy học nghề phổ thông cần phải đầu tư nhiều hơn về soạn giáo án, chuẩn bị đồ dùng dạy học, phòng bộ môn, thực hành, …Sử dụng phương pháp giảng dạy phù hợp: giáo viên cần vận dụng linh hoạt, biết kết hợp các Phương pháp dạy học với nhau mới đạt hiệu quả. Dạy học hiệu quả hay không, tùy thuộc nghệ thuật của người thầy biết cách kết hợp các cách dạy học để áp dụng với từng đối tượng học sinh và môn học. Người thầy phải có lòng nhiệt tình, sự say mê sáng tạo. Mỗi giáo viên phải có sáng kiến kinh nghiệm về đổi mới phương pháp dạy học trong năm học- [14, tr. 48- 51]. Luận văn: Quản lý dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục.

Quản lý kiểm tra đánh giá ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp: là một chức năng quan trọng, không thể thiếu của công tác QL, đồng thời kiểm tra cũng giúp cho việc chuẩn bị tích cực kế hoạch năm học mới. Quản lý Kiểm tra đánh giá là nhiệm vụ của BGĐ, Giám đốc Trung tâm giữ vai trò quyết định. BGĐ phải chỉ đạo sát sao và thường xuyên kiểm tra hoạt động Kiểm tra đánh giá ở mỗi bộ phận, cá nhân nhằm phát hiện sai lệch để uốn nắn kịp thời, đồng thời rút kinh nghiệm khắc phục những tồn tại, yếu kém, phát huy những mặt mạnh. Quản lý tốt Kiểm tra đánh giá sẽ thúc đẩy mọi hoạt động ở trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp theo hướng tích cực, ngược lại nó sẽ kìm hãm sự phát triển của Trung tâm.

1.5.2.3. Quản lý Giáo viên,CBNV trong hoạt động dạy học Nghề phổ thông

  • (1). Quản lý hoạt động dạy nghề PT của GV

Phân công giảng dạy cho giáo viên: có ảnh hưởng lớn đến hoạt động dạy học nghề phổ thông, để có được sự phân công hợp lý, BGĐ cần quán triệt quan điểm phân công GV theo đúng khả năng, chuyên môn được đào tạo của mỗi GV và theo hướng phát triển, tin vào khả năng vươn lên của từng giáo viên, không định kiến với bất cứ người nào. Mọi sự phân công đều cố gắng bảo vệ uy tín nhân cách của GV. Trong phân công giảng dạy, phải xuất phát từ yêu cầu của việc giảng dạy và quyền lợi học tập của toàn thể HS. Phân công GV trước hết phải vì sự tiến bộ của cả tập thể sư phạm, tạo điều kiện người giỏi kèm kặp người chưa có kinh nghiệm, người còn yếu, đồng thời chú ý đúng mức đến khả năng tiếp thu kiến thức của HS. Phân công công tác giảng dạy cho đội ngũ GV một cách hợp lý, phù hợp với tình hình thực tế của Trung tâm sẽ góp phần quyết định nâng cao chất lượng dạy học nghề phổ thông. Phân công đi đôi với công tác bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ là nhiệm vụ quan trọng của Lãnh đạo Trung tâm, nhằm ngày càng hoàn thiện tay nghề của đội ngũ. Lãnh đạo Trung tâm cần nắm vững chất lượng đội ngũ, hiểu được mặt mạnh, mặt yếu, hoàn cảnh gia đình, của từng thành viên trong đơn vị. Từ đó sẽ sử dụng đúng người, đúng việc, giúp cho GV tự tin trong công tác, có trách nhiệm hơn trong công việc, họ sẽ cố gắng hết mình để khẳng định trong tập thể sư phạm.

BGĐ Trung tâm cần quán triệt quan điểm phân công GV theo chuyên môn đã được đào tạo, theo yêu cầu của trung tâm, đảm bảo chất lượng chuyên môn chung. Song BGĐ phải tin tưởng vào sự cố gắng vươn lên của từng GV, không định kiến với bất kỳ người nào. Phân công GV cần thận trọng, khéo léo sao cho công bằng, khách quan, đạt hiệu là giáo dục cao. Phân công giảng dạy còn phải xuất phát từ quyền lợi học tập của HS và chú ý tới khối lượng công việc của từng GV cho hợp lý, nhất là giáo viên làm công tác kiêm nhiệm. Có những hình thức phân công giảng dạy khác nhau, mỗi hình thức phân công đều có mặt mạnh, mặt yếu, BGĐ nên xem xét cụ thể lực lượng đội ngũ (số lượng và trình độ tay nghề) mà lựa chọn hình thức nào, hoặc kết hợp nhiều hình thức phân công giảng dạy trong Trung tâm. Cần định ra chuẩn phân công sao cho phù hợp với thực lực đội ngũ của Trung tâm, phù hợp với trình độ HS, mục đích cuối cùng là nâng cao chất lượng dạy học nghề phổ thông- [10, tr.142- 147].

Chuẩn phân công dựa trên các tiêu chí sau:

  • Yêu cầu của việc dạy
  • Đảm bảo tính tập trung, dân chủ
  • Năng lực và sở trường
  • Thâm niên nghề nghiệp
  • Nguồn đào tạo
  • Hoàn cảnh gia đình và nguyện vọng cá nhân.

BGĐ cần đề ra các biện pháp thích hợp và xây dựng qui trình phân công thể hiện được sự dân chủ trong Trung tâm, nhưng vẫn bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ trong toàn bộ việc phân công. Quyết định phân công giảng dạy cho từng giáo viên chỉ thay đổi trong những trường hợp thật sự cần thiết. Luận văn: Quản lý dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục.

  • Qui trình phân công giáo viên giảng dạy:

Bước 1: GĐ Trung tâm thống nhất với PGĐ phụ trách chuyên môn về yêu cầu của việc phân công.

Bước 2: GĐ phổ biến mục đích yêu cầu, chuẩn, dự kiến phương hướng phân công, qui trình phân công trong Hội đồng sư phạm để giáo viên nghiên cứu; GĐ cùng PGĐ dự kiến trước việc phân công căn cứ vào thực lực đội ngũ và yêu cầu thực tế của nhà trường

Bước 3: thảo luận dự kiến phân công tại Hội nghị liên tịch mở rộng đến các Tổ trưởng chuyên môn. Hướng dẫn các Tổ trưởng chuyên môn tổ chức thảo luận trong tổ. Điều chỉnh sau khi đã giải thích và thuyết phục giáo viên.

Bước 4: GĐ Trung tâm ra quyết định phân công, bên cạnh việc phân công giảng dạy ở các lớp Nghề phổ thông, BGĐ cần kết hợp phân công các mặt hoạt động khác, các công tác kiêm nhiệm cho giáo viên để biết rõ khối lượng công việc của từng người. Sau tháng đầu tiên của năm học cần xem xét lại để kịp thời điều chỉnh cho hợp lý hơn (nếu cần)- [19, tr.164- 167].

Quản lý việc thực hiện chương trình dạy học: chỉ đạo thực hiện đầy đủ và đúng chương trình dạy học nghề phổ thông theo quy định, lãnh đạo Trung tâm phải chỉ đạo chặt chẽ GV, các tổ chuyên môn xây dựng kế hoạch và thực hiện kế hoạch giảng dạy năm học của từng bộ môn Nghề phổ thông, từng Tổ chuyên môn. Cán bộ quản lý phải thường xuyên theo dõi việc thực hiện thời khoá biểu dạy học nghề phổ thông. (Theo dõi việc thực hiện các tiết học theo đúng thời khoá biểu, thời gian vào lớp của GV, giải quyết các giờ trống của GV và HS, điều chỉnh thời khoá biểu trong những điều kiện cần thiết). Chỉ đạo thực hiện chương trình dạy học thông qua thời khoá biểu lên lớp là một trong những phương tiện cốt yếu củng cố và giữ vững kỹ luật lao động, đưa hoạt động Trung tâm vào trạng thái nhịp nhàng góp phần tích cực vào việc củng cố xây dựng nề nếp trong trung tâm, tạo đà cho việc chỉ đạo nâng cao chất lượng dạy học. Để giáo viên nắm vững chương trình dạy học, BGĐ cần:

Chỉ đạo chuyên môn thảo luận về nội dung, phương pháp giảng dạy các môn Nghề phổ thông, bám sát chuẩn kiến thức, kỹ năng, những sửa đổi trong chương trình SGK mới. Bàn bạc những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn giảng dạy của các năm học trước và những vấn đề mới trong chương trình dạy học để thống nhất thực hiện trong cả năm học sao cho sát với đối tượng người học để mang lại hiệu quả trong dạy học nghề phổ thông. Cân đối các hoạt động trong năm học, bố trí thời gian hợp lý, khoa học để giáo viên thực hiện đầy đủ chương trình năm học.

Ban Giám đốc theo dõi tình hình thực hiện chương trình dạy học nghề phổ thông thông qua: sổ ghi đầu bài, sổ kế hoạch dạy học, giáo án của giáo viên; qua báo cáo của Phó giám đốc phụ trách chuyên môn, tổ Trưởng, từ đó có kế hoạch điều chỉnh thời gian khi cần sao cho chương trình được thực hiện đều ở các khối lớp.

Quản lý việc soạn bài chuẩn bị giờ lên lớp của GV- [22, tr.224]: BGĐ quan tâm đến chất lượng giờ lên lớp thì trước tiên phải quan tâm đến chất lượng việc chuẩn bị giờ lên lớp của Sự chuẩn bị của GV càng chu đáo thì kết quả dạy học càng ít sai sót. QL việc chuẩn bị giờ lên lớp là một hoạt động QL cần thiết để nâng cao hiệu quả của việc dạy và học. Do đặc điểm đặc thù của lao động sư phạm nên công tác chuẩn bị giờ lên lớp do GV thực hiện ở nhà và gắn với thời gian rảnh rỗi của họ. Vì vậy, đây là khâu khó QL đối với Lãnh đạo Trung tâm. Luận văn: Quản lý dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục.

BGĐ phải có quan niệm đúng đắn về giáo án (bài soạn) và quan trọng hơn là phải biết GV soạn bài như thế nào. Giáo án của GV phải thực sự là bản thiết kế một giờ lên lớp đòi hỏi tính chính xác, rõ ràng về nội dung, phong phú về phương pháp giảng dạy. Thực tế có những Lãnh đạo chỉ quan tâm đến hình thức sạch đẹp mà chưa quan tâm đến chất lượng của một bài soạn, dẫn đến tình trạng đánh giá không chính xác công sức của GV trong việc soạn bài. BGĐ cần hiểu rõ, trong hàng loạt công việc để chuẩn bị cho giờ lên lớp, có những việc cần làm ngay từ đầu năm học như: làm kế hoạch giảng dạy, chuẩn bị những đồ dùng dạy học cần thiết, các loại sổ sách chuyên môn… nhưng cũng có những việc phải làm thường xuyên trong năm học như: sưu tầm tài liệu tham khảo, nghiên cứu các phương pháp giảng dạy, đặc biệt là các phương pháp giảng dạy mới… Để giúp GV chuẩn bị giờ dạy tốt, BGĐ phải kịp thời đáp ứng những yêu cầu của GV về: sách giáo khoa, sách hướng dẫn giảng dạy, sách tham khảo, các tạp chí của ngành, đồ dùng dạy học (căn cứ vào danh mục đồ dùng dạy học do Bộ GD&ĐT qui định và căn cứ vào yêu cầu thực tiễn của các Tổ chuyên môn).

Chất lượng của giờ giảng trên lớp phụ thuộc rất nhiều vào việc soạn bài và chuẩn bị những điều kiện cần thiết cho bài giảng. Cho nên BGĐ cần chỉ đạo sát sao việc soạn bài và chuẩn bị các thiết bị dạy học cần thiết. Để làm được việc đó BGĐ cần tập trung vào một số công việc sau:

Phổ biến những yêu cầu của việc chuẩn bị bài giảng; Qui định chất lượng một bài soạn đối với từng loại bài; Tổ chức bồi dưỡng giáo viên về đổi mới phương pháp dạy học và ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học; Có kế hoạch mua sắm đồ dùng dạy học, tài liệu tham khảo, các phương tiện kỹ thuật phục vụ giáo viên chuẩn bị bài giảng.

Yêu cầu các Tổ chuyên môn nghiên cứu kỹ nội dung chương trình môn học được phân công. Trao đổi, thảo luận đi đến thống nhất về mục đích, yêu cầu, nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức của từng môn học theo hướng dẫn của Sở GD&ĐT.

Thường xuyên cùng với Tổ trưởng chuyên môn, thanh tra nhân dân kiểm tra bài soạn của GV để có thông tin về việc thực hiện chương trình, nội dung bài soạn có đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục trong giai đoạn hiện nay hay không.

  • Thông qua việc dự giờ trên lớp để đánh gia kết quả việc chuẩn bị bài giảng của giáo viên.
  • Sau khi kiểm tra phải tổ chức rút kinh nghiệm trong Tổ chuyên môn để cải tiến việc soạn bài.
  • Quản lý giờ dạy trên lớp của GV- [22, tr.224- 226]: để quản lý có hiệu quả giờ lên lớp của giáo viên BGĐ cần:

Nắm vững lý luận dạy học nói chung và lý thuyết về bài học nói riêng; Hiểu được bản chất cấu trúc, chức năng của giờ lên lớp; Xây dựng thời khóa biểu khóa học, hợp lý giữa các buổi học trong tuần. Trong công tác chuyên môn, TKB có vai trò xây dựng, duy trì nề nếp dạy học, điều khiển hoạt động dạy học trong ngày, trong tuần, tạo nên bầu không khí sư phạm của trung tâm.

Phổ biến nội dung cơ bản tiêu chuẩn giờ lên lớp (theo tiêu chuẩn đánh giá giờ dạy của Bộ GD&ĐT) để mọi GV đều nắm được, đó là: hướng dẫn HS tư duy, tìm đến kiểm thức mới, từ đó nắm chắc kiến thức cơ bản của bài học, rèn luyện được các kỹ năng cần thiết, biết vận dụng sáng tạo. Thông qua bài giảng GV giáo dục tư tưởng, tình cảm, đạo đức, phát triển các năng lực cần thiết. Luận văn: Quản lý dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục.

Có kế hoạch dự giờ các GV, BGĐ Trung tâm phải có kiến thức về phương pháp phân tích sư phạm và có kỹ năng sử dụng nó vào việc dự giờ. Phải tổ chức tốt công tác dự giờ và phân tích giờ dạy của GV, huy động nhiều lực lượng tham gia công tác dự giờ với nhiều hình thức khác nhau như: Tổ chức dự giờ rút kinh nghiệm trong nhóm, trong Tổ chuyên môn; Tổ chức thao giảng trong Trung tâm hoặc tham gia thao giảng trong cụm Trung tâm; Tổ chức dự giờ thi đua, đăng ký giờ dạy tốt; BGĐ dự giờ kiểm tra chuyên môn và dự giờ rút kinh nghiệm giảng dạy của GV. PGĐ cần lập kế hoạch tổng thể về việc dự giờ và phân tích sư phạm bài học toàn năm học. Trên cơ sở đó xếp lịch dự giờ và phân tích giờ dạy trong từng tuần. Để nâng cao chất lượng công tác dự giờ, BGĐ cần bồi dưỡng cho toàn thể GV kỹ năng dự giờ và phân tích giờ dạy của GV theo qui trình chuẩn. Đảm bảo trong năm học tất cả các giáo viên phải được mỗi thành viên BGĐ dự ít nhất hai tiết dạy. Các GV mới ra trường, GV có trình độ chuyên môn yếu phải dự giờ nhiều hơn. Khi dự giờ cần ghi chép cụ thể, sau dự giờ BGĐ, Trưởng TTND, Tổ trưởng chuyên môn, các GV dự giờ trao đổi ý kiến, rút kinh nghiệm với GV có giờ dạy về nội dung kiến thức, đổi mới phương pháp, sử dụng thiết bị dạy học, quản lý nề nếp lớp,…Đánh giá và xếp loại giờ dạy.

Quản lý hồ sơ của giáo viên: hồ sơ, sổ sách của GV có thể nói là giáo cụ trực quan phản ánh một cách khách quan kết quả chuẩn bị bài giảng trước khi lên lớp và việc thực hiện các quy chế về chuyên môn của GV. Thông qua quản lý hồ sơ, BGĐ nắm chắc hơn các hoạt động chuyên môn của GV và việc thực hiện các quy chế, nề nếp chuyên môn của GV theo các yêu cầu đã đề ra.Trong phạm vi hoạt động dạy của GV, hồ sơ cần có: Kế hoạch giảng dạy bộ môn, giáo án, sổ kiểm danh và ghi điểm, sổ ghi đầu bài, sổ dự giờ, sổ ghi các cuộc họp,… Để quản lý tốt hồ sơ của giáo viên, BGĐ cần quy định nội dung và thống nhất các loại mẫu, cách ghi chép từng loại hồ sơ, có kế hoạch kiểm tra đánh giá chất lượng hồ sơ theo từng Tổ chuyên môn.

Quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên- [22, tr. 228]: đội ngũ giáo viên và Cán bộ quản lý là lực lượng cốt cán biến mục tiêu giáo dục thành hiện thực, giữ vai trò quyết định chất lượng, hiệu quả dạy học nghề phổ thông, đóng góp tích cực vào sự nghiệp đổi mới giáo dục. Vì vậy, quản lý công tác bồi dưỡng giáo viên là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của công tác quản lý chuyên môn trong Trung tâm.

Để giáo viên có thể đáp ứng được yêu cầu đổi mới, BGĐ cần có kế hoạch, dành thời gian, kinh phí nhất định trong năm học cũng như cần có kế hoạch chiến lược lâu dài trong công tác bồi dưỡng giáo viên, cụ thể:

  • Cử đầy đủ, đúng đối tượng giáo viên tham gia các lớp bồi dưỡng hè, bồi dưỡng chuyên đề thường xuyên do ngành giáo dục tổ chức. Đảm bảo 100% số giáo viên của Trung tâm được bồi dưỡng thường xuyên theo chu kỳ.
  • Có kế hoạch, động viên giáo viên đi đào tạo để đạt trên chuẩn (đối với những giáo viên có trình độ đại học).
  • Thường xuyên tổ chức kiểm tra trình độ tay nghề của GV, kịp thời phát hiện những GV có khả năng để bồi dưỡng thành những GV cốt cán trong các Tổ chuyên môn, đồng thời nắm bắt được những mặt mạnh, yếu trong GV để có biện pháp khắc phục.
  • Để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ tại chỗ cho giáo viên, Giám đốc cần có những quy định cụ thế về việc tự bồi dưỡng của giáo viên. Luận văn: Quản lý dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục.
  • BGĐ Trung tâm phải là những người đi đầu trong việc tự học tự bồi dưỡng để giáo viên trong Trung tâm noi theo. Sự quan tâm đúng mức của BGĐ trung tâm đến công tác bồi dưỡng giáo viên sẽ là một trong những biện pháp có hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh.

Quản lý giáo viên Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS: là một khâu quan trọng của công tác QL hoạt động dạy học nghề phổ thông, do vậy cán bộ QL cần phải chú ý: Triển khai nghiêm túc các văn bản qui định về Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh; Thực hiện đổi mới cách đánh giá kết quả học tập của HS theo hướng dẫn của cơ quan chủ quản; Kết hợp đánh giá của GV với tự đánh giá của HS; Kết hợp đánh giá bằng nhận xét với đánh giá bằng điểm số; Kết hợp các hình thức KT để đánh giá; Triển khai xây dựng đề thi theo ma trận kiến thức; Sử dụng hiệu quả kết quả đánh giá trong điều chỉnh hoạt động dạy học; Và trên hết nhà quản lý phải thấm nhuần, mục tiêu cao cả của Kiểm tra đánh giá là vì sự tiến bộ của người được đánh giá.

KTĐG tri thức, kỹ năng kỹ xảo của học sinh là khâu quan trọng trong quá trình dạy học. Nó có tác dụng phát hiện và điều chỉnh, thực trạng hoạt động học và hoạt động dạy, củng cố và phát triển vốn tri thức của học sinh đồng thời giáo dục phẩm chất, nhân cách cho người học, nhằm đi đến mục tiêu giáo dục. Vì vậy để quản lý được khâu này BGĐ cần: Xây dựng kế hoạch kiểm tra hàng tháng, giữa học kì, cả học kì, kiểm tra đột xuất; Kiểm tra việc thực hiện tiến độ cho điểm, cơ số điểm theo quy định của Bộ GD&ĐT; Kiểm tra việc chấm, trả bài cho học viên; Kiểm tra việc học viên tự đánh giá học sinh; Kiểm tra học sinh xếp loại cuối kì, cuối năm học theo đúng quy chế đánh giá, xếp loại học sinh theo chương trình Giáo dục kỹ thuật tổng hợp cấp Trung học cơ sở và Trung học phổ thông (QĐ số 02/2017/QĐ -BGDĐT ngày 23 tháng 01 năm 2017 của Bộ trưởng Bộ GDĐT)- [22, tr.229- 230].

Quản lý Kiểm tra đánh giá Giáo Viên: Kiểm tra đánh giá giáo viên có vai trò quan trọng tác động hoạt động dạy học nghề phổ thông. Nhà QL phải xác định rõ quan điểm, tiêu chí, bộ chuẩn để Kiểm tra đánh giá GV. Cụ thể: nhà quản lý phải thấm nhuần, mục tiêu cao cả của Kiểm tra đánh giá là vì sự tiến bộ của người được đánh giá. Đánh giá hiệu quả trên cơ sở chuẩn hành vi và năng lực; Đa dạng hoá nguồn thông tin phản hồi; Tập trung vào tiềm năng hơn là thiếu sót đội ngũ; Gắn hiệu quả làm việc với chiến lược phát triển phát triển Trung tâm; Sử dụng các cơ hội phát triển cá nhân để hỗ trợ quá trình đánh giá hiệu quả làm việc; Cung cấp thông tin phản hồi không với mục đích phê phán; Chú trọng mục tiêu phát triển chuyên môn, nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp hơn là kiểm soát họ. Yêu cầu quản lý sâu sát kiểm tra hoạt động giảng dạy của GV: kiểm tra chính xác, đầy đủ việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục, giảng dạy của giáo viên; Đánh giá đúng trình độ tay nghề của giáo viên để GĐ và các cấp quản lý sử dụng, bồi dưỡng, đãi ngộ giáo viên một cách hợp lý; Thông qua việc kiểm tra hoạt động giảng dạy của giáo viên giúp cho giáo viên nâng cao chất lượng giáo dục và giảng dạy; Giữ vững kỷ luật, khuyến khích sự cố gắng của giáo viên. Đồng thời bồi dưỡng cho giáo viên có khả năng tự Kiểm tra đánh giá công việc của bản thân.

Cán bộ quản lý trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp phải học tập để có được các kinh nghiệm trong hoạt động Kiểm tra đánh giá. Cụ thể khi thực hiện Kiểm tra đánh giá Giáo viên, cán bộ quản lý cần chú ý: Lựa chọn thời gian và địa điểm Kiểm tra đánh giá phù hợp. Tạo bầu không khí thân thiện trước khi vào cuộc. Tránh «lên lớp» hay gây «căng thẳng» cho giáo viên. Nhấn mạnh các điểm mạnh của giáo viên để tạo động lực. Thảo luận nguyên nhân, kết quả thực hiện công việc một cách cụ thể, không chung chung, lắng nghe hiệu quả, tránh đối đầu và đôi co. Để cho giáo viên cơ hội được trình bày ý kiến. Thống nhất mục tiêu công việc cho thời gian tới, cung cấp hỗ trợ, đào tạo thay đổi trong quản lý. Kết thúc buổi Kiểm tra đánh giá nên động viên bằng đánh giá tích cực, mở ra hướng phát triển. Khi cán bộ quản lý trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp thực hiện Kiểm tra đánh giá Giáo viên, cần tuân theo các nguyên tắc sau: Cán bộ lãnh đạo, quản lý phải hiểu rõ vai trò, ý nghĩa của hoạt động Kiểm tra đánh giá giáo viên; Xác định rõ mục tiêu đánh giá, đánh giá công bằng, chính xác những đóng góp của GV; Tránh các lỗi thiên vị, thành kiến, xu hướng trung bình, thái cực…trong đánh giá; Xây dựng qui trình đánh giá hợp lý; Thiết kế hoặc sử dụng phiếu/biểu mẫu đánh giá phù hợp; Sử dụng hiệu quả kết quả đánh giá trong các hoạt động quản lý; Phối hợp với cán bộ quản lý và các bộ phận chức năng thực hiện đánh giá nghiêm túc; Quản lý và sử dụng kết quả đánh giá hiệu quả- [19, tr.183- 189].

Quản lý hoạt động của các tổ Chuyên môn: là một trong những nội dung quan trọng trong quản lý dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp. Việc xây dựng, tổ chức và quản lý hoạt động của tổ chuyên môn, GĐ trung tâm căn cứ vào qui định về cơ cấu, tổ chức Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp và xem xét tình hình thực tế của cơ cấu đội ngũ giáo viên Trung tâm. Khi tổ chức các Tổ chuyên môn, GĐ phải đảm bảo hoạt động của các môn Nghề phổ thông có hiệu quả nhất. GĐ tổ chức các Tổ chuyên môn theo từng môn học hoặc nhóm môn học; mỗi Tổ chuyên môn có một tổ Trưởng và một hoặc hai tổ Phó điều khiển. Điều quan trọng là Giám đốc Trung tâm bổ nhiệm các tổ Trưởng, tổ phó có đủ phẩm chất và năng lực để điều khiển hoạt động của Tổ chuyên môn theo mục tiêu phấn đấu của Trung tâm. Quản lý Tổ chuyên môn giúp giáo viên làm việc theo một sự thống nhất, có kế hoạch đồng thời sinh hoạt Tổ chuyên môn là dịp để đội ngũ giáo viên trao đổi, học tập kinh nghiệm và cùng nhau tháo gỡ những khó khăn trong giảng dạy. Quản lý, chỉ đạo tốt các nội dung sinh hoạt của các Tổ chuyên môn, làm cho tổ và giáo viên cố gắng trong việc nghiên cứu các vấn đề mới và khó của chương trình, bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ của giáo viên. Công tác quản lý phải làm sao, để Tổ chuyên môn vừa là môi trường học tập, giao tiếp vừa là tổ ấm để mọi người thân thiện và gắn bó với nhau hơn. Để quản lý tốt hoạt động Tổ chuyên môn, BGĐ cần chú trọng [7, tr.12].

Quản lý việc xây dựng Kế hoạch dạy học của Tổ chuyên môn; Quản lý việc thực hiện kế hoạch DH của Tổ chuyên môn; Quản lý việc xây dựng và phát triển đội ngũ GV của Tổ chuyên môn; quản lý công tác tham mưu, phối hợp hoạt động của Tổ chuyên môn. Phát huy vai trò tổ Trưởng chuyên môn, trong quản lý hoạt động dạy học; Bồi dưỡng nâng cao năng lực hoạt động cho Tổ trưởng chuyên môn; Tăng cường kiểm tra đánh giá chất lượng sinh hoạt Tổ chuyên môn; Chỉ đạo Tổ chuyên môn tăng cường sự phối hợp với giáo viên trường PT được giao nhiệm vụ quản lý học sinh và các cá nhân, bộ phận khác.

BGĐ trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp yêu cầu, Tổ trưởng chuyên môn phải hoàn thiện từ đầu năm học hồ sơ Tổ chuyên môn, bao gồm: Danh sách lí lịch trích ngang GV trong tổ; Kế hoạch Tổ chuyên môn, sổ ghi các hoạt động của Tổ chuyên môn; Sổ ghi biên bản họp Tổ chuyên môn và nghị quyết các cuộc họp Tổ chuyên môn. Xây dựng và tổ chức tốt nề nếp sinh hoạt Tổ chuyên môn. Tăng cường, khuyến khích các nội dung sinh hoạt theo chuyên đề nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động dạy học nghề phổ thông. Tạo được không khí dân chủ, bình đẳng, tích cực trong sinh hoạt Tổ chuyên môn, nhằm phát huy trí tuệ tập thể. Tích cực xây dựng tạo thói quen chia sẻ kinh nghiệm dạy học nghề phổ thông khi sinh hoạt Tổ chuyên môn.

Quản lý Kiểm tra đánh giá tổ Chuyên môn: BGĐ Trung tâm cần thực hiện tốt chức năng quản lý Kiểm tra đánh giá hoạt động của Tổ chuyên môn, BGĐ có thể kiểm tra trực tiếp hay gián tiếp, có thể kiểm tra toàn diện hoặc kiểm tra một vài hoạt động của tổ (kiểm tra chuyên đề). Với nội dung kiểm tra toàn diện GĐ trung tâm nên kiểm tra 2 lần/năm (nên kết hợp kiểm tra toàn diện một vài giáo viên và một vài lớp học sinh), thời gian tiến hành mỗi đợt kiểm tra khoảng một tuần. Tuy nhiên, không nhất thiết kiểm tra tất cả các tổ cùng một lúc; Với nội dung kiểm tra chuyên đề cũng được tiến hành như kiểm tra toàn diện nhưng nội dung chỉ tập trung vào vấn đề đã chọn. Dù kiểm tra dưới hình thức nào, BGĐ cũng cần phải bảo đảm nghiệp vụ của công tác kiểm tra như sau: Lập kế hoạch kiểm tra; Tổ chức lực lượng và tiến hành kiểm tra; Tổng hợp thành biên bản kiểm tra; Tổng kết, đánh giá hoạt động của tổ và đề ra những kiến nghị. Luận văn: Quản lý dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục.

  • (2).Quản lý Cán bộ, Nhân viên trong hoạt động dạy học Nghề phổ thông

Quản lý CB: nhà quản lý cấp cao cần giúp họ nhận thức đầy đủ hơn về nội dung công tác đổi mới quản lý. Đổi mới QLGD không chỉ đổi mới cách làm việc của cán bộ lãnh đạo, quản lý mà phải đổi mới về nội dung, phương pháp giáo dục từ tổ Trưởng tổ chuyên môn tới từng giáo viên. QLGD không phải chỉ quản lý con người mà quan trọng là quản lý công việc, quản lý kế hoạch và chiến lược. Chỉ có quản lý công việc thì làm việc mới tự giác và có hiệu quả thật sự, còn quản lý con người thì làm việc chỉ với mục đích đối phó. Người lãnh đạo tìm ra cơ chế quản lý để phát huy mọi khả năng của từng cá nhân, các bộ phận, sự tương tác đó sẽ tạo ra sức mạnh tổng hợp để phát triển theo chiều hướng đi lên. Công tác quản lý việc nâng cao chất lượng học tập HS thực chất là quản lý quá trình dạy và học, quản lý các điều kiện hỗ trợ quá trình dạy – học bằng một hệ thống các biện pháp quản lý được thực hiện theo các chức năng quản lý đã được xác định. Việc xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh trong Trung tâm, là một nhiệm vụ quan trọng trong công tác của người quản lý, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình học tập của HS.

Vấn đề phân công, phân nhiệm quản lý trong BGĐ Trung tâm phải thật cụ thể, rõ ràng. GĐ chịu trách nhiệm về toàn bộ hoạt động ở Trung tâm, nhưng có thể không trực tiếp phụ trách mà phân công cho PGĐ phụ trách quản lý hoạt động dạy học nghề phổ thông. PGĐ làm việc dưới sự lãnh đạo GĐ, chịu trách nhiệm trước GĐ và cấp trên, cùng với GĐ vạch kế hoạch công tác, báo cáo với GĐ về phần công việc của mình. Vì thế, việc phân định chức trách là rất cần thiết. Tuy nhiên, điều quan trọng là sự phối hợp chặt chẽ, sự thống nhất giữa GĐ và PGĐ cùng các cộng sự của mình trong cùng một đường lối làm việc; Thể hiện ở chỗ: bàn bạc, thống nhất quan điểm lãnh đạo, cùng làm công tác bồi dưỡng GV; cùng lắng nghe ý kiến GV… Tránh tình trạng “trống đánh xuôi, kèn thổi ngược” trong việc quản lý hoạt động ở Trung tâm- [25, tr. 183].

Quản lý nhân viên: đội ngũ NV Trung tâm có vai trò quan trọng trong hoạt động dạy học nghề phổ thông. Quản lý NV là một nhiệm vụ quan trọng của Cán bộ quản lý Trung tâm. Trong đội ngũ NV Trung tâm, chỉ có một số NV biên chế chính thức, còn lại là hợp đồng chỉ tiêu, hợp đồng thời vụ, do vậy hàng năm BGĐ Trung tâm phải ký hợp đồng với các NV hợp đồng. Công tác quản lý NV Trung tâm cũng có những đặc thù khác với quản lý GV, Lãnh đạo, quản lý Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp cần có những chế độ, chính sách rõ ràng, công khai thể hiện trong quy chế TT, quy chế chi tiêu nội bộ Trung tâm, nhất là về nhiệm vụ được giao, tinh thần, thái độ, trách nhiệm với công việc, vấn đề tiền lương, tiền thưởng…Quản lý tốt đội ngũ NV góp phần tích cực thúc đẩy dạy học nghề phổ thông Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp đặt kết quả cao- [19, tr. 87- 92].

Quản lý Kiểm tra đánh giá CB, NV: quản lý hoạt động Kiểm tra đánh giá cán bộ, giáo viên Trung tâm là một khâu quan trọng của quản lý dạy học nghề phổ thông. Trước hết cán bộ quản lý trung tâm phải thấy rõ vai trò không thể thiếu, của đội ngũ CB, NV trong mọi hoạt động dạy học nghề phổ thông. Có sự phân công, phân nhiệm cụ thể, rõ ràng đến từng CB, NV Trung tâm. Thường xuyên Kiểm tra đánh giá để kịp thời động viên, uốn nắn, điều chỉnh hoạt động của đội ngũ CB, NV. Nhà quản lý Trung tâm phải đảm bảo hoạt động Kiểm tra đánh giá đội ngũ CB, NV được công khai, minh bạch, đảm bảo tính công bằng, theo mục tiêu vì sự tiến bộ của người được đánh giá. Luận văn: Quản lý dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục.

  • Quản lý hoạt động học Nghề phổ thông của Học sinh

Học sinh vừa là đối tượng vừa là chủ thể trong hoạt động dạy học, vì vậy, quản lý hoạt động học của HS là khâu quan trọng góp phần nâng cao chất lượng dạy học trong Trung tâm. Muốn thực hiện tốt chức năng quản lý HS, BGĐ Trung tâm phải bao quát được cả không gian và thời gian học tập để điều hòa cân đối chung. Điều khiển chúng hoạt động phù hợp với tính chất và qui luật hoạt động dạy và học. Không gian hoạt động học tập của HS là từ trong lớp, ngoài lớp đến ở nhà. Thời gian hoạt động học của HS bao gồm giờ học trên lớp, giờ học ở nhà và thời gian thực hiện các hình thức học tập khác. Vấn đề quản lý hoạt động học tập của học sinh đặt ra với Lãnh đạo Trung tâm, không phải chỉ trên bình diện khoa học giáo dục, mà còn là một đòi hỏi có ý nghĩa về tinh thần trách nhiệm của nhà quản lý giáo dục đối với sự nghiệp đào tạo thế hệ trẻ.

Để làm tốt nhiệm vụ quản lý HS tới học Nghề phổ thông ở trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp, cán bộ quản lý phải thấy được những nét đặc thù của đối tượng mình sẽ quản lý, những thuận lợi, khó khăn trong công tác quản lý có như vậy mới có hiệu quả cao trong hoạt động quản lý HS. Học sinh đến học các môn Nghề phổ thông ở các Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp, chủ yếu là HS đến từ các trường phổ thông (THCS, Trung học phổ thông) khác nhau, từ nhiều vùng địa phương (Thuần nông, nội thành, vùng giáp danh, thị trấn, miền núi,…) khác nhau. Tính đa dạng về vùng, miền, trình độ, sở trường của người học được tạo ra từ đây. Mỗi HS một thế mạnh, một ưu điểm và một sở thích khác nhau; dẫn đến phong cách học tập môn Nghề phổ thông của họ cũng hết sức đa dạng, phong phú. HS đến Trung tâm là để học Nghề phổ thông nên tâm tư, nguyện vọng, các yếu tố tâm lý trong việc học Nghề phổ thông có khác so với việc học văn hóa. Do vậy, cán bộ quản lý và GV của Trung tâm muốn làm tốt công tác quản lý của mình thì phải đi sâu tìm hiểu HS một cách đầy đủ, cặn kẽ về nguyện vọng, sở trường và các đặc điểm tâm sinh lý của các em.

Môn học Nghề phổ thông mặc dù theo các văn bản hiện hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo là môn học chính khóa, nhưng nhìn nhận của xã hội, Cha mẹ học sinh, HS và ở một số Cán bộ quản lý giáo dục, vẫn còn xem nhẹ như là môn học phụ, chỉ dùng kết quả điểm thi nghề để cộng điểm ưu tiên cho HS; Học sinh tới trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp học Nghề phổ thông chưa xác định đúng đắn động cơ, thái độ học tập, do đó ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng học tập; Kết quả đánh giá, xếp loại quá trình học môn Nghề phổ thông, cũng như kết quả thi Nghề phổ thông ở trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp không ảnh hưởng nhiều tới xếp loại, đánh giá Học sinh phổ thông. Chính vì vậy, nhiều HS có nhận thức, thái độ không đúng về học Nghề phổ thông, như: không thực hiện nội quy học tập, học hành thiếu chăm chỉ, một số em còn tỏ ra coi thường GV dạy Nghề phổ thông. Hơn nữa, mỗi GV dạy Nghề phổ thông phải đảm nhận phụ trách dạy rất nhiều lớp nghề và mỗi lớp nghề chỉ dạy một buổi / tuần, tạo nên những khó khăn cho công tác quản lý HS. Luận văn: Quản lý dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục.

Nhằm QL tốt HS tới học Nghề phổ thông ở trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp, trước hết lãnh đạo trung tâm gắn kết chặt chẽ, ký hợp đồng trách nhiệm, phối hợp với các nhà trường PT trong hoạt động quản lý, Kiểm tra đánh giá học sinh tới trung tâm học Nghề phổ thông, đưa hoạt động học Nghề phổ thông vào nội dung đánh giá, xếp loại thi đua ở nhà trường PT. Các buổi HS tới trung tâm học Nghề phổ thông, có sự kết hợp QL của GV chuyên trách trường PT, giữa trung tâm với các trường PT có thiết lập thông tin hai chiều để QL và sử lý kịp thời những vấn đề khi HS tới học Nghề phổ thông ở trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp.

Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp kết hợp với nhà trường PT, tăng cường giáo dục động cơ học Nghề phổ thông, ý thức tự giác, thái độ tích cực cho HS trong hoạt động học Nghề phổ thông. Học sinh chưa có thái độ động cơ học tập rõ ràng nếu các em chưa trả lời được câu hỏi: Học môn Nghề phổ thông để làm gì? Nếu không có động cơ hoặc động cơ học tập sai thì học sinh không thích và chán học các môn Nghề phổ thông; Tăng cường sự phối hợp với các trường PT để giáo dục ý thức học tập cho HS thông qua các cuộc làm việc giữa Trung tâm, trường PT với Cha mẹ học sinh. Do đặc thù của dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm, nên mối quan hệ giữa Trung tâm với các bậc Cha mẹ học sinh có những hạn chế nhất định. Vì vậy, thông qua GV phụ trách lớp để thống nhất trong quản lý quá trình học tập của HS tại Trung tâm và gia đình.

Phải có sự phối hợp đồng bộ giữa trung tâm, nhà trường PT và gia đình trong việc tư vấn học Nghề phổ thông, định hướng cho HS tới học Nghề phổ thông, tránh tình trạng HS bỏ học, gây ra tình trạng lãng phí; thường xuyên đổi mới phương pháp đào tạo, dạy học Nghề phổ thông, đặc biệt về phương pháp giảng dạy tìm ra phương pháp đặc thù phù hợp với trình độ từng lớp, từng môn Nghề phổ thông, kích thích sự hưng phấn trong học Nghề phổ thông cho các em. Chương trình giảng dạy các môn Nghề phổ thông phải được thường xuyên cập nhật, đổi mới về nội dung, kiến thức phù hợp với tình hình hiện nay; Trung tâm cần có trang thiết bị về trắc nghiệm tâm lý sở thích để đo chỉ số tâm lý của HS qua số liệu thu được cán bộ sẽ tư vấn cho các em về các vấn đề và cho lời khuyên khi các em chọn nghề, ngành học khi tốt nghiệp PT. Đối với trường PT: Ban giám hiệu và GV phụ trách ở các trường PT cần tư vấn và hướng dẫn cho HS chọn học Nghề phổ thông phù hợp với năng khiếu và sở thích của từng em nhằm tránh tình trạng HS bỏ học, hoặc học ngành học không phù hợp với khả năng của các em; Khi làm hồ sơ đăng ký học Nghề phổ thông mỗi em phải làm bản cam kết, có ý kiến của Cha mẹ học sinh, hình thức này góp phần thúc đẩy trách nhiệm quan tâm của gia đình đối với các em và nâng cao ý thức trong việc học Nghề phổ thông. nhà trường và gia đình nên dành thời gian trao đổi với HS về mục đích cũng như ý nghĩa của việc học Nghề phổ thông. Đối với gia đình: Thường xuyên quan tâm đến sở thích và năng khiếu của con em mình không nên ép các em học môn Nghề phổ thông mà em không thích, không phù hợp với tâm sinh lý của các em; Thường xuyên theo dõi, động viên và hướng cho các em học những Nghề phổ thông mà địa phương đang cần tạo điều kiện phát triển ngành nghề, kinh tế địa phương- [22, tr. 226- 227].

  • Quản lý môi trường dạy học nghề phổ thông Luận văn: Quản lý dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục.

(1).QL cơ sở vật chất, thiết bị dạy học: thực hiện công tác quản lý Cơ sở vật chất của Trung tâm có ảnh hưởng lớn đến quản lý dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp. BGĐ phải chỉ đạo cán bộ được phân công phụ trách Cơ sở vật chất thường xuyên nắm tình hình số lượng, tình hình Cơ sở vật chất, thiết bị Trung tâm hiện có, phân bổ sử dụng hợp lý, thường xuyên chăm lo tu sửa, tu bổ và xây dựng mới phục vụ cho công tác giáo dục của Trung tâm, hàng năm chỉ đạo tiến hành kiểm kê Cơ sở vật chất, tài sản trung tâm, xây dựng nội quy bảo quản, phân công trách nhiệm bảo quản và sử dụng cho từng đối trượng, khi mất mát hay làm hư hỏng phải quy định rõ trách nhiệm và xử lý đúng mức.

Cán bộ quản lý Trung tâm thường xuyên tổ chức kiểm tra, đánh giá thực trạng và thực hiện điều chỉnh, bổ xung kịp thời các điều kiện vật chất, kỹ thuật của Trung tâm, bao gồm từ đất đai, nhà, xưởng, máy móc, dụng cụ, nguyên vật liệu, các thiết bị dạy-học cần thiết cho giảng dạy, học tập, thực tập, cho đến phương tiện bảo hiểm lao động, các phương tiện phòng cháy chữa cháy, các dụng cụ thuốc men, y tế cho việc cấp cứu, xử lý những tai nạn không may xảy ra trong quá trình thực hành, lao động sản xuất…Cuối mỗi năm học, BGĐ thực hiện kiểm kê tài sản, nhằm kịp thời nắm bắt, báo cáo, uốn nắn, bổ xung Cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật chuẩn bị cho năm học mới.

(2).Quản lý Tài chính: hỗ trợ cho hoạt động dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm có được kết quả cao. Giám đốc phải chỉ đạo và thực hiện chi tiêu ngân sách của Trung tâm đúng định mức, đúng luật ngân sách, có hồ sơ sổ sách đầy đủ theo quy định của ngành Tài chính và thường xuyên kiểm tra Tài chính của Trung tâm. GĐ Trung tâm thực hiện tốt chức năng quản lý Tài chính, quản lý hiệu quả các nguồn Tài chính bao gồm: Nguồn ngân sách nhà nước cấp; Học phí, các khoản thu từ các hợp đồng đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, lao động sản xuất và các hoạt động khác; Các nguồn thu Tài chính hợp pháp khác. Luận văn: Quản lý dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục.

(3).Quản lý phối hợp với các nhà trường PT: do đặc thù của hoạt động giáo dục ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp, học sinh học Nghề phổ thông ở Tung tâm là học sinh PT từ các trường Trung học cơ sở, Trung học phổ thông tới học, do vậy vấn đề phối kết hợp trong hoạt động quản lý dạy học nghề phổ thông, giữa Trung tâm với các nhà trường PT có học sinh tới học Nghề phổ thông. Nó có vai trò hết sức quan trọng, quyết định tới chất lượng Quản lý học sinh học Nghề phổ thông, chất lượng học môn Nghề phổ thông của học sinh.

Để thực hiện tốt chức năng quản lý phối hợp giữa Trung tâm với các nhà trường PT có học sinh tới Trung tâm học Nghề phổ thông, đầu các năm học mới BGĐ Trung tâm có tổ chức hội nghị tuyển sinh, với thành phần chủ yếu là BGH các trường PT có học sinh tới học Nghề phổ thông, hai bên trao bàn bạc, trao đổi, thống nhất và đi đến ký hợp đồng cam kết trách nhiệm về: Tuyển sinh học Nghề phổ thông; Chất lượng dạy học nghề phổ thông; Quản lý học sinh HNPT; Kinh phí đào tạo… Trong chức năng quản lý phối hợp, đặc biệt hai bên chú trọng phối hợp quản lý HS trong các buổi tới Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp học Nghề phổ thông. Cụ thể, Trường PT có cử một thày, cô chuyên trách quản lý HS tới Trung tâm HNPT; Trung tâm giao trách nhiệm quản lý học sinh trong các buổi học, cho các giáo viên dạy các môn Nghề phổ thông, trong mỗi buổi học GV bộ môn Nghề phổ thông có “Phiếu báo cáo nhanh” về tình hình lớp học, chuyển cho Giáo vụ Trung tâm để sử lý và kịp thời thông báo về trường PT; Các trường PT đưa học Nghề phổ thông vào nội dung thi đua của nhà trường, thường xuyên Kiểm tra đánh giá, kịp thời chấn chỉnh, xử lý các vấn đề nảy sinh trong quản lý học sinh học Nghề phổ thông. Kết thúc năm học, Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp tổ chức hội nghị tổng kết hoạt động dạy học nghề phổ thông (tháng 7 hàng năm), với thành phần là cán bộ QL Trung tâm, cán bộ QL các trường PT có học sinh tới Trung tâm học, đánh giá hoạt động dạy học nghề phổ thông, công tác phối hợp quản lý dạy học nghề phổ thông, vấn đề khen thưởng, kỷ luật học sinh, tập thể HS trong năm học và công tác chuẩn bị cho thi nghề Trung học phổ thông. Thực hiện tốt chức năng quản lý phối hợp giữa Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp với các nhà trường PT có HS tới Trung tâm học, là trách nhiệm của các nhà QL Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp [17, tr.50- 58].

1.6. Các yếu tố tác động tới quản lý hoạt động dạy học nghề phổ thông, ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp Luận văn: Quản lý dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục.

Quản lý hoạt động dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp chịu tác động của nhiều yếu tố, có thể chia làm 2 loại yếu tố tác động cơ bản: Các yếu tố tác động từ bên ngoài Trung tâm và các yếu tố tác động từ bên trong Trung tâm.

1.6.1. Các yếu tố tác động từ bên ngoài Trung tâm

Có nhiều yếu tố bên ngoài tác động tới quản lý hoạt động dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp, trong đó phải kể đến các yếu tố:

Chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, nhà nước ta đối với hoạt động của Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp, trong đó việc xác định mục tiêu, định hướng phát triển Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp của Ngành Giáo dục, sẽ trực tiếp tác động tới quản lý hoạt động dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp.

Sự tác động của Môi trường, của nền Kinh tế- Xã hội ảnh hưởng tới hoạt động và quản lý hoạt động dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp. Đặc biệt là sự nhìn nhận, đánh giá của xã hội đối với vai trò của Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp. Nó có tác động lớn tới hoạt động và quản lý hoạt động dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp.

1.6.2. Các yếu tố tác động từ bên trong Trung tâm

Có nhiều yếu tố bên trong Trung tâm tác động tới công tác quản lý hoạt động dạy học nghề phổ thông, ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp như các yếu tố: Nhận thức và năng lực của đội ngũ cán bộ Quản lý Trung tâm; Nhận thức và năng lực của đội ngũ GV, NV trong Trung tâm; Nhận thức và năng lực của học sinh học Nghề phổ thông ở Trung tâm; Cơ sở vật chất kỹ thuật của Trung tâm. Trong đó nhận thức, năng lực và uy tín của GĐ Trung tâm có vai trò quyết định tới hiệu quả của công tác quản lý hoạt động dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp.

Kết luận chương 1

Chương 1 đã trình bày kết quả nghiên cứu một cách có hệ thống, cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp. Trên cơ sở xem xét lịch sử các vấn đề nghiên cứu, tìm hiểu các cơ sở pháp lý chỉ đạo quản lý hoạt động dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp, xây dựng một số các khái niệm công cụ cơ bản liên quan tới các vấn đề nghiên cứu. Xuất phát từ cơ sở pháp lý, Luật Giáo dục 2015 và Quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp (ban hành theo quyết định số 44/2018/BGD& ĐT ngày 30/7/2018), nội dung chương 1 cũng tập chung làm rõ cơ sở, nền tảng xây dựng tổ chức và hoạt động của Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp, qua đó xác định được vị trí, chức năng, nhiệm vụ, cấp quản lý, chương trình thực hiện, cơ sở vật chất, đội ngũ cũng như nguồn tài chính… để Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp có thể tồn tại, hoạt động và phát triển phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội đât nước. Trọng tâm của chương 1 là, đi sâu xây dựng cơ sở lý luận về công tác quản lý hoạt động dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp, tác giả làm rõ chức năng và những nội dung cơ bản về quản lý hoạt động dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp. Luận văn: Quản lý dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục.

Việc nghiên cứu đầy đủ và có tính hệ thống, cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học nghề phổ thông ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp trong chương 1, sẽ là tiền đề khoa học để tác giả thực hiện nội dung chương 2, nghiên cứu về: Thực trạng quản lí hoạt động dạy học nghề phổ thông, ở Trung tâm Giáo dục kỹ thuật tổng hợp số 5 Hà Nội.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:  

===>>> Luận văn: Thực trạng dạy học nghề phổ thông Trung tâm Giáo dục

0 0 đánh giá
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Phản hồi nội tuyến
Xem tất cả bình luận
0
Rất thích suy nghĩ của bạn, hãy bình luận.x
()
x
Contact Me on Zalo
0972114537