Mục lục
Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh ở các trường Tiểu học hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn thạc sĩ tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài Luận Văn: Quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường Tiểu học thị xã Tân Uyên dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
TÓM TẮT
Đề tài nhằm khảo sát và đánh giá thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường tiểu học thị xã Tân Uyên, từ đó đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường tiểu học thị xã Tân Uyên. Đề tài sử dụng kết hợp hai phương pháp nghiên cứu, đó là phương pháp nghiên cứu lý luận và phương pháp nghiên cứu thực tiễn. Luận văn đã thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu và đạt được những quả sau:
- Góp phần làm rõ cơ sở lý luận của hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở trường tiểu học.
Từ nghiên cứu lý luận và kết quả khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường tiểu học thị xã Tân Uyên, đề tài đã đề xuất 4 nhóm biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường tiểu học thị xã Tân Uyên, đó là:
Biện pháp Quản lí việc thực hiện kế hoạch, chương trình giảng dạy của GV: Tổ chức kiểm tra việc xây dựng kế hoạch cá nhân, kế hoạch giảng dạy; Đánh giá chất lượng các kế hoạch của GV, chỉ đạo điều chỉnh kế hoạch nếu cần..
Nhóm quản lý và tăng cường đổi mới hoạt động kiểm tra và đánh giá kết quả học tập của HS theo chuẩn quốc tế: Tăng cường sự thống nhất trong quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh của HT và tổ trưởng chuyên môn nhằm tạo sự đồng bộ trong việc thực hiện chương trình về thời lượng, kiến thức giảng dạy.
Nhóm các biện pháp bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho GV Tiếng Anh: Biện pháp quản lý việc giáo viên tham gia lớp bồi dưỡng, học tập nâng cao trình độ chuyên môn và năng lực ngoại ngữ; Bồi dưỡng năng lực giảng dạy tiếng Anh cho giáo viên theo hướng đa dạng; Quản lý đổi mới sinh hoạt tổ chuyên môn thông qua đó đảm bảo nền nếp dạy học, bồi dưỡng phát triển chuyên môn nghiệp vụ cho đội ngũ GV.
Nhóm các biện pháp đổi mới quản lý CSVC, TBDH môn Tiếng Anh: Quản lý việc mua sắm các TBDH, CSVC phục vụ việc dạy học môn Tiếng Anh; Quản lý việc khai thác, sử dụng có hiệu quả TBDH môn Tiếng Anh.
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Cùng với sự phát triển của kinh tế, thương mại và công nghệ tiếng Anh ngày càng được nhiều nước đưa vào giảng dạy. Giảng dạy tiếng Anh (ELT), còn được gọi là tiếng Anh cho người nói ngôn ngữ khác (English as a Second Language được viết tắt là ESOL), là một hiện tượng toàn cầu, diễn ra tại hầu như mọi quốc gia trên thế giới và được cung cấp trong nhiều tổ chức, hoặc tổ chức dạy học ngôn ngữ – Language (LTOs) [38,tr.5]. Tiếng Anh được sử dụng như một ngôn ngữ quốc tế cho các hội thảo khoa học, các tạp chí quốc tế, ngôn ngữ ngoại giao, giao dịch kinh tế và nó còn là ngôn ngữ của Internet, là phương tiện để con người xích lại gần nhau. Chính vì vai trò của tiếng Anh ngày càng được khẳng định nên việc giảng dạy ngoại ngữ đặc biệt là giảng dạy tiếng Anh đóng một vai trò rất to lớn trong việc hội nhập quốc tế.
Việc hội nhập quốc tế đã giúp Việt Nam tiếp nhận được những nền giáo dục tiên tiến, khoa học kỹ thuật tiên tiến. Thêm vào đó, nước ta đã là thành viên chính thức của nhiều tổ chức kinh tế – chính trị quốc tế và khu vực như: Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF)…Ở cấp liên khu vực, chúng ta là thành viên tích cực của Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC), Việt Nam đã thiết lập mối quan hệ ngoại giao với hơn 170 nước và có quan hệ kinh tế – thương mại với trên 160 nước và vùng lãnh thổ, với hầu hết các tổ chức quốc tế [44, tr 17].
Nghị quyết đại hội đảng lần thứ 12, khóa XII của đảng cộng sản Việt Nam, diễn ra từ ngày 20 đến 28 tháng 1 năm 2024 tại Hà Nội tiếp tục khẳng định trong mục tiêu tổng quát “…Toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, cách mạng khoa học công nghệ, kinh tế tri thức tiếp tục được đẩy mạnh…” [17]. Và ngoại ngữ (Tiếng Anh) quy định trong chương trình giáo dục nước ta là ngôn ngữ phổ biến trong giao dịch quốc tế. Việc tổ chức dạy ngoại ngữ trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác cần bảo đảm để người học được học liên tục và có hiệu quả.[18]
Vì thế, việc tăng cường trang bị vốn Tiếng Anh cho thế hệ trẻ (những chủ nhân tương lai của đất nước) là nhiệm vụ hết sức cấp thiết đặt ra cho chúng ta trong bối cảnh hiện tại. Do đó, ngày 30/9/2016, Thủ tướng chính phủ đã ra Quyết định số 1400/QĐ-TTg về việc phê duyệt đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2016-2028” (sau đây gọi tắt là ĐANN) trong đó nêu rõ mục tiêu chung là “ Đổi mới toàn diện việc dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân, triển khai chương trình dạy học và ngoại ngữ mới ở các cấp học, trình độ đào tạo, nhằm đến năm 2023 đạt được một số bước tiến rõ rệt về trình độ, năng lực sử dụng ngoại ngữ của nguồn nhân lực, nhất là đối với một số lĩnh vực ưu tiên; đến năm 2028 đa số thanh niên Việt Nam tốt nghiệp trung cấp, cao đẳng và đại học có đủ năng lực ngoại ngữ sử dụng độc lập, tự tin trong giao tiếp học tập, làm việc trong môi trường hội nhập, đa ngôn ngữ, đa văn hóa; biến ngoại ngữ trở thành thế mạnh của người dân Việt Nam, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước” [10].
Ngành giáo dục và đào tạo nước ta nhận thức rõ điều này, nên trong việc chỉ đạo, quản lý dạy học tiếng Anh rất được chú trọng.Các cấp lãnh đạo từ Bộ, Sở đến Phòng giáo dục đào tạo đã có những định hướng, chỉ đạo thiết thực đến việc dạy và học tiếng Anh ngay từ bậc tiểu học là bậc học được xem là nền tảng cơ bản để học sinh (HS) có thể học tốt ở các cấp học sau và việc đưa tiếng Anh vào giảng dạy ở bậc tiểu học là một chủ trương hoàn toàn phù hợp và cần thiết vì đây là giai đoạn thích hợp nhất trong cuộc đời một con người để học ngôn ngữ thứ hai [15, tr.131]. Kì họp thứ 7 Quốc hội khóa XI đã thông qua Luật giáo dục (sửa đổi) trong đó quy định tại Điều 7, mục 3 như sau: “Ngoại ngữ được quy định trong chương trình giáo dục là ngôn ngữ được sử dụng phổ biến trong giao dịch quốc tế. Việc tổ chức dạy ngoại ngữ trong nhà trường và cơ sở giáo dục khác cần bảo đảm để người học được học liên tục và có hiệu quả”, Quyết định số 3321/QĐ-BGDĐT ngày 12/8/2018 về triển khai dạy chương trình thí điểm tiếng Anh tiểu học từ năm học 2019-2020 [5], Công văn số 4329/BGDĐT-GDTH ngày 27/6/2021 về việc chấn chỉnh việc sử dụng sách giáo khoa và tài liệu dạy tiếng Anh tiểu học (TH) [6] cho thấy sự quan tâm của Đảng và nhà nước trong việc đầu tư cho việc dạy tiếng Anh từ bậc TH. Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh ở các trường Tiểu học.
Bình Dương là một tỉnh trong khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam có nền kinh tế phát triển năng động, đầu tư nước ngoài nằm trong những tỉnh đứng đầu cả nước, dân số phát triển nhanh, hiện nay đã có hơn 2 triệu dân trong đó có khoảng một nửa là người nhập cư và cũng là áp lực lớn với giáo dục trong đó đặc biệt là giáo dục tiểu học, nhu cầu học tập tiếng Anh ở tiểu học lại càng cấp thiết. Chính vì thế công tác dạy và học tiếng Anh trong tỉnh đã được các cấp lãnh đạo quan tâm và đã có những hướng dẫn, chỉ đạo nhằm nâng cao hiệu quả dạy học môn tiếng Anh bậc phổ thông nói chung và bậc tiểu học nói riêng như: QĐ số 5551/QĐ- UBND ngày 17/12/2015 về việc phê duyệt đề án thí điểm chương trình tiếng Anh tự chọn có tăng cường ở cấp tiểu học giai đoạn 2016-2023 [45], QĐ số 1535/ĐA-SGDĐT ngày 7 tháng 12 năm 2015 “Đề án thí điểm chương trình tiếng Anh tự chọn có tăng cường ở cấp tiểu học giai đoạn 2016-2023” [40]; QĐ số 3405/QĐ-UBND ngày 05/12/2020 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bình Dương về việc phê duyệt Đề án nâng cao chất lượng dạy và học tiếng Anh trong trường phổ thông của tỉnh Bình Dương giai đoạn (2020-2025) [46]. Sở giáo dục đào tạo Bình Dương đã và đang tập trung triển khai kế hoạch thực hiện đề án ngoại ngữ, chỉ đạo thực hiện qua nhiệm vụ từng năm học đến từng cơ sở giáo dục của các huyện thị trong toàn tỉnh.
Ở thị xã Tân Uyên, các trường tiểu học hiện đang dạy tiếng Anh cho học sinh chủ yếu ở hai chương trình: Tiếng Anh tăng cường, tiếng Anh đại trà. Chất lượng dạy học tiếng Anh ở các trường TH tuy đã được quan tâm nhưng chưa thực sự đáp ứng được mục tiêu của ngành đề ra. Mặc dù những năm gần đây có những chuyển biến tích cực về chất lượng học tập môn tiếng Anh của HS. Tuy nhiên, kết quả dạy học môn Tiếng Anh ở bậc TH của thị xã Tân Uyên chưa phản ảnh đúng thực chất về năng lực của học sinh, thực tế cho thấy học sinh còn rất hạn chế ở các kỹ năng nghe và nói. Trong công tác quản lý, khâu quản lý tổ chức hoạt động dạy học đã bộc lộ một số bất cập như: Việc thực hiện chương trình học còn thiếu thống nhất; Đội ngũ giáo viên – chìa khóa của thành công còn thiếu về số lượng, yếu về chất lượng (Số lượng GVTA đạt chuẩn FCE theo khung tham chiếu châu Âu về năng lực ngoại ngữ hoặc các chứng chỉ tương đương IELTS còn thấp, năng lực ngôn ngữ còn hạn chế), phương pháp giảng dạy (Nhiều GV vẫn chưa tiếp cận tốt với việc đổi mới trong giảng dạy tiếng Anh theo cách tiếp cận giao tiếp lấy người học làm trung tâm) [33] ); Hình thức kiểm tra đánh giá kết quả hoạt động học tập của học sinh không có tác dụng tích cực đến quá trình dạy học; Chưa có chuẩn trình độ và năng lực theo chuẩn quốc tế áp dụng cho người học (đạt mức độ nào khi kết thúc một khoảng thời gian học tập); Còn thiếu nguồn lực vật chất hỗ trợ cho quá trình này như phòng học tiếng, thiết bị công nghệ thông tin, nguồn học liệu mở…; Lực lượng cán bộ quản lý ở các trường hiện tại yếu về trình độ tiếng Anh.
Thực tế, chưa có các nghiên cứu có tính hệ thống về quản lý tổ chức dạy học môn tiếng Anh ở các trường TH ở thị xã Tân Uyên.Việc tìm kiếm biện pháp, giải pháp trong công tác quản lý tổ chức dạy học môn Tiếng Anh nhằm nâng cao hiệu quả đào tạo môn học này là vấn đề cấp thiết vừa đáp ứng mục tiêu văn hóa xã hội của địa phương. Đây chính là lý do chúng tôi nghiên cứu đề tài “Quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường Tiểu học thị xã Tân Uyên” dưới dạng một luận văn thạc sĩ.
2. Mục đích nghiên cứu Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh ở các trường Tiểu học.
Hệ thống hóa các cơ sở lí luận về quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh ở tiểu học. Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh ở các trường tiểu học trên địa bàn thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh ở các trường tiểu học thị xã Tân Uyên.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
- Quá trình dạy học tiếng Anh ở tiểu học.
3.2 Đối tượng nghiên cứu
- Quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở trường các trường tiểu học thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
4. Giả thuyết khoa học
Công tác quản lý hoạt động dạy học tiếng Anh ở các trường TH thị xã Tân Uyên đã được quan tâm nhưng hiệu quả giáo dục thực chất chưa cao, còn tồn tại nhiều hạn chế trong việc lập kế hoạch, tổ chức, chỉ đạo và kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch … Nếu xây dựng được các biện pháp quản lý tổ chức dạy học một cách hợp lí, khả thi thì sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn tiếng Anh ở các trường tiểu học thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đáp ứng với yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận của việc quản lý tổ chức dạy học môn tiếng Anh ở trường tiểu học.
- Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh các trường tiểu học thị xã Tân Uyên.
- Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Tổ chức khảo nghiệm sư phạm khẳng định tính cần thiết và khả thi của các biện pháp đã đề xuất.
6. Giới hạn đề tài
- Về nội dung: Đề tài nghiên cứu quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh dưới sự điều hành quản lý, lãnh đạo của HT trường tiểu học. Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh ở các trường Tiểu học.
- Về thời gian: Đề tài nghiên cứu trong giai đoạn 2024 –
- Về không gian: Đề tài nghiên cứu quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh tại 16 trường tiểu học thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
7. Phương pháp luận nghiên cứu:
7.1 Phương pháp luận
7.1.1 Tiếp cận hệ thống – cấu trúc
Tiếp cận theo quan điểm hệ thống – cấu trúc trong nghiên cứu đề tài này là xem xét hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở trường tiểu học là một công tác giáo dục trong nhà trường, phân tích nội dung, phương pháp và các điều kiện ảnh hưởng đến hiệu quả dạy học. Các lý luận về hoạt động dạy học môn tiếng Anh là cơ sở cho việc nghiên cứu hoạt động quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở trường tiểu học. Phân tích nội dung QL, chức năng QL và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở trường tiểu học.
7.1.2 Tiếp cận thực tiễn
Tiếp cận theo quan điểm thực tiễn trong nghiên cứu đề tài này là thông qua khảo sát thực trạng dạy học môn tiếng Anh và thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường tiểu học thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương để từ đó đánh giá được ưu điểm, hạn chế, thuận lợi và khó khăn trong quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường tiểu học thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương. Trên cơ sở đó, đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở trường tiểu học thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
7.1.3 Tiếp cận lịch sử – logic
Tiếp cận theo quan điểm lịch sử – logic trong nghiên cứu đề tài này là tìm hiểu quá trình phát triển của hoạt động quản lý dạy học môn tiếng Anh ở trường tiểu học trong thời gian, không gian và các điều kiện, hoàn cảnh cụ thể; giúp tiếp cận và trình bày nội dung nghiên cứu hợp lý và theo trình tự logic.
Để thực hiện đề tài này chúng tôi sử dụng phối hợp các nhóm phương pháp sau:
7.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể
7.2.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết
Nghiên cứu các loại tài liệu về chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước trong công tác giáo dục.
Nghiên cứu tổng quan các tài liệu lý luận dạy học (DH), các giáo trình, đặc biệt là các tài liệu về quản lý tổ chức DH làm cơ sở cho việc đánh giá thực trạng và xây dựng các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh tiểu học.
Nghiên cứu các luận án, luận văn, các bài báo khoa học có liên quan đến đề tài.
7.2.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh ở các trường Tiểu học.
Phương pháp này được sử dụng nhằm mục đích khảo sát thực trạng hoạt động dạy học môn tiếng Anh và thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường tiểu học thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương; khảo nghiệm tính cần thiết, tính khả thi của các biện pháp nâng cao hiệu quả QL bằng việc sử dụng Phiếu hỏi.
Bảng hỏi thứ nhất khảo sát thực trạng hoạt động dạy học môn tiếng Anh dành cho giáo viên dạy tiếng Anh tiểu học.
Bảng hỏi thứ hai khảo sát thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh dành cho CBQL.
Bảng hỏi thứ ba khảo sát thực trạng hoạt động học môn tiếng dành cho HS.
Bảng hỏi thứ tư khảo sát tính cần thiết và tính khả thi của các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động dạy học môn tiếng Anh dành cho CBQL (hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, tổ trưởng tổ tiếng Anh).
7.2.2.2 Phương pháp phỏng vấn
Phương pháp này được sử dụng với mục đích thu thập thông tin về cách thức quản lý, cách thực hiện quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh hiện nay của GV và HS các trường tiểu học để thu thập tài liệu bổ sung cho kết quả điều tra.
Đối tượng phỏng vấn: CBQL ( Ban giám hiệu, tổ trưởng tổ tiếng Anh) và GV tiếng Anh.
Nội dung phỏng vấn: Tìm hiểu thực trạng hoạt động dạy học môn tiếng Anh và thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh các trường tiểu học thị xã Tân Uyên, Bình Dương.
7.3 Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng phương pháp xử lý số liệu toán học thông qua việc sử dụng phần mềm thống kê IBM SPSS 20 để xử lý số liệu. Trong đề tài nghiên cứu, tác giả sử dụng các đại lượng thống kê gồm:
Thống kê mô tả: Bảng tỉ lệ phần trăm; trị trung bình; độ lệch chuẩn; biểu đồ nhận định về thực trạng hoạt động dạy học môn tiếng Anh, cũng như thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở các trường tiểu học thị xã Tân Uyên.
8. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày trong 3 chương:
- Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài.
- Chương 2.Thực trạng quản lí tổ chức dạy học Tiếng Anh ở các trường tiểu học Thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
- Chương 3. Biện pháp quản lý tổ chức dạy học môn Tiếng Anh ở các trường Tiểu học Thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÍ TỔ CHỨC DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC
1.1. Lịch sử nghiên cứu đề tài
1.1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
1.1.1.1 Tình hình nghiên cứu ở các nước phương tây Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh ở các trường Tiểu học.
Tiếng Anh mới chỉ được dạy ở bậc phổ thông cơ sở giữa những năm 90 của thế kỷ 19. Phụ huynh học sinh là những người tin rằng Tiếng Anh là “Một công cụ hữu hiệu thúc đẩy sự thành công của trẻ em trong tương lai” [9, tr.1], nên cần phải được dạy trong trường học sớm hơn nữa.Theo Brewster & Ellis (2009), một trong những lí do nên bắt đầu học ngoại ngữ nói chung và tiếng Anh nói riêng sớm, ở độ tuổi 6 hay 7 thay vì 11 hay 12 tuổi như trước đây, là để tăng thời gian học ngôn ngữ đó. Chính điều đó đã đặt ra một xu hướng mới cho ngành giáo dục, đó là, dạy tiếng Anh cho lứa tuổi thấp hơn – lứa tuổi học bậc tiểu học (TH).
Ngay từ năm 1976, Cộng đồng Châu Âu kêu gọi các quốc gia thành viên mở rộng việc dạy và học ngôn ngữ nhằm mục đích đảm bảo tất cả HS đều học ít nhất một ngoại ngữ trong khối Châu Âu. Trong Sách trắng của Ủy ban Châu Âu năm 1995 có đề cập phần dạy và học hướng tới một xã hội (XH) học tập (Teaching and Learning towards the Society) đã khuyến khích thế hệ trẻ học ít nhất hai ngoại ngữ của cộng đồng …..“everyone should be proficient in two Community foreign languages” [42, tr.47]. Theo kết quả những thống kê cho thấy, đối với cấp tiểu học(TH) tại các nước Châu Âu, tiếng Anh vẫn là một ngoại ngữ được chọn học nhiều nhất. Tùy vào tình hình từng quốc gia mà tỉ lệ HS chọn học môn ngoại ngữ tiếng Anh có những sự khác nhau. Ở Bồ Đào Nha có 93% HS chọn học môn tiếng Anh trong khi tỉ lệ HS học tiếng Anh ở Tây Ban Nha là 71%. Tỉ lệ này tại Áo là 56%, Thụy Điển 62% và Phần Lan là 63%. Đối với các nước “Đông Âu cũ” tỉ lệ khá thấp khoảng 20% [42].
1.1.1.2 Tình hình nghiên cứu thực tiễn dạy và học Tiếng Anh bậc tiểu học ở các nước trong khu vực
Trong một nghiên cứu gần đây, Graddol [19] khảo sát tình hình giảng dạy tiếng Anh bậc TH ở 8 nước trong khu vực gồm Singapore, Philippines, Thái Lan, Hàn Quốc, Đài Loan, Nhật Bản, Indonesia và Việt Nam.Trừ Philippines là nước có lịch sử dạy tiếng Anh bậc TH lâu đời nhất (1901) ( Singapore không có dữ liệu trong bản thống kê này).Các nước còn lại trong đó có Việt Nam, việc giảng dạy tiếng Anh bậc TH bắt đầu từ những năm 90 của thế kỷ trước (riêng Nhật Bản bắt đầu từ năm 2010).
Nếu như tiếng Anh là môn học bắt buộc đối với HS tiểu học ở Singapore, Philippine, Thái Lan, Hàn Quốc và Đài Loan thì ở Nhật Bản, Indonesia và Việt nam vẫn là môn học tự chọn [19].
Về thời gian khởi đầu học tiếng Anh ở bậc tiểu học cũng có sự khác nhau giữa các nước. Philippines, Thái Lan và Singapore bắt đầu dạy tiếng Anh ngay khi trẻ học lớp 1 nhưng một số nước bắt đầu muộn hơn – từ lớp 3 (Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và Việt Nam). Bên cạnh đó, số giờ HS học tiếng Anh ở các nước cũng có sự chênh lệch đáng kể. Philippines có số giờ học cao nhất với 90 phút/ ngày, Nhật Bản thấp nhất với 12 đến 20 giờ/năm, còn ở Đài Loan, Indonesia, Hàn Quốc và Việt Nam HS học khoảng từ 40 đến 80 phút/ tuần (Thái Lan và Singapore không có dữ liệu) [30].
- Những khó khăn chung trong việc dạy Tiếng Anh cho HS ở bậc TH của các nước trong khu vực
Theo Graddol, các nước trong khu vực có những khó khăn chung trong việc dạy Tiếng Anh cho HS ở bậc TH.
- Số lượng HS Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh ở các trường Tiểu học.
Trong khi số lượng HS của mỗi lớp còn quá đông, ví dụ như ở Singapore là 30 và Philippines lên đến 60, số HS này có trình độ không đồng đều khiến việc tổ chức DH gặp nhiều trở ngại.
- Đội ngũ GV
Các nước nêu trên có chung tình trạng thiếu nguồn GV được đào tạo bài bản chuyên nghiệp. Do đó, số GV đang đứng lớp có năng lực tiếng Anh và nghiệp vụ sư phạm còn hạn chế. Điều này dẫn đến việc GV lúng túng trong việc luyện âm cho HS cũng như tổ chức học tập theo PP lấy người học làm trung tâm. Bên cạnh đó, thiếu môi trường giao tiếp bằng tiếng Anh trong và ngoài lớp học, thiếu tài liệu học tập kích thích óc sáng tạo và hứng thú cho HS và thời gian học được bố trí cho từng lớp quá ít cũng là những thách thức không nhỏ đối với việc dạy và học tiếng Anh cho bậc TH [19].
Kết quả nghiên cứu về GV dạy tiếng Anh cho bậc TH ở các nước trong khu vực được đào tạo và tuyển dụng không giống nhau. Ở Singapore, Philippines, Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan GV TH phụ trách một lớp và dạy tất cả các môn cho lớp đó kể cả tiếng Anh. GV đứng lớp TH ở các nước này (trừ Nhật Bản) được đào tạo để dạy bậc TH, trong chương trình đào tạo có môn tiếng Anh [19].
Không giống như ở các nước vừa nêu, ở Việt Nam, Indonesia và Thái Lan môn tiếng Anh do GVTA phụ trách. Riêng ở Việt Nam, GVTA không được đào tạo để dạy cho bậc TH.Những GV đang dạy cho bậc học này được tuyển dụng từ nhiều nguồn khác nhau, chủ yếu là những người tốt nghiệp đại học hoặc cao đẳng sư phạm đào tạo cho bậc THCS và THPT.Tình trạng thiếu GV tiếng Anh TH rất phổ biến ở các nước, trong đó ở Thái Lan, Indonesia và Việt Nam là trầm trọng nhất. Theo một số nghiên cứu gần đây(Moon 2013a, Grassick, Trịnh Quốc Thái 2013), đội ngũ GV tiếng Anh ở bậc TH nước ta hiện còn hạn chế về năng lực chuyên môn, phương pháp dạy học và trình độ chuyên môn. Theo kết luận của các nhà nghiên cứu mà Moon (2013a) tiến hành thì GV ngoại ngữ có năng lực tiếng Anh hạn chế, thể hiện ở chỗ không diễn đạt một cách trôi chảy thứ tiếng mình đang dạy, hay sử dụng tiếng Việt trong giờ học. Theo Moon (2013a) có ít nhất 50% số GV được dự giờ đã nói tiếng Việt đến ít nhất 80% trong tổng số phát ngôn trong giờ học. Bên cạnh đó, việc GV luôn bám sát từng câu chữ trong sách giáo khoa chứ không thoát ly khỏi sách để dẫn dắt HS đi theo mạch hứng thú nhằm tạo sự hạn chế về năng lực ngôn ngữ của họ. Một hạn chế khác là GV thiếu các biện pháp hỗ trợ HS nghe hiểu tiếng Anh và không điều chỉnh được ngôn ngữ cho phù hợp với trình độ của HS.
- Phương pháp và kinh nghiệm giảng dạy
Kết quả nghiên cứu của Moon (2013a) cho thấy việc đào tạo và bồi dưỡng GVTA bậc TH ở nhiều nước có sự khác biệt rõ rệt. Ở một số nước Châu Âu, có rất nhiều cách dạy tiếng Anh ngôn ngữ ngoại ngữ rất tốt ở các lớp tiểu học. Tuy nhiên, sự thật nhiều giáo viên nhận thấy bản thân thậm chí chưa được rèn luyện dạy ở cấp học này [50]. Chẳng hạn như ở Áo, Australia, GV được đào tạo 3 năm để dạy tiếng Anh và các môn học khác trong chương trình TH. Điều bất lợi của việc đào tạo này, theo nhận xét của Moon [30], là năng lực chuyên môn về tiếng Anh không đạt mức chuẩn mực. Ở Hungary, GV có trình độ đào tạo tiểu học 4 năm có thể dạy như các GV đứng lớp bình thường và có dạy thêm môn tiếng Anh hoặc họ chỉ dạy môn tiếng Anh. Còn ở các nước khu vực Đông Nam Á, nhiều GV dạy tiếng Anh cho TH là những người tốt nghiệp trường ngoại ngữ, thường không chuyên về dạy tiếng Anh cho TH. Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh ở các trường Tiểu học.
Ở các nước trong khu vực, việc dạy Tiếng Anh ở bậc TH vẫn còn nặng về phương pháp truyền thống, vẫn còn chú trọng đến vai trò của người thầy hơn là coi người học như trung tâm quá trình DH. Ở hầu hết các nước này, các hoạt động học tập thường diễn ra theo kiểu tương tác giữa thầy và trò hơn là giữa trò với nhau dưới hình thức luyện tập thực hành theo cặp hoặc nhóm nhỏ. Các hoạt động học tập mang tính giao tiếp ít được áp dụng với lý do lớp quá đông GV không thể quán xuyến được. Thêm vào đó, đa số GV dạy tiếng Anh cho HS nhỏ tuổi lại được đào tạo để dạy cho HS ở độ tuổi thanh thiếu niên hoặc người lớn nên phần lớn không hiểu được tâm sinh lý và các đặc thù về lứa tuổi của HS TH nên thường chưa phát huy một cách đầy đủ động cơ học tập và hứng thú của trẻ em.
Về khoa học quản lý: Liên quan đến lý luận dạy học, phương pháp dạy học tiếng Anh, tác giả Richard Ellis (2010), đã đưa ra các lý luận về học các kỹ năng cần phải đi kèm với hiệu suất phản hồi [37]. Đây là yếu tố rất cần thiết trong việc dạy học ngôn ngữ đặc biệt là tiếng nước ngoài.
William F. Pinar (2011), đã đưa ra các lí luận về chương trình giảng dạy, trong đó đưa ra những gợi ý về chương trình giáo dục đáp ứng yêu cầu quốc tế [51].
Tác giả David Nunan với lí luận về việc lí thuyết và thực hành trong chương trình dạy học ngôn ngữ tiếng Anh có đề cập đến vai trò trung tâm của người học (learner – centredness) [14], đây là yếu tố quan trọng trong việc đổi mới phương pháp dạy học theo mục tiêu giáo dục hiện nay.
1.1.2 Tình hình nghiên ở trong nước
Theo báo cáo của Vụ trưởng Vụ Tiểu học Bộ GD-ĐT Trịnh Quốc Thái (2013)[43], học sinh tiểu học ở các thành phố lớn như Hà Nội, Hồ Chí Minh bắt đầu học TA từ những năm 1990 tại các trung tâm ngoại ngữ hoặc các câu lạc bộ. Năm 1996 Bộ GD-ĐT có văn bản chính thức cho phép một số trường tiểu học đưa môn tiếng Anh (TA) vào dạy như một môn tự chọn mỗi tuần 2 tiết. Đến năm 2008 một số sở GD-ĐT đã từng bước đưa môn TA vào hệ thống quản lý giáo dục như ban hành các văn bản hướng dẫn việc dạy TA trong các trường tiểu học, mở các lớp tập huấn về phương pháp giảng dạy TA cho GV. Đến năm 2011, lần đầu tiên Bộ GD- ĐT ban hành chương trình môn TA tiểu học bắt đầu từ lớp 3, mỗi tuần 2 tiết cho các trường lớp 2 buổi/ngày.
Ngày 30 tháng 9 năm 2016, thủ tướng chính phủ đã ra quyết định Số: 1400/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2016 – 2028” trong đó quy định về việc thực hiện chương trình dạy học tiếng Anh 10 năm, tiếng Anh được dạy bắt đầu từ lớp 3 và đây là môn ngoại ngữ bắt buộc ở các cấp học phổ thông và được thực hiện từ 2 – 4 tiết/tuần tùy vào điều kiện của mỗi trường. Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh ở các trường Tiểu học.
Từ năm học 2023-2024, Bộ Giáo dục và Đào tạo thống nhất một chương trình tiếng Anh tiểu học hiện hành theo Quyết định 3321/QĐ-BGDĐT. Theo đó, các địa phương tùy vào điều kiện thực tế có thể tổ chức học theo các thời lượng khác nhau từ 2 đến 8 tiết/tuần nhưng hướng tới tổ chức học ít nhất 4 tiết/tuần cho học sinh lớp 3,4,5.
Nhìn chung đa số học sinh đều thích học TA ở giai đoạn đầu, một bộ phận học sinh ở khu vực thành phố, thị trấn được sự quan tâm của gia đình và được hỗ trợ đào tạo từ một số trung tâm ngoại ngữ nên việc học TA đạt kết quả tốt. Tuy nhiên, một bộ phận lớn học sinh còn yếu về kỹ năng giao tiếp do phương pháp giảng dạy chủ yếu tập trung vào đọc viết và phát âm TA cũng là một khó khăn đối với học sinh Việt Nam. [43, tr. 49].
Thực tế cho thấy rằng chất lượng dạy học môn TA ở nước ta chưa đạt hiệu quả cao như mong muốn trên một bình diện chung. Nội dung chương trình, phương pháp dạy và học chưa chú ý phát triển kỹ năng sử dụng tiếng Anh như một công cụ giao tiếp, phục vụ học tập. Đa số HS học tiếng Anh nhưng không thể giao tiếp và sử dụng thông thạo tiếng Anh. Qua đó, chúng ta thẳng thắn nhìn nhận chất lượng và hiệu quả của việc dạy và học tiếng Anh hiện rất thấp so với yêu cầu của xã hội.Hiệu quả thấp này thể hiện ở khả năng đáp ứng đòi hỏi của công việc, giao dịch, nghiên cứu và học tập bằng tiếng Anh của đa số người Việt Nam còn hạn chế. Trong nước đã có không ít hội thảo, bài viết, bài tham luận, đề tài nghiên cứu đã đề cập đến các vấn đề trong việc dạy học TA: Thực trạng của việc dạy họcTA, đổi mới phương pháp dạy học TA, các biện pháp quản lý (QL) nâng cao chất lượng dạy học TA. Các công trình nghiên cứu đã có đóng góp đáng kể trong việc đánh giá đúng thực trạng dạy học TA ở tại cơ sở, địa phương, bậc học của mình. Tìm ra những điểm mạnh chung hoặc những điểm bất cập để đồng nghiệp cùng chia sẻ, học tập rút kinh nghiệm lẫn nhau. Trên cơ sở các giải pháp, biện pháp mang tính khả thi, khoa học đã góp phần nâng cao QL chất lượng DH ngoại ngữ.
Ngày 07/4/2019, Trường đại học Hải Phòng kết hợp với Đại sứ quán Hoa Kỳ đã tổ chức Hội thảo quốc tế “ Quản lí chất lượng giáo dụcvà đào tạo Tiếng Anh tại các trường đại học giai đoạn 2019-2023”(The International Conference on “Quality Management of Education and Training in Universities 2019- 2023).
Hội thảo nhằm nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của việc dạy và học tiếng Anh; trao đổi kinh nghiệm đào tạo và QL đào tạo Anh ngữ giữa các trường đại học, liên kết đào tạo QL đào tạo bộ môn tiếng Anh. Tại hội thảo, các chuyên gia Anh ngữ Hoa Kỳ đã thuyết trình về các phương pháp dạy học tiếng Anh hiện đại, hiệu quả; trao đổi về kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy [52].
- Những nguyên nhân dẫn đến những hạn chế Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh ở các trường Tiểu học.
Đội ngũ GV TA tiểu học có sự chênh lệch đáng kể về trình độ chuyên môn. Do được tuyển dụng từ nhiều nguồn khác nhau để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng số trường và lớp có học sinh chọn học môn TA cho nên “một bộ phận GV còn yếu về trình độ ngoại ngữ” [43, tr. 49]. Theo quan sát của Moon (2013b) thì nhiều GV còn hạn chế về phát âm, nhất là các âm cuối. “Do đó họ (GV) khó có thể làm một hình mẫu chuẩn cho các em bắt chước” [30, tr. 58]. Năng lực TA kém còn thể hiện ở chỗ đa số GV không diễn đạt được một cách trôi chảy thứ tiếng mình đang dạy. Hơn thế, họ thường có khuynh hướng dùng tiếng Việt trong giờ dạy TA. Moon nhận thấy có ít nhất 50% số GV được dự giờ đã nói tiếng Việt đến ít nhất 80% trong tổng số các phát ngôn trong giờ học.
Ngoài ra việc GV luôn bám sát từng câu chữ trong sách giáo khoa chứ không thoát ly khỏi sách để dẫn dắt học sinh đi theo mạch hứng thú nhằm tạo sự hấp dẫn và kích thích tính tích cực và sáng tạo của học sinh cũng phản ánh sự hạn chế về năng lực ngôn ngữ của họ.
Cuối cùng, sự yếu kém về năng lực chuyên môn còn thể hiện ở chỗ GV thiếu các biện pháp hỗ trợ cho học sinh nghe hiểu TA và không điều chỉnh được ngôn ngữ cho phù hợp với trình độ của học sinh.
Ở Việt nam, nhiều nhà khoa học cũng tiến hành các công trình nghiên cứu về lĩnh vực quản lý nói chung và giảng dạy bộ môn tiếng Anh nói riêng.
Nguyễn Quốc Chí – Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2018) nghiên cứu về những vấn đề lý luận chung về quản lý và khoa học quản lý; các phương pháp quản lý, tổ chức bộ máy quản lý, quy trình và các nội dung cơ bản của các hoạt động quản lý; quyết định quản lý, lãnh đạo, chỉ đạo; lập kế hoạch quản lý; kiểm tra trong quản lý.
Tác giả Bùi Minh Hiển – Nguyễn Vũ Bích Hiền (đồng chủ biên) – Hứa Hoàng Anh – Nguyễn Vân Anh – Nguyễn Thị Thu Hằng – Vũ Thị Mai Hường – Hoàng Thị Kim Huệ – Phạm Ngọc Long – Nguyễn Thị Minh Nguyệt – Nguyễn Thị Yến Phương – Trịnh Thị Quý (2023) với nghiên cứu về Quản lí và lãnh đạo nhà trường.
Tác giả Nguyễn Đức Chính, Vũ Lan Hương có công trình nghiên cứu về Phát triển chương trình trong đó đề cập đến những đổi mới trong giáo dục: Đổi mới tư duy; Đổi mới mục tiêu, nội dung phương pháp và kiểm tra đánh giá; Giáo dục suốt đời và phổ cập thông tin… [12, tr 27]
Những năm gần đây, hướng nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học cũng được rất nhiều học viên Cao học quản lý giáo dục quan tâm: Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh ở các trường Tiểu học.
Lê Quang Dũng (2019) với nghiên cứu Dạy tiếng Anh ở bậc tiểu học- thách thức và giải pháp đã đưa ra những khó khăn trong việc thực hiện đề án ngoại ngữ Quốc gia 2028, bậc tiểu học như điều kiện giảng dạy và cơ chế đãi ngộ, đội ngũ giáo viên. Đề xuất một số giải pháp trước mắt và bền vững trong dạy tiếng Anh ở bậc tiểu học như xây dựng chương trình đào tạo về kỹ năng và phương pháp giảng dạy cho giáo viên tiếng Anh ở bậc học này. Nghiên cứu này cũng đã cho thấy rằng việc đưa tiếng Anh vào dạy ở các trường TH là hoàn toàn phù hợp và cần thiết. Tuy nhiên, nghiên cứu được thực hiện ở tầm vĩ mô trong thực hiện chính sách hơn là thực hiện các giải pháp quản lý dạy học tại một cơ sở giáo dục cụ thể [15].
Vương Văn Cho (2019) với nghiên cứu Thực trạng và một số biện pháp quản lí hoạt động giảng dạy môn tiếng Anh ở các Trường trung học Cơ sở quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy giáo dục bậc THCS ở Q.6 TP. HCM đã đạt được một số kết quả đáng khích lệ nhờ áp dụng một số biện pháp quản lí tiên tiến. Kết quả này có phần đóng góp quan trọng của đội ngũ CBQL và GV tiếng Anh ở bậc THCS. Tuy nhiên, trước đòi hỏi của sự nghiệp đổi mới đất nước, của sự nghiệp GD & ĐT, đội ngũ CBQL và GVBM dạy tiếng Anh một số trường THCS Q.6 còn có những hạn chế, bất cập ở một số vấn đề như: Việc QL giảng dạy môn tiếng Anh chưa thật sự đáp ứng nhu cầu đặc trưng bộ môn dẫn tới hiện tượng HS ít được rèn luyện về kĩ năng nghe nói, thiên về kĩ năng đọc viết nhiều hơn. Những hạn chế, bất cập trên vừa có nguyên nhân khách quan, vừa có nguyên nhân chủ quan, trong đó nguyên nhân chủ yếu là do chưa chú trọng đúng mức nội dung giáo trình giảng dạy; chưa tạo điều kiện cho GV sinh hoạt CLB, tiếp cận với GV bản ngữ để rèn luyện kĩ năng nghe nói trong quá trình giảng dạy. Yếu tố không kém phần quan trọng nữa là việc thiếu trang thiết bị hỗ trợ và cách ra đề kiểm tra [13].
Trần Thị Hằng, Quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh tại trường trung học phổ thông Nam Phù Cừ, Tỉnh Hưng Yên. Luận văn thạc sỹ quản lý giáo dục (2022); Phạm Hồng Mai, Các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh ở các trường trung học phổ thông Thủy Sơn, thành phố Hải Phòng. Luận văn thạc sỹ QLGD, (2019)… Chúng tôi nhận thấy vấn đề quản lý tổ chức hoạt động dạy học môn Tiếng Anh tiểu học cũng được các tác giả nghiên cứu theo lôgic: Nghiên cứu thực trạng để từ đó xác định nguyên nhân, đề ra giải pháp.
Các đề tài trên có sự tương đồng cao với nghiên cứu mà chúng tôi đang thực hiện nhưng hầu hết các công trình khoa học trên lại các được nghiên cứu tập trung cấp THCS và ở các địa phương khác trong nước, không phải ở tỉnh Bình Dương. Các luận văn của các tác giả đã đạt được những thành tựu nhất định.Tuy nhiên, việc áp dụng kết quả nghiên cứu phụ thuộc vào tình hình thực tế của địa phương, của các nhà trường. Qua tìm hiểu thì chưa thấy có đề tài nào nói rõ giải pháp nâng cao hiệu quả tổ chức hoạt động dạy học môn Tiếng Anh ở bậc tiểu học. Do đó, tác giả sẽ thừa kế những kết quả của các công trình trước đó và tiếp tục đề xuất một số giải pháp khả thi mới để quản lý tổ chức hoạt động dạy học môn Tiếng Anh ở các trường tiểu học thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
1.2. Một số khái niệm có liên quan đến đề tài Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh ở các trường Tiểu học.
1.2.1 Khái niệm quản lý; quản lý giáo dục; quản lý nhà trường
1.2.1.1 Quản lý
Hoạt động quản lý đã xuất hiện và tồn tại từ cách đây hàng ngàn năm. Có rất nhiều định nghĩa về thuật ngữ “quản lí”.
F.W.Taylor, nhà kinh tế học người Anh thì cho rằng: “Quản lý là biết được điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy được rằng họ hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất”[11, tr.28].
H.Fayol định nghĩa: “Quản lý là dự kiến, tổ chức, lãnh đạo, phối hợp và kiểm tra. Đó là năm chức năng cơ bản của quản lý”[11, tr.31].
Ở Việt Nam, có nhiều công trình nghiên cứu về khoa học quản lý và khái niệm quản lý được các tác giả giải trình từ nhiều góc độ:
Theo từ điển Tiếng Việt của Nhà xuất bản Hồng Đức do Hoàng Phê chủ biên, quản lý nghĩa là:
- Quản: Trông coi và giữ gìn theo yêu cầu nhất định [31, 789]
- lý: Tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định [31, tr.789].
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [11, tr. 9].
Các tác giả Lê Văn Phùng, Nguyễn Dịch, Trần Thị Tuyết lại cho rằng: Quản lí là tác động có ý thức, bằng quyền lực theo quy trình của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý để phối hợp các nguồn lực nhằm thực hiện mục tiêu của tổ chức trong điều kiện biến đổi [ 34, tr. 10].
Tác giả Bùi Minh Hiển đưa ra quan điểm: “Quản lí là sự tác động có định hướng, có mục đích, có hệ thống, có kế hoạch của chủ thể quản lí đến đối tượng quản lí” [23, tr.31]. Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh ở các trường Tiểu học.
Theo tác giả Trần Kiểm thì “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức hiệu quả cao nhất [28, tr.29].
Tuy được trình bày theo nhiều cách khác nhau, bản chất chung của quá trình quản lý là:
- Quản lý là tác động bằng quyền lực.
- Quản lý là một thuộc tính bất biến nội tại của mọi quá trình lao động xã hội. Lao động quản lý là điều kiện quan trọng để làm cho xã hội loài người tồn tại, vận hành và phát triển.
- Yếu tố con người giữ vai trò trung tâm của hoạt động quản lý.
- Quản lý là một hoạt động được tiến hành trong một tổ chức hay một nhóm xã hội.
- Quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật chính vì vậy trong hoạt động quản lý người quản lý phải hết sức sáng tạo, linh hoạt, mềm dẻo để chỉ đạo hoạt động của tổ chức đi tới đích.
Tóm lại, Quản lý là hệ thống những tác động có hướng đích, có chủ đích của chủ thể quản lí đến đối tượng quản lý trong một tổ chức để đạt được mục đích của tổ chức, nhằm duy trì, ổn định, đổi mới và phát triển.
1.2.1.2 Quản lý giáo dục
QL giáo dục là thiết kế và duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm có thể hoàn thành các nhiệm vụ và các mục tiêu giáo dục đã định Theo tác giả Trần Kiểm thì khái niệm “Quản lý giáo dục” có nhiều cấp độ. Ít nhất có hai cấp độ chủ yếu: cấp vĩ mô và cấp vi mô.
Đối với cấp vi mô: “Quản lý giáo dục được hiểu là những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ cấp cao nhất đến các cơ sở giáo dục là nhà trường) nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành giáo dục”.[26]
Đối với cấp vĩ mô: “Quản lý giáo dục được hiểu là hệ thống những tác động tự giác (có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có hệ thống, hợp quy luật) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường”.[26]
QL giáo dục là hoạt động điều hành, phối hợp, huy động các lực lượng giáo dục và xã hội nhằm thực hiện có hiệu quả công việc giáo dục; không chỉ là sự nghiệp của các nhà trường, của ngành giáo dục – đào tạo mà là sự nghiệp chung của cả xã hội.
1.2.1.3 Quản lý nhà trường Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh ở các trường Tiểu học.
Trường học là tế bào của hệ thống giáo dục các cấp từ Trung ương đến địa phương, là thành tố khách thể cơ bản của tất cả các cấp QL giáo dục, đồng thời nó cũng là một hệ thống độc lập, tự quản của xã hội. Bởi vậy mọi hành động của QL giáo dục cấp trên đều phải hướng về trường học. Có thể nói QL giáo dục suy cho đến cùng là QL trường học.
Theo Phạm Minh Hạc (1986): “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh”[20].
Theo Phạm Viết Vượng (2012): “Quản lý nhà trường là hoạt động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức các hoạt động của giáo viên, học sinh và các lực lượng giáo dục khác, huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường”[48]
Nguyễn Ngọc Quang (1989) cho rằng QL nhà trường là: “Tập hợp những tác động tối ưu (cộng tác, tham gia, hỗ trợ, phối hợp, huy động, can thiệp…) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và các cán bộ khác. Nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do Nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp, do lao động xây dựng và vốn lao động tự có hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ. Thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới” [35].
[ có ý thức, có khoa học và hướng của chủ thể QL trên tất cả các mặt của các nhà trường. Như vậy, QL nhà trường thực chất là QL lao động sư phạm của thầy, hoạt động học tập tự GD của trò, diễn ra chủ yếu trong quá trình DH; là QL tập thể GV và HS để chính họ lại QL (đối với GV) và tự QL (đối với HS) quá trình DH. Đồng thời, QL nhà trường bao gồm: QL các công việc khác có tính chất điều kiện như: Đội ngũ, tổ chức hoạt động của các đoàn thể trong trường, CSVC, chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho CB, GV, NV và HS nhằm thực hiện có chất lượng và có hiệu quả mục đích GD.
Tóm lại: QL nhà trường là một hệ thống những tác động sư phạm hợp lý và có hướng đích của chủ thể QL đến đối tượng QL nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra một cách hiệu quả.
1.2.2 Khái niệm hoạt động dạy học; quản lý hoạt động dạy học Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh ở các trường Tiểu học.
1.2.2.1 Hoạt động dạy học
Theo quan điểm lý thuyết về dạy học hiện đại, hoạt động dạy học bao gồm hoạt động của thầy và trò. Nhà tâm lý học A.Mentriskaia viết: “Hai hoạt động của thầy và trò là hai mặt của một hoạt động”[1]
Định nghĩa của nhóm các tác giả Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan, Nguyễn Văn Thàng đã chú trọng đến khâu tổ chức và điều khiển của giáo viên trong hoạt động dạy học: “Hoạt động dạy là hoạt động của người lớn tổ chức điều khiển hoạt động của trẻ”. [24].
Theo tác giả Phạm Viết Vượng “Nói đến dạy học là nói đến hoạt động dạy và học của thầy và trò trong nhà trường, với mục tiêu là giúp HS nắm vững hệ thống kiến thức khoa học, hình thành hệ thống kỹ năng, kỹ xảo và thái độ tích cực đối với học tập và cuộc sống” [49, tr.110].
Tóm lại: Hoạt động dạy học của người thầy là hệ thống các hành động để tổ chức điều khiển hoạt động của HS nhằm hình thành và phát triển năng lực và phẩm chất để hoàn thiện nhân cách ở người học. Nói cách khác, hoạt động dạy cũng bao hàm nội dung cốt lõi là tổ chức các hoạt động học để người học chủ động tiếp nhận tri thức, hình thành và phát triển năng lực một cách phù hợp.
1.2.2.2 Quản lý hoạt động dạy học
- Quản lý hoạt động dạy
Quản lý hoạt động dạy là quản lý việc thực hiện chương trình DH, quản lý việc soạn bài và chuẩn bị lên lớp, quản lý giờ lên lớp của GV, quản lý việc dự giờ và phân tích sư phạm bài học, quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS. Trong quá trình dạy học, GV vừa là đối tượng quản lý, vừa là chủ thể quản lý của hoạt động giảng dạy. Quản lý hoạt động giảng dạy bao gồm một số nội dung quản lý cơ bản:
Quản lý giờ lên lớp và vận dụng PP, sử dụng phương tiện DH. Hình thức dạy và học trên lớp hiện nay vẫn được coi là một trong các hình thức cơ bản và chủ yếu của quá trình DH. Vì vậy chất lượng của HĐDH phụ thuộc rất lớn vào chất lượng của các giờ lên lớp của thầy.
Quản lý việc thực hiện quy chế kiểm tra, đánh giá chất lượng. Kiểm tra đánh giá là khâu quan trọng và không thể thiếu trong HĐDH. Kiểm tra đánh giá kết quả học tập của trò là quá trình thu thập và xử lý thông tin về trình độ và khả năng thực hiện nhiệm vụ học tập của người học, trên cơ sở đó đề ra những biện pháp phù hợp giúp họ học tập tiến bộ.
Quản lý hồ sơ chuyên môn của các GV: là phương tiện giúp người quản lý nắm chắc được tình hình thực hiện nhiệm chuyên môn của các GV là một trong những cơ sở pháp lý đánh giá việc thực hiện nề nếp chuyên môn của họ.
Tóm lại: Quản lý hoạt động dạy của thầy là quản lý quá trình chủ đạo của người thầy trong quá trình DH, đòi hỏi người QL nhà trường phải hiểu nội dung, yêu cầu cần quản lý để đưa ra những quyết định quản lý vừa mang tính nghiêm chỉnh, chính xác, nhưng lại vừa là mềm dẻo linh hoạt để đưa hoạt động dạy của thầy vào nề nếp kỷ cương nhưng vẫn phát huy được khả năng sáng tạo khoa học của GV trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình.
- Quản lý hoạt động học Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh ở các trường Tiểu học.
Quản lý hoạt động học của người học là quản lý việc thực hiện các nhiệm vụ học tập, nghiên cứu, rèn luyện của người học trong suốt quá trình học tập và khả năng vận dụng tri thức tiếp thu được. Người học vừa là đối tượng quản lý, vừa là chủ thể tự quản lý quá trình học của mình.
Trong quản lý hoạt động học tập cần lưu ý tính phức tạp và tính trừu tượng về sự chuyển biến trong nhân cách, do tác động đồng thời của nhiều yếu tố chủ thể và khách thể, làm cho kết quả học tập của họ bị hạn chế.
Quản lý hoạt động học tập có nội dung, yêu cầu cụ thể, vì vậy cần phải tăng cường việc kiểm tra đánh giá (KTĐG) các hoạt động học tập của người học và hoạt động giảng dạy của người dạy. Quản lý hoạt động học tập bao gồm: Quản lý học trên lớp và hoạt động tự học của học sinh.
- Quản lý hoạt động dạy học
Quản lý hoạt động DH là quản lý một quá trình sư phạm đặc thù, nó tồn tại như là một hệ thống, bao gồm nhiều thành tố như: mục đích và nhiệm vụ DH, nội dung DH, PP DH và phương tiện DH, thầy với hoạt động dạy, trò với hoạt động học tập và kiểm tra – đánh giá kết quả DH để điều chỉnh cho hiệu quả ngày càng tốt hơn. Quản lý hoạt động DH là phải tổ chức thực hiện các nhiệm vụ cơ bản sau đây:
Cụ thể hóa mục tiêu DH qua các nhiệm vụ DH nhằm nâng cao tri thức, kỹ năng, bồi dưỡng thái độ và hình thành phát triển những năng lực, phẩm chất tốt đẹp cho người học. Quản lý việc xây dựng và thực hiện nội dung DH. Nội dung DH phải đảm bảo bao gồm hệ thống những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, phương pháp… mà người học cần phải nắm vững trong quá trình học để từ đó biết vận dụng và hình thành năng lực.
- Quản lý hoạt động giảng dạy của GV (Biên soạn tài liệu, giáo trình, chuẩn bị giáo án, chuẩn bị đồ dùng DH, lên lớp, kiểm tra HS học tập).
- Quản lý hoạt động học tập của HS (nề nếp, thái độ, kết quả học tập).
Quản lý CSVC- kỹ thuật phục vụ cho hoạt động DH. Cơ sở vật chất là điều kiện tiên quyết cho nhà trường hình thành và đi vào hoạt động, là điều kiện không thể thiếu được trong việc nâng cao chất lượng đào tạo. Quản lý cơ sở vật chất – kỹ thuật phục vụ cho dạy và học đảm bảo được ba yêu cầu liên quan mật thiết với nhau đó là:
-
- Đảm bảo đầy đủ cơ sở vật chất – kỹ thuật phục vụ dạy và học.
- Sử dụng có hiệu quả cơ sở vật chất – kỹ thuật trong việc dạy vàhọc.
- Tổ chức quản lý tốt cơ sở vật chất – kỹ thuật trong nhà trường.
Nội dung quản lý cơ sở vật chất – kỹ thuật phục vụ dạy và học trong nhà trường bao gồm:
Quản lý trường lớp, phòng học, bàn ghế, bảng;Quản lý các trang thiết bị phục vụ DH, hoạt động của các phòng bộ môn, phòng chức năng.;Quản lý thư viện trường học với các sách báo, tài liệu.;Quản lý nguồn kinh phí, xây dựng nội quy và kế hoạch sử dụng trang thiết bị, phương tiện – kỹ thuật phục vụ hoạt động DH.
1.2.3 Nhà trường tiểu học Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh ở các trường Tiểu học.
Theo điều 4, luật Giáo dục [36] Trường tiểu học được tổ chức theo hai loại hình: công lập và tư thục. Theo điều 26 Giáo dục phổ thông “Giáo dục tiểu học được thực hiện trong năm năm học, từ lớp một đến lớp năm. Tuổi của học sinh vào học lớp một là sáu tuổi”. Nhà trường tiểu học là nền tảng cho giáo dục phổ thông.
Theo Điều 10, Điều lệ trường tiểu học [4] Thẩm quyền thành lập hoặc cho phép thành lập; cho phép hoạt động giáo dục… trường tiểu học. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện quyết định thành lập hoặc cho phép thành lập đối với các trường trường tiểu học công lập và cho phép thành lập, sáp nhập đối với các trường tiểu học tư thục. Trưởng phòng giáo dục và đào tạo quyết định cho phép hoạt động giáo dục đối với các trường tiểu học.
Điều II Luật phổ cập giáo dục đã nêu: “Giáo dục tiểu học là bậc học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, …”. Bậc tiểu học là bậc học đầu tiên để đào tạo những cơ sở ban đầu cơ bản và bền vững cho trẻ tiếp tục học lên bậc học trên, giúp trẻ hình thành những cơ sở ban đầu, những nét cơ bản của nhân cách. Do vậy giáo dục ở bậc tiểu học có tính chất đặc biệt, có bản sắc riêng, với tính sư phạm đặc trưng.[24]
1.2.4. Hoạt động dạy học trong trường tiểu học
Ở trường phổ thông nói chung và trường TH nói riêng, DH là hoạt động trung tâm của GV và nhà trường.
Mục tiêu DH ở TH là một bộ phận của quá trình sư phạm tổng thể, là quá trình tác động qua lại giữa thầy và trò nhằm truyền thụ và lĩnh hội tri thức khoa học, kinh nghiệm XH, kỹ năng, kỹ xảo, hoạt động nhận thức, thực tiễn, trên cơ sở đó hình thành thế giới quan, phát triển năng lực sáng tạo và xây dựng phẩm chất của cá nhân người học.
Về phương pháp: DH là một quá trình, trong đó dưới tác động chủ thể (Tổ chức, điều khiển, lãnh đạo) của thầy, HS tự giác tích cực tổ chức tự điều khiển hoạt động nhận thức, nhằm thực hiện tốt các HĐDH.
HĐDH ở tiểu học là hết sức phức tạp, tinh tế, đầy khó khăn, vô cùng có trách nhiệm đối với xã hội, gồm những đặc điểm cơ bản sau: Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh ở các trường Tiểu học.
Giáo viên Tiểu học là giáo viên có thể dạy được tất cả các môn học của chương trình thậm chí cả các môn năng khiếu như Mĩ thuật, Âm nhạc và Thể dục trong trường hợp nhà trường không có giáo viên môn năng khiếu riêng. Ở TH mỗi GV chủ nhiệm sẽ dạy các môn đối với HS trong một lớp (trừ các môn chuyên biệt đặc thù). HS trong lớp chịu tác động chủ yếu của một GV. Do vậy, mỗi GV phải có phẩm chất đạo đức tốt, năng lực chuyên môn vững vàng, không ngừng rèn luyện, học tập, tu dưỡng bản thân nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy và giáo dục HS.
Đối tượng của lao động sư phạm.Đối tượng lao động sư phạm là nhân cách HS. Giáo viên dùng trí tuệ và cả nhân cách của mình để tác động phù hợp với tâm lý lứa tuổi học sinh, dẫn dắt học sinh lĩnh hội tri thức, phát triển trí tuệ, hình thành phẩm chất đạo đức, nhân cách của HS.
Công cụ lao động sư phạm: Công cụ lao động sư phạm của giáo viên là hệ thống những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, năng lực… cần truyền đạt và rèn luyện, những dạng hoạt động giao lưu cần tổ chức cho học sinh. Giáo viên có công cụ lao động rất đặc biệt là trí tuệ, và phẩm chất của mình. Nhân cách của giáo viên như một công cụ lao động thật sự, nó sẽ phát huy tác dụng mạnh mẽ khi giáo viên có uy tín cao, tức là phẩm chất năng lực, đức và tài của giáo viên có sức thuyết phục lớn.
Sản phẩm của lao động sư phạm: Sản phẩm của lao động sư phạm chính là nhân cách của học sinh, nhân cách đó phải phù hợp với yêu cầu của công cuộc xây dựng đất nước trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định. Đặc điểm này không cho phép nhà trường “sản xuất ra phế phẩm”. Đây là nét khác biệt giữa lao động sư phạm với các loại lao động khác. Trong thời đại bùng nổ thông tin và xu thế toàn cầu hoá hiện nay, đòi hỏi giáo viên phải không ngừng bồi dưỡng, cập nhật tri thức, nâng cao trình độ để nâng cao chất lượng dạy học và giáo dục.
Hoạt động dạy của GV tiểu học là loại hình hoạt động chuyên biệt, có định hướng và tuân theo quy luật hoạt động học của HS, và chi phối hành động ứng xử của HS. Vì vậy, GV tiểu học có vị trí then chốt trong nhà trường.
- Hoạt động học là hoạt động chủ đạo của HS tiểu học. Hoạt động này có một số đặc điểm:
Là hoạt động lần đầu tiên xuất hiện ở HS. Đó là hoạt động có đối tượng, có PP và được tổ chức chuyên biệt.Thông qua hoạt động học tạo ra sự phát triển tâm lý của trẻ, tạo ra sự phát triển trí tuệ, nhân cách của trẻ.
Hoạt động học có đối tượng, đối tượng này được cụ thể hóa ở nội dung học tập của HS. Nội dung đó là: Hệ thống khái niệm, kiến thức các môn học như Tiếng Việt, Toán, Tự nhiên xã hội, Đạo đức,… HS là chủ thể của hoạt động học, được thể hiện ở vai trò tự giác, tích cực, độc lập, sáng tạo. Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh ở các trường Tiểu học.
1.3. Cơ sở lý luận về Hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở trường tiểu học
1.3.1 Mục tiêu dạy học môn tiếng Anh ở trường tiểu học
1.3.1.1 Mục tiêu chung
Theo đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2016 – 2028”, mục tiêu chung của dạy học ngoại ngữ là “Thực hiện đổi mới toàn diện việc dạy – học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân nhằm đảm bảo đến năm 2023 nâng cao rõ rệt trình độ ngoại ngữ của một số đối tượng ưu tiên, đồng thời triển khai chương trình dạy – học ngoại ngữ đối với các cấp học và trình độ đào tạo, tạo điều kiện để đến năm 2028 tăng đáng kể tỷ lệ thanh thiếu niên Việt Nam có đủ năng lực sử dụng ngoại ngữ một cách độc lập và tự tin trong giao tiếp, học tập và làm việc trong môi trường đa ngôn ngữ, đa văn hóa phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”[10, tr.8].
1.3.1.2 Mục tiêu riêng
Theo đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2016 – 2028” Mục tiêu riêng của dạy học ngoại ngữ : “ sau khi kết thúc chương trình tiếng Anh tiểu học, học sinh có thể
- Giao tiếp đơn giản bằng tiếng Anh thông qua bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết, trong đó chủ yếu là hai kĩ năng nghe và nói” .
- Có kiến thức cơ bản và tối thiểu về ngôn ngữ tiếng Anh bao gồm ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp, và thông qua tiếng Anh có những hiểu biết ban đầu về đất nước, con người và nền văn hóa của các nước nói tiếng Anh.
- Có thái độ tích cực đối với việc học tiếng Anh, từ đó tăng thêm sự hiểu biết và tình cảm trân trọng đối với ngôn ngữ và văn hóa của dân tộc mình.
- Hình thành các cách học tiếng Anh một cách có hiệu quả, tạo cơ sở cho việc học các ngoại ngữ khác trong tương lai.
1.3.2 Nội dung chương trình môn Tiếng Anh tiểu học
Theo đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2016 – 2028” quy định về việc thực hiện chương trình dạy học tiếng Anh 10 năm, tiếng Anh được dạy bắt đầu từ lớp 3 và đây là môn ngoại ngữ bắt buộc ở các cấp học phổ thông và được thực hiện từ 2 – 4 tiết/tuần tùy vào điều kiện của mỗi trường.
Các chương trình tiếng Anh ở trường tiểu học hiện nay thực hiện theo đề án ngoại ngữ 2028 của Bộ giáo dục và đào tạo, hiện nay tỉnh Bình Dương có các chương trình tiếng Anh chính với các quy định sau đây:
Chương trình tiếng Anh của Bộ GD&ĐT (Đề án 2028)
- Giáo viên: có trình độ Đại học, có chứng chỉ tiếng Anh B2 (hoặc tạm thời B1 sẽ tiếp tục học để đạt B2)
- Số tiết: 4 tiết/tuần.
- Không thu học phí.
- Tài liệu giảng dạy: tài liệu của NXB Giáo dục hoặc NXB Oxford (Let’s Tiny talk).
Chương trình tiếng Anh tăng cường
- Giáo viên: khuyến khích có trình độ B2 (FCE) Đại học chuyên ngành ngữ văn Anh chính quy.
- Số tiết giảng dạy: 3-5tiết/tuần.
- Tài liệu NXB Oxford (Let’s go và Tiny talk).
1.3.3 Phương pháp dạy học môn tiếng Anh tiểu học Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh ở các trường Tiểu học.
Việc dạy các kỹ năng ngôn ngữ cho học sinh tiểu học cần nhìn nhận dưới góc độ lứa tuổi. Chúng ta không thể áp dụng theo cách chúng ta vẫn làm với người trưởng thành. Shin [39] đã đề cập các nguyên tắc trong việc dạy tiếng Anh cho trẻ em trong đó nhấn mạnh vai trò của giáo viên trong việc:
- Bổ sung các hoạt động có sự kết hợp giữa nhà trường và thực tế, các hoạt động kết hợp với giáo cụ trực quan.
- Để các em tham gia và o việ c tạo ra đồ dùng học tập sinh động.
- Linh hoạt trong việ c thay đổi các hoạt độ ng trên lớp, vì học sinh ở lứa tuổi này khó có thể tập trung vào mộ t hoạt động trong khoảng thời gian dài.
- Dạy học theo chủ điểm.
- Sử dụng các câu chuyện , bài hát, thơ ca … phù hợp với văn hóa của học sinh.
- Tạo thói quen hàng ngày cho học
1.3.4 CSVC và trang thiết bị dạy học môn Tiếng Anh
Trang thiết bị phục vụ cho việc DH ngoại ngữ (ampli, cassette, máy chiếu, băng hình, bảng tương tác, các giáo cụ trực quan…). Đối với những giờ dạy luyện nghe, HS phải được bố trí học tại phòng nghe nhìn. CSVC – TBDH là nhân tố cơ bản và có vai trò rất quan trọng hỗ trợ thầy và trò trong đổi mới PPDH.
Trong quá trình dạy học cần sử dụng đồng bộ các tài liệu và phương tiện dạy học như sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, thiết bị nghe nhìn, và các phương tiện kĩ thuật để hỗ trợ việc học tiếng Anh thông qua các chủ điểm và chủ đề. Phương tiện kỹ thuật và TBDH được sử dụng phải phù hợp với đặc điểm và khả năng nhận thức của người học. phòng nghe nhìn, phòng bộ môn; đảm bảo được ánh sáng và độ thông thoáng cho phòng học; bàn ghế, bảng và các TBDH phải được bố trí thật khoa học; có khu dành riêng cho việc DH ngoại ngữ để khỏi ảnh hướng tới việc dạy các bộ môn khác.
Ngoài những CSVC về trường sở, trang thiết bị được trang bị thì theo Wendy A.Scott and Lisbeth H .treberg (2010) “…Đồ dùng dạy học phong phú thì rất cần thiết trong lớp học ngoại ngữ…các bài học sẽ dễ dàng hơn và hào hứng hơn nhiều cho trẻ em …” .[50, tr.108]
1.4. Lý luận về quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh tiểu học Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh ở các trường Tiểu học.
1.4.1 Hiệu trưởng trường tiểu học
1.4.1.1 Khái niệm
Theo Điều 20, Điều lệ trường tiểu học, nhiệm kỳ của HT là 5 năm, thời gian đảm nhận chức vụ HT không quá 2 nhiệm kỳ ở một trường tiểu học [4].
1.4.1.2 Nhiệm vụ và quyền hạn của Hiệu trưởng
Nhiệm vụ và quyền hạn của HT được quy định tại Điều 20, Điều lệ trường tiểu học. Theo đó, các nhiệm vụ và quyền hạn của HT có liên quan đến hoạt động quản lí :
Xây dựng quy hoạch phát triển nhà trường; lập kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch dạy học, giáo dục; báo cáo, đánh giá kết quả thực hiện trước Hội đồng trường và các cấp có thẩm quyền; quản lí HS và tổ chức các hoạt động giáo dục của nhà trường; HT quản lí GV, nhân viên; quản lí chuyên môn; phân công hoạt động, kiểm tra, đánh giá xếp loại GV, nhân viên; thực hiện hoạt động khen thưởng, kỉ luật đối với GV, nhân viên; HT quản lí tài chính, tài sản của nhà trường; Thực hiện xã hội hoá giáo dục, phối hợp tổ chức, huy động các lực lượng xã hội cùng tham gia hoạt động giáo dục, phát huy vai trò của nhà trường đối với cộng đồng.
1.4.1.3 Vai trò của Hiệu trưởng
Theo Bùi Minh Hiền và Nguyễn Vũ Bích Hiền (2023) [23], HT được ví như là linh hồn của một nhà trường. Sự thành công hay thất bại của nhà trường trong việc đáp ứng nhu cầu của xã hội phụ thuộc rất lớn vào khả năng lãnh đạo và quản lí của người đứng đầu tổ chức. HT là người chịu trách nhiệm cho tất cả các hoạt động xảy ra trong và ngoài nhà trường. Vai trò của HT nhà trường được cấu thành bởi ba yếu tố, bao gồm:
Thứ nhất trong vai trò GV: HT là người có trình độ học vấn theo yêu cầu của cấp học quản lí, nắm vững chuyên môn đã hoặc đang giảng dạy, có nghiệp vụ sư phạm và các yêu cầu khác của một GV;
Thứ hai trong vai trò là người quản lí: HT quản lí quá trình sư phạm; quản lí các hoạt động mang tính điều kiện và phương tiện cho hoạt động dạy học và các hoạt động giáo dục trong nhà trường;
Thứ ba trong vai trò của người lãnh đạo: vai trò lãnh đạo của HT nhà trường ngày càng được quan tâm vì nhiều lí do, trong đó chủ yếu là nhà trường phổ thông đang phải trải qua nhiều thay đổi, đòi hỏi HT phải lãnh đạo nhà trường thích ứng với yêu cầu mới của thực tiễn. Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh ở các trường Tiểu học.
1.4.1.4 Chức năng quản lý nhà trường của hiệu trưởng
Có nhiều cách tiếp cận để xác định chức năng QL, chúng ta có thể xác định chức năng QL của HT nhà trường bao gồm chức năng: lập kế hoạch; tổ chức thực hiện kế hoạch; lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện kế hoạch; kiểm tra, đánh giá thực hiện kế hoạch.
Theo Trần Kiểm (2014), lập kế hoạch là hành động đầu tiên của HT, là việc làm cho tổ chức phát triển theo kế hoạch. Chức năng tổ chức là HT hình thành bộ máy, quy định chức năng nhiệm vụ từng bộ phận, mối quan hệ giữa chúng. Chức năng lãnh đạo, chỉ đạo đòi hỏi HT phải vận dụng khéo léo các phương pháp và nghệ thuật QL. Chức năng kiểm tra, đánh giá nhằm đánh giá việc thực hiện các mục tiêu đề ra. Cần chú ý khi kiểm tra phải theo chuẩn. Tất cả các chức năng trên đều cần đến yếu tố thông tin. Thông tin cần đảm bảo đầy đủ, kịp thời, cập nhật, chính xác là cơ sở quan trọng để thực hiện thành công các chức năng QL. Các chức năng QL có mối liên hệ với nhau và chúng lập thành một chu trình QL [26]
Cho đến nay đa số các nhà quản lý cho rằng quản lý có bốn chức năng cơ bản là: Kế hoạch hoá; Tổ chức; Chỉ đạo; Kiểm tra. Bốn chức năng đó quan hệ mật thiết với nhau tạo thành một chu trình quản lý.
- Sơ đồ chu trình quản lý theo Trần Kiểm (2014) [26, tr.80]
Theo Bùi Minh Hiền – Nguyễn Vũ Bích Hiền (2023) đã xác định các chức năng QL cụ thể như sau:
- Chức năng lập kế hoạch
Lập kế hoạch là quá trình thiết lập, dự tính một cách khoa học các mục tiêu, nội dung, phương pháp, trình tự, thời gian tiến hành các công việc, chuẩn bị huy động các nguồn lực để triển khai các hoạt động một cách chủ động nhằm đạt kết quả cao nhất các mục tiêu giáo dục của nhà trường. Lập kế hoạch gồm ba giai đoạn, bao gồm: thiết lập các mục tiêu; nhận diện các nguồn lực để thực hiện mục tiêu; quyết định về cách thức, phương pháp hoạt động cần tiến hành để đạt mục tiêu. Các kế hoạch trong QL nhà trường có thể phân loại theo các tiêu chí khác nhau cụ thể:
Theo cấp kế hoạch, kế hoạch trong QL nhà trường gồm: kế hoạch chiến lược phát triển nhà trường và kế hoạch tác nghiệp.
Theo thời gian thực hiện, tùy thuộc vào độ dài thời gian, mức độ phức tạp, tầm quan trọng của kế hoạch, kế hoạch trong QL nhà trường có thể phân thành: kế hoạch dài hạn, kế hoạch trung hạn và kế hoạch ngắn hạn.
- Chức năng tổ chức Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh ở các trường Tiểu học.
Chức năng tổ chức: là quá trình sắp xếp và phân bổ công việc, quyền hành và quyền lực cho các thành viên của tổ chức để họ có thể hoạt động và đạt được mục tiêu của tổ chức một cách hiệu quả. Xây dựng các cơ cấu, nhóm, tạo sự hợp tác liên kết, xây dựng các yêu cầu, lựa chọn, sắp xếp bồi dưỡng cho phù hợp, phân công nhóm và cá nhân.
- Chức năng lãnh đạo, chỉ đạo
Chức năng chỉ đạo (lãnh đạo, điều khiển): là quá trình tác động đến các thành viên của tổ chức làm cho họ nhiệt tình, tự giác, nỗ lực phấn đấu đạt được các mục tiêu của tổ chức. Trong chỉ đạo chú ý sự kích thích động viên, thông tin hai chiều đảm bảo sự hợp tác trong thực tế.
- Chức năng kiểm tra, đánh giá:
Chức năng kiểm tra, đánh giá là hoạt động của chủ thể quản lý nhằm đánh giá và xử lý những kết quả của quá trình vận hành tổ chức. Xây dựng định mức và tiêu chuẩn, các chỉ số công việc, phương pháp (PP) đánh giá, rút kinh nghiệm và điều chỉnh.
1.4.2. Nội dung quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh tiểu học
Căn cứ vào cơ sở lý luận về hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở trường tiểu học, lý luận QL và các chức năng QL, tác giả xây dựng nội dung QL hoạt động dạy học môn tiếng Anh ở trường tiểu học theo cách tiếp cận nội dung quá trình dạy học, các nội dung QL như sau:
- Quản lý việc xây dựng kế hoạch công tác, chương trình giảng dạy của giáo viên Anh văn.
Theo từ điển Tiếng Việt (2024) “Kế hoạch là toàn bộ những điều vạch ra một cách có hệ thống về những công việc dự định làm trong một thời gian nhất định, với cách thức, trình tự, thời gian tiến hành” [32]
Xây dựng kế hoạch DH: Đảm bảo dạy đủ thời lượng tối thiểu nêu trong kế hoạch DH, phân phối thời lượng DH. Tổ chức thực hiện kế hoạch DH: Hướng dẫn, giám sát, khuyến khích GV xác định mục tiêu, lựa chọn nội dung từng tiết giảng, từng bài, thực hiện đúng mục đích phát triển GD TH. Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh ở các trường Tiểu học.
Theo Nguyễn Đức Chính, Vũ Lan Hương: “Chương trình DH là kế hoạch tổng thể hệ thống toàn bộ hoạt động giáo dục tại nhà trường. Nó bao gồm mục đích giáo dục, mục tiêu, chuẩn đầu ra, nội dung giáo dục (với độ rộng sâu tương ứng với chuẩn đầu ra), phương thức giáo dục và hình thức tổ chức giáo dục (với các phương pháp, phương tiện, công cụ dạy học phù hợp), phương thức đánh giá kết quả giáo dục (trong so sánh, đối chiếu với chuẩn đầu ra của chương trình)” [12]
Chương trình DH là pháp lệnh của Nhà nước do các chuyên gia GD học, tâm lý học, xã hội học và các nhà QL GD,… cùng phối hợp nghiên cứu để sắp xếp khoa học và được thể hiện trong SGK, giáo trình và phân phối chương trình. Đây cũng chính là căn cứ pháp lý để CBQL cấp Phòng và cấp trường QL GV. Để QL tốt việc thực hiện mục tiêu, chương trình DH ở nhà trường, CBQL cấp Phòng và cấp trường cần: Nắm bắt mục tiêu chương trình Tiếng Anh tiểu học.
- Quản lí việc thực hiện hiện kế hoạch, chương trình giảng dạy của
Tổ chức hoạt động đánh giá và tự đánh giá (định kỳ, không định kỳ, bất thường) trong đội ngũ GV về kết quả thực hiện mục tiêu, nội dung, kế hoạch theo chương trình TH.
Tổ chức thực hiện kế hoạch DH: Hướng dẫn, giám sát, khuyến khích GV xác định mục tiêu, lựa chọn nội dung từng tiết giảng, từng bài, từng chương và từng môn học nhằm thực hiện đúng mục đích phát triển GD TH.
Tổ chức hoạt động đánh giá và tự đánh giá (định kỳ, không định kỳ, bất thường) trong đội ngũ GV về kết quả thực hiện mục tiêu, nội dung, kế hoạch theo chương trình tiếng Anh tiểu học.
- Quản lý việc đổi mới phương pháp giảng dạy, sử dụng phương tiện dạy học của GV.
Đổi mới PP là biết kết hợp các PP truyền thống và hiện đại, bằng nhiều cách khác nhau, CBQL cấp Phòng và cấp trường chỉ đạo đổi mới PPDH làm phát huy tính tích cực, chủ động của HS trong quá trình DH. Hoạt động DH không chỉ tập trung vào nội dung mà còn tập trung vào hình thành PP học tập, tự phát hiện, tự giải quyết vấn đề, tự chiếm lĩnh tri thức. GV và HS đều là chủ thể của hoạt động DH. Không nên nhồi nhét, áp đặt, truyền thụ kiến thức một chiều.
Đổi mới PP là một trong những lĩnh vực trọng tâm nhất của hoạt động QLGD vì PPDH có vai trò quyết định chất lượng đào tạo và chính là sự vận động của nội dung, chương trình DH.
Quản lý đổi mới PPDH là nhiệm vụ mà người QL cần chú trọng trong quá trình QL sao cho việc thực hiện nhiệm vụ DH của GV, tổ chức hoạt động tự học, biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo nhằm nâng cao chất lượng DH. Nói cách khác, QL đổi mới PPDH là việc tổ chức, chỉ đạo GV vận dụng các PPDH tích cực của người QL nhằm hướng quá trình DH theo hướng tích cực, chủ động, sáng tạo của HS. Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh ở các trường Tiểu học.
Đổi mới PPDH có thể thực hiện theo tiến trình sau:
- Thành lập ban chỉ đạo bao gồm HT làm trưởng ban, các Uỷ viên là Phó HT phụ trách chuyên môn, Bí thư chi bộ, Bí thư đoàn thanh niên, Chủ tịch công đoàn và các tổ trưởng chuyên môn.
- Ban chỉ đạo có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch hành động, tổ chức thực hiện kế hoạch, kiểm tra đánh giá việc đổi mới PPDH và tổng kết rút kinh nghiệm.
- Tổ chức bồi dưỡng GV làm quen với các hình thức tổ chức DH có khả năng to lớn cho việc phát huy tính tích cực và tạo điều kiện thực hành ngôn ngữ cho HS như : tham quan, học theo nhóm trên lớp, thực hành, hoạt động ngoại khóa, đóng kịch, thuyết trình nhóm, biểu diễn văn nghệ, trình diễn thời trang…
- Tổ chức bồi dưỡng GV sử dụng các phương tiện DH hiện đại, tiếp cận các PP giảng dạy tiên tiến.
- HT chỉ đạo bộ phận thư viện, phòng TBDH, tổ bộ môn có lịch cụ thể cho GV bộ môn làm việc. Tận dụng tối đa các phương tiện, TBDH hiện có của nhà trường để phục vụ cho
- Khảo sát đội ngũ GV về nhận thức, nguồn lực chuyên môn và điều kiện để đổi mới PP DH.
- Phân tích nguyên nhân tồn tại những PPDH lạc hậu, xây dựng những nhân tố tích cực làm hạt nhân cho đổi mới
- HT, Phó HT phụ trách chuyên môn chỉ đạo tổ trưởng tổ chuyên môn xây dựng một số bài giảng tốt, thống nhất về chuẩn đánh giá tiết dạy theo hướng đổi mới.
- Chỉ đạo tổ chức dạy xemina bộ môn bằng tiếng Anh về các nội dung thử nghiệm, dự giờ, kiểm tra đánh giá, xác định kết quả và sơ kết, rút ra bài học kinh nghiệm để mở rộng đại trà.
- Chỉ đạo tổ chức thực hiện DH theo tinh thần đổi mới ở tất cả các môn học nói chung và môn tiếng Anh nói riêng, ở tất cả GV, tạo ra bầu không khí thi đua tích cực trong tập thể GV, HS, theo dõi động viên kịp thời thúc đẩy hoạt động.
Tổng kết, đánh giá, rút kinh nghiệm ở tổ chuyên môn, Chi bộ, Công Đoàn, Đoàn thanh niên và khen thưởng những GV tiên phong trong đổi mới PPDH. Tổng kết rút ra bài học kinh nghiệm để tiếp tục triển khai trong những năm học tiếp theo.
- Quản lý hoạt động kiểm tra, đánh giá chất lượng học tập của HS
Theo Từ điển Tiếng Việt do tác giả Hoàng Phê chủ biên (2024) thì kiểm tra và đánh giá được hiểu như sau: “Kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét”; “Đánh giá là nhận định giá trị”.[32]
Kiểm tra, đánh giá trong QL hoạt động dạy học tiếng Anh là công việc không thể thiếu. Hoạt động này nhằm thu thập thông tin, tiếp nhận các dữ kiện, đánh giá kết quả hoạt động DH, đối chiếu với mục tiêu để có những quyết định tiếp theo trong quá trình điều hành hoạt động DH. Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh ở các trường Tiểu học.
Khi kiểm tra, đánh giá GV sẽ có những thông tin giúp CBQL cấp Phòng và cấp trường nắm bắt đầy đủ hơn về hoạt động của GV. Để thực hiện tốt hoạt động này, CBQL cấp Phòng và cấp trường cần chú ý: Triển khai các văn bản quy định, yêu cầu về việc kiểm tra, đánh giá GV; Xây dựng kế hoạch kiểm tra, đánh giá GV trong nhà trường; Thực hiện kế hoạch kiểm tra, đánh giá GV: định kỳ, đột xuất,…;
Thông báo kết quả kiểm tra, đánh giá GV; Điều chỉnh và xử lý kịp thời những nội dung và thông tin sau kiểm tra, đánh giá.
- Quản lý hoạt động tổ nhóm chuyên môn.
Để QL tốt hoạt động giảng dạy của GV, đòi hỏi phải có sự hợp tác giữa các cá nhân, giữa các tổ chức tập thể trong nhà trường để tạo nên sự thống nhất chung, tạo nên sức mạnh đoàn kết. Đó là đội ngũ CBQL cấp Phòng, cấp trường (Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng, tổ trưởng TCM) tạo thành bộ máy QL hoàn chỉnh hoạt động có hiệu quả; coi trọng vai trò của TCM và Hội đồng sư phạm nhằm tạo sự chuyển biến về chất lượng công tác giảng dạy.
Thông qua tổ trưởng, nhóm trưởng chuyên môn, Hiệu trưởng quản lý thực hiện chương trình, kế hoạch giảng dạy, công tác soạn giảng, kiểm tra đánh giá xếp loại học sinh, đổi mới phương pháp dạy học, đánh giá cho điểm học sinh, thao giảng xếp loại tay nghề GV.
Để quản lý tốt hoạy động tổ nhóm chuyên môn hiệu trưởng cần: Lập kế hoạch sinh hoạt tổ định kỳ, tham dự sinh hoạt cùng tổ chuyên môn (đột xuất). Theo dõi hình thức, nội dung họp tổ thông qua báo cáo tổ trưởng chuyên môn. Đánh giá hoạt động sinh hoạt tổ CM cuối học kỳ, cuối năm.
- Quản lý việc đào tạo, bồi dưỡng giáo viên tiếng Anh
GV tiếng Anh là người được đào tạo chu đáo về nghiệp vụ sư phạm, có kiến thức khoa học chuyên ngành, có phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt. Tuy nhiên, trong thực tế GV ở mỗi trường đều có nhiều thế hệ khác nhau, được ĐT từ nhiều nguồn khác nhau, do đó trình độ không đồng đều. Vì vậy, việc bồi dưỡng, nâng cao phẩm chất, năng lực cho đội ngũ GV là rất cần thiết. GV là nhân tố quyết định chất lượng DH. Thực hiện bồi dưỡng thường xuyên theo chu kì nhằm chuẩn hóa, nâng chuẩn là việc cần thường xuyên quan tâm, động viên. Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh ở các trường Tiểu học.
Để làm tốt công tác này, CBQL cấp Phòng và cấp trường cần chú ý các vấn đề sau: CBQL cấp Phòng và cấp trường trước hết phải là tấm gương tự học, tự rèn, trong việc học tập, bồi dưỡng để mọi người noi theo. Tổ chức và chỉ đạo các TCM sinh hoạt có chất lượng, thường xuyên dự giờ, thăm lớp, học tập lẫn nhau trong đồng nghiệp. Tổ chức sinh hoạt, trao đổi sáng kiến kinh nghiệm. Cử GV có kinh nghiệm, năng lực chuyên môn vững giúp đỡ GV mới, GV ít kinh nghiệm; đề cao tinh thần giúp đỡ đồng nghiệp, giúp GV có ý thức tự học hỏi, khiêm tốn, cố gắng vươn lên. Tạo điều kiện để GV được dự các lớp bồi dưỡng chuyên đề, bồi dưỡng thường xuyên. Cử đi học tại chức hoặc học tập trung đối với những GV có khả năng phát triển.
- Quản lý CSVC và trang thiết bị dạy học môn Tiếng Anh.
CSVC, trang TB phục vụ hoạt động DH được coi là điều kiện tiên quyết, điều kiện không thể thiếu được trong việc nâng cao chất lượng DH. Do đó, nó có ảnh hưởng to lớn đến chất lượng của một giờ dạy và việc phục vụ mục tiêu GD con người phát triển toàn diện của nhà trường.
Trong quá trình dạy học cần sử dụng đồng bộ các tài liệu và phương tiện dạy học như sách giáo khoa, tài liệu tham khảo, thiết bị nghe nhìn, và các phương tiện kĩ thuật để hỗ trợ việc học tiếng Anh thông qua các chủ điểm và chủ đề.
Việc xây dựng và triển khai kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên, định kỳ về công tác sử dụng TBDH ngoại ngữ, bảo đảm tính thiết thực và hiệu quả; tăng cường ứng dụng CNTT trong việc dạy và học ngoại ngữ ở các nhà trường.
Vì vậy, QL hoạt động DH của GV cần quan tâm chỉ đạo tăng cường CSVC, đảm bảo những điều kiện vật chất tốt nhất cho hoạt động DH trong nhà trường. Bên cạnh đó, HT phải chỉ đạo thường xuyên bổ sung, mua sắm TBDH theo yêu cầu thực tế của đơn vị phục vụ DH lâu dài. Phân công cho cán bộ thiết bị chuyên trách theo dõi việc sử dụng, mượn trả đồ dùng DH hay các trang thiết bị, báo cáo định kỳ, có kiểm tra sổ sách, kiểm kê tài sản để kịp thời điều chỉnh, bổ sung, sửa chữa thay thế những thiết bị, CSVC cần thiết. Trong đó định rõ những thứ xin mua sắm, bổ sung, dự trù xin ngân sách, hoặc dựa vào hội cha mẹ HS cùng đóng góp nhằm phục vụ tốt công tác giảng dạy trong nhà trường.
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Anh tiểu học Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh ở các trường Tiểu học.
1.5.1. Hệ thống văn bản quy định và pháp lý hướng dẫn thực hiện giảng dạy tiếng Anh.
Việc dạy học tiếng Anh cấp tiểu học theo đề án ngoại ngữ quốc gia được thực hiện theo từng giai đoạn và hệ thống văn bản chỉ đạo được triển khai từ Bộ GD&ĐT đến Sở, Phòng GD & ĐT, các trường TH và được cụ thể hóa qua nhiệm vụ từng năm học. Để quản lý tốt hoạt động dạy học tiếng Anh, hiệu trưởng cần cập nhật kịp thời hệ thống văn bản chỉ đạo:
- Quyết định số 14/2015/QĐ-BGD&ĐT ngày 04 tháng 05 năm 2015 Ban hành Quy định về Chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học;
- Công văn số 6003/ BGD&ĐT-GDTH ngày 21/9/2018 hướng dẫn dạy chương trình thí điểm tiếng Anh tiểu học;
- Quyết định số 4674/ QĐ- BGDĐT ngày 15/10/2018 về việc triển khai dạy thí điểm chương trình tiếng Anh tiểu học;
- Thông tư số 41/2018/TT-BGDĐT ngày 30 tháng 12 năm 2018 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về điều lệ trường tiểu học;
- Công văn số 549/ BGDĐT-GDTH ngày 09 tháng 02 năm 2019 hướng dẫn sử dụng sách giáo khoa thí điểm tiếng Anh 3 và bộ thiết bị dạy học;
- Công văn số 2391/BGDĐT- GDTH ngày 27 tháng 4 năm 2019 về việc chuẩn bị triển khai dạy tiếng Anh 4 tiết/tuần năm học 2019-2020;
- Công văn số 5643/ BGDĐT-GDTH ngày 24 tháng 8 năm 2019 hướng dẫn DHTA lớp 3, lớp 4 năm học 2019-2020;
- Công văn số 5893/BGDĐT-CSVCTBTH ngày 06 tháng 9 năm 2019 hướng dẫn mua sắm thiết bị dạy học môn ngoại ngữ cấp tiểu học năm học 2019-2020;
- Công văn số 6159 / BGDĐT – GDTH ngày 16 tháng 9 năm 2019 về Hướng dẫn về kế hoạch dạy học và chế độ chính sách cho giáo viên tiếng Anh tiểu học năm học 2019-2020;
- Quyết định số 6042/QĐ-BDGĐT ngày 29 tháng 11 năm 2019 về ban hành chương trình tạm thời bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên dạy tiếng Anh ở cấp tiểu học;
- Đề án dạy và học Ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2016-2028;
- Văn bản 4329/BGDĐT-GDTH ngày 27 tháng 6 năm 2021 về việc chấn chỉnh việc sử dụng sách giáo khoa, tài liệu dạy tiếng Anh tiểu học;
- Thông tư số 30/2022/TT- BGDĐT ngày 28/8/2022 về Quy định đánh giá học sinh tiểu học;
- Thông tư số 22/2024/TT- BGDĐT ngày 06/11/2024 sửa đổi Quy định đánh giá học sinh tiểu học kèm theo Thông tư 30/2022/TT- BGDĐT.
- Các văn bản triển khai nhiệm vụ chuyên môn tiếng Anh của Sở Giáo dục và Đào tạo và của Phòng Giáo dục & Đào tạo theo từng năm học.
1.5.2 Trình độ, năng lực và tính chuyên nghiệp trong điều hành quản lý của đội ngũ cán bộ quản lý. Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh ở các trường Tiểu học.
Thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2021, Hội nghị Trung ương 8 – Khóa XI của BCH Trung ương khóa 11 về “ Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” về “ phát triển đội ngũ cán bộ quản đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đào tạo”[17, tr 8]. Đội ngũ CBQL là lực lượng đầu tàu thực hiện đổi mới toàn diện nhà trường để nâng cao chất lượng GD trong đó có chất lượng DH bộ môn tiếng Anh. Do đó, ngành GD cần tuyển chọn một đội ngũ có nhận thức sâu sắc về quan điểm GD của Đảng trong thời đại hiện nay. Bản thân CBQL phải có trình độ chuyên môn nhất định. Đặc biệt đối với cán bộ mạng lưới, cán bộ phụ trách về chuyên môn tiếng Anh cần phải có trình độ đại học về giảng dạy tiếng Anh, đạt chuẩn theo các chứng chỉ Quốc tế từ các trường Đại học uy tín trên thế giới. Thể hiện tính năng động sáng tạo, tính chuyên nghiệp trong việc quản lý, điều hành các tổ chuyên môn thực hiện theo đề án giảng dạy tiếng Anh của Bộ Giáo dục 2020 – 2028.
1.5.3 Môi trường dạy học bên trong và bên ngoài nhà trường
1.5.3.1 Quản lý môi trường dạy học bên trong
Sự hợp tác, sự phối hợp của các thành viên và các tổ chức trong nhà trường Để QL tốt hoạt động giảng dạy của GV, đòi hỏi phải có sự hợp tác giữa các cá nhân, giữa các tổ chức tập thể trong nhà trường để tạo nên sự thống nhất chung, tạo nên sức mạnh đoàn kết. Đó là vai trò của CBQL cấp phòng, hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, TCM và đặc biệt là vai trò của trưởng bộ môn tiếng Anh – những người trực tiếp quản lý hoạt động dạy học bộ môn. Nếu có sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ của các lực lượng này trong quản lý và dạy học TA chắc chắn chất lượng dạy học TA sẽ được cải thiện ở bất cứ cơ sở GD nào.
Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ hoạt động dạy học CSVC, trang TB phục vụ hoạt động DH được coi là điều kiện tiên quyết, điều kiện không thể thiếu được trong việc nâng cao chất lượng DH. Do đó, nó có ảnh hưởng to lớn đến chất lượng của một giờ dạy và việc phục vụ mục tiêu GD con người phát triển toàn diện của nhà trường. QL hoạt động DH của GV cần quan tâm chỉ đạo tăng cường CSVC, đảm bảo những điều kiện vật chất tốt nhất cho hoạt động DH trong nhà trường.
Điều kiện về số lượng, cơ cấu, chất lượng đội ngũ giáo viên và học sinh. Mục tiêu cuối cùng của công tác QL hoạt động DH của CBQL cấp Phòng và cấp trường là nhằm nâng cao chất lượng dạy của thầy, qua đó góp phần nâng cao chất lượng học của trò, mục tiêu này đạt tới ở mức độ nào phụ thuộc rất nhiều vào số lượng, cơ cấu và chất lượng đội ngũ GV. Như vậy, có thể nói rằng: Số lượng và chất lượng của đội ngũ GV và HS là một trong những yếu tố quan trọng chi phối kết quả QL hoạt động DH trong nhà trường. Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh ở các trường Tiểu học.
Thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2021, Hội nghị Trung ương 8 – Khóa XI của BCH Trung ương khóa 11 về “ Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” về “ phát triển đội ngũ cán bộ quản đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục đào tạo”[17, tr 8]. Đội ngũ CBQL là lực lượng đầu tàu thực hiện đổi mới toàn diện nhà trường để nâng cao chất lượng GD trong đó có chất lượng DH bộ môn tiếng Anh. Do đó, bản thân CBQL phải có trình độ chuyên môn nhất định. Đặc biệt đối với cán bộ mạng lưới, cán bộ phụ trách về chuyên môn tiếng Anh cần phải có trình độ đại học về giảng dạy tiếng Anh, đạt chuẩn theo các chứng chỉ Quốc tế từ các trường Đại học uy tín trên thế giới. Thể hiện tính năng động sáng tạo, tính chuyên nghiệp trong việc quản lý, điều hành các tổ chuyên môn thực hiện theo đề án giảng dạy tiếng Anh của Bộ Giáo dục 2020 – 2028.
Trong quá trình QL, đòi hỏi nhà QL cấp Phòng và cấp trường không dừng ở các kinh nghiệm thực tiễn của bản thân mà mỗi nhà QL dù được ĐT như thế nào vẫn phải luôn tự bồi dưỡng để tiếp cận các thành tựu liên quan tới việc QL đối tượng của mình nhằm nâng cao chất lượng công việc QL nhà trường.
Vấn đề chỉ đạo, kiểm tra, đánh giá của lãnh đạo cấp trên đối với nhà trường Đối với bậc TH chịu sự chỉ đạo, kiểm tra đánh giá trực tiếp của Phòng GD và ĐT. Trong công tác QL hoạt động DH, sự chỉ đạo của cấp trên chính là những định hướng, là kim chỉ nam giúp nhà trường xác định đúng mục tiêu và phương hướng DH. Đồng thời, việc kiểm tra, đánh giá của cấp trên còn giúp nhà trường kịp thời điều chỉnh, bổ sung, khắc phục những tồn tại để có những giải pháp hữu hiệu đưa hoạt động DH của nhà trường đạt mục tiêu đã xác định.
QL môi trường DH bên trong nhằm QL các mặt hoạt động DH một cách chính xác, xác định nguyên nhân hạn chế để có BP chỉ đạo uốn nắn kịp thời, hướng tới chất lượng thực sự nhằm duy trì chất lượng hoạt động DH đáp ứng mục tiêu đổi mới căn bản và toàn diện GD.
Có kế hoạch QL thường xuyên, QL từng thành phần của quá trình DH.
QL công tác xây dựng đội ngũ; công tác QL hoạt động dạy của GV; công tác QL hoạt động học của HS; công tác kiểm tra, đánh giá HS; công tác QL bảo quản và sử dụng CSVC – TBDH…
1.5.3.2 Quản lý môi trường bên ngoài nhà trường Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh ở các trường Tiểu học.
Chính trị, kinh tế – xã hội Các chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển GD&ĐT, các Nghị định của Chính phủ, các Thông tư của Bộ GD&ĐT và các Chỉ thị của UBND Tỉnh,… là cơ sở pháp lý thuận lợi cho việc nâng cao chất lượng hoạt động DH và tác động trực tiếp, điều phối hoạt động DH ở các trường.
Hệ thống luật pháp Luật GD, các quy chế chuyên môn DH,…CBQL nhà trường xây dựng và triển khai quy chế chuyên môn: trong DH, sinh hoạt chuyên môn…
Tiểu kết chương 1
Trên cơ sở hệ thống hóa các cơ sở lý luận về quản lý tổ chức hoạt động dạy học nói chung và môn Tiếng Anh ở bậc tiểu học nói riêng. Tác giả có nhận xét sau:
Việc quản lý tốt và nâng cao chất lượng DHTA luôn được các nhà nghiên cứu, những nhà QLGD đặc biệt quan tâm. Những công trình nghiên cứu về việc quản lý các yếu tố đảm bảo chất lượng DH cho nhiều cấp học và nhìn chung đã hệ thống được những lý luận cơ bản giúp cho chúng tôi có một cái nhìn tổng thể hệ thống lý luận phục vụ cho đề tài. Chương 1 đã trình bày được các nội dung chính sau:
- Tổng quan lịch sử nghiên cứu vấn đề
- Những khái niệm về quản lý, DH, quản lý tổ chức dạy học tiếng Anh.
- Nhà trường TH và HĐDH tiếng Anh ở các trường TH.
- Nội dung quản lý hoạt đông dạy học môn tiếng Anh ở các trường TH.
- Các yếu tố ảnh hưởng đến việc quản lý tổ chức dạy học tiếng Anh ở TH, vai trò của TBM và kết hợp quản lý của TBM và HT, PHT. Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh ở các trường Tiểu học.
Những nội dung trên là khung lý luận cơ bản để làm cơ sở nghiên cứu, đánh giá thực trạng và đề xuất các biện pháp phù hợp điều chỉnh thực trạng nâng cao hiệu quả dạy học TA ở các trường TH thị xã Tân Uyên ở các chương tiếp theo.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Luận văn: Thực trạng QL dạy học Tiếng Anh ở các trường tiểu học

Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://dichvuvietluanvan.com/ – Hoặc Gmail: lamluanvan24h@gmail.com


[…] ===>>> Luận văn: Quản lý dạy học môn tiếng Anh ở các trường Tiểu học […]